Home / THƯỜNG TRỤ TAM BẢO / Thích Ca Mâu Ni Phật / Đại Đệ Tử của Đức Phật / 10 Đại Đệ Tử của Đức Phật Thích Ca

10 Đại Đệ Tử của Đức Phật Thích Ca

10 ĐẠI ĐỆ TỬ CỦA ĐỨC PHẬT

1. Sariputta (Xá-Lợi-Phất), trí huệ đệ nhất.

Ông Sariputta, nhỏ hơn đức Phật vài tuổi, sanh tại làng Upatissa (Nalaka), quận Nalanda, cha tên Vanganta[1], mẹ tên Rupa-Sari. Lúc có thai ông, bà Sari bỗng trở nên thông minh tuyệt vời, luận đạo và giảng kinh Veda rất hay, hơn cả chồng là ông Vanganta và anh là ông Dighanakha. Ông Sariputta có cả thảy 3 người em gái là Cala, Upacala và Sisupacala, và 3 người em trai là Canda, Upasena và Revata. Cả 3 người em trai về sau đều xuất gia và đắc quả A-la-hán[2].
Theo phẩm Xá-Lợi Mục-Liên Nhân Duyên trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh 48, từ thuở nhỏ ông Sariputta đã có thân tướng khôi ngô, khi lớn lên học tập các kỹ nghệ, thông hiểu bốn kinh Veda. Năm 16 tuổi, ông đã luận nghị hàng phục được người khác, các anh em trong dòng họ thảy đều quy phục. Ông trở thành người nổi tiếng trong làng nên có biệt danh là Upatissa. Ông kết bạn thân với ông Moggallana ở làng Kolita bên cạnh. Một hôm, cả hai rủ nhau đến dự lễ cúng tế long trọng ở thành Rajagriha, thấy mọi người vui chơi hỗn tạp, chợt nghĩ đến cuộc đời vô thường, hai người bạn rủ nhau đi tìm thầy học đạo. Sau khi dọ hỏi các vị đạo sư đương thời, Sariputta và Moggallana đến thọ giáo với đạo sư Sanjaya, một trong sáu ngoại đạo. Chỉ trong bảy ngày, hai ông đã thông suốt được giáo chỉ của thầy, và được giao cho chức giáo thọ, có thể thay thầy để chỉ dạy cho các bạn đồng môn. Nhưng Sariputta và Moggallana chưa hài lòng, hai ông chia tay nhau đi tìm chân sư, Sariputta đi về miền nam, Moggallana đi về phương bắc, hẹn khi gặp được chân sư sẽ thông báo cho nhau để cùng đến học.
Chẳng bao lâu, ông Sariputta đang đi trong thành Rajagriha bỗng gặp đại đức Assaji đang đi khất thực. Thấy đại đức Assaji có vẻ mặt thanh thoát, tướng đi oai nghi tề chỉnh, ông đến hỏi:
– Kính bạch tôn giả, ngũ quan của ngài thật là trong sáng và thanh tịnh. Xin ngài hoan hỷ cho con biết vì sao ngài thoát ly thế tục? Ai là vị tôn sư của ngài? Ngài truyền bá giáo pháp của ai?
– Này đạo hữu, đại-đức Assaji đáp, bần tăng chỉ là một tu sĩ sơ cơ, chưa đủ khả năng giảng giải giáo pháp đầy đủ và rành rẽ cho đạo hữu.
– Kính bạch tôn giả, con là Sariputta ở làng Upatissa, kính xin tôn giả tùy hỷ chỉ giáo ít nhiều, con sẽ cố gắng tự tìm hiểu được phần nào hay phần nấy. Xin ngài dạy cho con vài điểm thiết yếu, tóm lược cho con một vài ý quan trọng trong giáo pháp mà ngài đã học được.
– Ðức bổn sư Gotama chỉ dạy rất nhiều, nhưng bần tăng chỉ thuộc được bốn câu kệ sau đây. Vậy bần tăng xin đọc cho đạo hữu nghe:
Ye dhamma hetuppabhava –
tesam hetum tathagato.
Aha tesan ca yo nirodho –
evam vadi maha samano.
Có nghĩa là:
Các pháp đều do nhân duyên sanh.
Như-Lai đã giảng giải rõ ràng các nhân duyên đó
Và chỉ cách chấm dứt các pháp.
Vị Ðại Sa-Môn dạy như thế.[3] Bốn câu kệ đó vừa tóm tắt lý nhân duyên về sự sanh diệt của các pháp (vạn vật vô thường) vừa chỉ cách tu tập giải thoát (chấm dứt các pháp). Ông Sariputta vốn rất thông minh, vừa nghe xong hai câu đầu liền bừng ngộ và đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna). Từ đó về sau, để tỏ lòng biết ơn đối với đại-đức Assaji, mỗi khi nghe đại-đức Assaji ở nơi nào thì ông Sariputta quay về hướng ấy chấp tay đảnh lễ, và lúc ngủ luôn luôn quay đầu về hướng ấy.
Ðúng theo lời cam kết, Sariputta đi tìm Moggallana báo tin và đọc lại bốn câu kệ. Nghe xong, ông Moggallana cũng đắc quả Tu-đà-hoàn. Hai ông liền đến thầy cũ là đạo-sư Sanjaya-Belatthiputta báo tin và mời thầy cùng đến thọ giáo với Phật. Ðạo-sư Sanjaya từ chối, nhưng có 155 đệ-tử của ông cùng theo hai ông Sariputta và Moggallana đến Rừng Kè xin thọ giáo với Phật. Một tuần lễ sau đại-đức Moggallana đắc quả A-la-hán. Ðến tuần thứ hai, khi nghe đức Phật thuyết kinh Vedana Pariggaha cho đạo-sĩ Dighanakha, đại-đức Sariputta đắc quả A-la-hán. Chiều ngày hôm ấy, đức Phật triệu tập tất cả các đệ-tử đến quanh ngài để tấn phong đại-đức Sariputta làm đệ nhứt đệ-tử, trí-huệ bậc nhứt.
Theo kinh Thập Nhị Du, sau khi xuất gia, Sariputta thường theo bên Phật, giúp ngài trong việc giáo hóa, tổ chức và điều hành Giáo Hội. Ông thường được Phật khen ngợi và tin dùng. Ông là người chủ chốt trong việc hướng dẫn cư sĩ Sudatta kiến lập tinh xá Jetavana từ đầu đến cuối. Khi Devadatta lập Giáo Hội riêng ở Gayasisa, chính Sariputta và Moggallana đã đến tận nơi thuyết pháp và khuyên nhủ các vị khất sĩ nên trở về với Phật. Cũng chính đại đức Sariputta là người chuyên giảng rộng lại phần giáo pháp cao siêu (abhidhamma) của đức Phật đã nói, để các vị khất sĩ được dễ hiểu.
Năm -545, Thượng tọa Sariputta về làng Upatissa thăm mẹ bệnh nặng và đã săn sóc bà cho đến khi bà lâm chung. Sau lễ trà tỳ của bà Sari, sẵn có mặt đầy đủ bà con và dân cư quen biết trong làng, Thượng tọa thuyết pháp cho họ nghe. Mọi người đều chăm chú lắng nghe vì Thượng tọa nói hay lắm. Thượng tọa giảng về cuộc đời là vô thường và dẫy đầy những thống khổ về thân cũng như về tâm, Chánh pháp là con đường duy nhất có thể đưa con người ra khỏi biển khổ sanh tử để đến niết-bàn an lạc thanh tịnh. Sau thời pháp, Thượng tọa làm lễ quy y Tam Bảo cho gần mười người. Rồi đêm đó Thượng tọa ngồi nhập định trong tư thế kiết già. Ðến sáng sớm hôm sau, chú thị giả Cunda mới biết là Thượng tọa Sariputta đã nhập diệt có lẽ vào lúc nửa đêm. Trước đó Thượng tọa có nói là muốn nhập diệt trước Phật, và dặn Cunda nên đem y bát và xá lợi của Thượng tọa đến trình Phật và xin Phật cho chú đi theo kề cận ngài. Y bát và xá lợi của Thượng tọa Sariputta được vua xứ Kosala thỉnh về Sravasti và xây tháp thờ tại Jetavana. Ngoài ra, dân làng Upatissa và Phật tử còn xây một tháp khổng lồ bằng gạch thờ ngài tại viện Ðại học Nalanda.
Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho ngài Sariputta sẽ thành Phật hiệu là Hoa-Quang Như-Lai (Padmaprabha), ở thế giới tên Ly-Cấu (Viradja), vào kiếp Ðại Bửu Trang Nghiêm (Maha-ratana-vyuha kalpa).
Tác phẩm của ngài để lại: A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận (20 quyển); Luận Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm (30 quyển).

2. Moggallana (Mục-Kiền-Liên), thần thông đệ nhất.

Ông Moggallana, sanh cùng một ngày với ông Sariputta, người làng Kolita, gần Nalanda, cha tên Moggalla, mẹ tên Moggali (Thanh Ðề), thuộc dòng Bà-la-môn, phong lưu, sang trọng. Ông là người thông minh trí tuệ, học rộng và có đức hạnh. Ông kết bạn thân với ông Sariputta ở làng Upatissa, kế bên làng ông. Một hôm, cả hai rủ nhau đến dự lễ cúng tế long trọng ở thành Rajagriha, thấy mọi người vui chơi hỗn tạp, chợt nghĩ đến cuộc đời vô thường, hai người bạn rủ nhau đi tìm thầy học đạo. Nhưng cha mẹ ông không thuận cho ông xuất gia. Ông tuyệt thực luôn mấy ngày liền. Cha mẹ ông đành chìu theo ý ông. Hai ông Moggallana và Sariputta liền rủ nhau đến nghe sáu vị đạo sư ngoại đạo thuyết pháp, cuối cùng hai ông đến xin thọ giáo với đạo sư Sanjaya. Chỉ trong bảy ngày, hai ông đã thông suốt được giáo chỉ của thầy, và được giao cho chức giáo thọ, có thể thay thầy để chỉ dạy cho các bạn đồng môn. Nhưng Sariputta và Moggallana chưa hài lòng, hai ông chia tay nhau đi tìm chân sư, Sariputta đi về miền nam, Moggallana đi về phương bắc, hẹn khi gặp được chân sư sẽ thông báo cho nhau để cùng đến học. Chẳng bao lâu, ông Sariputta gặp được đại đức Assaji tại thành Rajagriha (Vương Xá), và được đại đức Assaji đọc cho nghe bốn câu kệ của Phật về lý vô thường và đạo giải thoát. Sau khi nghe xong, ông Sariputta liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Khi ông Sariputta tìm gặp ông Moggallana và đọc lại bốn câu kệ trên thì ông Moggallana cũng đắc quả Tu-đà-hoàn. Hai người liền dắt nhau đến gặp đạo sư Sanjaya báo tin và mời đạo sư cùng đến thọ giáo với Phật, nhưng đạo sư Sanjaya từ chối. Trong lúc đó 155 đệ tử của đạo sư Sanjaya xin tháp tùng với hai ông Sariputta và Moggallana đến xin xuất gia với Phật tại Rừng Kè, cách Rajagriha 2 km về phía nam. Chỉ một tuần lễ sau ngày xuất gia, đại đức Moggallana đắc quả A-la-hán.
Ðại đức Moggallana rất siêng năng tu tập thiền định nơi thanh vắng, nên chẳng bao lâu trở thành vị đệ tử thần thông bậc nhất của Phật.
Năm -566, sau khi chứng được ngũ thông, thầy dùng thiên nhãn tìm xem cha mẹ mình hiện giờ ở đâu. Thầy thấy cha hiện đang sanh vào một gia đình Bà-la-môn giàu có, còn mẹ thì phải đọa làm ngạ quỷ, chịu khổ sở đói khát. Thầy dùng thần túc thông mang cơm đến cho bà ăn, nhưng mỗi lần cơm đưa tới miệng thì biến thành lửa, không thể nào ăn được. Thầy liền cầu Phật chỉ dạy cách cứu mẹ khỏi khổ nạn ngạ quỷ. Phật dạy cách thiết lễ trai tăng long trọng vào ngày tự tứ mãn hạ, gọi là lễ Vu Lan Báo Hiếu. Thượng tọa Moggallana nghe lời Phật dạy, thiết lễ Vu Lan cúng dường. Nhờ lòng hiếu thuận tha thiết của Thượng tọa, và thần lực hộ niệm của chư tăng thanh tịnh và chư Phật mười phương, bà Moggali (Thanh-Ðề), mẹ của Thượng tọa Moggallana, liền cảm ứng được tâm lành, dứt hết tánh tham lam bỏn sẻn, được thoát cảnh ngạ quỷ, sanh về cõi trời Quảng-Quả, cõi trời đầu tiên của Tứ Thiền.
Thượng tọa Moggallana lại có tánh ngay thẳng kiên cường, thường hay chỉ trích những chỗ sai lầm trong giáo lý ngoại đạo, nên một hôm, vào năm -546, Thượng tọa bị một nhóm người võ trang gậy gộc phục kích và đánh chết dưới chân núi Isigili gần tinh xá Venuvana. Sau lễ trà tỳ, đức Phật chỉ nơi xây tháp an trí xá lợi Thượng tọa Moggallana ở gần cổng tinh xá Venuvana (Trúc Lâm).
Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho thầy Moggallana về sau sẽ thành Phật hiệu là Ða-Ma-La-Bạt Chiên-Ðàn-Hương Như Lai (Tamalapatra-Chandanagandha), ở thế giới Ý-lạc (Manobhirama), vào kiếp Hỷ-mãn (Ratiprapurana).
Tác phẩm của ngài: Mục-Kiền-Liên Pháp Uẩn Túc Luận (12 quyển) trong Ðại Tạng Kinh.

3. Maha-Kassapa (Ma-Ha Ca-Diếp), hạnh đầu-đà đệ nhất.

Tổ Maha-Kassapa, cùng một tuổi với Phật, tên thật là Pippalayana (Tất-Bát-La-Dà-Na) vì mẹ ngài sanh ngài dưới cội cây Pippala (Tất-bát-la), quê ở làng Mahatistha, ngoại ô thành Vương-xá (Rajagriha), thuộc gia đình trưởng giả giàu có lớn, dòng Bà-la-môn. Cha tên Ẩm-Trạch (Ni-Câu-Lư-Ðà-Kiệt-Ba), mẹ tên Hương-Chí. Thuở bé, ngài đã rất thông minh, dung nghi trang nhã, toàn thân màu vàng, tỏa ánh sáng rất xa. Có thầy xem tướng nói: “Ðứa bé này đời trước có phước đức lớn, chắc sau này sẽ xuất gia.” Cha mẹ ngài nghe nói lo sợ, cùng bàn với nhau sẽ cưới vợ cho ngài sớm.
Vừa lớn lên, cha mẹ liền lo chọn người lập gia thất, nhưng ngài một mực từ chối. Sau cùng, bất đắc dĩ ngài nói: “Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới ưng.” Ðến năm 607 trước tây lịch, ngài phải vâng lời cha mẹ, lập gia đình với bà Bhadra Kapilani (Diệu-Hiền), quê ở Vesali, cũng có thân hình màu vàng tỏa sáng như ngài. Nhưng cả hai người đều không thích việc ân ái vợ chồng, chỉ thích sống đời phạm hạnh, thanh tịnh. Tuy là vợ chồng nhưng hai người ngủ giường riêng.
Theo kinh sách ghi chép, sau khi đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassin) nhập niết-bàn, tứ chúng xây tháp thờ xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng Phật phết vàng. Lâu ngày, trên mặt pho tượng bị lở khuyết. Có một cô gái trao một đồng tiền vàng cho thợ đúc vàng nấu ra để tu bổ lại tượng Phật. Cô gái đó là tiền thân của bà Bhadra Kapilani, và người thợ đúc vàng là ngài Maha-Kassapa. Do nhân duyên đó mà cả hai người đều có sắc thân màu vàng ròng.
Năm -589, một buổi sáng nọ, khi thức giấc, Maha Kassapa thấy bà Bhadra Kapilani đang ngủ say, một cánh tay buông thỏng từ trên giường xuống gần tới mặt đất. Một con rắn độc đang trườn qua dưới gầm giường, gần cánh tay. Maha Kassapa nín thở, nhẹ nhàng bước đến cầm tay bà đặt lên giường. Bà giật mình thức dậy trách ông có ý không tốt, ông liền chỉ con rắn đang bò ra khỏi nhà. Cả hai người cùng ngồi chiêm nghiệm về tính cách vô thường của cuộc đời. Bà khuyên ông nên tức tốc đi tìm thầy học đạo. Ông rời nhà đi tìm thầy đúng vào ngày đức Phật vừa thành đạo.
Một hôm, vào năm -587, vừa trông thấy Phật giữa đường, gần tinh xá Venuvana (Trúc Lâm), ngài liền bước đến trước Phật đảnh lễ, xin xuất gia. Hai người vừa gặp nhau liền nhận ra duyên thầy trò. Chỉ 8 ngày sau khi xuất gia, ngài chứng quả A-la-hán. Trong hàng đệ tử Phật, ngài nổi tiếng tu hạnh đầu-đà[2] đệ nhất, và được xếp vào hàng thứ ba trong mười đệ tử lớn của Phật, sau ngài Sariputta (Xá-Lợi-Phất) và ngài Moggallana (Mục-Kiền-Liên).
Ðến năm -585, sau khi đức Phật cho phép hoàng hậu Pajapati Gotami xuất gia và thành lập Ni bộ, bà Bhadra Kapilani cũng xin xuất gia, về sau cũng đắc quả A-la-hán.
Theo điển tích “Niêm hoa vi tiếu”, Tổ Maha-Kassapa được đức Phật trao truyền “Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết-bàn Diệu Tâm, Thật Tướng Vô Tướng, Vi Diệu Pháp Môn” trên đỉnh núi Griddhakuta (Linh-Thứu). Theo kinh điển đại thừa thì sau đó đức Thế Tôn đến trước tháp Ða Tử gần cổng bắc thành Rajagriha (Vương Xá), gọi ngài Maha-Kassapa đến, chia nửa tòa cho ngồi, lấy y tăng-già-lê (sanghati) quấn vào mình cho ngài, rồi nói kệ phó pháp:
Pháp bổn pháp vô pháp,
Vô pháp pháp diệc pháp.
Kim phó vô pháp thời,
Pháp pháp hà tằng pháp.[3] Năm 544 trước tây lịch, ba tháng sau khi Phật nhập niết-bàn, Tổ Maha-Kassapa chủ tọa cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại động Saptaparna, trên núi Vaibhara, tại Rajagriha (Vương-Xá). Và chính ngài trùng tuyên tạng Luận (Abhidhamma).
Khoảng năm -540, sau khi truyền pháp cho tôn giả Ananda với bài kệ:
Pháp pháp bổn lai pháp,
Vô pháp, vô phi pháp.
Hà ư nhất pháp trung,
Hữu pháp, hữu phi pháp[4]?
Tổ Maha-Kassapa vào núi Kukkutapada (Kê Túc Sơn, còn gọi là Linh Sơn hay Kỳ Xà Quật) ẩn thân và nhập diệt trong tư thế kiết già. Nhiều người cho rằng Tổ nhập định, chờ đến khi đức Phật Di-Lặc ra đời, Tổ trao lại y bát của đức Phật Thích-Ca rồi mới nhập vô dư y niết-bàn.
Trong hội Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho Tổ Maha-Kassapa sẽ thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai (Ramiprabhasa-Tathagata) ở thế giới Quang Ðức (Avabhasa), kiếp Ðại Trang Nghiêm (Maha-Vyuha kalpa).

4. Subhuti[4] (Tu-Bồ-Ðề), giải không đệ nhất.

Ông Subhuti, quê ở thủ đô Sravasti, xứ Kosala, cha tên Bhuti, thuộc dòng Bà-la-môn. Khi vừa chào đời, tất cả đồ đạt trong nhà bỗng nhiên biến mất, ba ngày sau mới trở lại như trước, do đó cậu bé được đặt tên là Subhuti, có nghĩa là Không Sinh. Thầy tướng số lại bảo đó là điềm rất tốt cho tương lai cậu bé, nên người nhà cũng gọi cậu là Thiện Cát.
Thuở nhỏ Subhuti có đồng nào thường đem cho người nghèo túng, có khi cởi áo ngoài cho luôn. Cha mẹ khuyên bảo không được bèn giữ Subhuti luôn trong nhà, không cho ra đường chơi. Subhuti đã không buồn, lại thích tìm đọc sách vở về triết học và tôn giáo. Subhuti thường tự hào nói với cha mẹ:
– Tất cả sum la vạn tượng trên vũ trụ đều hiện rõ trong tâm con, tâm con như hư không rỗng rang chẳng có chút gì.
Ðến khi Phật vừa thành lập xong tinh xá Jetavana ở Sravasti, cha mẹ ông Subhuti đều đến quy y với Phật. Một hôm cha ông bảo:
– Này Subhuti, con thường tự cho mình có trí huệ, thông hiểu chân lý, vũ trụ, nhân sinh. Nhưng sánh với đức Phật con còn thua rất xa. Ðức Phật chẳng những có đại trí huệ mà còn có đại thần thông, đại từ bi. Từ khi ngài quang lâm đến Sravasti, các quan chức, thân hào, nhân sĩ và dân chúng đến quy y với ngài thật đông. Cha định thỉnh đức Thế-tôn về nhà cúng dường để con có dịp học hỏi thêm.
Subhuti nôn nao gặp Phật, nên chiều hôm ấy ông lén đến Jetavana xem Phật là người thế nào. Ðến nơi, Subhuti thấy Phật đang ngồi trên tòa cao thuyết pháp, thân tướng trang nghiêm, giọng nói đầm ấm, rõ ràng, vang xa, trước hằng ngàn thính chúng ngồi im lặng lắng nghe. Ðức Phật nói đến đoạn kết bài pháp như sau:
– Này quý vị, sở dĩ thế gian dẫy đầy đau khổ bởi chiến tranh, chết chóc, cướp giựt, giết hại lẫn nhau, là vì chúng sinh mê lầm. Vạn vật đều vô thường, vô ngã mà chấp là thường, là ngã. Các lạc thú ở đời đều là nhân của khổ mà chấp là vui. Do đó phải chịu đau khổ luân hồi không lối thoát. Quý vị nên dũng mãnh tinh tấn tu Giới Ðịnh Huệ để chứng ngộ rằng tất cả chúng sinh đều cùng chung một thể tánh, đến chừng đó cảnh giới niết-bàn an lạc, thanh tịnh, thường hằng sẽ hiện đến với quý vị.
Tuy chỉ nghe được đoạn kết, Subhuti rất cảm động và mong sớm được học pháp tu Giới Ðịnh Huệ, ông liền tiến đến trước Phật đảnh lễ xin xuất gia làm đệ tử. Ðức Phật hoan hỷ chấp thuận.
Ðại đức Subhuti vốn có tánh thương người nghèo khó, nặng nghiệp, không hiểu nổi giáo lý cao siêu, nên ông chỉ đến khất thực nơi nhà giàu có. Trái lại khất sĩ Maha-Kassapa chỉ đến khất thực nơi nhà nghèo, vì ông muốn cho họ có cơ hội làm việc phước thiện để tạo nghiệp lành cho đời sau. Khi đức Phật biết được, đều quở hai ông không có tánh bình đẳng, và khuyên các khất sĩ nên thực hành tánh bình đẳng bằng cách đi khất thực theo thứ tự từng nhà, không phân biệt giàu nghèo.
Thượng tọa Subhuti là người đứng ra thưa hỏi Phật trong kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-la-mật, và đã thâm nhập pháp Vô-ngã Ðộ-sanh để an-trụ tâm và pháp Vô-tướng Bố-thí để hàng-phục tâm. Từ đó Thượng tọa nổi tiếng là vị đệ tử Giải không đệ nhất của Phật.
Sau hạ thứ 7, khi được đại đức Anuruddha báo tin đức Phật lên cung trời Ðao-lợi thuyết pháp cho thánh mẫu Maha-Maya trong ba tháng sắp trở về, các vị đại đệ tử nô nức đi đón Phật. Uppalavanna (Liên-Hoa-Sắc), vị tỳ-kheo-ni thần thông đệ nhất, là người đầu tiên bước đến đảnh lễ Phật và nói:
– Bạch Thế Tôn, đệ tử là Uppalavanna, người đầu tiên đến nghinh đón Thế Tôn, xin Thế Tôn chứng minh cho.
Ðức Phật mỉm cười nói:
– Này Uppalavanna, người nghinh đón Như Lai trước nhất chẳng phải là sư cô đâu.
Uppalavanna lấy làm lạ hỏi:
– Bạch Thế Tôn, nếu chẳng phải con vậy là ai?
Ðức Phật nhìn các đệ tử, ôn tồn nói:
– Cám ơn quý vị khất sĩ đã từ xa xôi về đây tiếp đón Như-Lai, nhưng người gặp Như-Lai trước nhất chính là Subhuti. Thầy Subhuti hiện đang quán Tánh Không của các pháp và thực hành Tâm Không trong một hang núi ở Griddhakuta, do đó thầy mới là người thấy Phật trước nhất.
Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho đại đức Subhuti về sau sẽ thành Phật hiệu là Danh Tướng Như Lai (Sasiketu), ở thế giới Bảo Sanh (Ratana-sambhava), vào kiếp Hữu Bảo (Ratana-vabhasa).

5. Punna Mantaniputta[5] (Phú-Lâu-Na Mãn-Từ-Tử), thuyết pháp đệ nhất.

Ông Punna Mantaniputta (Pali) còn gọi là Purana Maitrayaniputra (Sanscrit, Phú-Lâu-Na Di-Ða-La-Ni-Tử) sanh cùng ngày với Phật, tại thủ đô Kapilavastu, xứ Sakya, con một vị quốc sư trong triều vua Suddhodana (Tịnh Phạn). Ông là người đoan chính, thông minh, học rộng, biết thiên văn, địa lý và cách khám bệnh cho thuốc, thông hiểu các kinh Veda, không thích việc trần thế.
Khi thái tử Siddhattha xuất gia, ông Punna Mantaniputta cùng 29 người bạn cũng xuất gia, vào núi Himalaya tu theo pháp Bà-lê-bà-giá-ca. Khi đức Phật thành đạo dưới cội Bồ-đề thì ông Punna Mantaniputta cùng 29 người bạn cũng đều đắc Tứ Thiền và Ngũ Thông. Tất cả dùng thần túc thông hiện đến Isipatana (Sarnath), xin xuất gia, thọ cụ-túc giới, về sau đều chứng quả A-la-hán. Ðại đức được Phật công nhận là vị đệ tử thuyết pháp hay nhất.
Năm -565, đức Phật phái Thượng tọa Punna Mantaniputta đến xứ Thâu-lô-na (Du-lô-na) để giáo hóa dân chúng nơi đây nổi tiếng là hung ác và thô bạo. Thượng tọa đến xứ Thâu-lô-na hoằng pháp rất thành công[6], chỉ trong vòng một năm, độ được 500 người quy y Tam Bảo, và 500 người xuất gia, thành lập tinh xá tu học và kiết hạ ngay trong năm ấy. Về sau, Thượng tọa nhập vô dư niết-bàn tại xứ này.
Lúc Phật nhập niết-bàn tại Kusinagar, Thượng tọa Punna Mantaniputta bận đi hoằng hóa xa nên không kịp đến dự lễ trà tỳ. Khi Thượng tọa về đến động Saptaparna ở Rajagriha để tham dự kiết tập kinh điển thì cuộc kiết tập đã đến hồi kết thúc. Sau khi được nghe đọc lại ba tạng Kinh, Luật, Luận vừa kiết tập, Thượng tọa Punna Mantaniputta cho ý kiến như sau:
– Thưa chư huynh đệ, các vị kiết tập giáo pháp như thế này là điều rất quý báu được mọi người cảm phục. Về nội dung toàn bộ, tôi không có ý kiến gì thêm. Nhưng về tạng Luật, tôi thấy có 8 điều ngăn cấm về ăn uống không đúng hẵn với bản ý của đức Thế Tôn, và có thể gây trở ngại cho việc điều hành của tăng đoàn trong một tinh xá. Như là cấm tự lấy thức ăn, cấm mang thức ăn từ nơi khác về, cấm ăn các thứ trái cây, cấm ăn những vật thực sản xuất từ hồ ao … Gặp năm thất mùa, gặp thời đói khó, khi đi xin không được thức ăn, đức Phật đều cho phép 8 việc trên.
– Ðúng vậy, Thượng tọa Maha Kassapa nói, nhưng Thế Tôn chỉ cho phép 8 điều ấy trong những hoàn cảnh rất đặc biệt mà thôi.
Theo quyển 4 kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho Thượng tọa Punna Mantaniputta sẽ thành Phật hiệu là Pháp Minh Như Lai (Dharmaprabhasa), ở thế giới Thiện Tịnh, vào kiếp Bửu Minh.

6. Maha-Kaccana[7] (Ma-Ha Ca-Chiên-Diên), luận nghị đệ nhất.

Ông Maha Kaccana (Maha Katyayana) tên thật là Nalaka, sanh ở thủ đô Ujjeni[8], xứ Avanti (A-bàn-đề), dưới triều vua Pajjota. Ông lớn hơn Phật độ 10 tuổi. Ông là con thứ hai của ông Bà-la-môn tên Kacca làm quốc sư trong triều vua Suddhodana. Ông là cháu gọi ông Asita Kaladevala (A-tư-đà) bằng cậu ruột.
Ông Maha Kaccana thọ giáo với người cậu ruột là đạo sư Asita, chứng được Tứ Thiền và Ngũ Thông. Ông được vua Bimbisa xứ Magadha thỉnh về làm đạo sư. Về sau vì không hiểu nghĩa hai câu kệ, ông nhớ đến lời tiên đoán của thầy ông là Asita về sự ra đời của đức Phật nên ông tìm đến xin Phật giải giúp. Nhân dịp này, Phật giảng cho ông nghe về Trung đạo, Tứ diệu đế và 12 Nhân duyên. Ông liền khai ngộ, xin xuất gia theo Phật, ít lâu sau đắc quả A-la-hán, được Phật khen là vị đệ tử luận nghị đệ nhất. Trên đường hoằng pháp, ngài Punna Mantaniputta thường thuyết pháp trước đại chúng, trái lại ngài Maha Kaccana thì thích thuyết pháp cho từng người để thuyết phục họ bằng cách luận nghị. Sau khi Phật diệt độ, Thượng tọa Maha Kaccana vẫn còn sống, giáo hóa chúng sanh, và thường cảm hóa những người theo ngoại đạo.
Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho Thượng tọa Maha Kaccana sẽ thành Phật hiệu là Diêm-Phù-Na-Ðề-Kim-Quang Như Lai (Djambunadaprabha).
Theo Câu-Xá Luận Quang Ký 1 thì quyển A-tỳ-đạt-ma Thi Thiết Luận trong Lục Túc Luận là do ngài soạn.
Trong Mật tông, ngài được xếp vào ngôi thứ 6, hàng phía trên, bên trái Phật Thích Ca Mâu Ni trong biểu đồ Mạn-đồ-la Thai Tạng Giới: Ngài ngồi trên tòa lá sen, lòng bàn tay phải dựng đứng, co ngón áp út và ngón út lại, tay trái cầm một góc cà-sa đặt trước ngực.

7. Anuruddha[9] (A-Na-Luật), thiên nhãn đệ nhất.

Anuruddha là em chú bác của thái tử Siddhattha, nhỏ hơn thái tử vài tuổi, sanh tại thủ đô Kapilavastu, xứ Sakya. Theo các kinh Khởi Thế 10, Luật Ngũ Phần 15, Chúng Hứa Ma-ha Ðế 2, thì Anuruddha là con của Dhotodana (Hộc Phạn). Còn theo Phật Bản Hạnh Tập Kinh 11, Luận Ðại Trí Ðộ 3, thì Anuruddha là con của Amitodana (Cam Lộ Phạn). Nhưng theo quyển The Buddha and His Teachings của Hòa Thượng Narada xuất bản năm 1998 thì Anuruddha là con của Sukkodana (Bạch Phạn), và là em của Mahanama.
Thuở nhỏ, Anuruddha đã rất hoạt bát, thông minh, có tài về âm nhạc, kỹ thuật, thường ca hát trước đông người và làm những điệu bộ khôi hài khiến mọi người vui cười, cảm mến. Chú bé Anuruddha lại thích chơi đánh bạc ăn bánh, khi thua hết bánh chú lại chạy tìm mẹ xin thêm. Có lần bà mẹ bảo Bánh không có. Anuruddha rất được mẹ nuông chìu, chưa hề biết không có là cái gì, bèn nói Bánh không có cũng được, mẹ đưa cho con đi. Bà mẹ lấy cái hộp không đưa cho chú xem. Nhưng lạ thay, khi mở hộp ra lại thấy đầy bánh trong hộp. Bà mẹ rất ngạc nhiên, cho rằng Anuruddha là một đứa bé phi thường, có phước báu lớn.[10] Năm -588, sau hạ thứ 2, ông Anuruddha cùng đi với Bhaddiya, Devadatta, Bhagu, Kimbila, Ananda và người thợ hớt tóc tên Upali, đến thành phố Anupiya, xứ Malla, để xin xuất gia theo Phật. Khi mới xuất gia, đại đức Anuruddha có tật mê ngủ, giải đãi công phu. Một hôm, trong khi Phật thuyết pháp, đại đức Anuruddha ngồi ngủ gậc, bị Phật quở trách[11]. Ðại đức lấy làm tủi-hổ, khóc suốt bảy ngày đêm không ngủ, vì thế vướng bệnh lao mắt rồi mù luôn. Ðức Phật an ủi, cho biết đó là tiền nghiệp phải trả, rồi dạy thầy tu pháp Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội (Aloka-sanna-kasina)[12], là công phu tập trung tánh thấy vào Bổn Giác Chơn Như. Ðại đức Anuruddha chuyên cần tu tập, ít lâu sau được thiên nhãn thông (dibba-cakkhu), xem thấy mười phương thế giới rỗng suốt, rõ rệt dễ dàng như thấy trái xoài trong bàn tay. Ðức Phật thọ ký cho thành bậc A-la-hán, và khen đại đức Anuruddha là vị đệ tử có thiên nhãn đệ nhất.
Sau khi đắc quả A-la-hán, Thượng tọa Anuruddha thường độ cho nhiều người. Một hôm, đang đi đường xa, gặp lúc trời tối, Thượng tọa ghé vào nhà trọ nghỉ đêm. Bị cô chủ quán trêu ghẹo, Thượng tọa liền dùng thần thông bay lên cao. Thấy phép lạ, cô chủ quán sụp xuống lạy, xin quy y Tam Bảo và nguyện sẽ trở nên một tín nữ đứng đắn.
Có lần Thượng tọa Anuruddha đang đi từ Sravasti đến Vesali. Trên đường đi gặp một thiếu phụ giận chồng, bỏ nhà chồng ở Sravasti đi về nhà cha mẹ ruột ở Vesali. Thiếu phụ yêu cầu thầy đi chung đặng che chở dùm. Anh chồng theo kịp, ngỡ rằng ông sư dắt vợ mình đi trốn, liền áp đến đánh. Thượng tọa Anuruddha lặng thinh đứng nhập định. Chồng của thiếu phụ thấy vậy, không dám nghĩ quấy, đổi giận làm vui, tỏ lời xin lỗi.Thượng tọa Anuruddha cũng là người theo sát bên cạnh Phật lúc Phật nhập niết-bàn, và hướng dẫn thánh chúng tụng niệm sau khi Phật vừa nhập diệt.
Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho Thượng tọa Anuruddha và 500 vị đệ tử A-la-hán khác sẽ lần lượt thành Phật, cả thảy đồng một danh hiệu là Phổ Minh Như Lai (Samantaprabhasa Tathagata).

8. Upali[13] (Ưu-Ba-Ly), trì luật đệ nhất.

Upali là người thợ hớt tóc, kém hơn Phật độ 10 tuổi, ở xứ Sakya, gần ranh giới xứ Malla. Năm -588, một hôm, sáu vị vương tử dòng Sakya là Bhaddiya, Devadatta, Anuruddha, Bhagu, Kimbila và Ananda đi bằng xe tứ mã từ thủ đô Kapilavastu đến sát biên giới xứ Malla thì xuống xe, cho xe trở về, rồi cùng nhau đi bộ đến thành phố Anupiya thuộc xứ Malla, cách biên giới không xa. Anuruddha đề nghị mọi người cởi bỏ hết đồ trang sức quý giá, chỉ ăn mặc thật đơn giản trước khi qua biên giới. Mọi người tán thành. Họ cởi những xâu chuỗi ngọc và những chiếc vòng bằng vàng bằng bạc ra gói lại trong một cái áo. Khi vừa đến một làng nhỏ thì họ gặp một quán hớt tóc nghèo nàn. Anh thợ hớt tóc là một thanh niên trạc tuổi họ, mặt mày khôi ngô nhưng ăn mặc rách rưới. Anuruddha ghé vào quán hỏi thăm đường đi đến thành phố Anupiya. Anh thợ hớt tóc cho biết tên anh là Upali và tình nguyện dắt sáu người khách lạ đi một đoạn đường sang biên giới.
Upali đưa các vương tử qua khỏi biên giới xứ Malla, chỉ đường đi Anupiya, rồi vái chào các vương tử để trở về. Anuruddha cám ơn Upali và trao cho Upali cái áo gói đầy châu báu trong đó. Chàng nói:
– Này Upali, chúng tôi muốn theo Phật xuất gia. Chúng tôi không cần dùng những thứ trang sức châu báu này nữa. Chúng tôi tặng lại anh. Từng ấy châu báu vàng bạc đủ để anh sống sung sướng suốt đời.
Các vương tử từ giã Upali rồi lên đường. Anh thợ hớt tóc mở chiếc áo ra. Vàng ngọc làm anh ta lóe mắt. Anh không tin đây là sự thật. Bỗng nhiên anh cảm thấy lo sợ, anh cảm thấy mất hết sự an ổn thảnh thơi hằng ngày. Anh sợ kẻ tham biết được sẽ giết anh để cướp đoạt. Anh sợ quan quân biết được sẽ cho anh là kẻ trộm cắp. Upali suy nghĩ. Anh thấy các vương tử giàu sang đến thế, quyền hành như thế mà vẫn bỏ hết để đi xuất gia, thì chắc việc xuất gia phải có cái gì quý báu hơn giàu sang danh vọng. Anh chợt có ý nghĩ liệng bỏ gói châu báu để đi theo các vị vương tử. Anh treo gói châu báu lên một cành cây gần đó, thầm nhủ rằng ai là người đầu tiên thấy gói châu báu này thì gói châu báu này sẽ thuộc về người ấy. Rồi anh lật đật chạy theo các vương tử.
Các vương tử ngạc nhiên thấy Upali chạy theo vừa tới. Devadatta hỏi:
– Upali, anh chạy theo chúng tôi làm chi? Bọc châu báu anh để đâu?
Upali thở hổn hển, rồi kể lại câu chuyện. Anh ta nói đã treo gói châu báu lên một cành cây, vì khi cầm gói châu báu ấy trên tay anh cảm thấy lo sợ cho tánh mạng, tâm không an. Anh xin các vị vương tử cho phép anh cùng đi theo đến Anupiya để xin xuất gia với Phật. Devadatta cười ha hả:
– Anh mà cũng muốn đi xuất gia như chúng tôi à?
Nhưng Anuruddha và Bhaddiya tán thành ngay:
– Hay lắm, như vậy chúng ta cùng đi. Có anh dẫn đường càng dễ dàng cho chúng tôi.
Phật và tăng đoàn đang cư trú trong một khu rừng cách thành phố Anupiya chừng hai cây số về phía đông nam, gần sông Anoma. Bảy người tìm tới nơi xin gặp Phật. Bhaddiya thay mặt cả nhóm trình lên Phật ý nguyện của họ xin được xuất gia. Phật im lặng chấp thuận. Bhaddiya nói tiếp:
– Bạch Thế Tôn, chúng con xin cho Upali được xuất gia trước. Như vậy chúng con phải xem Upali như một sư huynh để trừ ý niệm phân biệt kỳ thị còn sót lại trong lòng chúng con.
Ðức Phật khen ngợi cả bảy người, rồi cho Upali xuất gia trước, sau đến sáu vị vương tử. Ananda tuy mới 18 tuổi cũng được xuất gia, nhưng chỉ thọ giới sa-di[14] và học theo hạnh khất-sĩ. Ðúng 20 tuổi Ananda mới được thọ giới khất-sĩ.
Upali chuyên tu trì giới luật rất nghiêm túc, được Phật khen là vị đệ tử trì luật đệ nhất và thường cử đại đức đi hòa giải những xích mích trong hàng khất sĩ.
Trong cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại động Saptaparna ở Rajagriha, Thượng tọa Upali được đề nghị lên trùng tuyên tạng Luật, gồm 3 phần:
1) Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa, Giới Bổn) nói về giới hạnh của tăng ni, nhằm giúp cho 3 nghiệp và 6 căn được thanh tịnh.
2) Mahavagga (Ðại Phẩm luật) nói về các lễ xuất gia, sám hối, nhập hạ, cúng dường … trong một tập thể lớn tăng ni.
3) Cullavagga (Tiểu Phẩm luật) là những điều luật về thưởng phạt, hòa hợp tăng, xây cất chùa tháp, bổn phận và trách nhiệm của tăng chúng, trong một tập thể nhỏ tăng ni.
Trong Mạn-đồ-la (mandala) Thai Tạng Giới của Mật tông, Thượng tọa Upali được xếp vào vị trí thứ 7, hàng bên trái đức Thích-Ca, với tướng tỳ-kheo, toàn thân màu da người, ngồi kiết già trên tòa lá sen.

9. Rahula[15] (La-Hầu-La), mật hạnh đệ nhất.

Ông Rahula, sanh năm -595 tại thủ đô Kapilavastu, xứ Sakya, cha là thái tử Siddhattha, 29 tuổi, mẹ là công chúa Yasodhara, cùng tuổi với cha. Chữ “Rahula” có nghĩa là “che án và trói buộc”. Tục truyền rằng Rahula sanh nhằm lúc Rahulâsura-raja (La-hầu A-tu-la Vương) đưa tay che mặt trăng, nên có tên “Chướng Nguyệt”; Rahula lại ở trong thai mẹ đến 6 năm, nên có tên “Phú Chướng” (che án và trói buộc).
Sau khi sanh Rahula được 7 ngày, vua Suddhodana làm lễ đặt tên cháu nội thật long trọng. Ðến nửa đêm, mọi người đều mỏi mệt ngủ say, thái tử Siddhattha thừa dịp tốt liền cùng Channa (Xa-nặc) lên ngựa Kanthaka (Kiền-trắc) vượt thành xuất gia.
Năm -588, lúc đức Phật trở về Kapilavastu lần đầu tiên sau khi thành đạo, Rahula xin xuất gia, lúc bấy giờ ông mới được 7 tuổi. Ðức Phật bảo đại đức Sariputta làm y-chỉ-sư truyền giới và đại đức Moggallana làm vị A-xà-lê, rồi cho Rahula làm khu-ô sa-di, vị sa-di đầu tiên, lo việc đuổi quạ để giữ yên tĩnh trong giờ các vị khất sĩ ngồi thiền.
Năm -581, tại tinh xá Ghosita, Rahula được 14 tuổi, một hôm, sau khi phải dậy sớm quét lá một khu vườn rộng lớn, lúc trở về am thì am thầy đã bị thầy quản lý giao cho một vị khất sĩ khác ở. Rahula còn đương đứng ngơ ngác thì một trận mưa to kéo đến, thầy phải chạy vào nhà vệ sinh ngồi đục mưa. Dù vậy thầy vẫn không phiền trách ai, thầy đã giữ được tâm nhẫn nhịn và hòa nhã với tất cả mọi người.
Năm -579, Rahula được 16 tuổi, đang đi khất thực với đại đức Sariputta tại thành Rajagriha (Vương-xá), bỗng có một tên lưu manh bước đến bỏ cát vào bát của thầy Sariputta và lấy gậy đánh lên đầu Rahula đến chảy máu. Thầy Sariputta an ủi:
– Này Rahula, nếu thật là đệ tử Phật phải có tánh nhẫn nhục, trong tâm không bao giờ khởi sân hận, nên đem lòng từ bi thương xót chúng sanh mê lầm. Ðức Thế-tôn thường dạy chúng ta, lúc được khen tặng đừng sinh lòng cao ngạo, lúc bị hạ nhục đừng sanh lòng oán giận. Này Rahula, nên điều phục tâm giận tức bằng tính nhẫn nhục và lòng từ bi để làm tăng trưởng giới đức.
Rahula vẫn bình tĩnh, đến một nhà bên vệ đường xin nước rửa vết thương và xin ít vải để băng bó, rồi thầy an nhiên nói:
– Bạch thầy, trên thế gian này sao có lắm kẻ si mê hung ác. Ðến đâu cũng gặp toàn những việc đáng chán. Ðức Thế Tôn dạy chúng ta nên có lòng đại từ đại bi đối với họ, để mặc hạng người cuồng bạo nhục mạ chúng ta. Các khất sĩ giữ hạnh nhẫn nhục để làm tăng trưởng giới đức, mà bọn cuồng si lại khinh chê, lại đi kính trọng những kẻ hung dữ độc ác hơn họ. Dù có nghe Phật dạy chân lý từ bi nhẫn nhục, họ cũng cho là đồ hôi thúi như xác chết. Ðối với hạng người hung dữ không một chút căn lành thì có đem Chánh Pháp nói với họ cũng chẳng ích lợi gì.
Ðức Phật dạy chú sa-di Rahula rất nghiêm, nhất là khi chú làm điều gì trái phép. Khi lớn lên, đại đức Rahula nghiêm trì giới luật rất chu đáo, được mọi người khen là vị đệ tử mật hạnh đệ nhất. Ngài nhập diệt trước Phật, vào khoảng 48 tuổi, có tháp thờ xá lợi tại tinh xá Jetavana (tháp số 12).
Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật có nói nhờ nguyện lực đời trước nên Rahula được sanh làm con của Bồ-tát vương tử, đến khi Bồ-tát thành Phật, Rahula trở thành con Phật. Chẳng những ở đời này, mà trong vô số kiếp về sau, Rahula sẽ luôn luôn làm con trưởng nam của chư Phật để thọ lãnh pháp Phật, mãi cho đến khi tự mình thành Phật hiệu là Ðạo Thất Bảo Hoa Như Lai (Sapta-ratana-padmavikramin).

10. Ananda (A-Nan), đa văn đệ nhất.

Tổ Ananda sanh năm -605, tại Kapilavastu, cha là Amitodana (Cam-Lộ Phạn vương). Ngài là em chú bác với Phật, nhỏ hơn Phật 19 tuổi. Ngài có tướng mạo trang nghiêm nhưng hiền hòa, phúc hậu, dễ gây cảm tình; tánh tình chính trực nhưng hòa nhã với tất cả mọi người; ngoài ra ngài còn có trí nhớ thật tuyệt vời, có thể nói lại một bài pháp của Phật không thiếu một câu, không sai một tiếng. Có bài kệ của Bồ-tát Manjusri (Văn-Thù-Sư-Lợi) khen tặng ngài Ananda như sau:
Tướng như thu mãn nguyệt
Nhãn tợ thanh liên hoa
Phật pháp như đại hải
Lưu nhập A-Nan tâm
Dịch:
Tướng như trăng thu đầy,
Mắt biếc tợ sen xanh,
Phật pháp rộng như biển,
Ðều vào tâm A-Nan.
Năm -587, ngài được 18 tuổi, cùng xin xuất gia một lượt với Devadatta, Anuruddha, Bhaddiya, Bhagu, Kimbila và người thợ hớt tóc tên Upali, tại thành phố Anupiya, xứ Malla. Hai năm sau ngài thọ cụ túc giới tỳ kheo.
Năm -585, ngài Ananda khéo léo xin với đức Phật cho hoàng hậu Pajapati Gotami và 500 nương tử dòng Sakya và Koliya xuất gia tại Vesali, nhờ đó mới có Giáo-đoàn Tỳ-kheo-ni còn lưu truyền đến ngày nay.
Năm -569, hạ thứ 20, ngài Ananda được cử làm thị giả thường xuyên cho Phật.
Năm -544, hạ thứ 46, Thượng tọa Ananda vừa chứng quả A-la-hán, được tham dự cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại Rajagriha (Vương Xá), và chính ngài được mời trùng tuyên tạng Kinh.
Năm -540, ngài Ananda được Tổ Maha-Kassapa truyền pháp làm Tổ thứ hai tại Ấn-độ. Kinh sách ghi chép: Một hôm, ngài Ananda hỏi Tổ Maha-Kassapa:
-Sau khi đức Thế Tôn truyền Chánh Pháp Nhãn Tạng cho sư huynh tại Linh Thứu sơn, ngài có truyền pháp gì khác nữa chăng?
Tổ Maha-Kassapa liền nhìn ngài Ananda, gọi:
-Ananda!
-Dạ!
-Cây phướn trước chùa ngã[5].
Ngài Ananda liền ngộ rằng ngoài Tánh Giác sẵn có của mọi người, tất cả sự vật khác đều huyễn-hóa như lông rùa sừng thỏ. Sau đó ngài Ananda được Tổ Maha-Kassapa truyền tâm ấn.
Năm -520, Tổ Ananda truyền pháp cho ngài Sanavasin (Thương-Na-Hòa-Tu) với bài kệ:
Bổn lai truyền hữu pháp,
Truyền liễu ngôn vô pháp.
Các các tu tự ngộ,
Ngộ liễu vô vô pháp.[6] Ðến năm 120 tuổi, Tổ Ananda đến nhập diệt trên một hòn đảo ở giữa sông Ganga[7] gần thủ đô Pataliputta (hiện nay là Patna). Xá lợi của ngài được chia làm hai phần đều nhau cho hai xứ ở hai bên bờ sông. Vua Ajatasattu xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) ở phía nam, xây tháp thờ xá lợi ngài tại Rajagriha, bên cạnh tháp thờ xá lợi Phật. Các Vương tử Licchavi xứ Vajji (Bạt-kỳ) phía bắc, xây tháp thờ xá lợi ngài tại tinh xá Mahavana ở Vesali.
Theo Kinh Niết-Bàn 40 (bản Bắc), đức Phật khen ngài Ananda là một thị giả đầy đủ phẩm hạnh, nhờ có 8 đặc tính sau đây:
1- Tín căn bền vững: Khi nghe Phật dạy, ngài có đức tin vững chắc và ghi nhớ đầy đủ, không sai, không thiếu.
2- Tâm tính chất trực: Tâm tính hiền hòa, chất phát, ngay thẳng, dễ gây cảm tình với tất cả mọi người.
3- Thân không bịnh khổ: Rất ít khi mắc bệnh.
4- Thường siêng tinh tấn: Vững tin theo Phật pháp, và cứ một đường thẳng tiến, không bao giờ thối chí ngã lòng.
5- Ðầy đủ niệm tâm: Luôn luôn ghi nhớ Phật pháp, không bao giờ quên.
6- Tâm không kiêu mạn: Luôn luôn nhẫn nhịn, hòa nhã với tất cả mọi người.
7- Thành tựu định ý: Tâm ý không bao giờ rời Phật pháp.
8- Từ nghe sanh trí: Nghe rồi suy nghĩ, rồi hiểu, trí huệ phát sáng.
Do đó, về sau, các vị tôn đức thường căn cứ vào 8 đặc tính trên để chọn thị giả.
Theo kinh Pháp Hoa, phẩm thứ 9, đức Phật thọ ký cho Tổ Ananda sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, ở thế giới Thường Lập Thắng Phan, vào kiếp Diệu Âm Biến Mãn.

Tài liệu tham khảo

[1] Xem “The Buddha and his teachings” của Narada, trang 114. Theo Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn-Trung-Còn thì cha của Sariputta tên là Tyshya (Tissa, Ðề-Xá).

[2] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 209-211.

[3] Bài kệ bằng chữ Hán như sau: “Chư pháp tùng duyên sanh,

“Diệt, tùng nhân duyên diệt.

“Ngã, Phật, Ðại sa-môn,

“Từng ưng như thị thuyết.

[4] Xem Trung A-Hàm 43: kinh Câu-lâu-sấu Vô Tránh; Tăng Nhất A-Hàm 3, 28; Luận Ðại Tỳ-bà-sa 179; Luận Ðại Trí Ðộ 53; Kinh Thí-Dụ 1; Duy-Ma Kinh Văn Sớ 13; Ðại Ðường Tây Vực Ký 1.

[5] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tạp A-Hàm 10, 16; Trung A-Hàm 2: Kinh Thất Xa; Tăng Nhất A-Hàm 2, Phẩm Ðệ Tử; Phật Bản Hạnh Tập Kinh 37: Kinh Mãn Nguyện Tử; Kinh Ðạo Hành Bát Nhã 1, Phẩm Ðạo Hạnh; Luận Phân Biệt Công Ðức 4; Luận Ðại Trí Ðộ 3; Huyền Ứng Âm Nghĩa 3, 8.

[6] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tạp A-Hàm 13; Luật Ma-ha Tăng-ký 23.

[7] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Trưởng Lão Kệ; Tạp A-Hàm 9, 19, 20; Luật Ngũ Phần 21; Luật Thập Tụng 25; Pháp Hoa Kinh Văn Cú 1, hạ; Huệ Lâm Âm Nghĩa 8; Thai Tạng Giới Thất Tập, thượng.

[8] Theo Geography of Early Buddhism, trang 22, chữ Avanti.

[9] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 267-270; Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Trung A-Hàm 18: kinh Bát Niệm; Trường A-Hàm 4: kinh Du Hành; Phật Bản Hạnh Tập Kinh 58; kinh Phật Ngũ Bá Ðệ Tử Tự Thuyết Bản Khởi, phẩm A-na-luật; Luận Ðại Trí Ðộ 11.

[10] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 267-270.

[11] Xem Anguttara Nikaya VII 58; Digha Nikaya 33.

[12] Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội : Trong khi thiền định, tập trung tư tưởng hoàn toàn vào sự nhận thức ánh sáng, cho đến khi nhắm mắt cũng thấy toàn ánh sáng khắp mọi nơi như lúc đang nhìn mặt trời mọc. Quán biết ánh sáng là vô thường, khổ, vô ngã như tất cả mọi vật khác. Xem quyển The Path of Purification (Visuddhi-Magga), chương IV và V, của Bhikkhu Nanamoli, Colombo, 1956; Buddhist Legends, quyển I, trang 21-22; Vocabulaire Pali-Français, trang 101, chữ Kasina.

[13] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tăng Nhất A-Hàm 3, Phẩm Ðệ tử; Luật Tứ Phần 4, 5; Luật Ngũ Phần 30; Luật Ma-ha Tăng-kỳ 32; Luận Ðại Trí Ðộ 2.

[14] Sa-di (samanera), sa-di-ni (samaneri) là ngườI tập sự xuất gia nam và nữ.

Sa-di phải thọ 10 giới: 1-Không sát sanh; 2-Không trộm cắp; 3-Không dâm dục; 4-Không nói dối; 5-Không uống rượu; 6-Không ngồi ghế cao, nằm giường rộng; 7-Không xức nước hoa, đeo đồ trang sức; 8-Không múa hát xướng ca, không xem, không nghe; 9-Không cầm giữ tiền bạc và vật quý giá; 10-Không ăn phi thời.

[15] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tạp A-Hàm 1, 8; Phật Bản Hạnh Tập Kinh 55; Kinh Thập Nhị Du; Luật Tứ Phần 11; Duy-ma-cật Kinh Chú 3; Pháp Hoa Huyền Tán 1.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *