[0107] KINH BẤT TỰ THỦ Ý

BẤT TỰ THỦ Ý KINH
Đời nhà Ngô ( 222-280 ), cư sĩ Chi Khiêm (1), người Nước Nguyệt Chi, dịch ra Hán văn.
B.S. Trần Văn Nghĩa dịch từ chữ Hán ra chữ Việt.
—o0o—

Tôi nghe như vậy, có một thời , Đức Phật ở tại nước Xã Vệ (2), trong tịnh xá Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên (3). Đức Phật gọi các Tỳ -kheo, Các Tỳ-Kheo thưa rằng : Dạ thầy. Đức Phật bảo rằng : Hãy nghe đây tự thủ và bất tự thủ . Các tỳ-kheo chắp tay nghe Đức Phật nói.

Đức Phật bảo các Ty-kheo : Những nhân duyên gì làm bất tự thủ , như nhãn căn (4) không bế thủ, để nhãn quan rơi vào những sắc (5), thức , ý (6) dục xấu thì nó làm chúng ta phóng túng hoang đàng, những ý xấu của chúng ta sẽ làm chúng ta khổ não, khi chúng ta khổ não thì chúng ta không có thể có tâm hồn và ý niệm thanh tịnh, khi tâm hồn và ý niệm không thanh tịnh thì chúng ta không thể nào có chí thành được. Nên dù có chân đế ở đó, nhưng ta không biết được , nên ta không thấy được những chân đế như nó đã có. Vì đã không biết được, đã không thấy được những chân đế như nó đã có, nên lòng ta không thể xả kết (7) và độ nghi(8) , vì không thể xả kết và độ nghi, chúng ta rơi vào những nhân duyên xấu khác, những hiểu biết khác. Đã hiểu biết khác đi nên sinh khổ não và bất an ẩn(9). Cũng như thế xảy đến cho cái tai, cái mũi, cái miệng, cái thân, cái ý của chúng ta. Đó được gọi là bất tự thủ.

Đức Phật lại bảo các Tỳ-Kheo rằng : Những nhân duyên của tự thủ. Như nhãn căn tự thủ. Nó không để nhãn quan rơi vào những sắc, thức , ý dục xấu thì nó không làm chúng ta phóng túng hoang đàng, nếu những ý niệm của chúng ta không phóng túng hoang đàng, chúng ta được an lạc. Vì chúng ta được an lạc nên chúng ta có tâm hồn và ý niệm thanh tịnh. Khi chúng ta có tâm hồn và ý niệm thanh tịnh thì chúng ta biết có đế như (10) , biết được đế -như như đã thấy. Đã biết được đế như, đã thấy được đế như, chúng ta sẽ xả kiết và độ nghi, chúng ta sẽ không tin vào những điều bất chí thành, chúng ta sẽ được tuệ trí, chúng ta sẽ được an ẩn. Lục căn cũng như vậy. Đó gọi là tự thủ. Ta muốn nói tự thủ và bất tự thủ là như vậy.

Đức Phật nói như thế. Tất cả đều hoan hỉ thọ trì.

Đức Phật giảng Bất Tự Thủ Ý kinh.
__________________________________________________________
1-) cư sĩ Chi Khiêm 居士支謙 : Còn gọi là Chi Việt支越, tự Cung Minh恭明, người nước Nguyệt Chi月支, một nước nhỏ ở vùng tây bắc Trung Quốc. Vào thời Hán Linh Đế漢灵帝 ( 168-189 ) , ông nội của cư sĩ đã bỏ nước Nguyệt Chi về làm việc cho nhà Hán. Cư sì Chi Khiêm tinh thông ngôn ngữ sáu nước của vùng tây bắc Trung Quốc. Ông làm việc cho Nhà Ngô呉国 (222-280) đời Tam Quốc三国, được vua Tôn Quyền孫权 phong làm bác sĩ. Sau về ở ẩn ở Cùng Long Sơn窮龙山, mất năm 60 tuổi. Là dịch giả của nhiều cuốn kinh nay còn 29 cuổn trong Hán Tang.
2-) Nước Xá Vệ舍衛國 tên tiếng Phạn là Sravasti hay Savatthi, một thành phố ở phía bắc Ấn Độ, nằm trên bờ sông rapti. Trong thời Đức Phật, thành phố này là thủ đô của vương quốc Kosala với vị vua Pasenadi, một đệ tử của Đức Phật. Đây là một trong tám thánh địa của đạo Phật. Ở đây có hai tịnh xá nổi tiếng của Đức Phật : Jetavana do Anathapindika trưởng lão xây tăng và Pubbarama do bà nữ đệ tử Visakha xây tặng. Đức Phật đã ở lại thành phố này trên 19 năm, giảng 871 bài kinh tại thành phố nay. 844 bài tai Jetavana, 23 bài tại Pubbarama, 4 bài tại ngoại thành Savatthi.
3-) Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên 祇樹給孤獨園tên tiếng Phạn là Jetavana. Ở thành Xá Vệ có người phú thương tên là Anathapindika nghĩa chữ Phạn là cung cấp, giúp đỡ cho những người nghèo khó cô độc vì vậy Hán văn đã dịch là Cấp Cô Độc trưởng lão. Tên thật của ông tên là Sudatta. Ông mời Đức Phật đến thành Xá Vệ, nguyện giúp Ngài xây một trụ sở. Ông đi tìm mua một khu vườn ở phía nam của thành Xá Vệ. Khu vườn nay của hoàng tử Jetakumara. Hoàng tử đòi bán với giá tấc đất tấc vàng, chỉ bán đất không bán cây trong vườn. Anathapindika đã mua khu vườn nay, xây lên một phần của tịnh xá. Hoàng tử Jetakumara quyên tặng cho Đức Phật những cây trong vườn và lấy tiền bán đất xây thêm một phần khác của tịnh xá. Sau Vua Pasedani bỏ tiền xây phần còn lại của tịnh xá. Đức Phật đã lấy hai vần đầu của tên hoàng tử Jetakumara và hai vần đầu của tên Anathapindika ghép lại thành Jetavana làm tên của tịnh xá . Theo truyền thuyết của đạo Phật đại thừa, thi sau khi tịnh xá hoàn tất, để nhớ ơn ba vị ân nhân này, đức Phật đã để tên ba vị trong giảng đường, tên vua Pasedani ở giữa , tên hoàng tử Jetakumara và Anathapindika ở hai bên, và sau này Ngài cũng cho để thêm tên cuả 16 người khác trong giảng đường, có sách nói là 18 người khác. 16 người nay là nhừng ân nhân khác và những người giúp việc trong tịnh xá, các thủ từ đã mất như người làm vườn, quét nhà…, 19 người này sau này được gọi là thần già lam 伽藍神của nhà Phật. Chữ già lam là chữ phiên âm của chữ Phạn asram, chữ asram là chữ viết tắt chủa chữ asrama , Hán văn dịch là già lam ma có nghĩa là tu viên. Thần Già Lam nghĩa là thần trông coi tu viện theo nghĩa hẹp, sau nay nó được hiểu theo một nghỉa rông hơn : Những ân nhân của nhà Phât. Vườn Jetavana : Hán văn dịch là Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên, còn goi tắt là Kỳ Viên, Kỳ Thụ Viên, Cấp Cô Độc Viên trong các kinh điển khác nhau. Có một vài kinh điển còn phiên âm chữ Jeta- Anathapindika asram là kì hoàn A-nan bân chì a lam. Đức Phật đã ở lại trong vườn này 19 năm, diễn giảng hơn 844 bài kinh trong đó có cuốn kinh Kim Cương. Vườn này đã cực thịnh ở thời hoàng triều của Á Dục Vương ( Ashoka) . Sau khi hoàng triều Á Dục Vương sụp đổ, Đạo Ấn Độ đã tàn phá vườn này phần nào. Nhà sư Thích Pháp Hiển ( Fa Hien) đến thăm vườn này vào thế kỷ thứ VI ghi lại là trong tịnh xá này vẫn còn một số sư cư ngụ. Vào thế kỷ thứ VIII, khi thầy Thích Huyền Trang ( Hsuan Chwang, Đường Tam Tạng) ghé thăm thì vườn này là một hoang địa. Đến thế kỷ thứ XI khi Hồi Giáo truyền vào Trung Á ( Central Asia ) và bắc Ấn Độ. Tất cả những di tích của đạo Phật đã bị hoàn toàn phá hủy ở những nước Hồi Quốc, A Phú Hãn, Bắc Ấn Độ, Tân Cương, Iran…Vườn này đã thành bình địa. Đến 1863 đoàn khảo cổ của tướng Alexander Cunningham của quân đội Anh đã khai quật và tìm ra di tích của vườn Jetavana. Vườn này nay là một trọng điểm hành hương của Phật tử thế giới.
4-) Nhãn căn 眼根 : Đây là một trong 6 căn. tiếng Phạn là Caksu Indriya. Chữ căn có nghĩa là cái rễ, nó cũng có nghĩa là căn cứ địa, nơi tiếp nhận vì vậy Anh văn đã dịch là physical base. Mỗi căn lại gồm có hai phần : Phù trần căn 扶塵根và thắng nghĩa căn 勝義根. Trong nhãn căn, phù trần căn là cái mắt, cái nhãn cầu (eye-ball). thẵng nghĩa căn là thị giác ( eye- sight). Một người mù có phù trần căn nhưng không có thẵng nghĩa căn. Những gì ta nhìn thấy gọi là sắc trần色塵. Những hình ảnh mà chúng ta nhìn thấy qua nhãn căn sẽ đi vào óc tạo thành nhãn thức色識. Chúng ta có 6 căn六根, còn gọi là nội lục xứ內六處, đó là : Nhãn căn, nhĩ căn , tỉ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn để tiếp nhận lục trần六塵 từ hoàn cảnh chung quanh đến đó là : Sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần. Lục trần này còn gọi là lục nhập六入, lục cảnh六境, hay ngoại luc xứ外六處 trong những kinh điển khác nhau. Lục trần vào trong óc sẽ tạo ra lục thức六識đó là : Nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Ở đây phải nói thếm về ý căn意根, tiếng Phạn gọi là Hrd hay Hrdaya, nghĩa là trái tim bằng thịt, vì vậy Hán văn đã dịch nghĩa là Nhục đoàn tâm肉團心, hay phiên âm là hãn-tê-thái 汗栗太, đây là một sự hiểu lầm của người xưa cho là trái tim là nơi tiếp nhận những ý tưởng từ bên ngoài vào hay từ trong sinh ra, nay chúng ta biết nơi tiếp nhận những ý tưởng đó là khối óc chứ không phải là trái tim, vì vậy mặc dù trong các kinh gọi là tim, chung ta phải hiểu là khối óc.
5-) Sắc 色 : Hình thể, mầu sắc, chất lương của vạn vật . Tất cả những gì ta nhìn thấy được. Trong các kinh điển thường dùng trong nghĩa những hình thể, mầu sắc này lôi cuốn ta về hướng xấu.
6-) Thức , ý識意 : Thức và ý ở đây có nghĩa những tài liệu, những sách báo xấu mà chúng ta đọc hay thấy ở xã hội quanh ta.
7-) Xả kết 捨結 : Xả là bỏ, kết là cái thắt nút (Knot), trói buộc. Trong các kinh chữ kết đồng nghĩa với chữ phiền não. Theo Kinh Tam Tạng Pháp Số chương 24 : Kiết có nghĩa là trói buộc, là chúng sinh vì phiền não, vong tưởng, mê hoặc làm những ác nghiệp, bị những đau khổ trói buộc, luân chuyển trong tam giới không thể thoát ra được, nên gọi là kết. ( Tam Tạng Pháp Số nhị thập tứ viết : ” Kết tức hệ phược chi nghĩa, vi chúng sinh nhân phiền não vọng hoặc tạo chư ác nghiệp, nhi vi hệ phược, lưu chuyển tam giới bất năng xuất ly, cố vân kết da 三藏法數二十四曰:結即繫縛之義。謂眾生因煩惱妄惑造諸惡業。而為眾苦繫縛。流轉三 界不能出離。故云結也. )
Năm loại phiền não五種煩惱 chữ Phạn là Klesa đó là : tham 貪, sân瞋, si 痴, mạn慢, nghi 疑. Phiền não còn có một tên khác gọi là tùy miên隨眠, tiếng Pali gọi là anusaya. Tùy隨 là theo sát như bóng với hình. Miên 眠 là ngủ yên. Tùy miên có nghĩa là những ác tính này tiềm phục trong tâm thức của con người, đợi khi có ngoại cảnh kích thích, theo luật của thập nhị nhân duyên, nó sẽ nổi dậy thúc đẩy con người làm việc xấu. Vì vậy tham còn gọi là tham tùy miên, sân còn gọi là sân tùy miên….Theo Câu xá Luận 俱舍論thì có sáu tùy miên : 1-) tham貪. Tham về ngũ dục : sắc, thanh, hương, vị, xúc. Trong Hoa Nghiêm Đại Sớ Sao chương 27 thì lại kể ngũ dục là : Tài dục, sắc dục, thực dục, danh dục, miên (ngủ nghỉ) dục. 2-) Sân瞋Chữ Phạn là Krodha, nóng giận. 3-) Mạn慢 : ăn hiếp, lấn áp người khác. 4-) Vô minh 無明, còn gọi là si痴. Theo Câu Xá Luận chương bốn : cái mà gọi là si, hay là ngu si, chính là vô minh. ( Câu Xá Luận tứ viết : Si giả, sở vị ngu si, si tức thị vô minh. 俱舍論四曰:痴者, 所謂愚痴, 即是無明. ). Tiếng Phạn là avidya, không hiểu, không chấp nhận tứ diệu đế, tam bảo, nghiệp quả…. 5-) Kiến見chữ kiến ở đây có nghĩa là ngã kiến我見 hay ngã chấp我執, tiếng Pali là Sakaya-Dithi : Tin là linh hôn của con người tồn tại mãi mãi ở môt dạng vĩnh viễn không thay đổi. 6-) Nghi 疑 chư Phạn là vicikitsa, do dự, nghi ngờ các chân đế.
😎 Độ nghi度疑 : Độ là đi qua sông. Nghi : lòng hoài nghi những chân đế của đạo Phật. Độ nghi là bỏ được những nghi ngờ về những chân lý của đạo Phật.
9-) An ẩn安隱 : Rời khỏi tất cả những phiền não và đau khổ. Theo Tôn Kính Luc : Kẻ được niềm vui của an ẩn là người luôn được cái vi diệu của tịch tịnh. ( Tôn Kính Lục Viết : An ẩn khoái lạc giả, tắc tịch tịnh diệu thường宗鏡錄曰:安隱快樂者,則寂妙常 ). Tịch là rời khỏi tất cả những phiền não, tịnh là thoát khỏi tất cả những đau khổ, đó là Niết Bàn. ( ly phiền
não viết tịch, tuyệt khổ hoạn vân tịnh, tức Niết Bàn chi lý da 離煩惱曰寂,絕苦患云靜,即涅槃之理也 )
10-) Đế như 諦如 : Đúng như chân lý của Đức Phật. Theo Đại Nhật Kinh Sớ chương tám : Đế là những lời nói chân thực của Đức Phật. ( Đại Nhật Kinh Sớ bát viết : Đế giả, tức thị Như Lai chấn thực cú大日經疏八曰:諦者,即是如來真實句.). Theo Kinh Duy Ma, phẩm Bồ Tát : Như có nghĩa là đúng như vậy, không khác một tí gì. ( Duy Ma Kinh Bồ tát phẩm viết : Như giả bất nhị bất dị 維摩經菩薩品曰:如者不二不異. ) .



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *