[0114] MÃ HỮU TAM TƯỚNG KINH

MÃ HỮU TAM TƯỚNG KINH

Đời Hậu Hán ( 25-220 ), Tỳ-Kheo Chi Diệu dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán .
Ngày 20/05/2011 B.S. Trần Văn Nghĩa dịch từ chữ Hán ra chữ Việt.

Tôi nghe như vậy, có một thời Đức Phật ở tại nước Xá Vệ (2), trong tịnh xá Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên (3).
Đức Phật bảo các Tỳ-Kheo rằng : Ngựa tốt có ba tướng tốt, để cho các vua quan cưỡi dùng . Nếu được vua thích thì được gọi là ngựa quan. Cái gì gọi là ba tướng tốt ? Tướng thứ nhất, ngựa có thiện tính, dễ cưỡi dễ chạy, tướng thứ nhì là có sức lực, tướng thứ ba là đoan trang và có mầu sắc đẹp. Đó là ba tướng tốt của ngựa. Ngựa tốt được xếp vào loại ngựa của vua quan.

Người thiện cũng có ba tướng tốt. Người có thiện tính, nổi tiếng và hào sảng , sãn sàng giúp đỡ những khó khăn của người khác, được mọi người tôn kính , được mọi người lễ ngộ, làm phúc cho thiên ha. Cái
gì gọi là ba cái tướng tốt của người thiện ? Người thiện đắc ý , cố chạy để giúp đời, đầy nghị lực, có tướng mạo đoan chính.

Cái gì là người thiện đắc ý cố chạy để giúp đời. Người thiện đắc ý, đầy khổ tâm để tìm biêt, tìm học, vì tìm biết , tìm học mà chịu nhiều thất bại, chỉ vì tìm biết đạo để giúp đời. Đó là những người thiện đắc ý cố chạy giúp đời.

Cái gì gọi là người thiện đắc ý đầy nghị lực ? Khi người thấy được những hành vi tệ bại sẽ tận lực tìm đoạn tuyệt nó. Cầu tinh tiến, bỏ những điều xấu. Những điều tệ bại. Những điều xấu chưa xuất hiện không cho nó xuất hiên. Những điều thiện chưa xuất hiện làm cho nó xuất hiện. Những điều thiện đã nẩy sinh, đừng để quên đi, luôn làm nó tăng trưởng lên . Tận lực tận ý làm cho hành động và ý niệm của mình đều thiện, ức chế những ý niệm xấu, từ bỏ những điều ác. Đó là người thiện có nghị lực.
Cái gì gọi là người thiện đắc ý có sắc đoan chánh ? Đó là ngươi thiện cố tránh các khoái lạc về ngũ dục của con người, tránh những tệ ác, tránh xa các điều xấu có thể đưa đến tứ khí (4) . Đó là người thiện đắc ý có sắc đoan chánh. Đó là ba nhân duyên của chân đế về tu hành
Người thiện đắc ý, danh được lưu truyền, giúp được những khó khăn của đời, được thiên hạ trong vọng, đức Phật nói như vậy.

Đức Phật giảng Mã Hữu Tam Tướng Kinh.
__________________________________________________________ ___________________________________

1-) Chi Diệu支曜 : Hòa thượng Chi Diệu, người nước Nguyệt Chi月支, một nước nhỏ ở vùng tây bắc Trung Quốc. Vào thời Hán Linh Đế漢灵帝 ( 168-189 ) , thầy đến Lạc Dương洛陽 , Trung Quốc làm dịch kinh sư, nổi tiếng thông thái về kinh điển Phật giáo. Tiểu sử của thầy có ghi trong sách ” Cao Tăng Truyện ” cuổn một 高僧傳卷一và trong sách ” Khai Nguyên Lục ” cuổn một開元錄卷一. Hòa thượng có dịch nhiều kinh sách từ chữ Phạm ra Hán văn như “Phật Thuyết Thành Cục Quang Minh Định Ý Kinh “佛��具光���經, ” ” Tiểu Đạo Địa Kinh 小道地經”….và nhiều bài kinh khác.

2-) Nước Xá Vệ 舍衛國: tên tiếng Phạn là Sravasti hay Savatthi, một thành phố ở phía bắc Ấn Độ, nằm trên bờ sông rapti. Trong thời Đức Phật, thành phố này là thủ đô của vương quốc Kosala với vị vua Pasenadi, một đệ tử của Đức Phật. Đây là một trong tám thánh địa của đạo Phật. Ở đây có hai tịnh xá nổi tiếng của Đức Phật : Jetavana do Anathapindika trưởng lão xây tăng và Pubbarama do bà Visakha xây tặng. Đức Phật đã ở lại thành phố này trên 19 năm, giảng 871 bài kinh tại thành phố nay. 844 bài tai Jetavana, 23 bài tại Pubbarama, 4 bài tại ngoại thành Savatthi.

3-) Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên 祇樹給孤獨園tên tiếng Phạn là Jetavana. Ở thành Xá Vệ có người phú thương tên là Anathapindika nghĩa chữ Phạn là cung cấp, giúp đỡ cho những người nghèo khó cô độc vì vậy Hán văn đã dịch là Cấp Cô Độc trưởng lão. Tên thật của ông tên là Sudatta. Ông mời Đức Phật đến thành Xá Vệ, nguyện giúp Ngài xây một trụ sở. Ông đi tìm mua một khu vườn ở phía nam của thành Xã Vệ. Khu vườn nay của hoàng tử Jetakumara. Hoàng tử đòi bán với giá tấc đất tấc vàng, chỉ bán đất không bán cây trong vườn. Anathapindika đã mua khu vườn nay, xây lên một phần của tịnh xá. Hoàng tử Jetakumara quyên tăng cho Đức Phật những cây trong vườn và lấy tiên bán đất xây thêm một phần khác của tịnh xá. Sau Vua Pasedani bỏ tiền xây phần còn lại của tịnh xá. Đức Phật đã lấy hai vần đầu của tên hoàng tử Jetakumara và hai vần đầu của tên Anathapindika ghép lại thành Jetavana làm tên của tịnh xá . Theo truyền thuyết của đạo Phật đại thừa, thi sau khi tịnh xá hoàn tất, để nhớ ơn ba vị ân nhân này, đức Phật đã để tên ba vị trong giảng đường, tên vua Pasedani ở giữa , tên hoàng tử Jetakumara và Anathapindika ở hai bên, và sau này Ngài cũng cho để thêm tên cuả 16 người khác trong giảng đường, có sách nói là 18 người khác. 16 người nay là nhừng ân nhân khác và những người giúp việc trong tịnh xá, các thủ từ đã mất như người
làm vườn, quét nhà…, 19 người này sau này được gọi là thần già lam 伽藍神của nhà Phật. Chữ già lam là chữ phiên âm của chữ Phạn asram, chữ asram là chữ viết tắt chủa chữ asrama , Hán văn dịch là già lam ma có nghĩa là tu viên. Thần Già Lam nghĩa là thần trông coi tu viện theo nghĩa hẹp, sau nay nó được hiểu theo một nghỉa rông hơn : Những ân nhân của nhà Phât. Vườn Jetavana : Hán văn dịch là Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên, còn goi tắt là Kỳ Viên, Kỳ Thụ Viên, Cấp Cô Độc Viên trong các kinh điển khác nhau. Có một vài kinh điển còn phiên âm chữ Jeta- Anathapindika asram là kì hoàn A-nan bân chì a lam. Đức Phật đã ở lại trong vườn này 19 năm, diễn giảng hơn 844 bài kinh trong đó có cuốn kinh Kim Cương. Vườn này đã cực thịnh ở thời hoàng triều của Á Dục Vương ( Ashoka) . Sau khi hoàng triều Á Dục Vương sụp đổ, Đạo Ấn Độ đã tàn phá vườn này phần nào. Nhà sư Thích Pháp Hiển ( Fa Hien) đến thăm vườn này vào thế kỷ thứ VI ghi lại là trong tịnh xá này vẫn còn một số sư cư ngụ. Vào thế kỷ thứ VIII, khi thầy Thích Huyền Trang ( Hsuan Chwang, Đường Tam Tạng) ghé thăm thì vườn này là một hoang địa. Đến thế kỷ thứ XI khi Hồi Giáo truyền vào Trung Á ( Central Asia ) và bắc Ấn Độ. Tất cả những di tích của đạo Phật đã bị hoàn toàn phá hủy ở những nước Hồi Quốc, A Phú Hãn, Bắc Ấn Độ, Tân Cương, Iran…Vườn này đã thành bình địa. Đến 1863 đoàn khảo cổ của tướng Alexander Cunningham của quân đội Anh đã khai quật và tìm ra di tích của vườn Jetavana. Vườn này nay là một trọng điểm hành hương của Phật tử thế giới.

4-) Tứ khí 四棄 : Tiếng Phạm là cature parajikas, Hán văn còn phiên âm là ba- la-di波羅夷. Khí là vứt bỏ. Đây là bốn trọng tội của các tỳ-kheo, nếu phạm phải thì phải khai trừ ra khỏi cửa Phật. Kinh Lăng Nghiêm chương 7 : Tỳ khoe, tỳ khoe ni có tứ khí và bát khí. (Lăng Nghiêm Kinh thất viết : Tỳ khoe tỳ khoe ni tứ khí bát khí. 楞嚴經七曰:比丘比丘尼四棄八棄. ) Tứ khí là cho các tỳ khoe : 1- dâm dục Abrahmacarya, 2- trộm cắp Adattādāna, 3-giết người Vadha, 4- đại vọng ngữ Uttaramanuṣyadharma. Bát khí là cho các nữ tỳ khoe : gồm bốn điều cho các tỳ khoe kể trên, thêm vào bốn điều sau đây ,5- sờ mó kiêu dâm người khác, 6- gồm 8 điểm, cả 8 điều này hội lại tạo thành một điều ba-la-di : nắm tay người nam, kéo áo người nam, cùng người nam hẹn hò chỗ kín khuất, cùng đứng chung, cùng chuyện trò, cùng đi chung, cùng dựa vào nhau, cùng làm nhừng chuyện dâm ô. 7- che giấu những lỗi lầm của kẻ khác, 8- đồng lõa với các tăng ni khác làm những chuyện xấu. Những tăng ni phạm vào những trọng cấm này, sống bị khai trừ ra khỏi cửa Phật, tất cả các tăng ni phải xa lánh. Chết sẽ phải xuống A-tì-địa ngục 阿鼻地獄avīci.



  • Leave a Comment