[0115] MÃ HỮU BÁT THÁI THÍ NHÂN KINH

MÃ HỮU BÁT THÁI THÍ NHÂN KINH

Đời Hậu Hán ( 25-220 ), Tỳ-Kheo Chi Diệu dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán .
Ngày 26/05/2011 B.S. Trần Văn Nghĩa dịch từ chữ Hán ra chữ Việt.

Tôi nghe như vậy.

Có một thời, Đức Phật ở tại Nước Xá Vệ (2), trong tịnh xá Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên (3), với rất nhiều các Tỳ Kheo.

Đức Phật bảo các Tỳ-Kheo rằng : Ngựa có tám thói xấu. Tám thói xấu đó là : Thói xấu thứ nhất là vừa cởi giây cương ra là định kéo cả xe chạy. Thói xấu thứ hai là kéo xe thì nhảy lên định cắn người. Thói xấu thứ ba là chồm hai chân trước lên khi kéo xe. Thói xấu thứ tư là đá đạp cái chuông xe. Thói xấu thứ năm là người phu ngựa vừa cầm vào cái vòng da đeo quanh cổ của ngựa, hay sờ mó vào xe là đã phóng chay. Thói xấu thứ sáu là chạy xiên chạy xẹo không theo một đường thẳng. Thói xấu thứ bẩy là ngưng gấp chạy nhanh, thấy đường có bùn lầy không chịu chạy. Thói xấu thứ tám là giỏ cỏ đeo ở trước miệng dù đói cũng không ăn, khi người chủ muốn đưa đi kéo xe, thì lại lo ăn cỏ và không ăn được.
Đức Phật nói rằng : Con người cũng có tám thói xấu. Tám thói xấu đó là : Thói xấu thứ nhất là nghe thấy nói đến kinh kệ là lo chạy nhanh không muốn nghe, như con ngựa vừa cởi giây cương là lo kéo xe chạy. Thói xấu thứ hai là nghe giảng kinh không hiểu ý nghĩa, không hiểu mục đích của kinh, nên lòng sân khuê (4) nhảy xổ lên, nổi giận và không muốn nghe nữa, như lúc con ngựa kéo xe nhảy xổ lên định cắn người. Thói xấu thứ ba là khi nghe giảng kinh sinh nghịch ý không chịu tiếp thu, như ngựa chồm hai chân trước lên làm xe ngưng chạy. Thói xấu thứ tư là khi nghe giảng kinh là chê bai chửi rủa, như ngựa đá cái chuông xe. Thói xấu thứ năm là khi nghe giảng kinh liền đứng dậy bỏ đi như ngựa phóng chạy khi người phu ngựa vừa cầm vào cái vòng da đeo quanh cổ của ngựa, hay sờ mó vào xe. Thói xấu thứ sáu là khi nghe giảng kinh không chịu chú tâm, quay đi quay lại để nói chuyện, như ngựa kéo xe chạy xiên chạy xẹo không theo một đường thẳng. Thói xấu thứ bẩy là khi nghe giảng kinh là cố tình gây khó khăn bằng cách hỏi đến cùng, để cho người giảng không trả lời được, dùng những vọng ngữ (5) làm bế tắc câu chuyện, như ngựa thấy đường có bùn lầy không chạy vậy. Thói xấu thứ tám là khi nghe giảng kinh không chịu nghe mà ngược lại nghĩ chuyện dâm ô , không muốn nghe, không thọ trì những lời kinh . Những người này khi chết vào ác đạo, thì lai muốn học đạo, nghe kinh, lúc đó đâu còn được học đạo nghe kinh nữa, như con ngưa khi giỏ cỏ đeo ở trước miệng dù đói cũng không thèm ăn, khi người chủ muốn đưa đi kéo xe thì lại lo ăn nhưng không được ăn nữa. Đức Phật nói rằng : Đó là ta muốn nói về tám thói xấu của ngựa, người xấu cũng có tám thói xấu là như thế. Chư Tỳ kheo nghe giảng xong kinh hoan hỷ, đỉnh lễ Đức Phật và ra về. Đức Phật giảng Mã Hữu Bát Thái Thí Nhân Kinh.

