Home / TRIPITAKA / Đại tạng kinh tiếng Việt / Tam Tạng Kinh Điển Bắc Truyền / 11. Bộ Luật Tạng / [1444] CĂN BỔN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ NẠI DA XUẤT GIA SỰ

[1444] CĂN BỔN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ NẠI DA XUẤT GIA SỰ

Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Xuất Gia Sự

Hán dịch: Đường Tam Tạng Nghĩa Tịnh
Việt dịch: Tỳ Kheo Tâm Hạnh

-o0o-

Quyển thứ nhất

Thành kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.

Tổng nhiếp tụng:

Xá Lợi Tử xuất gia
Tinh ngoại đạo, nhị nhân
Cập khu-ô thiếu nhi
A-la-hán bệnh nữ.

Biệt nhiếp tụng:

Xá Lợi Tử xuất gia
Hứa thọ Cận viên pháp
Ðiều phục vị tiểu quân
Ngoại đạo tinh ngũ chủng

Khi ấy, có vua nước Chiêm Ba, tên Ương Già. Ðồng thời, láng giềng có vua nước Ma Yết Ðà, hiệu Ðại Liên Hoa. Nhân dân hai nước đều giàu có, thịnh vượng, yên ổn. Với binh mã hùng cường, tinh nhuệ, hai nước đánh nhau thắng bại qua nhiều năm. Sau đó, vua Ương Già với nước giàu dân mạnh, vì mưu tính việc oán thù nên cố gắng luyện tập quân đội hùng mạnh, định ngày lập quyết tâm cùng nhau tiêu diệt quân địch.

Bấy giờ, những người ở vùng biên giới biết trước, sai sứ giả báo cho vua Liên Hoa biết. Nhà vua nghe tin, xuất binh chống lại để bảo vệ đất nước. Hai bên giao binh đánh nhau, vua Liên Hoa bị thua, rút quân về thành, đóng cửa cố thủ.

Khi ấy, vua Ương Già tính không khắc nghiệt, sai sứ đến báo với vua Liên Hoa rằng: “Nếu hàng phục thì tốt, bằng không, quyết không thể dung thứ. Giả sử có bay lên trời cũng giăng lưới ra bắt. Giả sử có trốn vào nước cũng giăng dây trói lại. Dù cho trốn lên núi, chạy vào rừng cũng không thoát khỏi” .

Vua Liên Hoa nghe thế rất sợ hãi, bảo với quần thần:

– Nay quân đội của Ương Già hùng cường, sứ giả đến đây, đất nước đang bị nguy ngập trầm trọng, các khanh có phương pháp nào để cứu vãn không?

Quần thần tâu vua Liên Hoa bằng kệ:

– Có vua thì có nước
Không vua, nước không còn
Nước mất trùng hưng được
Người chết không sống lại
Nước và người khác nhau
Người nên khéo giữ mạng
Nước mất, lập trở lại
Mất mạng, không sống lại

Khi ấy, quần thần khuyên vua nên đầu hàng. Vua nghe theo ý kiến này, tự trói mình đến gặp vua Ương Già, cùng nhau lập hòa ước vĩnh viễn triều cống.

Sau khi công việc hoàn tất, vua Liên Hoa được thả về.

Bấy giờ, đức Bồ tát đang ở thiên cung Ðổ Sử. Ngài quan sát thế giới thấy có đủ năm việc nên Ngài muốn giáng sinh. Chư thiên ở cõi trời Lục Dục liền chuẩn bị những việc cần thiết.

Ngay tại thành Ca Duy La Vệ, chọn bà phu nhân Tam Tịnh Ma Da – thuộc gia đình vua chúa Duyệt Ðầu Ðàn – là chỗ nhập thai. Do nhân duyên này, khiến cho bà Ma Da thấy giấc mộng rất tốt đẹp. Bà thấy: Bồ tát hiện hình voi trắng, giáng thần vào thai mẹ. Ngay lúc ấy, đại địa chấn động, ánh sáng rực rỡ, che mất cả màu sắc của vàng ròng, chói lọi cả thế giới, vượt hơn cả mặt trời, mặt trăng. Phương trên, vượt lên hết cõi trời Ba mươi ba, rực rỡ khắp nơi, xua tan hết tất cả những nơi tối tăm. Giả sử như đem bỏ đi tất cả ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, khắp nơi đều tăm tối, không phân biệt được gì cả, nhưng ánh sáng thần thánh này rọi đến đều thấy nhau rõ ràng khắp nơi. Ðây là biểu tướng thị hiện của Thánh nhân, không phải là chỗ hiểu biết của thế gian.

Khi ấy có bốn vua của bốn nước lớn:

– Một: vua Ðại Liên Hoa của thành Vương Xá.
– Hai: vua Ðại Ma La của thành Thất La Phiệt.
– Ba: vua Ðại Xà Ða Di của thành Ô Xá Ny.
– Bốn: vua Ðại A Nan Ða Nê Di của thành Kiều Xá Di.

Ngay trong ngày giáng sinh của Bồ tát, tại hậu cung của bốn vua này đều sinh thái tử.

Ngày vua Ðại Liên Hoa sinh con, gặp phải ánh sáng rực rỡ này, cho là điềm lành của con mình, tự nghĩ: “Uy đức của con ta như mặt trời mọc, uy quang của con ta có thể chiếu sáng thế giới”. Vì ánh sáng kia thù thắng, biểu thị cho điềm lành vui vẻ, nhân đó, vua đặt tên con là thái tử Ảnh Thắng.

Khi ấy, đại vương Ma La cũng như vua Liên Hoa, vì thấy ánh sáng quang minh kia, cho là điềm lành của con mình, nên phát biểu:

– Nay con ta mới sinh, só sự vui vẻ mầu nhiệm rất thù thắng, ánh sáng khắp nơi, quốc gia thanh bình an ổn, tốt nhất là lấy theo đức ấy để đặt tên.

Nhân đó, vua đặt tên con là thái tử Thắng Quân.

Khi ấy, vua Xà Ða Di cũng như hai vua kia, cho là đi?m lành của con mình, phát biểu rằng:

– Con ta có đức nên ánh sáng xuất hiện, nên đặt tên biểu thị theo điềm lành vui vẻ.

Nhân đó, vua đặt tên cho con là thái tử Xuất Quang.

Khi ấy, vua A Nan Ða Nê Di cũng như các vua kia, cho là điềm lành của con mình nên nói rằng:

– Con ta đản sinh như mặt trời mới mọc, tỏa ánh sáng phá bóng tối, ánh sáng chiếu cao rộng, biểu thị sự tốt đẹp may mắn.

Nhân đó, vua đặt tên con là thái tử Nhật Sơ.

Bấy giờ, bốn vị quốc vương đều cho là con mình có những điềm lành nên dựa theo điềm lành này mà đặt tên. Họ đều không biết những sự biểu hiện này là do thần lực của Bồ tát Thích Ca. Nhưng, các vị vương tử này đều có tích tập thắng nhân từ lâu, có đại nguyện lực, đều đem theo quyến thuộc, tùy theo bậc Thánh, sinh đến đây.

Thế nên, khi Ảnh Thắng ra đời, cũng là thời gian bậc dị nhân xuất hiện, làm cho ngay trong một ngày, năm trăm đại thần đều có sinh một con trai, tùy theo tộc họ của mình mà đặt tên.

Thái tử Ảnh Thắng được bố trí tám bà nhũ mẫu nuôi dưỡng. Ngày qua tháng lại, thái tử như hoa sen vượt lên khỏi nước, học tập các môn binh thư, kỹ nghệ, lịch số, kế toán cùng tất cả vương pháp của bua Quán đảnh Sát-đế-lợi, thông thạo tất cả. Thái tử còn lưu tâm đến việc công xảo và các phép tắc điều khiển voi, ngựa, xe cộ, bắn cung tên, học tập các phương pháp cầm binh đánh kiếm, trị thương…. Tất cả các việc này, thái tử đều thông thạo. Ðối với bốn chỗ hiểu biết phải học tập cho tinh tường (Tứ Vệ-đà), thái tử cùng con của năm trăm đại thần đều thông đạt tất cả.

Vào thời gian nọ, thái tử tham dự việc quốc gia. Nhân khi ngày nghỉ, thái tử voi du hành trong nhân gian, thấy có người đang thu thuế, thái tử hỏi tùy tùng:

– Những người này tại sao được thu thuế?

Ðáp:

– Ðây là sứ giả của vua Ương Già, nước láng giềng, từ xa đến thu thuế theo quy đ?nh.

Thái tử hỏi:

– Nước ta tại sao lại đóng thuế cho họ?

Ðáp:

– Từ xưa đến nay đã quy định như vậy.

Tức thì thái tử triệu sứ giả đến hỏi:

– Nước ngươi cũng là vua Sát-lợi quán đảnh, nước ta cũng là vua Sát-lợi quán đảnh. Sự trị nước không đồng, nhân dân cung khác, tại sao các người vượt qua biên giới của mình đến đây thu thuế? Các ngươi hãy mau trở về nước. Từ nay ta vĩnh viễn cấm tuyệt sự việc này.

Sứ giả kia nghe vậy, tự nghĩ: “Ðây là thái tử bản tánh ngang ngược, ý muốn bội ước để cho ta trở về tay không. Chúng ta nên đến gặp vua Ðại Liên Hoa để tiến hành việc trưng thu này” .

Sau khi gặp vua, họ được vua ra sắc lệnh: được trưng thu theo như cũ.

Trên đường về, thái tử gặp lại những sứ giả này, họ tiếp tục thu thuế như cũ chứ không đình chỉ. Thái tử bảo:

– Ta đã ra lệnh cho các ngươi rời khỏi nơi đây, tại sao các ngươi còn lưu lại? Hãy trở về thì tốt, nếu không rời khỏi thì bị trừng phạt.

Những người kia sợ hãi, cùng tập họp nhau lại trở về nước.

Sau khi về nước, họ tâu tất cả sự việc lên nhà vua:

– Thái tử Ảnh Thắng là người bạo ngược, làm trái hiệp ước, không cho phép thu thuế. Cầu mong nhà vua sớm có kế hoạch đối phó. Nếu không làm ngay, sợ sinh ra tai họa sau này.

Nhà vua dùng kệ nói với các sứ thần:

– Cây lớn khi trong mầm
Móng tay bấm đứt ngay
Cao lớn liên kết nhau
Búa rìu không chặt ngã.

Bấy giờ vua Ương Già rất giận, liền sai sứ mang thư đến cho vua Ðại Liên Hoa, nói rằng: “Ảnh Thắng nghịch mạng, phải trói cổ dẫn đến đây ; bằng không, ta sẽ thân chinh đến giết nó. Nên hiểu ý trẫm”.

Vua Liên Hoa nghe xong, cùng quần thần kinh hãi, chỉ sợ mất nước, liền triệu Ảnh Thắng đến, trách cứ việc chống cự kia và đưa thư cho Ảnh Thắng xem. Ảnh Thắng tâu:

– Họ là vua Sát-lợi quán đảnh. Nước ta cũng là vua Sát-lợi quán đảnh. Lãnh thổ khác nhau, tại sao lại phải nộp thuế cho họ? Ngưỡng mong đại vương ban cho bốn loại binh để con tự chống lại với họ.

Bấy giờ, vua Liên Hoa tự nghĩ: “Ảnh Thắng có thể gánh vác được việc lớn”, nên vua mới phúc thư cho vua Ương Già. Thư rằng:

“Qua thư, ngài muốn sai tôi truy tìm Ảnh Thắng và ra lệnh cột cổ đưa đến cho ngài. Nhưng đứa con này, tôi muốn nó được kế tục sự nghiệp của tiên vương. Lệnh trên tuy đáng làm nhưng tôi chưa dám vâng theo. Ðại vương tất muốn dùng đao to chém xuống, khí mạnh lấn sang, binh mã tràn đồng. Tôi chỉ biết chờ ngài xử tội” .

Vua Ương Già được nghe tâu như vậy, tức giận vô cùng, liền ra lệnh tổng động viên quân lực toàn quốc, trang bị khí giới. Vua sẽ thân chinh phá diệt Liên Hoa, xử trảm Ảnh Thắng.

Nhà vua liền đưa ngàn vạn quân sĩ, binh mã mạnh mẽ, cờ xí rợp đất, chuông trống vang trời, tiến vào nước Ma Yết Ðà.

Khi ấy, vua Liên Hoa kinh hãi, liền triệu Ảnh Thắng đến, giao cho bốn loại binh. Thái tử vâng lệnh vua, thống lĩnh con của các đại thần, truyền lệnh:

– Vua Ương Già cùng nước ta vốn có cựu thù, nay ta phải phục hận. Bọn giặc ấy khi xâm lấn đến nước ta có nhiều mưu chước. Các người đã có công lao nhiều đời, lại thọ ân sũng của quốc gia, có những phương sách nào giúp ta để phá giặc, giữ yên cho nhân dân không?

Tất cả đáp:

– Chúng tôi tuy không có kế gì nhưng dám liều thân theo phò thái tử.

Khi ấy, Ảnh Thắng nói kệ:

– Trị quốc, dưỡng nhân dân
Phải nên khéo giữ gìn
Nếu ngoại xâm lấn chiếm
Bá tánh biết nương đâu?

Thái tử bảo với mọi người:

– Các người phải đồng tâm hiệp lực hộ vệ ta.

Nói thế xong, thái tử ra lệnh ba quân, binh mã tiến hành. Vua Ðại Liên Hoa leo lên lầu cao, cùng các thị vệ vây quanh, xem quân đội ở từ xa, nói với quần thần:

– Ðấy là binh của ai?

Ðáp:

– Ðấy là binh của thái tử Ảnh Thắng.

Vua nói:

– Các ngươi nên biết, binh sĩ ấy rất đông, nên gọi là binh chủng Ảnh Thắng. Trong ấy, hoặc gọi là thang lớn Ảnh Thắng.

Như vậy có những lời khen tặng về uy đức hùng mạnh của thái tử.

Khi ấy, thái tử bảo mọi người:

– Ta nghe người thiện chiến không phải mệt nhọc về quân trận. Nay vua Ương Già có binh mã to lớn, số lượng rất đông, không thể đối địch với chúng, chỉ gây thương tổn cho ta. Ta phải dùng mưu thần bí quyết bắt họ là thượng sách.

Thái tử tuyển mộ những người mạnh khỏe, chờ lúc địch không phòng bị, giết vua Ương Già. Ba loại quân của sáu sư đoàn nhất thời tan rã. Thái tử vội chỉnh đốn quân mã tiến về phương Bắc. Người nước kia không biết vua Ương Già đã chết nên cố thủ thành.

Khi ấy, thái tử Ảnh Thắng ra lệnh treo đầu vua Ương Già lên ngọn giáo cho trong thành thấy và ra lệnh:

– Ðây là đầu vua Ương Già, các ngươi hãy mau mở cửa thành. Nếu không thi hành, sẽ bị chết hết trong một lúc.

Mọi người nghe nói vậy rất sợ hãi, tức thì mở cửa. Các vị đại thần cột cổ quy hàng, nhân dân bá tánh đều chịu phục tùng.

Khi thái tử Ảnh Thắng vào thành rồi, sai sứ về tâu lên vua cha:

– Nhờ uy lực của đại vương và quần thần tận lực, tên nghịch mạng Ương Già đã bị trừ diệt. Khắp nơi không còn sự lo lắng, xa gần đều an ổn.

Vua Liên Hoa nghe vậy, vô cùng mừng rỡ, liền đem các loại y phục, chuỗi ngọc trang sức và lọng bảy báu đến tặng cho Ảnh Thắng và phong làm vua nước Chiêm Ba, thay thế vua Ương Già. Nhân dân cả nước đều gọi là đại vương Ảnh Thắng.

Sau đó, thần công thánh đức của Ảnh Thắng thông cả bốn biển, nhân dân phong phú an lạc, trộm cướp không còn, uy đức vang dậy, luu bố gần xa.

Một thời gian sau, vua Liên Hoa băng hà, quần thần nước Ma Yết Ðà báo tin cho Ảnh Thắng biết và mời về để trị nước.

Bấy giờ, Ảnh Thắng đem hết việc nước của Chiêm ba giao cho cựu thần rồi trang bị xe cộ trở về nước thọ tang.

Sau tang lễ, Ảnh Thắng kế vị vua cha, dùng pháp giáo hóa dân, mưa thuận gió hòa, mùa màng sung túc, khắp nơi an ổn, đức độ được xây dựng cao tột, các nước lân cận đều kính nể, không có oán tặc.

Bấy giờ, ở Trung Thiên Trúc có con của một Bà la môn muốn học pháp thuật nên đi khắp nơi, đi dần đến phương Nam.

Tại Nam Thiên trúc có một đại Bà la môn tên là Ðịa Sư thông thạo bốn bộ luận, được mọi người tôn xưng là Ðại sư. Người này đến gặp Ðại sư, lạy sát chân, chấp tay thưa:

– Con xin làm lễ ra mắt, được xin làm đệ tử.

Ðại sư hỏi:

– Con muốn học gì?

Ðáp:

– Con muốn học bốn bộ luận Vệ-đà.

Ðại sư nói:

– Ta đồng ý cho ngươi học theo ý muốn.

Sau đó, người đệ tử này theo học các pháp sự.

Theo pháp của Bà la môn, mỗi tháng có ba ngày không làm các việc khác, ngoại trừ ba việc là khi tắm rửa, khi đi phố chợ, khi đốt củi.

Ðến ngày này, các vị đệ tử Bà la môn cùng nhau đi lấy củi để đốt. Trên đường đi, họ hỏi nhau về chủng tộc, quê quán, bốn họ độc tử, tùy theo từng họ trả lời. Họ lại cùng nhau hỏi rằng:

– Người ở phương nào?

Một người trả lời:

– Tôi ở phương Ðông.

Có người trả lời:

– Tôi ở phương Nam.

Có người trả lời:

– Tôi ở phương Tây.

Có người trả lời:

– Tôi ở phương Bắc.

Lại có người nói:

– Các quốc độ kia, ta đều được nghe thấy.

Họ nói kệ rằng:

– Phương Ðông trí tuệ
Phương Tây lưỡng thiệt
Phương Nam kính thuận
Phương Bắc ác khẩu.

Các vị đệ tử Bà la môn nói:

– Các xứ khác ta đã biết như vậy, không biết Trung Ấn như thế nào?

Các vị đệ tử hỏi thầy họ:

– Ô Ba Ðà Da! Con muốn đến Trung Ấn để xem xứ sở ấy. Con muốn tắm rửa bằng nước nơi đó, tham kiến các vị thầy nơi đó. Con muốn hàng phục các luận sư ở nước ấy. Tên tuổi của chúng ta sẽ vang dậy khắp nơi, thu hoạch nhiều của cải, thật là lợi ích!

Vị thầy Bà la môn này sinh tâm niệm rất ưu ái đối với đệ tử nên đem y vật phân chia cho các đệ tử. Sau khi chuẩn bị xong, họ cùng nhau đi về Trung Ấn.

Trên đường đi, họ gặp những người có trí tuệ đều bàn luận cùng họ, họ đều thắng cuộc. Có lúc họ khuất phục người, dùng bình đựng tro đổ lên đầu kẻ bị thua. Có nhiều người đến học nghệ thuật cung tiễn, chiến cụ, họ đều dạy bảo. Có những người đem hoa, hương, phan lọng, bảo cái đến tiếp nghinh họ. Lại có vô số người đến phụng sự họ như thầy. Họ đi dần dần qua các nước, thành phố, xóm làng, đến đâu thắng đó.

Khi mới đến Trung Ấn, Bà la môn tự nghĩ: “Ta nghe những người có trí đều tập trung ở triều đình. Hôm nay ta cũng nên đến đó để hàng phục họ. Việc này như thế nào? – Như cây lớn có gốc và nhành lá, những nơi ta đi qua cũng như nhành lá. Tại triều đình, nếu ta thắng, cũng như chặt gốc. Nay ta nên đến chỗ vua ở”.

Bà la môn nghĩ thế, đi đến chỗ vua.

Sau khi chúc thọ vua sống lâu không bệnh, Bà la môn đứng qua một bên, tâu vua rằng:

– Hạ thần từng được học ít nhiều nơi thầy dạy, ngưỡng mong được cùng với các vị thầy trong nước này đàm luận.

Nhà vua bảo:

– Ta đồng ý lời yêu cầu này.

Vua lại bảo các đại thần:

– Ngay trong đất nước của ta, có những vị Bà la môn nào có thể cùng vị này đàm luận không?

Quần thần tâu:

– Có Bà la môn ở thôn Na La, thông hiểu bốn bộ luận Vệ-đà, trí tuệ như lửa cháy. Ông ta tự soạn lấy sách luận đề tên là Ma Thát La.

Nhà vua bảo:

– Hãy mời vị Ô Ba Ðà Da ấy lại đây.

Ðại thần y lệnh, mời Bà la môn ở thôn Na la đến.

Sau khi vị này chúc tụng xong, vua hỏi:

– Người có thể cùng vị Bà la môn kia luận nghị trước mặt ta không?

Vị này đáp:

– Phụng mệnh nhà vua, thần sẽ gắng hết sức để thù tiếp vị kia.

Khi ấy, theo phép tắc, bố trí Mạn-đà-la (đạo tràng), hai bên cùng ngồi vào chỗ đã được soạn sẵn.

Nhà vua ra lệnh:

– Ai trình bày trước?

Ðại thần tâu:

– Vị Bà la môn khắc tên địa sư có thể trình bày trước.

Ðịa sư vâng lệnh, tụng năm trăm bài kệ rồi im lặng.

Bấy giờ, Ma Thát La tụng lại bài tụng này, làm nổi lên rất nhiều lỗi sai sót trong bài tụng của địa sư.

Ma Thát La phát biểu:

– Ngôn nghĩa trong bài tụng của ngài không phù hợp với bài của tôi, không đúng với đạo lý.

Ðịa sư nghe xong, im lặng không biết nói gì. Theo pháp luận nghị, im lặng không trả lời là chấp nhận thua.

Nhà vua hỏi quần thần:

– Ai thắng? Ai thua?

Ðại thần tâu:

– Ma Thát La luận nghị đắc thắng.

Nhà vua rất vui vẻ, phán rằng:

– Trong đất nước ta cũng có người thông minh đại trí tuệ như thế này!

Nhà vua hỏi tiếp:

– Này Ô Ba Ðà Da, người ở tụ lạc nào?

Ðáp:

– Thần ở thôn Na La.

Nhà vua liền phong thưởng cho thôn Na La, tùy ý thọ dụng.

Thông thường, người đời nếu muốn cầu sự sung sướng, có những nữ Bà la môn đang kén chồng nhưng chưa có nơi vừa ý, bấy giờ Ma Thát La chọn lấy một cô vừa ý làm vợ, sống chung hạnh phúc, không lâu sinh được một con trai. Họ lập hội vui mừng rất to lớn. Bé trai này thân thể cao dài, nhân đó họ đặt tên con là Trường Thể và nuôi dưỡng chu đáo.

Trường Thể lớn lên, được dạy các nghề như: kế toán, thủ ấn, Bà la môn hạnh, tẩy tịnh, lấy tro, lấy đất, ca vịnh bốn sách Vệ-đà, cúng tế, đọc tụng, thành tựu sáu cách cho và nhận.

Sau đó, hai vợ chồng Ma Thát La sinh thêm một gái. Cô gái này có đôi mắt như chim Anh Lạc (anh vũ). Thân thuộc tập họp đặt tên cho cô là Anh Vũ. Cô này được nuôi dưỡng, khi trưởng thành được cha dạy cho văn học và các pháp luận nghị.

Sau đó, cô ta thường luận nghị cùng anh. Khi cô luận nghị, thắng cả anh mình. Người cha bảo con rằng:

– Con là đàn ông, lý luận thua con gái, ta thật không người thừa kế. Tài sản của ta chắc chuyển qua người khác.

Sau đó, ở Nam Thiên Trúc có đồng tử Bà la môn tên Ðể Sa, thông hiểu về Vô hậu thế luận. Ðể Sa vì cầu pháp nên từ Nam Thiên Trúc đến gặp Ma Thát La, lạy sát hai chân, thưa:

– Ðại sư! Con muốn học đạo với Ô Ba Ðà Da.

Hỏi:

– Ngươi muốn học nghề gì?

Ðáp:

– Con muốn học Vô hậu thế luận.

Thầy nói:

– Ta nhận lời của người.

Sau khi Ðể Sa thọ pháp rồi, gặp lúc hết giờ học luận thuyết với các bạn, luôn luôn thắng cuộc. Sau đó, đồng tử Ðể Sa cùng thầy luận thuyết trước vua. Hai bên chia làm hai nhóm. Ma Thát La là bậc niên trưởng nên được phát biểu trước.

Ma Thát La tự nghĩ: “Ðồng tử Bà la môn này mới học thành tài, sợ bắt bẻ không được, vậy nên đẩy hắn vào chỗ rối loạn” .

Nghĩ thế xong, Ma Thát La tụng năm trăm bài kệ dài. Ðồng tử Bà la môn tụng kệ đáp lại, bác bỏ được những chỗ sai lầm của Ma Thát La, đây là lời sai, đây là câu sai, thuyết này không đúng.

Ma Thát La phải đứng im lặng.

Phàm biện luận không bằng, không trả lời được là bị thua.

Bấy giờ, vua hỏi quần thần:

– Ai thắng?

Quần thần tâu:

– Bà la môn Ðể Sa thắng.

Nhà vua phán:

– Người thắng được ban cho thôn ấp.

Khi ấy, các đại thần tâu vua rằng:

– Nếu có người đến đây lý luận thắng cuộc thì được thưởng thôn ấp. Vậy thì, không bao lâu nước Ma Yết Ðà sẽ mất hết. Nên thu lại thôn ấp của Ma Thát La ban cho Ðể Sa xử dụng.

Bấy giờ vua phán:

– Ðúng vậy.

Và thu lại thôn ấp đã ban cho Ma Thát La để ban cho Ðể Sa.

Ma Thát La về nhà bảo vợ rằng:

– Này hiền thủ! Mau chuẩn bị hành trang đi đến phương khác.

Vợ hỏi:

– Tại sao?

Ðáp:

– Ta lâu nay thừa sự nhà vua, nay gặp lúc luận nạn, vua không giúp đỡ ta, đoạt lại thôn ấp của ta.

Người vợ thu xếp hành trang, sắp lên đường. Bấy gi? thân tộc nghe việc này, đến hỏi thăm:

– Ô Ba Ðà Da! Tại sao thu xếp hành trang?

Ðáp:

– Từ lâu ta thừa sự nhà vua. Khi ta bị luận nạn, vua không che chở cho ta, thế nên ta phải ra đi.

Thân tộc nói:

– Thầy sống ở đây thật tốt, mong ở lại đây với thân tộc.

Ma Thát La nói kệ:

– Trong nước bị người khinh
Sống nước ngoài tốt nhất
Nơi không bị khinh khi
Là quê hương thân tộc.

Khi ấy, Bà la môn Ðể Sa nghe vậy, nói rằng:

– Này Ô Ba Ðà Da! Tôi là người khách, chỉ ở tạm để rồi đi. Thôn ấp tôi được nhận lãnh, xin giao lại cho ngài.

Bấy giờ, Ma Thát La tuy được ân huệ này nhưng vẫn không chịu nhận.

Ðể Sa lại nói:

– Ngài hãy thư thả ở lại đây, nhận một nửa thôn ấp, tôi nhận một nửa.

Ma Thát La đáp:

– Lành thay!

Sau đó, Ma Thát La bảo vợ rằng:

– Này hiền thủ! Ta phục vụ nhà vua đã lâu nhưng vua không bảo hộ ta. Nay Ðể Sa tạo một ân huệ lớn, cho ta nửa thôn ấp, ta nên gả con gái cho người ấy làm vợ.

Vợ nói:

– Hãy đợi ý kiến của con lớn Câu Tỳ Sỹ La.

Người cha bảo với con:

– Ta phục vụ nhà vua đã lâu, khi gặp luận nạn vua không bảo hộ ta. Bà la môn Ðể Sa có ân huệ lớn, cho ta nửa thôn ấp. Nay ta đưa Xá Lị làm vợ Ðể Sa.

Người con thưa cha:

– Ðể Sa này là kẻ thù oán của cha, đoạt thôn ấp, lẽ nào ta kết làm người thân?

Người cha bảo:

– Ngươi thật ngu si, không hiểu biết gì. Ý kiến chân chính của cha mẹ, con phải vâng theo, không được chống lại.

Sau đó, Ma Thát La y theo lễ pháp gả con gái cho Ðể Sa.

Bấy giờ, Câu Tỳ Sỹ La tự nghĩ: “Nay ta bị xem thường chỉ vì ít nghe kém học. Nhưng Bà la môn Ðể Sa này do thông hiểu Vô hậu thế luận nên đắc thắng. Ta cũng nên học luận này”.

Nghĩ thế rồi, Câu Tỳ Sỹ La tìm hỏi về những người ở xứ nào, phương nào, nước nào thông hiểu về Vô hậu thế luận.

Có người bảo rằng:

– Những người ở phương Nam giỏi nhất.

Câu Tỳ Sỹ La đi dần về Nam Thiên Trúc, hỏi khắp trong nước: ai thông hiểu về Vô hậu thế luận. Có người mách bảo:

– Có Phạm chí tên….

Câu Tỳ Sỹ La nghe lời chỉ dẫn, đến gặp đạo sĩ, thưa rằng:

– Bạch tôn giả, con muốn thờ ngài làm thầy, ngưỡng mong ngài tiếp nhận.

Vị Phạm chí hỏi:

– Ngươi muốn cầu việc gì?

Ðáp:

– Con muốn học Vô hậu thế luận.

Phạm chí nói:

– Ta không truyền dạy cho người cư sĩ thế tục.

Câu Tỳ đáp:

– Nếu phải như vậy, nay con xuất gia.

Phạm chí cho Câu Tỳ xuất gia. Câu Tỳ tự kỳ hạn:

– Nếu ta không thông hiểu luận này, quyết không cắt móng tay.

Do đó, móng tay Câu Tỳ rất dài. Người bấy giờ gọi Câu Tỳ là Trường Trảo Phạm chí.

Nói về Xá Lị cùng Bà la môn Ðể Sa chung sống hạnh phúc với nhau. Có vị thiên cõi Tịnh Cư đã trồng căn lành từ lâu, sẽ thọ thân tối hậu, không còn thích sinh tử nữa, chuyên cầu Niết-bàn, không cầu đời sau. Vị này với thân tối hậu, ẩn mất từ cõi trời Tịnh Cư, thác vào thai bà Xá Lị.

Ngay khi thọ thai, bà Xá Lị mộng thấy có người cầm đuốc đi vào bụng mình. Sau đó, bà đi lên núi lớn, rồi bay lên hư không, lại thấy mọi người làm lễ với bà.

Sau khi thức giấc, bà Xá Lị thưa với chồng về các sự việc trong giấc mộng. Bà la môn Ðể Sa tuy hiểu về sách giải mộng nhưng không đoán ra được sự việc này. Ông ta đi đến chỗ vị Bà la môn thông hiểu về sách giải mộng, nói:

– Vợ tôi thấy giấc mộng như vậy vào đêm trước.

Người Bà la môn giải mộng trả lời:

– Mộng này rất tốt.

Vị này ghi nhận rằng:

– Bà Xá Lị sẽ sanh con trai tốt. Năm mười bốn tuổi đọc tụng thông thạo các luận của thiên đế. Lại nữa, người này sẽ thắng tất cả các luận nạn. Thấy lên núi lớn, bay lên hư không, được mọi người lễ bái, v.v… như vậy người này sẽ xuất gia, có uy đức lớn, thành tựu đại giới, là bậc trời người cung kính, nên dự báo như vậy.

Sau đó, Bà la môn Ðể Sa luận nạn cùng Bà la môn Xá Lị, Xá Lị đắc thắng.

Bấy giờ Bà la môn tự nghĩ: “Trước đây, khi luận nạn, ta thắng Xá Lị, nay lại bị thua. Ðây so duyên cớ gì?” .

Ông ta lại nghĩ: “Ðây chính là do thai nhi, nhờ uy đức của nó nên Xá Lị đắc thắng. Sau khi đủ mười tháng, họ sinh hạ được một bé trai, hình dung đoan chánh, tướng mạo đầy đủ, thân thể như vàng ròng, đỉnh đầu tròn như cái lọng, tay dài quá gối, trán rộng bằng phẳng, mũi cao hướng thẳng, đầy đủ tướng mạo của bậc đại nhân. Gia đình, họ hàng mừng rỡ, tập họp lại, muốn đặt tên, sẽ đặt tên gì đây?

Người cha nói:

– Nên đưa nó về gặp ông ngoại để ông ấy đặt tên cho.

Sau khi gặp ông ngoại, người hầu Ðể Sa thưa rằng:

– Thưa ông, nên đặt đứa bé này tên là gì?

Ông ngoại nói:

– Nó là con của Ðể Sa, nên lấy tên là Ô Ba Ðể Sa.

Người hầu đưa đứa bé trở về, Ðể Sa hỏi:

– Ðứa bé tên gì?

Ðáp:

– Tên Ô Ba Ðể Sa.

Ðể Sa tự nghĩ: “Ðứa bé này lấy tên tộc bằng dòng họ cha. Nay ta lấy dòng họ mẹ đặt tên tự cho nó là Xá Lị Tử.

Người bấy giờ gọi Xá Lị Tử hay Ô Ba Ðể Sa.

Xá Lị Tử được giao cho tám bà nhũ mấu nuôi nấng.

Bấy giờ người mẹ nuôi con bằng sữa lạc hảo hạng cùng đề-hồ. Ðứa bé trưởng thành mau lẹ như hoa sen vượt lên khỏi nước. Ðứa bé lớn lên, được học tập thông đạt kỹ thuật, nghề nghiệp trong thế gian thông thạo cả bốn bộ Vệ-đà. Năm mười sáu tuổi, Xá Lị Tử thông hiểu ngôn ngữ của Ðế Thích (Phạn ngữ), thường bàn luận hàng phục kẻ khác.

Sau đó, trước mặt cha, Xá Lị Tử đọc các luận Vệ-đà, thưa cha:

– Những điều con vừa đọc tụng có ý nghĩ gì?

Cha đáp:

– Ta không biết.

Ðáp:

– Những lời tán tụng này là do những vị tiên từ ngàn xưa làm ra. Người bây giờ tuy không hiểu nghĩa, nhưng lời tán tụng của vị tiên chẳng phải không có nghĩa lý.

Xá Lị Tử học hành vượt hơn mọi người.

Người cha đã có năm trăm đệ tử, đều quy phục Xá Lị Tử. Bấy giờ, Xá Lị Tử dạy các đệ tử những minh luận một cách hoàn bị.

Khi ấy, ở tụ lạc Lâm Viên có một đại thần tên là Hình Ảnh, đang sống tại đó. Ông ta rất giàu có, hưởng thụ đầy đủ, thê thiếp tuy nhiều nhưng không có con. Ông ta mong cầu có con trai nên đối với bất cứ đền miếu, sơn lâm thọ thần nào, ông cũng đều đến cầu nguyện.

Có một người thân tối hậu, từ bỏ cõi thiên, thác vào thai mẹ, v.v…

Sau khi đứa bé ra đời, gia đình muốn đặt tên. Mọi người bảo rằng:

– Ðã là con do chư thiên mang đến, nên đặt tên là Thiên Bảo. Còn gọi là Mục Kiền Liên.

Trưởng giả Hình Ảnh xếp đặt tám bà nhũ mẫu để nuôi con. Ðứa bé được nuôi dưỡng trưởng thành như hoa sen vượt lên nước, v.v… như ở trước. Mục Kiền Liên học thông đạt sáu loại pháp sự, bốn luận Vệ-đà.

Bấy giờ, Thiên Bảo phụ trách dạy năm trăm đệ tử.

Sau buổi học, năm trăm đệ tử này vừa tụng tán, vừa đi vào thành.

Năm trăm đệ tử của Ô Ba Ðể Sa cũng tụng tán và đi vào thành.

Khi ấy, đệ tử của Ðể Sa nói với đệ tử của Mục Kiền Liên:

– Tại sao quý vị tụng sai luận văn?

Hỏi:

– Vì sao?

Ðệ tử của Ðể Sa hỏi tiếp:

– Quý vị học ở đâu?

Ðáp:

– Thầy của chúng tôi trú ở tụ lạc Lâm Viên, là con vị đại thần, tên Mục Kiền Liên, đầy đủ Nhất thiết trí, như mặt trăng, mặt trời. Chúng tôi học nơi vị ấy.

Ðệ tử của Ô Ba Ðể Sa với học vấn đầy đủ, không có sợ hãi, tâm ý vui mừng, đến gặp thân giáo sư. Thầy thấy học trò đến, hỏi rằng:

– Tại sao vui vẻ vậy?

Ðáp:

– Không có gì cả.

Thầy nói kệ:

– Trong lòng có tình ý
Có thể đoán biết được
Theo hình dạng ngôn ngữ
Biết ý nghĩ của họ.

Sau khi nói tụng, bảo đệ tử:

– Có việc đấy.

Ðệ tử đem sự việc vừa rồi trình bày với thầy, thầy nói:

– Những lời họ đọc tụng là cách đọc đảo ngữ văn của ta, đều đúng cả.

Ðệ tử nghe xong im lặng, không vui.

Khi ấy, các đệ tử của Mục Kiền Liên về gặp thầy, buồn bã không vui. Thầy thấy thế, hỏi:

– Tại sao không vui?

Ðáp:

– Không có gì!

Thầy bảo:

– Có việc đấy. Vì sao buồn?

Khi ấy, các đệ tử đem sự thật trình bày cho thầy nghe.

Thầy nói:

– Theo những lời họ tán tụng, thầy họ là bậc thông minh trí tuệ. Những là trường luận, đảo luận, thúc văn, dẫn văn cực kỳ xảo diệu.

Hai vị thầy nghe biết nhau nên muốn gặp gỡ.

Ô Ba Ðể Sa đến gặp cha, thưa:

– Con muốn đến tụ lạc Lâm Viên một lúc.

Cha hỏi:

– Tại sao?

Ðáp:

– Nơi ấy có vị đại thần tên Hình Thắng, người con tên Câu Lý Ða. Con muốn gặp anh ta.

Cha nói:

– Trí tuệ người ấy có thể thắng con.

Con thưa:

– Trí tuệ không thắng, nhưng anh ta giàu có, nhiều tài sản nên mọi người đều khen tốt.

Ô Ba Ðể Sa nói kệ:

– Niên trưởng đáng tôn trọng
Người nhiều tiền cũng vậy
Người học rộng nghe nhiều
Ðáng tôn trọng phục vụ.

Cha nghe con nói, bảo con rằng:

– Nếu anh ta đến đây, ta có thể truyền dạy, nhưng không nên đến đó.

Trong lúc ấy, Câu Lý Ða đến thưa với cha rằng:

– Con muốn đến tụ lạc Na Kích Ðà.

Cha hỏi:

– Tại sao?

Thưa:

– Ở đó có vị Bà la môn tên là Ðể Sa, có người con tên Ô Ba Ðể Sa. Con muốn đến gặp anh ta.

Cha hỏi:

– Họ giàu bằng con không?

Ðáp:

– Họ không giàu bằng nhưng trí tuệ hơn con.

Câu Lý Ða nói kệ:

– Niên trưởng đáng tôn trọng
Người học nhiều cũng thế
Nếu có nhiều tài sản
Ðều tôn trọng phục vụ.

Cha bảo con rằng:

– Nếu anh ấy đến đây, con nên tặng tài vật, nhưng không nên đến đó.

Thời gian sau đó, trong thành Vương Xá có lễ hội lớn. Khi ấy, theo phép vua, hoặc tự vua đến, hoặc sai thái tử. Bấy giờ, vua có việc riêng, không thể đi, liền sai thái tử Vị Sanh Oán đến tham dự cuộc vui chơi.

Hình Ảnh nghe thái tử du hành, tự nghĩ: “Vua Ảnh Thắng băng hà, thái tử Vị Sanh Oán sẽ kế nghiệp vương vị. Câu Lý Ða của ta sẽ thừa tự làm thần tử” .

Nghĩ như thế, Hình Ảnh bảo với con rằng:

– Con nên đến chỗ vui chơi, có bố trí bốn tòa cao, đó là: vương tòa, đại thần tòa, âm thanh tòa, Bà la môn tòa.

Cha lại bảo con:

– Con nên ngồi trên đại thần tòa.

Con nghe lời cha dạy, đi đến ngồi vào chỗ kia.

Khi ấy, Ðể Sa cũng nghe vua Ảnh Thắng, sai thái tử xuất thành vui chơi, bảo con rằng:

– Con nên đến nơi đó, xem bốn tòa cao. Con đem bình bát và tích trượng bố trí ở tòa thứ ba. Con lên ngồi ở tòa thứ tư. Từ sáng đến chiều tối sẽ có các luận sư, họ không bằng con được.

Con nghe cha dạy, đến ngồi ở tòa.

Khi ấy, mọi người tấu các loại âm nhạc, ca vịnh tán thán, Ô Ba Ðể Sa im lặng ngồi yên. Mọi người thấy vậy, bảo nhau rằng:

– Người này chắc là đại ngu. Nếu không phải ngu thì đại trí, thế nên im lặng.

Bấy giờ, Câu Lý Ða hỏi Ô Ba Ðể Sa:

– Bạn có thấy mọi người chơi âm nhạc, ca vịnh không?

Ðáp:

– Tôi chánh nội quán, không thấy các việc ấy.

Hỏi:

– Tuy không thấy nhưng lẽ nào không nghe?

Ô Ba Ðể Sa nói kệ:

– Da gân chết tấu nhạc
Làm mọi người vui vẻ
Vô thường mau như xe
Người trí biết, không vui.

Khi ấy, Câu Lý Ða và mọi người nghe bài tụng xong, liền hỏi:

-Người có phải là Ô Ba Ðể Sa không?

Ðáp:

– Mọi người nên biết, ta chính là Ô Ba Ðể Sa.

Ðể Sa hỏi lại Câu Lý Ða:

– Người có thấy âm nhạc …(như trên)… không?

Ðáp:

– Không thấy.

Ðể Sa nói:

– Người tham nội quán, nhưng tai không nghe hay sao?

Câu Lý Ða nói kệ đáp:

– Tất cả loại chuỗi ngọc
Trang sức làm nặng thân
Nhảy múa thân chuyển động
Bộ dạng thật hư cuồng.
Ca hát làm trò vui
Cũng như tiếng cọp gầm
Tất cả đều vô thường
Nghĩ thật có gì vui?!

Khi ấy, Ô Ba Ðể Sa hỏi:

– Người có phải là Câu Lý Ða không?

Mọi người nói:

– Ðúng vậy.

Ô Ba Ðể Sa nói:

– Tôi vì bạn nên đến đây để cùng bạn xuất gia.

Câu Lý Ða đáp:

– Những việc tế tự, tế thần lửa, cầu phúc, tu khổ hạnh, quả báo của từng loại, ta nắm trong tay. Ta là con nhà đại thần, thường đi bằng voi, tại sao phải xuất gia?

Khi ấy, Ô Ba Ðể Sa nói kệ:

– Khi cây đã muốn ngã
Nhánh lá không chống nổi
Chết đến cũng như vậy
Tài sản nào cứu nổi?!

Ô Ba Ðể Sa nói kệ xong, bảo rằng:

– Nhân giả, hãy đến đây, cùng tôi xuất gia.

Ðáp:

– Tôi phải hỏi cha mẹ.

Ðể Sa bảo:

– Hay lắm! Hãy đi đi!

Như đã trao đổi, Câu Lý Ða đến gặp cha, thưa rằng:

– Ngưỡng mong cha cho phép con vì lòng tin thanh tịnh nên xuất gia, bỏ nhà sống không nhà.

Cha bảo con:

– Những việc tế tự, phép tế thần lửa, cầu phúc, khổ hạnh được quả báo, con đã được thông thạo. Con lại là con nhà đại thần, là hạng người đi bằng voi, sẽ làm đại thần, tại sao lại xuất gia?

Câu Lý Ða ở trước cha, nói kệ rằng:

– Nên ở trong rừng, ăn vỏ cây
Sống chung với thú, ăn quả rừng
Không vướng quốc sự, khỏi ràng buộc
Người trí không làm việc đáng sợ.

Cha nghe con nói kệ xong, bảo con rằng:

– Cha chỉ có con, như mặt trăng đầu tháng, yêu thương như thế này, v.v… Phàm con trẻ phải theo ý kiến cha mẹ, nhưng ý nguyện của con không thay đổi, ta theo lời mong cầu, hứa cho con được xuất gia.

Bấy giờ, bạn bè của Câu Lý Ða đều tập trung đến. Câu Lý Ða phát thắng tâm, sách tấn thân ý, đến Na Kích Ðà thôn.

Ô Ba Ðể Sa thường ưa tịch tịnh, ở tại chỗ A-lan-nhã, thống lĩnh năm trăm đệ tử, đọc tụng thần chú Phạm Tinh. Câu Lý Ða đi dần đến tụ lạc Na Kích Ðà, hỏi mọi người:

– Ô Ba Ðể Sa ở đâu?

Người trong thôn đáp:

– Ðang ở nơi A-lan-nhã, thống lĩnh năm trăm người, tụng thần chú Phạm Tinh.

Câu Lý Ða đến chỗ A-lan-nhã. Sau khi gặp nhau, bảo Ô Ba Ðể Sa rằng:

– Việc xuất gia nay đã đúng lúc.

Ô Ba Ðể Sa hỏi:

– Anh đã được cha cho xuất gia rồi à?

Ðáp:

– Ðúng như vậy.

Ô Ba Ðể Sa nói với Câu Lý Ða:

– Anh hãy tạm ở đây. Tôi đi thưa cha tôi có cho phép tôi xuất gia không?

Câu Lý Ða hỏi:

– Anh đi hỏi, bao giờ trở lại?

Ðáp:

– Một lúc tôi trở lại ngay.

Ô Ba Ðể Sa đến gặp cha, thưa:

– Nay con có việc cầu xin, mong cha từ mẫn. Ý con muốn cầu thanh tịnh xuất gia.

Cha đáp:

– Việc này rất tốt, theo lời ước nguyện của con, ta cho con xuất gia.

Ô Ba Ðể Sa đến gặp Câu Lý Ða nói rằng:

– Này Câu Lý Ða! Cha mẹ tôi đã cho phép, nên đến đây để cùng đi xuất gia.

Lại hỏi mọi người:

– Các người có được cha mẹ cho phép xuất gia không?

Mọi người đáp:

– Cho phép.

Bấy giờ, Câu Lý Ða nói rằng:

– Tôi hỏi cha mẹ đã dự liệu ngày tháng. Quý vị tính toán thế nào, hãy đi đi rồi mau trở lại.

Ðáp:

– Gia sự của nhà ngài rất thâm hậu, nghiêm nhặt, cho nên đến trễ. Gia sự của tôi đơn giản thế, nên sẽ đến sớm. Không phải chỉ ngày hôm nay mà đến nay đã năm trăm đời, đã từng xuất gia, lại từng phát nguyện sẽ được sanh đến nơi không quá sang hay hèn, chỉ sống đời bình thường. Do đó, gia sự đơn giản nên mau trở lại.

Bấy giờ, Câu Lý Ða bảo mọi người rằng:

– Ta là bậc cao quý, nay muốn xuất gia, đâu được tùy tiện theo ý mình. Nay ta cùng nhau đến thành vua, tham vấn các vị tịnh phạm.

Khi ấy, lục sư ngoại đạo đang ở trong thành, đều tự cho rằng đã đắc các thần thông, tự tại vô ngại.

Nhóm Ô Ba Ðể Sa cùng Câu Lý Ða, v.v… tham vấn lục sự Bộ Kích Noa:

– Ngài hành pháp nhãn gì, tập giáo pháp gì, đắc quả gì? Nếu trì phạm hạnh, thu hoạch được thù thắng gì?

Vị thầy kia đáp:

– Ta nhận thức như thế này nên phát biểu như thế này: không bố thí, không ái, không kiến, không cúng tế, không hành động thiện, không hành động ác, không có quả Dị thục của nghiệp báo thiện ác, không đời này, không đời sau, không có cha, không có mẹ, không có hữu tình hóa sinh.

Trên thế gian không có A-la-hán, chánh hạnh, cho đến thành tựu, là bậc thấy được đời này, đời sau, chứng được thần thông, nói lên sự viên thành: Ta sinh đã tận, phạm hạnh đã lập, chỗ làm đã xong, không thọ thân sau. (Theo ta) chỉ có đời này, không có đời sau, chết là hết, bốn đại hợp lại, giả gọi là thân. Khi chết, bốn đại tự nó trở về với từng đại và về không giới thứ năm. Các căn biến đổi, đem tử thi này đốt nơi giữa rừng, cháy thành tro, trắng màu bồ câu thì không còn gì gọi là người nữa.

Ðã hiểu như vậy rồi, người trí có bố thí hoặc thọ thí hay không? Những ai nói có, đều là vọng thuyết, hư thuyết, tất cả đều ngu muội. Nếu là bậc trí, đều biết rõ sự đoạn hoại, không có thân sau.

Bấy giờ Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa tự nghĩ: “Vị thầy này trú ở chỗ phi đạo, hành động phi trí. Bậc nhân giả không nên học với họ. Tu hành theo đường này là nguy hiểm”.

Nghĩ như vậy, họ liền nói kệ:

– Tà kiến nói không đúng
Ưa thích pháp hạ liệt
Nếu thiện pháp như vậy
Thế nào là phi pháp?

Sau khi họ nói kệ, biết những lời này như đánh vào vật rỗng, sau khi đánh, họ bỏ ra đi.

Sau đó, họ đi đến gặp Mạt Yết Lị, Cù Xà Lị Tử, thưa rằng:

– Nhân giả hành pháp nhãn gì? Nếu giữ phạm hạnh thì thu hoạch được điều thù thắng gì?

Ðáp:

– Ðây là sự nhận thức của ta, ta phát biểu như thế này: Hữu tình thọ khổ không có nhân duyên gì cả. Ðược an tịnh cũng không có nhân duyên. Ðược an tịnh do ngẫu nhiên (tự nhiên), không do nhân duyên gì cả. (Nếu) hữu tình không có trí tuệ, không có tri kiến, đều không phải do nhân duyên. Hữu tình tự nhiên có trí tuệ, có tri kiến, không do nhân duyên.

Không có sự nỗ lực, không có tinh tấn, không trượng phu, không thế lực, không có hình hài của ta, không có hình hài của kẻ khác, không có hành động của ta, không có hành động của người.

Tất cả hữu tình, tất cả sinh mệnh, tất cả hữu loại không có trú xứ, không chỗ ở, không có quan niệm chính xác về chánh đạo, về quy y của hữu tình, về khổ lạc, giác ngộ. Ấy là sáu đạo chúng sanh.

Khi ấy Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa tự nghĩ: “Vị thầy này đang trú nơi phi đạo, đi theo đường tà. Bậc trí từ bỏ, vì đây là đường hiểm” .

Họ biết thế rồi nói kệ:

– Tà kiến nói không đúng
Ưa thích pháp hạ liệt
Nếu thiện páp như vậy
Phi pháp như thế nào?

Nói kệ xong, như đánh vào vật trống không, nên họ bỏ đi.

Sau đó, họ đến gặp San Thệ Di Tỳ Kích Tri Tử, thưa rằng:

– Nhân giả hành pháp nhãn gì? Học tập giáo pháp gì? Có được thù théng gì? Tu phạm hạnh gì?

Ðáp:

– Này đồng tử! Ta ở đây có nhận thức thế này, ngươi nên hiểu như thế này: Nếu cần giết người thì cứ giết và bảo người giết. Cần phải tự đốt mình hay bảo người khác đốt, chặt, cắt, hại, v.v…. cũng đều như vậy.

Không nên cho mà nên lấy.
Nên hành động tà dục.
Nên nói dối, uống rượu.

Nếu tập hợp người ta nhiều như núi, dùng dao bén chém chết, chất lại thành từng đống… với các hành động sát hại như vậy, không có tội gì cả, cũng không có quả báo gì cả. Tại bờ phía Nam sông Hằng gây những hành động sát sinh. Tại bờ phía Bắc sông Hằng tổ chức những hội cúng tế. Cả hai đều không có tội phúc gì cả. Ðối với các hành động bố thí, trì giới, tinh tấn… các pháp và pháp tứ nhiếp, ai không làm thì được quả báo lớn.

Khi ấy, Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa nói với nhau:

– Thuyết này thật phi lý, đều là tà giáo. Thật đáng sợ hãi! Người trí nên từ bỏ.

Họ bàn luận như thế rồi nói kệ rằng:

– Tà kiến nói không đúng
Ưa thích pháp hạ liệt
Nếu thiện pháp như vậy
Phi pháp như thế nào?

Họ nói bài kệ xong, như đánh vào thùng rỗng, liền bỏ đi nơi khác. Sau đó, họ đi đến gặp A Thị Ða Kê Xá Cam Bạt La Tử, thưa rằng:

– Nhân giả hành pháp nhãn gì? Dùng pháp gì để khai thị? Có thù thắng gì? Tu phạm hạnh gì? Ðắc được quả gì?

Ðáp:

– Này đồng tử! Ta có nhận thức thế này, nên phát biểu như thế này: Có bảy thân (yếu tố). Thế nào là bảy? Ấy là: địa, thủy, hỏa, phong, khổ, lạc và mạng. Chúng không tự gây tác dụng và bị tác dụng, không tự biến hóa, không bị biến hóa, không tổn hại. Chúng tích tụ lại, đứng chung với nhau như những đầu cây chụm vào nhau. Chúng không sinh và không thay đổi, thế nên chúng không hại nhau ; dù phúc hay tội nếu nói về tội phúc ; dù khổ hay lạc nếu nói về khổ lạc.

Ngay trong bảy thân này, ai là người trượng phu có thể hại nhau được, hay có thể bị hại? Tất cả đều không có chủ tể, thế gian bất hoại. Mạng căn ở trong sáu thân, hoạt động tại các khiếu, cùng với sáu thân làm chủ, cho đến cuối cùng vẫn không bị tổn hoại. Ngay trong thân này không thể hại lẫn nhau, cũng không tranh đấu. Không có người giác ngộ, không có người khai thị sự giác ngộ, cũng không nhớ nghĩ, cũng không có người tỉnh thức. Không có sự biểu thị, cũng không có người biểu thị.

Có một vạn bốn ngàn sáu trăm phát thú độ môn (?), lấy đó làm thượng thủ.

Lại có năm nghiệp là: ba nghiệp năng tác và hai nghiệp sở tác.

Cũng có toàn nghiệp, cũng có bán nghiệp. Sáu mươi bốn ngàn thân thuộc. Sáu mươi trung kiếp. Một trăm ba mươi địa ngục Na Kích Ca căn bản.

Lại có một trăm ba mươi sáu bệnh giới. Có bốn mươi chín ngàn quyến thuộc của rồng. Bốn mươi chín ngàn diệu xí điểu. Bốn mươi chín ngàn quyến thuộc của Ni-kiền-tử. Bốn mươi chín ngàn quyến thuộc ngoại đạo. Bảy lần có là một kiếp. Bảy lần không là một kiếp. Bảy đời A-tô-la. Bảy đời Tỳ-xá-già. Bảy cõi thiên. Bảy nhân gian. Bảy ao lớn. Bảy ao nhỏ. Bảy mộng lớn, bảy trăm mộng nhỏ. Bảy hồ lớn trên chóp núi, bảy trăm hồ nhỏ trên chóp núi. Bảy đại ngộ, bảy trăm tiểu ngộ. Phát sinh ra sáu đoan nghiêm, mười tăng trưởng để thành đại trượng phu.

Ðây là tám muôn bốn ngàn đại kiếp. Trong ấy, kẻ ngu người trí đều phải lưu chuyển qua hết thì mới đoạn trừ hết khổ, rồi mới giải thoát. Như lấy cuộn chỉ, cột vào đấy một vật nặng, thả vật này từ trên cao xuống, sẽ kéo hết cuộn chỉ. Kẻ ngu bậc trí cũng vậy, họ đều phải trả qua tám vạn bốn ngàn kiếp lưu chuyển trong sanh tử, cho đến kiếp cuối cùng mới được giải thoát.

Ngay trong đời này, có Sa môn, Bà la môn nào phát biểu rằng: “Tôi giữ giới cấm này, siêng năng tu phạm hạnh, điều nào chưa hoàn thành làm cho hoàn thành. Người được hoàn thành thì hết khổ, đắc được quả” . Nếu ai phát biểu như vậy thì hoàn toàn sai. Khổ và vui là thường trú, không có tăng giảm, không thể biết được. Tôi trình bày như thế này là biết rõ sanh tử, là sự thật không hư dối.

Khi vị ấy phát biểu như thế rồi, Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa tự nghĩ: “Giáo sư này trú nơi phi đạo, cũng như đường hiểm. Người trí cần phải xa lìa nó” .

Nghĩ thế rồi, họ nói kệ:

– Tà kiến nói không đúng
Ưa thích pháp hạ liệt
Nếu thiện pháp như vậy
Phi pháp như thế nào?

Họ nói kệ ấy xong, như đánh vào thùng rỗng.

Sau đó, họ đi đến gặp Ni Yết Lan Ðà Tử, thưa rằng:

– Nhân giả hành pháp nhãn gì? Giáo huấn những gì? Có gì thù thắng? Tu phạm hạnh gì? Ðắc được quả vị gì?

Ðáp:

– Ta có nhận thức như thế này, nên trình bày như thế này: Tất cả quả báo mà hữu tình thu nhận được đều do túc nghiệp. Ðã tạo nghiệp ác trong quá khứ, nay phải tu phạm hạnh mới được hết khổ. Nay tu thiện nghiệp, do nhân duyên này thu hoạch được kết quả, không tạo nghiệp ác nữa, sẽ được lậu tận. Lậu đã tận rồi, nghiệp khổ hết sạch. Quả báo khổ không còn thì được giải thoát.

Bấy giờ, Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa nghe lời này rồi, tự nghĩ: “Lời trình bày của vị thầy này cũng không đúng chân đạo, như đường hiểm trở. Người trí nên từ bỏ” .

Nghĩ như thế, họ nói kệ:

– Tà kiến nói không đúng
Ưa thích pháp hạ liệt
Nếu thiện pháp như vậy
Phi pháp như thế nào?

Họ nói kệ xong, như đánh vào thùng rỗng, rồi từ giã ra đi.

– Hết quyển 1 –

[ ^ ]

Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da

Xuất Gia Sự

Hán dịch: Đường Tam Tạng Nghĩa Tịnh
Việt dịch: Tỳ Kheo Tâm Hạnh

-o0o-

Quyển thứ hai

Thành kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.

NHÂN DUYÊN TIẾP ÐỘ XÁ LỢI PHẤT VÀ MỤC KIỀN LIÊN

Bấy giờ, có vị giáo sư tên là San Thệ Di. Nhóm Câu Lý Ða, v.v… tìm đến chỗ ông ta, hỏi mọi người rằng:

– Vị giáo sư này ngồi tịnh ở đâu?

Vị giáo sư đang ở trong phòng, nghe hỏi tự nghĩ: “Ta ở đây đã lâu, không nghe ai dùng từ “ngồi tịnh” này.

Bấy giờ nhóm Câu Lý Ða tự nghĩ: “Người kia đang ngồi tịnh, chúng ta không nên làm kinh động. Chờ khi xuất tịnh, ta sẽ gặp mặt”.

Nghĩ như thế, cả nhóm tránh ra chỗ thuận tiện.

Bấy giờ, San Thệ Di xuất định, các căn thanh tịnh. Hai người kia khi biết như vậy, đến gặp mặt và hỏi rằng:

– Nhân giả có pháp nhãn gì? Khai thị những gì? Có thù thắng gì? Tu phạm hạnh gì? Ðược kết quả gì?

Ðáp:

– Ta nhận thấy như thế này, biết thế này: Chân thật không nói dối, không làm hại chúng sanh, thường không còn sanh tử, không bị đọa lạc, không bị tiêu diệt, sẽ được sinh cõi Phạm thiên thứ hai.

Khi ấy, cả hai hỏi:

– Giáo thuyết này có nghĩa lý gì?

Ðáp:

– Không nói dối trá gọi là xuất gia. Không làm tổn hại các sinh mệnh là căn bản của tất cả pháp. Nơi không sinh, không tử, không đọa, không diệt ấy là Niết-bàn, là sinh cõi Phạm thiên thứ hai. Những vị Bà la môn tu hành đều cần đạt đến cảnh giới ấy.

Cả hai nghe nói thế, thưa rằng:

– Bạch tôn giả, ngưỡng mong cho chúng tôi được xuất gia tu hành phạm hạnh.

San Thệ Di cho hai người được xuất gia.

Sau khi họ xuất gia, mọi người khắp nơi đều nghe: “Câu Lý Ða, v.v… đều xuất gia nơi San Thệ Di”.

Bấy giờ, San Thệ Di được rất nhiều lợi dưỡng. Ông ta tự nghĩ: “Trước đây ta thuộc vọng tộc họ Kiều Trần. Nay ta cũng họ Kiều Trần. Ngày nay ta được lợi dưỡng là do phúc đức của hai người kia chứ không phải do phúc đức của ta”.

Trước đây, San Thệ Di có năm trăm đệ tử, thường học luận điển với thầy. Khi suy nghĩ như trên, ông ta bảo với hai người: “Mỗi người nhận lãnh hai trăm năm mươi đệ tử để học giáo pháp”.

Bấy giờ, San Thệ Di bị bệnh thiên thời. Ô Ba Ðể Sa bảo Câu Lý Ða rằng:

– Nay thầy bị nhiễm bệnh. Anh nên tìm y dược hay để chăm sóc.

Ðáp:

– Anh có trí tuệ, nên chăm sóc thầy. Tôi sẽ đi tìm y dược.

Bấy giờ Câu Lý Ða tìm được các loại thuốc bằng cây, lá, hoa, v.v… đem cho thầy uống, nhưng bệnh càng nặng thêm. Khi ấy, vị thầy tự nhiên mỉm cười.

Ðể Sa thưa rằng:

– Bậc đại nhân mỉm cười tất có duyên sự. Nay thầy mỉm cười, vậy có nhân duyên gì?

Thầy đáp:

– Ðúng như lời người nói, vừa rồi ta cười có lý do. Ở Kim Châu có vị vua tên Kim Chúa, ông ta qua đời. Khi sắp hỏa thiêu, vợ ông ta buồn rầu áo não, cũng tự đốt mình. Chúng sanh ngu si, do dục lôi kéo, dục tình đắm nhiễm nên phải chịu khổ não.

Ô Ba Ðể Sa thưa:

– Vào năm, tháng, ngày nào xảy ra sự việc này?

Ðáp:

– Vào năm, tháng, ngày, thời tiết ấy sự việc xảy ra.

Hai người đệ tử ghi nhớ và thưa thầy:

– Chúng con xuất gia để cầu chặt đứt sanh tử. Thầy đã đạt được, ngưỡng mong chỉ dạy cho con để cắt đứt được sanh tử.

Thầy đáp rằng:

– Ý của ta xuất gia cũng vì cầu việc này. Như điều ngươi mong cầu, ta chưa đạt được. Nhưng vào ngày mười lăm, khi Bao- sái-đà, có chúng chư thiên trên hư không phát biểu như thế này: “Trong dòng họ Thích có sanh vị đồng tử. Tại núi Tuyết có sông tên Phân Lộ. Ngay trên bờ sông, tại trú xứ Kiếp Tỷ La tiên nhân có vị Bà la môn thông hiểu thiên văn và chiêm tướng. Ông ta tiên đoán: đồng tử sẽ trở thành Chuyển luân thánh vương. Vị này nếu xuất gia sẽ chứng Như Lai Chánh đẳng Chánh giác, tiếng tăm lừng lẫy khắp mười phương”.

Vị thầy bảo tiếp với đệ tử rằng:

– Các con nên xuất gia trong giáo pháp của vị ấy để tu hành phạm hạnh. Không nên tự thị dòng họ tôn quý, cần phải tu hành phạm hạnh, điều phục các căn. Các con sẽ đắc quả vị vi diệu nơi vị ấy, không còn sanh tử.

Vị thầy nói xong, đọc kệ rằng:

– Chứa nhiều cũng tiêu tán
Cao lắm tất sụp đổ
Hội họp phải biệt ly
Có sống phải bị chết.

Không bao lâu, vị giáo sư này qua đời, các đệ tử dùng lụa màu xanh, vàng, đỏ, trắng tẩm liệm và đem vào rừng hỏa thiêu.

Bấy giờ, ở Kim Châu có vị Bà la môn tên là Kim Phát. Ông ta đi từ Kim Châu đến thành Vương Xá, đến chỗ Ô Ba Ðể Sa.

Bấy giờ, Ô Ba Ðể Sa hỏi:

– Ông từ đâu đến?

Ðáp:

– Từ Kim Châu đến.

Hỏi:

– Ông từng thấy việc gì hy hữu không?

Ðáp:

– Không có việc gì lạ cả. Nhưng có vua Kim Chúa, sau khi chết đem đi hỏa táng, vợ ông ta buồn thương nên tự thiêu theo.

Hỏi:

– Vào tháng, năm nào?

Ðáp:

– Vào ngày, tháng, năm, thời tiết ấy.

Ô Ba Ðể Sa kiểm tra lại việc này thì đúng như lời thầy nói.

Câu Lý Ða nói với Ô Ba Ðể Sa:

– Giáo sư của ta đã chứng diệu pháp, nhưng bí pháp của thầy, thầy không dạy chúng ta. Nếu thầy ta không chứng được pháp nhãn, thiên nhĩ thì làm sao biết phương ấy có sự việc như vậy?

Câu Lý Ða tự nghĩ: “Ô Ba Ðể Sa thông minh trí tuệ, chắc chắn đắc được diệu pháp nơi thầy nhưng không dạy lại ta”.

Nghĩ thế, Câu Lý Ða nói rằng:

– Chúng ta nên cùng nhau lập thệ rằng: “Ai chứng đắc thượng diệu pháp trước, phải độ cho người kia”.

Hai người phát thệ xong, cùng nhau du hành nhân gian.

Bấy giờ, đức Bồ tát đã hai mươi chín tuổi, muốn ở vương cung hưởng năm dục lạc, nhưng khi Ngài trông thấy cảnh sanh – lão – bệnh – tử, tâm sanh yểm ly. Nửa đêm, Ngài vượt thành, đến chỗ rừng già, tu khổ hạnh sáu năm nhưng không đạt được kết quả gì cả. Ngài tự điều hòa hơi thở và dùng thức ăn ngon bằng nhũ lạc, v.v… bôi thân bằng dầu, tắm rửa bằng nước thơm. Sau đó, Ngài tự đi đến làng doanh trại, nhận cháo sữa của hai nàng A-mục-nữ là Hoan Hỷ và Hoan Hỷ Lực.

Bồ tát dùng xong, bấy giờ có Hắc Sắc Long vương tán thán:

– Lành thay!

Có một người tên Thường Trú đưa cho Bồ tát bó cỏ Cát-tường. Bồ tát đến dưới gốc cây Bồ-đề tự trải cỏ này ngay ngắn trên tảng đá làm tòa. Ngài ngồi trên tòa cỏ kiết già ngay ngắn, đoan thân chánh niệm. Ngài phát tâm khẩn thiết tự thệ: “Nếu ta không trừ hết các lậu thì quyết không rời khỏi tòa cỏ này”.

Ngay khi Bồ tát chưa chứng ngộ, Ngài hàng phục ba mươi sáu vạn ức ác ma. Các ác ma ấy đều có trăm ngàn quyến thuộc là quỷ thần. Khi ấy, Bồ tát dùng áo giáo pháp và gậy từ bi hàng phục ma quân xong, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Khi ấy, có Phạm thiên đến cầu thỉnh Thế tôn thuyết pháp. Ngài đến Ba La Nị Tư chuyển pháp luân đến ba lần. Bấy giờ, trong số những người nghe pháp có hơn năm mươi công tử, con đại thần, sau khi nghe pháp đều xin xuất gia và thọ cận viên.

Ðức Thế tôn đến tụ lạc tên là Bạch Ðiệp Lâm. Có sáu mươi người kết làm bạn tốt với nhau. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, họ phát sinh tâm chánh tín.

Ðức Phật đến tụ lạc tên là Quân Trụ. Người trưởng tụ lạc có hai người con gái: một tên Nan Ðà, hai tên Nan Ðà Ba La. Họ nghe Phật thuyết pháp đều sinh tâm chánh tín.

Có một hồ nước tên là Ưu Lâu Tần Loa. Nơi này có một vị đại tiên tên là Ca Nhiếp cùng với một ngàn đệ tử. Họ được nghe Phật thuyết pháp đều xin xuất gia và thọ cận viên.

Ðức Phật đến Chế Ðể Già Da đỉnh, có Già Da Ca Nhiếp. Ngài thị hiện ba loại thần biến làm cho Ca Nhiếp được trú nơi viên tịch.

Sau đó, Phật đến Trượng Lâm làm cho vua nước Ma Yết Ðà là đại vương Ảnh Thắng được thấy chân đế, cùng tám vạn thiên chúng và Bà la môn, cư sĩ nước Ma Yết Ðà.

Ngài đến thành Vương Xá, trú ở tinh xá Trúc Lâm. Khi Thế tôn ở vườn Trúc Lâm, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc Ca thì Ô Ba Ðể Sa cùng Câu Lý Ða đang du hành nhân gian.

Khi họ đến thành Vương Xá, thấy trong thành tịch tịnh nên tự nghĩ: “Có hai nhân duyên làm cho thành lớn kia được tịch tịnh: hoặc có kẻ oán tặc làm cho sợ hãi, hoặc có vị uy đức Bà la môn”.

Nghĩ như thế rồi, họ xem xét tinh tường thì không có kẻ oán tặc làm cho sợ hãi. Họ bôi trên mặt ba vạch rồi lần lượt đi theo nhau. Lại có vô số trăm ngàn vạn người theo họ đi.

Sau đó, vào lúc khác, họ bôi dấu trên mặt rồi lần lượt ra đi. Sau họ, không có một người nào đi theo cả. Họ tự nghĩ: “Trước đây ta đi với nhau có vô lượng trăm ngàn người tùy tùng. Nay không có một người. Sự việc này tại sao như vậy?”.

Bấy giờ, chư Phật thường pháp như vậy.

Phật tự nghĩ: “Những người dị học này, một tên Ðịa sư, một tên Câu Lý Ða đã gặp chư Phật trong quá khứ, trồng nhiều thiện căn, tu hành phước nghiệp đã lâu. Cũng như ung nhọt lúc trời nóng, khi gặp đúng thời tiết thì vỡ ra, được hết bệnh. Những người này các căn đã thuần thục, nay đã đúng thời”.

Phật lại quán căn khí của họ, làm sao được độ? Ðộ nhờ người nào để có được nhân duyên. Ngài quán sát biết được người này sẽ phát tâm với người đầy đủ luật nghi. Thế tôn bảo Bí-sô Mã Thắng đến độ họ.

Bấy giờ, Bí-sô Mã Thắng với nghiêm chỉnh uy nghi, chư thiên và nhân chúng trông thấy đều phát tâm.

Phật bảo Mã Thắng:

– Ông nên nhiếp thọ hai người ấy.

Mã Thắng vâng lệnh Phật, hoan hỷ im lặng, đảnh lễ chân Phật rồi ra đi.

Vào buổi sáng, đến giờ Mã Thắng khất thực, mặc y trì bát, đi vào thành Vương Xá, uy nghi nghiêm chỉnh, theo thứ tự khất thực, nhìn như Ngưu vương.

Bấy giờ, Phạm chí Ô Ba Ðể Sa đi ra bên ngoài, thấy tôn giả Mã Thắng đầy đủ uy nghi, trong đời thật đặc biệt ít có. Ðể Sa tán thán:

– Thật hy hữu!

Ô Ba Ðể Sa tự nghĩ: “Những vị xuất gia trong thành không thể so sánh với vị này được. Ta phải hỏi ông ta xuất gia nơi vị nào? Học tập pháp gì? Giáo sư là ai?”.

Nghĩ thế xong, Ô Ba Ðể Sa đi ra đường, đợi tôn giả đến.

Khi thấy tôn giả Mã Thắng đến gần, Ô Ba Ðể Sa liền hỏi:

– Ai là thầy của ngài? Ngài học pháp gì? Ngài xuất gia nơi vị nào?

Mã Thắng đáp:

– Ðại sư của tôi thuộc chủng tộc Thích Ca: Sa môn Kiều Ðáp Ma. Nay Ngài đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vị ấy là thầy của tôi. Tôi y cứ nơi vị ấy, cạo bỏ râu tóc để xuất gia, tu hành phạm hạnh, học tập giáo pháp.

Ô Ba Ðể Sa thưa rằng:

– Cụ thọ! Ngưỡng mong ngài thuyết giảng cho tôi, để tôi được nghe.

Mã Thắng trả lời:

– Giáo pháp của Như Lai thậm thâm, vi diệu, khó hiểu khó biết. Tôi mới xuất gia, không có khả năng giảng giải. Tôi không thể ghi nhớ hết, chỉ nói tóm tắt ý nghĩa.

Ðể Sa thưa rằng:

– Ngưỡng mong ngài thuyết minh ý nghĩa.

Tôn giả Mã Thắng nói kệ: (Ðại 46 – T. 1027 giữa)

– Như Lai nói các pháp
Từ nhân duyên sinh khởi
Do nhân duyên hoại diệt
Ðại Sa môn dạy thế.

Sau khi nghe kệ, Ô Ba Ðể Sa viễn trần, ly cấu, chứng pháp nhãn, con mắt của pháp. Khi được thấy pháp, tâm không nghi hoặc, không còn sợ hãi, tự nhiên đứng dậy, cung kính chấp tay, nói thế này:

– Ðây chính là thầy của con. Ðây đúng là chánh pháp. Ai trú vào pháp này, chắc chắn không đọa lạc. Ðây là chỗ không còn đau khổ, buồn rầu. Con từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, chưa được nghe pháp thậm thâm trọng yếu như thế này.

Ðể Sa lại thưa:

– Cụ thọ! Ðại sư Thế tôn nay đang ở chỗ nào?

Ðáp:

– Ðại sư của tôi ở tại thành Vương Xá, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc Ca.

Khi Ô Ba Ðể Sa nghe nói rồi, hoan hỷ vui mừng, cung kính chấp tay, đi nhiễu ba vòng, cung kính từ giã.

Ðể Sa đi đến ngay chỗ Câu Lý Ða. Câu Lý Ða thấy Ðể Sa từ xa đi đến, hỏi:

– Hôm nay dung mạo của anh rạng rỡ, tươi đẹp khác thường, các căn thanh tịnh, có phải được pháp cam lồ thượng diệu không?

Ðể Sa đáp:

– Ðúng vậy! Ðúng vậy. Ðúng như lời anh nói.

Sau đó, Ô Ba Ðể Sa trình bày lại sự việc ở trên và nói kệ:

– Như Lai nói các pháp
Từ nhân duyên sinh khởi
Do nhân duyên hoại diệt
Ðại Sa môn dạy thế.

Câu Lý Ða nghe bài pháp xong, liền nói rằng:

– Xin cụ thọ hãy vì tôi nói lại bài pháp này.

Ô Ba Ðể Sa nói lại:

– Như Lai nói các pháp
Từ nhân duyên sinh khởi
Do nhân duyên hoại diệt
Ðại Sa môn dạy thế.

Sau khi nghe nói bài kệ xong, ngay lúc ấy Câu Lý Ða được ly cấu, chứng đắc pháp nhãn, chứng mắt pháp. Sau khi thấy pháp rồi, Câu Lý Ða cung kính chấp tay, hoan hỷ đảnh lễ, thốt lên lời này:

– Ðây là chánh pháp. Ai trú pháp này không bị đọa lạc. Từ vô lượng ức kiếp đến nay ta chưa từng nghe được pháp này.

Câu Lý Ða hỏi Ô Ba Ðể Sa:

– Nay Ðại sư Thế tôn đang ở đâu?

Ðáp:

– Ngài đang ở tại thành Vương Xá, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc Ca.

Câu Lý Ða nghe xong, hỏi Ô Ba Ðể Sa:

– Nay chúng ta có thể cùng nhau đi đến gặp vị ấy để xuất gia tu hành phạm hạnh không?

Ðáp:

– Rất tốt!

Câu Lý Ða nói:

– Hãy hỏi các đệ tử có đồng ý không?

Ô Ba Ðể Sa nói:

– Lành thay! Lành thay! Anh là bậc danh đức, là tri thức của họ, nên hỏi các đệ tử.

Bấy giờ, Câu Lý Ða bảo các đệ tử:

– Nay tôi cùng Ô Ba Ðể Sa muốn đến gặp Phật Thế tôn xuất gia học đạo, tu hành phạm hạnh. Các ngươi như thế nào?

Ðệ tử trả lời:

– Sở học của chúng con đều do thầy truyền thọ. Nay Ô Ba Ðà Da theo Phật, chúng con cũng nguyện xuất gia theo Phật.

Thầy bảo:

– Lành thay! Nay đã đúng lúc.

Bấy giờ, Ô Ba Ðể Sa và Câu Lý Ða đều cùng với hai trăm năm mươi đệ tử của mình ra khỏi thành Vương Xá, muốn đi đến bờ ao Yết Lan Ðạc Ca của Trúc Lâm.

Khi ấy, cụ thọ Bí-sô Mã Thắng ở cách Thế tôn không xa, đang ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây. Ô Ba Ðể Sa từ xa trông thấy, bảo Câu Lý Ða:

– Chúng ta nên đến lễ Thế tôn trước, hay đến lễ Ô Ba Ðà Da trước để nghe giáo pháp?

Câu Lý Ða nói:

– Nên đến chỗ nghe pháp trước.

Nói xong, cả hai cùng đến nơi Bí-sô Mã Thắng tôn giả, lạy sát chân, ngồi qua một bên.

Khi ấy, trong chúng của Như Lai có một Bà la môn trước đây thờ phụng thần mặt trăng. Thế tôn vì Bà la môn này nói kệ:

– Người nào liễu ngộ pháp
Không luận trẻ hay già
Ðều phải cung kính họ
Như mặt trăng mới mọc.

Khi ấy, trong chúng hội có một Bà la môn thờ phụng thần lửa. Thế tôn vì họ nói kệ:

– Người nào liễu ngộ pháp
Không luận trẻ hay già
Cần phải cung kính họ
Như lửa tịnh vật uế.

Sau khi nhóm người Ô Ba Ðể Sa và Câu Lý Ða đảnh lễ sát chân Mã Thắng tôn giả xong, đi đến Thế tôn.

Khi ấy, Thế tôn cùng vô lượng trăm ngàn chúng Bí-sô, v.v… vây chung quanh. Ngài đang vì họ thuyết pháp. Thế tôn thấy nhóm Câu Lý Ða ở từ xa, bảo các Bí-sô:

– Các ngươi có thấy rằng hai người này là thượng thủ của nhóm người vây quanh họ không?

Ðáp:

– Vâng, chúng con đã thấy.

Thế tôn lại nói:

– Các ngươi nên biết rằng: hai người này ngay trong pháp của ta xuất gia học đạo, là bậc đệ nhất về thần thông và trí tuệ trong chúng Thanh văn.

Khi ấy Ô Ba Ðể Sa và Câu Lý Ða đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân Phật, ngồi qua một bên, thưa Phật rằng:

– Thế tôn! Ngưỡng mong Ngài cho phép chúng con ngay trong thiện pháp này được xuất gia, thọ cận viên, thành tánh Bí-sô, tu trì phạm hạnh.

Bấy giờ, Thế tôn bảo hai người rằng:

– Thiện lai Bí-sô! Tu hành phạm hạnh.

Phật vừa nói xong, râu tóc hai người này tự rụng, thân mặc ca sa như đã từng cạo tóc. Chỉ bảy ngày sau, họ đầy đủ uy nghi như Bí-sô một trăm tuổi hạ.

Có bài tụng rằng:

“Thế tôn bảo: – Thiện lai!
Các căn liền tịch tịnh
Tóc rụng, mặc pháp y
Uy nghi như trăm hạ”.

Khi ấy, có nhiều chúng Bí-sô đến lúc khất thực. Họ mặc y, bưng bát vào thành Vương Xá khất thực theo thứ tự. Ngay trong thành, là chỗ có nhiều đệ tử của San Thệ Di. Họ thấy các Bí-sô, liền chê cười, nói kệ:

– Vua và dân Ma-Yết
San Thệ Di độ hết
Phật ở thành Vương Xá
Vậy, người còn độ ai?

Khi các Bí-sô nghe lời này, uy đức bị chấn động, không còn hoan hỷ.

Sau khi khất thực, họ trở về chỗ ở. Thọ thực xong, xếp y, rửa chân, đi đến gặp Thế tôn, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên. Khi ấy các Bí-sô bạch Phật rằng:

– Thế tôn! Khi chúng con khất thực trong thành Vương Xá, có các đệ tử của San Thệ Di, bằng mọi cách họ chê bai, v.v… Chúng con im lặng, không còn uy đức, lòng không hoan hỷ.

Phật dạy:

– Nếu họ nói như vậy, các thầy nên đáp rằng:

“Ðức Thế tôn dạy rằng:
Giáo hóa phải đúng pháp
Các ngươi có biết không
Phật độ người y pháp”.

Nếu các thầy trả lời như vậy, họ không còn uy đức, sẽ im lặng bỏ đi.

Các Bí-sô mặc y, mang bát vào thành Vương Xá theo thứ lớp khất thực. Các đệ tử của San Thệ Di chê bai như trước, nói kệ:

– Vua và dân Ma-Yết
San Thệ Di độ hết
Phật ở thành Vương Xá
Vậy ngươi còn độ ai?

Khi ấy, các Bí-sô nghe lời này, liền nói kệ:

– Ðức Thế tôn dạy rằng:
Giáo hóa phải đúng pháp
Các ngươi có biết không
Phật độ người y pháp”.

Khi đệ tử của San Thệ Di nghe lời này, mất hết uy đức, im lặng bỏ đi.

Sau đó một thời gian, vợ chồng Bà la môn Ma Thát La qua đời. Bà la môn Ðể Sa và vợ là Xá Lợi cũng qua đời. Câu Tỳ Sĩ La từ phương Nam trở về, đem Vô hậu thế luận đến tụ lạc Ma Thích Ðà. Có người giữ cổng hỏi:

– Này cụ thọ! Ông có phải là Câu Tỳ Sĩ La không?

Ðáp:

– Chính tôi. Ai cũng biết cả.

Câu Tỳ hỏi người giữ cổng:

– Bà la môn Ma Thát La nay ở đâu?

Ðáp:

– Ðã qua đời.

Hỏi:

– Vợ ông ta và Ðể Sa nay ở đâu?

Ðáp:

– Nay đã qua đời.

Hỏi:

– Xá Lợi Tử nay ở đâu?

Ðáp:

– Tại thành Vương Xá có một đại sư gần vượt trên thế gian, tên San Thệ Di. Xá Lợi Tử xuất gia nơi vị ấy.

Câu Tỳ Sĩ La nói:

– Theo pháp Bà la môn thì không nên xuất gia. Ðây không phải là việc tốt.

Nói thế xong, ông ta đi dần về thành Vương Xá, hỏi mọi người:

– Ðại sư San Thệ Di nay đang ở đâu?

Ðáp:

– Ðại sư đã qua đời. Các đệ tử của ông ta đều đến nơi Sa môn Kiều Ðáp Ma và xuất gia nơi vị ấy. Thật tốt đẹp, vị ấy được ghi nhận với lời truyền tụng: “Nếu vị ấy làm vua sẽ là Chuyển luân thánh vương, Xá Lợi Tử sẽ là đại thần”.

Khi Phạm chí Trường Trảo nghe lời nói này, liền đến gặp Phật, nói rằng:

– Này Sa môn Kiều Ðáp Ma! Tất cả pháp của tôi, và theo sở kiến của tôi, tôi đều không ham muốn. Người thờ lửa làm theo nhận thức như vậy, làm theo lý luận như vậy. Theo nhận thức của tôi, đều phải từ bỏ hết. Cũng từ bỏ sự thay đổi. Nếu từ bỏ các nhận thức này thì không chấp thủ sự tương tục và không chấp thủ nhận thức khác.

Này Sa môn Kiều Ðáp Ma! Tôi thấy như vậy và hiểu như vậy. Theo nhận thức của thế nhân đều trái với việc thờ lửa. Nói, thấy và hiểu như vậy đều trú ở đạo lộ này.

Này Sa môn Kiều Ðáp Ma! Người có thấy, có hiểu như vậy không?

Lại nữa, người thờ lửa lý luận rằng: Nếu Sa môn, Bà la môn nào xả bỏ được nhận thức này, không chấp thủ nhận thức khác ; những người lý luận được như vậy là chân Sa môn, là Bà la môn. Ðây là chỗ vi diệu.

Lại nữa, người thờ lửa đều nằm trong ba kiến giải. Thế nào là ba?

– Một: không ham muốn gì cả.
– Hai: ham muốn tất cả
– Ba: Mong muốn từ bỏ dục vọng.

Sau đó, Câu Tỳ Sĩ La xuất gia.

Phật bảo các Bí-sô:

– Trong các đệ tử của Ta, bậc minh giải thông lợi hơn cả là Bí-sô Câu Tỳ Sĩ La (Câu Hy La).

Bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử đoạn trừ các phiền não, chứng quả A-la-hán.

Các Bí-sô có sự nghi ngờ, thưa Thế tôn:

– Xá Lợi Tử này trước đây đã làm hạnh nghiệp gì mà do hạnh nghiệp ấy nay được trí tuệ sắc bén, trí tuệ sâu, trí tuệ không nghi hoặc như vậy?

Phật dạy:

– Này các Bí-sô! Các người hãy lắng nghe. Xá Lợi Tử chính do những việc đã làm, nay được kết quả, không phải do việc khác. Quả báo chính mình tự thọ lấy., v.v…

Thế tôn dẫn bản sự:

– Xưa kia, ở tụ lạc nọ có vị Bà la môn cưới vợ chưa bao lâu sinh được một con trai. Chỉ ít năm sau lại sinh thêm một bé gái nữa. Cả hai vừa lớn lên, cha mẹ đều qua đời vì bị bệnh. Bấy giờ, người thiếu niên kia rất buồn khổ, thương cảm, đến nỗi nghĩ đến việc đi vào rừng núi. Cậu ta dẫn em gái vào rừng, cùng nhau hái lượm hoa quả để sinh sống.

Này các Bí-sô! Như rắn độc lớn có năm điều xấu. Thế nào là năm?

– Một: nhiều sân.
– Hai: nhiều hận.
– Ba: làm ác.
– Bốn: không biết ân nghĩa.
– Năm: rất độc.

Nên biết, người nữ cũng có năm điều xấu:

– Một: nhiều sân.
– Hai: nhiều hận.
– Ba: làm ác.
– Bốn: không biết ân nghĩa.
– Năm: rất độc.

Thế nào là người nữ thâm độc? – Những người nữ thường ôm lòng dục nhiễm mạnh mẽ.

Khi ấy, người nữ đã trưởng thành, dục tâm cũng phát triển, cô ta nói với anh rằng:

– Nay em không thể ăn hoa quả để sống như thế này mãi được. Chúng ta nên đến sống với mọi người để tìm thức ăn uống.

Khi ấy, người anh đưa em ra khỏi rừng núi, đến nhà Bà la môn để khất thực. Cả hai gọi cửa. Chủ nhân bước ra, thấy và hỏi:

– Người ẩn sĩ cũng có vợ hay sao?

Người anh nói:

– Ðây không phải là vợ tôi, mà là em gái.

Chủ nhà hỏi người anh:

– Em gái của người đã có chỗ nào chưa?

Ðáp:

– Chưa có.

Chủ nhân bảo:

– Nếu vậy, tại sao không gả cho tôi?

Ðáp:

– Em tôi đã tránh xa ác pháp của thế gian.

Người nữ này với dục tâm hưng phấn, bảo với anh rằng:

– Không phải em không thể ăn hoa quả trong rừng để sống, nhưng em không chịu được sự dày vò của phiền não. Hãy cùng nhau từ bỏ núi rừng, về sống với mọi người. Nay nên gả em cho người Bà la môn.

Người anh nói:

– Ta thật không thể gả ngươi lấy chồng. Ðó là ác pháp, không phải hành động của ta. Ngươi có tâm thế tục thì được tùy ý.

Bấy giờ, người Bà la môn kia biết tâm ý của cô gái rồi nên đưa cô về nhà, họp thân tộc lại, cưới cô gái làm vợ, bảo người anh rằng:

– Nay anh về nhà tôi sống chung nhưng ở riêng một phòng.

Người anh nói:

– Tôi không cầu dục lạc, chỉ ưa muốn xuất gia.

Cô em thưa:

– Chúng ta cùng lập lời thệ với nhau rồi, ai theo ý nấy.

Người anh nói:

– Lời thệ thế nào?

Cô em nói:

– Nếu anh chứng được quả vị thù thắng thì trở lại gặp em.

Người anh bảo:

– Lành thay! Ta sẽ làm đúng lời nguyện của em.

Người anh từ giã, đến chỗ các ẩn sĩ sống đời xuất gia. Do sức của túc nghiệp thiện căn đời trước nên người anh ngay nơi ba mươi bảy phẩm trợ Bồ-đề phần pháp, vô sư tự ngộ, chứng quả Ðộc giác.

Người anh tự nghĩ: “Trước đây ta cùng em gái đã lập lời thề. Nay ta nên đến gặp em”.

Vị Ðộc giác này đi đến chỗ em gái, bay lên hư không, thân hiện thần biến: trên thân phun lửa, dưới thân phun nước, biến hiện nhiều thần lực kỳ đặc,… rồi hạ xuống đất.

Những người phàm phu trông thấy thần thông, tâm ý hoảng hốt như cây đại thọ bị ngã nơi đất. Người em đảnh lễ chân vị Ðộc giác, thưa rằng:

– Ðại huynh! Nay anh đã đắc được thắng đức thù diệu phải không?

Ðáp:

– Ðúng vậy.

Người em thưa:

– Anh hãy vì sự nuôi thân, cần phải ăn uống. Em vì cầu phúc, nguyện cúng dường cho anh. Anh có thể ở đây.

Anh đáp:

– Em không thể tự chủ trương được, nên thưa với chồng.

Bà này thưa với chồng:

– Nay ngài biết không, anh tôi xuất gia thành tựu cấm giới, đắc quả thượng diệu, đệ nhất trong thế gian. Tôi muốn cúng dường nhưng không dám tự chuyên. Nếu được ngài cho phép, tôi sẽ cung cấp cho anh tôi ăn uống trong ba tháng.

Người chồng đáp:

– Hiền thủ, nếu anh ấy không xuất gia, dù tôi không muốn đi nữa, cũng phải cung cấp trọn đời. Huống chi nay anh ấy đã xuất gia, đắc đạo thù thắng. Nay tôi theo ý của em, cúng dường ba tháng.

Trong ba tháng ấy, họ đem món ngon vật lạ cúng dường cho người anh. Sau ba tháng, họ đem vải tốt, dao, kim để dâng cho anh. Người anh nhận xong, dùng dao cắt vải. Dao nhỏ, bén, cắt rất nhanh. Người em gái thấy thế, ngồi xuống, phát lời rằng:

– Nguyện rằng tánh của tôi sắc bén, khéo léo, nhanh nhẹn như dao nhỏ này. Ðến đời vị lai thành người lợi trí.

Khi ấy, vị Ðộc giác đem y ra may, khéo dùng kim chỉ cắt may không trở ngại. Người em gái liền phát nguyện:

– Nguyện cho thân tôi ngày nay cho đến tương lai được trí tuệ cũng như kim này, trí tuệ sâu xa, thông đạt vô ngại.

Bấy giờ, Phật bảo các Bí-sô:

– Các thầy chớ nghi ngờ gì cả. Người nữ Bà la môn ở thời quá khứ kia, nào phải người nào lạ, nay chính là Xá Lợi Phất. Thời quá khứ, Xá Lợi đã cúng dường Phật Ðộc giác, cung cấp dao nhỏ và vải tốt, v.v… lại phát nguyện rộng lớn. Do thiện căn này, nay được trí tuệ sắc bén, thông minh đệ nhất.

Này các Bí-sô! Phải biết rằng: tạo nghiệp đen, phải chịu quả báo đen; tạo nghiệp trắng được quả báo trắng.

Bấy giờ, các Bí-sô lại có nghi ngờ, bạch Phật rằng:

– Cụ thọ Xá Lợi Phất tạo nghiệp gì trong thời quá khứ, nay sinh ra ở gia đình trung lưu, không thuộc quý tộc, cũng không phải hạ tiện, lại thường được xuất gia?

Phật bảo các Bí-sô:

– Các người hãy lắng nghe. Thời quá khứ có một quốc vương lấy vợ không bao lâu, đắm say dục lạc, tham mê săn bắn. Ít năm sau, sinh được một con trai. Người con này lớn lên, thấy vua cha trị nước một cách phi pháp, liền tự nghĩ: “Cha ta mệnh chung, sẽ đọa địa ngục. Ta kế vị ngôi vua rồi cũng đồng chịu cái khổ ấy. Ta nên đến với thiện pháp luật, xuất gia tu đạo, tu hành phạm hạnh”.

Nghĩ như thế rồi, hoàng tử đến bên phụ vương, thưa rằng:

– Thưa đại vương, ngưỡng mong đại vương cho con được xuất gia.

Nhà vua bảo con rằng:

– Tất cả việc tế lễ thiên thần để cầu phú quý. Con là thái tử, là bậc đi bằng voi, vương vị lại gần kề. Nay tại sao con lại cầu xuất gia?

Nhà vua dùng nhiều lời trách mắng, không cho xuất gia.

Sau đó một thời gian, thái tử cỡi voi đi ra khỏi thành du ngoạn, thấy một người nghèo cầm miếng lá đi xin ăn, thái tử bảo họ rằng:

– Này hiền thủ, tôi ở hàng tôn quý nên không được xuất gia. Người không phải hàng tôn quý, tại sao không xuất gia?

Ðáp:

– Tôi không có y bát, làm sao xuất gia?

Thái tử nói:

– Hiền thủ, tôi sẽ cho ba y và bát,v.v… người nên xuất gia.

Ðáp:

– Rất tốt!

Bấy giờ, thái tử cho họ y bát.

Các vị tiên ngũ thông ở dưới gốc cây, đang an lạc tọa thiền.

Thái tử cùng vị khất sĩ kia đến nơi vị tiên nhân. Thái tử xuống voi, đến chỗ tiên nhân, thưa rằng:

– Thánh giả, ngưỡng mong cho vị này xuất gia.

Vị tiên nhân ấy cho người kia xuất gia.

Thái tử bảo rằng:

– Nay tôi muốn trở về. Nếu người được đắc đạo, chứng quả, ngưỡng mong báo cho nhau biết.

Người kia đáp:

– Tôi làm đúng theo lời ngài.

Sau khi xuất gia, người kia đến chỗ yên tịnh, tĩnh tọa tu định. Ngay nơi ba mươi bảy phẩm trợ Bồ-đề phần pháp, không thầy tự ngộ, chứng quả Ðộc giác.

Sau khi chứng đạo, vị Ðộc giác tự nghĩ: “Quả vị ta chứng được, quả là nhờ ở thái tử. Ta nên đến thăm vị ấy để thị hiện thần biến”.

Nghĩ như vậy rồi, vị Ðộc giác này đến chỗ Thái tử, bay lên hư không, hiện ra nhiều loại thần biến: trên thân phun nước, dưới thân phun lửa, v.v…

Bấy giờ, mọi người thấy thần biến rồi, tâm ý chấn động, như cây đại thọ bị ngã xuống đất, mọi người đều kính lễ, bạch rằng:

– Thánh giả, nay ngài đã chứng quả thù thắng phải không?

Ðáp:

– Tôi đã chứng đắc.

Thái tử thấy như vậy, tự nghĩ: “Quả vị của người kia chứng đắc là nhờ nơi ta. Ta không xuất gia chứng được quả vị ấy, không phải là do sinh ở gia đình cao quý, vọng tộc hay sao?”.

Nghĩ như thế rồi, thái tử phát nguyện:

– Nguyện rằng: Ta sinh ra trong đời kiếp nào, cũng đừng sinh ra trong gia đình vọng tộc cao quý, và không sinh trong gia đình hạ tiện. Nên sinh ở gia đình trung lưu để không bị trở ngại, dễ được xuất gia.

Này các Bí-sô! Chớ có nghi ngờ vị thái tử trong thời gian quá khứ đó, nào phải người lạ, nay chính là Xá Lợi Phất. Do sức thệ nguyện của ông ấy trong thời quá khứ nên nay được xuất gia, tự tại vô ngại.

Nên biết rằng: quả báo tự tác tự thọ. Nếu là nghiệp trắng sẽ được quả trắng. Nếu gây nghiệp đen sẽ chịu quả đen. Vấn đề thiện ác đã nói rõ ở trước. Này các Bí-sô! nên học như vậy.

Khi ấy, các Bồ tát đều sinh tâm nghi ngờ. Chỉ có Phật Thế tôn mới đoạn trừ được nghi hoặc. Các Bí-sô bạch Thế tôn:

– Cụ thọ Xá Lợi Phất, làm phúc nghiệp gì mà thiện căn thành thục, trí tuệ đệ nhất trong chúng Thanh văn?

Phật dạy:

– Do sức phát nguyện trong đời quá khứ.

Các Bí-sô bạch Phật:

– Bạch Thế tôn! Xá Lợi Phất phát thệ nguyện gì? Ngưỡng mong Phật từ bi vì các con giảng rộng.

Phật bảo các Bí-sô:

– Các thầy hãy lắng nghe. Thời gian quá khứ, cách đây đã xa. Ngay trong Hiền kiếp này, khi loài người sống hai vạn tuổi, có Phật ra đời hiệu là Ca Nhiếp Ba, đầy đủ mười hiệu. Xá Lợi Phất có một giáo sư được xuất gia nơi Phật Ca Nhiếp. Phật Ca Nhiếp Ba thọ ký cho thầy của Xá Lợi Phất:

“Người ở trong chúng Thanh văn thông minh trí tuệ là bậc nhất, phạm hạnh không có khiếm khuyết, nhưng không đắc quả gì cả”.

Khi vị này lâm chung, phát nguyện rộng lớn:

“Công đức tôi tu hành phạm hạnh, với thiện căn này, nguyện Phật Ca Nhiếp Ba thọ ký cho Bà la môn Ôn Ðản Ca trong đời tương lai, khi loài người thọ một trăm tuổi, có Phật ra đời hiệu Thích Ca Mâu Ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, đầy đủ mười hiệu. Tôi được xuất gia trong giáo pháp của Phật ấy, đoạn trừ các phiền não, được lậu tận, chứng quả A-la-hán”.

Hiện nay, Xá Lợi Phất đắc quả như lời thầy nguyện. Do nguyện lực kia, nay Xá Lợi Phất có trí tuệ đệ nhất trong chúng Thanh văn.

Bấy giờ, chúng Bí-sô đều có sự nghi ngờ. Chỉ có Phật mới giải trừ được. Họ bạch Phật:

– Cụ thọ Ðại Mục Kiền Liên trước đây làm hạnh nghiệp gì mà thiện căn thành thục, trong chúng Thanh văn có thần thông đệ nhất?

Phật bảo các Bí-sô:

– Các ngươi hãy lắng nghe. Ðại Mục Kiền Liên trong đời quá khứ đã hành thiện nghiệp tốt đẹp, tích tụ thiện căn v.v…

Phật bảo các Bí-sô:

– Vào thời quá khứ, cách thành Ba La Nại không xa, có một vị tiên nhân, ngay chỗ vị ấy ở, tâm từ bi được rải khắp, thương mến các loài hữu tình.

Bấy giờ có một tiều phu nghèo khổ, vác củi đi đến gần chỗ vị tiên, rất là mệt nhọc. Tiên nhân thấy vậy rất là thương mến, tự nghĩ: “Người bần cùng này đời trước không chịu tu hành, trồng căn lành. Tuy được thân người nhưng phải chịu khổ nhọc như thế này để có cơm áo. Nay ta nên dộ người này xuất gia để tu phạm hạnh”.

Nghĩ như thế, tiên nhân bảo tiều phu:

“Này hiền tử! Ngươi chịu nhiều cay đắng, tại sao không xuất gia?”

Ðáp:

“Thưa đại tiên, tôi là người nghèo khổ, hái củi để nuôi thân. Vậy ai thèm để mắt đến để độ tôi xuất gia?”

Tiên nhân nói:

“Ta sẽ độ cho ngươi xuất gia. Nếu ngươi được đắc quả, mong báo cho biết”.

Ðáp:

“Thưa thánh giả! Nếu con đắc quả, chắc chắn báo cho ngài biết”.

Khi ấy, tiên nhân cho tiều phu xuất gia. Khi được xuất gia, vị này ở nơi nhàn tịnh, tu tập thiền định. Ngay nơi ba mươi bảy phẩm trợ Bồ-đề phần pháp, vô sư tự ngộ, chứng quả Ðộc giác.

Sau khi chứng quả, vị Ðộc giác này tự nghĩ: “Ta được đắc quả là nhờ ở tiên nhân. Ta nên thực hiện lời hứa, về thăm vị ấy và báo cho biết”.

Nghĩ thế rồi, Ðộc giác đi đến vị tiên, bay lên hư không, dưới thân phun nước, trên thân phun lửa, hiện mười tám thần biến, v.v…. Tiên nhân thấy vậy, tâm ý chuyển biến mau lẹ như cây đại thọ ngã xuống đất, liền phát biểu rằng:

– Ta nguyện rằng: với vô lượng công đức đã tu hành được, trong đời tương lai có được những uy đức như thần thông đệ nhất mà người đang có.

Này các Bí-sô! Chớ có nghi ngờ, vị tiên nhân lúc bấy giờ nào phải người nào lạ, nay chính là Ðại Mục Kiền Liên. Nên biết rằng: Gây nghiệp trắng có quả báo trắng, v.v… Này các Bí-sô! Nên học như vậy.

Bấy giờ các Bí-sô đều có sự nghi ngờ. Chỉ có đức Phật mới đoạn trừ được, họ bạch Phật rằng:

– Ðại Mục Kiền Liên làm hạnh nghiệp gì mà thần thông đệ nhất giữa đại chúng?

Phật bảo các Bí-sô:

– Các người hãy lắng nghe. Thời quá khứ, trong Hiền kiếp này, khi Phật Ca Nhiếp Ba xuất hiện trong thế gian, vì thệ nguyện nên độ khắp chúng sanh, v.v… (như trước)

Khi ấy, các Bí-sô sinh tâm nghi ngờ. Chỉ có Phật mới đoạn trừ được. Họ đến bạch Phật:

– Cụ thọ Kiều Trần Như đời trước làm thiện nghiệp gì mà thành tựu thiện căn, giỏi về Tứ như ý giải, hiện nay lại thông minh lợi căn?

Phật bảo các Bí-sô:

– Ngay trong Hiền kiếp này, thời quá khứ có Phật ra đời tên Ca Nhiếp Ba. Có vị giáo sư tu hành phạm hạnh nhưng không đắc quả. Khi lâm chung, ông ta phát nguyện,v.v… Ngay khi Phật còn trụ thế, nếu người nào muốn xuất gia, thọ cận viên đều đến gặp Thế tôn. Phật dạy: “Thiện lai, Bí-sô!”, râu tóc họ tự rụng, thân mặc ca sa, tự nhiên trì bát, trở thành người xuất gia, đắc cận viên.

Có một người, trường hợp đặc biệt ở xa thành phố lớn, họ đến chỗ ở của Bí-sô cầu xuất gia. Các Bí-sô đưa người này đến gặp Phật để cầu xuất gia thọ cận viên. Ði giữa đường, người kia bị qua đời, nên không được xuất gia.

Bấy giờ, có một Bí-sô nhân việc này đến bạch Phật, trình bày lại sự việc trên.

Thế tôn tự nghĩ: “Mệt nhọc thay cho đệ tử Thanh văn của ta! Ở quốc độ xa, nếu có người đến cầu xuất gia thọ cận viên, Ta đồng ý cho Tăng chúng Bí-sô cho họ được xuất gia thọ cận viên”.

Bấy giờ Phật Thế tôn tập hợp các Bí-sô, dạy rằng:

– Vì nhân duyên này, từ nay về sau, nếu có người cầu xuất gia, Ta cho phép Tăng chúng Bí-sô cho họ xuất gia và thọ cận viên.

Phật cho phép việc này rồi, chúng Bí-sô không biết cho xuất gia và thọ cận viên như thế nào. Họ đem sự việc này bạch Phật. Bấy giờ Thế tôn bảo các Bí-sô:

– Giả như có người đến cầu xuất gia, phải hỏi họ các chướng nạn. Nếu người không có chướng nạn, sau đó cho họ thọ ba quy y. Bảo họ chấp tay, quỳ xuống, tự xưng tên, nguyện trọn đời quy y Phật lưỡng túc tôn, quy y Pháp ly dục tôn, quy y Tăng chúng trung tôn. Sau đó cho họ thọ năm học xứ, rồi thọ mười giới, hai trăm năm mươi giới, nói rộng như những nơi khác.

Sau khi đã xuất gia, thọ cận viên, đối với A Giá Lị Da và Ô Ba Ðà Da, họ không có tâm kính sợ, tự tùy ý hành động, không hỏi hai thầy. Bấy giờ, các Bí-sô đem việc này bạch Phật.

Thế tôn bảo các Bí-sô:

– Ta vì các đệ tử chế ra học xứ này:

Nếu đệ tử muốn làm việc gì, như: dùng nước rưới đất, dùng cù-ma-da đắp nền nhà, quét dọn đất, sửa chữa y bát, ăn thức ăn, v.v… đều phải thưa với thầy.

Có Bí-sô khách trước đây không quen, đến ở trong phòng, phải thưa với thầy biết.

Tất cả các việc đều phải bạch thầy, trừ năm việc. Nếu không làm vậy, bị tội vượt pháp.

Năm việc ấy là: xỉa răng, uống nước sạch, đại tiểu tiện, lễ bái chế để trong phạm vi bốn mươi chín tầm.

Năm việc này không cần thưa với hai thầy.

Những việc may vá y, đệ tử nên thưa thầy:

“Thầy không nên lao nhọc như vậy, con sẽ làm cho thầy”.

Nếu làm như vậy thì tốt, không làm bị tội vượt pháp. Nếu thầy làm việc phúc đức hay việc do Tăng sai, không làm thay, không phạm.

Hai thầy có bệnh cần phải săn sóc, nên thưa với thầy rằng:

“Những thức ăn uống và thuốc men cần dùng xin làm theo ý thầy”.

Không được nghịch ý thầy. Làm như vậy thì tốt, nếu không làm như vậy bị tội như trước.

Nếu hai thầy có phạm tội, đệ tử cùng ở chung nên dùng phương tiện khéo léo thưa với hai thầy rằng:

“Thầy đã phạm tội ác tác như vậy, thầy nên phát lộ, v.v…” Nói rộng như trước.

Hai thầy có tà kiến, đại chúng tác khu tẫn, v.v… đuổi ra khỏi trú xứ. Ðệ tử nên ở giữa đại chúng, ân cần xin cầu tạ để đại chúng hoan hỷ. Lại nên bạch thầy:

“Thầy chớ tác ác tà kiến”

Nên phương tiện can gián một cách chính đáng để thầy bỏ ác kiến. Làm như vậy để thầy cùng đại chúng hòa hợp, an lạc sống chung. Nếu không làm như vậy, bị tội vượt pháp.,v.v… Nói rộng như ở trên.

Nếu hai thầy phạm tội Tăng-già-phạt-thi-sa, đệ tử cần phải làm cho thầy phát lộ.

Nếu hai thầy bị Tăng già cho hành pháp biên trú, ý hỷ sự, không cho ngủ cùng phòng với thiện Bí-sô, v.v…

Nếu (hai thầy) như pháp sám hối, tội căn bản và nghiệp đều được trừ diệt thì đồng như thiện Bí-sô, cho đến bị phục bản (biên trú),v.v… rộng như nói ở trước.

Ðệ tử làm như vậy thì tốt. Nếu không làm đúng, bị tội vượt pháp.

Ðệ tử phải ân cần can gián để thầy sám hối. Ðệ tử có lỗi, thầy cũng phải ân cần trách mắng để họ hối cải.

– Hết quyển 2 –

[ ^ ]

Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da

Xuất Gia Sự

Hán dịch: Đường Tam Tạng Nghĩa Tịnh
Việt dịch: Tỳ Kheo Tâm Hạnh

-o0o-

Quyển thứ ba

Thành kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.

Ðức Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, cụ thọ Bí-sô Cận Quân du hành nhân gian. Sau khi an cư ba tháng mùa mưa xong, Cận Quân độ một đệ tử. Cận Quân cùng đệ tử này đi đến thành Thất La Phiệt. Cụ thọ Cận Quân sau khi rửa chân, đến gặp Phật, đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một bên.

Thường pháp của chư Phật là: nếu có Bí-sô khách đến, trước tiên chào:

– Thiện lai! Từ đâu đến? An cư ba tháng màu mưa ở đâu?

Bí-sô Cận Quân bạch Phật:

– Bạch Thế tôn! Con từ nước khác đến và đã an cư ba tháng mùa mưa ở đó.

Phật hỏi:

– Vị thiện nam tử này là đệ tử của ai?

Cận Quân đáp:

– Ðệ tử của con.

Phật hỏi:

– Ông đã xuất gia bao lâu?

Ðáp:

– Con xuất gia được hai năm. Người đệ tử này con độ được một năm.

Bấy giờ, Phật bảo các Bí-sô:

– Cận Quân này đã gây ra lỗi lầm đầu tiên. Nay Ta chỉ định cho các Bí-sô: không được mới xuất gia chỉ được một vài năm mà đã độ đệ tử và cho thọ cận viên, không cho đồng trú, phải tự cầu y chỉ. Nếu người xuất gia chưa đủ mười hạ thì không được độ cầu tịch và truyền thọ cận viên.

Có khách Tăng đến, trước đây chưa quen biết, không được cho y chỉ. Ðủ mười hạ, thông thạo kinh Biệt giải thoát thì được phép độ cầu tịch và làm y chỉ, v.v… Nếu tự mình chưa điều phục, lại điều phục người, không có sự việc này. Những người ngu si kém cõi như vậy, không nên độ người. Tự mình chưa chứng ngộ, giải thoát, tịch tịch và đắc Niết-bàn, lại vì người giải nói, không được như vậy. Tự mình đọa vào bùn nhơ, chưa ra khỏi, lại tính được độ người, đây thật phi lý.

Bấy giờ, có Bí-sô già nhưng vô trí, không thông hiểu giới luật, lại độ một ngoại đạo và truyền thọ cận viên. Sau khi thọ cận viên, người này thưa Ô Ba Ðà Da rằng:

– Nay xin thầy hãy giáo thọ cho con.

Bí-sô già này không biết gì cả nên im lặng không trả lời được. Do đó, họ sanh tâm bất mãn, hiềm khích.

Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật, Phật dạy:

– Ta cho phép các Bí-sô đủ mười hạ được thu nhận đệ tử, truyền cận viên, v.v.. (như trước). Không được làm y chỉ cho người mà phải thành tựu năm pháp. Thế nào là năm? (Ðại 46, trang 1031 giữa)

Một: thọ cận viên từ mười hạ trở lên.
Hai: đệ tử bị bệnh có thể săn sóc được.
Ba: có nghi ngờ về phạm ác tác phải tùy sự việc mà nêu ra rõ ràng.
Bốn: nếu có tà kiến, chỉ dạy làm cho chánh kiến.
Năm: nếu không thích pháp, cố gắng nhiếp thọ làm cho họ ưa thích trụ pháp.

Ðó là năm pháp.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Một: đầy đủ giới.
Hai: đa văn.
Ba: trì kinh .
Bốn: trì luật
Năm: trì luận.

Ðây gọi là năm.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Một: đủ giới, không thiếu sót.
Hai: đa văn.
Ba: hiểu rõ nghĩa lý kinh.
Bốn: thông suốt Tỳ-nại-da.
Năm: thông suốt nghĩa lý tạng Ma-thất-lý-ca.

Ðây gọi là năm pháp.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Một: đầy đủ giới.
Hai: đa văn .
Ba: trì kinh biết ý nghĩa.
Bốn: thông thạo Tỳ-nại-da.
Năm: thông thạo tạng Ma-thất-lý-ca

Ðây là năm pháp.

Lại có năm pháp. Những gì là năm?

(Như năm pháp trước, chỉ thêm chữ “rất” . Như: rất đầy đủ giới)

Lại có năm pháp: đồng như trước, thêm chữ “thắng” ở đầu mỗi pháp.

Lại có năm pháp: đồng như trước, thêm chữ “có khả năng” ở đầu mỗi pháp.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Một: giới thành tựu.
Hai: đa văn thành tựu.
Ba: thắng giải thoát thành tựu.
Bốn: chứng trí thắng giải thoát thành tựu.
Năm: trí huệ thành tựu.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Một: tín thành tựu.
Hai: giới thành tựu.
Ba: đa văn thành tựu.
Bốn: xả thành tựu.
Năm: trí thành tựu.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Một: đủ giới.
Hai: đa văn.
Ba: tinh tấn.
Bốn: niệm.
Năm: tuệ.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Nói rộng như trước.

Lại có năm pháp. Thế nào là năm?

Một: đủ giới.
Hai: đa văn.
Ba: tinh tấn.
Bốn: định.
Năm: bát-nhã (trí tuệ)

Ðây là năm pháp.

Lại có năm pháp:

(Bốn pháp như trên).
Năm: lạc tịch tịnh tọa .

Lại có năm pháp:

Một: thành tựu hữu học giới uẩn.
Hai: thành tựu hữu học định uẩn.
Ba: thành tựu hữu học tuệ uẩn.
Bốn: thành tựu hữu học giải thoát uẩn.
Năm: thành tựu hữu học giải thoát tri kiến uẩn.

Lại có năm pháp: Vô học thành tựu, đồng như hữu học.

Lại có năm pháp:

Một: biết có lỗi.
Hai: biết nêu ra.
Ba: biết nêu ra bằng ý.
Bốn: biết pháp xả thí.
Năm: biết giải xả thí.

Lại có năm pháp:

Một: biết có lưu nạn.
Hai: biết không có lưu nạn.
Ba: tùy lúc dạy bảo.
Bốn: cho đệ tử y chỉ.
Năm: nhiếp thọ.

Lại có năm pháp:

Một: biết có phạm.
Hai: biết không phạm.
Ba: biết (tội) khinh.
Bốn: biết (tội) trọng.
Năm: biết rõ Ba-la-đề-mộc-xoa, hiểu rõ giảng giải rộng.

Người thành tựu năm pháp, đủ mười tuổi hạ, được phép cho người khác xuất gia thọ cận viên, cho y chỉ và giáo thọ. Như tự mình không thành tựu năm pháp như trên, phải y chỉ người khác.

Bấy giờ, cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:

– Thế tôn! Như Phật đã dạy, đã thành tựu năm pháp, đủ mười tuổi hạ, được độ đệ tử, không cần phải y chỉ người khác. Nếu Bí-sô cận viên đã trải qua sáu mươi tuổi hạ, nhưng không thông hiểu Biệt giải thoát (giới kinh), không thành tựu năm pháp, vẫn phải y chỉ người khác để sống không?

Phật dạy:

– Cần phải y chỉ người khác để sống.

Hỏi:

– Phải y chỉ thế nào?

Phật dạy:

– Phải y chỉ người già.

Hỏi:

– Nếu không có người già, phải làm thế nào?

Phật dạy:

– Phải y chỉ người trẻ. Trừ việc lễ bái, ngoài ra các việc khác đều phải tuân thủ.

Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Có một Bí-sô ngu si vô trí, không thông hiểu thiện ác, độ một ngoại đạo, cho thọ cận viên. Ngoại đạo này thường tranh cãi với các Bí-sô. Sau đó, ông ta tự hoàn tục, hủy báng lại giáo pháp, gây ra cơ hiềm. Các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật, Phật dạy:

– Tại sao có việc này? Kẻ ngu si không trí tuệ bỏ thiện pháp luật, đi vào tà kiến, thí như có người bị lửa đói hành hạ, bỏ thức ăn uống ngon, lại ăn vật nhơ bẩn. Người này giống như kẻ kia, do họ ngu si bỏ thiện pháp luật, ưa thích tà kiến của ngoại đạo. Thế nên các Bí-sô không được độ ngoại đạo. Thế nên các Bí-sô không được độ ngoại đạo làm đệ tử một cách vội vàng hấp tấp. Chỉ độ Thích tử. Nếu có Thích tử mặc áo ngoại đạo, đến cầu xuất gia và xin thọ cận viên, nên độ họ để thành Bí-sô tánh. Trừ Thích chủng này ra, các ngaọi đạo khác đều phải trải qua bốn tháng cộng trú.

Phật đã cho phép độ ngoài đạo, bốn tháng cộng trú, thừa sự cúng dường, không bỏ y phục cũ. Bấy giờ các Bí-sô không biết pháp cộng trú và pháp tiếp độ, đem sự việc này bạch Phật, Phật dạy:

– Nếu có ngoại đạo đến cầu xuất gia, trước hết phải hỏi họ các chướng nạn về thân. Nếu họ không có các chướng nạn, cho họ thọ ba quy y và năm học xứ, đưa họ đến giữa Tăng, ngay trước Tăng, họ ngồi xổm, chắp tay, dạy họ thưa như thế này:

“Ðại đức Tăng lắng nghe, con là ngoại đạo tên … Nay cầu xin xuất gia, ngay trong bốn tháng dùng y phục của con, thường cúng dường Tăng già. Ngưỡng mong đại chúng cho con xuất gia”.

Bố trí họ ở nơi mắt thấy, tai không nghe. Nên sai một Bí-sô tác Yết-ma, tiến hành như sau:

“Ðại đức Tăng già lắng nghe. Ngoại đạo tên … cầu xin xuất gia, trong bốn tháng dùng y phục cũ của họ, cúng dường Ô Ba Ðà Da và Tăng già. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng đồng ý. Nếu vị nào không đồng ý thì nói ra” .

Nói như vậy ba lần.

“Tăng đã đồng ý vì im lặng. Tôi xin ghi nhận như vậy”.

Trong bốn tháng, họ phải làm việc như cầu tịch, mặc y của thân giáo sư, ăn thức ăn của Tăng. Trong bốn tháng, nếu họ thay đổi nhận thức cũ thì cho họ xuất gia. Nếu tâm họ vẫn ưa thích ngoại đạo, nên trả họ về.

Bấy giờ, cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:

– Thế tôn! Như Phật dạy thay đổi nhận thức cũ. Thế nào là biết được họ sửa đổi nhận thức cũ?

Phật dạy:

– Ngay trước mặt họ, nên tám thán Tam-bảo, nói về công đức của Phật, bằng mọi cách chê bai ngoại đạo. Nếu họ nghe tán thán Phật, Pháp, Tăng, nghe chê bai đoàn thể cũ, tâm hoan hỷ thì cho họ xuất gia. Nếu nghe tán thán Tam bảo, lòng họ không vui, nghe chê ngoại đạo tâm sanh buồn bã, thì không được độ mà trả họ về. Nếu họ nghe chê bai về ngoại đạo, tâm không sân hận, mà lại hoan hỷ. Ðây là sửa đổi nhận thức cũ.

Phật dạy:

– Nếu có ngoại đạo thờ lửa, đến cầu xuất gia, nên độ họ và cho thọ cận viên. Tại sao?

– Người thờ lửa tin ba loại nghiệp.

Thế nào là ba?

– Ðấy là hữu nghiệp, sở tác nghiệp và tác nhân nghiệp. Thế nên được độ.

Này các Bí-sô! Nên học như vậy. Ðây là hữu nghiệp, hữu sở tác nghiệp, sở tác nhân nghiệp. Các ngươi nên học như vậy.

Phật ở thành Vương Xá, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc Ca, vườn Trúc Lâm, sau khi an cư ba tháng mùa mưa.

Bấy giờ, ở thành Vương Xá, số Bí-sô kỳ túc thì ít, số trẻ tuổi đông, muốn đi đến Nam Sơn, du hóa nhân gian. Thế tôn bảo A-Nan-Ðà rằng:

– Ông nên bảo với các Bí-sô: vị nào muốn đi theo Thế tôn, phải sửa sang lại Chi-phạt-la (ba y).

A Nan Ðà thừa lệnh Phật xong, đi khắp nơi bảo các Bí-sô:

– Thế tôn muốn du hóa trong nhân gian. Vị nào muốn đi theo Thế tôn, phải sửa sang Chi-phạt-la.

Khi ấy, các Bí-sô kỳ túc nói với cụ thọ A Nan Ðà:

– Tôi không thể đi du hóa với Thế tôn.

A Nan Ðà hỏi:

– Tại sao vậy?

Ðáp:

– Chúng tôi già yếu.

Khi ấy, các Bí-sô trẻ tuổi nói:

– Chúng tôi không đi.

Hỏi:

– Tại sao?

Ðáp:

– Thầy của tôi đã không đi, vậy tôi phải ở lại để chăm sóc Ô Ba Ðà Da.

Bấy giờ, Thế tôn cùng một số ít đệ tử đem theo đầy đủ y bát, du hành nhân gian.

Trên đường đi, Ngài nhìn qua hai bên như voi chúa lớn, sợ các Bí-sô chấp trì y bát không đúng như pháp. Thế tôn thấy số Bí-sô đi theo không đông, tuy biết nhưng Thế tôn cố ý hỏi A Nan Ðà:

– Tại sao chúng Bí-sô đi theo ít vậy?

Cụ thọ A nan Ðà đem sự việc như trên bạch lại Thế tôn, Phật bảo các Bí-sô:

– Nay ta cho phép các Bí-sô trên năm tuổi hạ, thành tựu năm pháp được tùy chỗ thọ học, du hành nhân gian, không phải ở chỗ thầy y chỉ. Thế nào là năm pháp?

Một: biết có phạm.
Hai: biết không phạm.
Ba: biết tội trọng.
Bốn: biết tội khinh.
Năm: giữ Ba-la-đề-mộc-xoa một cách thi?n xảo, có thể giảng giải rộng.

Ðây là năm pháp du hành nhân gian, tùy chỗ thọ học, được đi lại, chớ nghi ngờ.

Cụ thọ Ô Ba Ly hỏi Phật:

– Bạch Thế tôn! Nếu hơn sáu tuổi hạ, thành tựu năm pháp, được du hành nhân gian để thọ học không?

Phật dạy:

– Ðược.

Lại bạch Thế tôn:

– Ðủ ba tuổi hạ, thành tựu năm pháp, được du hành không?

Phật dạy:

– Không được.

Phật dạy:

– Nay ta chế định: năm tuổi hạ trở lên, thành tựu năm pháp, được đi lại tùy ý. Nếu chưa đủ năm tuổi hạ, có thông suốt tam tạng cũng không được du hành thọ học.

Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.

Khi ấy, cụ thọ Ðại Mục Kiền Liên cho chúng xuất gia mười bảy người được thọ cận viên. Họ đều nhỏ tuổi, Ô Ba Ly đứng đầu. Nửa đêm, họ đói bụng, cùng nhau khóc lóc.

Khi ấy, Phật Thế tôn biết nhưng cố hỏi A Nan Ðà:

– Tại sao có tiếng trẻ nhỏ khóc vậy?

A Nan Ðà đem sự việc bạch Phật, Phật bảo các Bí-sô:

– Nay ta chế định: nếu ai chưa đủ hai mươi tuổi, không được cho họ thọ cận viên, hành Bí-sô tánh. Tại sao? Chưa đủ hai mươi tuổi không thể chịu đựng đói, lạnh, nóng, khát, thiếu thốn, muỗi trùng cắn đốt và bệnh, v.v… Lại nữa, khi bị thầy quở trách không thể chịu đựng và chịu sự khổ não. Vì tuổi nhỏ, không thể chịu đựng các việc khổ như trên.

Phật dạy A Nan Ðà:

– Ðủ hai mươi tuổi thì có chí khí mạnh, chịu được sự trách mắng, khổ cực, v.v… như trên. Nếu chưa đủ tuổi, cho thọ cận viên tất có các lỗi như trên. Thế nên các Bí-sô nếu người chưa đủ hai mươi tuổi, không được truyền thọ cận viên cho họ. Nếu có cầu tịch đến cầu thọ cận viên, Bí-sô phải hỏi: “Ðủ hai mươi tuổi chưa?” . Nếu không hỏi, bị tội vượt pháp.

Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Trong thành có một trưởng giả, lấy vợ chưa bao lâu sinh được một con trai. Khi đứa bé này vừa lớn lên thì gia nghiệp của trưởng giả ngày càng tán tận.

Trưởng giả tự nghĩ: “Ta nghèo khổ, nên cầu xuất gia” .

Trưởng giả bảo con:

– Ta già yếu, không thể cùng con chấn hưng gia nghiệp. Ta muốn đến với thiện pháp luật, xuất gia trong đó. Ý con thế nào?

Người con thưa cha rằng:

– Nếu cha xuất gia, con xũng theo cha xuất gia.

Cha nói:

– Rất tốt!

Khi ấy, hai cha con cùng đưa nhau đi đến rừng Thệ Ða, đến gặp các Bí-sô, thưa rằng:

– Thánh giả, ngưỡng mong quý ngài cho chúng con được xuất gia.

Bí-sô trả lời:

– Tốt!

Lại hỏi:

– Hiền thủ, bé trai này là thân thuộc gì của ông?

Ðáp:

– Ðây là con tôi, cũng muốn xuất gia.

Khi ấy, Bí-sô kia cho cả hai xuất gia, dạy bốn uy nghi và cho ăn uống. Sau một vài ngày, bảo rằng:

– Ngươi hãy đi đi! Nai không nuôi nai. Thành Thất La Phiệt là cảnh giới của ta, rất rộng lớn, nhân dân rất đông, kính tín Tam bảo. Người nên đến đó cầu y thực để tự nuôi thân.

Sau khi nghe nói, họ nghiêm trì y bát cùng nhau đi vào thành Thất La Phiệt, thứ lớp khất thực. Ngay tại ngã tư đường, họ thấy một phụ nữ đang chiên bánh. Bấy giờ, cầu tịch nhỏ này đến xin bánh.

Người đàn bà nói:

– Hãy đưa tài vật cho tôi (để đổi) .

Cầu tịch đáp:

– Tôi là Sa môn, không cất chứa tài vật.

Vì không có vật để đổi nên không xin bánh được. Cầu tịch nhỏ này lớn tiếng khóc lóc, nằm lăn ra đất. Mọi người thấy vậy, sinh tâm chê bai:

– Tại sao Bí-sô lại độ đứa bé này (xuất gia)?

Khi ấy, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật:

Phật dạy:

– Lỗi này do độ kẻ nhỏ tuổi kia xuất gia. Từ nay trở đi, người chưa đủ mười lăm tuổi không cho xuất gia. Nếu có đồng tử đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi: “Ðủ mười lăm tuổi không?” . Nếu không hỏi bị tội vượt pháp.

Phật ởû thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Cụ thọ Ô Ba Nan Ðà có hai cầu tịch. Họ cùng nhau chơi đùa như phụ nữ chơi đùa với chồng, như đàn ông chơi đùa với vợ. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật, Phật dạy:

– Lỗi lầm này có xảy ra là do độ hai cầu tịch một lúc. Nếu ai độ hai cầu tịch một lúc thì bị tội vượt pháp.

Sau khi Phật chế định, có hai anh em tuổi gần bằng nhau đến cầu xuất gia. Bấy giờ, các Bí-sô không dám thu nhận họ, lại không biết phải làm thế nào, đem sự việc bạch Phật, Phật dạy:

– Nếu anh em cùng cầu xuất gia một lần, được phép độ họ, không phạm. Hai cầu tịch kia đều chưa đủ tuổi, nên giữ lại một người để dạy dỗ sự nghiệp. Ðưa người kia đến với vị thân tri thức, hoặc nơi vị đại đức. Nếu họ đủ tuổi hai mươi mà không cho họ thọ cận viên, bị tội vượt pháp.

Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Ngay trong thành này có một cư sĩ, trong nhà có một nô lệ siêng năng phục vụ không lười biếng, làm bất cứ công việc gì cũng đều hoàn tất.

Sau một thời gian, chủ nhà nổi lên sân hận. Người nô lệ này tự nghĩ: “Người chủ này thật khó phục vụ. Ta nên tìm đường trốn đi”. Nô lệ lại tự nghĩ: “Xứ sở này khó bỏ ra đi được, chư Thanh văn Thích tử được ân sũng của vua, không bị tổn hại, ta nên đến xuất gia với các vị ấy” .

Người nô lệ ấy đi đến rừng Thệ Ða, gặp các Bí-sô, thưa rằng:

– Thánh giả, con muốn xuất gia.

Các Bí-sô cho người này xuất gia và thọ cận viên, chỉ dạy giáo pháp. Vị này y theo giáo pháp tu hành, diệt trừ phiền não, chứng quả A-la-hán.

Bấy giờ, trưởng giả sinh tâm hối hận, tự nghĩ: “Nô lệ của ta đã làm việc tích cực, siêng năng không biếng nhác. Ta không nên tức giận đến nổi nó bỏ đi như vậy. Nếu ta gặp lại nó, sẽ xin lỗi”.

Trưởng giả nghĩ vậy nên đứng bên cửa thành Thất La Phiệt. Khi Bí-sô kia vào giờ khất thực, mang y bưng bát vào thành để khất thực. Trưởng giả thấy vậy, hỏi:

– Hiền thủ, người được xuất gia phải không?

Ðáp:

– Vâng.

Hỏi:

– Hiện nay không có người phục vụ tôi, hãy cùng tôi trở về nhà.

Bấy giờ, Bí-sô bay lên hư không, hiện ra các thần biến. Cư sĩ này thấy thế, sinh tâm hối hận, chuyển sang tín tâm một cách mau lẹ, cũng như cây đại thọ bị ngã xuống, đảnh lễ sát chân vị La-hán, bạch rằng:

– Thánh giả! Ngài đã chứng đắc công năng như vậy. Con nguyện từ nay trở đi, xin ngài nhận y phục, ngọa cụ, thức ăn uống, thuốc men của con.

Sau đó, tiếng đồn khắp nơi, vị nô lệ tên …. xuất gia chứng A-la-hán, có công đức thắng diệu như vậy.

Bấy giờ, vua Thắng Quang nghe lời đồn thế này: “Trưởng giả tên …, có nô lệ xuất gia, chứng ngộ thù thắng, đắc bốn quả Thánh” . Vua ra lệnh cho quần thần:

– Các ngươi phải biết rằng: ta là vua Quán đảnh Sát-đế-lợi. Từ nay trở đi, tất cả những nhà quan quyền trưởng giả có nô lệ cầu xuất tục, phải cho họ xuất gia, không được gây trở ngại.

Thành Thất La Phiệt có một trưởng giả nuôi một người ở siêng năng công việc không lười biếng, v.v… (như ở trước). Người ở này xuất gia, được thọ cận viên. Các Bí-sô dạy các pháp thức và bảo rằng:

– Hiền thủ, nai không nuôi nai. Thành Thất La Phiệt rất rộng lớn, cha mẹ ở nơi đó. Ông nên đến đó khất thực để sống.

Bấy giờ, trưởng giả sanh tâm hối hận, tự nghĩ: “Người ở kia siêng năng làm việc, thường không lười biếng. Nếu ta gặp nó, sẽ xin lỗi” .

Một hôm, trưởng giả đứng bên cửa thành Thất La Phiệt. Bấy giờ đến giờ khất thực, Bí-sô kia mặc y bưng bát vào thành khất thực. Trưởng giả thấy vậy, bảo rằng:

– Hiền thủ, người đã xuất gia, vậy ai sẽ phục vụ ta? Hãy cùng ta về nhà.

Trưởng giả nói xong, liền nắm tay Bí-sô, Bí-sô nói:

– Nếu ngài xúc chạm tôi, ngài sẽ bị cắt cổ tay. Vua Thắng Quang đã có sắc lệnh, ban ân huệ cho các Bí-sô được như thái tử.

Khi ấy, trưởng giả chê bai, than thở với các Bí-sô rằng:

– Sa môn Thích tử phá hoại thành phố và phá hoại Phạm chí. Tại sao lại cho người ở xuất gia?

Các Bí-sô nghe sự việc này, họ bạch Phật. Khi ấy, Thế tôn dạy:

– Ðã có lỗi này. Này các Bí-sô, từ nay về sau không được tùy tiện cho người ở xuất gia. Nếu họ đến cầu xin xuất gia, phải hỏi: “Ngươi có phải là người ở không?” . Nếu cho họ xuất gia, bị tội vượt pháp.

Khi ấy, Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Trong thành có một trưởng giả thường cho vay tiền, hoặc khi thu lãi, hoặc khi thu vốn lẫn lãi.

Sau đó có người quá nghèo, nợ cả vốn lẫn lãi. Trưởng giả bắt giữ lại lâu không thả, buộc họ phải lập cam kết, hẹn ngày trả mới thả cho về. Người kia tự nghĩ: “Trưởng giả này độc ác quá! Ta lại không thể trả hết vốn lẫn lãi. Ta nên bỏ trốn” .

Người này lại nghĩ: “Khó bỏ xứ sở đi được. Sa môn Thích tử đối với nhà vua được xem trọng như thái tử. Ta nên xuất gia với họ được không?” .

Người kia đến rừng Thệ Ða, gặp các Bí-sô, thưa rằng:

– Thánh giả, con cầu xuất gia.

Các Bí-sô cho người này xuất gia, thọ cận viên và dạy các pháp thức. Sau khi được thọ cận viên, Bí-sô này dũng mãnh tinh tấn không gián đoạn, không bao lâu chứng quả A-la-hán.

Bấy giờ, trưởng giả kia sanh tâm hối hận, tự nghĩ: “Số tiền nó nợ ta trong lâu nay thường trả lại gốc và lãi. Tại sao lâu nay ta lại xem thường nó? Nếu bây giờ ta gặp nó, ta sẽ xin lỗi” .

Khi ấy, trưởng giả đứng ở cửa thành chờ đợi. Vào sáng sớm, Bí-sô kia mặc y bưng bát vào thành khất thực, trưởng giả trông thấy, hỏi:

– Hiền thủ, người đã xuất gia, nhưng tôi thường nhận được số tiền nợ cả lãi. Nay người nên trở về nhà.

Trưởng giả liền nắm tay Bí-sô dẫn đi. Khi ấy, Bí-sô liền bay lên hư không, hiện ra mười tám pháp thần thông (nói rộng như trước). Bấy giờ, trưởng giả phát sinh tín tâm một cách mau lẹ, tâm hồi ý chuyển cũng như đại thọ bị ngã xuống đất, bạch rằng:

– Thánh giả, ngài đắc được công đức thù thắng như vậy, chứng quả thượng diệu. Từ nay trở đi, con sẽ cúng dường những tư cụ, y thực cần dùng cho thánh giả. Ngưỡng mong ngài thu nạp.

Bấy giờ, bốn phương đều nghe đồn về người mắc nợ của trưởng giả đắc được quả Thánh như vậy. Vua Thắng Quân nghe việc này, ra lệnh cho đại thần:

– Từ nay trở đi, có những người mắc nợ chưa có thể trả được, lại muốn xuất gia theo Phật, nếu có sự viêc như vậy, không nên vì vậy mà gây trở ngại cho họ.

Thành Thất La Phiệt có một trưởng giả thường cho người khác vay mượn. Khi ấy có một người mượn vật để sinh lãi, v.v…, cho đến xuất gia, v.v… (như ở trước) .

Vào một lúc nọ, Bí-sô này bưng bát đi khất thực, trưởng giả gặp phải, bảo rằng:

– Này Bí-sô! Người đã xuất gia tuy đã lâu nhưng vẫn phải trả lãi cũ cho tôi. Nay người nên cùng tôi trở về nhà.

Trưởng giả muốn cầm tay Bí-sô, Bí-sô nói rằng:

– Người chớ đụng vào tôi. Nếu đụng vào tôi, người sẽ bị chặt tay.

Hỏi:

– Tại sao?

Bí-sô nói:

– Người không nghe sắc lệnh của vua hay sao? Nếu ai muốn xuất gia thì được hủy bỏ tất cả nợ nần .

Mọi người cùng nhau chê bai, nói rằng:

– Thích tử xuất gia có nhiều ngạo mạn. Người đang bị mắc nợ, lại độ cho xuất gia.

Các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật, Phật tự nghĩ: “Lãi này do độ người mắc nợ” .

Ngài bảo các Bí-sô:

– Từ nay trở đi, đối với người mắc nợ, các Bí-sô không được tùy tiện độ cho họ. Nếu ai độ họ, bị tội vượt pháp.

Phật ở thành Thất La Phiệt, vườn Cấp Cô Ðộc. Có trưởng giả cưới vợ chưa bao lâu sinh được một con trai, nuôi dưỡng đến khôn lớn. Người con này vì bị cha giận trách nên tự ý trốn đi. Sau anh ta tự nghĩ: “Thật khó từ bỏ quê hương này, nhưng các Thích tử cũng như vương tử được miễn các việc của mọi người. Nay ta nên xuất gia với họ” .

Người này đến vườn Cấp Cô Ðộc gặp các Bí-sô, thưa rằng:

– Thánh giả, tôi mong được xuất gia.

Khi ấy, các Bí-sô cho nó xuất gia và truyền thọ cận viên.

Sau đó một thời gian, người cha tìm con, đến chỗ các Bí-sô thưa rằng:

– Thánh giả, ngài có thấy đồng tử như vậy đến đây không?

Ðáp:

– Nay đã độ cho người ấy rồi.

Trưởng giả nói:

– Có phải các Bí-sô này thường cầm sẳn dao phải không? Nên có người đến là cạo tóc liền. Tại sao không chờ đến chừng bảy tám hôm mà cạo tóc gấp vậy?

Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật, Phật dạy:

– Không được độ họ ngay. Nếu có đồng tử ở gần đến cầu xuất gia, nên lưu lại bảy tám ngày, sau đó mới độ cho xuất gia. Nếu có người từ phương xa đến, muốn cầu xuất gia, nếu không lưu lại bảy tám ngày độ họ, không phạm.

Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Có trưởng giả lấy vợ chưa bao lâu sinh được một bé trai. Một hôm, trưởng giả bảo vợ rằng:

– Này hiền thủ, con ta lớn lên sự tốn kém sẽ nhiều ra. Ta muốn đi ra buôn bán ở nước ngoài. Những công việc ta làm là để đời con ta được thay đổi tốt hơn.

Sau khi bàn bạc, trưởng giả ra đi, nhưng không thấy trở về. Người vợ nuôi con đến khôn lớn, về mặt học vấn, bà cho con học ngoại điển. Trong khi những người đồng học đối với sách vở luận điển họ đều thông suốt, nhưng người con này lại không thu thập được gì cả.

Vào một lúc nọ, người mẹ đến trường học, nói với giáo sư rằng:

– Cùng học với nhau, tại sao những người khác học hành giỏi, còn con tôi không hiểu gì cả?

Giáo sư trả lời:

– Về mặt học vấn, có hai trường hợp đưa đến thành tựu sự nghiệp học hành. Thế nào là hai? – Một là biết hổ thẹn. Hai là biết sợ hãi. Nhưng đứa trẻ này không có hai đức tính này.

Người mẹ thưa:

– Tại sao thầy giáo không cho nó roi.

Sau đó, khi bị thầy giáo đánh, la mắng, người này khóc lóc trở về gặp mẹ kể lại sự việc. Người mẹ lại đánh thêm. Người con tự nghĩ: “Ta phải gặp việc khổ rồi! Trước đây chỉ bị một nơi đánh, nay phải chịu hai nơi. Ta không thể chịu đựng đau khổ này, ta nên trốn đi” .

Cậu ta đi vào rừng Thệ Ða, thấy một cầu tịch đang hái hoa, liền khen rằng:

– Thầy thật sung sướng.

Hỏi:

– Tại sao?

Ðáp:

– Vì thầy được xuất gia.

Hỏi:

– Nay tại sao người không xuất gia?

Ðáp:

– Thánh giả! Ai có thể độ cho tôi được xuất gia?

Cầu tịch nói:

– Người hãy đến đây, đi cùng tôi đến gặp thầy tôi.

Sau khi gặp thầy, cầu tịch thưa:

– Ô Ba Ðà Da, thiện nam tử này muốn xuất gia.

Bấy giờ, vị thầy liền cho xuất gia. Sau đó, người mẹ đến trường hỏi thầy giáo:

– Con tôi ở đâu?

Thầy dạy đáp:

– Tôi đánh, nó bỏ về rồi.

Người mẹ nói:

– Tôi thấy nó về, lại đánh thêm. Nó bỏ tôi trốn đi rồi.

Bấy giờ, người mẹ hiền này đi khắp nơi tìm con, không gặp. Bà đến đứng ở cửa thành Vương Xá nhìn khắp nơi. Không bao lâu, bà thấy một đồng tử tóc đã cạo, đang cùng cầu tịch kia bưng bát đang đi đến. Người mẹ thấy rõ, đấm ngực khóc lóc, kêu gào bảo rằng:

– Này con ngu si! Ta đã tìm khắp nơi khắp chốn nhưng không gặp, lại không có tin tức gì cả. Nay tại sao con lại xuất gia trong nhóm Sa môn bần tiện này?

Người mẹ nắm tay con kéo lôi về, cởi bỏ cả y bát, bắt buộc phải hoàn tục.

Khi ấy, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật, Phật tự nghĩ: “Không xin phép cha mẹ, lại cho xuất gia, sinh ra nhiều lỗi”.

Phật dạy các Bí-sô:

– Nay Ta chế định: có người muốn xuất gia, không xin phép cha mẹ, vội cho xuất gia, bị tội vượt pháp.

Phật ở tại thành Vương Xá, vườn Trúc Lâm, hồ Yết Lan Ðạc Ca. Ngay trong thành, có một Bà la môn lấy vợ chưa bao lâu sinh được một con trai. Tuổi mới lớn, thình lình bạo bệnh, hỏi khắp thầy thuốc trị liệu, nhưng không hết bệnh. Người mẹ bảo con rằng:

– Con nên đến gặp trưởng giả Thị Phược Ca cầu xin trị liệu bệnh của mình.

Anh ta đến nơi thưa:

– Trưởng giả, xin ngài trị bệnh cho tôi.

Trưởng giả bảo:

– Bệnh người rất nặng, rất khó điều trị. Nhưng ta nay làm y thuật chỉ để trị bệnh cho hai hạng người:

Một: Phật và Tăng.
Hai: người ở trong cung vua.

Bệnh của người, ta không rảnh để trị. Nay người hãy về đi.

Người con trở về, mẹ hỏi:

– Con hết bệnh chưa?

Ðáp:

– Bệnh con không ai trị được.

Người con trình bày như trên. Mẹ bảo con rằng:

– Con nên xuất gia.

Con trả lời mẹ:

– Con là chủng tộc Bà la môn, tại sao con lại xuất gia với những Sa môn Thích tử tạp chủng?

Mẹ bảo con:

– Con nên xuất gia. Sau khi hết bệnh, con sẽ hoàn tục cũng không khó.

Con đáp:

– Nếu xuất gia, con phải bị cạo tóc, việc này phải làm sao?

Mẹ nói:

– Nếu cạo rồi, tóc không mọc thì việc này không thể. Nhưng tóc mọc lại, có gì phải sợ.

Người con đến vườn Trúc, gặp các Bí-sô, đảnh lễ sát chân, bạch rằng:

– Thánh giả, hãy cho con xuất gia.

Sau khi được xuất gia, ngay giữa đêm ấy, người này cứ đứng ngoài cửa, không chịu vào phòng. Thầy hỏi:

– Tại sao không vào phòng?

Ðáp:

– Con có bệnh, không đi vào được.

Thầy nói:

– Nay ngươi xuất gia, tại sao có bệnh?

Thưa rằng:

– Ô Ba Ðà Da, khi con còn ở thế tục, thân con đã bị bệnh.

Thầy hỏi:

– Tại sao ngươi không nói với ta?

Ðáp:

– Không thấy thầy hỏi.

Vị thầy rất tức giận.

Sáng hôm sau, người đệ tử cũ đến thăm thầy, hỏi:

– Thưa Ô Ba Ðà Da, tại sao thầy không vui?

Thầy đáp:

– Trú xứ của ta lại là chỗ nuôi bệnh. Những người có bệnh đều tụ tập lại đây.

Cầu tịch thưa:

– Như Thế tôn dạy, có hai việc:

Một: không nên làm việc quá sức mình.
Hai: đã độ rồi, không nên bỏ.

Thầy đã độ rồi, phải làm thế nào đây?

Khi đang nói chuyện, có Y vương Thị Phược Ca đến nơi. Vị thầy bảo Y sĩ rằng:

– Bệnh của Bí-sô này có thể trị được không?

Y vương đáp:

– Bệnh này quá nặng. Nhưng nếu vua Thắng Quang cung cấp thuốc đầy đủ, tôi sẽ chữa trị cho.

Bí-sô này sau khi được trị hết bệnh, thưa với Ô Ba Ðà Da:

– Con vì có việc mong cầu nên mới đến xuất gia. Nay đã toại nguyện, con muốn trở về nhà.

Thầy nói:

– Con đã đắc quả A-la-hán chưa?

Ðáp:

– Chưa được.

Hỏi:

– Con đã đắc quả Bất-hoàn, Nhất-lai hay Tu-đà-hoàn chưa?

Ðáp:

– Ðều chưa được.

Thầy nói:

– Vậy tại sao con về nhà?

Ðáp:

– Con vì bệnh nên đến đây xuất gia. Nay con đã hết bệnh, vậy ở đây làm gì?

Thầy nói:

– Trong pháp xuất gia có bốn quả thù thắng, con đều không đắc quả nào. Con nên tạm ở đây, bồi hoàn lại thuốc cho người. Không làm như vậy, nếu sau này bị bệnh, chắc chắn chết không nghi ngờ.

Người này không vâng lời thầy dạy, liền bỏ đi về nhà. Sau đó, vì báo ân nên cung cấp hoa quả, tăm xỉa răng cho Thị Phược Ca. Bấy giờ, Thị Phược Ca bảo rằng:

– Hiền thủ, người đến với ta vì cần gì?

Bà la môn kia thưa rằng:

– Tôi không cầu gì cả, chỉ là báo ân.

Trưởng giả Phược Ca nói:

– Ta đã làm việc lợi ích gì cho ngươi?

Ðáp:

– Trước đây tôi bị bệnh, ngài đã trị cho tôi hết bệnh.

Bấy giờ, Thị Phược Ca bảo rằng:

– Ta không nhớ.

Ðáp:

– Tôi sẽ kể lại.

Khi ấy, Thị Phược Ca nhờ vậy nhớ lại sự việc này nên nói rằng:

– Ngươi đã được xuất gia trong pháp luật thiện thuyết, phải chứng đắc bốn quả Sa môn. Ngươi đã thọ của tín thí, nay lại đọa vào việc ác.

Nói thế xong, trưởng giả tự nghĩ: “Ta nên đem việc này đến gặp Thế tôn” .

Sau khi gặp Phật, trưởng giả lạy chân Phật, ngồi qua một bên, thưa rằng:

– Bạch Thế tôn! Các Bí-sô cho người bệnh xuất gia thọ cận viên. Do đó, làm cho kho tàng của nhà vua dần dần bị tổn giảm, thân con cũng lao nhọc. Lại nữa, đối với các vị Thánh giả cũng bị bất lợi trong việc tu thiện pháp. Ngưỡng mong Thế tôn chế định: đừng cho người bệnh xuất gia nữa.

Phật im lặng hứa khả.

Thị Phược Ca biết Phật im lặng hứa rồi, đảnh lễ từ giã.

Phật tự nghĩ: “Tất cả sai lầm này đều do độ người bệnh mà ra”. Phật dạy các Bí-sô:

– Từ nay trở đi không được độ người có bệnh. Nếu có người đến cầu xuất gia, trước tiên hỏi có bệnh không, nếu không hỏi bị tội vượt pháp.

Phật ở thành Kiếp Tỷ La, trong rừng Ny Cù Ðà. Khi ấy, vua Tịnh Phạn ra lệnh rằng:

– Dòng họ Thích trong thành Kiếp Tỷ La, mỗi nhà chỉ cho một người xuất gia.

Khi bà con thân thuộc đến thăm viếng, người xuất gia ấy vì thân thuộc thuyết pháp. Họ nghe pháp, sinh tâm hoan hỷ, phát lòng tin, họ liền xuất gia. Trong số ấy có cha, anh, chồng, chú, con… của họ đều sinh buồn khổ, khóc lóc vang dậy từ sáng đến chiều.

Bấy giờ vua Tịnh Phạn nghe tiếng khóc của Thích chủng tử, bảo rằng:

– Tại sao cả ngày đêm các Thích chủng tử khóc lóc như vậy?

Khi ấy, Thích chủng tử thưa rằng:

– Quyến thuộc của chúng tôi đang ở trong rừng. Các Thánh giả đã cho họ xuất gia, tạo ra sự đau khổ này, thế nên chúng tôi khóc lóc.

Nhà vua nghe lời này, tự nghĩ: “Ta nên đến gặp Phật” .

Vua đến nơi, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên, thưa Phật rằng:

– Thế tôn! Ngưỡng mong Thế tôn cho tôi một ước nguyện.

Thế tôn hỏi:

– Ðại vương! Ngài muốn điều gì?

Vua nói:

– Tôi có điều nguyện nhỏ, vì các Thích chủng nên nói ra. Nếu Thế tôn làm bậc Chuyển luân Thánh vương bay đi khắp bốn thiên hạ, chúng tôi cũng đi theo Thế tôn. Nay Ngài đã xuất gia, điều chúng tôi kỳ vọng không thể đạt được. Lại nữa, Nan Ðà sẽ là Lực chuyển Luân vương. Lại được Thế tôn độ cho xuất gia nên cũng tuyệt mất hy vọng. La Hổ La có đại uy đức sẽ lên làm vua. Nay Thế tôn đã độ cho xuất gia, Thích chủng chúng tôi tuyệt mất hy vọng. Thưa Ðại đức, cha mẹ đối với con, tình thương rất sâu đậm. Ngưỡng mong Thế tôn chế định: Nếu cha mẹ chưa cho phép, không cho xuất gia.

Khi ấy, Thế tôn im lặng nhận lời yêu cầu của phụ vương.

Nhà vua thấy Phật đồng ý, đảnh lễ chân Phật, từ giã ra về.

Phật tự nghĩ: “Các lỗi này đều không do hỏi ý kiến cha mẹ mà cho xuất gia và thọ cận viên” .

Phật dạy các Bí-sô:

– Nếu có người đến cầu xuất gia, trước hết phải hỏi họ về việc cha mẹ cho phép, rồi mới được cho xuất gia. Nếu không hỏi trước, bị tội vượt pháp.

Thế tôn đã chế định những người cha mẹ không cho phép, không được xuất gia. Khi ấy, có người từ xa đến, cha mẹ họ đã cho phép xuất gia, các Bí-sô không dám tự ý độ cho xuất gia, làm cho họ bị lỡ việc. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật, Phật dạy:

– Nếu có người từ xa đến, trước đó cha mẹ họ đã cho phép họ xuất gia, nên độ họ xuất gia. Không hỏi, không phạm.

– Hết quyển 3 –

[ ^ ]

Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da

Xuất Gia Sự

Hán dịch: Đường Tam Tạng Nghĩa Tịnh
Việt dịch: Tỳ Kheo Tâm Hạnh

-o0o-

Quyển thứ tư

Thành kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.

Bấy giờ có các vị thương gia trở về bờ sau khi gian nan trên biển. Họ rất mệt nhọc nên đều buồn ngủ. Khi ấy, Bí-sô Tăng Hộ quan sát biển lớn, phát sinh ý nghĩ: “Như Phật đã dạy, có năm việc xem xét không chán. Thế nào là năm?

Một: vua chúa đầy đủ tướng mạo.
Hai: Chuyển luân Thánh vương.
Ba: biển lớn.
Bốn: Diệu Cao Sơn Vương.
Năm: đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Ðó là năm việc.”

Tăng Hộ quan sát một lúc lâu, đến canh năm mới đi ngủ.

Bấy giờ, các thương gia chỉnh đốn voi, xe, vận tải, hàng hóa lên đường. Ðến khi trời sáng, họ không tìm thấy Tăng Hộ. Họ rất hoang mang, tìm kiếm bốn phương, nhưng vẫn không tìm thấy. Trong nhóm, có người nói tìm phía trước, có người nói ở phía sau. Tìm khắp bốn phía nhưng không thấy. Họ rất buồn khổ, nói rằng:

– Chúng ta bỏ Thánh giả lại, điều này không an lành gì cả, nên trở lại tìm ngài.

Có người lại nói:

– Vị Thánh giả kia có đại uy thần, hiểm nạn trong biển lớn mà vẫn bình an như vậy, huống chi ở đất bằng mà lại nguy hiểm cho ngài hay sao?

Họ nói thế xong, cùng nhau tiếp tục lên đường.

Bấy giờ, Tăng Hộ ngủ trên đống sỏi ở sa mạc, trời nóng liền thức dậy, đứng lên nhìn bốn phía, không có một bóng người, tự nói rằng: “Các thương gia này bỏ ta ra đi, ta không nên ở đây, nên đi tiếp tục”.

Tăng Hộ liền lần hồi lên đường, không thấy dấu chân người, chỉ có đường nhỏ. Tăng Hộ đi theo đường nhỏ, đến một khu rừng lớn, thấy trong rừng có ngôi chùa tráng lệ, tịnh diệu, chỗ ngồi nằm đều bằng nệm, lầu gác, điện đường rất đẹp. Trong chùa có nước suối trong chảy quanh, cây quý mọc thành hàng, nhiều màu sắc lạ lùng, cây lá chứa ánh sáng. Trong hồ nước có các loài chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, bạch nga, như các loại chim ở thiên cung. Trong chùa có các Bí-sô đầy đủ uy nghi.

Bấy giờ Tăng Hộ thấy những vị đồng phạm hạnh, liền đến gặp các vị ấy, cung kính đảnh lễ. Bí-sô kia nói:

– Thiện lai! Thiện Lai! Này Tăng Hộ, người từ đâu đến?

Tăng Hộ đem sự việc của mình kể ra.

Khi ấy, Bí-sô kia sau khi sắp xếp rồi, đưa Tăng Hộ vào trong chùa. Tăng Hộ thấy các chỗ ngồi tốt đẹp, có thức ăn ngon. Bí-sô kia hỏi rằng:

– Thầy có đói khát không?

Ðáp:

– Ðói khát.

Vị kia nói:

– Nếu thấy đói, nên ăn đi.

Ðáp:

– Ðợi Tăng già ăn, tôi sẽ ăn chung.

Bí-sô kia nói:

– Thầy đi đường bệnh, mệt nhọc, nên ăn cho no đủ. Nếu chờ đến giờ ăn, sẽ có những chuyện không hay.

Tăng Hộ ăn xong, đi qua một bên.

Ðến giờ ăn, trong chùa đánh kiền chùy, tập Tăng già. Mỗi người tự mang bát, đến nhà ăn, ngồi theo thứ tự. Khi ấy, phòng xá nhà chùa biến mất, bát của mỗi người biến thành cây ống bằng sắt. Mọi người cầm cây sắt này đánh lẫn nhau, đầu mặt tét ra, chảy máu khắp đất, chịu đựng những đau khổ bị thương như vậy. Tàn giờ ăn, chùa hiện lại như cũ. Các Bí-sô kia bình phục lại như thường, các căn tịch tịnh, ngồi theo thứ tự.

Bấy giờ Tăng Hộ đến chỗ Bí-sô thưa rằng:

– Thưa Thánh giả, quý ngài đã gây ra nghiệp nhân gì mà có sự việc như vậy, chịu các khổ não?

Ðáp:

– Này đại đức Tăng Hộ! Người ở Chiêm Bộ Châu không có lòng tin.

Tăng Hộ nói rằng:

– Tôi thấy trước mắt, tại sao không tin.

Ðáp:

– Này Tăng Hộ! Trước đây, vào thời Phật Ca Nhiếp Ba, chúng tôi là Thanh Văn, khi sắp đến giờ ăn, cùng nhau giành giật, đánh lộn. Do nghiệp này, khiến cho chúng tôi ở đây thọ riêng địa ngục. Khi thầy về, nên nói với tăng già ở Chiêm Bộ: mỗi khi đến giờ ăn chớ có giành giật, đánh nhau. Nếu ai giành giật đánh nhau sẽ chịu khổ này.

Tăng Hộ trả lời:

– Xin vâng! Tôi sẽ làm đúng như vậy.

Tăng Hộ từ giã đi về phía trước. Lại thấy một ngôi chùa. Chùa này nguy nga không khác chùa trước. Tăng Hộ lại thấy Bí-sô uy nghi đầy đủ. Sự việc lại xảy ra như trước. Trong bát của Bí-sô có nước đồng sôi nóng. Các Bí-sô dùng tay vớt lên,…. cho đến khi chùa hiện ra như cũ. Chúng Bí-sô ấy lại ngồi yên như cũ theo thứ tự.

Tăng Hộ hỏi rằng:

– Ðại đức, Do nghiệp lực gì sinh đến chỗ này, thọ khổ như vậy?

Bí-sô nói:

– Chúng sinh khó tin.

Ðáp:

– Tự thân tôi thấy, tại sao không tin?

Bí-sô nói:

– Tăng Hộ nên biết. Tôi là Thanh văn ở nơi Phật Ca Nhiếp Ba. Mỗi khi đến giờ ăn, được các món ăn ngon. Khi ấy, có khách Bí-sô đến, chúng tôi tham ăn nên phát sinh ý nghĩ: “Chờ khách đi rồi, khi ấy sẽ cùng nhau ăn”.

Gặp lúc trời mưa kéo dài đến bảy ngày. Bí-sô khách vì mưa bùn lầy lội nên không thể lên đường. Vì kéo dài đến bảy ngày không đem ra dùng nên thức ăn bị hư thối không ăn được, phải vứt bỏ đi hết. Vì thọ của tín thí nhưng không đem ăn một cách bình đẳng, đến nỗi phải vứt bỏ. Do nghiệp này, sinh ở biệt ngục, chỉ chịu khổ nhẹ. Sau khi thọ đủ rồi thì chết, đọa vào đại địa ngục.

Này Tăng Hộ! Ngươi về bảo các Bí-sô ở nhân gian chớ có hành động như vậy. Ai làm vậy sẽ rước lấy cái khổ ở địa ngục.

Tăng Hộ nghe lời này, liền từ giã ra đi, tuần tự lên đường. Lại thấy một ngôi chùa tráng lệ như trước, có các Bí-sô đến giờ ăn ngồi thứ tự như trước.

Bấy giờ chùa phát hỏa cháy rực rỡ, dữ dội, chúng Bí-sô đều bị thiêu đốt. Qua giờ ăn, chùa hiện trở lại như cũ. Chúng Bí-sô các căn bình phục, lại ngồi theo thứ tự. Tăng Hộ hỏi và được trả lời như trước.

Bí-sô kia nói rằng:

– Hãy lắng nghe. Xưa kia chúng tôi là Thanh văn ở chỗ Phật Ca Nhiếp Ba. Chúng tôi phá giới, bị Tăng tẫn xuất, chúng tôi đến nơi khác cộng trú với những người như tôi. Sau đó có một Bí-sô trì giới tinh tấn đến chỗ này. Sau lại có Bí-sô trì giới đầy đủ cũng đến chỗ này chỉnh lý Tăng đồ. Họ trách chúng tôi, chúng tôi không chịu nhường nhịn. Sau đó, vào giờ ăn, đại chúng đang ăn uống, chúng tôi đồng tâm phóng lửa đốt chùa, đốt đến cháy rụi. Do nghiệp lực ấy, sinh trong chỗ này, chịu riêng khổ này. Khi hết khổ này, đọa đại địa ngục. Thầy nên về báo với Bí-sô ở Chiêm Bộ đừng làm việc ấy. Nếu làm như vậy, phải bị tội như chúng tôi, chịu khổ như thế.

Tăng Hộ lại thấy có hữu tình hình thể như bức vách, hoặc như cây lớn, hoặc như chiếc lá, hoặc như hoa, hoặc như trái, hoặc như cây trụ. Tất cả hữu tình ấy đều bị dây trói kéo đi làm cho sập bẫy.

Bấy giờ, Tăng Hộ lần lượt đi tới, đến một trú xứ có năm trăm tiên nhân. Họ thấy Tăng Hộ đến, nói với nhau rằng:

– Sa môn Thích tử này đa ngôn đa ngữ. Các ngươi đừng nên nói chuyện với họ.

Nói như thế rồi, các vị tiên đều im lặng.

Bấy giờ Tăng Hộ đi đến nói với các tiên nhân:

– Xin các ngài cho tôi chỗ nghỉ ngơi.

Các tiên im lặng, không ai lên tiếng cả. Trong chúng có một tiên nhân từ bi mẫn niệm, bảo các tiên nhân:

– Lẽ nào không bố thí chỗ cho Sa môn Thích tử.

Các tiên nhân nói:

– Nên cho họ chỗ ngồi nhưng không cho nói chuyện.

Tăng Hộ đáp:

– Xin vâng.

Họ bố trí Tăng Hộ ở một phòng trống. Tăng Hộ ở phòng này, rửa chân, trải tòa, an trí chỗ ngồi, đoan thân chánh niệm.

Tại trú xứ tiên nhân này, trước đây có rất nhiều thiên nữ. Vào đầu đêm, họ đến chỗ Tăng Hộ, thưa rằng:

– Thưa Thánh giả, xin ngài vì chúng con thuyết giảng pháp yếu.

Tăng Hộ trả lời:

– Này chị em, quý vị hưởng thọ rất nhiều khoái lạc. Tôi bị các tiên chế phục, không cho nói chuyện nên mới được ở tịnh thất này. Này chị em, bảo tôi thuyết pháp là muốn làm cho tôi đi khỏi nơi này, phải không?

Khi ấy, các thiên nữ tự nghĩ: “Sa môn Thích tử này đi từ xa đến, thân thể mệt nhọc. Ta nên đi nơi khác”.

Suy nghĩ như thế rồi, chư thiên bỏ đi.

Sau nửa đêm, thiên nữ lại đến chỗ Tăng Hộ, bạch rằng:

– Thánh giả, hãy vì tôi thuyết pháp.

Tăng Hộ nói:

– Quý vị quyết định đẩy tôi ra khỏi chỗ này, phải không?

Chư thiên lại suy nghĩ: “Vị này ngủ nghỉ chưa đủ. Ta nên tạm thời đi nơi khác”.

Ðến cuối đêm, thiên nữ lại đến bên chỗ Tăng Hộ, thưa rằng:

– Thánh giả, xin vì con thuyết pháp.

Tăng Hộ lại bảo:

– Này chị em! Các người muốn cho ta đi khỏi chỗ này hay sao?

Thiên nữ đáp:

– Trời đã sáng rồi, tại sao không ra đi? Chẳng lẽ ngài không nghe Phật dạy: đến nơi nguy hiểm phải nên nhẫn nại hay sao?

Khi ấy, Tăng Hộ suy nghĩ: “Thiên nữ đã không ưa ta, ta nên mau ra đi”. Lại tự nghĩ: “Các tiên nhân này đều là dị học. ta nên đọc kệ theo sở học của họ để họ nghe, tất họ hoan hỷ”.

Tự nghĩ thế rồi, Tăng Hộ đọc k?:

– Trần truồng và tóc dài
Bôi tro và nhịn ăn
Nằm đất để rửa thân
Ngồi xổm và tà niệm
Các tà pháp như vậy
Không thể thoát sinh tử.
Chỉ trừ chân diệu pháp
Trang nghiêm nơi tự thân
Chánh kiến trú tư duy
Ðể đoạn tham, sân, si
Từ bi, hành hỷ xả
Không giết hại chúng sinh
Cần tu nơi học xứ
Chân Sa môn như vậy
Bà la môn như thế
Nào khác tánh Bí-sô.

Khi Tăng Hộ nói tụng này, các tiên nhân nghe tụng, nói với nhau rằng:

– Người này tụng kinh của ta.

Bấy giờ, các tiên nhân tự mỗi người đều đến lắng nghe lời tụng. Do thiên nữ làm mê hoặc nên họ không thấy nhau.

Bấy giờ, Tăng Hộ thuyết kinh Thành Dụ, làm cho họ giác ngộ. Thuyết kinh này xong, chúng chư thiên chứng quả thứ ba. Các thiên nữ làm cho chư tiên phục hồi bản tâm, thấy được nhau, họ đồng thanh nói rằng:

– Thiện thuyết! Thiện thuyết! Kinh này thật vi diệu!

Họ cùng tán thán như thế rồi bảo nhau:

– Các người đến nghe pháp của vị kia phải không?

Ðáp:

– Ðúng vậy.

Họ lại nói:

– Nay ta ở đây, thu hoạch được lợi ích tốt đẹp vi diệu.

Khi ấy, chư tiên cùng nhau thưa rằng:

– Thánh giả, ngưỡng mong ngài cho chúng con xuất gia thọ cận viên, tu trì phạm hạnh như các tôn giả.

Tăng Hộ nói:

– Các cụ thọ! Quý vị có tín tâm tăng thượng như vậy, đây là thiện sự. Như Thế tôn dạy: Người được xuất gia thu hoạch năm lợi ích. Thế nào là năm?

Một: công đức xuất gia là tự lợi của ta, không cộng thông với người khác. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.

Hai: tự biết rằng ta là người thấp hèn, bị người khác sai khiến. Sau khi xuất gia, lại nhận được sự cúng dường, lễ bái, tán thán của người. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.

Ba: từ cõi này mệnh chung, sẽ sinh cõi thiên, rời khỏi ba đường ác. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.

Bốn: do từ bỏ thế tục, xuất ly sinh tử, sẽ đạt được an ổn vô thượng Niết-bàn. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.

Năm: thường được chư Phật, chúng Thanh văn, các bậc thượng nhân tán thán. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.

Ngươi nên khéo quán sát sự lợi ích này với tâm ân cần trân trọng, xả bỏ các lưới thế tục, cầu đại công đức. Vì vậy nay ta độ ngươi xuất gia. Các ngươi muốn xuất gia ở đây hay đến chỗ Phật?

Chư tiên đáp:

– Ngưỡng mong cùng tôn giả đồng đến chỗ Phật và xuất gia ở đó.

Chư tiên lại thưa:

– Dùng thần lực của tôn giả hay dùng thần thông của chúng tôi đi đến đó?

Tăng Hộ nghe lời này, tâm không vui, tự nghĩ: “Chư tiên nhân chúng nghe ta thuyết pháp, đắc đạo quả cao. Ta tuy thuyết giảng nhưng không đắc quả ấy”.

Tăng Hộ bảo với các tiên:

– Hãy chờ tôi một lúc, tôi có việc cần làm.

Tăng Hộ đến dưới gốc cây, trải tòa, kiết già phu tọa, đoan thân chánh niệm, tâm ý tịch nhiên. Lại tự nghĩ: “Phật dạy: đa văn có năm lợi ích”. (Nói như các nơi khác)

Tăng Hộ tinh tấn như vậy, đoạn trừ phiền não, liền chứng quả A-la-hán, thoát ly ba cõi, cắt đứt bụi trần, không sinh sân hận, xem vàng cũng như đất, xứng đáng là chỗ để Ðế-thích, chư thiên, Phạm, v.v… cúng dường.

Tăng Hộ bảo các tiên:

– Hãy nắm lấy góc y của tôi, nương theo thần lực của tôi để đến chỗ Phật.

Tăng Hộ bay lên hư không như là nhạn chúa, như bầy chim ưng.

Năm trăm khách buôn kia vẫn chưa đi đến nơi, đang dừng ngựa chở hàng hóa lại nghỉ. Thấy Tăng Hộ từ xa đến, họ thưa rằng:

– Thánh giả, ngài đã đến đây rồi à? Nay ngài muốn đi đâu?

Ðáp:

– Năm trăm vị tiên này muốn đến chỗ Phật để cầu xuất gia. Nay tôi cùng đi với họ đưa đến chỗ Phật.

Khi ấy, năm trăm lái buôn cùng thưa rằng:

– Thánh giả, chúng tôi cũng muốn cùng đến đó xuất gia. Thưa Thánh giả, ngài hãy xuống đây tạm nghỉ, chờ chúng con đem tài vật gửi cho gia đình rồi đi cùng ngài.

Sau khi họ phân chia tài sản, Bí-sô Tăng Hộ cùng với một ngàn người đến chỗ Phật. Bấy giờ đức Phật Thế tôn đang có vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh nghe thuyết pháp. Thế tôn thấy nhóm Tăng Hộ từ xa đến, bảo với đại chúng rằng:

– Tất cả các ngươi đều thấy Tăng Hộ Bí-sô cùng với ngàn người kia đang đi đến đây không?

Bí-sô đáp:

– Chúng con đều thấy.

Thế tôn bảo:

– Các việc cúng dường trong thế gian, không gì bằng việc giáo hóa người xuất gia, điều phục tế độ họ.

Khi ấy, nhóm Tăng Hộ lạy sát chân Phật rồi ngồi qua một bên. Cụ thọ Tăng Hộ bạch Phật rằng:

– Thế tôn! Các tộc tánh tử này với số lượng có một ngàn người, đều muốn ngay nơi pháp luật thiện thuyết của Phật, được xuất gia, thọ cận viên, thành Bí-sô tánh. Ngưỡng mong Phật từ bi thương xót hứa cho.

Phật nói:

– Này Bí-sô! Hãy khéo đến đây. Ngay trong giáo pháp của Ta khéo tu phạm hạnh, thành đại Sa môn.

Phật nói lời này xong, râu tóc của ngàn người này đều tự rụng, trên thân tự nhiên được mặc y Tăng-già-chi, tóc như đã được cạo bảy ngày rồi, bình bát nơi tay, uy nghi cụ túc, như Bí-sô có trăm tuổi hạ (như được nói ở những nơi khác).

Thế tôn vì họ thuyết giảng giáo nghĩa. Họ tự tinh tấn, đoạn các phiền não, chứng quả A-la-hán, thoát ly dục vọng của ba cõi, v.v… là chỗ cúng dường của chư thiên, Ðế-thích…

Bấy giờ, cụ thọ Tăng Hộ bạch Phật:

– Thế tôn! Tại chỗ kia con thấy các loài hữu tình có thân thể như tường vách, như trụ cây, như lá, hoa, quả, như cây chổi quét, như chảo, như muỗng, như cối… Tiền thân của chúng đã làm nghiệp gì mà chịu quả báo ấy?

Phật dạy:

– Này Tăng Hộ! Phàm các hữu tình những nghiệp đã làm phải chịu kết quả, không ai thay thế được, v.v… Quả báo phải tự mình chịu lấy.

Ðời quá khứ, trong Hiền kiếp này, khi loài người sống đến hai vạn tuổi, có Phật ra đời hiệu là Ca Nhiếp Ba, ở tại Thiên nhân đọa xứ, trong vườn Thi Lộc. Khi ấy, Phật Ca Nhiếp có các cầu tịch và Bí-sô.

Này Tăng Hộ! Như người đã thấy, chúng sanh hình dáng như tường ấy là những chúng sanh lấy bùn đất làm nhơ bẩn vách tường Tăng già lam nên chịu quả báo như vậy.

Những chúng sanh như trụ là những hữu tình khạc nhổ. hỷ mũi, làm bẩn cột trụ Tăng già lam. Do nghiệp ấy nên thọ quả báo như vậy.

Thấy chúng sanh hình như cái muỗng, chúng sanh này từng là cầu tịch, phân chia nước mật ở Tăng già lam. Có Bí-sô khách đến chỗ cầu tịch, cầu tịch rửa muỗng. Bí-sô khách hỏi:

“Trong Tăng già đã phân chia nước phi thời chưa?”

Cầu tịch đáp:

“Phân chia đã xong, không thấy tôi rửa muỗng hay sao?”

Cầu tịch này lại dựa vào đó nổi giận, chửi rủa. Do nghiệp lực ấy, chịu quả báo như thế.

Thấy những chúng sanh hình như cái cối, ngày trước từng là Bí-sô. Khi muốn làm bát, có một cầu tịch chuyên coi về kho tàng của Tăng già. Bí-sô làm bát đến nơi cầu tịch này hỏi rằng:

“Cho ta mượn cối để giã mè”.

Khi ấy, cầu tịch thưa rằng:

“Ðại đức, hãy chờ đây một lúc. Tôi quên mất nó ở đâu rồi, chút nữa sẽ đưa cối cho”.

Bí-sô nổi giận, nói:

“Nếu ta tự do lấy cối thì không thèm nói chuyện mượn cối, dùng cối giã mè và giã luôn thân ngươi”.

Khi ấy, cầu tịch tự nghĩ: “Nếu ta trả lời chắc vị ấy giận thêm”. Cầu tịch đứng im lặng.

Khi biết Bí-sô hết giận, liền đến bên vị ấy thưa rằng:

“Thầy biết tôi là hạng người nào không?”

Tôn giả kia đáp:

“Người xuất gia làm cầu tịch trong giáo pháp của Phật Ca Nhiếp Ba”.

Cầu tịch nói:

“Sự nghiệp xuất gia của thầy chưa làm xong, thầy bị tất cả phiền não ràng buộc. Tôi đã giải thoát. Thầy nói ra lời thô ác, phải nên sám hối thì tội tiêu diệt”.

Bí-sô kia phát lộ sám hối, quả báo còn lại sinh làm thân hình như cái cối.

Ngươi thấy chúng sanh hình như cái chảo, xưa kia ta từng là tịnh nhân trong nhà chùa, thừa sự Bí-sô, vì Bí-sô rang thuốc. Gặp lúc Bí-sô giận trừng mắt ngó, vì vậy tịnh nhân sinh lòng oán hận, cố ý đập bể chảo. Do nghiệp lực này, thân hình như cái chảo.

Ngươi thấy hữu tình có thân hình bị kéo đứt ra, xưa kia là người thọ sự. Bên ngoài có người bố thí vật dụng cho Tăng được sử dụng khi nóng và khi lạnh. Khi ấy, người thọ sự đem y vật tháng hè dùng cho mùa đông, đem y vật mùa đông dùng cho mùa nóng. Do nghiệp lực này, thọ khổ như vậy.

Khi ấy, các Bí-sô đều có ý nghi ngờ, bạch Phật:

– Cụ thọ Tăng Hộ đã từng làm hạnh nghiệp gì và do nghiệp gì được sinh vào nhà trưởng giả giàu có, lại được xuất gia, chứng quả A-la-hán, làm nên việc lợi ích lớn như vậy?

Phật bảo các Bí-sô:

– Bí-sô Tăng Hộ đã làm các phước nghiệp như sau:

Thời quá khứ, khi loài người sống đến hai vạn tuổi có Phật Ca Nhiếp Ba xuất thế. Khi ấy Phật Ca Nhiếp Ba ở tại tiên nhân đọa xứ, trong vườn Thi Lộc. Tăng Hộ cũng xuất gia với Phật kia, làm thủ chúng, có năm trăm đệ tử. Nam nữ bốn phương đều tín ngưỡng hướng về.

Khi ấy, vị thủ chúng này trọn đời kiên trì phạm hạnh không hủy phạm, nhưng không chứng được quả vị gì. Sau đó, khi làm chúng, vị này phát biểu rằng:

“Tôi kiên trì tu hành phạm hạnh, tinh tấn không lười biếng trong pháp luật thiện thuyết của Phật Ca Diếp nhưng không chứng được quả vị thù thắng. Những công đức tôi làm, nguyện cho tôi trong đời tương lai, khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trong đời, được xuất gia trong pháp luật ấy, tu hành phạm hạnh, đoạn trừ phiền não, chứng quả A-la-hán”.

Bấy giờ, năm trăm đệ tử cùng tập họp lại chỗ thầy, thưa rằng:

“Ô Ba Ðà Da, thầy có đắc quả không?”

Ðáp:

“Chưa đắc”.

Hỏi:

“Thầy phát nguyện thù thắng gì?”

Ðáp:

“Phát nguyện… (như trên) …”

Các đệ tử đồng thưa:

“Nếu Ô Ba Ðà Da chứng quả như vậy, chúng con cũng xin theo ngài xuất gia, cùng chứng quả A-la-hán”.

Bấy giờ, ở tụ lạc có năm trăm người cùng đến chỗ thầy, cũng hỏi đáp như trên. Họ đồng phát nguyện:

“Chúng con cùng nguyện được chứng quả A-la-hán”.

Này các Bí-sô! Ðừng nghi ngờ gì cả. Người thủ chúng trong quá khứ nào phải người nào lạ, nay chính là Tăng Hộ. Năm trăm đệ tử xưa kia chính là năm trăm tiên nhân. Năm trăm người ở tụ lạc thuở xưa, nay chính là năm trăm thương nhân.

Xưa kia, người thủ chúng nhờ nhân duyên cúng dường Tăng già, do hạnh nghiệp ấy được sinh vào nhà giàu có. Do phát nguyện nên nay chứng quả A-la-hán. Lại nữa, do vị ấy xưa kia thường tự điều phục nên nay sinh ra thường điều phục người, độ rộng hữu tình, làm việc lợi ích.

Này các Bí-sô! Trồng nghiệp trắng được quả báo trắng, v.v… như đã nói ở trước.

Này các Bí-sô! Nên học tập như vậy.

Một thời các Bí-sô có tâm nghi ngờ, đem sự việc bạch Phật:

– Bí-sô Hóa Long bắt đầu phát tâm ở nơi nào?

Phật dạy:

– Về quá khứ, trong đời Hiền kiếp này, khi loài người sống đến hai vạn tuổi, có Phật ra đời hiệu là Ca Nhiếp Ba. Ngài ở rừng Thi Lộc, thuyết giảng giáo pháp cho các Thanh văn:

“Này các Bí-sô! Nên trú nơi Lan-nhã, trong núi, dưới cội cây, nơi yên lặng, rừng vắng, am cỏ, chỗ xa vắng, trong hang núi, v.v…, đoan thân chánh niệm ngồi tịch tịnh, dũng mãnh tinh tấn, chớ nên phóng dật, nghe theo lời Ta dạy. Các ngươi nên học như vậy”.

Bấy giờ, các Bí-sô nghe lời dạy xong, theo như lời Phật dạy, người thì đến núi Diệu Cao, hoặc ao Vô Nhiệt, hoặc ao nước khác, trong ấy cũng có bảy chỗ núi vàng, hoặc có người ở thành ấp, tụ lạc.

Bấy giờ có con rồng còn nhỏ, bị vua Kim Sí Ðiểu bắt đem lên không trung. Từ xa, nó thấy Bí-sô các căn tịch tịnh, ngồi ngay ngắn nhập định, rồng nhỏ tự nghĩ: “Các Bí-sô này thật là an lạc, không như thân ta chịu khổ như thế này”. Do đó, rồng sinh tâm quy ngưỡng với lòng tin sâu đậm. Sau khi phát tâm niệm này, rồng nhỏ mạng chung.

Tại nước Bà La Tư Ni có Bà la môn đầy đủ sáu pháp, rồng nhỏ sinh vào nhà này. Ðến khi khôn lớn, đến gặp Phật, xuất gia thọ cận viên, cần tu phạm hạnh, đoạn các phiền não, chứng quả A-la-hán,… (cho đến câu: … Ðế-thích chư thiên cúng dường).

A-la-hán này tự quán sát đã làm nghiệp gì, chết từ đâu đến đây mà chứng được quả này?

Vị này quán sát thấy mình từ Long cung chết đi, sinh vào cõi người. Lại thấy đã gặp đại Thanh văn nên phát tâm ân cần. Lại thấy cha mẹ rồng trong đời quá khứ tại Long cung kia. Vị này liền hiện thần thông đến Long cung kia, thấy cha mẹ ở đời trước đang khóc lóc. Vị này hỏi cha mẹ rồng:

– Tạo sao khóc lóc vậy?

Ðáp:

– Thưa Thánh giả! Tôi sinh được một con, còn nhỏ, bị vua Kim Sí Ðiểu bắt mang đi, giờ không biết ở đâu.

Vị này nói với cha mẹ:

– Tôi chính là con rồng ấy, đã chết ở đây, sinh vào nhà Bà la môn, được xuất gia nơi Phật Ca Nhiếp Ba, cần tu phạm hạnh, đoạn các phiền não, chứng quả A-la-hán.

Rồng mẹ thưa:

– Thánh giả, việc này khó tin, thật là hy hữu. Nhưng người con yêu quý của tôi tính tình rất ác, sinh vào nẻo thiện còn khó, làm sao chứng quả A-la-hán được?

Vị này nói với mẹ:

– Tôi thật chứng quả, không phải lời dối trá.

Rồng mẹ bảo:

– Nếu đúng như lời, từ nay về sau, hằng ngày xin ngài vì tôi mà thọ thực.

Vị này im lặng thọ lời thỉnh này.

Hằng ngày, Bí-sô này thường đến nhận các thức ăn uống thượng diệu. Sau khi ăn xong, trở về chỗ cũ.

Bí-sô này có một cầu tịch. Các Bí-sô hỏi cầu tịch này:

– Thầy của ông hàng ngày đến đâu thọ thực rồi trở về?

Cầu tịch trả lời:

– Tôi không biết.

Bí-sô nói:

– Thầy của ông hàng ngày ăn các món ăn thượng diệu, tại sao ông không đi?

Ðáp:

– Thân giáo sư của tôi có đại uy đức nên mới được đi ăn. Tôi không có uy đức, sao tự đi được.

Bí-sô bảo rằng:

– Khi thầy ông sắp đi, ông nên im lặng nắm một góc y.

Cầu tịch đáp:

– Tôi nắm không quen, sợ bị rơi xuống đất.

Bí-sô bảo:

– Cột núi Tô Hê Lô vào y của thầy ông, núi cũng không rơi, huống gì thân ông.

Sau khi bị khuyến dụ, lúc sắp đến giờ ăn, cầu tịch liền im lặng đến chỗ thầy, đứng vào chổ khuất.

Khi vị thầy muốn bay lên hư không để đi, cầu tịch lặng lẽ nắm lấy góc y của thầy, cũng được bay theo.

Khi ấy, trong Long cung xếp đặt hai chỗ ngồi, hai mạn-đà-la. Thầy thấy vậy hỏi các rồng rằng:

– Tại sao phải xếp hai chỗ ngồi, hai đàn tràng vậy?

Rồng trả lời:

– Thầy nên xem lại phía sau, có phải thêm một người hay không?

Thầy quay lại nhìn, thấy cầu tịch, hỏi:

– Ông cũng đến đây à?

Ðáp:

– Vâng.

Thầy nói:

– Lành thay!

Sau khi họ ngồi vào chỗ, các rồng tự nghĩ: “Vị sư chủ này đắc quả thù thắng, có đại uy đức, phải cúng dường thức ăn của trời. Nhưng vị đệ tử kia chưa chứng được như vậy, nên cho thức ăn của phàm phu”.

Nghĩ thế rồi, các rồng cúng dường như vậy.

Sau khi ăn xong, cầu tịch cầm lấy bát của thầy, trong bát này còn sót lại một hạt cơm, cầu tịch lấy hạt cơm này ăn, thật là ngon ngọt, mùi vị ở thế gian không sánh được. Cầu tịch ăn rồi, tự nghĩ: “Hai người cùng ăn, sao lại phân làm hai mâm?”. Do đó, cầu tịch sinh tâm sân hận, phát lời nguyền:

– Ta xuất gia nơi Phật Ca Nhiếp, tu tập phạm hanh, nguyện đem công đức này được sinh vào thân rồng, có đại uy đức đoạt lấy cung này, đuổi các con rồng đi hết.

Cầu tịch này do lòng sân quá mãnh liệt, không kể thân mạng, phát nguyện này rồi, thì ngay nơi hai tay tuôn chảy nước trong. Các rồng trong cung đều bị đau đầu. Các rồng bạch rằng:

– Thánh giả! Cầu tịch này không niệm việc thiện, nên ngăn cản lại.

Vị thầy bảo cầu tịch:

– Ðó là đường ác, nay tại sao ông lại phát ra ý niệm như vậy?

Bấy giờ, cầu tịch dùng kệ trả lời thầy:

– Tâm con đã rời xa
Khó biết tìm ở đâu
Hối hận khó được rồi
Hai tay đã chảy nước.

Cầu tịch nói kệ rồi, thân hóa loài rồng, đuổi các rồng chủ kia đi, tự mình chiếm ở trong cung.

Phật bảo các Bí-sô:

– Hóa Long Bí-sô là Long vương bị đuổi. Khi Long vương vì nhân duyên này mà bắt đầu phát tâm.

Phật ở tại thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Có vị ngoại đạo đến rừng Cấp Cô Ðộc, thấy trú xứ của các Bí-sô có những giường nằm, tòa ngồi, tư cụ để thọ dụng và các thức ăn uống, vị ấy tự nghĩ: “Sa môn Thích tử thức ăn, chỗ nằm, những thứ sử dụng đều tốt đẹp, nhưng giáo pháp của họ không bằng của ta. Ta nên xuất gia ở đây để được hưởng thụ ẩm thực, ngọa cụ, nhưng khi ta muốn nghe pháp thì đi về chỗ cũ”.

Ngoại đạo này nghĩ như thế rồi, đến gặp Bí-sô, thưa rằng:

– Thánh giả, con muốn xuất gia.

Chúng Bí-sô cho người này xuất gia và thọ cận viên.

Thường pháp của ngoại đạo là làm Bao-sái-đà vào ngày mười bốn. Bí-sô Bao-sái-đà vào ngày mười lăm. Ngoại đạo kia vào ngày mười bốn lại ở tại trú xứ ngoại đạo để Bao-sái-đà. Ðến ngày mười lăm lại trở về chỗ cùng các Bí-sô làm trưởng tịnh.

Sau đó, vào một lúc khác nhằm ngày mười bốn hắc nguyệt, Tăng già trưởng tịnh. Bấy giờ ngoại đạo kia tự nghĩ: “Hôm nay hai nơi cùng làm trưởng tịnh, vậy ta nên đến nơi kia hay nên ở đây?”. Ngoại đạo lại nghĩ: “Sa môn Thích tử từ bi hỷ xả, pháp tắc khoan dung. Ngoại đạo kia pháp tắc nghiêm ngặt. Nếu ta không đến tất họ phạt nặng và nghiêm trách ta”.

Nghĩ thế xong, ngoại đạo này liền đến chỗ trú xứ ngoại đạo cũ.

Bấy giờ, các Bí-sô đánh kiền chùy, tập hợp Tăng già. Ðại chúng tập hợp xong, người bỉnh pháp thưa rằng:

– Tăng già tập hợp hết chưa?

Các Bí-sô không tìm thấy Bí-sô ngoại đạo kia. Khi không tìm thấy người này, đại chúng trưởng tịnh.

Sáng hôm sau, Bí-sô ngoại đạo này trở về, các Bí-sô hỏi rằng:

– Ngày hôm qua thầy đi đâu vậy?

Ðáp:

– Tôi trở về chỗ tu phạm hạnh cũ rồi trở lại đây.

Lại nói:

– Tôi thọ dụng ẩm thực, ngọa cụ ở đây nhưng khi thọ pháp, tôi trở lại chỗ cũ.

Bấy giờ, các Bí-sô đem sự việc bạch Phật, Phật dạy:

– Người ngoại đạo kia còn chấp tà kiến, ưa thích pháp của họ, không bỏ tà kiến, sống trong giáo pháp của ta cuối cùng cũng không có lợi ích gì cả, không thể tăng trưởng pháp nhãn. Nên phải diệt tẫn, cho họ hoàn tục. Từ nay trở đi, có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi họ: “Ngươi là ngoại đạo, tâm ưa tà pháp phải không?”. Nếu họ đáp “Vâng”, thì phải đuổi họ ra. Nếu ai không hỏi, bị tội vượt pháp.

Khi ấy, cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:

– Thế tôn! Ðộ ngoại đạo cần phải diệt tẫn. Vậy những hạng ngoại đạo nào cần phải diệt tẫn?

Phật dạy:

Một: vẫn giữ y phục ngoại đạo.
Hai: tâm ý thích kiến thức của họ.
Ba: trở về mặc y phục cũ cho đến khi minh tướng xuất hiện.

Ba loại này đều phải diệt tẫn.

Nhân duyên tại thành Thất La Phiệt, có một trưởng giả lấy vợ chưa bao lâu, sinh được một con trai, nhờ người nuôi nấng.

Bấy giờ, trường giả bảo vợ rằng:

– Hiền thủ, sinh đứa con này tùy ý sử dụng tiền bạc của tôi và thay mặt tôi thanh toán các nợ đã vay mượn.

Dặn bảo xong, trưởng giả đem hàng hóa sang nước khác để buôn bán, nhưng chẳng may qua đời. Người vợ tự lực cánh sinh và nhờ thân thuộc nuôi con lớn dần.

Bấy giờ, thiếu niên này cùng các đồng tử khác cùng đi đến nhà trưởng giả nọ. Trưởng giả này có đứa con gái nhỏ. Cô thấy đồng tử, dùng tràng hoa ném vào người cậu ta.

Các đồng tử kia hỏi thiếu niên:

– Ngươi có hẹn hò cùng cô gái này không?

Ðáp:

– Có.

Các đồng tử nói:

– Trưởng giả này tính tình nghiêm ác. Ngươi đừng nên làm việc này, tổn hại cho ngươi.

Mãi đến chiều tối, các đồng tử giữ thiếu niên này, không cho làm việc phi pháp và cùng đưa cậu ta trở về nhà người mẹ. Họ nói riêng với bà mẹ:

– Tiểu nhi đồng này cùng với con gái nhỏ kia muốn làm việc phi pháp. Chúng con đã khuyên can, không cho làm. Nay chúng con về, trong đêm nay bác nên ngăn cấm.

Người mẹ nói:

– Các cháu đã cùng nhau khuyên can. Việc này thật tốt đẹp.

Người mẹ bảo con trai đi vào trong phòng đã bố trí bình nước và bồn chứa. Sau đó bà nằm ngủ ở cửa phòng.

Ðến nửa đêm về sáng, đồng tử nói với mẹ:

– Hãy mở cửa cho con ra ngoài đại tiểu tiện.

Mẹ bảo:

– Trong phòng có bồn chứa, cứ xử dụng.

Một lúc sau, cậu này lại kêu mẹ:

– Hãy mở cửa cho con.

Người mẹ vẫn không mở. Người con rất tức giận.

Người mẹ nói:

– Ta đã biết con muốn đến chỗ nào rồi. Ta thà chết ở đây, quyết không mở cửa cho con.

Khi lửa dục đã ô nhiễm tâm trí, không ác gì mà không làm, kể cả các ác nghiệp. Ngay lúc ấy, người con cầm gươm giết mẹ nằm chết trên đất, rồi đi đến nhà trường giả.

Ðến nhà kia, thấy cô gái con của trưởng giả hình dung xinh đẹp. Thiếu nữ nói:

– Anh chớ sợ hãi, em ở một mình, không có người khác.

Thiếu niên tự nghĩ: “Ta nên báo cho cô này biết ta đã giết mẹ”.

– Này em, anh đã vì em giết chết mẹ mình rồi.

Cô gái hỏi:

– Ðó là mẹ ruột hay mẹ kế?

Ðáp:

– Mẹ ruột.

Cô gái tự nghĩ: “Người này nổi giận, đến cả mẹ mình cũng giết, huống chi ta là người ngoài!”. Nghĩ như thế, cô này nói rằng:

– Anh chờ đây, em lên lầu một chút.

Cô gái lên lầu rồi, cất cao giọng la lên:

– Trong nhà có giặc!

Thiếu niên này nghe thế, nương vào cửa khe nước trốn ra. Anh ta về đến nhà, ném dao ra đất, la to lên:

– Giặc giết mẹ tôi! Giặc giết mẹ tôi!

Sau khi la khóc, anh ta theo pháp thế gian hỏa thiêu thây mẹ, nhưng vẫn suy nghĩ: “Ta là kẻ ác, tạo tội cực nghịch”, nên tâm ý sợ hãi, không an ổn. Anh ta đến những nơi thờ trời, tùy theo mỗi nơi thưa hỏi về việc tu hạnh nghiệp gì diệt được tội nặng.

Có người nói:

– Cần phải nhảy vào lửa.

Có người nói:

– Lên bờ cao nhảy xuống.

Có người nói:

– Nhảy vào nước.

Có người nói:

– Thắt cổ chết.

Tất cả những lời nói về các phương tiện ấy, đều đưa đến tự chết, không có lối ra.

Sau đó, người này đi đến rừng Thệ Ða, thấy các Bí-sô tụng niệm kinh luận, vang lên âm thanh bài kệ:

– Nếu người làm điều ác
Tu thiện trừ diệt được
Người ấy chói thế gian
Như nhật thoát mâyche.

Bấy giờ người này tự nghĩ: “Xuất gia Thích tử có pháp trừ tội. Nay ta nên xuất gia, tu các thiện nghiệp để diệt trừ tội lỗi của ta?”.

Nghĩ thế rồi, anh ta đi đến chỗ các Bí-sô thưa rằng:

– Thánh giả, con muốn xuất gia. Ngưỡng mong từ mẫn.

Khi ấy, Bí-sô này cho anh ta xuất gia và thọ cận viên.

Sau khi xuất gia, vị Bí-sô này tinh cần đọc tụng, thông suốt cả ba tạng Thánh giáo, biện tài vô ngại, lý luận khéo léo. Có Bí-sô đến hỏi rằng:

– Cụ thọ, do nhân duyên gì mà ngài tinh cần khổ hạnh vậy? Chắc có điều mong cầu.

Vị kia đáp:

– Tôi vì mục đích tiêu diệt trọng tội.

Hỏi:

– Thầy đã gây tội gì?

Ðáp:

– Giết mẹ.

Hỏi:

– Mẹ ruột hay nhũ mẫu?

Ðáp:

– Mẹ ruột.

Bấy giờ, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật. Phật dạy các Bí-sô rằng:

– Nếu có người giết mẹ cầu xuất gia, cho họ xuất gia sẽ phá hoại giáo pháp của ta. Phải đuổi họ ra. Từ nay trở đi trong pháp luật của ta, nếu có người đến cầu xuất gia, phải hỏi họ: “Người không giết mẹ, phải không?”. Nếu không hỏi, bị tội vượt pháp.

Người kia bị chúng Tăng đuổi ra, tự nghĩ: “Nay ta không thể hoàn tục. Nên đến chỗ biên giới xa xôi”. Người này đến trú nơi biên địa, hóa độ một trưởng giả. Trưởng giả đ?i với Bí-sô này sinh tâm kính ngưỡng, tạo một ngôi chùa. Lữ khách bốn phương đều đến chùa này. Người nào đến cũng đều được nghe thuyết pháp. Có nhiều người chứng quả A-la-hán.

Một lúc nọ, Bí-sô này bị bệnh, dùng các loại vỏ thuốc trị liệu nhưng không hết. Ðến lúc quá nguy khốn, giờ chết gần kề, bảo các đệ tử phải xây phòng tắm. Các đệ tử vâng theo lời dạy, xây phòng tắm. Khi ấy, vị Bí-sô chủ chùa này nói kệ:

– Tích tụ đều tiêu tán
Cao tột phải rơi xuống
Hội họp phải biệt ly
Có mạng tất phải chết.

Sau khi nói kệ, vị này qua đời, đọa vào địa ngục vô gián. Các đệ tử đã chứng quả A-la-hán nhập định quán sát xem Ô Ba Ðà Da nay thác sinh chỗ nào.

Họ quán sát kỹ nơi thiên cung nhưng không thấy.

Họ lại quán sát nơi nhân gian, bàng sanh, ngạ quỷ đều không thấy.

Họ lại quán sát chốn đọa ngục, thấy thầy mình đang ở địa ngục vô gián. Bấy giờ các đệ tử đều suy nghĩ: “Ô Ba Ðà Da của ta khi còn sinh tiền trì giới, đa văn, dùng pháp để hóa độ. vậy đã làm nghiệp gì mà đọa vào đọa ngục vô gián?”.

Họ lại quán sát nữa, mới thấy thầy mình có gây nghiệp giết mẹ, nên bị lửa dữ ở địa ngục hành hạ thân xác.

Khi bị hành hạ ở địa ngục, vị này phát sinh ý tưởng cho đây là phòng tắm đã làm, liền kêu lên:

– Phòng tắm! Phòng tắm! Lửa nóng dữ dội, thiêu đốt thân ta.

Khi ấy, ngục tốt nơi cửa dùng chùy đánh lên đầu, bảo rằng:

– Tội nhân bạc phước, đây là địa ngục vô gián, tại sao gọi chỗ này là phòng tắm?

Khi bị đánh vào đầu, vị này phát thiện tâm, liền mạng chung, sinh vào cung trời Tứ thiên vương.

Phàm khi một hữu tình sinh lên cõi thiên, khởi lên ba ý nghĩ:

* Ta từ đâu sinh đến đây?
* Nay ta đang ở chỗ nào?
* Ta có nhân duyên với nghiệp gì?

Khi khởi lên tâm niệm này, người ấy thấy rằng: Ta chết từ địa ngục vô gián, sinh lên cung trời Tứ thiên vương. Do nhân duyên làm phòng tắm để Bí-sô tắm rửa, nhờ phước lực ấy nên được sinh lên cõi trời này.

Bấy giờ vị thiên này tự nghĩ: “Ta nhờ vào phương tiện tốt của Thế tôn, làm cho ta sinh thiên. Ta không nên ở đây, nên đến gặp Thế tôn để báo đáp ân đức này”.

Vị thiên này khi đến gặp Phật, được nghe diệu pháp, chứng sơ quả. Sau khi thấy được chân đế, vị này trở về thiên cung.

Bấy giờ vị đệ tử thượng thủ kia là bậc A-la-hán. Khi sắp đến giờ ăn của chúng Tăng, ngay chỗ bố trí cho Thượng tọa ngồi, người đệ tử nhỏ vì Tăng già dọn nước.

Khi Thượng tọa thọ nước trong bát, đầu ngón tay đụng nước, do cảm giác nước rất lạnh, vị ấy tự nghĩ: “Nay ta ở đây được uống nước lạnh, Ô Ba Ðà Da ở trong địa ngục, uống nước đồng sôi”.

Vị này liền quán sát địa ngục, xem xét khắp nơi nhưng không thấy, lại quán sát khắp nhân gian, bàng sinh, ngạ quỷ đều không thấy, liền quán sát cõi thiên, thấy thầy mình sinh ở cõi Tứ thiên vương, lại đến chỗ Phật, chứng được sơ quả. Thượng tọa này thấy vậy, mỉm cười nói rằng:

– Chỉ có Phật, Pháp, Tăng là sự vi diệu thanh tịnh lớn bất khả tư nghị. Ðây là nghiệp cực trọng, đọa vào địa ngục, nhưng có công năng thù thắng nên được sinh thiên thượng.

Khi ấy, vị đệ tử nhỏ dọn nước, nói với tôn giả ấy rằng:

– Ô Ba Ðà Da chết, thầy được lên làm Thượng tọa nên vui vẻ cười phải không?

Thượng tọa nói:

– Này cụ thọ! Ðiều thầy hỏi, nay chưa đúng lúc. Chờ khi Tăng già tập họp, có thể hỏi việc này, tôi sẽ vì ông nói ra.

Sau đó, Bí-sô Tăng già tập họp, vị đồng học nhỏ thưa hỏi giữa chúng:

– Ðại đức! Trước đây vì việc gì mà hoan hỷ cười vậy? Có phải vì thấy Ô Ba Ðà Da chết, thầy được lên làm Thượng tọa nên sung sướng cười không?

Bấy giờ, vị đệ tử thượng thủ đối trướùc Tăng già trình bày sự việc trên. Các đệ tử nghe xong, rất là hoan hỷ, đều xưng tán:

– Phật, Pháp, Tăng bảo là đại thắng lợi. Ô Ba Ðà Da của ta tạo tội nghiệp như vậy mà còn được sanh thiên.

Giết cha mẹ, căn cứ đây thì phạm tội đại nghịch, nói rộng như trước.

Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, thuyết pháp cho vua Thắng Quang. Nhà vua nghe pháp, được kiến đế. Khi ấy, có tám vạn thiên chúng đồng thời chứng quả, cùng có vô lượng trăm ngàn Phạm chí, Bà la môn, cư sĩ, v.v…

Bấy giờ, vua Thắng Quang cho giống trống tuyên bố hiệu lệnh:

– Trong phạm vi đất nước của ta ở, không được trộm cướp. Nếu ai phạm tội này sẽ ghép vào tội chết. Người bị trộm, ta sẽ đem vật chất bồi thường lại theo giá trị bị mất.

Bấy giờ Thế tôn thuyết giảng kinh Thiếu Niên, đã điều phục được nhà vua. Nhà vua lại ra lệnh giống trống tuyên bố:

– Trong lãnh thổ của ta không được trộm cướp. Nếu kẻ nào vi phạm, phải bị tội chết. Nhà nào bị trộm cướp, ta sẽ đem của cải trong kho ra trả lại.

Khi ấy, nước Ma Yết Ðà có trộm cướp đi về hướng nước Kiều Tát La và ở giữa biên giới hai nước. Khách buôn qua lại đều bị cướp đoạt.

Bấy giờ khách buôn nước Ma Yết Ðà cùng nhau đi đến Kiều Tát La, họ nói với nhau:

– Giữa hai nước này có nhiều trộm cướp, lại bị đánh thuế nặng.

Khi ấy, phần lớn khách buôn trở về, không đi nữa, chỉ ra đi một số ít. Họ đi đến giữa đường bị trộm cướp xuất hiện, cướp đoạt chớp nhoáng. Những khách buôn kia, có người bị giặc giết, có người bỏ tài sản để chạy. Trong nhóm thương nhân này có vị A-la-hán đi theo. Thấy sự việc này, trong lúc chánh tư duy, bị giặc giết hại. Những lái buôn chạy tứ tản được thoát khỏi, họ dùng bùn bôi thân, gào khóc vang dội, cùng nhau đến chỗ vua Thắng Quang chắp tay tâu vua:

– Chúng tôi buôn bán trong lãnh thổ của vua, nay bị giặc cướp.

Vua hỏi:

– Tại đâu?

Ðáp:

– Tâu đại vương, tại chỗ…

Vua ra lệnh đại tướng tên là Tỳ Lâu Lô Trạch Lâu Lại Thác, mau đến chỗ ấy bắt giặc đem về.

Ðại tướng vâng lệnh, đem bốn loại binh đi bắt giặc.

Bấy giờ bọn giặc đang ở yên trong rừng sâu, không mặc áo giáp, cùng nhau chia tiền bạc. Ðại tướng Tỳ Lâu Lô Trạch Lâu Lại Thác điều khiển bốn loại binh bao vây giặc. Bốn mặt nhất thời đánh trống, thổi ốc, bọn giặc kinh hoàng bỏ cả của cải tháo chạy. Có tên bị giết, có tên bị bắt. Ðại tướng quân chuyển tài vật của giặc lấy trộm và giải chúng đến chỗ vua, tâu rằng:

– Ðây là bọn giặc và tài sản đã thu thập được.

Vua bảo bọn giặc rằng:

– Trước đây ta đã cho giống trống tuyên bố hiệu lệnh: trong đất nước ta không được trộm cướp. Nếu ai trộm cướp sẽ bị giết chết. Nhà nào bị cướp, ta sẽ xuất của cải trong kho ra bồi hoàn.

Giặc tâu vua rằng:

– Chúng tôi cũng có nghe vua giống trống ra lệnh, nhưng vì tham tài vật nên trái lệnh vua, làm trộm cướp.

Vua hỏi:

– Các ngươi đã cướp đoạt tài sản của người, tại sao phải giết họ?

Họ tâu:

– Vì muốn khủng bố những người kia.

Vua bảo:

– Các ngươi đã làm người khác sợ hãi.

Nhà vua ra lệnh cho đại thần:

– Ðem bọn giặc này ra giết hết.

Ðại thần đem bọn giặc đến ngã tư đường, bảo mọi người rằng:

– Ðây là giặc cướp bị tội chết, sắp bị đưa ra hành quyết.

Trong nhóm giặc này có một tên chạy thoát được, vào rừng Thệ Ða, đến gặp một Bí-sô, bạch rằng:

– Thánh giả, con muốn xuất gia.

Bấy giờ, Bí-sô kia cho người này xuất gia và thọ cận viên, còn những tên giặc kia đều bị vua giết.

Sau đó, các Bí-sô đi đến Thi Lâm (rừng để xác chết). tên giặc xuất gia cũng đến Thi Lâm. Thấy vua giết những tên giặc kia, liền khóc chảy nước mắt. Các Bí-sô khác thấy, nói với nhau rằng:

– Ðây là Bí-sô mới xuất gia, tín tâm rất sâu, thấy sự chết này, nước mắt chảy ra.

Bí-sô giặc thấy các Bí-sô khen, liền gào to khóc lớn. Các Bí-sô hỏi:

– Tại sao khóc to tiếng vậy?

Ðáp:

– Ðây là cha, đây là anh, đây là em tôi.

Các Bí-sô hỏi:

– Bọn giặc này từng giết vị A-la-hán. Chẳng lẽ ngươi giết hay sao?

Ðáp:

– Ta đã từng giết.

Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:

– Người giết A-la-hán là đoạn phước điền, phạm tội nghịch, cũng là phá hoại pháp của ta, phải diệt tẫn, đuổi về thế tục. Này các Bí-sô! Nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi: “Ngươi không có giết A-la-hán phải không?”. Nếu không hỏi, bị tội vượt pháp.

Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế tôn:

– Nếu có người trước đây đã xuất gia, phá hoại Tăng già. Sau đó, họ đến cầu xuất gia n?a, nên cho họ xuất gia không?

Phật dạy:

– Không được.

Phật bảo Ô Ba Ly:

– Từ nay trở đi, nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi họ: “Ngươi đã có lần nào phá hòa hợp Tăng không”. Nếu họ không phá thì được độ. Nếu không hỏi, bị tội vượt pháp.

Ô Ba Ly hỏi:

– Bạch Thế tôn! Nếu có người đối với Phật Thế tôn sinh tâm ác nghịch, làm thân Phật chảy máu, người ấy lại mong cầu nơi Phật, Pháp, Tăng, tâm ưa thích xuất gia, tu trì phạm hạnh. Trường hợp như vậy nên độ họ không?

Phật dạy:

– Không được. Nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi: “Người không có ác tâm làm thân Phật chảy máu phải không?”. Nếu không có thì được độ. Nếu không hỏi, bị tội vượt pháp.

Ô Ba Ly lại hỏi:

– Bạch Thế tôn! Nếu có người trước đây đã từng xuất gia, phạm một trong bốn pháp Ba-la-thị-ca, rồi hoàn tục. Sau đó, đối với thiện pháp, tâm ưa thích xuất gia, được độ họ không?

Phật dạy:

– Không được. Nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi: “Ngươi đã từng phạm tội tứ trọng không?”. Nếu không hỏi, phạm tội vượt pháp.

Phật ở tại thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Phật bảo các Bí-sô:

– Nếu có Bí-sô hành động bất kiến cử [*] nhân đó hoàn tục, sau lại xuất gia và thọ cận viên. Sau khi thọ cận viên, lại tạo các tội, vẫn không phát lộ, lại còn phát biểu:

“Tôi không thấy tội”.

Nếu có người như vậy, Tăng già phải diệt tẫn.

(* Bất kiến cử, một trong ba cử, tội danh theo Luật tạng:

Một: phạm tội, bị cử tội mà không chịu nhận.
Hai: phạm tội, không chịu ám hối.
Ba: nói dâm dục không chướng đạo pháp.

Ðây chỉ là trường hợp thứ nhất — Người dịch)

Phật dạy:

– Nếu thọ cận viên rồi, nhưng Bí-sô vào không sám hối, không xả ác kiến, khi chúng Tăng cử tội, liền hoàn tục. Sau đó, lại đến cầu xuất gia, nhưng không bỏ ác kiến cũ, cần phải diệt tẫn.

Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc. Có những người đệ tử được lục chúng Bí-sô độ, do không biết tánh hạnh của lục chúng nên họ y chỉ theo. Sau đó, họ biết ác tánh của lục chúng nên từ bỏ, đến quy y nơi khác để thỉnh vấn các sự việc cần làm trong ba thời. Bấy giờ, lục chúng Bí-sô bàn với nhau rằng: “Ðây là những kẻ sống bằng bát đen (Hắc bát sinh), đoạt những đệ tử ta đã độ. Nếu có độ thêm ai, phải độ sắc loại như vậy”.

Sau đó, Ô Ba Nan Ðá thấy một người không tay, bảo rằng:

– Hiền thủ, tại sao người không xuất gia?

Ðáp:

– Ai có thể độ tôi là kẻ không tay?

Ô Ba Nan Ðà nói:

– Giáo pháp của Thế tôn từ bi khoan thứ. Ta sẽ độ ngươi.

Sau đó, Ô Ba Nan Ðà cho người này thọ cận viên. Sau ba bốn ngày, dạy cho các việc uy nghi, ăn uống rồi bảo rằng:

– Ngươi không nghe hay sao? Nai không nuôi nai. Thành Thất La Phiệt rất rộng lớn, ngươi nên đến đó khất thực để sống.

Ðệ tử này thưa:

– Nay thân con như vầy, làm sao khất thực được?

Ô Ba Nan Ðà bảo:

– Cụ thọ, ta sẽ dạy ngươi.

Ô Ba Nan Ðà liền mặc y cho người kia, dùng dây buộc lại, đặt bát trong túi bát, đeo vào vai trái. Tích trượng cột vào vai phải, đi vào thành Thất La Phiệt.

Có người phụ nữ, đi sau Bí-sô này la lên rằng:

– Ai làm việc độc ác phi pháp thế này? Chặt cả hai tay Bí-sô này vậy?

Bí-sô bảo rằng:

– Này chị em! Tôi bị chặt tay khi còn ở thế tục, không phải sau khi xuất gia.

Hỏi:

– Ai độ thầy xuất gia?

Ðáp:

– Ô Ba Ðà Da của tôi là Ô Ba Nan Ðà.

Vị Ô ba tư ca (Cận sự nữ) nói:

– Trừ nhóm lục chúng ác hạnh vô sĩ, ai lại độ người này! Bấy giờ, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật, Phật dạy:

– Này các Bí-sô! Có các lỗi lầm do độ những người thân thể không hoàn cụ. Thế nào là không hoàn cụ? – Ấy là: không tay, không ngón tay, không chân, sứt môi,… các căn không đủ, đều không được độ. Nếu ai độ những người này, phải tội vượt pháp.

Hỏi:

– Nếu người bị chống gậy, bị bạch biến, già quá, nhỏ quá?

Phật dạy:

– Ðều không được độ. Tất cả bệnh làm ô uế ngọa cụ Tăng già đều không được độ.

Lại nữa, chân què, mắt lệch, mắt mù, lưng còm, lùn thấp, bướu cổ, câm điếc, bệnh nước. tất cả những người này đều không được độ. Nếu độ họ, bị tội vượït pháp.

Lại nữa, nếu người quá dâm dục, bị thương tổn bởi nữ nhân, bị thương tổn bởi làm nặng, thương tổn không đi bộ được, đại tiểu tiện không theo ý muốn… Tất cả những hạng này đều không được độ. Nếu độ họ, bị tội vượt pháp.

Lại bạch Phật rằng:

– Nếu bị bệnh ghẻ lác, ghẻ độc, mạch lươn cổ, lác khô, lác ướt, gầy còm, ho hen, xuyển khí, tiêu khát, sốt rét, điên cuồng, hạch, nghiện ngập, trĩ, v.v…?

Phật dạy:

– Không được độ. Nếu ai độ, bị tội vượt pháp.

– Hết quyển 4 (Trọn bộ) –



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *