[0170] KINH THÁI TỬ ĐỨC QUANG

PHẬT NÓI KINH THÁI TỬ ĐỨC QUANG

Hán dịch: Đời Tây Tân, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ
Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
-o0o-

Nghe như Vầy:

Một thời, Đức Phật ở tại đỉnh núi Linh điểu thuộc thành Vương xá, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị và năm trăm vị Bồ-tát.

Bấy giờ, Hiền giả Lại-tra-hòa-la vừa mãn ba tháng kiết hạ tại nước Xá-vệ. Sau khi may đầy đủ ba y mới, Hiền giả đắp y, mang bát cùng với một trăm Tỳ-kheo tân học du hóa đến các nước. Các thầy Tỳ-kheo cùng đến đỉnh núi Linh điểu ở đại thành Vương xá. Hiền giả Lại-tra-hòa-la liền tới chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài, rồi đứng qua một bên. Lại-tra-hòa-la hỏi Đức Thế Tôn:

-Đại sĩ Bồ-tát phụng hành những gì mà được tất cả pháp công đức kỳ diệu, cho đến trí tuệ siêu việt không sợ hãi và lay động, phát huy biện tài quang minh soi chiếu thấu triệt, hội nhập nơi Nhất thiết trí để giáo thọ chúng sinh, làm cho họ được giải thoát, chấm dứt sự hồ nghi, khéo dùng phương tiện quyền biến thể hiện Nhất thiết trí, lời nói và hành động tương ưng, thường dùng phương cách khéo léo lúc thỉnh vấn hợp ý chư Phật, khiến cho mọi người được nghe giáo pháp đều có thể thọ trì và chóng đạt đến Nhất thiết trí?

Rồi Hiền giả Lại-tra-hòa-la dùng kệ tán thán hỏi Phật:

Thế nào Bồ-tát mãn sở hạnh

Làm sao hành động hợp chân lý

Vẹn toàn nguyện trí tuệ công đức

Xin Đấng Tôn quý giải nói cho.

Thân sắc vàng ròng đẹp vi diệu

Là Đấng Nhân Tôn chứa đức cao

Hộ trì cứu giúp khắp mọi loài

Xin Phật giải nói hạnh Vô thượng.

Thế nào chứng đắc trí vô tận

Vô lượng Tổng trì Phật đạo cao?

Thế nào đạt được hạnh bình đẳng

Giải quyết hoài nghi cho chúng sinh?

Vô số ức kiếp ưa sinh tử

Ý họ mãi không muốn chán nhàm

Đã thấy kiếp người muôn nỗi khổ

Khéo dùng phương tiện khiến mở bày

Tịnh hóa nước Phật quyến thuộc đủ.

Quang minh thọ mạng cũng như vậy

Tất cả cho rằng là tịch mặc

Cúi xin Đức Phật thuyết hạnh trên

Hàng ma, quyến thuộc, đoạn các kiến.

Thoát vòng ái dục, vượt tưởng hành

Thế nào thuyết giảng nghĩa pháp kinh ?

Xin Phật giải nói các thật hạnh

Đấng biện tài tướng hảo đoan nghiêm

Vì chúng sinh thuyết âm vi diệu

Phủ khắp cõi đời như mưa thấm.

Xin Phật giải nói các hạnh giác

Lời nói vi diệu như Ca-lăng

Tiếng Phạm không nghi tuệ âm rõ

Chúng hội khát khao nghe pháp kinh.

Ngài đem cam lộ rưới quần sinh

Nếu ai muốn học Phật đạo quý

Chí phải năng tinh tấn hành pháp

Pháp Như Lai dạy đều bình đẳng.

Cúi xin Pháp vương thuyết đúng thời

Con mong nghe nói đạo chánh chân

Phật, Thiên Trung Thiên biết ý con

Nay con không dám quấy nhiễu Ngài

Chỉ xin Phật giảng hạnh Vô thượng.

Đức Phật dạy Lại-tra-hòa-la:

-Lành thay! Lành thay! Chỉ ông mới có thể hỏi Như Lai những nghĩa này, vì nghĩ nhớ và muốn đem lại an ổn cho nhiều người, vì thương tưởng đến chư Thiên và mọi người trong cuộc đời, lại vì các Bồ-tát nơi đời vị lai mà ban bố để được hành trì. Lại-tra-hòa-la, hãy lắng nghe và nhớ nghĩ kỹ, Ta sẽ giảng nói cho ông.

Lại-tra-hòa-la thưa:

-Thưa vâng, bạch Đức Thế Tôn, con mong muốn được lãnh hội. -Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát có bốn pháp đạt đến hạnh thanh tịnh. Những gì là bốn pháp?

1.Thực hành tâm bình đẳng mà không xu nịnh.

2. Tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh

3. Hiểu tường tận về pháp Không.

4. Lời nói và hành động đi đôi với nhau

Đây là bồn pháp mà Bồ-tát tu tập chóng đắc hạnh thanh tịnh. Đức Phật dạy Lại-tra-hòa-la:

-Bồ-tát lại có bốn pháp để đạt đến an ổn, tinh tấn. Những gì là bốn pháp?

1. Được pháp Tổng trì.

2. Được thiện tri thức.

3. Được pháp nhẫn.

4. Việc làm bình đẳng, giới luật thanh tịnh.

Đức Phật dạy Lại-tra-hòa-la:

-Bồ-tát lại có bốn pháp đi vào cảnh giới trần lao mà vẫn an nhiên nơi pháp sinh tử. Những gì là bốn pháp?

1. Bồ-tát thị hiện thân Phật đi vào sinh tử, khuyên các chúng sinh đối với pháp sinh diệt luôn đạt hoan hỷ.

2. Vì chúng sinh thuyết pháp nhu thuận.

3. Không yêu tiếc mọi sở hữu.

4. Thường được vô sinh pháp nhẫn.

Đức Phật dạy Lại-tra-hòa-la:

-Bồ-tát lại có bốn pháp không tham đắm. Những gì là bốn pháp?

1. Bồ-tát không nên tham đắm về đất đai, nhà cửa.

2. Bồ-tát xuất gia không nên tham tài lợi.

3. Bồ-tát không cầu các quả báo về công đức.

4. Bồ-tát không nên tiếc thân mạng.

Này Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát lại có bốn pháp đối với pháp không nhàm chán. Những gì là bốn pháp?

1. Đối với giới không có sự khuyết giảm.

2. Thường sống nơi vắng vẻ, tịch tĩnh.

3. Phụng hành bốn hạnh Thánh hiền.

4. Được học rộng nghe nhiều.

Này Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát lại có bốn pháp đạt được vô niệm hiện hữu khắp nơi. Những gì là bốn pháp?

1. Được sinh vào chốn lành, thường gặp Phật ra đời.

2. Nghe lời dạy bảo của bậc tôn trưởng mà không xu nịnh.

3. Vui nhận sự dạy bảo, tâm không tham đắm tài lợi.

4. Được biện tài thâm nhập pháp yếu.

Này Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát có bốn pháp được hạnh thanh tịnh. Những gì là bốn pháp?

1. Bồ-tát sống không có ý làm tổn hại người.

2. Dứt bỏ các hạnh tà ngụy, dối trá, ưa thích ở chỗ vắng vẻ.

3. Bố thí tất cả mọi sở hữu mà không tham tiếc và mong cầu quả báo.

4. Ngày đêm thường quyết chí mong cầu giáo pháp, thấy người thuyết pháp không tìm cầu sở đoản của họ.

Đây là bốn pháp của Đại Bồ-tát đạt được hạnh thanh tịnh.

Khi ấy, Đức Phật nói kệ:

Tâm ai không đắm pháp trần cấu

Tức là không còn ghét tội lỗi

Chí ý không chán giảng dạy pháp

Có thể đạt đến đạo Vô thượng.

Dầu gặp chẳng lành tâm thường định

Vào khắp tà hạnh gốc ác đạo

Xuất gia học đạo không tiếc nuối

Ở tại núi rừng mong giải thoát

Sống nơi vắng vẻ không móng khởi

Tâm không say đắm sắc, lợi tài

Xả bỏ thân mình không tham tiếc

Hạnh như sư tử sợ gì ai.

Tâm được an vui và biết đủ

Chẳng khác chim bay chẳng sợ gì

Tất cả cõi đời không thường tại

Chí cầu Phật đạo hành tuệ lớn.

Ưa trú một mình như tê giác

Không gì sợ hãi như sư tử

Tâm không lo sợ, không lãng chí

Nếu được cúng dường vẫn an nhiên.

Dứt trừ lời quấy và ác kiến

Trí rõ hạnh lớn, chí hiểu đạo

Ta vì thế gian, hộ tất cả

Khéo dùng phương tiện chẳng buông lung.

Ý chuyên trì giới vì độ chúng

Tâm không loạn đắm trong ái ân

Chánh hạnh cẩn trì như cứu lửa

Thường cầu hạnh mầu Đấng Thế Tôn.

Đã thoát không rồi không có tướng

Mỗi mỗi đầy đủ vắng lặng yên

Trí tuệ rạng ngời trong tĩnh thức

Được vị cam lộ thường hoan hỷ.

Giả sử giác ngộ được ý Phật

Thường hay thanh tịnh chẳng nghi nan

Tổng trì, tài biện tâm chuyên nhất

Chịu tất cả khổ chẳng màng báo.

Nếu có Bồ-tát nghe hạnh này

Muốn cầu Phật đạo phải hân hoan

Chí luôn tinh tấn không lười mỏi

Rõ uế vô tri ý không hại.

Đức Phật bảo Lại-tra-hòa-la:

-Bồ-tát có bốn pháp khiến tự đọa lạc. Những gì là bốn pháp?

1. Bồ-tát kiêu mạn, không cung kính là tự đọa lạc

2. Bồ-tát không báo ân, thường hành động dua nịnh là tự đọa lạc.

3. Bồ-tát tham lợi dưỡng, cầu cúng dường là tự đọa lạc.

4. Bồ-tát hành tà hạnh, dua nịnh cầu sự cúng dường là tự đọa lạc.

Này Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát có bốn pháp khiến rơi vào hào tà hạnh. Những gì là bốn pháp?

1. Biếng trễ là pháp rơi vào hào tà.

2. Không có tịnh tín.

3. Khởi vọng tưởng.

4. Thấy người được cúng dường sinh tâm ganh ghét.

Này Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát không nên học tập bốn pháp. Những gì là bốn?

1. Bồ-tát không nên thân cận với những người tà kiến.

2. Bồ-tát không nên thân cận với người phỉ báng chánh pháp. .

3. Bồ-tát không nên thân cận với kẻ tri thức xấu ác.

4. Bồ-tát không nên thân cận với người tham lam về y phục, ăn uống.

Này Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát có bốn pháp bị tội dẫn đến đau khổ. Những gì là bốn pháp?

1. Dựa vào trí tuệ, tự cao ngạo và ôm lòng ganh ghét.

2. Tâm không vui vẻ, không có hạnh thanh tịnh.

3. Không thể nhẫn nhục, chỉ tham muốn tài vật của người khác.

4. Chấp trước pháp ngã, nhân.

Này Lại-tra-hòa-la, Bồ-tát lại có bốn pháp tự ràng buộc. Những gì là bốn pháp?

1. Bồ-tát thích khinh mạn đối với người, đó là tự ràng buộc.

2. Bồ-tát sống trong thế gian làm những nghề buôn bán, chính trị sinh ra những tư tưởng xảo trá, đó là tự ràng buộc.

3. Bồ-tát với ý tưởng không chấp nhận pháp tuệ mà sống buông lung, đó là tự ràng buộc.

4. Bồ-tát với tâm ý bị lệ thuộc nơi dòng dõi, đó là tự ràng buộc.

Này Lại-tra-hòa-la, vào đời sau này, người học đạo Bồ-tát, sẽ có những kẻ xấu xa vô hạnh. Sẽ cúng dường cho những kẻ vô hạnh ấy, là những kẻ dua nịnh. Sẽ cúng dường cho những kẻ dua nịnh là những kẻ vô trí. Sẽ cúng dường cho những kẻ vô trí là hạng tham cầu về y phục và thực phẩm, tâm không ngay thẳng, chỉ ôm lòng xấu xa, ganh ghét về dòng dõi dua nịnh, không có tâm chất phác thật thà, giỏi lừa dối các bậc tôn trưởng và những người trong gia đình, thọ dụng sự cúng dường, trở lại phỉ báng, ý tham lam tài lợi. đi đi các phố huyện thì không nhớ nghĩ đến việc thuyết pháp để dạy bảo cho người với các phương tiện khéo léo. Đối với những kẻ không có trí tuệ, tự cho mình là có trí tuệ, thấy người khác có trí tuệ, là bậc thầy giỏi, lại tỏ ra khinh thường họ. Giả như có người vô hạnh, là vật dụng phá hoại, trở lại tìm tòi chỗ hay dở hơn kém, bỏ hạnh tinh tấn, làm người vô trí biếng lười, không nhớ nghĩ nhiều về trí tuệ, trở lại hủy hoại giáo pháp, rời bỏ hội chúng, kết bè oán hại, đưa đến sự tranh chấp với nhau, còn cho rằng người khác là vô hạnh, ta mới là người thừa sự giáo pháp, không phụng trì giới cấm, không muốn nghe pháp, Cũng không tinh tấn…, kẻ ấy tất sẽ sinh trong chốn bần tiện, nơi các gia đình nghèo hèn khốn khổ. Nếu làm Sa-môn chỉ lo cầu tài lợi, kẻ ấy ở nơi nào cũng không thể an ổn, huống gì còn loạn chí, tuy nhất tâm thực hành công đức của Phật, nhưng lại tiếp tục tham đắm lợi lộc về nhà cửa, rồi tự xưng ta là Sa-môn.

Đức Phật dạy:

-Ta không gọi hạng người ấy là người thực hành pháp Bồ-tát, hạng người như thế trong trăm ngàn kiếp cũng không thể đạt được pháp nhẫn nhu thuận, huống gì muốn đạt được hạnh Chánh giác của trí tuệ Phật.

Này Lại-tra-hòa-la, Ta không những cho rằng hạng người ấy rơi vào hào sâu nơi ba đường dữ mà còn phải bị đọa vào tám nơi chốn xấu ác. Những gì là tám?

1. Sinh vùng biên địa.

2. Sinh trong nhà bần cùng.

3. Sinh ra nơi nào dung mạo, hình tướng đều xấu ác.

4. Sinh trong nhà tà ác hung dữ.

5. Đời sống thường gặp tri thức tà ác.

6. Nhiều tật bệnh.

7. Sinh ở nơi nào tuổi thọ cũng ngắn ngủi.

8. Chết bất đắc kỳ tử.

Đây là tám nơi chốn xấu ác của Bồ-tát phải bị rơi vào hào rãnh tà vạy. Vì sao?

Này Lại-tra-hòa-la, Ta không cho chỉ với lời nói suông có thể tạo nên hạnh nguyện Bồ-tát, không lấy điều xảo dối của người làm hạnh thanh tịnh, không cho lời dua nịnh là hạnh Bồ-tát, không lấy việc tham đắm về y phục, thực phẩm để cúng dường Phật, không gọi kẻ cao ngạo là bậc trí tuệ thanh tịnh, không cho rằng có trí tuệ hiểu biết là đoạn trừ được nghi hoặc cấu uế. Ta không cho rằng kẻ ganh ghét là có tâm ý thanh tịnh, kẻ nhiều tham cầu đạt được pháp Tổng trì. Ta không cho rằng người không thấy được đức chân thật, luôn có sự trở ngại sẽ sinh vào xứ thiện, kẻ tham đắm về dòng dõi, sắc dục sẽ được thân thanh tịnh. Ta không cho rằng kẻ loạn tưởng sẽ đạt được định ý như Phật, kẻ, thực hành không chí thành sẽ được tâm trong sạch, kẻ kiêu mạn sẽ được hạnh thanh cao, kẻ không biết đủ sẽ được pháp tốt đẹp. Ta không cho rằng kẻ tham tiếc về thân mạng là có chí cầu pháp.

Đức Phật nói kệ:

Kẻ vô trí buông lung tình thức

Nhiều tham cầu, bất kính, khinh khi

Tâm nhơ bẩn sinh ra dục tưởng

Là hạng người cách đạo rất xa.

Tham cúng dường tăng thêm biếng trễ

Không tinh cần, tịnh tín chẳng còn

Phá tịnh hạnh mất luôn chánh giới

Phạm pháp cấm mất hẳn đường lành.

Sinh chỗ bần cùng làm Sa-môn

Nơi nghèo thiếu cầu mong cung dưỡng

Như người nghèo vật báu đều không

Tha phương tìm kiếm cầu tài sản.

Kẻ tham sự cúng, chốn tĩnh, vắng

Nơi đó thỏa mãn với dục tình

Đắc thần thông đủ trí biện tài

Xả bỏ cửa nhà thọ sở hữu,

Không kiến đạo đi theo đường ác

Sinh vào nhà ti tiện bần cùng

Mặt mũi xấu xa không uy lực

Đọa vào kiêu mạn, lắm ngu si,

Làm người ti tiện không danh đức

Tâm ý buông lung tham tài lợi

Đời sau sinh chỗ ác vô cùng

Ức kiếp không tìm ra nẻo thiện.

Giả sử tu hành không tham lợi

Trời, người ắt hẳn sẽ thành Phật

Phong ba bảo táp không lay động

Vì để cúng dường, không vì mình,

Không có công đức mong nơi người

Ý không tinh tấn mất hạnh lành

Phá hoại giới pháp không tuân thủ

Ý không thể đạt đạo trí tuệ.

Cho đến chí thành nơi pháp Phật

Cuối cùng không mất ý đạo hành

Chí nguyện kiên trì thường thanh tịnh

Phụng trì như thế chính là đạo.

Ta vì cầu Phật không nuối tiếc

Thí cả thân mình cầu kinh pháp

Bọn người bỏ pháp không tinh tấn

Để cho pháp đạo mất ý nghĩa.

Có đèn sáng lớn mà khồng tihấy

Ta vốn mong cầu thuyết nghĩa lành

Thích nghe giáo pháp rồi phụng hành

Dứt trừ tất cả các ái dục.

Đã nghe pháp Phật biết bao nhiêu

Không thể rốt ráo một câu pháp

Người hành phi pháp sao đắc đạo

Thí như chỉ kẻ mù đường tắt.

Đức Phật bảo Lại-tra-hòa-la:

-Vào thuở xa xưa vô số kiếp về trước không thể tính biết được, bấy giờ có Đức Phật hiệu Cát Nghĩa Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, Đức Phật là Bậc Thiên Trung Thiên giáo hóa nơi thế gian. Khi ấy, có vị quốc vương tên Át Chân Vô.

Này Lại-tra-hòa-la, quốc vương Át Chân Vô ấy đứng đầu trông coi khắp cõi Diềm-phù-lợi, dài rộng sáu mươi bốn vạn dặm. Tại Diêm-phù-lợi có hai vạn thành lớn và có ức ngàn nhà. Vua Át Chân Vô ngự nơi thành lớn Bảo chiếu minh, thành ấy dài bốn trăm tám mươi dặm, rộng hai trăm tám mươi dặm, dùng bảy báu làm thành, có tám đường ra hướng Nam bắc để trông thấy đầy đủ tất cả công việc, tuổi thọ của dân chúng lúc ấy là mười ức na-do-tha năm.

Này Lại-tra-hòa-la, vua Át Chân Vô có người con tên Đức Quang, tướng mạo khôi ngô tuấn tú, oai thần xuất chúng. Khi thái tử mới sinh ra, tự nhiên cả ngàn kho tàng xuất hiện bảy báu. Trong mỗi kho tàng như vậy, tự nhiên có các thứ quốc bảo, kho bảy báu cao tám trượng.

Lúc thái tử Đức Quang sinh ra, tất cả dân chúng ở Diêm-phù-lợi đều rất vui mừng. Những kẻ bị giam cầm trong lao ngục đều được phóng thích. Thái tử Đức Quang sinh ra chỉ trong bảy ngày đã có trí tuệ thông suốt tất cả sự việc về đạo lẫn đời.

Này Lại-tra-hòa-la, khi ấy chư Thiên ở cõi trời Tịnh cư, nửa đêm đến chỗ thái tử Đức Quang thưa với thái tử:

-Thái tử chớ nên sống buông lung.

Từ đó về sau, trong suốt cả vạn năm, thái tử Đức Quang không hề ham chuyên ngủ nghĩ, cũng không chơi đùa, chưa từng ưa thích ca múa, hát xướng, cũng không đi xem, nghe. Ngài chưa từng tiếc thân mạng, cũng không nhớ nghĩ đến kỹ nhạc, ca múa, không tham cầu tài I lợi, chẳng nghĩ đến gia đình; không tham đắm vương vị, cũng không có lòng mong cầu, không yêu tiếc mọi thứ sở hữu mà thường lập nguyện nhất tâm, luôn ở chốn vắng vẻ, dùng sự tịch tĩnh để xua trừ mọi khó khăn, đạt ít dục biết đủ.

Thái tử suy nghĩ: “Trong cuộc đời này ai sinh ra cũng phải chết, thân mạng không thể bảo tồn, đời sống có gì đáng mến yêu? Ân ái hợp tan, không ai làm thầy dẫn dắt nên phạm tội trái pháp, sinh ra lo buồn sợ sệt. Vậy mà kẻ phàm phu không biết nhàm chán, lấy sức mạnh ngu si luôn ưa thích tranh chấp. Nay ta đang rơi vào nẻo không biết phải làm gì, chỉ muốn im lặng”.

Lúc đó thái tử sống một mình nơi chốn thanh vắng, tâm ý không hề buông lung, xa lìa các thứ ái dục, thực hành tầm bình đẳng.

Này Lại-tra-hòa-la, khi ấy trong một khu vực khác của vua Át Chân Vô có một thành lớn tên Nhạo thí tài. Nhà vua xây dựng cho thái tử một con đường thông Nam bắc có tám lớp với tám trăm giao lộ, dùng bảy báu tạo nên, trong bảy lớp thành ấy cũng dùng bảy báu làm trướng, dùng bạch ngọc kết làm chuỗi. Ở giữa tất cả các hàng rào có tám vạn trụ báu, mỗi trụ báu như vậy có sáu vạn dây báu liên kết nhau. Tất cả các dây báu, mỗi dây có một ngàn bốn trăm ức dây buộc lại. Mỗi khi gió thổi, lần lượt các dây đó rung động phát ra trăm ngàn âm thanh nhạc tấu hợp. Trước những hàng rào có năm trăm thể nữ, đánh trống, tấu nhạc, ca múa vang lên những âm thanh, theo các vũ điệu tuyệt vời nhất, có thể làm vui lòng tất cả mọi người, từ vua quan đến muôn dân, để trình diễn cho thái tử Đức Quang.

Nhà vua bảo các thể nữ:

-Các ngươi hãy bỏ hết các việc khác chỉ hết sức ca múa, hát xướng trong suốt ngày đêm để làm vui lòng thái tử, đừng để cho thái tử thấy bất cứ một việc gì không vừa ý.

Vua cha cho đặt, chứa bên hành lang tất cả những vật dụng bố thí. Người đói thì cho cơm, người khát thì cho uống. Ai cần xe, ngựa thì cho xe ngựa. Ai cần y phục, hoa, hương, tọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc… tùy theo điều mong cầu của họ đều được cung cấp đầy đủ. Vàng, bạc, ngọc minh nguyệt, lưu ly, thủy tinh, voi, ngựa… tất cả bảy báu, anh lạc đều đem cung cấp cho mọi người.

Chính giữa thành này, nhà vua xây cung điện bảy báu, với tám lớp san sát nhau, ở đó có một giảng đường, bên trong có bốn ức giường ghế để cung cấp cho thái tử. Trong thành có vườn hoa với vô số cây trái, cây trong vườn này thường tạo nên các tán lá bao phủ như những chiếc lọng che.

Này Lại-tra-hòa-la, chính giữa khu vườn ấy có ao tắm bảy báu, lấy vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly làm lan can, bên trong có tám trăm đầu sư tử, nước từ những đầu ấy chảy vào ao tắm, ở đây lại có tám trăm đầu sư tử, nước từ nơi đó chảy ra. Trong ao thường sinh ra bốn loại hoa: Hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen trắng, hoa sen vàng. Chung quanh ao là các hàng cây báu, những cây này đều có hoa quả. Cạnh ao còn có tám trăm cây báu tô điểm, khoảng giữa của các cây báu đều có mười hai cây báu, mỗi cây được giăng tám mươi tám loại dây báu nối liền nhau. Khi gió thổi lên, những dây ấy cùng chuyển động và phát ra trăm ngàn loại âm thanh. Phía trên mỗi ao tắm đều có màn bảy báu giăng hàng, thái tử Đức Quang thường đến tắm trong ao này.

Nơi giảng đường có bốn mươi ức giường, ghế bằng bảy báu, đều trải năm trăm tọa cụ. Ngay chính giữa giảng đường được dựng một tòa lớn bằng bảy báu, trải tám mươi ức y đẹp dùng làm tọa cụ, tòa cao năm trượng sáu thước, thái tử Đức Quang thường ngự trên tòa này. Phía dưới tất cả các giường tòa đều có lò hương, xông các hương mật ngày đêm ba lần, rải các hoa đẹp, dùng hoa sen sắc vàng báu bao phủ. Trên điện có trướng ngọc minh nguyệt rủ xuống tám vạn ngọc minh nguyệt. Ánh sáng của những viên ngọc tỏa chiếu muôn phương. Trên tất cả các cành cây đều được treo cờ phướn, lọng báu. Trong tất cả những khu vườn ở đây đều có chín vạn viên ngọc minh nguyệt, mỗi một viên ngọc như thế phát ra ánh sáng đến bốn mươi dặm, tỏa chiếu phấp cõi Phật.

Này Lại-tra-hòa-la, trong vườn cũng có nhiều giống chim như chim Oanh vũ, chim Lô tư, chim Câu kỳ, chim Khổng tước, chim Nhạn, chim Uyên ương, chim Cưu-na-la, chim Trĩ mào đỏ. Chúng cùng phát ra muôn vàn âm thanh tuyệt diệu để làm vui lòng thái tử Đức Quang. Nhà vua thường sai làm năm trăm món ăn dâng cho thái tử.

Bấy giờ có năm trăm đồng nam ở trong tất cả phòng ốc, tuổi từ mười sáu đến hai mươi, được tuyển chọn ở các nước đến thành này, đều có tài nghệ tinh xảo, không việc gì là không thực hiện được. Họ biết tất cả những công việc trong thiên hạ.

Lại có tám mươi ức đồng nữ ở trong thành này. Những cô gái ấy vô cùng đoan trang xinh đẹp, tuổi từ mười sáu đến hai mươi, rất giỏi về ca múa, có thể làm vui lòng những bậc nam tử, nói năng nhỏ nhẹ, khéo léo, hợp thời. Họ không cao thấp, không mập, không gầy, không trắng cũng không đen, trong miệng thường có mùi thơm của hoa Ưu-bát, nơi thân toát ra mùi hương Chiên-đàn, đều giống như những ngọc nữ nơi cõi trời, thường vây quanh thái tử Đức Quang trong khu vườn, đánh trống, đàn ca, nhảy múa.

Khi đó, thái tử Đức Quang thầm nghĩ: “Nay tự nhiên ta như bị đại oan gia, chúng đã khuấy rối pháp thanh bạch của ta. Ta phải thực hiện hạnh không tham tiếc”. Thái tử buồn rầu, không vui. Thí như có người đang bị quản thúc, trong lòng không vui, thái tử Đức Quang cũng như thế. Ngài thấy các thể nữ nhảy múa, hát xướng nhưng tâm ý không hề buông lung, cũng chẳng cho là hay lạ, cũng không tham đắm về thành quách, xe cộ. Hơn một ngàn năm qua, ngài chưa từng ái sắc, cũng không nghĩ tưởng đến, cũng đều dứt trừ các tưởng về thanh, hương vị, xúc mà chỉ nhất tâm chuyên chí nhớ nghĩ: “Đây là các oan gia trói buộc ta, ta phải làm thế nào thoát khỏi để được giải thoát, sống với hạnh không buông lung”.

Lúc ấy, các thể nữ đến tâu vua Át Chân Vô:

-Thái tử không hề nghe, xem ca nhạc, nhảy múa, lại thường buồn bã không vui.

Này Lại-tra-hòa-la, khi ấy vua Át Chân Vô cùng với tám vạn tiểu vương đến chỗ thái tử Đức Quang thương cảm rơi lệ, lo buồn không vui, đến nỗi ngã quỵ xuống đất. Người hầu cận liền đỡ vua đứng dậy. Nhà vua dùng kệ nói với thái tử:

Con hãy xem châu báu của ta

Con mới ra đời tự nhiên có

Ai khuấy rối con nói ta hay

Ta sẽ phạt tội thật thích đáng.

Con hãy xem đây như cõi trời

Ta tùy theo ý muốn của con

Hôm nay thái tử thiếu những gì

Ta sẽ cho con được tất cả.

Xem cảnh dục ấy đẹp mắt con

Các thể nữ đều trổi âm nhạc

Đem lại vui tươi xóa hết buồn

Tiếng trống rộn ràng thường vui vẻ,

Con sẽ thưởng thức tuyệt âm thanh

Trống đàn ca nhạc hòa tiết tấu

Hôm nay chính lúc con hân hoan

Hồ kia sen quý đua nhau nở,

Trong vườn hoa trái đẹp vô ngần

Tất cả tốt xinh không chút bợn

Xem là đệ nhất trí an nhàn

Khả dĩ cho ta bao hỷ lạc,

Vào hồ tắm gội vui thỏa thích

Sen trắng, sen vàng, sen đỏ, xanh

Các loại sen hồng chiếu rạng ngời

Sao con xem thấy chẳng hề vui.

Chim Lô tư, Oanh vũ, Câu-kỳ-hạc,

Ca-na-kỳ-ca hót líu lo

Sen trắng như tuyết hương thơm ngát

Nghe âm thanh trổi con chẳng vui?

Ngọc minh nguyệt chiếu khắp giảng đường

Lưu ly, vàng rồng làm lan can

Châu báu trân kỳ tốt đẹp nhất

Cây lá âm vang phát dặm xa.

Vì con, bên hiên bày vật thí

Hàng ngàn thể nữ tấu khúc ca

Nghe như Thiên nữ muôn nhạc trổi

Con mãi nghĩ gì vẫn chẳng vui?

Nay với xiết bao lời tốt đẹp

Nghe ta nói, con có vui lòng?

Cha mẹ đứng đây nhòa lệ đổ

Há con không xót chúng ta sao?

Bấy giờ, Thái tử Đức Quang dùng kệ đáp lời vua:

Người giữ công đức kia

Lìa các lời ác kiến

Con vì chán khổ vui

Không tham dục vô lợi.

Con thấy nơi năm đường

Mọi người bị tử sinh

Nay phải nói giải thoát

Xin phụ vương hãy nghe:

Xin đừng xúc nhiễu con

Con biết nói thế nào

Con không tham dục lạc

Làm sao vui múa ca.

Tất cả các ái dục

Con xem như oan gia

Các trần lao tham ái

Theo người đắm năm đường,

Bọn thể nữ nơi đây

Không biết nên mê thích

Đó là các việc ma

Trói buộc lớn theo người,

Bậc Thánh hiền đạo sĩ

Chẳng khi nào ngợi khen

Người luôn say ái dục

Là gốc các nguyên nhân.

Vóc hình thể nữ này

Như chiếc túi da người

Gân cốt đan nhau lại

Mong manh chẳng ích gì,

Khác nào chiếc bình đẹp

Trong đựng đầy chất nhơ

Giống như bãi tha ma

Làm sao con vui được.

Tiếng trống và tiếng nhạc

Không thọ cũng không hữu

Tất cả vua giả hợp

Rõ đây không mê hoặc,

Nếu thường luôn nhớ nghĩ

Sẽ liền mất nhất tâm

Người theo tiếng trần lao

Như người già lú lẫn.

Tất cả các cây cối

Khi gặp lửa cháy to

Cũng không thể tồn tại,

Hoặc có khi không ưa

Quả đó cũng vô thường

Cũng không mãi đắm cây.

Con đã hiểu thế này

Phải đâu đùa mạng ngắn

Cha mẹ không giữ được

Anh em và vợ con

Lâm chung không tự tại

Tất cả các sở hữu

Như sương đầu ngọn cỏ

Không nên buông thả tâm.

Tha hồ nơi phóng dật

Ý không thỏa mãn được

Cũng giống như biển cả

Ân ái rộng vô cùng,

Được rồi lại mong nữa

Mọi người vì tham dục

Ai nấy sống buông trôi

Giống như núi Tu-di.

Người dùng ý làm gốc

Thân mạng trôi qua nhanh

Ví như dòng sông chảy

Mới hợp lại vội tan,

Tan hoại, không dài lâu

Như là làn sấm chớp

Tham đắm dục ba cõi

Nên trí tuệ không thông.

Chư Thiên đến bảo con

Không được sống phóng dật

Vì theo hạnh Bồ tát

Không tham các sở hữu,

Chí nguyện thành Phật đạo

Thương tưởng các chúng sinh

Chẳng hành hạnh dâm dục

Khả dĩ đến bờ giác.

Nếu vì thọ tham dục

Tâm ý bị nô lệ

Tự hủy hoại đời mình

Công đức làm sao có.

Con đoạn trừ tham dục

Cũng không khởi sân si

Như chim sa vào lưới

Làm sao được tự tại?

Phát khởi tư tưởng ác

Trở lại tự trói thân

Ý không được tự tại

Vô lợi, lại rỗng không.

Tham làm thân lo sợ

Thí như cây hoa độc

Có gì cho người ưa

Như vượt dòng nước xiết.

Quán sát các chúng sinh

Trôi lãn trong ác đạo

Vì tranh cãi vu vơ

Khởi lên các tà kiến

Phụ vương hiểu ý con

Muốn độ thoát bọn này

Không tích tụ kiêu mạn

Chữa trị lành bệnh tật,

Dứt trừ bao ưu hoạn

Khiến lập nẻo vui mừng

Muốn thoát tam thiên giới

Âm hưởng chớ đắm say.

Vì khéo thuyết kinh nghĩa

No lòng kẻ bần cùng

Dần các kẻ bất toàn

Ra khỏi đường ác đạo,

Giúp người mù sáng mắt

Khiến kẻ điếc được nghe

Thắp sáng đèn giải thoát

Lập trí tuệ thần thông

Cho người nơi ba cõi

Được tam nhẫn bình đẳng

Rưới những cơn mưa

Từ Qua khỏi cõi mây mù,

Vì tất cả chúng sinh

Hiện hào quang chiếu rạng

Liền được ý giác lành

Khiến thoát vòng tăm tối,

Mưa tuôn các y dược

Đem lại khắp bình an

Phụ vương, con nghĩ thế

Liền đạt được nhất tâm.

Đối với tất cả dục

Con không có mong cầu

Chỉ muốn cầu Phật đạo

Vì thương tưởng chúng sinh

Đắm chìm trong tham dục

Ai là người có chí

Lại đam mê dục này

Tại sao phạm điều cấm

Khiến tâm người mê loạn?

Nếu do tham ái sắc

Sẽ đọa đại ác đạo

Ai người hành Phật đạo

Mà lại thả buông lưng

Là người theo dòng chảy

Con sẽ sống ngược dòng

Không thể bằng lời nói

Mà đạt đến Phật đạo.

Con sẽ phóng Từ quang

Chiếu soi khắp mọi người

Con không tham ái dục

Không tham đắm của tiền.

Nay con xin phụ vương

Không về lại với chúng

Con muốn rời hội chúng

Và tất cả phố phường.

Người cầu nhiều như ý

Từ đó tật bệnh sinh

Ngăn ý không phóng dật

Hơn muôn ức phố phường

Không ở nơi ái dục .

Mà đạt đến Phật đạo.

Nếu muốn được Vô thượng

Khoái lạc và bình an N

ên vào trong núi lớn

Ngồi ở dưới gốc cây

Nơi tất cả các dục

Tập sống trong vắng lặng

Sẽ đắc đạo Vô thượng.

Này Lại-tra-hòa-la, bấy giờ thái tử Đức Quang ở trên giảng đường cùng những người có tâm buông lung, khi họ đã nhàm chán sự ô trược, thái tử thể hiện ba phẩm hạnh. Những gì là ba?

1. Đứng thẳng.

2. Kinh hành.

3. Ngồi thiền.

Thái tử không hề ngủ nghỉ và thực hành tinh tấn các hạnh trên nên đạt đến Bát trụ. Nửa đêm hôm ấy, thái tử nghe trên không trung có tiếng của chư Thiên nơi cõi trời Tịnh cư tán thán công đức của Đức Phật đầy đủ, rộng khắp, ca ngợi Pháp và Tăng. Thái tử Đức Quang nghe xong toàn thân rúng động, rơi lệ, sầu ưu không vui, chắp tay dùng kệ hỏi chư Thiên:

Con ở trong ách nạn

Xin chư Thiên xót thương

Nay con vừa nghe nói

Có điều con muốn hỏi:

Ngang qua trong không trung

Vì ai khen công đức

Con nghe âm thanh này

Tâm con đầy hân hoan.

Đức Phật dạy Lại-tra-hòa-la:

-Khi ấy chư Thiên nói kệ cho thái tử Đức Quang:

Nay thế gian có Phật

Thái tử không nghe sao?

Phật hiệu là Cát Nghĩa

Cứu giúp hộ quần sinh,

Phụng hành các pháp thiện

Khai hóa công đức cao

Chúng Tăng đến học hỏi

Có cả ngàn ức triệu.

Thái tử Đức Quang dùng kệ hỏi chư Thiên:

Nếu con thấy Thế Tôn

Làm sao biết là Phật

Xin thuyết công đức Từ

Muốn biết nơi Chánh giác.

Giả sử đến gặp Phật

Sẽ hỏi đạo thế nào?

Bồ-tát hành pháp gì

Cứu hộ được tất cả?

Chư Thiên đáp thái tử Đức Quang:

Trên đỉnh tóc mềm mại

Xoắn phải và tươi sáng

Trên đảnh tướng oai thần

Đẹp như đĩnh núi cao.

Tướng giữa mày chói sáng

Rực rỡ như mặt trời

Mịn màng xoắn bên phải

Sắc như tuyết trắng đẹp.

Ý giác là thanh tịnh

Mắc thì màu xanh biếc

Là vua trong cõi người

Dung nghi đoan chánh đẹp.

Diện mục thường an vui

Phóng muôn ngàn ánh sáng

Chiếu khắp cõi tam thiên

Diệt trừ các nẻo ác.

Răng ở trong miệng Phật

Trong trắng và bằng phẳng

Tươi sạch như hoa sen

Ngọc đẹp như cây sáng.

Mỗi hàm hai mươi cái

Đều khít thành bốn mươi

Tướng miệng, lưỡi mềm mại

Có thể che khắp mặt

Miệng thường thuyết diệu âm

Khiến người nghe hoan hỷ

Không nói lời dua nịnh

Phạm âm rất thanh tịnh.

Những điều Phật giảng thuyết

Vượt trăm ngàn âm nhạc

Dứt trừ các hồ nghi

Người nghe được lợi lạc.

Các đức đều khống thiếu

Khéo léo quyết đạo nghĩa

Giải thông hoa pháp sáng

Như trăm ngàn anh lạc.

Âm thanh của cõi ấy

Phát ra như Thiên nhạc

Thí như âm hưởng trời

Lời Phật cũng như thế.

Chân-đà-la, chim Trĩ

Câu-kỳ và Uyên ương

Lô-tưvà chim Nhạn

Cưu-na-la hỏi rằng:

Tiếng nào như Phạm âm

Êm dịu rất an vui

Không khúc mắc cộc cằn

Thấu rõ tất cả nghĩa,

Trong trẻo và sâu lắng

Vừa lòng các bậc thí

Lìa phỉ báng, thanh tịnh

Không có các tưởng nguyện,

Ban bố nghĩa hạnh đức

Không nghe làm điều xấu

Chánh giác hành pháp kia

Nói công đức như thế,

Thân thể Đức Thế Tôn

Đủ các loại tướng hảo

Cánh tay dài quá gối

Bảy chỗ đều tròn đầy.

Ngón tay thon dài đẹp

Có bao tướng tuyệt diệu

Thân thể sắc vàng tía

Tâm như ngọc minh nguyệt.

Lông trên thân mịn đẹp

Xoắn phải và hướng trên

Tròn bằng như cuộn lên

Mã âm tàng không lộ.

Lòng bàn chân bằng phẳng

Có tướng bánh xe tròn

Gối Phật đẹp và thẳng

Các màu sắc như nhau.

Kinh hành như rồng chúa

Bước đi như Sư tử

Khi đi lặng cúi đầu

Nếu người tung hoa cúng

Biến thành những lọng hoa

Cứ mãi không tăng giảm.

Đó là chánh pháp Phật

Dù được lợi hay không

Vẫn tinh tấn an lạc

Ngợi khen hay phỉ báng

Cũng giống như hoa sen

Sư tử chính như thế

Không ai sánh bằng Ngài.

Này Lại-tra-hòa-la, lúc ấy thái tử Đức Quang nghe kệ ca ngợi công đức của Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng thì vô cùng hoan hỷ. Thí như người nghèo nàn đói lạnh được kho tàng châu báu nên người ấy rất vui mừng, thí như người mù gặp được ánh sáng, hoặc như kẻ tù tội giam cầm được phóng thích, người ấy vui sướng vô hạn, thái tử Đức Quang nghe kệ ca ngợi công đức của Đức Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng cũng hoan hỷ như thế.

Thái tử Đức Quang bèn suy nghĩ: “Ta nay nghe kinh pháp chứng minh oai thần Đức Phật, chúng Tăng đầy đủ các hạnh tôn quý. Các ngài ở trong sinh tử đã đi ngược lại nẻo tà vạy, kẻ phàm phu phần nhiều không biết suy xét, họ tham thân, tự thấy điều sai cho là đúng, sống nơi gia đình làm nhiều điều nhơ xấu. Người đắm say trong tham dục phải rơi vào đường đau khổ. Người sống buông lung, bậc trí lìa xa, nên bị ngu si che khuất. Ta phải ở những nơi ấy làm ngọn đèn sáng bình đẳng. Lòng người khó điều phục, đắm mẽ danh sắc, không nhàm chạy theo căn trần, không đoạn trừ những tập khí phải gặp nhiều đau khổ. Thọ nhận bất an, ân ái là cội nguồn phải bị xiềng xích trói buộc, khó thoát ra được. Chúng cùng với các nghiệp khổ hợp lại thành một chuỗi oan gia, đường sinh tử triền miên làm rối rắm bao người, lại thêm tật bệnh vây quanh, thân người chẳng chút bền chắc. Đến lúc sắp chết gần kề thì khổ nhiều vui ít, chỉ có pháp Phật là an ổn đệ nhất. Không thể dùng hạnh trần lao, tâm buông lung, tham dục mà lập được hạnh công đức. Ta nay ở trong ngu si, không thể nhất tâm định ý, không thể dùng ý sinh tử làm vui, cùng người ác hội họp để sống đúng theo con đường thiện, huống gì là muốn đạt đạo Vô thượng Chánh chân! Ta thà từ trên lầu cao ở hướng Đông gieo mình xuông đất, chứ không để cho các gia đình quyến thuộc nơi ta ở trong cửa làm việc chướng ngại, khiến ta không ra khỏi được”.

Đức Phật dạy:

-Này Lại-tra-hòa-la, khi ấy thái tử Đức Quang hướng đến Cát Nghĩa Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác kia, tự nói: “Giả sử Đức Thế Tôn có Nhất thiết trí tất có thể thấy khắp tất cả, ngay lúc này xin Đấng Thiên Trung Thiên cứu độ con”. Tức thì Đức Cát Nghĩa Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác liền đưa cánh tay phải phóng hào quang chiếu đến chỗ thái tử Đức Quang. Trong ánh sáng ấy tự nhiên có hoa sen ngàn cánh to như bánh xe, từ hoa sen đó phát ra ức trăm ngàn ánh sáng chiếu soi khắp chốn. Thái tử Đức Quang liền đứng trên hoa sen này, muốn đến chỗ Đức Cát Nghĩa Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, từ xa thái tử chắp tay đảnh lễ, tự quy y ba lần. Đức Cát Nghĩa Như Lai thu nhiếp ánh sáng trở lại, thái tử tìm theo ánh sáng để đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ nơi chân Ngài. Thái tử trông thấy Thế Tôn các căn tịch định, liền dùng kệ ca ngợi Đức Cát Nghĩa Như Lai:

Con vừa nghe tiếng Đức Y vương

Nay liền được thấy dung nhan Phật

Vì sao lập hạnh nơi nhơ uế

Có thể đạt đến nhất thiết pháp?

Vào lúc nửa đêm đêm vừa rồi

Từ chư Thiên nghe Phật vô tưởng

Nghe xong buồn bã chẳng còn vui

Người ở nơi nào không phóng dật

Người vừa lạc đường chỉ đường chân

Như người mù mắt nhìn thấy hết.

Xin nguyện vì con hiện đạo cả

Lòng Từ chữa trị sinh tịnh tín

Khiến chúng bần cùng được giàu vui

Giam cầm tù ngục liền thoát khỏi,

Đoạn nghi, trừ kết sử nơi con

Cúi xin giải nói đạo hạnh này

Vì con hiển chánh lìa ngoại đạo

Trong tối tăm làm ngọn đèn sáng.

Vì các tổn hại trừ cấu uế

Nguyện đại y vương đoạn nghi con

Xin cứu thoát con, đường sinh tử

Đoạn tuyệt cho con các dục ái,

Khiến vượt qua khỏi biển sầu lo

Và dùng bát đạo nhập Đại thừa

Nay pháp hết, mạng người ngắn ngũi

Phần nhiều bỏ bê hạnh công đức.

Người vô phước thường không như ý

Nay con xin khai nguyện giải nghi

Nghe Đạo Sư chỉ bày pháp yếu

Tại sao Bồ-tát nơi phóng dật

Có thể phụng trì Phật diệu đạo

Độ thoát sinh tử khổ muôn loài?

Đức Phật bảo Lại-tra-hòa-la:

-Bấy giờ, Đức Cát Nghĩa Như Lai biết tâm niệm của thái tử Đức Quang, mới giải thích rộng các hạnh Bồ-tát. Thái tử Đức Quang nghe lời Đức Phật dạy, liền chứng đắc pháp môn Vô tận tổng trì, đạt năm thần thông, liền bay vụt lên hư không, hóa ra những đóa hoa đẹp để tung lên chỗ Đức Cát Nghĩa Như Lai.

Lúc ấy, trời vừa sáng, vua Át Chân Vô đã nghe trong cung của thái tử tiếng khóc của các thể nữ vang ra, vội vàng đi đến hỏi lý do. Các thể nữ tâu vua:

-Chúng thần không thấy thái tử Đức Quang, không biết là thái tử đang ở đâu.

Vua Át Chân Vô nghe tâu như thế liền ngã quỵ xuống đất, cùng muôn ngàn người đều khóc lóc thảm thiết. Lúc ấy, vị thần giữ thành đi đến nội cung, bảo vua Át Chân Vô:

-Đại vương chớ nên ưu sầu, thái tử đã đi về hướng Đông để gặp Đức Cát Nghĩa Như Lai, quỳ gối đảnh lễ vâng thọ lời dạy của Ngài.

Vua Át Chân Vô nghe tiếng vị thần nói, bèn cùng các đại thần, đám quyến thuộc và thể nữ trong hậu cung, cùng với tám mươi bốn ức na-do-tha-trăm ngàn người, đi ra hướng Đông, đến chỗ Đức Như Lai Cát Nghĩa đảnh lễ nơi chân Ngài rồi đứng qua một bên.

Này Lại-tra-hòa-la, Đức Như Lai Cát Nghĩa biết tâm ý của quốc vương Át Chân Vô, tùy theo đó mà thuyết pháp, làm cho tất cả hội chúng đều được pháp Bất thoái chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh chân.

Thái tử Đức Quang bạch Đức Phật Cát Nghĩa:

-Cúi xin Ngài nhận bữa cơm thanh tịnh của con dâng cúng.

Đức Phật yên lặng nhận lời.

Thái tử Đức Quang thưa với cha mẹ và các thân bằng quyến thuộc:

-Xin quý vị hỗ trợ cho con, dùng anh lạc trang trí nơi các thành quách, cung điện để dâng cúng Đức Như Lai, không nên có tâm tham tiếc, bỏn sẻn.

Ngay khi ấy mọi người đều đồng lòng khuyên trợ để Thái tử bố thí rộng rãi.

Lúc ấy vua, thái tử Đức Quang và quyến thuộc đem anh lạc trang trí nơi cung điện, thành quách, tâm không còn tham tiếc, rồi cùng nhau dâng cúng Đức Như Lai Cát Nghĩa. Mỗi ngày họ làm năm trăm món ăn để cúng dường Đức Phật và chúng Tỹ-kheo Tăng, lại dùng gỗ thơm Chiên-đàn đỏ và bảy báu làm phòng thất cho các thầy Tỳ-kheo ở, dùng Ma-ni làm chỗ kinh hành ở phía trên dùng châu báu làm màn trướng giăng bày khắp. Các nơi đều có cây hoa thẳng hàng, mỗi bên có ao tắm, trong ao có hoa Ưu-bát, dọc hai bên bờ đều sạch sẽ thanh tịnh. Hoa ưu-bát ấy có trăm ngàn cánh được bày trăm ngàn tòa, mỗi thầy Tỳ-kheo đều có tòa ngồi đầy đủ.

Thái tử Đức Quang khiến cho các thầy Tỳ-kheo không còn lo về y phục, cũng không còn nghĩ đến các thầy Tỳ-kheo khác riêng được y phục.

Như thế, trong hàng ức năm thái tử chưa từng ham việc ngủ nghỉ, không nhớ tới ái dục, không tiếc đến thân mạng của mình. Thái tử đã cúng dường Đức Phật cũng với tinh thần vô niệm như thế.

Khi ấy, thái tử Đức Quang chưa từng có sự nghĩ tưởng về dục vọng cũng như những sự tranh chấp tà vạy, không có tâm tổn hại, không tham đắm về đất nước, ngôi vị, không yêu tiếc bất cứ việc gì, nội thân và ngoại thân đều không vướng mắc. Bấy giờ, thái tử lắng nghe Đức Phật thuyết pháp, thọ trì tất cả lời Phật dạy, không phải hỏi lại Đức Như Lai. Ban đầu thái tử không tắm gội, cũng không rửa chân, cũng chẳng dùng hương thơm xoa thân, không có ý mỏi mệt và chưa từng ngồi xuống, ngoại trừ những lúc thọ thực.

Sau khi Đức Như Lai Cát Nghĩa nhập Niết-bàn, thái tử dùng gỗ Chiên-đàn đỏ để xây dựng chùa tháp, cúng dường trong trăm ngàn năm. Ở nơi hỏa táng Đức Như Lai, thái tử đem tất cả những loại hoa và hương như hương bột, hương tạp trong thiên hạ cùng các thứ kỹ nhạc để cúng dường Phật. Lại xây chín mươi bốn ức cái tháp, đều dùng bảy báu và các vật quý giá để làm cờ phướng, lọng báu che trên tháp. Lại dùng năm trăm ức lọng báu bằng bảy báu, trăm ngàn thứ kỹ nhạc cùng tất cả những hoa, cây quý nhất nơi cõi Diêm-phù-lợi để cúng dường nơi các tháp. Ở trước mỗi tháp, luôn đốt trăm ngàn ngọn đèn, mỗi một ngọn đèn đốt đều dùng loại dầu quý, lại rưới tất cả các loại hoa thơm, đầy đủ tất cả các vật quý như thế để cúng dường trong một ức năm.

Sau đó, thái tử Đức Quang từ bỏ gia đình đi học đạo làm Sa-môn, mặc ba pháp y, thường đi khất thực, không dự vào thế sự, cũng không ngủ nghỉ, không còn lệ thuộc về ăn mặc. Trong suốt bôn ức năm thường ban bố giáo pháp, chưa từng chấp có ngã, cũng không nghi ngờ về người khác, huống gì là mong sự cúng dường, cũng không nói đến sinh tử. Thái tử thuyết pháp cho mọi người nhưng không khuyên họ tu tập để sinh lên cõi trời. Ngài học theo hạnh như thế rồi, truyền trao giáo pháp cho tất cả và quyến thuộc ở trong cung, khiến họ trở thành Sa-môn.

Này Lại-tra-hòa-la, bấy giờ chư Thiên cõi trời Tịnh cư suy nghĩ: “Thái tử Đức Quang đã giáo hóa tất cả mọi người trở thành Sa-môn, nay chúng ta phải thực hiện việc cúng dường Tam bảo, nhờ đấy Tam bảo được tồn tại, không bị đoạn tuyệt”

Sau khi Đức Như Lai Cát Nghĩa nhập Niết-bàn rồi, giáo pháp của Ngài trụ ở đời cho đến sáu mươi bốn ức năm, tất cả đều do Tỳ- kheo Đức Quang ủng hộ. Như thế thái tử Đức Quang đã cúng dường chín mươi bốn ức ức trăm ngàn Đức Phật.

Này Lại-tra-hòa-la, ông có biết quốc vương Át Chân Vô lúc bấy giờ là ai không?

-Bạch Đức Thế Tôn, không biết.

-Chính là Như Lai Vô Lượng Thọ. Ông có biết thái tử Đức Quang lúc ấy là ai không?

-Bạch Đức Thế Tôn, không biết.

-Chính là Ta. Vị thần trong thành lúc ấy nay là Như Lai Vô Nộ Giác.

Này Lại-tra-hòa-la, thế nên Đại sĩ Bồ-tát muốn được đạo Vô thượng Chánh chân Tối chánh giác, cần phải học hạnh của thái tử Đức Quang chỉ dạy về sự tịch tĩnh, xả bỏ ân ái, không sống buông lung. Khi ta cầu đạo Vô thượng Chánh chân, đã tinh tấn theo khổ hạnh mới được như thế. Hạng người vô hạnh chi biết tham đắm y phục, thực phẩm, sầu lo không dứt, thọ dụng sự cúng dường, tự xa pháp Phật, sở học vô ích, làm rối loạn Sa-môn, phá hoại pháp Bồ-tát, buông lung thân, khẩu, ý, dối tạo thệ nguyện, bỏ đi bản hạnh của mình, tham y phục, giường chõng, nệm ngồi và thuốc thang trị bệnh, không có tâm xấu hổ, không thích chánh hạnh và pháp vô thường, không phụng trì giáo pháp, xa lìa hạnh Phật. Đối với đạo, tự ý buông bỏ, không ưa hạnh giải thoát.

Này Lại-tra-hòa-la, thế nên đã nghe được giáo pháp này cần phải học cho rốt ráo, xa lìa ác tri thức, không sống theo người vô hạnh, dứt bỏ các tham dục.

Đức Phật thuyết kệ:

Người học đạo, tham ăn, tham lợi

Tức là chẳng ưa hạnh thập lực

Bỏ đi trăm đức lời Phật dạy

Vì lợi cúng dường đọa nhà người

Cang cường tệ ác, không hổ thẹn

Buông lung sa đọa các chỗ tham

Nên phiền não đọa hạnh tà

Liền tự cho rằng ta đức hạnh

Thong thả nhàn cư dạo khắp thành

Lợi cúng dường nên làm quấy,

Xa lìa giải thoát, chốn Không môn

Thế nên hãy lìa bỏ các nghiệp

Ví không kính Phật và chánh pháp

Viễn ly Tăng chúng nhiều công đức

Đánh mất đường lành, đọa ba ác

Làm mất tám trăm các hạnh cao.

Nếu nghe người thuyết về kinh pháp

Tinh tấn lắng lòng với định tâm

Vôsố kiếp ức Phật khó gặp

Phải nên tu tập đúng pháp hành.

Người nào nới được Đại thừa Phật

Nhớ nghĩ gẫm suy nghĩ công đức

Nhớ rồi ghỉ khắc trụ nhất tâm

Đạt đạo an lành đạt vô ngại

Lập hạnh Thánh hiền tu quán đức

Ý nghĩa nhàm chán tự chế tâm.

Các ngươi không được bỏ pháp thiện

Sẽ đọa năm đường như người si

Sống tịch tĩnh và thường tinh tấn

Chớ tự khinh, chớ xem thường người

Biết trách mình, tâm thường an tịnh

Ta làm theo ức người Phật dạy

Ý chất phác, thân mình không tiếc

Pháp hạnh này tốn kính tinh cần

Những điều này Ta thường thuyết dạy.

Đạo mầu dễ gặp nếu hành thâm

Người nghe pháp ấy ưa Đại thừa

Không thể tinh tấn, không ưa nghe

Người mà có trí thích lời này

Oán kết ác tà sau dứt sạch.

Này Lại-tra-hòa-la, nếu có vị Bồ-tát thực hành năm Độ vô cực, thì không bằng học tập trì tụng theo lời dạy của kinh này, công đức của vị Bồ-tát đó không bằng một phần trăm người học tập kinh này.

Khi Đức Phật thuyết kinh giảng này có ba mươi ức trời, người phát ý đạo Vô Tthượng Chánh chân, đều lập được quả vị Bất thoái chuyển. Có bảy ngàn thầy Tỳ-kheo được lậu tận ý giải, đắc vô sinh nhẫn.

Hiền giả Lại-tra-hòa-la bạch Đức Phật:

-Kinh này đặt tên là gì? Thực hành như thế nào?

Đức Phật bảo Lại-tra-hòa-la:

-Kinh này đặt tên là “Ly Si Nguyện Hạnh Thanh Tịnh”. Hãy học tập và trì tụng đúng như Bồ-tát đã hành, chắc chắn là đầy đủ các nghĩa về Bồ-tát hạnh.

Đức Phật dạy như thế, Lại-tra-hòa-la, chư Thiên, dân chúng, Rồng, Quỷ, Thần… trong thế gian rất hoan hỷ, đến trước Đức Phật đảnh lễ và lui ra.

PHẬT NÓI KINH THÁI TỬ ĐỨC QUANG



  • Leave a Comment