[0111] KINH TƯƠNG ỨNG TƯƠNG KHẢ

KINH TƯƠNG ỨNG TƯƠNG KHẢ

Đời Tây Tấn (265 – 316 ), nhà sư Pháp Cự (1) dich ra Hán văn.
Ngày 14/05/2011 B.S. Trần Văn Nghĩa dịch từ chữ Hán ra chữ Việt.

Đức Phật ở nước Xá Vệ (2) mời chư Tỳ-kheo đến. Chư Tỳ-Kheo đến ngay. Đức Phật bảo chư Tỳ-Kheo. Chư Tỳ-Kheo thưa dạ và nghe theo lời Đức Phật.

Đức Phật bèn bảo rằng : Những kẻ không nghe theo đạo pháp (3), những kẻ không nghe theo đạo pháp đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ nghe theo đạo pháp , những kẻ nghe theo đạo pháp đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, , cùng tương đắc với nhau. Những kẻ tham dâm, những kẻ tham dâm đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ không tham dâm , những kẻ không tham dâm đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, , cùng tương đắc với nhau. Những kẻ sân khuể (4), những kẻ sân khuể đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ không sân khuể, những kẻ không sân khuể đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ ngu si (5), những kẻ ngu si đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ bố thí (6) , những kẻ bố thí đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ keo kiệt, tham lam (7) , những kẻ keo kiệt, tham lam đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ ít dục vọng (8), những kẻ ít dục vọng đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ nhiều dục vọng , những kẻ nhiều dục vọng đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ không giữ giới luật (9), những kẻ không giữ giới luật đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ giữ giới luật , những kẻ giữ giới luật đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ hẹp lòng cung cấp, hẹp lòng giúp đỡ những người khác, những kẻ hẹp lòng cung cấp, hẹp lòng giúp đỡ những người khác đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ rộng lòng cung cấp, rộng lòng giúp đỡ những người khác , những kẻ rộng lòng cung cấp, rộng lòng giúp đỡ những người khác đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ bất tri túc , những kẻ bất tri túc đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ bất tự thủ (10) , những kẻ bất tự thủ đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Những kẻ tự thủ , những kẻ tự thủ đều cùng một loại, cùng tụ tập lại với nhau, cùng hưởng ứng cho nhau, cùng tương đắc với nhau. Đức Phật bảo rằng : Này các Tỳ- Kheo, là những người khôn ngoan sẽ phân biệt được những nhân duyên này, điều gì tốt thì nên làm, điều gì không tốt thì không nên làm.

Đức Phật nói như vậy, chư Tỳ-kheo chú tâm thọ hành.

Đức Phật giảng kinh tương ứng tương khả.
1-) Hòa Thượng Pháp Cự法炬 : người đời Tây Tấn (265 – 316 ), không rõ tiểu sử, quê quán, nơi tu hành của hòa thượng Pháp Cự. Chỉ biết thầy từng cùng hòa thượng Pháp Lập法 立dịch một số kinh từ tiếng Phạn qua Hán văn, sau khi thầy Pháp Lập viên tịch, hoa thượng tiếp tục dịch kinh, thây dịch hơn 40 cuốn kinh từ chữ Phạm qua Hán văn.

2-) Nước Xá Vệ 舍衛國: tên tiếng Phạn là Sravasti hay Savatthi, một thành phố ở phía bắc Ấn Độ, nằm trên bờ sông rapti. Trong thời Đức Phật, thành phố này là thủ đô của vương quốc Kosala với vị vua Pasenadi, một đệ tử của Đức Phật. Đây là một trong tám thánh địa của đạo Phật. Ở đây có hai tịnh xá nổi tiếng của Đức Phật : Jetavana do Anathapindika trưởng lão xây tăng và Pubbarama do bà Visakha xây tặng. Đức Phật đã ở lại thành phố này trên 19 năm, giảng 871 bài kinh tại thành phố nay. 844 bài tai Jetavana, 23 bài tại Pubbarama, 4 bài tại ngoại thành Savatthi.

3-)Bất văn 不聞, Đa văn多聞 : Bất văn : Không nghe, không làm theo Phật pháp. Đa văn : Nghe nhiều, hiểu nhiều về Phật pháp, làm theo Phật pháp.

4-) Sân khuể瞋恚 : Là một trong tam độc . Tiếng Phạm là Krodha. Có nghĩa nổi giận, nổi nóng, oán hận. Đại Thừa Nghĩa chương năm bổn : Phấn nộ là sân ( Đại Thừa Nghĩa chương năm bổn viết : Phấn nộ vi sân大乘義章五本曰:忿怒為瞋. )

5-) Ngu si愚癡 : Một trong tam độc. Đồng nghĩa với vô minh Theo Câu Xá Luận chương bốn : cái mà gọi là si, hay là ngu si, chính là vô minh. ( Câu Xá Luận tứ viết : Si giả, sở vị ngu si, si tức thị vô minh. 俱舍論四曰:痴者, 所謂愚痴, 即是無明. ). Tiếng Phạn là avidya, không hiểu, không chấp nhận tứ diệu đế, tam bảo, nghiệp quả… nói chung những chân đế của nhà Phật.

6-) bố thí 布施 : tiếng Phạm gọi là dana, Hán văn phiên âm là đàn na 檀那. Bố thí là điều đứng đầu của thập ba la mật, cũng là điều đứng đầu của lục ba la mật. Có bố loại bố thí : 1-) Tài bố thí財布施 : lấy tài vật, thực phẩm, thuốc men bố thí cho những người nghèo đói, bệnh hoạn. 2-) Pháp bố thí法布施: Giảng giải Phật pháp, những chân lý, giúp người khác từ bỏ những điều xấu, trở lại với đời sống lương thiện. In kinh sách để truyền bá đạo pháp. 3-) Vô uy bố thí無畏布施 : Giúp đỡ người khác khỏi lo sợ về tinh thần, về thể xác. 4-)thân bố thí身布施 : Là một loại bố thí ít được nói đến trước đây, là lấy một phần thân thể của mình bố thí cho người khác , ngày xưa thì rất là hiếm, ngày nay thì rất thường thấy như hiến máu, nguyện sau khi chết cho những bộ phận cơ thể của mình cho người khác. Theo Nguyệt Đăng Tam Muội kinh 月灯三昧, những người làm bố thí sẽ được 10 thứ lợi ích : khắc phục được lòng keo kiệt tham lam, lòng hỷ xả luôn tăng trưởng, sanh lòng bố thí vô lương, tái sình vào nhà phú hào, có lòng hỷ xả ở những kiếp sau, được tứ chúng yêu mến, vào trong tứ chúng không sợ hãi, phương danh được lưu truyền, tay chân luôn mềm mại, luôn được gần những người đầy trí tuệ.

7-) xan tham 慳貪 : Xan tiếng Phạm là matsaya hay labha, nghĩa là keo kiệt. Kinh Đại Thừa Nghĩa chương hai : Keo kiệt về vấn đề tiêng bạc đó là xan ( Đai Thừa Nghĩa chương nhị viết : lận tích tài pháp xứng xan. 大乘義章二曰:吝惜財法稱慳. ). Tham tiếng Phạm là Bāga. Tham về ngũ dục : sắc, thanh, hương, vị, xúc. Trong Hoa Nghiêm Đại Sớ Sao chương 27 thì lại kể ngũ dục là : Tài dục, sắc dục, thực dục, danh dục, miên (ngủ nghỉ) dục.

😎 Dục 欲 : Tiếng Phạm là rajas, có nghĩa mong muốn, khác vọng , tìm kiếm ngũ dục. Đại Thừa Nghĩa chương 7 : Yêu thích những ngũ dục còn gọi là trần cảnh,
đó gọi là dục ( Đại Thừa Nghĩa chương 7 viết : Nhiễm ái trần cảnh, danh chi vi dục . 大乘義章七曰:染愛塵境,名之為欲. )

9-) Trì giới持戒 : Giữ giới luật . Tiếng Phạm giới luật là Śila. Có bốn cấp giới luật : Ngũ giới五戒, bát giới八戒, thập giới十戒, bồ tát giới . Ngũ giới : 1-Không sát sinh, 2-không trộm cắp, 3-không tà dâm, 4-không nói điêu, nói dối, 5-không rượu chè. Bát giới : Là ngũ giới trên thêm : 6- không thoa son phấn, dầu thơm, trang điểm, 7-không xem ca vũ, nhẩy múa, 8-không ngủ hay ngồi trên giường êm nệm ấm. Thập giới : Là tám điều trên thêm : 9- ăn uống giản dị, chỉ ăn một bữa chánh ngọ. 10-không cất giữ tiền bạc, của cải. Bồ tát giới : Gồm có mười điều trọng cấm và 48 điều khinh cấm.

10-) Bất tự thủ不自守, tự thủ自守 : Tự thủ là giữ minh không để săc , ý, thức dục xấu đi vào lục căn của mình đê tạo ra lục thức xấu xúi giục ta làm ác nghiệp. Bất tự thủ : là đê những điều sắc , ý, thức dục xấu vào lục căn của mình tạo ra lục thức xấu, xúi giục ta làm những nghiệp xấu.



  • Leave a Comment