1-) Chi Diệu : Hòa thượng Chi Diệu, người nước Nguyệt Chi, một nước nhỏ ở vùng tây bắc Trung Quốc. Vào thời Hán Linh Đế ( 168-189 ) , thầy đến Lạc Dương , Trung Quốc làm dịch kinh sư, nổi tiếng thông thái về kinh điển Phật giáo. Tiểu sử của thầy có ghi trong sách ” Cao Tăng Truyện ” cuổn một và trong sách ” Khai Nguyên Lục ” cuổn một. Hòa thượng có dịch nhiều kinh sách từ chữ Phạm ra Hán văn như “Phật Thuyết Thành Cục Quang Minh Định Ý Kinh “��具光���經, ” ” Tiểu Đạo Địa Kinh “….và nhiều bài kinh khác.

2-) Nước Xã Vệ tên tiếng Phạn là Sravasti hay Savatthi, một thành phố ở phía bắc Ấn Độ, nằm trên bờ sông Rapti. Trong thời Đức Phật, thành phố này là thủ đô của vương quốc Kosala với vị vua Pasenadi, một đệ tử của Đức Phật. Đây là một trong tám thánh địa của đạo Phật. Ở đây có hai tịnh xá nổi tiếng của Đức Phật : Jetavana do Anathapindika trưởng lão xây tăng và Pubbarama do bà Visakha xây tặng. Đức Phật đã ở lại thành phố này trên 19 năm, giảng 871 bài kinh tại thành phố nay. 844 bài tai Jetavana, 23 bài tại Pubbarama, 4 bài tại ngoại thành Savatthi.

3-) Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên tên tiếng Phạn là Jetavana. Ở thành Xá Vệ có người phú thương tên là Anathapindika nghĩa chữ Phạn là cung cấp, giúp đỡ cho những người nghèo khó cô độc vì vậy Hán văn đã dịch là Cấp Cô Độc trưởng lão. Tên thật của ông tên là Sudatta. Ông mời Đức Phật đến thành Xá Vệ, nguyện giúp Ngài xây một trụ sở. Ông đi tìm mua một khu vườn ở phía nam của thành Xã Vệ. Khu vườn này của hoàng tử Jetakumara. Hoàng tử đòi bán với giá tấc đất tấc vàng, chỉ bán đất không bán cây trong vườn. Anathapindika đã mua khu vườn này, xây lên một phần của tịnh xá. Hoàng tử Jetakumara quyên tặng cho Đức Phật những cây trong vườn và lấy tiền bán đất xây thêm một phần khác của tịnh xá. Sau Vua Pasedani bỏ tiền xây phần còn lại của tịnh xá. Đức Phật đã lấy hai vần đầu của tên hoàng tử Jetakumara và hai vần đầu của tên Anathapindika ghép lại thành Jetavana làm tên của tịnh xá . Theo truyền thuyết của đạo Phật đại thừa, thi sau khi tịnh xá hoàn tất, để nhớ ơn ba vị ân nhân này, đức Phật đã để tên ba vị trong giảng đường, tên vua Pasedani ở giữa , tên hoàng tử Jetakumara và Anathapindika ở hai bên, và sau này Ngài cũng cho để thêm tên cuả 16 người khác trong giảng đường, có sách nói là 18 người khác. 16 người nay là nhừng ân nhân khác và những người giúp việc trong tịnh xá, các thủ từ đã mất như người làm vườn, quét nhà…, 19 người này sau này được gọi là thần già lam của nhà Phật. Chữ già lam là chữ phiên âm của chữ Phạn asram, chữ asram là chữ viết tắt chủa chữ asrama , Hán văn dịch là già lam ma có nghĩa là tu viên. Thần Già Lam nghĩa là thần trông coi tu viện theo nghĩa hẹp, sau này nó được hiểu theo một nghỉa rộng hơn : Những ân nhân của nhà Phât. Vườn Jetavana : Hán văn dịch là Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên, còn goi tắt là Kỳ Viên, Kỳ Thụ Viên, Cấp Cô Độc Viên trong các kinh điển khác nhau. Có một vài kinh điển còn phiên âm chữ Jeta- Anathapindika asram là kì hoàn A-nan bân chì a lam. Đức Phật đã ở lại trong vườn này 19 năm, diễn giảng hơn 844 bài kinh trong đó có cuốn kinh Kim Cương. Vườn này đã cực thịnh ở thời hoàng triều của Á Dục Vương ( Ashoka) . Sau khi hoàng triều Á Dục Vương sụp đổ, Đạo Ấn Độ đã tàn phá vườn này phần nào. Nhà sư Thích Pháp Hiển ( Fa Hien) đến thăm vườn này vào thế kỷ thứ VI ghi lại là trong tịnh xá này vẫn còn một số sư cư ngụ. Vào thế kỷ thứ VIII, khi thầy Thích Huyền Trang ( Hsuan Chwang, Đường Tam Tạng) ghé thăm thì vườn này là một hoang địa. Đến thế kỷ thứ XI khi Hồi Giáo truyền vào Trung Á ( Central Asia ) và bắc Ấn Độ. Tất cả những di tích của đạo Phật đã bị hoàn toàn phá hủy ở những nước Hồi Quốc, A Phú Hãn, Bắc Ấn Độ, Tân Cương, Iran…Vườn này đã thành bình địa. Đến 1863 đoàn khảo cổ của tướng Alexander Cunningham của quân đội Anh đã khai quật và tìm ra di tích của vườn Jetavana. Vườn này nay là một trọng điểm hành hương của Phật tử thế giới.

4-) Sân khuể : Là một trong tam độc . Tham Sân Si Tiếng Phạm là Krodha. Có nghĩa nổi giận, nổi nóng, oán hận. Đại Thừa Nghĩa chương năm bổn : Phấn nộ là sân ( Đại Thừa Nghĩa chương năm bổn viết : Phấn nộ vi sân. ). Tam độctrivisa là : Tham, sân, si.

5-) vọng ngữ : Nói điêu, nói dôi để lừa bịp, vu oan, hàm hại kẻ khác. Đại Thừa Nghĩa chương 7 : Nói không đúng sự thật, gọi là vọng. nói những chuyện vong, gọi là vọng ngữ .( Ngôn bất đương thực, cố xứng vi vọng. Vọng hữu sở đàm, cố vi vọng ngữ. : , . , . ). Trí Độ Luận chương 14 : Kẻ nói vọng ngữ là người có lòng không thanh tịnh, muốn lừa đảo người khác, muốn che giấu sự thật, nói những chuyện khác đi, tạo ra những khẩu nghiệp, đó là vọng ngữ. ( Trí Độ Luận thập tứ viết : Vọng ngữ giả, bất tịnh tâm dục cuồng tha, phúc ẩn thực, xuất dị ngôn, sinh khẩu nghiệp, thị danh vọng ngữ. ” , . , , , .” ). Vọng ngữ là một trong thập ác. Thập ác là : 1-) sát sinh, 2-)Thâu đạo 偷盜 : Trọm cắp, 3-) Tà dâm : Có những quan hệ tình dục với thê thiếp của người khác. 4-) vong ngữ, 5-)Lưỡng thiệt : Lưỡi hai đầu, nói những lời li gián. 6-) Ác khâu, ăn nói ác độc 7-) Khỉ ngữ : ăn nói ô uế, tục tằn, 😎 Tham dục, 9-) Sân khuê, 10-) tà kiến.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *