[0106] KINH THỦY MẠT SỞ PHIÊU

THỦY MẠT SỞ PHIÊU KINH

Đời Đông Tấn ( 317 – 420 ), người Tây Vực, sa môn Trúc Đàm Vô Lan (1) dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán .
B.S. Trần Văn Nghĩa dịch từ chữ Hán ra chữ Việt.
—o0o—

Tôi nghe như vậy, có một thời, Bà-Ca-Bà (2) ở tại tư dinh A-Nghênh – Đồ (3) ( do vua Ba Tư Nắc (4) xây cất ) cạnh sông Hằng , cùng với hơn năm trăm đại tỳ kheo.

Lúc đó có đám bọt nước đang trôi theo dòng sông, Đức Thế Tôn thấy và bảo các Tỳ-Kheo rằng : Các Tỳ-kheo đều thấy đám bọt nước trôi theo dòng sông Hằng chứ ? Các Tỳ Kheo thưa rằng : Thưa Đức Thế Tôn có. Đức Thế Tôn bảo rằng : Những đám bọt này nếu cho người có một cặp mắt quan sát, xem xét , suy nghĩ và phân tích, những người này sau khi đã quan sát, suy nghĩ và phân tích, thì sẽ thấy đám bọt nước này không vô sở hữu, không lai, không vãng và không kiên cố. Cũng như những bọt nước này, tất cả những sắc mà ta nhìn thấy , trong quá khứ, tương lai và hiện tại, dù to dù nhỏ, dù xa dù gần cũng không kiên cố, không có gì nương tựa cả. Nếu cho người có cặp mắt quan sát xem xét, suy nghĩ và phân tích, những người này sau khi đã xem xét, tư duy và phân tích, sẽ thấy sắc vô sở hữu, không lai không vãng , không vô sở hữu, cũng không kiên cố, những sắc uẩn (5) đâu có gì là kiên cố đâu.

Như mưa của mùa hạ tạo ra rất nhiều bong bóng nước. Những bong bóng nước này sinh sinh diệt diệt. Nếu cho người có cặp mắt quan sát xem xét, suy nghĩ và phân tích, sau khi đã xem xét , tư duy và phân tích, thì sẽ thấy những bong bóng nước này không vô sở hữu, không lai, không vãng và cũng không kiên cố. Cũng như những bong bóng nước này, những thống khổ trong chúng ta, trong tương lai, quá khứ và hiện tại, dù to dù nhỏ, dù tốt dù xấu, dù xa dù gần cũng không kiên cố vậy. Nếu cho người có một cặp mắt quan sát xem xét, suy nghĩ và phân tích, những người này sau khi đã quan sát, suy nghĩ và phân tích, thì sẽ thấy những thống khổ trong chúng ta cũng không vô sở hữu, không lai, không vãng và không kiên cố. Cái thống uẩn (6) có cái gì là kiên cố đâu ?

Thí dụ trong những ngày mùa hè, mặt trời đang lúc giữa trưa trên trời không có tí mây, gió thổi mạnh cuốn theo những cát bụi tạo thành hình ảnh một con ngựa hoang (7) bay chạy giữa trời. Những người có một cặp mắt quan sát, xem xét , tư duy và phân tích. Sau khi đã quan sát, tư duy và phân tích, sẽ thấy là con ngựa hoang này không vô sở hữu, không lai không vãng và không kiên cố. Cũng như con ngựa hoang này, những ý tưởng của chúng ta, trong quá khứ, tương lai và hiện tại, dù to dù nhỏ, dù tốt dù xấu, dù xa dù gần cũng đâu có gì là kiên cố đâu. Những người có cặp mắt quan sát, xem xét, tư duy và phân tích, sau khi đã xem xét, tư duy và phân tích , sẽ thấy những ý tưởng của chúng ta không vô sở hữu, không lai, không vãng và không bền vững, như vậy tưởng uẩn (8) đâu có gì là kiên cố đâu.

Thí dụ có người từ một thành phố hay từ một thôn quê, muốn tìm gỗ tốt để làm một dụng cụ thật kiên cố, bèn đi vào rừng để tìm gỗ tốt, thấy một cây chuối thật xanh tươi tốt đẹp, ai thấy cũng thích, cây không có cành , đốn cây xuống, xẻ ra làm ba hay bốn khúc, rồi bóc từng lớp từng lớp vỏ đi, để tìm cái lõi cứng của cây nhưng tìm không thấy, thế làm sao mong tìm được những gỗ thật cứng chắc. Những người có một cặp mắt quan sát, xem xét , tư duy và phân tích, sau khi đã quan sát, tư duy và phân tích, sẽ thấy cây chuối này không vô sở hữu, không lai, không vãng, không kiên cố. Cũng như cây chuối này, những hành động của chúng ta, trong quá khứ, tương lai và hiện tại, dù to dù nhỏ, dù tốt dù xấu, dù xa dù gần cũng không có gì là kiên cố cả. Những người có một cặp mắt quan sát, xem xét, tư duy và phân tích, sau khi đã quan sát, tư duy và phân tích, sẽ thấy những hành động của chúng ta không vô sở hữu, không lai không vãng, cũng không kiên cố. Những hành uẩn (9) không có gì là kiên cố cả.

Lại như một thầy làm ảo thuật giỏi cùng với những đệ tử làm ảo thuật trước công chúng. Những người có một cặp mắt quan sát, xem xét , tư duy và phân tích, sau khi đã quan sát, tư duy và phân tích, sẽ thấy những ảo thuật này không vô sở hữu, không lai, không vãng và không bền vững. Cũng như những ảo thụật này, tất cả những ý thức của chúng ta, trong quá khứ, tương lai và hiện tại, dù to dù nhỏ, dù tốt dù xấu, dù xa dù gần, cũng không có gì là kiên cố cả. Những người có một cặp mắt quan sát, xem xét , tư duy và phân tích, sau khi đã quan sát, tư duy và phân tích, sẽ thấy những ý thức của chúng ta không vô sở hữu, không lai không vãng và không bền vững. Cái thức uẩn (10) không có gì là kiên cố cả.

Lúc đó Đức Thế Tôn bèn nói những câu kệ sau đây : Sắc như những bọt nước tụ lại, thống khổ như nhưng bong bóng nước mưa, ý tưởng như hình ảnh của con ngựa hoang của mùa hè, hành động trống bọng như thân cây chuối, ý thức như những ảo thuật. Tối thắng trí tuệ cho biết rằng : Nếu xem xét , quan sát , tư duy và phân tích những chân lý này thì ta thấy tất cả không vô sở hữu. Nếu chúng ta có thể hiểu như vậy, xem xét chân lý này trong chúng ta, đấng đại trí dạy rằng : Hãy diệt tam pháp này đi : Trừ bỏ sắn uẩn đi, trừ bỏ hành uẩn đi, trừ bỏ thầy ảo thuật với những trò giả tạo đi. Chư tỳ kheo sau khi nghe Đức Phật giảng, hoan hỉ phụng hành.
Đức Phật giảng Thủy Mạt Sở Phiêu Kinh .
__________________________________________________________________ _
1-) Trúc Đàm Vô Lan 竺曇無蘭 : Tỳ kheo là người nước Thiên Trúc, Đàm Vô Lan là tiếng phiên âm của tên tiếng Phạn là Dharmaraksa. Tên này còn dịch nghĩa là Pháp Chánh法正. Tên có trong những sách Lịch Đại Tam Bảo Ký chương bẩy歷代三寶記七 , Khai Nguyên Lục chương ba開元錄三 và Trinh Nguyên Luc chương năm 貞元錄五. Thầy đến Nam Kinh làm dịch kinh sư có lẽ từ năm 381 đến năm 395, đời Đông Tấn. Thầy dịch rất nhiều kinh từ tiếng Phạn sang Hán văn. Hiện nay còn trong Hán tạng và Việt Tạng là 27 bài ( Kinh số : 22, 42, 58, 62, 71, 86, 106, 116, 139, 143, 148, 216, 393, 494,504, 510, 538, 741, 742, 743, 796, 1327, 1352, 1378a, 1352, 1391 ) .
Chữ Trúc竺 là họ. Họ này được gắn cho tất cả những ai đến từ nước ThiênTrúc天竺, gòn gọi là Trúc thổ竺土, hay gọi tắt là Trúc竺, nay là nước Ấn Độ. Trước đời Tiền Tần (351-394), tất cả những người đi tu theo đạo Phật , đều bỏ họ mình theo họ của thầy, bỏ tên mình lấy một tên gọi là pháp danh do thầy đặt cho. Vì vậy những người tu theo thầy người Thiên Trúc lấy họ Trúc, người tu theo thầy nước Nguyệt Chi lấy họ Chi…Đến đời Tiền Tần, Hòa thượng Đạo An道安 (313-385) là người đầu tiên đề nghị tất cả tỳ kheo lấy họ Thích, chữ tắt của chữ Thích Ca Sakya, họ của Đức Phật làm họ. Theo Kinh Tăng Nhất A Hàm chương 21 : Bốn sông lớn đổ vào biển, đâu còn mang tên của những sông đó nữa mà chỉ gọi là biển, cũng như thế, bốn nhóm họ lớn dòng dõi của Sát Lợi, Bà la môn, trưởng giả, cư sĩ xuống tóc theo Đức Như Lai, quy y Tam Bảo, xuất gia học đạo, đâu còn họ mình nữa, mà tất cả gọi là sa môn đệ tử của Đức Thích Ca….Vì vậy các Tỳ Kheo, tất cả những ai từ bốn họ xuống tóc, lấy lòng kiên trì xuất gia học đạo, nên bỏ tên họ của mình mà gọi là đệ tử của Đức Thích Ca. ( Tăng Nhất A Hàm
Kinh nhị thập nhất viết : Tứ đại hà nhập hải, diệc vô bản danh tự , đãn danh vi hải. thử diệc như thị, hữu tứ tánh, vân hà vi tứ ? Sát lợi, bà la môn, trưởng gia, cư sĩ chủng. Ư Như Lai sở thế trừ tu phát, tam pháp y, xuất gia học đao, vô phục bản tính, đãn ngôn sa môn Thích Ca đệ tử ( trung lược )Thị cố chư tỳ khoe, chư hữu tứ tánh thế trừ tu pháp, dĩ tín kiến cố xuất gia học đạo giả, bỉ đương diệt bản danh tự, tự xưng Thích Ca đệ tử . 增一阿含經二十一曰 : ” 四大河入海, 亦無本名字, 但名為海, 此亦如是. 有四姓, 云何為四? 剎利, 婆羅門, 長者, 居士種。於如來所剃除鬚髮, 三法衣, 出家學道, 無復本性, 但言沙門釋迦弟子.(中略)是故諸比丘,諸有四姓剃除鬚髮, 以信堅固出家學道者, 彼當滅本名字自稱釋迦弟子. )
2-) Bà Ca Bà 婆迦婆 Tên tiếng Phạm là Bhargava, người của vương quốc Vidarbha维达婆国 ở miền trung Ấn Độ, là một trong những đệ tử của Maharishi Bhrigu, một trong bẩy vị thánh nhân của đạo Ấn Độ. Ông là một trong sáu người đưa ra những câu hỏi và tìm câu trả lời về triết lý của đạo Ấn Độ với bậc thánh nhân Pippalada trong sách Lục Vấn Áo Nghĩa Thư六问奥义书Prashna Upanishad. Sách này trở thành một phần của kinh điển của đạo Ấn Độ. Trong sáu câu hỏi đó, ông đưa ra câu hỏi thứ hai.
3-) A Nghênh Đồ阿迎闍 : Theo như chú thích trong kinh thì đây là tên của một dinh thự của vua Ba Tư Năc 波斯匿王Pāsenādi, xây dựng trên bờ sông Hàng (Ganges )
4-) Vua Ba Tư Năc 波斯匿王, tên phiên âm của tên tiếng Phạn Pāsenādi. Vua của nước Kosala với thủ đô là thành Xá Vệ. Ông là đệ tử của Đức Phật. Ông đã đài thọ xây một phần của tịnh xá Jetavana. Ông cũng giúp xây tịnh xá cho đạo Jainism,một giáo phái của đạo Ấn Độ. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên thấy Bhargava và Đức Phật đều có mặt ở dinh thự của ông trong bài kinh này. Ông được nhắc đến nhiều lần trong hơn20 bài kinh của Đức Phật. Tên của ông đã được dịch nghĩa qua Hán văn dưới nhiều dạng trong những kinh điển khác nhau : Hòa Duyệt vương和悅王, Nguyệt Quang vương月光王, Thắng Quân vương勝軍王, Thắng Quang vương勝光王, còn tên phiên âm Bát La Tê Na Thời Đa 鉢邏犀那時多 từ tên tiếng Phạn Prasenajit của ông. Trong một dịp ông ra khỏi thành Xá Vệ, thủ tướng của ông là Digha Chrayana đảo chánh và đưa con của ông là Vidudabha lên ngai, ông chạy qua nước lân cận là Magadha cầu cứu, khi đến ngoại thành Vương Xá, ông bị bệnh tiêu chẩy và mất. Vua Vidudabha sau này đã đem quân đánh và xâm chiếm tiểu vương quốc của dòng họ Shakyas, vương quốc của gia đình đức Phật, tàn sát tất cả dòng họ này. Khi tin này đến với Đức Phật ngài cúi đầu, thở dài. Theo truyền thuyết sở di Vidudabha đánh vương quốc Shakyas là vì bà cố ngoại của ông là Nagamunda, là một nô lệ của dòng họ Shakyas, bà ngoại của ông là Mahanama và mẹ của ông Vasvakhattiya là giới nô tỳ ở vương quốc Shakyas. Mẹ của ông đươc Đức Phật giới thiệu cho vua Pasenadi và trở thành vợ thứ hai của nhà vua, vì vậy ông hận vương quốc Shakyas. Theo truyền thuyết sau khi đánh chiếm vương quốc Shakyas ít lâu, vua Vidudabha bị bạo bênh hay tai nạn và mât, ít lâu sau nước Kosala cũng bị nước bên cạnh là Magadha tiêu diệt.
5-) Sắc uẩn色蘊 : Là một trong ngũ uẩn. Chữ uẩn tiếng Phạn là Skandha nghĩa tích tụ, vì vậy được dịch sang Hán văn là uẩn, uẩn là chữ tắt của chữ uẩn tàng蘊藏 nghĩa là tích tụ và tàng trữ. Thời nhà Hán thì dịch là ngũ âm五陰 陰陰 陰, chính trong bài kinh này dùng chữ sắc âm. Âm theo quan niệm của Đạo giáo có nghĩa là tàng trữ, nên thường dùng Dương diệu âm tàng阳曜陰藏. Đại Thừa Nghĩa chương 8 viết : tích tụ gọi là âm. ( Đại Thừa Nghĩa chương 8 bổn viết : Tích tụ danh âm. 陰 陰陰 陰大乘義章八本曰:” 積聚名陰…” ). Đến đời nhà Tấn, một số kinh lại dịch là ngũ chúng五衆. Đến đời nhà Đường thì thống nhất dịch là ngũ uẩn. Đôi khi lại dịch là ngũ tắc kiện đà 五塞犍陀 là tiếng phiên âm của chữ Phạn Skandha.
Sự tạo thành của sắc uẩn : Tất cả những gì chúng ta nhìn thấy gọi là sắc trần, mắt của chúng ta gọi là nhãn căn, đây là căn cứ địa để tiếp nhận những hình ảnh từ bên ngoài vào, hình ảnh này sau đó được đưa vào trong óc, tạo thành một hình ảnh trong óc gọi là nhãn thức. Tâm thức (mind) của chúng ta sẽ dùng cái hình ảnh này để làm những việc cần thiết hay hoàn toàn không dùng hình ảnh này, sau đó hình ảnh này được cất đi vào kho dự trữ gọi là sắc uẩn, kho này nằm trong A-lại da thức alayavijnana của chúng ta.
6-) Thống uẩn痛陰 : Trong bài kinh Hán văn viết là thống âm. Thí dụ bong bóng nước mưa và thống uẩn còn thấy trong bài kinh số 105 Ngũ Uẩn Thí Dụ Kinh五陰譬喻經. Trong tự điển không có chữ thống uẩn. Điện tử Phật Giáo Từ Điển 電子佛教辭典 của Nhật thì giải thích thí dụ bong bóng nước mưa là thọ uẩn受蘊vedana Skandha. Thọ uẩn là những cảm giác do tai, mắt, mũi, thiệt, xúc giác, ý niệm đưa đến. Có ba loại cảm giác : Lạc thọ 乐受cảm giác vui vẻ, khổ thọ 苦受cảm giác đau buồn, xá thọ捨受cảm giác không vui không buồn. Mỗi một loại cảm giác này lại chia làm hai loại : 1-) hữu vật nhiễm有物染 : Cảm giác liên quan đến thể xác. 2-) vô vật nhiễm无物染 : Cảm giác liên quan đến tinh thần. Như vậy là có sáu loại thọ uẩn. Từ những cảm giác này đưa đến thương, ghét, oán hận….
7-)Ngựa hoang野馬 : Trong kinh viết là dã mã sí thịnh野馬熾盛 nghĩa là ngựa dại gió to. Theo Tư Tri ký bài Thích Sư Tư Thiên : Ngựa hoang, theo phái Thiên Đài giảng là : gió thổi cát bụi ngoài chỗ khoang dã tạo thành hình ảnh con ngựa hoang, Trang Tử nói rằng : Đó là cát bụi (Tư Tri ký, Thích Sư Tư Thiên : Dã mã, Thiên Đài vân, phong động trần cố, khoang dã trung như dã mã, Trang Tử vân, Trần ai dã資持記‧釋師資篇:野馬, 天台云, 風動塵故,曠野中如野馬. 莊子云 : 塵埃也 ). Vì vậy dã mã sí thịnh đã dịch là gió to cuốn cát bụi tạo thành hình ảnh một con ngựa hoang bay chạy giữa trời. Hình ảnh này cũng rất giống như hình ảnh : ” bức tranh vân cẩu vẻ người tang thương ” (Cung Oán Ngâm Khúc ) trong thơ văn thường dùng : Mây trên trời tụ lại thành hình con chó có đó và biến mất liền. 😎 Tưởng uẩn想蘊 : Tiếng Phạn là sanna skandha (Anh văn là perception , chúng tôi xin tạm dịch là nhận thức ). Con người thông thường có những nhận thức . Có sáu loại nhận thức : Sắc tưởng色想, thanh tưởng聲想, hương tưởng香想, vị tưởng味想, sở xúc tưởng所觸想, pháp tưởng法想. 9-) Hành Uẩn行蘊 : Tiếng Phạm là samskara skandha. Tất cả những hoạt đông và động tác của thân, khẩu, ý đều tạo thành hành uẩn. Cũng được chia làm sáu loại. Tên của 6 hành uẩn không tìm thấy trong Hán văn. Tên Anh văn là : 1-) meritorious formation, 2-) demeritorious formation, 3-) imperturbable formation hành uẩn này chi dành riêng cho những bậc tiên, thiên nhân…không phải cho con người. 4-) mental formation. 5-) Verbal formation. 6-) bodily formation. (Tham khảo ý kiến với B.S. Nguyễn Trân Hàn ) 10) Thức Uẩn : Tiếng Phạm là vinnana skandha. Lục căn mỗi căn tạo ra một thức đó là : 1-) Nhãn thức, 2-) nhĩ thức, 3-) tị thức, 4-) thiệt thức, 5-) thân thức do xúc giác tạo ra, 6-) Ý thức, còn gọi là a-lê-da-thức 阿梨耶識 phiên âm từ tiếng Phạm manovijnana, do ý căn意根 đưa đến. Ý căn trong tiếng Phạn gọi là Hrd hay Hrdaya, nghĩa là trái tim bằng thịt, vì vậy Hán văn đã dịch nghĩa là Nhục đoàn tâm肉團心, hay phiên âm là hãn-tê-thái 汗栗太, đây là một sự hiểu lầm của người xưa cho là trái tim là nơi tiếp nhận những ý tưởng từ bên ngoài vào hay từ trong sinh ra, nay chúng ta biết nơi tiếp nhận những ý tưởng đó là khối óc chứ không phải là trái tim, vì vậy mặc dù trong các kinh gọi là tim, chúng ta phải hiểu là hệ thần kinh. 7-) mạt na thức末那識 : Tiếng Phạn là mana vijnana, tiếng Anh là manas conscious, 😎 A lại da thức阿賴耶識 tiếng Phạn là alaya vijnana.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *