[1464] TỲ NẠI DA : QUYỂN 01-05

TỲ NẠI DA

Hán Dịch: Đời Diêu Tần Sa Môn Trúc Phật Niệm

Việt Dịch: Thích Tâm Tịnh

Chứng nghĩa: Tỳkheo Thích Ðỗng Minh,

— o0o —

BÀI TỰA TỲ-NẠI-DA

(THÍCH ÐẠO AN thuật)

A-Nan nói kinh vâng theo Thánh chỉ, năm trăm La-hán cùng nhau giám định, phân làm mười hai bộ, đầy đủ lời dạy trong bốn mươi chín năm của Thế Tôn. Nay mười hai bộ ấy được viết lại thành bốn bộ A-Hàm, A-tỳ-đàm, Tỳ-nại-da, đầy đủ ba tạng.

Người học Phật ở Thiên Trúc tôn trọng, đọc tụng, học hỏi luôn và an trí nơi cao quý.

Những Sa-môn bậc cao thì thông suốt ba tạng.

Những Sa-môn bậc vừa và thấp thì thông một hoặc hai tạng mà thôi.

Kinh được lưu hành đến đất Tần, có loại tự đến, là kinh do Sa-môn Thiên Trúc đem sang và tạo thành mười hai bộ, trong đó bộ Tỳ Viết La là nhiều nhất. Do ở nước này có đạo học của Lão, Trang lưu hành, tương tợ với kinh Phương đẳng, cho nên dân chúng ở đây dễ thực hành theo kinh Phật.

Ðạo-An tôi ân hận ba tạng không đủ và cho đó là sự thiếu sót.

Năm Nhâm Ngọ, Cưu-ma-la Phật-đề mang A-tỳ-đàm sao và Tứ A-hàm sao đến Trường An. Với lòng khát ngưỡng đã lâu, ngay trong mùa Hạ ấy đã phiên dịch bộ A-tỳ-đàm sao, gồm bốn quyển. Mùa Ðông lại phiên dịch bộ Tứ A-hàm sao, gồm bốn quyển.

Lại nữa, Luật sư ở nước Kế-Tân – bạn của Phật-đề – tên là Da-xá tụng luật rất thông suốt. Ðạo An tôi liền mời vị ấy dịch ra. Phật-đề đọc tiếng Phạm, Phật-niệm dịch, Ðàm-cảnh ghi chép. Ngày 12 tháng 1 bắt đầu, đến ngày 25 tháng 3 hoàn tất, gồm bốn quyển, tương đương với bản giới kinh mà Ðàm-ma-thi dịch khi xưa. Hai bản rất phù hợp với nhau. Trong 260 việc, có việc nào còn nghi nghờ thì chúng tôi đều hỏi kỹ càng. Xin xét rõ những điểm khác nhau chủ yếu thì mới hiểu rõ được. Trong hai năm ở nước Tần đã đầy đủ ba tạng.

Thế Tôn chế giới ắt có nguyên nhân của nó. Nhóm sáu Tỳ-kheo sanh trong dòng quý tộc, vịn rồng, dựa phượng, tuy thích xuất gia nhưng chưa dứt trừ tâm tánh của người quyền quý, thường làm việc sai trái nên giới này phát sanh. Một người đắc đạo, hai người sanh thiên, hai người làm rồng, một người đọa địa ngục vô gián. Ỷ vào sự quý phái, không biết kềm chế nên tự đánh mất sự thân thích ấy. Giả sử họ là con nhà trung lưu, gặp Phật xuất gia thì tuy không thể ngồi một lần là thành đạo, nhưng chắc không đến nỗi bị khốn khổ như vậy.

Khi Phật chưa chế giới, con người vi phạm những việc ô uế rất nhiều. Sau khi đã chế giới thì tình hình thay đổi tốt đẹp hơn. Việc trì luật của người Thiên Trúc không hoàn toàn thông suốt. Chỉ có người nào nắm đủ mười hai pháp và định lực kiên cường thì mới được khai thị và trao truyền cho. Khi trao truyền, người ấy được dặn đi dặn lại rằng: “Thầy phải thực hành, không được chỉ biết suông”. Lời ấy hết sức thiết thật.

Từ nay về sau, nước Tần có bộ luật này rồi, xin những người cùng chí hướng với tôi cẩn thận trong việc trao truyền. Xin chớ truyền cho những người chưa đủ năm hạ và chẳng trì luật.

— o0o —

Quyển thứ nhất

Có ba loại giới là:

– Giới Vô thượng giới.

– Giới Vô thượng ý.

– Giới Vô thượng trí.

Thế nào là giới Vô thượng giới? – Ở đây Tỳ-kheo trì giới dùng giới giải thoát để tự trang sức, tu tập thuần thục, lo sợ với cả những việc nhỏ, tương ưng với giới ở trong giới. Ðó là giới Vô thượng giới.

Thế nào là giới Vô thượng ý? – Ở đây Tỳ-kheo trừ bỏ dâm dục, đạt đến bốn thiền, chánh định tư duy. Ðó là giới Vô thượng ý.

Thế nào là giới Vô thượng trí? – Ở đây Tỳ-kheo biết đây là khổ đế, biết đây là nguyên nhân của khổ, biết đây là nơi chấm dứt khổ, biết đây là con đường chấm dứt khổ. Ðó là giới Vô thượng trí.

Do ba loại giới này mà có bậc Thuận chơn và hằng sa chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại đã xuất hiện. Ðó là kho tàng, vật báu, sự bí yếu của Phật để giáo huấn ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Chánh đẳng giác.

Phật Thế Tôn ở tại vườn Thạch Ðài, cạnh sông Di Hầu, thuộc thành Bỉ-thế-la (Tần dịch Quảng Bác). Cách thành Bỉ-thế-la không xa có dòng họ Ca-lan-đà-kiềm-ba sanh sống. Gia đình này có người con tên Tu-đạt-đa. Gia đình ấy giàu có vô hạn, ruộng vườn rất nhiều, nhà cửa rộng rãi, voi, ngựa, lạc đà, tiền, thóc lúa, châu báu, vàng bạc, trân châu, lưu ly, ngọc báu, hổ phách, mã não, xa cừ, san hô… nhiều vô số.

Tu-đạt-đa xả bỏ gia đình giàu có ấy, đến gặp Như Lai nghe pháp, đạt được niềm an lạc và tin tưởng. Nhờ lòng tin và sự an lạc này, vị ấy đạt được chánh định, liền cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo. Vị ấy cùng vô số Tỳ-kheo đến vườn Trúc, thuộc thành Câu-tát-la để kiết hạ.

Bấy giờ, gặp lúc đói kém, thóc lúa đắt đỏ, cây lúa bị sương và mưa đá làm chết gần hết. Số ít còn sống sót lại bị sâu ăn hết. Vì thế khất thực rất khó được.

Lúc ấy, Tu-đạt-đa, con của Ca-lan-đà suy nghĩ: “Nay gặp lúc đói kém, thóc lúa đắt đỏ, cây lúa bị mưa đá làm chết gần hết. Số ít còn sống sót lại bị sâu ăn. Vì thế khất thực khó được”. Suy nghĩ xong, Tu-đạt-đa bảo với các Tỳ-kheo rằng:

– Các vị hãy nghe đây! Tôi có một gia đình thân quen ở nước Bỉ-thế-la, giàu có vô hạn; tiền của, ruộng vườn rất nhiều; châu báu và các đồ đạc khác rất sung túc. Chúng ta hãy cùng nhau đến đó để độ cho người thân làm phước, mà các Tỳ-kheo cũng được yên ổn. Ðã đúng thời, chúng ta nên đến nước Bỉ-thế-la. Khi đã đến nước ấy, các Tỳ-kheo sẽ được cúng dường đồ ăn uống, thuốc men và y áo.

Lúc ấy, Tu-đạt-đa – con của Ca-lan-đà – kiết hạ an cư ở Câu-tát-la. Sau ba tháng kiết hạ an cư, các vị ấy may vá y phục. Vào ngày y phục đã được chuẩn bị xong, Tu-đạt-đa liền đắp y, mang bát, dẫn đại chúng đi dần đến Bỉ-thế-la và dừng chân ở vườn Thạch-đài, cạnh sông Di Hầu, thuộc nước Bỉ-thế-la để tìm thức ăn và chia thức ăn cho các Tỳ-kheo.

Khi đến giờ, Tu-đạt-đa – con của Ca-lan-đà – đắp y mang bát đến nhà người thân ở nước Bỉ-thế-la khất thực. Sau khi khất thực xong, vị ấy vội vàng ra đi.

Lúc ấy, nàng hầu của gia đình Ca-lan-đà trông thấy Tu-đạt-đa, con của Ca-lan-đà, đi vào nhà người thân và vội vàng trở ra, liền đến gặp mẹ của Ca-lan-đà, quỳ xuống thưa rằng:

– Hồi nãy quý tử Tu-đạt-đa, con của Ca-lan-đà, đi vào nhà người thân và vội vàng trở ra, không biết vị ấy có bệnh tật hay buồn rầu gì không. Hay là không thích phạm hạnh và đã phạm giới, muốn bỏ đạo hoàn tục?

Nghe xong, mẹ Tu-đạt-đa rất vui mừng, không thể kềm chế được, liền đến chỗ Tu-đạt-đa, bảo với Tu-đạt-đa rằng:

– Thân thể ông có được khỏe không? Có ý tưởng gì khác không? Có ý phạm phạm-hạnh không? Có ý muốn phạm giới, bỏ đạo hoàn tục không? Nếu có tâm ấy thì hãy mau trở về. Này Tu-đạt-đa! Hãy xả giới hoàn tục, mặc sức bố thí và tạo các công đức. Vì sao vậy? – Ở trong chúng của Phật thì giữ gìn giới luật rất khó, học đạo cũng rất khó.

Nghe vậy, Tu-đạt-đa liền bảo với mẹ rằng:

– Tôi không có tật bệnh, cũng không có ý tưởng gì khác, không có phạm phạm-hạnh, ý không muốn phạm giới, bỏ đạo hoàn tục.

Người mẹ lại nói:

– Tu-đạt-đa! Ông nên biết rằng: vợ của ông trước đây xinh đẹp không ai sánh bằng. Nếu không muốn bỏ đạo hoàn tục thì hãy để lại hạt giống để kế tục, làm phát triển dòng tộc của ta. Một mai nếu không có người kế tục thì tiền của, châu báu sẽ bị vua Câu-tát-la đoạt hết.

Tu-đạt-đa đáp:

– Nếu để tôi tiếp tục tu đạo thì tôi có thể làm việc ấy.

Lúc ấy, mẹ Tu-đạt-đa bảo với vợ Tu-đạt-đa rằng:

– Sau nguyệt kỳ ba ngày, hãy mặc y phục khi mới cưới, trang điểm cho đẹp rồi đến báo ta.

Theo lời bà ấy bảo, sau nguyệt kỳ ba ngày, vợ Tu-đạt-đa mặc y phục mà trước đây chồng mình thích, đến chỗ mẹ của Tu-đạt-đa và thưa rằng:

– Nay chính là ngày thứ ba sau nguyệt kỳ.

Sau đó, mẹ Tu-đạt-đa dẫn người vợ ấy đến chỗ Tu-đạt-đa bảo với Tu-đạt-đa rằng:

– Nên biết người vợ này xinh đẹp không ai sánh bằng. Hãy để lại hạt giống nối dõi, đừng để dòng họ ta bị tuyệt tự, tiền của châu báu bị vua Câu-tát-la đoạt hết.

Nói xong, bà ta để người vợ ở lại và lập tức tránh đi.

Lúc ấy, Tu-đạt-đa dẫn người vợ đến chỗ kín và làm việc bất tịnh. Trong chốc lát mà họ làm đến ba lần.

Lúc đó, Ðế Thích giáng thần vào thai ấy. Sau tám chín tháng, vợ Tu-đạt-đa sanh con trai, mặt mày xinh đẹp không ai sánh bằng. Vì trước đây đã nói là để kế tục dòng giống nên người mẹ liền đặt tên cậu ấy là Tục-chủng (kế tục dòng giống)

Sau khi làm việc xấu xa ấy, Tu-đạt-đa xấu hổ và rất nhục nhã đối với người khác. Lúc ấy, Tu-đạt-đa cùng các Tỳ-kheo đồng học kiết hạ an cư xong, mọi người đến thăm hỏi nhau:

– Tâm ý thầy có ổn định không? Sức khỏe có dồi dào không? Trong khi an cư, đồ cúng dường có đầy đủ không? Có phải đi khất thực không? Có bệnh tật và có ý tưởng gì khác không?

Tu-đạt-đa đáp:

– Các thầy nên biêt, tâm ý tôi vẫn ổn định. Trong khi kiết hạ vẫn được no đủ. Cũng không phải ra ngoài khất thực. Không có bệnh tật nhưng lại có ý tưởng khác.

Các Tỳ-kheo đáp:

– Nếu thầy có tâm ổn định an lạc, trong khi kiết hạ hoàn toàn no đủ, lại không có bệnh tật thì vì sao lại có ý tưởng khác?

Tu-đạt-đa liền đem việc mình đã vi phạm trước đây kể hết cho các Tỳ-kheo. Lập tức, các Tỳ-kheo hết sức quở trách Tu-đạt-đa:

– Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói sự xấu xa của dâm dục, của việc hướng về dâm dục, niệm dâm dục, ý dâm dục mạnh mẽ. Thế Tôn đã nói về sự xấu xa của dâm dục, của việc hướng về dâm dục, niệm dâm dục, ý dâm mạnh mẽ.

Sau khi liên tục quở trách, các Tỳ-kheo liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, đem việc đã vi phạm bạch đầy đủ với Thế Tôn. Phật biết nhưng vẫn hỏi Tu-đạt-đa:

– Có thật ông đã phạm việc ấy không?

Ðáp:

– Thật sự con có phạm, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn nói:

– Ta đã dùng vô số phương tiện nói với người ngu về sự xấu xa của dâm dục, của việc hướng về dâm dục, niệm dâm dục, ý dâm mạnh mẽ. Sự xấu xa của dâm dục là như vậy.

Phật dùng nhiều phương tiện kiết giới cho Sa-môn. Ngài quán thấy mười đức của Tỳ-kheo khi họ giữ giới. Mười đức ấy là gì?

1- Giữ gìn, nuôi dưỡng đạo đức và giúp đại chúng hành đạo.

2- Làm cho người chưa tin giới phát sanh lòng tin.

3- Thường làm cho người biết thẹn, thức tỉnh về lỗi lầm của mình.

4- Làm cho người mắc tà kiến đi vào đường chánh.

5- Làm cho người đã chơn chánh càng chơn chánh hơn.

6- Hiện đời học đạo, diệt hết phiền não và làm cho tương lai không còn kiết sử.

7- Phiền não ở tương lai bị diệt trừ, không còn phát sanh.

8- Tích tụ các hạnh lành.

9- Không đánh mất phạm hạnh.

10- Làm cho phạm hạnh tồn tại lâu dài.

Sa-môn đều phải biết điều ấy.

Nhân sự việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng, kiết giới này:

– Tỳ-kheo nào phạm giới, không xả giới, giới sút kém, không tự hối cải, làm việc bất tịnh, phạm pháp dâm dục thì Tỳ-kheo ấy phạm Ba-la-di bồ-đề-a-tát-bà-tứ.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc.

Lúc ấy có Tỳ-kheo khác kiết hạ an cư trong một khu vườn cách thành Câu-tát-la không xa. Gần khu vườn ấy có một con vượn cái sinh sống. Con vượn cái thường đến chỗ thầy Tỳ-kheo, thầy Tỳ-kheo thường cho con vượn ấy ăn. Vì thế, con vượn không sợ Tỳ-kheo ấy và cùng nhau làm hạnh bất tịnh.

Trong đại chúng Tỳ-kheo có người đồng học với Tỳ-kheo ấy, cũng kiết hạ an cư ở nước Câu-tát-la. Sau khi đã mãn hạ, vào ngày y phục đã được may vá hoàn tất, họ đắp y, mang bát đến chỗ Tỳ-kheo nọ, bảo với Tỳ-kheo ấy rằng:

– Từ ngày nhập hạ đến giờ, thầy có bệnh hoạn gì không? Có đi ra ngoài khất thực không? Có ý tưởng gì khác không?

Tỳ-kheo ấy đáp:

– Thưa các vị, trong khi nhập hạ tôi không bị bệnh hoạn, cũng không có loạn tưởng.

Lúc ấy, con vượn từ bên ngoài đi vào, đến thẳng chỗ Tỳ-kheo ấy ngồi ở phía trước, ngó chăm chú Tỳ-kheo nọ. Thấy Tỳ-kheo ấy quay mặt đi, nó lại ngó các Tỳ-kheo khác rồi quay lại ngó Tỳ-kheo ấy, rồi đưa lưng hướng về Tỳ-kheo đó. Tỳ-kheo ấy xấu hổ với các Tỳ-kheo nên không theo con vượn, cũng không liếc nhìn nó.

Thấy Tỳ-kheo ấy không nhìn mình, con vượn phát sanh ý ác, quay mình nắm kéo, cào cấu làm đầu mặt thầy Tỳ-kheo bị thương rồi bỏ đi.

Các Tỳ-kheo lớn tuổi bảo Tỳ-kheo ấy rằng:

– Lúc nãy con vượn đến đây, trước tiên đưa mắt nhìn thầy, rồi quay lại nhìn chúng tôi, rồi lập tức quay lưng về phía thầy. Thấy thầy không nói, không nhìn nó liền nổi giận níu kéo, cào cấu làm đầu mặt thầy bị thương rồi bỏ đi. Như thế là thế nào?

Các Tỳ-kheo gạn hỏi Tỳ-kheo ấy nhiều lần. Bị các Tỳ-kheo gạn hỏi mãi, Tỳ-kheo ấy liền tự thú. Các Tỳ-kheo nói:

– Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói về sự xấu xa của dâm dục, của sự hướng về dâm dục, niệm dâm, sự thiêu đốt của dâm, sự dơ bẩn của dâm, vì sao thầy không chịu quán sát sự dâm dục này, lại đi làm việc ác đó?

Sau nhiều lần quở trách Tỳ-kheo ấy, các Tỳ-kheo liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía, bạch với Phật tất cả những việc mà họ vừa thấy, nghe.

Nghe xong, Phật bảo Tỳ-kheo ấy:

– Có thật vậy không?

Tỳ-kheo ấy xấu hổ, mặt mày thất sắc như dính bụi đất, quỳ gối phải sát đất, sửa y, bày vai phải, chấp tay bạch Thế Tôn:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn!

Thế Tôn bảo Tỳ-kheo ấy:

– Ta há đã không dùng nhiều phương tiện nói cho người ngu biết sự xấu xa của dâm dục, của sự hướng dâm, niệm dâm, sự thiêu đốt của dâm. Ta đã nói tất cả lỗi lầm của dâm dục.

Sau khi dùng vô số phương tiện nói về dâm dục, nhân việc ấy, Phật tập hợp chúng Tăng, quán sát mười đức phát sanh khi Tỳ-kheo giữ giới hạnh, cho đến phạm hạnh tồn tại lâu dài. Kế đó, Phật kiết giới cho các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo nào phạm giới, tâm dâm dục phát sanh, không xả giới, giới sút kém, không tự sám hối mà làm hạnh bất tịnh, cho đến cùng loài súc sanh thì bị vất bỏ, không còn ở trong hàng ngũ Tỳ-kheo.

Thế nào là giới? – Hai trăm năm mươi giới mà Tỳ-kheo phải giữ và giới Vô thượng giới gọi là giới trong giới.

Thế nào là không xả giới?

– Không xả giới là xả giới khi ngu si, loạn ý, khổ não.

– Hướng về người câm điếc xả giới, là không xả giới.

– Xả giới với người không cùng ngôn ngữ là không xả giới.

– Nếu xả giới một mình cũng không thành xả giới.

– Ðối trước tháp Phật, tháp Sa-môn xả giới, cũng không thành xả giới.

Nếu lìa bỏ, không y chỉ Phật, Hòa thượng, bạn của Hòa thượng, A-xà-lê, bạn A-xà-lê và nói với các Tỳ-kheo rằng: “Tôi không sống ở trong Phật pháp, tôi đã từ bỏ không hành đạo nữa”. Các Tỳ-kheo hỏi: “Thầy không hành đạo nữa sao?”. Tỳ-kheo ấy nói: “Không hành đạo nữa”. Thì đó là xả giới.

Hành dâm ba chỗ của người nữ thì bị vứt bỏ. Ba chỗ ấy là:

– Tiếp xúc với đường sanh sản và sự vứt bỏ thứ nhất.

– Tiếp xúc đường đại tiện là sự vứt bỏ thứ hai.

– Tiếp xúc miệng là sự vứt bỏ thứ ba.

Tiếp xúc người nam ở hai chỗ cũng bị vứt bỏ. Ðó là: Tiếp xúc hậu môn và miệng.

Tiếp xúc kẻ bất thành nam ở hai chỗ thì bị vứt bỏ.

Tiếp xúc với kẻ nhị hình vừa có nam căn vừa có nữ căn ở ba chỗ thì bị vứt bỏ, như xúc chạm với người nữ.

Tiếp xúc với súc sanh cái ở hai chỗ thì bị vứt bỏ.

Tiếp xúc với súc sanh đực ở một chỗ thì bị vứt bỏ.

Tiếp xúc với súc sanh chưa rõ đực cái cũng vậy.

Tiếp xúc với súc sanh có hai căn thì có hai chỗ, thì bị vứt bỏ.

Tiếp xúc với gà, chim ở một chỗ thì bị vứt bỏ.

Tiếp xúc với phi nhơn nữ ở ba chỗ thì cũng giống như tiếp xúc với người nữ.

Ðó là tội Ba-la-di làm hạnh bất tịnh.

Lúc ấy, Phật cùng đại chúng đệ tử gồm một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo trụ tại núi Thứu, ở La-duyệt-kỳ.

Khi ấy các Tỳ-kheo gom góp cây và cỏ để làm tịnh thất. Khi các Tỳ-kheo vào thành La-duyệt-kỳ khất thực thì các nam nữ lớn nhỏ ở thành La-duyệt-kỳ đi ra khỏi thành, phá hoại các tịnh thất đem cây về dùng.

Sau khi khất thực xong, các Tỳ-kheo trở về thấy các tịnh thất của mình đã bị phá hoại. Các Tỳ-kheo lại thu lượm cây và cỏ làm tịnh thất mới để ở. Khi họ vào thành La-duyệt-kỳ khất thực, các nam nữ lớn nhỏ trong thành La-duyệt-kỳ lại phá các tịnh thất và mang đi.

Ba lần như vậy, các Tỳ-kheo thấy vậy liền suy nghĩ: “Các nam nữ lớn nhỏ trong thành La-duyệt-kỳ thường đi ra phá tịnh thất”.

Trong chúng ấy có một Tỳ-kheo tên Ðàn-nị-ca – con của người thợ gốm – suy nghĩ như vầy: “Chúng ta lấy cây và cỏ làm tịnh thất. Khi chúng ta đi vào thành khất thực thì các nam nữ trong thành đi ra phá hoại tịnh thất của chúng ta. Ở trong thành này có người thợ xẻ cây gỗ là bà con của ta. Ta phải đến đó xin gỗ ván để làm tịnh thất”.

Khi đã đến giờ thích hợp, Ðàn-nị-ca đắp y, mang bát vào thành La-duyệt-kỳ, đến nhà người thợ xẻ gỗ, bảo với ông ta rằng:

– Anh nên biết, vua A-xà-thế đã ban tặng gỗ cho tôi, anh hãy giao cho tôi.

Thợ xẻ gỗ đáp:

– Nếu vua đã cho thì thầy hãy lấy tùy ý.

Tỳ-kheo Ðàn-nị-ca tự ý lấy hết gỗ tốt – loại tài sản quan trọng của nhà nước – cưa xẻ và chất ở một nơi để giữ.

Lúc ấy, quan giữ thành La-duyệt-kỳ đi tuần trong thành La-duyệt-kỳ, đến chỗ cất chứa gỗ, thấy loại gố cấm của nhà nước bị cưa thành từng đoạn và chất ở một chỗ, liền đến chỗ người thợ xẻ gỗ hỏi rằng:

– Này anh thợ xẻ gỗ! Ai đã cắt gỗ của vua thành nhiều khúc chất ở một chỗ?

Người thợ xẻ gỗ đáp:

– Tỳ-kheo Ðàn-nị-ca đến bảo tôi rằng: “Vua cho tôi gỗ ván, anh hãy giao cho tôi”. Tỳ-kheo ấy lấy gỗ ván cắt thành nhiều khúc rồi chất ở một chỗ.

Lúc ấy người giữ thành giận vua A-xà-thế, liền đến chỗ vua A-xà-thế tâu rằng:

– Loại gỗ xấu không cần dùng rất nhiều, sao không đem cho, lại lấy loại gỗ tốt cho Tỳ-kheo?

Vua nói:

– Ta đâu có cho!

Lúc ấy, vua A-xà-thế bảo sứ giả mời người thợ xẻ gỗ đến. Vâng lệnh, vua, sứ giả liền đến nói với người thợ xẻ gỗ:

– Vua A-xà-thế bảo mời anh.

Người thợ xẻ gỗ liền đến chỗ vua. Trên đường đi, gặp Tỳ-kheo Ðàn-nị-ca, thợ xẻ gỗ liền làm lễ và nói:

– Xin tôn giả hãy cùng tôi đến gặp vua.

Tỳ-kheo đáp:

– Anh hãy đi trước, tôi sẽ đến sau.

Lúc ấy, người thợ xẻ gỗ liền đến chỗ vua. Thấy anh ta, vua liền hỏi:

– Ngươi chẳng phải là người. Vì sao ngươi tự tiện lấy gỗ tốt của vua đem cho Tỳ-kheo?

Người thợ xẻ gỗ đáp:

– Ðại vương nên biết, Tỳ-kheo Ðàn-nị-ca đến chỗ chứa gỗ nói rằng: “Vua đã cho tôi gỗ, anh hãy giao cho tôi”. Tôi liền nói với Tỳ-kheo rằng: “Nếu thật là vua cho thì thầy cứ tùy ý lấy”.

Vua chưa hỏi thợ xẻ gỗ xong thì Tỳ-kheo Ðàn-nị-ca đến chỗ vua. Trông thấy Tỳ-kheo đến, vua bảo bề tôi dẫn thợ xẻ gỗ tạm lánh qua phòng sau và đưa Tỳ-kheo đến gặp vua. Nghe lệnh vua, bề tôi liền đưa thợ xẻ gỗ đi và dẫn Tỳ-kheo đến. Vua hỏi Tỳ-kheo:

– Vì sao ngài tự ý lấy gỗ tốt của vua cắt thành nhiều khúc rồi chất ở một chỗ?

Tỳ-kheo đáp:

– Vua đã cho tôi gỗ.

Vua nói:

– Ta nhớ ta không hề cho.

Tỳ-kheo đáp:

– Vua không nhớù khi mới lên ngôi, vua đã đem ba thứ là: cây, cỏ, nước cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn hay sao?

Nghe Tỳ-kheo nói lời ngụy biện này, vua đáp:

– Này Tỳ-kheo! Những vật mà ta ban cho là vật không có chủ, không phải là vật có chủ. Tỳ-kheo hãy đến nhận pháp vua.

Lúc ấy, vua A-xà-thế bừng bừng nổi giận, nhớ đến công đức của Thế Tôn, im lặng không nói trong giấy lát rồi bảo Tỳ-kheo hãy về đi và đừng tái phạm việc ấy nữa.

Lúc ấy, bá quan cận thận của vua A-xà-thế đều lớn tiếng nói:

– Lạ quá! Tỳ-kheo này vừa được thoát chết!

Tỳ-kheo Ðàn-nị-ca trở về chỗ đại chúng, nói với đại chúng rằng:

– Các thầy nên biết, vừa rồi nhà vua muốn bắt tôi định giết, rồi lại thả.

Các Tỳ-kheo hỏi:

– Có việc gì vậy?

Tỳ-kheo Ðàn-nị-ca nói với đại chúng toàn bộ sự việc trên.

Trong chúng có các Tỳ-kheo hành đầu-đà, nghe việc ấy liền hổ thẹn, đến chỗ Thế Tôn bạch lại việc Tỳ-kheo ấy đã nói.

Lúc ấy, Thế Tôn bảo A-Nan:

– Này A-Nan! Hãy mau đi vào thành La-duyệt, đứng ở ngã tư đường hỏi mọi người rằng: “Nếu Tỳ-kheo ăn trộm năm tiền trở lên, hoặc tấm vải trị giá năm tiền thì vua A-xà-thế dùng hình phạt gì đối với Tỳ-kheo ăn trộm ấy?”.

Vâng lệnh Thế Tôn, A-Nan đảnh lễ Ngài sát đất, nhiễu ba vòng rồi cùng hai Tỳ-kheo vào thành La-duyệt-kỳ, đứng ở ngã tư đường, hỏi người đi đường rằng:

– Nếu Tỳ-kheo ăn trộm năm tiền, hoặc tấm vải trị giá năm tiền thì vua A-xà-thế dùng hình phạt gì?

Lúc ấy, những người đi đường nói rằng:

– Tỳ-kheo nào ăn trộm năm tiền, hoặc tấm vải trị giá năm tiền thì vua A-xà-thế nói rằng đó chẳng phải là Sa-môn.

A-Nan liền ra khỏi thành La-duyệt-kỳ, trở về chỗ Thế Tôn bạch rằng:

– Chúng con vào thành La-duyệt-kỳ, hỏi những người đi đường và họ trả lời là: Nếu Tỳ-kheo trộm năm tiền hoặc tấm vải trị giá năm tiền thì vua A-xà-thế bảo rằng đó chẳng phải là Sa-môn.

Lúc ấy, nhân việc này, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng quan sát mười đức nên Ngài đã kiết giới cho Sa-môn để phạm hạnh được tồn tại lâu dài. Sa-môn phải biết việc này:

– Tỳ-kheo nào ở trong xóm làng, thành quách lấy vật không cho với tâm trộm cắp; do việc lấy vật không cho này, Tỳ-kheo ấy bị vua hoặc đại thần bắt, hoặc đánh, hoặc trói, hoặc đuổi khỏi nước, hoặc nói rằng: “Này Tỳ-kheo! Ông chẳng phải là giặc, chẳng phải là trẻ con, chẳng phải mất trí, mà sao lại lấy vật không cho như thế?” thì mắc tội Ba-la-di.

Tỳ-kheo Ða-xá cư trú ở Câu-tát-la. Nơi ấy gần cửa ải, có lái buôn đến bảo với Tỳ-kheo ấy:

– Tôi gởi ngài ít vật. Hãy giúp tôi đem qua cửa ải, tôi sẽ chia cho ngài một nửa.

Sau khi nhận vật ấy, Tỳ-kheo hối hận, suy nghĩ: “Không biết mình có phạm tội Ba-la-di không?”, liền đem việc ấy bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bảo Tỳ-kheo ấy:

– Tỳ-kheo nào mang đồ vật qua ải giúp lái buôn rồi nhận của lái buôn năm tiền, hoặc vật trị giá năm tiền thì mắc tội Ba-la-di. Trừ ở nơi có giặc cướp, nơi đói khát và đường hiểm.

Lúc ấy, trong làng làm hàng rào, đào hào và xây tường vách để nuôi voi, ngựa, lạc đà, bò, lừa,… dùng dây buộc chúng với nhau. Tỳ-kheo nào lẻn vào giữa đàn gia súc lén tháo dây dẫn chúng ra khỏi rào dậu thì phạm Ba-la-di, dẫn chúng qua hào thì phạm khí tổn, dẫn chúng qua đường hoặc ra bên ngoài thì thành tội Ba-la-di.

Nếu gia súc ở ngoài đất trống mà lùa nó vào trong tường, hoặc vào hào, hoặc vào hàng rào thì cũng phạm Ba-la-di.

Nước của riêng từng nhà, nếu Tỳ-kheo tháo nước với tâm trộm cướp và làm chảy đi một lượng nước đáng giá năm tiền thì mắc tội Ba-la-di. Nếu dùng tay, hoặc dùng chân, hoặc dùng gậy, hoặc dùng mai tháo trộm nước thì mắc tội Ba-la-di.

Tỳ-kheo tắm trong nước, chưa tắm xong thì tháo cho nước chảy, cư sĩ nổi giận nói: “Tỳ-kheo này giả tắm để tháo cho nước chảy”.

Các Tỳ-kheo phân vân không biết mình có mắc tội Ba-la-di không, liền đem việc ấy bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Nếu đem tâm trộm mà tháo nước, khi nước chảy một lượng trị giá năm tiền thì phạm tội Ba-la-di.

Ao có chủ, hoặc không chủ, trong ao có chim, người ta giăng lưới để bắt chim. Tỳ-kheo nào bắt trộm chim ở trong hoặc ngoài lưới trị giá năm tiền với tâm trộm cướp thì phạm Ba-la-di. (Bên trong lưới có chủ, bên ngoài lưới nằm trong ao có chủ. Cả hai trường hợp đều có chủ).

Chim hoặc có chủ, hoặc không chủ, nếu Tỳ-kheo đem tâm trộm bắt chim thì phạm tội Ba-la-di.

Cư sĩ đem chuỗi anh lạc phơi nắng trên mái nhà. Có các con chim có chủ hoặc không chủ tha các chuỗi anh lạc đó mang đi và Tỳ-kheo đoạt lấy chuỗi ngọc đó. Nếu Tỳ-kheo đoạt lấy chuỗi ngọc trị giá năm tiền từ chim có chủ với tâm trộm cướp thì phạm Ba-la-di.

Có Tỳ-kheo đem y mới nhuộm phơi trên nóc nhà và y bị gió cuốn rơi xuống đất. Tỳ-kheo ấy lượm đem vào phòng rồi hối hận nghĩ rằng: “Không biết mình có mắc tội Ba-la-di vì trộm cướp không?”. Tỳ-kheo ấy liền bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Nếu lấy với tâm trộm thì phạm Ba-la-di. Nếu không có tâm trộm thì không phạm.

Nếu y từ tầng giữa rơi xuống đất, hoặc từ dưới đất bay lên tầng giữa, hoặc từ tầng giữa bay lên tầng trên. Nếu Tỳ-kheo lấy y với tâm trộm thì mắc tội Ba-la-di.

Các loại vật khác như hạt mè, gạo, đậu, tiền, đại mạch, tiểu mạch, đậu đen, hạt cải, nếu lấy một số lượng trị giá năm tiền với tâm trộm thì phạm Ba-la-di.

Trong vườn cây ăn quả, có các loại quả như: hồ-đào, nại tử, bì đào, lê,… Có Tỳ-kheo hái ăn rồi sanh phân vân không biết mình có xâm phạm của chúng Tăng không? Có lấy của không cho và mắc tội Ba-la-di không? Vị ấy liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Không phạm Ba-la-di. Nếu chẳng phải đất đã được Tăng kiết giới và có Sa-di hái quả thì không phạm.

Sư tử giết nai ở bên ngoài vườn Trúc, ăn thịt uống máu rồi ngủ, để thừa thức ăn. Có Tỳ-kheo đến lấy thức ăn thừa đó. Sư tử tỉnh dậy, tìm không thấy, liền gầm rống. Phật biết được liền hỏi A-Nan:

– Vì sao sư tử đi quanh khu vườn mà gầm rống?

A-Nan đem việc ấy bạch đầy đủ với Phật. Phật nói:

– Tỳ-kheo nào lấy thức ăn thừa của sư tử có giá trị năm tiền để ăn thì phạm Ba-la-di. Thức ăn dư của hổ, gấu, đười ươi, báo, súc sanh các loài hai chân như chim cắt, diều hâu, ngỗng trời, chim ưng, chim điêu mà Tỳ-kheo lấy thì cũng như vậy.

Thế Tôn bảo:

– Nếu đoạt lấy thức ăn mà chim đang chiếm giữ thì mắc Ba-la-di. Nếu chim kinh sợ bỏ chạy thoát thân, không giữ nữa thì không phạm Ba-la-di.

Có Tỳ-kheo đến nhà người thợ mổ bà con, tự động lấy thịt không được cho, rồi sanh phân vân không biết mình có phạm Ba-la-di hay không, liền bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Nếu lấy với ý trộm cắp thì phạm Ba-la-di. Nếu do chỗ thân quen mà lấy thì không phạm Ba-la-di.

Phật ở tại nước Xá-Vệ cùng với đại chúng Tỳ-kheo. Khi các Tỳ-kheo đi từ Câu-tát-la đến vườn Tát-la-bàn ở nước Xá-Vệ thì bị ăn cướp chặn lấy hết y bát. Vua hoặc xóm làng hay tin liền đuổi bắt bọn cướp lấy y bát trả lại cho Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo phân vân không biết có phạm Ba-la-di không, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào dùng sức đoạt lại y của giặc cướp thì phạm Ba-la-di. Nếu vua hoặc thôn xóm đoạt cho thì không phạm Ba-la-di.

Có một Tỳ-kheo trên đường đi đến Câu-tát-la bị giặc cướp y bát. Tỳ-kheo ấy nhờ bà con đoạt lại y bát của bọn cướp. Ðoạt xong, Tỳ-kheo ấy phân vân không biết mình có phạm Ba-la-di không, liền đến bạch Phật, Phật bảo:

– Ăn cướp đã lấy, không được dùng sức đoạt lại. Nếu dùng sức hoặc bảo người khác đoạt lại thì phạm Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo đem tiền chuộc lại thì được lấy.

Lúc ấy, tôn giả Ưu-ba-ly bạch Thế Tôn:

– Tỳ-kheo lấy tài sản gì của chúng Tăng thì gọi là lấy vật không cho?

Thế Tôn bảo:

– Tài sản đã được đem tới cửa chùa mà Tỳ-kheo lấy trộm mang đi thì phạm Ba-la-di. Tỳ-kheo nào lấy của cải đang được phân chia cũng phạm Ba-la-di.

Tôn giả Ưu-ba-ly hỏi:

– Nếu Tỳ-kheo tự ý lấy đồ vật và những thứ chúng Tăng dùng hàng ngày thì có phạm Ba-la-di không?

Thế Tôn đáp:

– Ðồ vật của chúng Tăng khó có thể lường được. Nếu bị lấy trộm thì công đức của người cúng dường của cải ấy sẽ sút giảm. Vì vậy Tỳ-kheo nào lấy thì phạm Ba-la-di.

Ưu-ba-ly bạch Thế Tôn:

– Tỳ-kheo nào lấy trộm cờ, lọng trên chùa và tháp Phật có phạm Ba-la-di không?

Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào lấy đồ vật ở chùa tháp Phật thì phạm Ba-la-di. Tháp Thanh văn cũng vậy. Nếu lấy các vật trong chùa tháp thì làm mất phước của thí chủ đã cúng các vật ấy nên phạm Ba-la-di. Ai lấy trộm các vật ở chùa tháp sẽ đọa địa ngục.

Phật Thế Tôn ở nước Na-kiệt, tại vườn Kiền-để-việt. Có Ưu-bà-tắc tin tưởng thương mến, tự ý cất một giảng đường cúng dường cho tôn giả La-Vân.

Sau khi nhận giảng đường ấy, tôn giả La-Vân ra đi hai tháng. Nghe tin tôn giả La-Vân nhận giảng đường xong đã ra đi đến hai tháng, Ưu-bà-tắc ấy liền đem giảng đường đó cúng cho Tăng bốn phương.

Sau đó hai tháng, tôn giả La-Vân trở về Na-kiệt và nghe tin đàn-việt đã đem giảng đường ấy cúng cho chúng Tăng bốn phương. Tôn giả La-Vân liền đến chỗ Phật, lễ Phật sát đất, ngồi lui qua một phía rồi bạch với Phật về việc đó. Phật bảo:

– Này La-Vân! Ông hãy đến chỗ Ưu-bà-tắc ấy nói với ông ta rằng: “Ðối với ông, tôi có làm việc gì không đúng, xấu xa, sai trái, bất tịnh, trái với việc của Sa-môn và không thể tùy thuận hay không?”.

Nghe Thế Tôn dạy, tôn giả La-Vân ghi nhớ kỹ, rời khỏi chỗ ngồi, nhiễu Phật rồi đi.

Trời vừa sáng, tôn giả La-Vân đã đắp y mang bát vào thành Na-kiệt khất thực. Sau khi đã khất thực xong, La-vân đến nhà Ưu-bà-tắc ấy. Trông thấy La-Vân đến, ông ta liền đứng dậy, sửa y phục, chấp tay, đến chỗ La-Vân bạch rằng:

– Lành thay, thưa thầy La-Vân! Lâu quá thầy mới đến. Xin mời thầy ngồi.

La-Vân ngồi lên chỗ mà ông ấy mời, rồi bảo với ông ta rằng:

– Này Ưu-bà-tắc! Ðối với ông, tôi có làm việc gì không đúng, xấu xa, sai trái, bất tịnh, trái với việc của Sa-môn và không thể tùy thuận hay không?

Ưu-bà-tắc nói:

– Ðối với tôi, ngài chẳng có làm việc gì sai trái, cho đến không thể tùy thuận.

Nghe xong La-Vân đứng dậy, trở về chỗ Phật, lạy sát chân Ngài rồi đứng qua một phía, đem việc ấy bạch Phật. Do việc ấy, Thế Tôn cho tập hợp chúng Tăng và dạy họ rằng:

– Có mười sự cúng dường phi pháp, thọ nhận phi pháp và dùng phi pháp:

Cúng dường cho một Tỳ-kheo rồi đoạt lại đem cúng cho hai Tỳ-kheo. Ðó là cúng phi pháp, nhận phi pháp và dùng phi pháp.

Cúng dường cho hai Tỳ-kheo rồi lấy lại đem cúng cho ba Tỳ-kheo, là cúng phi pháp, nhận phi pháp và dùng phi pháp.

Cúng dường cho ba Tỳ-kheo rồi lấy lại đem cúng cho nhiều Tỳ-kheo, là cúng phi pháp, nhận phi pháp và dùng phi pháp.

Cúng cho nhiều người rồi lấy lại đem cúng cho một người, là cúng phi pháp, nhận phi pháp và dùng phi pháp.

Cúng cho một người rồi lấy lại đem cho hai người. Lấy của nhiều người đem cúng cho chúng Tăng. Cúng cho Tăng rồi lấy lại đem cúng chúng Tăng khác. Cúng cho hai nhóm Tăng rồi lấy lại đem cúng cho Tỳ-kheo ni tăng. Lấy của Tỳ-kheo ni tăng đem cúng cho Tỳ-kheo ni tăng khác. Tăng chia thành hai nhóm, chưa hòa hợp lại lấy của một nhóm cho nhóm còn lại; hoặc giúp một nhóm, không giúp nhóm kia. Ðó là cúng dường phi pháp, nhận phi pháp và dùng phi pháp.

Sự cúng dường trước là cúng dường, sự cúng dường sau chẳng phải là cúng dường.

Nếu đàn-việt tự ý cúng dường thì có thể nhận dùng. Vua là thí chủ cúng dường giường nằm, y bát cho Tỳ-kheo thì cũng được dùng. Phật nói không kiết giới cho Sa-môn là như vậy.

Trong vườn nho có chủ, Tỳ-kheo nào trèo lên cây hái trộm quả, vừa hái thì phạm Ba-dật-đề. Nếu hái lượng quả trị giá năm tiền thì phạm Ba-la-di. Tất cả quả sống và hoa tươi cũng vậy.

Ở trong vườn mía có chủ, Tỳ-kheo nào chặt mía đem đi thì phạm Ba-dật-đề. Nếu đủ năm tiền thì phạm Ba-la-di.

Ngó sen có chủ, hoặc không có chủ, Tỳ-kheo đào đất để lấy ngó sen có chủ thì phạm Ba-dật-đề. Nếu cắt ngó sen thì phạm Ba-dật-đề. Cắt một lượng có giá đủ năm tiền thì phạm Ba-la-di.

Tất cả các loại rễ, củ khác cũng vậy.

Tại nơi ăn, Tỳ-kheo nhận đến hai phần mà giá đủ năm tiền thì cũng phạm Ba-la-di. Nếu xin đến phần thứ hai của cơm được thỉnh cũng vậy.

Tỳ-kheo nào dạy vua ở hai nước giáp giới đánh nhau thì phạm Ba-la-di. Nếu tự dẫn đường thì phạm Ba-la-di. Khi hai nước phát binh thì phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo kiếm được năm tiền do vệc ấy thì phạm Ba-la-di.

Thế Tôn cùng đại chúng Tỳ-kheo ở tại bờ sông Bạt-cừ-mạc, thuộc thôn Bạt-thự. Lúc ấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Hãy quán sát sự xấu xa này. Hãy nỗ lực quán sát đừng có lười biếng. Hãy không ngừng quán thân bất tịnh. Vì sao vậy? – Vì quán sự xấu xa bất tịnh ấy sẽ được công đức và phước báo lớn.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo suy nghĩ: “Thế Tôn dạy về sự xấu xa, bất tịnh của thân này cho đến ngồi quán sát sự bất tịnh ấy. Ai quán sát sự bất tịnh này sẽ được quả báo và công đức lớn. Các thầy phải cùng nỗ lực quán sát sự bất tịnh, cho đến ngồi quán sát sự bất tịnh. Quán sát việc ấy xong, chúng ta sẽ được quả báo và công đức lớn”.

Các Tỳ-kheo ấy liền nỗ lực quán sát sự bất tịnh, cho đến ngồi quán sự bất tịnh. Sau khi quán sát, họ nhàm chán thân hôi thối, là đống phiền não và cảm thấy xấu hổ, không biết dùng thân này làm gì, khi nào mới thoát được nỗi khổ này?

Giống như có tráng sĩ hết sức xinh đẹp, đeo các chuỗi châu báu anh lạc, tắm rửa, xông ướp hương thơm, đầu đội mũ báu, mang vòng hoa, thân mặc thiên y không có dính bụi, tay chân mịn màng, tóc màu xanh biếc, râu tóc rất mượt, đứng đầu loài người. Có xác rắn, xác chó và xác người chết có màu xanh, trương sình, chảy mủ, hôi thối, bị chim thú rỉa ăn, mỗi phần thân ở một nơi, dính máu hôi thối dơ bẩn… Nếu đem ba xác chết này đeo lên cổ người kia thì người ấy sẽ rất nhờm gớm, rất khổ não, xấu hổ và luôn mong sớm thoát khỏi tai họa đó.

Các Tỳ-kheo quán sát các việc bất tịnh cho đến ngồi quán sự bất tịnh nên nhàm chán thân hôi thối này, tự nghĩ rằng: “Lúc nào mới được chết?!”.

Lúc ấy, trong chúng có một Tỳ-kheo quán sát sự bất tịnh của thân, cho đến tự nhàm chán, liền rời khỏi chỗ, đi tìm Tỳ-kheo Sa-môn-quật, vốn thuộc dòng thợ săn, hỏi rằng:

– Tỳ-kheo Hiền-nghiêm có thể giết tôi không? Tôi sẽ trả công bằng ba y.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Sa-môn-quật liền dùng dao bén giết Tỳ-kheo ấy. Sau khi giết xong, ông ta cầm dao đến sông Bạt-cừ-mạc để rửa máu dính trên dao. Lúc đó có một thiên ma đứng trên sông khen Tỳ-kheo Sa-môn-quật rằng:

– Lành thay! Lành thay! Ngài đã thành tựu công đức lớn, đã độ cho Tỳ-kheo tinh tấn nhưng chưa được độ, đã giải thoát cho người chưa giải thoát, đã giúp người chưa nhập Niết-bàn được nhập Niết-bàn.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Sa-môn-quật suy nghĩ: “Ðúng như lời vị thiên ấy nói, ta có công đức lớn là độ cho các Tỳ-kheo chưa được độ, giải thoát cho những người chưa giải thoát, giúp những người chưa nhập Niết-bàn được nhập Niết-bàn. Ðã độ thoát cho Sa-môn, lại có được ba y, thật đáng vui mừng”.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Sa-môn-quật tin vào tà kiến này nên cầm dao trở vào trong chúng, đến từng phòng bảo rằng:

– Tôi có thể độ cho người chưa được độ, giải thoát cho người chưa giải thoát và giúp cho người chưa nhập Niết-bàn được nhập Niết-bàn. Lúc đó, các Tỳ-kheo quán thân bất tịnh cho đến nhàm chán thân dơ bẩn, hôi hám này, vì thế các Tỳ-kheo trong phòng đều đi ra đến chỗ Tỳ-kheo Sa-môn-quật nói rằng:

– Nếu có thể giết chúng tôi thì chúng tôi sẽ giao cho thầy ba y.

Tỳ-kheo Sa-môn-quật liền cầm dao bén giết một, hai, ba, bốn, năm, cho đến sáu mươi Tỳ-kheo.

Lúc ấy, vào ngày rằm, Thế Tôn thuyết giới. Ngài trải tọa cụ trên tòa cao, ngồi giữa đại chúng. Khi đã ngồi yên, Ngài quán sát chúng Tỳ-kheo thì thấy số lượng Tỳ-kheo đến dự rất ít. Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi A-Nan:

– Này A-Nan! Vì sao hôm nay chúng Tăng đến nghe thuyết giới thưa thớt vậy?

Nghe Thế Tôn hỏi, A-Nan liền quỳ gối phải sát đất, sửa y bày vai phải, chấp tay hướng về đức Phật, bạch Thế Tôn rằng:

– Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo quán thân bất tịnh cho đến nhàm chán thân hôi thối. Thực hành quán bất tịnh sẽ được quả báo và công đức lớn. Lúc ấy các Tỳ-kheo đều tự nói với nhau: “Các thầy nên biết, Thế Tôn bảo quán thân bất tịnh sẽ được quả báo và công đức lớn. Chúng ta hãy cùng nhau quán sát sự bất tịnh để được quả báo và công đức lớn”.

Thế là các Tỳ-kheo quán thân bất tịnh và nhàm chán thân hôi thối này. Giống như người tráng sĩ hết sức khôi ngô, đeo chuỗi châu báu anh lạc trên thân, tắm rửa xông ướp hương thơm, đầu đội mũ báu và vòng hoa, thân mang thiên y không bị dính bụi, tay chân mịn màng, tóc màu xanh biếc, râu tóc mượt mà, đứng đầu loài người. Có xác rắn, xác chó và xác người chết bầm xanh, trương sình, chảy mủ, thối rửa, bị chim thú cắn rỉa, mỗi bộ phận ở một nơi, dính máu dơ bẩn, hôi thối bất tịnh. Nếu đem ba xác chết này đeo vào cổ người ấy thì người ấy sẽ rất nhờm gớm, rất khổ não và tự xấu hổ nghĩ rằng: “Lúc nào ta mới được thoát khỏi tai nạn này?”.

Các Tỳ-kheo quán thân bất tịnh cho đến ngồi quán sát sự bất tịnh nên nhàm chán thân này, tự suy nghĩ rằng: “Khi nào ta mới chết?”.

Lúc ấy, trong chúng có một Tỳ-kheo quán thân bất tịnh cho đến tự nhàm chán, liền rời khỏi chỗ, đến chỗ Tỳ-kheo Sa-môn-quật, con người thợ săn, nói với ông ấy rằng:

“Tỳ-kheo Hiền-nghiêm có thể giết tôi không? Tôi sẽ giao cho thầy ba y”.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Sa-môn-quật cầm dao bén giết Tỳ-kheo nọ. Giết xong, ông ta cầm dao đến sông Bạt-cừ-mạc ngồi rửa dao dính máu. Lúc đó có thiên ma đứng trên sông khen ngợi Tỳ-kheo Sa-môn-quật rằng:

“ Lành thay! Lành thay! Thầy đã đạt được công đức lớn, có thể độ Tỳ-kheo tinh tấn chưa được độ, giải thoát cho Tỳ-kheo chưa được giải thoát, giúp người chưa nhập Niết-bàn được nhập Niết-bàn”.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Sa-môn-quật suy nghĩ: “Ðúng như lời vị thiên ấy nói, ta đã đạt được công đức lớn: độ cho các Tỳ-kheo chưa được độ, giải thoát cho các Tỳ-kheo chưa giải thoát, giúp cho người chưa nhập Niết-bàn được nhập Niết-bàn. Ðã độ Sa-môn, lại được ba y, thật đáng vui mừng”.

Khi ấy, Tỳ-kheo Sa-môn-quật tin vào tà kiến đó, cầm dao trở về trong chúng, đến từng phòng bảo rằng:

“Tôi có thể độ cho người chưa được độ, giải thoát cho người chưa được giải thoát, giúp người chưa nhập Niết-bàn được nhập Niết-bàn”. Lúc ấy, các Tỳ-kheo quán thân bất tịnh cho đến tự nhàm chán thân ô uế. Các Tỳ-kheo trong các phòng liền đến chỗ Tỳ-kheo Sa-môn-quật nói rằng:

“Thầy có thể giết chúng tôi không? Chúng tôi sẽ giao cho thầy ba y”.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Sa-môn-quật cầm dao bén giết một, hai, ba, bốn, năm, cho đến sáu mươi Tỳ-kheo.

Vì lý do đó, số lượng Tỳ-kheo đến nghe thuyết giới rất ít. Kính thưa Thế Tôn, xin Ngài hãy nói các phương tiện giúp các Tỳ-kheo chứng đắc vô lượng trí tuệ.

Lúc ấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo phải học niệm hơi thở và tu pháp môn này một cách rộng rãi, đừng lơ đễnh pháp tu này ngay cả khi ăn và nghỉ ngơi. Vì sao vậy? – Vì tu pháp niệm hơi thở một cách rộng rãi, sau này sẽ được quả báo công đức lớn so với các Tỳ-kheo.

Tỳ-kheo nào cư trú ở xóm làng hoặc thành ấp, khi đến giờ, đắp y mang bát vào làng khất thực thì phải hộ trì thân, giữ gìn sáu căn đừng cho buông lung. Nếu mắt thấy sắc thì không được phát sanh ý tưởng đắm nhiễm. Nếu được như vậy thì thành tựu nhãn căn. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không phát sanh ý tưởng đắm nhiễm đối với pháp trần… Nếu ý không theo pháp trần thì ý căn được thành tựu.

Sau khi đã khất thực xong, hãy mang y bát cất trong phòng, rửa chân, vắt tọa cụ lên vai, tìm đến nơi không người, gốc cây yên tĩnh, lều cỏ trống, nơi bằng phẳng, ngoài vườn, gò mã, hang núi… để cư trú ở đó, hoặc đến nơi yên tĩnh, hoặc đến gốc cây trải tọa cụ, ngồi kiết-già ngay thẳng, không nghiêng ngã, không dựa, chú tâm vào chót mũi.

Khi Tỳ-kheo niệm hơi thở, thở ra cũng niệm, thở vào cũng niệm. Hơi thở ra dài thì biết dài. Hơi thở vào dài thì biết dài. Hơi thở ra ngắn thì biết ngắn. Hơi thở vào ngắn thì biết ngắn. Hơi thở ra ở các lỗ chân lông cũng đều biết. Hơi thở vào ở các lỗ chân lông cũng đều biết. Thở ra với ý an định, tỉnh giác. Hít vào với ý tỉnh giác. Thở ra với sự tỉnh giác nơi thân, miệng, ý. Hít vào với sự tỉnh giác nơi thân, miệng, ý…

Giống như người thợ cưa và đệ tử ông ta kéo đường cưa dài thì biết dài, kéo đường cưa ngắn thì biết ngắn; Tỳ-kheo học quán niệm hơi thở cũng như vậy, cho đến thở ra hít vào với ý an định, tỉnh giác. Tu hành quán niệm hơi thở như vậy sẽ được công đức và quả báo lớn.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo nhắc nhở nhau: “Thế Tôn thương xót chúng ta nên nói pháp quán niệm hơi thở để chúng ta tu tập. Sau khi tu hành pháp quán niệm hơi thở, chúng ta sẽ được quả báo và công đức lớn. Chúng ta hãy lập tức cùng nhau tu tập pháp quán niệm hơi thở thật chuyên cần để được quả báo và công đức lớn”.

Khi ấy, các Tỳ-kheo chuyên cần tu tập pháp quán niệm hơi thở, đạt được trí tuệ vô lượng và chứng đạo A-la-hán.

Tôn giả A-Nan đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Phật:

– Thế Tôn đã giảng rộng pháp niệm hơi thở, cho đến tu tập pháp ấy một cách rộng rãi. Vâng lời Phật dạy, các Tỳ-kheo thực hành niệm hơi thở và đều đạt được vô lượng trí tuệ, chứng đắc quả A-la-hán.

Lúc ấy, do nhân duyên này, Thế Tôn dùng phương tiện thiện xảo tập hợp chúng Tăng hòa hợp với đầy đủ mười công đức. Thế Tôn kiết giới cho các Tỳ-kheo:

– Các Tỳ-kheo phải đề phòng việc này: Ðối với người, hoặc loài có hình người, Tỳ-kheo nào muốn giết họ nên tự tay cầm dao, hoặc sai người khác cầm dao, khuyên người khác chết, hoặc khen ngợi sự chết, hoặc nói rằng: “Này cậu, sống khổ sở làm gì, cậu sống không bằng chết”. Người nọ nghe ý nghĩ ấy, dùng vô số phương tiện khuyên người khác chết, hoặc khen ngợi sự chết. Giả sử người kia tìm đến cái chết thì Tỳ-kheo ấy mắc tội Ba-la-di.

Tại nơi vắng, Tỳ-kheo nào dùng cung, dao, nỏ, súng và cạm bẩy để giết người thì phạm tội Ba-la-di.

Tỳ-kheo nào đến gặp quan, nói dèm pha và dùng thế lực của quan để giết người thì phạm Ba-la-di.

Tỳ-kheo nào dùng chú thuật hoặc thuốc để khiến quỷ tử thi đi giết người thì phạm Ba-la-di.

Tỳ-kheo nào giăng bẩy xiết cổ người khác cho chết thì phạm Ba-la-di.

Tỳ-kheo nào pha trộn thuốc gây thổ tả hoặc rót vào mũi, từ bên dưới ngấm lên, hoặc chích chảy máu, hoặc nhỏ vào mắt để giết người thì phạm Ba-la-di.

Người nữ mang thai, Tỳ-kheo nào muốn giết nên tự tay hoặc bảo người khác dùng tay đè vào bụng cô ấy làm thai nhi và người nữ chết thì phạm Ba-la-di. Dù một người chết hay cả hai mẹ con chết đều phạm Ba-la-di.

Tỳ-kheo nào muốn giết người nên dạy họ gieo mình vào lửa, vào nước, hoặc nhảy từ vách núi xuống vực thì phạm Ba-la-di.

Tỳ-kheo nào muốn giết người nên lén viết thư nói dối rằng: “Người mang thư mắc tội nặng, hãy giết anh ta đi”. Nếu người ấy bị giết thì phạm Ba-la-di.

Bào thai trong bụng mẹ đã có hai căn là thân căn và mạng căn, Tỳ-kheo nào muốn giết thai nhi ấy nên đọc chú làm sảy thai, chết thai nhi thì phạm Ba-la-di.

Phật Thế Tôn ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-Vệ. Lúc ấy, tôn giả Bạc-khư-la mắc bệnh nặng, nằm nghỉ trong phòng ở vườn Ðoán-tác (người Ðoán-tác lập vườn này nên lấy đó làm tên gọi). Tôn giả Phần Ni chăm sóc và cung cấp nước uống.

Lúc ấy, Bạc-khư-la bảo Phần Ni:

– Hãy đến chỗ Phật, xưng danh tôi rồi đảnh lễ đức Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có mạnh khỏe an lạc không? Có sức lực hành đạo không? Hãy đến đó mà nói rằng: “Gần đây Tỳ-kheo Bạc-khư-la bị mắc bệnh nặng, nghỉ trong phòng ở vườn Ðoán-tác. Tỳ-kheo ấy từ xa kính lạy Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có mạnh khỏe an lạc không? Có sức lực để hành đạo không? Tỳ-kheo Bạc-khư-la muốn đến chiêm ngưỡng Thế Tôn nhưng vì không có sức khỏe”. Hãy đến chỗ Thế Tôn, hỏi thăm sức khỏe Thế Tôn và thỉnh Thế Tôn hạ cố đến vườn Ðoán-tác vì Tỳ-kheo Bạc-khư-la.

Khi ấy, Tỳ-kheo Phần Ni nhận lời Tỳ-kheo Bạc-khư-la, vội vàng đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, bạch đầy đủ như trên rồi thưa:

– Cúi xin Thế Tôn hãy vì Tỳ-kheo Bạc-khư-la mà hạ cố đến chỗ Tỳ-kheo ấy ở vườn Ðoán-tác.

Thế Tôn im lặng không đáp.

Thấy Thế Tôn im lặng chấp nhận, Phần Ni liền rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi ra đi.

Khi Phần Ni đi chưa được bao xa, Thế Tôn liền thọ thực. Vào buổi chiều, sau khi xuất thiền, Ngài rời khỏi chỗ ngồi, đến chỗ Tỳ-kheo Bạc-khư-la ở vườn Ðoán-tác.

Trông thấy Phật đến, Tỳ-kheo Bạc-khư-la muốn đứng dậy, nhưng vì quá yếu nên không đứng được. Lúc ấy, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo Bạc-khư-la rằng:

– Không cần phải đứng dậy, cứ nằm nghỉ đi, Ta sẽ ngồi vào chỗ khác.

Sau khi đã an tọa, Thế Tôn hỏi Tỳ-kheo Bạc-khư-la:

– Ăn cháo có tiêu hóa không? Thân thể có bớt đau nhức không? Ðau đớn tăng hay giảm?

Tỳ-kheo Bạc-khư-la bạch Phật:

– Thưa Thế Tôn! Con không thể ăn cháo, vì ăn vào không tiêu được. Sự đau đớn chỉ tăng chứ không giảm.

Giống như có người bị một lực sĩ dùng dây siết chặt đầu thì đầu người ấy rất đau đớn. Bạch Thế Tôn! Ðầu con cũng đau đớn y như người ấy. Vì thế, con không thể ăn cháo, ăn không tiêu được và đau đớn ngày càng tăng thêm.

Bạch Thế Tôn! Giống như có người bị lực sĩ dùng dao nhọn đâm lên đỉnh đầu thì đỉnh đầu người ấy rất đau đớn. Ðầu con đang đau đớn cũng giống như vậy. Sự đau đớn chỉ tăng chứ không có giảm.

Giống như có người lực sĩ cầm dao mổ bụng trâu thì bụng nó sẽ rất đau đớn, không thể nói được. Bụng con đang đau đớn cũng giống như vậy.

Gống như có hai người khỏe mạnh tóm lấy một người ốm yếu, nắm giữ tay chân của người ấy mà nướng trên hố lửa. Người ấy đau đớn không thể tả. Bạch Thế Tôn! Thân con cũng đang đau đớn như vậy. Vì thế con không thể ăn cháo và sự đau đớn chỉ tăng chứ không giảm. Con chỉ muốn cầm dao tự sát chứ không muốn sống nữa.

Phật nói:

– Ta hỏi ông, ông hãy trả lời. Này Bạc-khư-la! Sắc là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Hỏi:

– Vô thường là khổ hay vui?

Ðáp:

– Khổ, thưa Thế Tôn.

Hỏi:

– Ðối với pháp vô thường, khổ, biến đổi mà có người đã được học đạo, chứng đạo lại nói rằng đó là của ta, hoặc chẳng phải của ta, thì có lý không?

Ðáp:

– Không, thưa Thế Tôn.

Hỏi:

– Này Bạc-khư-la! Thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường, thưa Thế Tôn.

Hỏi:

– Nếu là vô thường thì khổ hay vui?

Ðáp:

– Khổ, thưa Thế Tôn.

Hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi mà lại có người đã học đạo, chứng đạo lại nói rằng đó là của ta, chẳng phải của ta, thì có tin được hay không?

Ðáp:

– Không, thưa Thế Tôn.

– Vì thế, này Bạc-khư-la! Tất cả sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, trong ngoài, lớn nhỏ, thiện ác, hoặc xa hoặc gần… Tất cả những sắc của ta và chẳng phải của ta đều là không và quán thấy các pháp đều như thế.

Này Bạc-khư-la! Thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tại cho đến quán các pháp đều như thế.

Nghe Phật giảng về sự chứng đắc, Bạc-khư-la hiểu rõ sắc là rỗng không, không hề có sở hữu, liền được giải thoát. Sau khi được giải thoát, trí tuệ liền phát sanh, chấm dứt sanh tử, tịnh hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn tái sanh vào bào thai nữa. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy, cho đến không còn tái sanh.

Vì thế, này Bạc-khư-la! Ông chớ có lo, chớ có sợ. Ông không còn bị trở vào đường ác nữa, không còn sanh trong đường ác nữa, không còn gặp nơi ác nữa.

Giảng xong, Thế Tôn trở về tinh xá.

Giữa đêm hôm ấy, có hai vị thiên vô cùng xinh đẹp, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, rồi đứng qua một phía.

Một vị thiên bạch Phật rằng:

– Tôn giả Bạc-khư-la đã quyết định được giải thoát.

Vị thiên thứ hai bạch Phật rằng:

– Tôn giả Bạc-khư-la đã được giải thoát, ở nơi giải thoát.

Nói lời ấy xong, chư thiên lễ Phật mà ra đi.

TỲ NẠI DA

Hết quyển một

—-O0O—

Quyển thứ hai

Ngay đêm ấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Vừa rồi, có hai vị thiên đến nói rằng: “Tôn giả Bạc-khư-la đạt được quyết định giải thoát. Vị thiên thứ hai nói: “Vị ấy được giải thoát ở nơi giải thoát”. Sau khi nghe giải thích xong, họ mới ra đi.

Phật bảo một Tỳ-kheo đến chỗ Tỳ-kheo Bạc-khư-la ở vườn Ðoán-tác (một trong sáu tinh xá ở thành Kỳ-Hoàn) và nói rằng:

“Thầy đã nghe Thế Tôn dạy và nghe chư thiên nói, chớ có lo sợ nữa. Thầy sẽ không sanh vào nơi ác, không sống ở nơi ác. Nơi thầy sanh ra không có việc ác. Ðó là lời dạy của Thế Tôn. Ðêm qua có hai vị thiên đến chỗ Thế Tôn, một vị thiên hỏi rằng: “Tôn giả Bạc-khư-la được quyết định giải thoát phải không?”. Vị thiên thứ hai hỏi: “Tôn giả bạc-khư-la đã được giải thoát ở nơi giải thoát phải không?”. Này Bạc-khư-la, đó là lời chư thiên nói”.

Sau khi nghe Phật dạy, Tỳ-kheo ấy đến vườn Ðoán-tác.

Bạc-khư-la bảo Tỳ-kheo chăm nom bệnh nhân rằng:

– Các thầy hãy đặt tôi lên giường và khiêng ra ngoài cổng. Tôi không thể sống nữa, tôi muốn dùng dao tự tử.

Các Tỳ-kheo liền đặt vị ấy lên giường và khiêng ra khỏi cổng.

Lúc ấy, nhiều Tỳ-kheo kinh hành ở ngoài cổng. Tỳ-kheo được sai đi, liền đến chỗ các Tỳ-kheo kinh hành hỏi rằng:

– Tỳ-kheo Bạc-khư-la ở chỗ nào vậy? Tôi muốn đến hỏi thăm.

Các Tỳ-kheo đáp:

– Tỳ-kheo Bạc-khư-la đang được khiêng ra ngoài cổng, định dùng dao tự tử. Nếu muốn thăm hỏi thì hãy đến ngay.

Tỳ-kheo ấy liền đến chỗ Bạc-khư-la.

Trông thấy một Tỳ-kheo đang đi đến, Bạc-khư-la liền bảo Tỳ-kheo nuôi bệnh rằng:

– Hãy đặt giường xuống một lát để đợi Tỳ-kheo ấy đến.

Các Tỳ-kheo liền đặt giường xuống. Tỳ-kheo ấy đến, nói với Bạc-khư-la đầy đủ như Thế Tôn dạy, cho đến đây là lời Phật dạy, đây là lời chư thiên nói.

Bạc-khư-la đáp:

– Pháp ta chứng đắc, Thế Tôn cũng biết. Pháp ta thấy, Thế Tôn cũng biết. Vì thế, ta không còn nghi ngờ nữa.

Ðối với sắc là thường hoặc vô thường, cho đến thọ, tưởng, hành, thức là thường hoặc vô thường; pháp khổ, không, biến đổi cùng các pháp mà Sa-môn chứng đắc; pháp của ta, chẳng phải của ta, tất cả đều rỗng không.

Thật sự pháp ta biết, chư tiên cũng biết. Pháp ta thấy, chư thiên cũng thấy. Vì thế ta không còn nghi ngờ có thường hay vô thường, cho đến thấy hết không còn nghi ngờ gì nữa. Do nghiệp chướng đời trước bức bách nên tôi chỉ muốn cầm dao tự sát.

Nói xong, vị ấy liền cầm dao tự vẫn. Những Tỳ-kheo trông coi bệnh đều tự phân vân không biết mình có phạm Ba-la-di hay không, liền bảo nhau cùng đến hỏi Phật. Phật đáp:

– Nếu chán ghét, có ý giết nên đưa dao cho; hoặc có ý giết nên dạy người ấy chết rồi khiêng ra thì phạm ba-la-di. Nếu có tâm thương xót, bảo bọc, không muốn nghịch ý bệnh nhân thì không mắc Ba-la-di.

Có các Tỳ-kheo cư trú ở biên giới nước Câu-tác-la thường tranh cãi nhau. Nếu Tỳ-kheo gởi thư cho vua hai nước dẫn quân giết người hoặc dạy người giết thì phạm Ba-la-di.

Bấy giờ, Phật ở tại vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt.

Khi ấy, Ðiều-bà-đạt-đâu tụng kinh học đạo suốt mười hai năm không hề nghỉ ngơi. Trong thời gian ấy, ông ta đọc tụng tất cả các kinh đã được nghe Phật giảng nói, ông ta thường ở hang núi, gốc cây yên tịnh, gò mã vắng vẻ. Các Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-na-luật, Nan-đề, Kim-tỳ-la… là bạn của ông ấy.

Khi Ðiều-đạt chưa phát sanh ác ý đối với Thế Tôn, ông ấy không hề phạm một giới nhỏ. Về sau, khi ông ta đã phát sanh ác tâm đối với Thế Tôn, ông ta liền phạm giới.

Nền các giảng đường đều trải tọa cụ. Thế Tôn đã kiết giới: – Không rửa chân thì không được vào thiền đường.

Lúc ấy, Ðiều-đạt không rửa chân mà bước vào, Tỳ-kheo ni Ưu-bát-sắc liền bảo Ðiều-đạt:

– Này Ðiều-đạt! Thế Tôn đã chế giới không rửa chân thì không được vào kia mà!

Ðiều-đạt đáp:

– Ðồ Tỳ-kheo ni xấu tệ kia! Ngươi biết giữ giới thì có thể hơn được ta sao?

Nói xong, ông ta dùng nắm đấm của lực sĩ đánh lên đầu Tỳ-kheo ni ấy. Tỳ-kheo ni liền qua đời. Các Tỳ-kheo nói với Thế Tôn việc ấy. Thế Tôn bảo:

– Hãy thương xót kẻ ác này đã mắc tội rất nặng. Tỳ-kheo ni ấy đã đắc đạo A-la-hán.

Do việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp để kiết giới:

– Tỳ-kheo nào tự tay giết chết người nam hoặc người nữ thì phạm Ba-la-di.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc. Lúc ấy, tôn giả Mục-kiền-liên bị bọn Phạm chí cầm gậy đánh như đập cỏ lau cho đến chết. Nhân dân trong nước ấy liền biết tôn giả Mục-kiền-liên bị bọn Phạm chí cầm gậy giết, thân thể nát nhừ như cỏ lau bị dập.

Nghe tin thầy mình bị giết, hai người: Mã-sư, Phất-na-bạt đùng đùng nổi giận dựng ngược lông tóc, dùng sức mạnh của đại lực sĩ bắt giết hết bọn Phạm chí cầm gậy.

Phật quán sát việc ấy, biết nhưng vẫn hỏi:

– Tỳ-kheo Mã-sư và Phất-na-bạt! Ta nói cho các thầy nghe bốn câu pháp nhé! (Tứ đế)

Mã-sư và Phất-na-bạt vô cùng xấu hổ, liền quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Tội chúng con nặng lắm, không dám nghe pháp sâu xa ấy.

Thế Tôn ân cần hỏi đến ba lần. Vì thương xót kẻ ác này đã xa lìa mình và xa lìa pháp sâu xa nên Thế Tôn liền kiết giới này cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào tự tay giết người hoặc dạy người khác giết thì phạm Ba-la-di.

(Hai người này đọa làm rồng ở sông Ðầu-sơn, thuộc xứ Tây-thất-lợi, nước Kiền-đà-việt. Giận Phật ngày xưa không nói pháp nên muốn ra khỏi sông phá hoại Phật pháp. Chợt có vị hóa Phật xuất hiện trước mặt chúng và nói rằng: “Các ngươi có muốn nghe bốn pháp sâu xa không?”. Sự sân hận liền chấm dứt. Những việc như vậy chẳng phải chỉ có một. Hai người này là đệ tử của Phật)

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-Vệ.

Bấy giờ, tôn giả Da-xá dẫn theo hai trăm năm mươi đệ tử. Tôn giả Bạc-đà-tiên – con của Bạc-đàn-đà – cũng dẫn theo hai trăm năm mươi đệ tử, từ nước Câu-tát-la đến nước Xá-vệ để thăm hỏi Thế Tôn. Các Tỳ-kheo ấy nói chuyện ở bên ngoài cổng tinh xá Kỳ-hoàn, tiếng ồn vang thấu bên trong.

Nghe tiếng ồn, Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-Nan:

– Ai nói chuyện ngoài cổng mà tiếng ồn vang đến tận trong này vậy?

A-Nan bạch đầy đủ với Thế Tôn:

– Ðó là các Tỳ-kheo bàn luận. Do nhiều người tụ họp nên phát ra âm thanh lớn.

Thế Tôn liền bảo A-Nan:

– Hãy nói với đồ chúng của Da-xá và Bạt-đà-tiên rằng: “Thế Tôn bảo các thầy không được kiết hạ ở nước Xá-Vệ”.

Vâng lời Phật dạy, A-Nan liền đến chỗ đồ chúng của Da-xá và Bạt-đà-tiên nói rằng:

– Thế Tôn bảo các thầy không được kiết hạ ở Xá-vệ.

Khi ấy, đồ chúng của tôn giả Da-xá và Bạt-đà-tiên liền đến cạnh sông Bạc-cừ-mạc cất lều tranh để kiết hạ.

Năm ấy nhân dân đói kém; sương, mưa đá, sâu bọ ăn hại lúa, khất thực khó được. Lúc ấy các Tỳ-kheo suy nghĩ và nói với nhau:

– Các thầy biết không? Hiện nay thóc lúa đắt đỏ; sương, mưa đá, sâu bọ làm hại thóc lúa, khất thực khó được. Chúng ta nên đến nhà các trưởng giả ở nước Tỳ-xá-ly khen ngợi lẫn nhau: “Trưởng giả biết không? Tỳ-kheo tên ấy, họ ấy đã được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền và cũng đạt đến từ – bi – hỷ – xả, đạt được bốn định vô sắc, tu chỉ quán, quán hơi thở, đạt được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm- A-na-hàm và A-la-hán”. Chúng ta dùng lời ấy để ca ngợi lẫn nhau. Sau đó, ở nước ấy chúng ta sẽ được cúng dường. Chúng ta sẽ có được y phục, đồ ăn, giường nằm và thuốc thang từ quốc vương, đại thần, trưởng giả, Bà-la-môn hành đạo và dân thường.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo đó vào nước Tỳ-xá-ly, đến gặp các trưởng giả và khen ngợi lẫn nhau:

– Trưởng giả nên biết, Tỳ-kheo tên ấy họ ấy đã đắc quả Tu-đà-hoàn, cho đến quả A-la-hán.

Các trưởng giả đều tin lời ấy, cho rằng họ đã đắc đạo nên tùy thời mà cúng dường y áo, thức ăn.

Thường pháp của chư Phật là có hai thời gian để chúng Tăng tập hợp. Ðó là: một tháng sau cùng của mùa Xuân (ở Ấn-độ một năm chia thành ba mùa). Sau khi tự tu ba tháng mùa Xuân, tháng cuối phải đến gặp Phật và thầy tổ. Mùa Hạ cũng vậy, phải đến gặp Phật đảnh lễ, nghe Phật thuyết pháp.

Trong ba tháng hạ, chúng ta phải học tập, tụng kinh. Sau khi giải hạ, phải may vá lại y áo đã mặc trong ba tháng vừa qua. Vào ngày đã may vá xong, họ mang bát đến chỗ Phật. Ðó là thời gian chúng Tăng hội họp.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo kiết hạ ở sông Bạc-cừ-mạc, may vá y đã mặc ba tháng qua. Vào ngày đã hoàn tất, họ đến chỗ Phật ở vườn Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Thường pháp của chư Phật là khi có Tỳ-kheo ở xa đến, trước hết Ngài hỏi thăm họ trong mùa hạ việc tụng kinh hành đạo có được tốt đẹp, có bị mỏi mệt hay không?

Khi ấy, đức Thế Tôn như thường lệ hỏi các Tỳ-kheo:

– Các Tỳ-kheo tụng kinh hành đạo có bị mệt mỏi không?

Các Tỳ-kheo đáp:

– Bạch Thế Tôn! Chúng con không hề mệt mỏi.

Các Sa-môn an cư ở sông Bạc-cừ-mạc, có thân thể mập mạp, máu huyết sung mãn. Các Sa-môn kiết hạ ở nước Xá-vệ có thân thể gầy ốm, mất hết nhan sắc, khí lực yếu ớt. Các Sa-môn ở cạnh sông hỏi các Tỳ-kheo ở nước Xá-vệ:

– Vì sao các thầy gầy ốm, mất hết nhan sắc vậy?

Ðáp:

– Các thầy không biết sao! Ở nước này thóc lúa quý hiếm, khất thực khó khăn. Do đó thân thể chúng tôi gầy ốm, mất hết nhan sắc. Còn các thầy vì sao lại mập mạp, nhan sắc tốt tươi?

Các Tỳ-kheo ấy liền kể lại đầy đủ mọi việc. Nghe xong, các Tỳ-kheo gầy ốm rất kinh ngạc và nói rằng:

– Vì sao chỉ vì chút ít đồ ăn thối tha ấy mà các thầy nói dối đã chứng pháp thượng nhơn?

Các Tỳ-kheo hết sức trách mắng các Tỳ-kheo ấy:

– Vì sao các thầy lại làm thế? Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói về tội nói dối và ca tụng công đức không nói dối.

Các Tỳ-kheo đều đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía rồi đem việc ấy bạch đầy đủ với Phật.

Thế Tôn biết mà vẫn hỏi:

– Các Tỳ-kheo có thật sự làm việc ấy không?

Các Tỳ-kheo xấu hổ, quỳ hai gối sát đất, chấp tay bạch Phật:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Này các Tỳ-kheo, trước đây Ta đã vì người ngu dùng vô số phương tiện nói về tội nói dối và ca ngợi công đức của việc không nói dối. Vì sao các thầy lại gây ra lỗi này?

Phật dùng vô số phương tiện để quở trách, sau đó vì việc này, Phật cho tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn và làm cho các Sa-môn biết được ý nghĩa này:

– Tỳ-kheo nào không biết, không thấy pháp thượng nhơn mà nói tôi có các đức, tôi biết tôi thấy thiện xứ, vô vi; tôi biết pháp ấy. Vào lúc khác, nếu có người hỏi: “Thầy có phải A-la-hán không?”. Tỳ-kheo ấy đáp: “Tôi chẳng phải là A-la-hán”. Vì muốn làm sạch lỗi lầm của mình, nhớ lại việc đã làm, vị ấy nói: “Tôi đã không biết nói biết, không thấy nói thấy. Ðó là lời nói hư dối, trống rỗng, không trong sạch”. Trừ khi chưa chứng mà tưởng đã chứng, nếu không thì Tỳ-kheo ấy phạm Ba-la-di.

Phật Thế Tôn ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Bấy giờ có một Tỳ-kheo nhỏ tuổi, mới học đạo chưa lâu, chưa thông hiểu pháp, ý niệm chưa định, đi lại không có tiết độ. Khi đến nhà người thì tự xưng là đã đắc pháp thượng nhơn.

Lúc ấy, chúng đại Tỳ-kheo đắp y mang bát vào nước Xá-vệ khất thực thì nghe Tỳ-kheo trẻ tuổi tự xưng mình đã chứng pháp thượng nhơn. Nghe vậy, sau khi xin được thức ăn, các Tỳ-kheo ra khỏi thành, đến chỗ Tỳ-kheo trẻ tuổi, nói rằng:

– Ông chớ có thường xuyên đến nhà người, chớ có tự xưng đắc pháp thượng nhơn.

Tỳ-kheo trẻ tuổi đáp:

– Các Tỳ-kheo trưởng lão thường đến nhà người, còn tôi vì sao lại không được đến?

Các Tỳ-kheo can gián như vậy nhưng Tỳ-kheo ấy không nghe.

Tỳ-kheo trưởng lão bảo các Tỳ-kheo:

– Hãy đến chỗ Phật bạch đầy đủ việc này.

Thế Tôn nói:

– Này các Tỳ-kheo! Giống như ở trong rừng sâu hoang vắng, có một dòng sông, có các con voi lớn xuống sông, lựa chọn ngó sen, rửa sạch bùn đất rồi lấy ăn. Các con voi lớn đó đều ăn no, sức khỏe dồi dào, vui vẻ, không hung bạo, không giết hại lẫn nhau, không bị chết chóc khổ sở. Các con voi nhỏ trong bầy voi nếu lội xuống sông lấy ngó sen thì không chịu rửa sạch, ăn luôn cả bùn đất. Ăn xong, sức khỏe yếu ớt, không được an vui, do vậy chúng giết hại lẫn nhau nên bị chết chóc khổ sở.

Cũng vậy, Tỳ-kheo trưởng lão đã lìa tham, sân, si, đã tu tịnh hạnh từ lâu, lại không thường xuyên đến nhà các đàn-việt. Do không thường đến nhà các đàn việt nên khi đến, các vị ấy gây lòng tin cho những người không tin; những người đã tin lại càng thêm tin tưởng. Nếu nhận được đồ vật thì không sanh tham đắm, không có ganh ghét. Nếu nhận của tín thí thì tiêu hóa hết, không có phỉ báng lẫn nhau, không có ý tà ngụy.

Trong chúng Tỳ-kheo trưởng lão có các Tỳ-kheo trẻ tuổi, học đạo mới được ít ngày, chưa hiểu pháp, tự ca ngợi bằng pháp thượng nhơn. Ðến nơi nào thì làm cho người không tin pháp ở nơi đó càng thêm không tin; người đã tin thì lòng tin bị giảm. Nhận được đồ cúng dường liền sanh tâm tham đắm, ganh ghét với bạn bè. Không hiểu vô thường. Nhận thức ăn mà ăn xong thì nhan sắc tiều tụy, không có sức khỏe. Vì thế mà bị khổ muốn chết.

Vì thế, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào đến nhà trưởng giả, tự khen ngợi bằng pháp thượng nhơn thì phạm Ba-la-di.

Phật ở tại vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt. Lúc mới xin làm Sa-môn, Ðiều-đạt mang theo ba trăm ngàn lượng vàng, con voi ông ta cỡi trị giá trăm ngàn lượng vàng, đồ đạc con voi mang trên mình cũng trị giá trăm ngàn lượng vàng. Y phục mà Ðiều-đạt mặc trên người cũng trị giá trăm ngàn lượng vàng. Sau khi xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc cà-sa, vị ấy rời bỏ phố phường, vào núi hành đạo, tụng kinh đã học. Vị ấy tụng hết tất cả các kinh mà Thế Tôn đã giảng dạy.

Trong kinh có kể chuyện các vị Tỳ-kheo có đại thần thông đến cõi Diêm Phù Ðề (do ở đó có loại cây tên Diêm-phù nên vùng ấy tên Diêm Phù Ðề). Các Tỳ-kheo có thần thông đến nơi ấy hái quả Diêm-phù đem về ăn. Cách cây Diêm-phù không xa có vườn Ha-lê-lặc lớn, vườn A-ma-lặc lớn (mỗi vườn cách nhau năm mươi do-tuần). Các vị còn đến Uất-đan-việt lấy loại lúa mọc tự nhiên đem về dùng; hoặc đến cõi trời Ðâu-thuật lấy cam-lồ của chư thiên đem về dùng; hoặc đến các phương Ðông, Nam, tây, Bắc, bay vọt trên không, biến hóa đủ cách.

Thấy các việc như vậy, Ðiều-đạt sanh tâm ganh ghét và nghĩ rằng: “Lúc nào ta mới có được thần thông to lớn này để bay đến gốc cây Diêm-phù hái quả ngọt về ăn, cho đến bay vọt trên không một cách tự do?!”.

Vị ấy suy nghĩ tiếp: “Ta phải đến gặp Phật để hỏi cách luyện thần thông”. Vị ấy liền đến chỗ Phật hỏi về pháp thần thông.

Biết Ðiều-đạt sẽ gây ra tội, không thể cứu được và sẽ gây việc vô ích cho Phật pháp, Thế Tôn liền bảo Ðiều-đạt:

– Hãy đi đi! Không nên hỏi pháp thần túc. Chỉ cần suy nghĩ về pháp vô thường, khổ, không, vô ngã.

Nghe Thế Tôn dạy như vậy, Ðiều-đạt không bằng lòng và chỉ nghĩ đến thần thông. Vị ấy lại nghĩ: “Xá-lợi-phất là người có trí tuệ lớn, ta phải đến đó hỏi pháp thần thông. Vị ấy sẽ chìu ý ta”.

Ông ta liền đến hỏi Xá-lợi-phất đạo thần thông, nhưng vì biết Phật không dạy nên Xá-lợi-phất cũng không dạy.

Ðiều-đạt lại suy nghĩ: “Mục-kiền-liên là bậc có thần thông lớn nhất trong các Thanh văn. Ta phải đến hỏi vị ấy pháp thần thông”.

Ông ta liền đến đó hỏi pháp thần thông, nhưng Mục-kiền-liên cũng không nói.

Ðiều-đạt lại nghĩ: “A-Nan là em út của ta. Thế Tôn cũng từng khen vị ấy là người đa-văn bậc nhất trong số các Thanh-văn. Ta phải đến hỏi vị ấy pháp thần thông, chắc chắn vị ấy sẽ giảng pháp thần thông cho ta nghe”.

Khi ấy, A-Nan chưa đắc thần thông, không lường được việc này, lại chưa sạch hết trần cấu nên liền nói hết pháp thần thông mà mình đã nghe cho Ðiều-đạt.

Ðiều-đạt ghi nhớ hết pháp thần thông mà A-Nan đã truyền đạt, rồi lập tức đến nơi vắng vẻ, yên tĩnh, rừng cây trong núi sâu để tu tập pháp ấy suốt ngày đêm không nghỉ và đạt được bốn thiền sắc giới. Nương thiền định này, vị ấy liền đạt được thần thông.

Do trước đây đã thề, vị ấy liền đến cây Diêm-phù hái quả đem về ăn, cho đến lên cõi trời Ðâu-thuật lấy cam-lộ của cõi trời và biến hóa vô số cách. Bấy giờ, Ðiều-đạt phát sanh tâm ganh ghét, hướng về Như Lai mà suy nghĩ rằng: “Dòng họ và nơi sanh của Sa-môn Cù-Ðàm không thể hơn ta, ông ấy họ Thích, ta cũng họ Thích, có gì thua kém! Sở dĩ mọi người đến cúng dường là do thần thông của ông ấy. Nay ta cũng sẽ dùng thần thông giáo hóa thật nhiều người”.

Ðiều-đạt lại suy nghĩ: “Vua Tần-bà-sa-la đã chứng quả bất thối chuyển ở trong đạo của Sa-môn Cù-đàm. Ta không thể dùng thần thông giáo hóa ông ấy”.

Vốn thông minh lanh lợi, thông đạt thiên văn địa lý và tinh tú trên hư không, Ðiều-đạt quán sát hết mọi người và thấy chỉ có thái-tử A-xà-thế là đầy đủ tướng làm vua. Thái-tử này chắc chắn sẽ làm vua không còn nghi ngờ.

Ðiều-đạt suy nghĩ: “Ta phải đến dùng thần thông để giáo hóa thái-tử, để những người ở nước này đều phải nhận sự dạy dỗ của ta”.

Lúc ấy, Ðiều-đạt hóa thân làm voi, đến chỗ thái-tử A-xà-thế, đi vào xuyên qua vách tường rồi đi ra cửa, biến hóa đủ cách để thái-tử A-xà-thế biết là Ðiều-đạt. Ông ta lại hóa thân làm ngựa, ra vào không bị ngăn ngại, hoặc theo cửa vào và ra nơi không có cửa; hoặc hóa ra các loại châu báu để làm mũ báu đặt trên đầu gối thái-tử A-xà-thế. Thái-tử liền lấy đội nhưng cũng biết đó là vật do Ðiều-đạt biến hóa ra.

Ðiều-đạt lại hóa làm đứa bé được trang sức bằng xâu chuỗi vàng bạc, ngồi trên đùi thái-tử. Thái-tử liền ôm, đùa giỡn, nhổ nước miếng vào miệng làm dơ miệng đứa bé và cũng biết đó là do Ðiều-đạt biến hóa ra.

Khi ấy, thái-tử A-xà-thế liền phát sanh tâm điên đảo, cho rằng thần thông của Ðiều-đạt hơn Phật, liền cúng dường cho ông ta y phục, đồ ăn, giường nằm, thuốc chữa bệnh. Mỗi ngày, thái-tử mang năm trăm nồi cơm đến chỗ Ðiều-đạt. Thái tử đem năm trăm cỗ xe (chở hàng hóa) đến chỗ Ðiều-đạt. Cũng có năm trăm Tỳ-kheo ngồi ăn ở chỗ Ðiều-đạt.

Ðến giờ, đại chúng Tỳ-kheo đắp y mang bát vào thành La-duyệt khất thực. Các Tỳ-kheo nghe tin thái-tử A-xà-thế cúng dường Ðiều-đạt rất nhiều thứ, cho đến mang theo năm trăm cỗ xe đến chỗ Ðiều-đạt, có năm trăm Tỳ-kheo đi theo và ngồi ăn chung với Ðiều-đạt.

Nghe tin ấy, các Tỳ-kheo liền đến chỗ Phật, bạch đầy đủ việc này. Thế Tôn bảo:

– Các vị chớ có đến chỗ Ðiều-đạt nhận sự cúng dường, chớ có phát sanh lòng tham. Vì sao vậy? – Như uống thuốc độc, há có ai không chết? Ðã tự uống thuốc độc, lại cho người khác uống.

Này các Tỳ-kheo! Ví như cây Kiền-đà-lợi (chuối) sanh quả thì thân bị gẫy, cây bông lau sanh hạt thì chết. Con la mang thai thì mẹ con đều chết. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo! Ðiều-đạt mà cúng dường là tự uống thuốc độc, lại cho người khác uống thuốc độc.

Này Tỳ-kheo! Ví như có người rất mạnh, cầm gậy đánh con chó dữ sứt đầu gẫy mũi, chó còn hung dữ không?

Tỳ-kheo đáp:

– Vẫn còn, thưa Thế Tôn.

Phật nói:

– Cũng vậy, Ðiều-đạt được cúng dường càng thêm táo bạo. Thật đáng thương cho kẻ ngu si này sẽ phải chịu tội nặng như núi trong một thời gian dài.

Bấy giờ, Ðiều-đạt liền phát sanh ý nghĩ: “Nay ta được cúng dường nhiều hơn Như Lai. Vì sao Như Lai lại cấm chúng Tăng không cho họ đến nhận cúng dường?”.

Ðiều-đạt vừa phát sanh ý nghĩ đó, liền bị mất thần túc.

Bấy giờ, tôn giả Mục-kiền-liên đang ở hang Ca-lăng-già, thuộc thành La-duyệt. Lúc ấy Tỳ-kheo đồng học của Mục-kiền-liên tên Xiểm-phù-đà – con của trưởng giả Câu-lợi – tu tứ vô lượng tâm, sanh lên cõi trời Phạm thiên. Phạm thiên Xiểm-phù-đà liền dùng thiên nhãn quán thấy Ðiều-đạt mất thần túc. Trong thời gian con người co duỗi cánh tay, Phạm thiên Xiểm-phù-đà từ cõi trời Phạm thiên hạ xuống chỗ Mục-kiền-liên ở hang Ca-lăng-già, bạch với vị ấy rằng:

– Tôn giả biết không? Ðiều-đạt đã mất thần túc. Mục-kiền-liên! Thầy hãy đến bạch với Thế Tôn Ðiều-đạt đã mất thần túc.

Mục-kiền-liên liền sanh ý nghĩ muốn nhập thiền định để quán sát tâm của Ðiều-đạt. Mục-kiền-liên liền nhập thiền định và biết Ðiều-đạt đã mất thần túc thông.

Lúc ấy, Mục-kiền-liên liền im lặng nhận lời vị thiên. Vị thiên liền trở về trời.

Khi vị thiên ấy ra đi không bao lâu, Mục-kiền-liên nhập vào tam muội, đến vườn Trúc, rồi ra khỏi tam muội. Ở cách Phật không xa, sửa y phục, rồi đến chỗ Phật đảnh lễ sát đất, đứng qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:

– Theo Phạm thiên Xiểm-phù-đà nói thì Ðiều-đạt đã mất thần túc.

Trong khi Mục-kiền-liên đang nói thì Ðiều-đạt dẫn theo năm người là: Cù-bà-ly, Khiên-đà-la, Bà-bà-ca-lưu-đà, Ðái-tam-văn-đà, La-hệ-đầu. Trông thấy Ðiều-đạt dẫn theo năm người đến, Thế Tôn quay lại bảo Mục-kiền-liên:

– Hãy thôi, đừng nói nữa. Kẻ ngu si ấy đến đây sẽ tự nói.

Mục-kiền-liên liền suy nghĩ: “Ta phải nhập vào chánh định ngay tại đây để Ðiều-đạt không thấy ta”.

Khi ấy, Ðiều-đạt đến chỗ Thế Tôn,đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:

– Thế Tôn đã già, sức khỏe yếu kém, thời đã qua. Xin Thế Tôn hãy bảo chúng Tăng nhận sự chăm nom của tôi.

Thế Tôn đáp:

– Những người có thần túc lớn như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến xin chăm nom chúng Tăng, ta còn không cho, huống gì kẻ còn được cho bú mớm, bồng bế như ngươi mà ta giao chúng Tăng cho được sao?

Ðiều-đạt liền suy nghĩ: “Vì sao Thế Tôn chỉ khen Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên mà chê đức độ của ta?!”. Ðiều-đạt liền phát sanh ác ý đối với Phật, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, không từ giã mà đứng dậy bỏ đi.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Vật tín thí rất nặng, làm Tỳ-kheo rơi vào chỗ tối tăm, không được nói được, kinh trước đây thường tụng nay lười biếng không tụng, không chứng đắc nói chứng đắc. Ví như người lực sĩ cắt gân làm dây quấn chặt cẳng chân, bắp tay, rồi kéo hai đầu dây, sợi dây ấy làm tổn thương da, thịt, gân. Gân đứt thì nó tiếp tục làm tổn thương xương, rồi đến tủy. Cũng vậy, các Tỳ-kheo nênbiết, tín thí làm con người đọa vào chỗ tối tăm, không được nói được, kinh trước đây thường tụng nay lười biếng không tụng, không chứng đắc nói chứng đắc. Tỳ-kheo nào nhận của tín thí mà tham đắm cho là vật của mình thì làm tổn thương da, cho đến xương tủy.

Này các Tỳ-kheo! Từ nay trở đi phải học, không được tham đắm vật tín thí cho là vật của mình, chỉ thọ những thứ cần thiết với tâm không phân biệt mà thôi. Tỳ-kheo phải học như vậy.

Nhân việc ấy cho đến đủ mười công đức, Thế Tôn kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào dựa vào thiền thế tục làm phát sanh thần túc và tự ca ngợi bằng pháp thượng nhơn thì phạm Ba-la-di.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Nên biết, có Tỳ-kheo vì y áo, đồ ăn uống, giường nằm, thuốc trị bệnh, chẳng phải A-la-hán mà xưng là A-la-hán; lại có Tỳ-kheo cầm đầu bọn cướp, dẫn theo một trăm người, hai trăm, ba trăm, cho đến một ngàn người thì hai tên giặc lớn này có gì thua kém nhau?

Tỳ-kheo đáp:

– Người dẫn theo một trăm người, cho đến một ngàn người cũng chỉ là hạng giặc nhỏ, bình thường. Hạng giặc thứ hai đối với chúng, Phạm, ma, Sa-môn, Bà-la-môn ở trong trời người, chỉ vì y áo, cơm ăn, giường nằm, thuốc thang, chẳng phải A-la-hán mà xưng là A-la-hán,đó chính là hạng giặc lớn ở trong các giặc.

Tôn giả Ưu-ba-ly hỏi Thế Tôn:

– Ba-la-di nghĩa là gì?

Thế Tôn đáp:

– Tất cả các pháp như căn, lực, giác, đạo, chứng đạo, đắc quả dưới gốc cây, dứt sạch kiết sử… đều bị vứt bỏ. Vì thế gọi là vứt bỏ.

Này các Tỳ-kheo! Thí như có người mắc lỗi với nhà vua, bị vua đoạt hết các dụng cụ sinh hoạt, bị mất hết nhà cửa; cũng vậy, người nào phạm một trong bốn Ba-la-di thì mất hết tất cả các công đức.

Thế nào là bất thọ? – Ðó là ở nơi nói giới, tự tứ và yết-ma, Tỳ-kheo này không được tham dự. Tỳ-kheo này cũng không được biết các việc bí mật của chúng Tăng.

Bất thọ nghĩa là chẳng phải Sa-môn, chẳng phải con dòng họ Thích.

TỲ NẠI DA

Hết quyển hai

—o0o—

Quyển thứ ba

Pháp TĂNG-TÀN thứ nhất

Phật du hành đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Bấy giờ tôn giả Ca-lưu-đà-di (Ca-lưu-đà-di có nước da đen, là em họ của A-Nan) kiết hạ ở Kỳ-hoàn, giữ việc quét dọn phòng ốc. Ở trong phòng đặt giường, phía trước đặt bình tắm, bên ngoài lại có bình tắm. Ðến giờ, vị ấy đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực rồi trở về, cất y bát, nghỉ ngơi.

Ca-lưu-đà-di có tâm dâm dục rất mạnh, nhớ đến người phụ nữ ở gia đình vừa cúng thức ăn, ý dâm của vị ấy càng thêm mạnh mẽ. Vị ấy liền dùng tay thủ dâm làm xuất tinh và lập tức rửa tay, tắm rửa, quét dội phòng. Cho đến khi mãn hạ thì việc ấy xảy ra đến ba lần.

Khi ấy, các Tỳ-kheo bạn của Ca-lưu-đà-di kiết hạ ở Câu-tát-la. Sau khi mãn hạ, vào ngày y phục đã được may vá xong, họ đắp y mang bát đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ. Các Tỳ-kheo đến chỗ Tỳ-kheo Ca-lưu-đà-di lễ bái, hỏi thăm nhau rồi ngồi qua một phía. Các vị ấy hỏi Ca-lưu-đà-di:

– Thế nào, Ca-lưu-đà-di! Sức khỏe có dồi dào không? Trong mùa hạ có bị khổ nhọc không? Khất thực có dễ dàng không?

Ca-lưu-đà-di đáp:

– Ở đây tôi phải quét dọn phòng ốc,… (cho đến kể đầy đủ việc thủ dâm).

Các Tỳ-kheo đáp:

– Này Ca-lưu-đà-di! Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói sự bất tịnh của dâm, của việc hướng về dâm dục, nghĩ đến dâm dục và sự thiêu đốt của dâm, nói về sự dơ bẩn của dâm dục… Vậy mà vì sao thầy lại phát sanh ý dâm dục?

Các Tỳ-kheo hết sức quở trách, can gián. Sau khi quở trách, khuyên răn xong, họ đến chỗ Thế Tôn, bạch với Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:

– Việc ấy có thật không?

Ca-lưu-đà-di bên trong thì hổ thẹn, bên ngoài thì ngượng ngùng, rời khỏi chỗ ngồi, sửa áo bày vai phải, quỳ gối sát đất, chấp tay bạch với Thế Tôn rằng:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Này kẻ ngu! Ta đã dùng vô số phương tiện nói về sự bất tịnh của dâm dục, của sự hướng về dâm dục, nghĩ đến dâm dục, sự thiêu đốt của dâm, nói về sự dơ bẩn của dâm dục, vậy mà vì sao kẻ ngu như ngươi lại dùng tay này nhận sự cúng dường của trưởng giả, rồi lại dùng tay này để thủ dâm?!

Phật dùng vô số phương tiện để quở trách, dạy dỗ ông ta và nhân việc ấy Ngài tập hợp chúng Tăng, vì muốn đầy đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Các Sa-môn nên đề phòng việc này: Tỳ-kheo nào nhớ nghĩ và thủ dâm, xuất tinh thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Thế Tôn du hành đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Khi ấy, có một Tỳ-kheo kiết hạ ở Kỳ-hoàn nằm mộng bị xuất tinh. Sau khi thức giấc, vị ấy phân vân không biết mình có bị phạm Tăng-già-bà-thi-sa không, liền hỏi các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Xuất tinh trong mộng không có tội. Tỳ-kheo nào thủ dâm xuất tinh – trừ chiêm bao – Tăng-già-bà-thi-sa.

Khi ấy, tôn giả Ưu-ba-ly hỏi Thế Tôn:

– Có mấy trường hợp xuất tinh phạm Tăng-già-bà-thi-sa?

Thế Tôn đáp:

– Dùng tay trái, tay phải thủ dâm, phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Bảo người khác dùng tay thủ dâm cũng vậy. Dùng chỗ cong giữa hai khuỷu tay của người khác để thủ dâm, hoặc khoảng giữa khi co đầu gối, khoảng giữa hai nách, hai bên rốn, khoảng giữa háng và khoảng giữa hai mông, khoảng giữa cổ và hai vai, trong y ở những chỗ co duỗi trên thân, nằm sấp trên giường nệm để thủ dâm, vẽ người nữ, tạc tượng người nữ bằng gỗ làm chỗ để thủ dâm xuất tinh thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc thành Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả Nan-đà đi vào thành Xá-vệ với ý dâm rất mạnh. Có người vợ của một trưởng giả dùng tay vịn chân Nan-đà đảnh lễ. Tay người nữ mềm mại làm Nan-đà bị xuất tinh rơi trên tay cô ấy. Người nữ liền đưa tay xoa lên đảnh và nghĩ: “Ta đã được lợi ích lớn mới làm cho tôn giả Nan-đà phát sanh ý dâm mạnh mẽ đến như vậy”.

Vốn có phạm hạnh đầy đủ, không có ý phạm giới, Nan-đà liền phân vân không biết mình có phạm Tăng-gìa-bà-thi-sa hay không, liền hỏi các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng tăng. Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi Nan-đà:

– Việc ấy có thật không?

Tôn giả Nan-đà bên trong hổ thẹn, bên ngoài ngượng ngùng, liền sửa áo, bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Khi ấy ở trước mọi người, Thế Tôn khen Nan-đà rằng:

– Lành thay! Nan-đà mới có thể đầy đủ phạm hạnh như vậy. Người thực hành phạm hạnh được quả báo, được công đức lớn.

Lúc ấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Các tộc tánh tử, trông thấy Nan-đà có ai có thể chê là không khôi ngô không? Thầy ấy có thân thể mềm mịn, sức khỏe hơn người, ý dâm rất mạnh, ai có thể hơn Nan-đà được?

Này các Tỳ-kheo, tộc tánh tử Nan-đà đóng kín các căn, ăn uống biết đủ, ban đêm không để mất thời khóa, tâm định bất loạn. Nan-đà có thể tu phạm hạnh thanh tịnh suốt đời.

Tộc tánh tử Nan-đà làm sao có thể đóng kín các căn? Ðối với tộc tánh tử Nan-đà, khi mắt thấy sắc thì ý không tham đắm. Giả sử thấy sắc thì vị ấy như người không đủ nhãn căn, sẽ nghĩ đến pháp ác, bất thiện, vô minh, lo buồn, ý không hướng đến nên phòng hộ được nhãn căn.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc chạm với pháp, biết rồi không sanh đắm nhiễm. Giả sử ý căn phát sanh nhiễm trước, vị ấy sẽ nghĩ đến pháp ác, bất thiện, vô minh, lo buồn, ý không hướng đến thì phòng hộ được ý căn.

Ðó là cách tộc tánh tử Nan-đà đóng kín các căn.

Tộc tánh tử Nan-đà làm cách nào để biết đủ trong việc ăn uống?

– Tộc tánh tử Nan-đà biết đủ khi ăn thức ăn, không có tâm tham ăn, không cầu có nhan sắc và sức mạnh, không có ý mong mềm mại. Lý do ăn là vì muốn thân thể tồn tại lâu dài, để diệt bệnh cũ và không sanh bệnh mới, và việc hành đạo được an vui.

Giống như có người bị lở loét phải dùng dầu để bôi lên. Lý do bôi dầu là muốn cho vết loét được lành. Cũng vậy, tộc tánh tử Nan-đà biết đủ trong ăn uống, không có tham ăn, cho đến thích được hành đạo.

Ví như có người bôi mỡ vào cốt bánh xe, lý do bôi mỡ là vì chở nặng. Cũng vậy, tộc tánh tử Nan-đà ăn uống biết đủ, không có tham ăn cho đến thích được hành đạo. Ðó là cách tộc tánh tử Nan-đà biết đủ trong ăn uống.

Tộc tánh tử Nan-đà không để mất thời khóa vào ban đêm bằng cách nào? – Ban ngày tộc tánh tử Nan-đà đi kinh hành, tọa thiền. Ban đêm cũng kinh hành, tọa thiền. Ðầu đêm vị ấy kinh hành, tọa thiền, chế phục tâm không cho ngủ. Giữa đêm vị ấy xếp y thượng thành bốn lớp trải trên ghế, gối đầu bằng Tăng-già-lê, hông phải sát đất, hai bàn chân gác lên nhau, cẳng chân duỗi thẳng, giữ ý nghĩ nơi ánh sáng. Ðến khi nào mới sáng? Cuối đêm vị ấy liền dậy kinh hành, tọa thiền, chế phục tâm. Ðó là cách tộc tánh tử Nan-đà không để mất thời khóa vào đầu đêm, cuối đêm.

Tộc tánh tử Nan-đà làm sao để niệm định không loạn? – Tộc tánh tử Nan-đà nếu muốn nhìn phía Ðông thì giữ thân ngay thẳng, vừa tư duy vừa nhìn về phía Ðông, không có ý loạn động. Nếu muốn nhìn phía Nam, Tây, Bắc thì cũng giữ thân ngay thẳng, vừa tư duy vừa nhìn, không có ý loạn động.

Tộc tánh tử Nan-đà nếu có thọ, tưởng xuất hiện thì luôn tỉnh thức theo dõi; hành, thức cũng vậy. Thọ, tưởng… chưa phát sanh thì không cho phát sanh. Thọ, tưởng… đã phát sanh thì lần lượt diệt trừ. Ðó là cách tộc tánh tử Nan-đà niệm định không loạn.

Vì vậy, Nan-đà xuất tinh không có tội. Nếu ai lại xuất tinh như vậy thì cũng không có tội. Từ nay về sau, các Tỳ-kheo phải mặc y lót bên dưới.

Thủ dâm nghĩa là một mình phát sanh ý tưởng, hoặc tự mình, hoặc xúc chạm thân thể kia để thủ dâm. Ðó là thủ dâm.

Phật ở tại vườn Na-câu-đà, thuộc thành Ca-duy-la-việt, nước Thích-ky-sấu.

Vào ngày thứ năm, tôn giả Ca-lưu-đà-di đang trực nhật, chợt có các nữ trưởng giả vào vườn để tham quan các phòng ốc. Tôn giả Ca-lưu-đà-di cầm chìa khóa đứng ở ngoài cửa, nói rằng:

– Các chị hãy đến đây, vào trong vườn này mà tham quan. Bên trong có ao tắm, suối…

Các phụ nữ liền vào vườn tham quan và mở cửa các phòng để vào xem. Khi đến phòng tối, Ca-lưu-đà-di liền ôm chầm các phụ nữ, tán tỉnh, hôn hít, rờ rẩm thân thể. Các phụ nữ ấy có người thuận theo, có người không thuận. Người không thuận theo, đi ra nói với các Tỳ-kheo:

– Ở nơi an ổn thường không có lo sợ mà lại có nỗi lo sợ lớn.

Các Tỳ-kheo hỏi:

– Có lo sợ gì?

Các cô ấy liền đem sự việc trình bày đầy đủ với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết phải trả lời làm sao, liền đến bạch đầy đủ việc ấy với Thế Tôn. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Ưu-đà-di (tức Ca-lưu-đà-di) rằng:

– Việc ấy có thật không?

Ưu-đà-di bên trong thì hổ thẹn, bên ngoài thì ngại ngùng, liền sửa áo bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Thật vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Trước đây Ta đã vì người ngu mà dùng vô số phương tiện nói về sự bất tịnh của dâm dục, của việc hướng về dâm dục, niệm dâm, sự bùng cháy và dơ bẩn của dâm dục. Vậy vì sao ông lại làm thế?

Này Ưu-đà-di! Trước đây Ta chưa từng nói với vua Ưu-điền về sự bất tịnh của dâm dục hay sao? Vua Ưu-điền hỏi Ta:

“Thưa Cù-đàm, các Tỳ-kheo trẻ tuổi xinh đẹp vừa mới vào pháp luật, đầy đủ các căn, mắt mũi tinh anh, da mềm mại như hoa đào, làm sao có thể tịnh tu phạm hạnh, trọn đời không phạm đến các phụ nữ khác?”.

Khi ấy, Ta bảo vua: “Ðối với các Tỳ-kheo, ai giống mẹ thì sẽ gọi là mẹ, giống chị em thì gọi là chị em, ai giống con gái thì gọi là con gái. Vì lý do đó, các Tỳ-kheo trẻ tuổi xinh đẹp cho đến tu phạm hạnh trọn đời không phạm nữ sắc”.

Vua lại hỏi: “Thế Tôn! Tâm con người rất giàu vọng tưởng. Giả sử người giống mẹ chúng ta gọi là mẹ, cho đến giống con thì gọi là con, nhưng tâm vẫn chạy theo thế gian thì sao? Còn có cách gì khác giúp các Tỳ-kheo trẻ tuổi xinh đẹp tịnh tu phạm hạnh suốt đời không?”

Thế Tôn đáp: “Này đại vương! Ta đã bảo các Tỳ-kheo hãy quán sát thân này, từ ngón chân cho đến mí tóc, quán sát đủ thứ bất tịnh đang phơi bày trên thân. Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, cấu bẩn, da, thịt, máu, gân, mạch, xương, tủy, tim, gan, lá lách, thận, phổi, ruột, bao tử, bụng, phân, nước tiểu, mỡ, lá mỡ, mật, nước mắt, nước miếng, nước dãi, não, màng bọc… Này đại vương! Vì lý do này các Tỳ-kheo trẻ tuổi có thể tu phạm hạnh trọn đời”.

Vua lại hỏi:

“Bạch Thế Tôn! Tâm này rất giàu vọng tưởng. Giả sử chúng ta quán sát sự cấu bẩn này mà vẫn cho là sạch thì còn có cách gì khác để các Tỳ-kheo trẻ tuổi tu phạm hạnh trọn đời không?”

Thế Tôn nói:

“Này đại vương! Các Tỳ-kheo phải đóng kín các căn, giữ niệm không cho vọng động, ý không tán loạn. Giả sử mắt thấy sắc thì không cho tham đắm. Nếu mắt thấy sắc mà có tham đắm thì phải nghĩ đó là pháp bất thiện, vô minh, buồn rầu, khổ não… để mắt không thân cận thì giữ gìn được nhãn căn.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc với pháp cũng không có đắm nhiễm như vậy. Giả sử có ý tham đắm thì hãy nghĩ đó là pháp bất thiện, vô minh, buồn rầu,… để ý không thân cận nên giữ gìn được ý căn.

Này đại vương! Ðó là cách các Tỳ-kheo trẻ tuổi tu phạm hạnh trọn đời”.

Vua bạch Thế Tôn:

“Nếu có pháp này thì các Tỳ-kheo trẻ tuổi có thể tu phạm hạnh trọn đời. Khi vào trong cung, nếu con không hộ trì thân, các căn không chánh niệm, ý không chuyên nhất, tâm sẽ chạy theo pháp dâm dục của thế gian. Nếu con hộ trì thân, các căn chánh niệm, ý chuyên nhất, tâm không tán loạn, không hướng về pháp dâm dục của thế gian. Vì thế việc này rất kỳ lạ, đặc biệt. Thưa Thế Tôn! Ai nghe lời này của Sa-môn Cù-đàm mà lại không bảo hộ các căn? Nay con quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Xin Thế Tôn cho phép con làm Ưu-bà-tắc, trọn đời không sát sanh và thọ ba quy y”.

Lúc ấy, Thế Tôn bảo Ưu-đà-di:

– Người đời còn có thể như vậy, chỉ có kẻ ngu mới không giữ gìn được việc ấy. Người giống như mẹ thì ta gọi là mẹ, cho đến người giống con gái cũng như vậy.

Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, dạy dỗ Ưu-đà-di, tập hợp chúng Tăng, vì muốn đầy đủ mười công đức nên kiết giới cho các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo nào với ý dâm mạnh mẽ, dùng tay sờ mó người nữ, hoặc cầm bàn tay, nắm cánh tay, nắm tóc và xoa, vuốt, nắm các phần khác của cơ thể như cổ tay… thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Khi ấy, tôn giả Ưu-ba-ly hỏi Phật:

– Ôm người nữ đi đến mấy chỗ thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa?

Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào với ý dâm mạnh mẽ, bồng người nữ từ trong nhà đặt lên mình voi thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa; hoặc bồng từ lưng voi đặt xuống lưng ngựa, từ trên lưng ngựa bồng đặt xuống xe, từ trên xe bồng đặt xuống kiệu, từ trên kiệu bồng đặt lên giường, từ trên giường bồng đặt lên giường dây, từ giường dây bồng đặt xuống ghế dựa, từ trên ghế dựa bồng đặt xuống đất, từ dưới đất lần lượt bồng ngược trở lại, cho đến đặt vào trong nhà thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Trừ khi đó là mẹ, chị em ruột, bệnh nhân và không có ý đắm nhiễm thì không phạm.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Bấy giờ, có các Tỳ-kheo kiết hạ ở nước Câu-tát-la. Mãn hạ, sau khi khâu vá y phục xong, họ đắp y mang bát đến thành Xá-vệ. Cách Xá-vệ không xa, có con sông tên A-chỉ-lại-bạt-dề. Họ dừng chân ở bờ phía Nam sông ấy. Nước sông chảy rất xiết.

Lúc ấy có các phụ nữ thưa các Tỳ-kheo rằng:

– Xin các thầy hãy đưa giúp chúng con qua sông.

Các Tỳ-kheo đáp:

– Các chị nên biết, Thế Tôn không cho phép đưa người nữ qua sông.

Các người nữ liền nắm tay nhau đi xuống sông và bị nước cuốn trôi, liền oán trách nói:

– Này các thầy! Ai có lòng từ hơn những Thích tử? Chúng tôi đang bị chìm, xin hãy đến cứu giúp!

Các Tỳ-kheo thương xót, liền đến nắm tay cứu vớt. Các Tỳ-kheo đều hoài nghi, không biết mình có phạm Tăng-già-bà-thi-sa không. Họ liền hỏi các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết nên đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Không có ý đắm nhiễm thì không phạm tội, vì dùng tâm từ đến cứu. Nếu lại có người bị chìm thì hoặc nắm tóc, hoặc nắm y, không được cầm nắm thân thể. Khi gặp nạn lửa cũng vậy.

Có một người nữ đi cạnh khe núi hiểm trở, có Tỳ-kheo nắm tay dẫn qua, Tỳ-kheo liền sanh nghi, không biết mình có phạm Tăng-già-bà-thi-sa không, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Không có ý đắm nhiễm thì không phạm tội. Nếu lại gặp trường hợp như vậy thì lấy y bao tay lại rồi nắm cánh tay dẫn qua.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả Ca-lưu-đà-di cư trú ở Kỳ-hoàn. Có các nữ trưởng giả đến tham quan vườn tược, phòng ốc, ao tắm. Ca-lưu-đà-di cầm chìa khóa mở các cửa phòng và nói:

– Các chị hãy vào xem ao tắm,

Các phụ nữ liền đến xem vườn tược, ao tắm. Ưu-đà-di cùng các phụ nữ nói chuyện một hồi về sự khoái lạc của dâm dục và việc vui thích với nhau. Trong số các phụ nữ ấy có người bằng lòng, có người không bằng lòng. Những người không bằng lòng liền ra thưa với các Tỳ-kheo:

– Tôi thường nghe nói đây là nơi an ổn, không lo sợ, mà sao thật đáng sợ.

Các Tỳ-kheo hỏi:

– Có gì đáng sợ?

Các phụ nữ bạch với các Tỳ-kheo đầy đủ việc trên. Lúc ấy, Ưu-đà-di đi ra và cũng nói với các Tỳ-kheo như vậy. Các Tỳ-kheo liền quở trách Ưu-đà-di:

– Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói về sự hướng về dâm dục, niệm dâm, sự bừng cháy của dâm, sự dơ bẩn của dâm…

Sau khi quở trách xong, các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi tôn giả Ưu-đà-di:

– Việc ấy có đúng như các Tỳ-kheo đã bạch không?

Ưu-đà-di bên trong hổ thẹn, bên ngoài thì ngượng ngùng, sửa áo bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Ta đã dùng vô số phương tiện nói về sự bất tịnh của dâm dục, của sự hướng về dâm dục, niệm dâm, sự thiêu đốt, sự dơ bẩn của dâm. Vì sao thầy lại ca ngợi dâm dục và sự vui thích với nhau?

Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, dạy dỗ Ưu-đà-di, rồi tập hợp chúng Tăng vì muốn đầy đủ mười công đức nên kiết giới cho các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo nào với ý dâm dục mạnh mẽ, hướng về người nữ ca ngợi việc dâm dục và sự vui thích với nhau, dùng lời xấu xa nói với nhau và nhìn nhau bằng ánh mắt lẳng lơ, dù người đó lớn hay nhỏ thì Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Khi ấy, các Tỳ-kheo đều đến thôn Yùết-nhị-ca (làng dâm) khất thực. Thấy họ đến đó, các trưởng giả đều chê trách:

– Các Thích tử này thật sai sót, đã tự xưng là tốt mà lại vào làng dâm này, như người dâm dục vào đó vì dâm, cũng như vào nhà các người phụ nữ, các thiếu nữ là vì muốn lấy vợ.

Các Tỳ-kheo đem việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Có năm chỗ Tỳ-kheo không nên đến. Năm chỗ ấy là:

1- Nhà bán dâm.

2- Nhà thiếu nữ.

3- Nhà quả phụ không đứng đắn.

4- Quán rượu.

5- Nhà trộm cướp.

Ðó là những nơi Tỳ-kheo không nên đến, không được vào. Tỳ-kheo nào vào những nơi đó thì phạm tội.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-đôïc, thuộc nước Xá-vệ. Nơi ấy có một Bà-la-môn sanh một cô con gái nhan sắc xinh đẹp không ai sánh bằng. Do bé gái ấy xinh đẹp nên mẹ đặt tên là Thiện Quang.

Lúc mới sanh, thầy tướng Bà-la-môn xem tướng và tiên đoán rằng: “Cô gái này sẽ giao thông với năm trăm người”.

Khi cô ấy lên mười sáu tuổi, mọi người nghe lời tiên đoán là cô ấy sẽ giao hội với năm trăm người nên không ai dám cưới. Có một người vượt biển, vào buôn bán ở thôn ấy. Trông thấy cô ấy xinh đẹp, liền phát sanh ý dâm, mới hỏi đó là con gái nhà ai.

Ðáp:

– Ðó là con gái của Bà-la-môn.

Lại hỏi:

– Ðã có chồng chưa?

Ðáp:

– Chưa.

Lái buôn nói:

– Nếu vậy, tôi sẽ cưới làm vợ.

Ðáp:

– Cô gái này mọi thứ đều tốt, chỉ có một việc không tốt.

Hỏi:

– Ðó là việc gì?

Ðáp:

– Lúc mới sanh, thầy tướng Phạm chí tiên đoán rằng: cô ấy sẽ giao hội với năm trăm người.

Người lái buôn nghĩ: “Nhà ta không có ai vào, chỉ có các Thích tử, nhưng các Thích tử không có ý này”.

Người lái buôn liền cưới cô ấy làm vợ. Chưa được bao lâu, có thương nhân muốn vào biển tìm châu báu. Thường pháp của nước ấy là thương nhân nào đã vào biển nhiều lần thì được cử làm người dẫn đường. Nếu người ấy không chịu thì sẽ bị vua ép buộc.

Lúc ấy, thương nhân kia đến bảo thương nhân ấy:

– Anh hãy dẫn chúng tôi đi tìm châu báu.

Thương nhân ấy liền bảo người giữ cửa rằng:

– Tôi phải vào biển tìm châu báu, đừng cho người khác nghỉ đêm ở đây, trừ các Thích tử, bởi vì các Thích tử không có ý dâm dục.

Ngay ngày hôm đó họ đi vào biển. Có Sa-môn, Bà-la-môn nào vào nhà ấy khất thực, cô vợ liền đùa cợt, nói sự vui thích của dâm dục và bảo hãy đến cùng cô ta làm việc bất tịnh.

Các Tỳ-kheo không biết phải làm sao và đều phân vân nên đến bạch với Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn đáp:

– Các Tỳ-kheo không nên vào khất thực ở nhà như vậy. Nếu vào khất thực thì không được ngồi, không được nói chuyện. Vì sao vậy? – Nhà như vậy sẽ làm hư hoại phạm hạnh. Nếu ai ngồi chung nói chuyện dâm thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Vì ý dâm quá mạnh, ngay ngày hôm ấy, vào lúc chiều tối, người nữ ấy bị chết. Thi thể cô ta được trang điểm rồi khiêng bỏ ngoài gò mã. Có năm trăm tên cướp đi qua gò mã, thấy thi thể của người nữ này liền phát sanh ý dâm và cùng nhau làm việc bất tịnh, đúng như trước đây người Bà-la-môn đã tiên đoán. Do đã đùa cợt với Sa-môn, Bà-la-môn nên cô ấy sanh vào ba đường ác, làm vợ các con rồng ở sông Tỳ-đát-thổ, phía Bắc nước Thiên Trúc và thường giao hội với năm trăm con rồng.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Bấy giờ có các nữ trưởng giả đến xem phòng ốc, vườn cây. Nhóm sáu Tỳ-kheo bảo các nữ trưởng giả:

– Chúng tôi là con của quốc vương, xinh đẹp không ai bằng. Thân thể thơm tho, tinh tấn vô hạn, là người đứng đầu ở trong pháp. Các cô hãy cùng chúng tôi vui đùa thỏa thích với nhau. Cúng dường thân là pháp đứng đầu trong pháp bố thí cúng dường.

Trong số các phụ nữ ấy có người bằng lòng, có người không bằng lòng. Người không bằng lòng đi ra nói với các Tỳ-kheo:

– Ở nơi thường an ổn, không lo sợ mà lại rất đáng sợ.

Các Tỳ-kheo hỏi:

– Có việc gì vậy?

Các phụ nữ thưa đầy đủ việc ấy với Tỳ-kheo. Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:

Việc ấy có đúng vậy không?

Các Tỳ-kheo bên trong thì hổ thẹn, bên ngoài thì ngượng ngùng, liền sửa áo bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Phật rằng:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Sao vậy kẻ ngu kia! Ta đã nói dâm như rắn độc cắn người. Thà bị rắn độc, rắn hổ mang độc, trăn đen độc cắn, chứ không giao hội với các phụ nữ dòng Sát-lợi, Bà-la-môn, trưởng giả. Tuy họ rất xinh đẹp và ăn mặc rất đẹp, nhưng thà gieo mình vào lửa chứ không giao hội với họ.

Ta chẳng đã nói dâm như đống củi lớn, phóng lửa đốt đống củi lớn thì ngọn lửa sẽ rất mạnh mẽ. Thà gieo mình vào trong đống lửa ấy chứ không giao hoan với các phụ nữ Bà-la-môn, trưởng giả, Sát-lợi.

Ta chẳng đã nói dâm dục như hố lửa sâu, như hố rất sâu đựng đầy lửa, chỉ có than hồng, không có khói. Thà gieo mình vào hố ấy chứ không giao hoan với phụ nữ Sát-lợi, Bà-la-môn, trưởng giả.

Dâm dục như con chó gặm xương, như con chim giành miếng thịt (miếng thịt nhỏ xíu nhưng chim phải chịu khổ rất nhiều), như mật dính trên lưỡi dao, dâm dục cũng như vậy.

Như vua ra lệnh bắt người bị tội tra khảo mỗi ngày ba lần thì người ấy bị thương hàng trăm vết, dâm dục cũng như vậy. Dâm dục cũng như chiếc bình, bên ngoài được sơn vẽ rất đẹp, bên trong đựng đồ hôi thối bất tịnh, như hương hoa độc, ngửi vào mũi thì chết.

Thà uống thuốc độc chứ không hướng về dâm dục. Như người chơi đàn, chỉ có âm thanh rỗng không. Cũng như đại thọ gắn kiếm, lên xuống đều bị đâm như kẻ thù, giặc cướp không có ý tốt, như nước phẩn sôi ở địa ngục Khôi-hà, dâm dục cũng như vậy.

Ta chẳng đã nói dâm dục là đầu mối của sự đấu tranh, đưa đến quan huyện, nịnh hót, gièm pha, mê hoặc, lừa dối, làm vô số việc ác, tất cả các việc ấy đều do dâm sanh ra.

Ta đã dùng vô số phương tiện nói về sự bất tịnh của dâm, của việc hướng về dâm, nghĩ về dâm, sự thiêu đốt và sự dơ bẩn của dâm. Vì sao các thầy tạo việc ác ở trong đó?

Thế Tôn dùng vô số phương tiện dạy dỗ, quở trách nhóm sáu Tỳ-kheo và nhân việc ấy Ngài tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo nào với ý dâm mạnh mẽ, ở trước người nữ tự khen thân xinh đẹp, lại nói mình là Tỳ-kheo tinh tấn, là bậc tối thượng tịnh hạnh trong pháp,… Tỳ-kheo nào làm như vậy phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

(Một là Bạt-nan-đà, hai là Nan-đà, được sanh thiên. Ca-lưu-đà-di, Xiển-nộ – tức Xa-nặc – khi Phật đã nhập diệt, nghe theo A-Nan nên đắc đạo và nhập Niết-bàn. Mã-sư, Phất-na-bạt sanh vào loài rồng)

Phật Thế Tôn ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc.

Lúc ấy, vào sáng sớm, tôn giả A-Nan đắp y, mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong, vị ấy ra khỏi thành. Lúc ấy là tháng cuối mùa Hạ, trời rất nóng. Tôn giả A-Nan đi trên đường thì khát nước. Giữa đường có con gái Chiên-trà-la tên Bát-kiết-đề đang múc nước giếng. A-Nan liền đến giếng xin nước và nói:

– Này chị, tôi cần nước, hãy cho tôi ít nước.

Cô ấy bảo A-Nan:

– Tôi thuộc họ Ma-đăng -già.

A-Nan nói:

– Tôi không hỏi giai cấp Chiên-trà-la hay chẳng phải Chiên-trà-la. Tôi đang cần nước, hãy cho tôi xin nước.

Cô gái đáp:

– Thầy thuộc dòng họ cao quý, là đệ tử đứng đầu của Sa-môn Cù-đàm, được vua Ba-tư-nặc kính trọng, là thầy của Mạc-lợi phu nhân. Còn tôi thuộc dòng họ Chiên-trà-la nên không dám mang nước cho ngài.

A-Nan bảo cô ấy:

– Tôi không hỏi cô thuộc họ Chiên-trà-la hay chẳng phải Chiên-trà-la. Tôi đang cần nước, hãy mau đem nước cho tôi.

Cô ấy đáp:

– Nếu cần nước thì sẽ có ngay.

Lúc ấy, người nữ lấy tay bụm nước rưới lên chân A-Nan, rồi lại bưng nước rưới tay A-Nan. Sau khi rưới tay chân A-Nan, cô ấy liền sanh ý dâm dục.

Tôn giả A-Nan uống nước xong liền lên đường.

Khi A-Nan đã đi không bao xa, Bát-kiết-đề liền mang bình nước trở về nhà thưa với cha mẹ:

– Xin cha mẹ hãy cho con lấy Sa-môn A-Nan làm chồng.

Người mẹ nói:

– A-Nan là con nhà vua Chuyển-luân, dòng Sát-lợi, Thích chủng. họ Cù-đàm; quốc vương, đại thần đều biết, là đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, được vua Ba-tư-nặc kính trọng, là thầy của Mạc-lợi phu nhân. Còn chúng ta là dòng Chiên-trà-la thấp hèn, làm sao có thể lấy A-Nan làm chồng được?!.

Cô gái bảo mẹ:

– Nếu không lấy được A-Nan làm chồng thì con sẽ uống thuốc độc, hoặc dùng dao tự sát, hoặc thắt cổ tự tử.

Người mẹ bảo con gái rằng:

– Ở đây cũng có thần chú Ma-đăng-già, có thể dời mặt trời, mặt trăng xuống đất, cũng có thể gọi vua trời Phạm thiên xuống, huống gì là Sa-môn A-Nan mà không làm cho đến đây được sao?! Việc gì thần chú này cũng làm được, trừ khi A-Nan bị chết, hoặc sống mà bất lực, hoặc được Sa-môn Cù-đàm bảo hộ thì ta không thể làm gì được.

Nghe xong, cô gái hết sức vui mừng, liền đứng dậy tắm rửa, trang điểm thân thể, mặc y phục trắng, trải ngọa cụ… trông mong A-Nan đến.

Lúc ấy người mẹ cũng tắm rửa, mặc y phục trắng, lấy phân bò trét lên đất, lấy chỉ ngũ sắc kết thành sợi dây, đổ nước đầy bốn bình, đựng đầy bốn chén máu, chứa đầy chén bốn loại nước thơm, đựng đầy bốn chén mật, dựng đứng bốn cây đao lớn trên nền phân bò, ở bốn góc nền dựng bốn mũi tên, đốt tám ngọn đèn sáng, lấy bốn đầu lâu của người chết thoa lên đó các loại hương, lấy hoa rải lên đất, cầm cái lư đốt hương, nhiễu ba vòng rồi hướng về phương Ðông, quỳ xuống, tụng chú thuật Ma-đăng-già.

Khi ấy, ở Kỳ-hoàn, A-Nan chợt hoảng hốt, bị chú thuật trói như cá mắc câu, như voi đi theo cái móc. Tôn giả A-Nan bị chú thuật dẫn đến nhà Chiên-trà-la.

Người mẹ bảo con gái:

– A-Nan đã đến. Con muốn làm gì thì sẽ tuân theo ý con.

Trông thấy A-Nan đến, Bát-kiết-đề hết sức vui mừng, liền đến ôm A-Nan đặt ngồi trên giường, vén y, rờ mó, vuốt ve A-Nan giống như lực sĩ dùng tay nắm con dê nhỏ lông dài, con dê phải đi theo tay người ấy.

Bấy giờ tôn giả A-Nan thấy mười phương đều tối tăm như thể mặt trời mặt trăng bị tay của A-tu-luân La-hầu che kín, không còn phát sáng. A-Nan bị chú thuật khống chế, không cử động được. Mặc dù A-Nan có sức mạnh của đại lực sĩ (sức mạnh bằng sức mạnh của mười lực sĩ, sức mạnh của Câu-di cũng như A-Nan) nhưng vì bị chú thuật khống chế nên không thể cử động được.

Lúc ấy, tôn giả A-Nan niệm năng lực Thánh đạo đế nên tỉnh trở lại. A-Nan suy nghĩ: “Con bị nguy khốn, sao Thế Tôn không thương xót con?!”.

Biết A-Nan bị chú thuật Chiên-trà-la khống chế, Phật liền nói kệ:

– Phật là bậc tôn quý nhất thế gian

Chắc chắn không ai có thể hơn Phật

Phật là bậc đứng đầu trong trời người

Vua các pháp, là ruộng phước tốt nhất.

Nếu nghĩa bài kệ này là đúng thì A-Nan được giải thoát khỏi nhà Chiên-trà-la.

Pháp là cao quý nhất ở thế gian

Chắc chắn không gì có thể hơn pháp.

Pháp đáng tôn trọng nhất trong trời người

Dứt hết trói buộc, mãi mãi yên vui.

Nếu nghĩa bài kệ này là đúng thì xin cho A-Nan được thoát khỏi nhà Chiên-trà-la.

Tăng là bậc cao quý nhất thế gian

Chắc chắn không ai có thể hơn Tăng

Tăng là bậc đứng đầu trong trời người

Là ruộng phước tốt đẹp hơn tất cả.

Nếu nghĩa bài kệ này là đúng thì xin cho A-Nan được thoát khỏi nhà Chiên-trà-la.

Khi Phật tụng kệ xong, các dụng cụ được bày ra trong đàn tràng trì chú ở nhà Chiên-trà-la như: dao, mũi tên bị gãy nát, bình hủ bị vỡ, đèn tắt, đầu lâu vỡ tung, gió lốc thổi xoay vần làm mọi người không thấy nhau. Chú thuật Chiên-trà-la mất tác dụng.

Người mẹ bảo con gái:

– Ðây chắc là do thần lực của Sa-môn Cù-đàm gây nên. Mọi thứ đều vỡ tung, chú thuật mất tác dụng.

Lúc ấy A-Nan suy nghĩ: “Ðây chắc là do năng lực ân đức của Thế Tôn”.

Tôn giả A-Nan được giải thoát, giống như con voi lớn sáu mươi tuổi say rượu, hung bạo, thân lớn, ngà dài, được thoát khỏi cái cùm chân bằng sắt, từ thành chạy về núi rừng hoang vắng; A-Nan cũng vậy, nhờ Thế Tôn tụng Phật ngữ mà vị ấy được giải thoát khỏi nhà Chiên-trà-la và chạy về Kỳ-hoàn.

Cô gái nọ đuổi theo A-Nan, đến cửa cổng tịnh xá Kỳ-hoàn và nói rằng:

– A-Nan là chồng tôi! A-Nan là chồng tôi!

Như trâu nghé theo mẹ không rời nửa bước, cũng vậy, cô gái này theo sát A-Nan không lìa một phút giây nào.

Tôn giả A-Nan đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Trong các pháp, Ta thấy không gì gây mê hoặc, dối trá bằng người nữ. Người nữ này cũng vậy. Vì sao vậy? – Do tâm dâm dục trói buộc tâm ý. Vì thế, này A-Nan! Ông cần phải hết sức tỉnh giác, đừng để bị lục dục lôi kéo.

Lúc ấy, vào sáng sớm, tôn giả A-Nan đắp y, mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Cô gái ấy cũng đuổi theo sau và nói với các trưởng giả rằng:

– A-Nan là chồng tôi. A-Nan là chồng tôi.

Khất thực xong, A-Nan trở về chỗ Phật, bạch với Phật rằng:

– Ðến đâu cô ấy cũng nói với các trưởng giả để bôi nhọ con. Con không biết phải làm sao?!

Thế Tôn bảo:

– Ông hãy đến cùng nói chuyện, giống như nói chuyện với chị em ruột vậy. Vì sao thế? – Vì người nữ ấy sẽ là Tỳ-kheo ni.

Lúc ấy, người nữ đó đến chỗ Phật, bạch Thế Tôn rằng:

– Xin Thế Tôn trả Sa-môn A-Nan cho con để con lấy làm chồng.

Thế Tôn đáp:

– Nếu muốn A-Nan thì hãy làm Tỳ-kheo ni trong pháp của Ta, Ta sẽ gả A-Nan cho.

Nghe vậy, cô ấy hết sức vui mừng, nói rằng:

– Thế Tôn đúng là đạo sư. Thế Tôn đúng là đạo sư.

Thế Tôn hỏi:

– Cô có cha mẹ không? Ðã từ giã cha mẹ chưa?

Cô ấy đáp:

– Có cha mẹ nhưng chưa từ giã cha mẹ.

Thế Tôn bảo:

– Cô hãy đi từ giã cha mẹ rồi trở lại đây.

Cô ấy liền đứng dậy, đến chỗ cha mẹ, thưa với cha mẹ hết thảy mọi việc. Nghe xong, cha mẹ cô ấy hết sức vui mừng. Vốn đã trồng căn lành và sắp đắc đạo nên người mẹ bảo con gái:

– Con muốn theo đạo thì cứ theo. Cha mẹ cũng muốn cùng đến để gặp Thế Tôn.

Cha mẹ và cô ấy đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất rồi đứng qua một phía. Lúc ấy vì cô gái này, Thế Tôn thuyết pháp cho đại chúng nghe, dùng vô số phương tiện để thể hiện ý nghĩa các pháp như nghĩa mềm mại, nghĩa bố thí, nghĩa trì giới, nghĩa sanh thiên, nghĩa bất tịnh của dâm dục, nghĩa các kiết sử làm phát sanh các căn, nghĩa xuất gia, nghĩa các đạo phẩm. Thế Tôn giảng pháp bốn Thánh đế: khổ, tập, diệt, đạo. Ngay tại chỗ ngồi, cô gái ấy hiểu được pháp bốn Thánh đế. Cha mẹ cô ta đắc đạo A-na-hàm, cô ấy đắc đạo Tu-đà-hoàn.

Giống như tấm vải trắng dễ nhuộm màu, khi nghe pháp họ cũng vậy.

Khi ấy, cha mẹ cô ta chấp tay bạch Phật:

– Từ nay trở đi, con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Xin hãy cho con làm Ưu-bà-tắc, trọn đời không sát sanh.

Bát-kiết-đề hiện đời đắc quả, cô ấy đảnh lễ sát chân Phật, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Xin Thế Tôn tha thứ cho những lỗi lầm của con. Xin Như Lai đừng quở trách con. Con như trẻ con, như người ngu si, người không biết thiện ác, đã có ý không tốt đối với A-Nan. Xin hãy tha thứ và cho con nhập đạo làm Tỳ-kheo ni để được nương tựa Thế Tôn, tu hành phạm hạnh.

Thế Tôn bảo A-Nan:

– Ông hãy cùng hai Tỳ-kheo ni đưa cô gái này đến chỗ các Tỳ-kheo ni kiết hạ, bảo với Ma-ha-bát-chá-bát-đề Cồ-đàm-di rằng: “Thế Tôn bảo cho cô gái này xuất gia thọ giới Cụ-túc”.

Vâng lời Thế Tôn, A-Nan dẫn hai Tỳ-kheo ni và cô gái ấy đến chỗ Bát-chá-bát-đề Cồ-đàm-di và nói rằng:

– Thế Tôn dạy cho cô gái này xuất gia thọ giới Cụ-túc.

Ðại Ái Ðạo hỏi A-Nan:

– Sao vậy A-Nan?! Thế Tôn cho phép cô gái Chiên-trà-la theo đạo hay sao?

A-Nan đáp:

– Cồ-đàm-di, cô gái này đã đắc quả, vì sao không hành đạo được?

Ðại Ái Ðạo liền cạo tóc cho cô ấy xuất gia, thọ giới Cụ-túc, dạy oai nghi phép tắc. Cô ấy đắc tám giải thoát và đắc đạo A-la-hán.

Lúc ấy, Ðại Ái Ðạo dẫn cô ấy và năm trăm Tỳ-kheo ni đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một phía. Thế Tôn quán sát tâm ý của cô Bát-kiết-đề rồi hỏi:

– Cô còn muốn lấy A-Nan làm chồng không?

Tỳ-kheo ni ấy xấu hổ, quỳ xuống bạch Phật rằng:

– Tôn giả A-Nan là anh con, cùng học một pháp, cũng như nước hợp với sữa.

A-Nan phân vân không biết mình có phạm Tăng-già-bà-thi-sa không, liền hỏi các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng không biết nên đến hỏi Phật. Thế Tôn đáp:

– A-Nan không phạm tội. Ðó là do chú Ma-đăng-già làm mê hoặc. Nếu có ai bị chú thuật mê hoặc nữa thì cũng không có tội.

TỲ NẠI DA

Hết quyển ba

—o0o—

Quyển thứ tư

Phần thứ hai của pháp:

TĂNG-TÀN GIỚI LÀM MAI MỐI

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Bấy giờ có một Tỳ-kheo tên Ca-lưu, con của Lộc Viên (tên mẹ) cư trú ở đó; có nhiều bạn bè như: quốc vương, đại thần, trưởng giả, Phạm chí và theo họ xin y phục, đồ ăn, ngọa cụ, thuốc trị bệnh.

Lúc ấy có nhiều phụ nữ trưởng giả suy nghĩ: “Tỳ-kheo Ca-lưu quen biết rất nhiều quốc vương, đại thần, trưởng giả, Phạm chí… Bất cứ ai vị ấy cũng đều quen cả và xin gì cũng đều được. Chúng ta hãy cùng đến thuyết phục Tỳ-kheo Ca-lưu vì chúng ta mà đến nhà người khác”.

Lúc ấy, các phụ nữ liền đến chỗ Tỳ-kheo Ca-lưu, bạch với Tỳ-kheo ấy rằng:

– Tôn giả có nhiều bạn bè như: quốc vương, đại thần… xin gì cũng đều được. Xin ngài hãy chịu khó đến nhà ấy làm mai giúp chúng tôi. Ðến đó, ngài hãy thay tôi mà nói rằng: “Nghe nói con gái ông xinh đẹp. Con trai tôi cũng tuấn tú. Hãy gả con gái của ông cho làm vợ con tôi. Như vậy dòng giống không bị giảm”. Xong việc, chúng tôi sẽ hậu tạ. Xin thầy hãy giúp chúng tôi.

Tỳ-kheo ấy liền nhận lời và lập tức đi đến nhà người nữ ấy để làm mai mối.

Lại có một quả phụ nhờ Tỳ-kheo rằng:

– Hãy đến nhà trưởng giả ấy nói rằng: “Quả phụ nọ xinh đẹp không ai bằng. Ông có thể làm chồng bà ấy không? Nếu không thể làm vợ chồng thì hãy cùng nhau tư thông”.

Tỳ-kheo ấy liền đến đó để làm mối lái. Lại có một trưởng giả bảo Tỳ-kheo rằng:

– Tôn giả có nhiều bạn bè như: quốc vương, đại thần, trưởng giả, Phạm chí. Xin hãy giúp tôi đến nhà phụ nữ ấy nói với cô ấy rằng: “Cô không có chồng, tôi không có vợ. Tôi là đại trưởng giả, cô có thể làm vợ tôi không?”.

Các trưởng giả nhờ Tỳ-kheo ấy làm vậy chẳng phải một lần.

Tỳ-kheo ấy liền đến nhà các phụ nữ truyền đạt lại đầy đủ việc ấy. Các phụ nữ ấy có người đồng ý, có người không đồng ý. Người không đồng ý lần lượt nói lại với các người thân quen. Nghe nói việc ấy, các trưởng giả đều oán trách rằng:

– Sa-môn Thích tử này tự xưng là tinh tấn, lại giống như lái buôn, làm mai mối mua bán nam nữ.

Các trưởng giả nghe lời ấy, liền nói lại với các Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp. Các Tỳ-kheo nghe xong buồn rầu không biết đối đáp làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi Tỳ-kheo Ca-lưu:

– Việc ấy có thật không?

Ðáp:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Ông đã làm trái với hạnh của Tỳ-kheo. Ông xuất gia học đạo mà đi làm mai mối cho nam nữ và lấy đó làm vui. Khi có đám tang ông cũng có mặt, khi họ vui đùa ông cũng có mặt. Ông chẳng có thực hành hạnh Sa-môn. Ông là Sa-môn mà lại đi làm tôi tớ cho người.

Sau khi dùng vô số phương tiện quở trách, dạy dỗ xong, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào cố tâm làm mai mối người nữ với người nam, mai mối người nam với người nữ, mai mối quả phụ với đàn ông góa vợ… thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Tỳ-kheo Ca-lưu quen biết rộng rãi với các trưởng giả, hướng dẫn các trưởng giả làm việc phước. Vợ chồng các trưởng giả gây lộn với nhau, Tỳ-kheo ấy đến khuyên răn, hòa giải, lôi kéo lên giường cho ngủ chung. Các trưởng giả thân quen khác cười chê việc làm của Tỳ-kheo ấy và nói:

– Ðáng lẽ chúng tôi làm việc hòa giải ấy, vậy mà Tỳ-kheo lại làm.

Các trưởng giả sanh tâm chán ghét, liền đến nói với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết trả lời ra sao, liền đến chỗ Phật, bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Các Tỳ-kheo không được đến nhà cư sĩ để hòa giải và tái hợp cho họ.

Do việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào cố tâm mai mối người nữ với người nam, mai mối người nam với người nữ, hoặc mai mối quả phụ với đàn ông góa vợ, cho đến hòa giải tái hợp thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Người nam có ba vợ: một người do cướp được, người thứ hai do mua được, người thứ ba do kết duyên. Trong số ba người vợ ấy, nếu Tỳ-kheo nói với người chồng hãy nằm ngủ cùng với người vợ này, hoặc hòa giải khi vợ chồng họ gây lộn thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Tỳ-kheo nào thả súc sanh và cho con đực con cái hợp đôi thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật ở tại vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc La-duyệt-kỳ.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Ðạt-nị-ca – con của người thợ gốm – suy nghĩ: “Nghề gốm của ta không có ai sánh kịp. Ta lại mạnh khỏe. Trước đây ta làm nhà gỗ, vua A-xà-thế định bắt giết ta, ta sẽ làm nhà gốm và ở trong đó”.

Ông ta liền trộn bùn làm căn nhà lớn với các thứ như: cửa, khung cửa, xà ngang, cửa sổ, cột chống, giá phơi y… đều bằng gốm. Tỳ-kheo ấy gom góp củi, cỏ, cành, lá, cỏ tranh, cỏ lau, nổi lửa nung căn nhà bằng đất. Ngọn lửa rất mạnh, người trong nước không ai không thấy.

Nung căn nhà gốm xong, ông ấy đi du hành, khất thực trong sáu mươi ngày để có đồ đãi khi mời các Tỳ-kheo tập hợp vào nhà mới.

Thấy việc ấy, Phật biết nhưng vẫn bảo A-Nan:

– Ông hãy đem y đến đây. Ta muốn đến nơi ấy xem xét.

Lúc ấy, Thế Tôn dẫn A-Nan đến căn nhà gốm của Tỳ-kheo Ðạt-nị-ca. Trông thấy căn nhà có màu đỏ rực rỡ như lửa, Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi A-Nan:

– Vật gì đỏ như đống lửa thế kia?

Tôn giả A-Nan liền bạch với Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn bảo:

– A-Nan! Ông hãy đến phá căn nhà gốm ấy. Vì sao vậy? – Ðể người đời sau thấy ở trong pháp của Ta, lúc đầu không có ai làm nhà gốm.

A-Nan liền đến phá căn nhà gốm ấy.

Sau hai tháng du hành, Tỳ-kheo Ðạt-nị trở về thành La-duyệt. Trông thấy căn nhà gốm bị phá, Ðạt-nị liền nổi giận, hỏi Tỳ-kheo ở cạnh đó:

– Ai đến phá căn nhà gốm này vậy?

Ðáp:

– Thế Tôn đến phá.

Ðạt-nị nói:

– Nếu đúng là Thế Tôn phá thì đành chịu vậy.

Phật ở tại vườn Ni-câu-đà, thuộc Ca-duy-la-việt, nước Thích-ky-sấu.

Khi ấy dòng họ Thích ở Ca-duy-la-việt vừa mới cất tòa nhà lớn. Tòa nhà ấy vừa cất xong không bao lâu, có kích thước không sai pháp, cửa hướng về phía Ðông. Nghe tin Phật đã đến vườn Ni-câu-đà, những người dòng họ Thích ở Ca-duy-la-việt liền suy nghĩ: “Chúng ta vừa cất xong tòa nhà này cách đây không lâu, kích thước không sai pháp, cửa hướng về phía Ðông, chưa có người ở. Sa-môn, Bà-la-môn và những người dòng họ Thích phải thỉnh Phật và chúng Tăng vào nhà đó trước, cúng dường đồ ăn uống và giữ Phật cùng Tăng nghỉ lại đó một đêm để được phước đức, lợi ích lớn”.

Khi ấy, những người dòng họ Thích ra cửa phía Ðông của thành Ca-tỳ-la-việt, đến vườn Ni-câu-đà. Lúc đó Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô số người đang vây quanh nghe. Trông thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, xinh đẹp không ai bằng, thân như núi vàng, là vị thầy đứng đầu trời người, đủ ba mươi hai tướng trang nghiêm thân, những người dòng họ Thích đều xuống xe, xuống ngựa, tiến đến chỗ Phật đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía.

Thế Tôn thuyết pháp cho những người dòng họ Thích, làm cho họ hoan hỷ. Sau khi thuyết pháp xong, Thế Tôn im lặng. Những người dòng họ Thích đứng dậy, sửa áo bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn! Chúng con đã xây một tòa nhà lớn ở Ca-duy-la-việt. Tòa nhà ấy vừa xây xong không bao lâu, có kích thước hợp pháp, cửa hướng về phương Ðông nhưng chưa có người ở. Sa-môn, Bà-la-môn và những người dòng họ Thích cúi xin Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo đến đó xem để chúng con được lợi ích lớn.

Thế Tôn im lặng chấp nhận.

Thấy Thế Tôn đã im lặng chấp nhận, những người họ Thích liền rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi đi đến tòa nhà mới cất, quét dọn, trải tọa cụ, dùng các thứ như đệm dệt bằng lông, thảm lông, vải bông – được trang sức bằng lông chim – trải lên đất, múc nước trong đổ đầy bình, lấy vải bông tẩm dầu sạch và tốt làm đuốc, đốt ngọn đèn rất sáng… Những việc cúng dường như vậy không thể kể hết.

Họ lại đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Ðồ cúng dường đã được sắp đặt xong. Ðã đến giờ, xin Thế Tôn thọ nhận.

Sau khi thọ thực xong, Thế Tôn đắp y mang bát cùng chúng Tăng đến tòa nhà mới cất, rửa chân ở bên ngoài rồi vào trong giảng đường, quan sát khắp giảng đường và đến ngồi trên tòa cao với dáng vẻ rất vui tươi.

Chúng Tăng cũng rửa chân rồi vào trong giảng đường, tuần tự ngồi ở vách phía Tây và xoay mặt về phía Ðông.

Lúc ấy, những người dòng họ Thích cũng rửa chân ở bên ngoài, vào giảng đường, ngồi ở vách tường phía Ðông và xoay mặt về phía Tây.

Ngay đêm ấy, khi thấy hội chúng đã ổn định, đức Thế Tôn liền nói pháp cho những người dòng họ Thích. Sau khi dùng vô số phương tiện để nói pháp, Thế Tôn bảo:

– Ðã quá nửa đêm, các vị hãy nghỉ ngơi.

Những người họ Thích liền rời khỏi chỗ ngồi, lạy Phật rồi ra đi.

Khi những người họ Thích đi được một lát, Thế Tôn quán sát tâm các Tỳ-kheo và thấy cần phải bảo họ hãy giữ yên tĩnh, hãy giữ yên tĩnh để nhập vào các loại tam muội sâu xa vi diệu.

Thế Tôn bảo Mục-kiền-liên:

– Hãy bảo các Tỳ-kheo giữ yên tĩnh để Ta nhập vào các loại tam muội sâu xa vi diệu. Thầy hãy nói pháp cho các Tỳ-kheo. Ta đang bị đau lưng, không thể nói pháp.

Vâng lời Phật dạy, Mục-kiền-liên nói:

– Hãy giữ yên lặng để tĩnh tâm.

Lúc ấy, Thế Tôn xếp tư y thượng, trải lên giường, gối đầu trên Tăng-già-lê, nằm nghiêng qua hông phải như sư tử, hai đầu gối chồng lên nhau, chân duỗi thẳng, chú tâm nghĩ đến ánh sáng cho đến khi nào trời sáng.

Tôn giả Mục-kiền-liên bảo các Tỳ-kheo:

– Tôi sẽ giảng lại cho các thầy nghe pháp mà trước đây tôi đã từng được nghe Thế Tôn giảng dạy. Ðó là pháp không nghe và nghe, như là việc thực hành của Tỳ-kheo không nghe pháp; hặc việc có thể thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.

Tỳ-kheo không nghe pháp thực hành như thế nào?

– Tỳ-kheo nào nếu mắt thấy sắc, suy nghĩ về sắc thì liền dính mắc trong sắc, không nghĩ cách thoát ly sắc, ý không chuyên nhất, không chứng được trí tuệ giải thoát và như thật giải thoát, không hiểu rõ nơi phát sanh ra các pháp ác nên chúng tồn tại không bị diệt, không thể đắc đượïc quả Hữu-dư và Vô-dư Niết-bàn. Ðó là việc niệm sắc, dính mắc sắc của Tỳ-kheo không nghe pháp.

Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm sự trơn láng, tâm xúc chạm pháp, hoặc nghĩ về các sắc pháp… thì bị dính mắc pháp, không nghĩ cách thoát ly sắc pháp, ý không chuyên nhất, không chứng được như thật giải thoát và trí tuệ giải thoát, không hiểu như thật nơi phát sanh các pháp ác, nên chúng không được diệt trừ, không đạt được Niết-bàn Hữu-dư và Vô-dư. Ðó là việc dính mắc vào các pháp của Tỳ-kheo không nghe pháp.

Tỳ-kheo không nghe pháp mà thực hành như vậy sẽ bị ma tìm được sơ hở và làm hư hoại tâm ý. Nếu mắt thấy ma thì ma liền thấy được lỗi của mắt. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý thấy ma thì liền bị ma làm hại.

Này các Tỳ-kheo! Giống như có rừng tre, cỏ lau khô, nếu đập nát ra, dồn đống lại, rồi lấy lửa đốt bốn phía thì có thể cháy được không? – Cũng vậy, Tỳ-kheo ấy nếu mắt thấy ma thì liền bị ma phát hiện thấy lỗi của mắt và làm hư hoại tâm ý. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng bị ma làm hại như vậy.

Tỳ-kheo này bị sắc chế phục, không thể chế phục sắc, âm thanh, hương thơm, vị, sự trơn láng và pháp. Tỳ-kheo ấy bị pháp ấy chế phục, không thể chế phục pháp. Do bị sắc chế phục, bị pháp chế phục nên không thể chế phục pháp ác. Do không thể chế phục pháp ác nên làm các kiết sử phát sanh và lớn mạnh, phải chịu khổ sanh – già – bệnh – chết ở đời sau.

Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo không nghe pháp.

Sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp xảy ra thế nào?

– Tỳ-kheo này mắt thấy sắc, nghĩ về sắc, không đắm trước sắc. Không nghĩ đến sắc thì sắc lìa khỏi tâm, ý được chuyên nhất, được ý giải thoát (chỉ) và trí tuệ giải thoát (quán), biết như thật nơi phát sanh của các pháp ác nên chúng bị diệt mất, không phát sanh, đạt được Niết-bàn Hữu-dư và Vô-dư. Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.

Mắt thấy sắc không bị đắm trước, không bị dính mắc vào âm thanh, hương thơm, vị ngon, sự trơn láng và pháp; nghĩ về sắc pháp không bị dính mắc; không nghĩ về sắc pháp thì lìa sắc pháp, tâm được chuyên nhất, đạt được ý giải thoát, trí tuệ giải thoát, biết như thật nơi pháp ác phát sanh nên chúng liền diệt mất, không phát sanh, đạt được Niết-bàn Hữu-dư và Vô dư. Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.

Tỳ-kheo nào thực hành như vậy thì ở bất cứ nơi đâu cũng không bị ma khống chế và không hủy hoại được.

Giống như có người cất nhà bằng đá, lại lấy bùn trét khắp bốn phía, nếu cầm ngọn đuốc để thiêu đốt thì không thể thiêu đốt được. Cũng vậy, Tỳ-kheo này ở bất cứ nơi nào, khi mắt thấy ma, ma không thể làm hại. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với ma cũng không bị ma làm hại. Tỳ-kheo này có thể chế phục sắc, không bị sắc chế phục. Cũng vậy, đối với âm thanh, hương thơm, vị ngon, sự trơn láng và pháp, Tỳ-kheo này có thể chế phục pháp, không bị pháp chế phục, không tạo ra pháp ác ở đời sau, các kiết sử bị tan rã, sanh lão bệnh tử bị dứt trừ. Ðó là sự thực hành của Tỳ-kheo có nghe pháp.

Lúc ấy, từ trong trạng thái nằm, Thế Tôn nhổm dậy, ngồi kiết-già, lưng đã bớt đau. Thế Tôn bảo tôn giả Mục-kiền-liên:

– Vừa rồi ông đã nói cho các Tỳ-kheo nghe pháp không nghe và nghe, phải không?

Ðáp:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn khen Mục-kiền-liên:

– Lành thay! Lành thay Mục-liên! Ông phải thường thuyết pháp cho các Tỳ-kheo, đừng để gián đoạn.

Lúc ấy Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Hãy thực hành và tụng đọc pháp không nghe và nghe này, và phải diễn giảng cho chư thiên và người đời nghe ý nghĩa của pháp ấy.

Vì Tỳ-kheo Ðạt-nị, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Các trưởng giả họ Thích còn cất giảng đường có kích thước hợp pháp, cửa chính quay về hướng Ðông. Người đời còn vậy, huống là Ðạt-nị, ở trong pháp của Ta không được phép mà lại cất nhà bằng gốm.

Do việc ấy và muốn có đầy đủ mười công đức, Thế Tôn liền kiết giới cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào tự ý làm nhà gốm như Ðạt-nị-ca thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Tự làm, tự làm chủ thì phải đúng lượng. Hạn lượng của nhà ấy là: Dài mười hai khuỷu tay (một khuỷu tay bằng một gang tay của Như Lai). Rộng bảy khuỷu tay. Khi làm, cần phải mời Tỳ-kheo biết pháp đến. Tỳ-kheo biết pháp cần phải dùng pháp để đo lường, không được dùng dâm, nộ, si để đo lường. Nếu dùng dâm, nộ, si để đo lường thì không được làm nhà.

Tỳ-kheo nào tự tìm xin để cất thất; tự làm, tự làm chủ, không mời Tỳ-kheo biết pháp đến, lại làm quá hạn lượng thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

(Phần trên là tự làm, phần dưới là lời ngăn chặn những việc phi kinh luật).

Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc La-duyệt-kỳ.

Lúc ấy, có một Tỳ-kheo vô tri chặt cây bạch dương lớn ở ngã tư đường để làm giảng đường. Vị thần sống ở cây ấy cõng con trai, con gái cả thảy ba người đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, đứng qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:

– Ở chỗ Thế Tôn có Tỳ-kheo vô tri đã chặt cây lớn ở ngã tư đường. Cây ấy là nhà của chúng con. Bây giờ sắp đến mùa lạnh, lá cây trong vườn Trúc rụng hết, những đứa con này sẽ sống ở đâu?

Thế Tôn dùng tâm từ bi bảo một vị thiên dẫn gia đình vị thần cây ấy đến nơi an ổn thích hợp để họ sống qua mùa lạnh. Người dân nước ấy không ai là không biết và đều rao truyền với nhau là Tỳ-kheo vô tri đã chặt cây đại thọ ở ngã tư đường để làm nhà. Nghe vậy, các trưởng giả đều hờn trách việc làm của Tỳ-kheo ấy rằng:

– Các Tỳ-kheo Thích tử đều tự nói là tinh tấn, không quấy nhiễu người. Vậy mà đã chặt cây bạch dương lớn đó để làm giảng đường, chẳng khác gì người thế tục chúng ta.

Nghe lời nói không tốt ấy, các Sa-môn đầu-đà đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi Tỳ-kheo vô tri ấy:

– Có thật ông đã chặt cây ấy không?

Tỳ-kheo vô tri ấy bên trong thì hổ thẹn, bên ngoài thì ngượng ngùng, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Ông là Tỳ-kheo, phải thường có lòng từ. Vậy vì sao lại chặt cây lớn có thần sống ở ngã tư đường để làm giảng đường?

Thế Tôn dùng vô số phương tiện để quở trách, dạy dỗ Tỳ-kheo ấy rồi tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào vô tri xây cất giảng đường lớn, phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu muốn xây cất giảng đường thì phải mời Tỳ-kheo biết pháp và mời đàn-việt đến. Tỳ-kheo biết pháp phải đến nói rõ kích thước, đừng cho tăng giảm. Nếu Tỳ-kheo vô tri làm nhà lớn, không mời Tỳ-kheo biết pháp và đàn-việt mà tự ý làm thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

(Kích thước tùy theo đàn-việt)

Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt.

Lúc ấy, vua Tần-bà-sa-la bảo người đánh xe:

– Khanh hãy chuẩn bị xe ngựa báu. Ta muốn đến chỗ Thế Tôn để đảnh lễ Ngài.

Người đánh xe liền chuẩn bị xe ngựa rồi đến tâu với vua rằng:

– Vua ra lệnh chuẩn bị xe, giờ xe đã được chuẩn bị xong.

Vua Tần-bà-sa-la liền cỡi xe báu ra khỏi thành La-duyệt, đến núi Kỳ-xà-quật. Khi đến chỗ Thế Tôn, nhà vua xuống xe và đi lên núi, tháo bỏ năm oai nghi của vua Sát-lợi như: tháo kiếm, hạ lọng, cởi mũ ngọc châu, bỏ phất trần có chuôi bằng ngọc, cởi đôi giày nạm vàng, bỏ tùy tùng lại, chỉ dẫn theo vài người đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía.

Những người đi theo vua, có người lạy Phật, có người vái chào, có người chấp tay cung kính, có người đứng chiêm ngưỡng Phật.

Lúc ấy, Thế Tôn thuyết pháp cho vua nghe. Mọi người im lặng không có một tiếng động. Nghe Phật thuyết pháp xong, vua Tần-bà-sa-la liền đứng dậy, quỳ gối phải sát đất, bày vai phải, chấp tay bạch Phật rằng:

– Ngày mai con sẽ chuẩn bị ít thức ăn thanh tịnh. Cúi xin Thế Tôn và chúng Tăng đến thọ nhận.

Thế Tôn im lặng trong giây lát để nhận lời thỉnh của vua Tần-bà-sa-la.

Thấy Thế Tôn im lặng chấp nhận, vua liền đứng dậy, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi ra đi.

Khi đã về đến chỗ, ngay đêm ấy, vua cho chuẩn bị đầy đủ đồ ăn uống, tọa cụ tốt rồi bảo với cận thần:

– Khanh hãy đến chỗ Thế Tôn, nhân danh ta thăm hỏi Thế Tôn rồi thưa: “Ðồ ăn uống đã được chuẩn bị xong. Xin thỉnh Thế Tôn và đại chúng đến”.

Vâng lệnh vua, vị quan ấy liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, bạch Thế Tôn rằng:

– Ðồ ăn uống đã được chuẩn bị xong. Xin thỉnh Thế Tôn đến thọ nhận.

Thế Tôn liền đắp y mang bát, cùng chúng Tăng đến cung vua, ngồi theo thứ lớp. Thấy Phật và chúng Tăng đã ngồi yên, vua Tần-bà-sa-la tự đi rót nước, kế đó dâng các đồ ăn uống và tự tay châm đồ ăn, không chút mệt nhọc.

Sau khi đại chúng thọ thực xong, vua ngồi qua một bên trong chốc lát rồi đứng dậy chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Xin Phật và chúng Tăng nhận sự cúng dường của con trong cả kỳ kiết-hạ này. Ở thành La-duyệt-kỳ chúng con sẽ cất cho Thế Tôn một giảng đường có kích thước đúng pháp, cửa xoay về hướng Ðông, vách phía Tây có cánh cửa lớn, kín đáo, ngay thẳng. Lại cất năm trăm phòng cho chúng Tăng, cung cấp năm trăm giường, năm trăm chiếu cói, năm trăm cái gối đầu… Các vật được dâng cúng đều là loại tốt, như lúa gạo thơm, thuốc trị bệnh trong kho của vua. Tất cả đều được dâng cúng cho Phật và Tăng.

Thế Tôn im lặng chấp nhận lời vua nói. Lúc ấy, Thế Tôn nói lời chúc phúc cho nhà vua:

– Phạm chí thờ lửa (Suốt cả cuộc đời không tìm cầu nơi người khác) Không để cho tắt (Lửa là cửa cổng là phương hướng, là mặt trước, là đầu)

Bốn bộ sách Phạm

Ðứng đầu các sách

Trong các người dân

Vua là đứng đầu

Trong các sông suối

Biển là rộng nhất

Sao trên không trung

Mặt trăng đứng đầu

Trong các sức nóng

Mặt trời hơn hết

Bốn phương trên dưới

Cùng khắp mọi phương

Trời người hai chân

Phật là đứng đầu.

Sau khi chúc phúc xong, Thế Tôn trở về. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp mà dạy rằng:

– Này các Tỳ-kheo! Vua là người đứng đầu tất cả, cai trị một vùng rộng lớn, lo làm việc nước, có thế lực lớn, còn không dám chặt cây có thần cư ngụ ở ngã tư đường để làm giảng đường, chỉ làm giảng đường không quá lượng, đúng kích thước, cửa nằm ở hướng Ðông, vách chắn ở phía Tây, có cửa sổ và cửa chính ngay ngắn. Vậy, vì sao Tỳ-kheo lại làm nhà không đúng lượng?

Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc La-duyệt-kỳ.

Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ-mạc-lộ-tử coi việc phân chia nơi thọ thực ở thành Vương-xá, coi việc phân chia giường nằm, phân phát thức ăn cho các Tỳ-kheo, không phân biệt thân quen hay xa lạ, không chọn tốt xấu, không lo sợ, không nghi ngờ, không trái thứ lớp, trên dưới, trước sau.

Lúc ấy có một Tỳ-kheo tên Mật-đố-lộ-địa theo thứ lớp được phân đến nhà nghèo thọ thực. Tỳ-kheo ấy phải ăn thức ăn dở nên suy nghĩ: “Ta bị khổ sở, bị tai nạn, bị khốn đốn nên bị Mạc-lộ-tử phân cho ta đi nhận thức ăn dở. Ta phải làm gì để trả oán thù này? Ta phải tìm cách hủy báng ông ta bằng pháp Ba-la-di không căn cứ”.

Lúc ấy, Tỳ-kheo đó có người em là Tỳ-kheo ni Mật-đố-lộ (họ). Khi Tỳ-kheo ni nọ đến chỗ Tỳ-kheo ấy đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một phía. Tỳ-kheo ấy không thèm nói chuyện, không mời ngồi. Tỳ-kheo ni nọ liền suy nghĩ: “Ta không có xâm phạm các thầy ấy, không có gây sự, không có lỗi gì. Vậy mà hôm nay các thầy ấy không nói chuyện với ta, không mời ta ngồi”.

Các Tỳ-kheo nói:

– Này cô em! Cô không biết sao? Bọn ta đã bị Mạc-lộ-tử bắt nhận thức ăn dở để xúc phạm ta. Vậy mà cô không giúp đỡ. Vì vậy tôi không nói chuyện với cô, không mời cô ngồi.

Tỳ-kheo ni đáp:

– Tôi phải làm sao?

Tỳ-kheo ấy nói:

– Cô phải đến chỗ Thế Tôn nói rằng: “Thưa Thế Tôn! Ở đây có gì là bình đẳng, có gì là đáng quý?! Ðà-tạ-mạc-lộ-tử đã cùng con làm hạnh bất tịnh, phạm Ba-la-di”.

Tỳ-kheo ni đáp:

– Làm sao tôi phải hủy báng vị Tỳ-kheo thật sự thanh tịnh bằng pháp Ba-la-di không căn cứ?!

Tỳ-kheo đáp:

– Nếu cô không đến bạch với Phật, tôi sẽ không ngồi nói chuyện với cô.

Tỳ-kheo ni đáp:

– Có thể nói lời ấy nhưng thật khó có cơ hội.

Tỳ-kheo đáp:

– Cô từ từ đến sau, để chúng tôi đến chỗ Phật trước, sau đó cô mới đến.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo đến chỗ Phật đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía. Họ ngồi được một lát thì Tỳ-kheo ni đến đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:

– Bạch Thế Tôn! Ở đây có gì bình đẳng, có gì đáng quý! Tỳ-kheo Ðà-tạ đã cùng con làm việc bất tịnh, phạm Ba-la-di.

Lúc ấy các Tỳ-kheo kia đồng tình bạch Thế Tôn rằng:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn! Ðúng như lời Tỳ-kheo ni nói, chúng con đều biết hết.

Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ đang cầm phất trần phất qua phất lại sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn quay lại hỏi Tỳ-kheo Ðà-tạ:

– Ông có gì để nói không? Tỳ-kheo ni Mật-đố-lộ đã nói: “Có gì bình đẳng, có gì đáng quý! Tỳ-kheo Ðà-tạ đã cùng con làm việc bất tịnh, phạm Ba-la-di”.

Tỳ-kheo Ðà-tạ bạch:

– Việc ấy chỉ có Như Lai biết, chỉ có Thế Tôn biết.

Thế Tôn bảo:

– Này Ðà-tạ! Ông không nên lấy ta làm chứng. Không nên nói rằng chỉ có Như Lai biết, chỉ có Thế Tôn biết. Nếu ông nhớ là có làm thì nói là đã làm, nếu nhớ không có làm thì nói là không có làm.

Tỳ-kheo ấy bạch Phật:

– Con không nhớ, thưa Thế Tôn. Con không nhớ, thưa Như Lai.

Lúc ấy, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo rằng:

– Theo lời bạch của Tỳ-kheo Ðà-tạ và theo lời thưa của Tỳ-kheo Mật-đố-lộ, nếu đúng như vậy thì phạm Ba-la-di.

Nói xong, Thế Tôn đứng dậy, trở vào tịnh thất.

Thế Tôn vừa đi được một lát, các Tỳ-kheo liền gạn hỏi Tỳ-kheo ni Mật đố lộ, gạn hỏi luôn các Tỳ-kheo đồng tình rằng:

– Các vị có thấy lỗi của Tỳ-kheo Ðà-tạ không? Thấy lúc nào? Thấy làm sao? Nghe theo ai mà nói thấy?

Các Tỳ-kheo liên tục quở trách và hỏi rõ sự thật. Các Tỳ-kheo đã đồng tình đáp:

– Do sân hận, ngu si nên chúng tôi nói vậy. Thật sự phạm hạnh của Tỳ-kheo Ðà-tạ hoàn toàn trong sạch.

Các Tỳ-kheo nói:

– Vì sao các ông đem ý sân hận, ngu si phỉ báng vị ấy, rồi giờ lại nói Tỳ-kheo ấy thanh tịnh?

Họ trách các Tỳ-kheo đồng tình bằng lời như vậy đến ba lần.

(Các Tỳ-kheo kia liền thuật lại sự việc như sau)

Bấy giờ, Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt-kỳ.

Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ giữ nhiệm vụ phân chia cơm và ghế ngồi, giường chiếu cho các Tỳ-kheo. Vị ấy không có ý riêng tư, không sân hận, không ngu si, phân chia theo thứ lớp từ trên đến dưới, hoặc từ đưới lên trên không có trái oai nghi.

Lúc ấy, có Tỳ-kheo nọ được phân trúng nhà nghèo khổ, phải nhận thức ăn dở, liền sanh ý nghĩ này: “Ta thật khổ kịch liệt, thật nguy ách. Tỳ-kheo Ðà-tạ đã gây cho chúng ta nỗi khổ này. Chúng ta phải cho ông ta mắc lỗi Ba-la-di không căn cứ”.

Thưa các thầy, vì lý do đó, vì sân hận, si mê nên chúng tôi đã nói lời như vậy. Thật ra thì phạm hạnh của Tỳ-kheo Ðà-tạ hoàn toàn thanh tịnh.

Lúc ấy, Thế Tôn từ tịnh thất trở lại giảng đường, ngồi trước các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo chấp tay bạch Phật:

– Lúc nãy, khi Như Lai vào trong thất được một lát, chúng con gạn hỏi Tỳ-kheo Mật-đố-lộ-địa rằng: “Các ông thấy làm sao? Thấy lúc nào? Nghe theo ai mà nói là thấy?”, thì Mật-đố-lộ-địa nói là do sân hận ngu si mà nói lời ấy.

Thế Tôn bảo:

– Vì sao vậy, các Tỳ-kheo?! Chẳng phải Ta đã từng nói nghĩa này sao? Lời bạch của Tỳ-kheo Ðà-tạ và lời Tỳ-kheo Mật-đố-lộ tự nói, nếu đúng như vậy thì phạm Ba-la-di.

Nhơn việc này và để đầy đủ mười công đức, Phật liền kiết-giới cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào vì giận hờn, ganh ghét nên đối với Tỳ-kheo thanh tịnh không phạm Ba-la-di lại phỉ báng bằng pháp Ba-la-di không căn cứ để hủy hoại phạm hạnh của vị ấy. Về sau, khi bị gạn hỏi nhiều lần, việc ấy được biết là không căn cứ, Tỳ-kheo đã hủy báng không chịu hối cải thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành La-duyệt.

Lúc ấy, tôn giả Ðà-tạ cư trú trong một cái thất bằng đá. Các Tỳ-kheo thay nhau giáo huấn Tỳ-kheo ni. Lúc đó đến lượt Tỳ-kheo Ðà-tạ phải giáo huấn Tỳ-kheo ni. Các Tỳ-kheo ni đến chỗ Tỳ-kheo Ðà-tạ. Do việc thù oán về đồ ăn uống trước đây, các Tỳ-kheo đồng tình của Tỳ-kheo Mật-đố-lộ-địa thường rình tìm lỗi lầm của Tỳ-kheo Ðà-tạ. Họ ngồi rình ở hốc đá trong tịnh thất. Trông thấy các Tỳ-kheo ni ra vào căn thất bằng đá, các Tỳ-kheo ấy suy nghĩ: “Các Tỳ-kheo ni này chợt ra chợt vào, chắc chắn là Tỳ-kheo Ðà-tạ đã níu kéo và nói chuyện riêng tư với các cô ấy”.

Họ cùng nói với nhau: “Chắc chắn như vậy, không còn nghi ngờ”, và lập tức thông báo với các Tỳ-kheo về việc ấy. Nghe lời này, các Tỳ-kheo khờ khạo liền tin ngay. Các Tỳ-kheo đầu-đà nghe việc ấy xong đều không vui, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Do việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng hòa hợp đủ mười công đức để kiết giới cho các Tỳ-kheo:

Tỳ-kheo nào vì giận hờn, ganh ghét đối với Tỳ-kheo thanh tịnh, lại vu khống đã phạm hạnh bất tịnh, rình tìm từng lỗi nhỏ, không phạm Ba-la-di lại nói là phạm Ba-la-di. Về sau, khi bị gạn hỏi nhiều lần mà hối hận trở lại thì tốt, nếu không hối hận mà cố rình tìm những lỗi nhỏ khác để diễn thành lỗi lớn thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành La-duyệt.

Vào sáng sớm, lúc ấy tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đắp y mang bát đi từ núi Kỳ-xà-quật vào thành La-duyệt. Trên đường chợt gặp mưa lớn, họ liền vào hang đá tránh mưa. Có một cô gái chăn bò đã vào trong ấy tránh mưa từ trước, nằm mộng xuất tinh. Thấy vậy, Xá-lợi-phất liền đi trở ra.

Lúc ấy, thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi ra, Tỳ-kheo Cù-bà-ly – đệ tử của Ðiều-đạt – liền vào hang đá và thấy người nữ ấy, liền suy nghĩ: “Chắc chắn Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã làm việc bất tịnh hạnh với người nữ này”.

Cù-bà-ly liền vào thành nói với các Tỳ-kheo:

– Các thầy thường nói Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thanh tịnh, nay họ đã làm dơ hạnh thanh tịnh ấy. Vừa rồi, tôi đã thấy rõ việc này.

Các Tỳ-kheo không biết trả lời thế nào liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Kẻ ngu si này mắc tội rất nặng, đã vu khống Tỳ-kheo thanh tịnh bằng pháp Ba-la-di không căn cứ. Kẻ ngu si này sẽ phải đọa địa ngục, chịu khổ trong thời gian lâu dài.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Cù-ba-ly đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía. Thế Tôn bảo Cù-bà-ly:

– Này Tỳ-kheo Cù-bà-ly! Ông phải lập tức sám hối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? – Các thầy ấy đầy đủ phạm hạnh.

Cù-bà-ly bạch Phật:

– Con biết Như Lai tin người ấy thanh tịnh, nhưng chính mắt con thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm ác.

Thế Tôn lại bảo Cù-bà-ly:

– Này Cù-bà-ly! Ông phải lập tức sám hối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? – Các thầy ấy đầy đủ phạm hạnh.

Cù-bà-ly bạch Phật:

– Con biết Như Lai tin Xá-lợi-phất…. nhưng chính mắt con thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm ác.

Phật lại nói với Cù-bà-ly lần thứ ba:

– Ông phải sám hối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? – Các thầy ấy hoàn toàn đầy đủ phạm hạnh.

Cù-bà-ly lại bạch Phật:

– Con biết Như Lai tin các thầy ấy trong sạch, nhưng chính mắt con đã thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm ác.

Phật nói ba lần, Tỳ-kheo Cù-bà-ly vẫn không nghe và lập tức đứng dậy bỏ đi.

Sau khi đi không được bao lâu, khắp thân thể ông ta liền sanh mụt ghẻ giống như hạt cải. Mụt ấy lớn dần lên như hạt đậu ve, rồi như hạt đậu nành, rồi lớn như hạt đậu thư (giống hạt táo), rồi lớn như quả A-ma-lặc, rồi như quả Lặc-lộ, rồi thối rửa, vỡ tung, máu mủ tuôn trào khắp thân thể.

Ngay đêm ấy, Tỳ-kheo Cù-bà-ly qua đời, đọa xuống địa ngục Bà-đàm-mộ. Ngay đêm ấy, có một vị thiên đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất rồi đứng qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:

– Tỳ-kheo Cù-bà-ly phát sanh ý ác, vu khống Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên phạm phạm-hạnh nên bị đọa vào địa ngục Bà-đàm-mộ.

Sau khi bạch xong, vị thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi trở về cõi trời.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Ðêm qua có một vị thiên đến chỗ Ta, đảnh lễ sát chân Ta rồi đứng qua một phía, bạch với Ta rằng: “Tỳ-kheo Cù-bà-ly phát sanh ý ác, phỉ báng Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên phạm phạm-hạnh nên chết đọa vào địa ngục Bà-đàm-mộ. Tỳ-kheo ấy chỉ nhân việc nhỏ mà phỉ báng các Tỳ-kheo có phạm hạnh thanh tịnh. Tỳ-kheo nào phỉ báng như vậy, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Lúc ấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Các vị có muốn nghe thọ mạng của chúng sanh ở địa ngục lớn Bà-đàm-mộ dài ngắn thế nào không?

Các Tỳ-kheo đáp:

– Xin Thế Tôn hãy nói về địa ngục lớn Bà-đàm-mộ ngay lúc này. Nghe xong các Tỳ-kheo sẽ ghi nhớ phụng hành.

Thế Tôn nói:

– Này các Tỳ-kheo! Ví như có cái đấu rất lớn có sức chứa mười hai hộc, được đựng đầy hạt mè đến nỗi vun thành ngọn. Có người cứ một trăm năm đến lấy một hạt mè, này các Tỳ-kheo, thời gian mà người ấy lấy hết số hạt mè trong đấu ấy còn có thể tính biết được, tuổi thọ của người ở trong địa ngục A-phù thì không thể tính được. Như hai mươi lần tuổi thọ ở địa ngục Vô-thật không bằng một tuổi thọ của địa ngục Không-vô-thật. Hai mươi địa ngục Không-vô-thật không bằng một địa ngục Kêu gào. Hai mươi địa ngục Kêu gào không bằng một địa ngục Xử-bà. Hai mươi địa ngục Xử-bà không bằng một địa ngục Tu-càn-đề. Hai mươi địa ngục Tu-càn-đề không bằng một địa ngục Ma-đầu. Hai mươi địa ngục Ma-đầu không bằng một địa ngục Ưu-ba-la. Hai mươi địa ngục Ưu-ba-la không bằng một địa ngục Câu-vật-đầu. Hai mươi địa ngục Câu-vật-đầu không bằng một địa ngục Phân-đà-ly. Hai mươi địa ngục Phân-đà-ly không bằng một địa ngục Bà-đàm-mộ.

Tỳ-kheo Cù-bà-ly – đệ tử của Ðiều-đạt – sanh vào địa ngục này vì tội phỉ báng Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.

TỲ NẠI DA

Hết quyển bốn

—o0o—

Quyển thứ năm

Phần thứ ba của pháp TĂNG-TÀN

Nói về giới PHÁ TĂNG

Phật ở tại vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt.

Ðiều-đạt nhận sự cúng dường y áo, thức ăn, giường nằm, thuốc chữa bệnh, được thái-tử A-xà-thế quý trọng, tùy thời cung cấp, mỗi ngày cung cấp năm trăm nồi cơm, chuẩn bị năm trăm cỗ xe nối nhau chở đồ đạc đến chỗ Ðiều-đạt suốt ngày.

Lúc đầu có một trăm người đi theo Ðiều-đạt, dần dần lên đến hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm người làm mê hoặc nhà vua. Vì muốn phá hoại, gây rối loạn chúng Tăng, dụ dỗ các Tỳ-kheo, khi ngồi ăn, Ðiều-đạt cho họ y bát, ống khóa, ống đựng kim, giày da, chén sắt loại lớn, nhỏ và mười vật khác.

Ðiều-đạt bảo các Tỳ-kheo:

– Kia là Thích chủng Cù-Ðàm. Ta cũng là Thích chủng Cù-Ðàm. Dòng tộc của mẹ vị kia hoàn hảo, dòng tộc của mẹ ta cũng hoàn hảo. Kia sanh trong nhà họ Thích, ta cũng sanh trong nhà họ Thích. Dòng họ của người kia với ta không khác.

Lúc ấy, trong nước đói kém, khất thực khó được, nhiều Tỳ-kheo đắp y mang bát vào thành La-duyệt-kỳ khất thực. Khi khất thực, họ nghe tin Ðiều-đạt muốn phá hoại gây rối chúng Tăng, dụ dỗ các Tỳ-kheo bằng cách cho họ y, bát, khóa cửa, ống đựng kim, giày da, chén loại lớn, chén loại nhỏ và mười vật khác. Vì tham y áo và các thứ ấy, các đệ tử của Ðiều-đạt liền đi theo trợ giúp ông ta.

Sau khi khất thực xong, các Tỳ-kheo ra khỏi thành La-duyệt, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, bạch với Thế Tôn rằng:

– Vừa rồi, khi vào thành khất thực, chúng con nghe nói Ðiều-đạt muốn phá hoại, gây rối loạn chúng Tăng. Các Tỳ-kheo tham y bát, ổ khóa, ống đựng kim, giày da, chén loại lớn, chén loại nhỏ và mười vật khác nên đi theo ông ta.

Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo các ông chớ có nhận sự cúng dường của Ðiều-đạt. Vì sao vậy? – Các Tỳ-kheo thà tự uống thuốc độc mà chết, chứ không nên nhận sự cúng dường của Ðiều-đạt. Ðiều-đạt đã tự uống thuốc độc, lại đưa người khác uống.

Này các Tỳ-kheo! Giống như có người dùng gậy đập gãy mũi con chó dữ, con chó dữ đó có bớt dữ không vậy?

– Vẫn còn hung dữ, thưa Thế Tôn!

– Cũng vậy, này các Tỳ-kheo! Kẻ dữ ấy sẽ chịu khổ vô cùng trong thời gian rất dài. Ta cũng biết Ðiều-đạt sẽ chính thức phá hoại chúng Tăng và phá hoại sự hòa hợp Tăng vào buổi sáng.

Thường pháp của chư Phật là sự hòa hợp Tăng bị phá hỏng vào buổi sáng thì đến chiều sẽ hòa hợp trở lại.

Trong thời gian ấy, không được hành đạo, không được truyền giới Tỳ-kheo, không được thuyết giới Tỳ-kheo, không được thuyết giới Thức-xoa-ma-ni, không được truyền giới Sa-di, không được truyền giới Sa-di ni, không được thực hành tám giới, không được truyền giới Ưu-bà-tắc, không được truyền giới Ưu-bà-di, không ai đắc đạo quả, không ai phát tâm quy y Tam bảo. Lúc ấy trời đất tối tăm, trời người mù mịt. Ðến chiều tối, trong pháp Như Lai, Tăng sẽ được hòa hợp trở lại, nếu không hòa hợp, trời đất sẽ nghiêng ngửa.

Nghe tin Ðiều-đạt phá hoại sự hòa hợp Tăng, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên liền đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:

– Ðiều-đạt đã phá hòa hợp Tăng, chúng con muốn đến chỗ Ðiều-đạt để làm Tăng hòa hợp trở lại.

Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên:

– Hãy đi mau đi, đã đúng thời rồi đó.

Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên liền đứng dậy, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi đến chỗ Ðiều-đạt.

Trông thấy Ðiều-đạt đang ngồi trên tòa cao thuyết pháp giống như Như Lai, có các Tỳ-kheo vây xung quanh, bên phải có Khiên-đà, Ðà-bà; bên trái có Ca-lưu, La-đề-thi (bốn người này là đệ tử thân cận của Ðiều-đạt). Hải Nghĩa cầm phất trần đứng phía sau Ðiều-đạt.

Trông thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đến, Ðiều-đạt hết sức vui mừng, không thể tự kềm chế suy nghĩ: “Ðệ tử đứng đầu của Sa-môn Cù-đàm đang đến chỗ ta”.

Như Thế Tôn thấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thì nói rằng: “Thiện lai Tỳ-kheo!”, Ðiều-đạt cũng nói:

– Thiện lai Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên!

Ông ta bảo Khiên-đà đứng dậy và mời Xá-lợi-phất ngồi thế vào ở bên phải, bảo Ca-lưu-đà đứng dậy và mời Mục-kiền-liên ngồi thế vào ở bên trái.

Như Thế Tôn bảo: “Tôn giả Xá-lợi-phất hãy nói pháp cho các Tỳ-kheo, Ta bị đau lưng, muốn nghỉ ngơi chốc lát.”, Ðiều-đạt cũng bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên:

– Hãy nói pháp cho các Tỳ-kheo. Ta đang đau lưng, muốn nghỉ chốc lát.

Như Thế Tôn xếp y thượng thành bốn lớp trải trên giường, nằm nghiêng về hông phải, gối đầu lên Tăng-già-lê, chân duỗi thẳng giống như sư tử, chú tâm niệm ánh sáng cho đến sáng, Ðiều-đạt cũng bắt chước như vậy.

Lúc Ðiều-đạt ngủ, vị thiên Thủ-đà-hội đến đè lên thân ông ta, làm cho ông ấy rất muốn dậy, nhưng cố hết sức vẫn không dậy được, hơi thở hào hển, nói mớ sảng, quơ tay múa chân, quơ quào bốn phía, làm đủ các động tác vẫn không thể dậy được.

Lúc ấy, tôn giả Xá-lợi-phất ca ngợi Phật pháp và chúng Tăng. Mục-kiền-liên thì biến hóa đủ cách như: biến mất ở phía Ðông, xuất hiện ở phía Tây; biến mất ở phía Nam, xuất hiện ở phía Bắc; ngồi, nằm trên hư không, hoặc ngồi thiền định, ở trong thiền định phóng ra các loại ánh sáng hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc đen, hoặc màu lưu ly; phía dưới thân phát lửa, bên trên thân phun nước; bên trên thân phát lửa, dưới thân phun nước, biến hóa đủ cách ở các phương Tây, Nam, trên, dưới, không có bị ngăn ngại, phóng ánh sáng chiếu khắp mọi nơi.

Thấy Mục-kiền-liên hiện các biến hóa, năm trăm Tỳ-kheo đều cùng nhau nói:

– Phải chăng chúng ta bị rơi vào tà kiến nên đã bỏ Như Lai mà nương tựa Ðiều-đạt?!”.

Họ lại suy nghĩ: “Việc ấy hiển nhiên rồi, không còn gì nghi ngờ nữa.”.

Sau khi nghe tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên thuyết pháp xong, họ liền được tâm khai ý giải, phát sanh lòng từ, hướng về Như Lai sám hối việc làm trước đây.

Lúc ấy, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và năm trăm Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn. Ở chỗ Ðiều-đạt không còn một ai, chỉ còn có Ðiều-đạt và bốn đệ tử Tỳ-kheo. Khiên-trà-đà-bà dùng chân trái đạp Ðiều-đạt để đánh thức ông ta dậy và nói rằng:

– Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên dẫn năm trăm người đi hết rồi.

Ðiều-đạt tỉnh dậy, thấy trên tòa trống rỗng, không còn một người, liền ngã lăn từ trên tòa xuống đất. Ðệ tử ông ta lấy nước vẩy lên mặt ông ta rồi cho ngồi lên ghế trở lại.

Lúc ấy, Thế Tôn rời tịnh thất, ra giảng đường bên ngoài, trải tọa cụ trên sàn và ngồi kiết-già. Trông thấy Như Lai đang ngồi kiết-già trên giảng đường, năm trăm Tỳ-kheo trong lòng hổ thẹn, bên ngoài thì ngượng ngùng, liền tiến đến chỗ Như Lai. Như Lai cũng thấy năm trăm Tỳ-kheo đến nên quay lại nói với A-Nan:

– Nếu ta không nói thì miệng họ sẽ trào máu nóng.

Lúc ấy do tâm đại bi muốn độ những người ấy, Như Lai liền nói:

– Thiện lai Tỳ-kheo! Khó gặp Như Lai, nhiều đời mới có. Tuy Như Lai xuất thế; nghe pháp cũng khó, muốn cầu diệt độ thì càng khó hơn. Muốn vào Niết-bàn phải thực hành pháp này:

Do si, hành sanh.

Do hành, thức sanh.

Do thức, danh sắc sanh.

Do danh sắc, lục nhập sanh.

Do lục nhập, xúc sanh.

Do xúc, thọ sanh.

Do thọ, ái sanh.

Do ái, thủ sanh.

Do thủ, hữu sanh.

Do hữu, sanh sanh.

Do sanh, lão – bệnh – tử phát sanh.

Do lão – bệnh tử, sầu bi – khổ não sanh.

Như vậy liền thành nỗi khổ năm ấm.

Si diệt thì hành diệt.

Hành diệt thì thức diệt.

Thức diệt thì danh sắc diệt.

Danh sắc diệt thì lục nhật diệt.

Lục nhập diệt thì xúc diệt.

Xúc diệt thì thọ diệt.

Thọ diệt thì ái diệt.

Ái diệt thì thủ diệt.

Thủ diệt thì hữu diệt.

Hữu diệt thì sanh diệt.

Sanh diệt thì già – bệnh – chết diệt.

Già, bệnh, chết diệt thì sầu bi, khổ não và nỗi khổ năm ấm cũng không còn.

Khi Phật nói pháp mười hai nhân duyên xong, năm trăm Tỳ-kheo đều đắc đạo A-la-hán, tám triệu thiên nữ được pháp nhãn thanh tịnh.

Lúc ấy, vì muốn đầy đủ mười công đức, Thế Tôn liền kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào gây rối, phá hoại sự hòa hợp Tăng thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Ðiều-đạt vi phạm việc đó, nhập vào địa ngục, không ai cứu được.

Phật ở tại hang đá lớn – nơi Dược-xoa Kim-tỳ-la cư trú – tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.

Lúc ấy, Ðiều-đạt muốn hại Thế Tôn, dùng bốn ngàn lượng vàng thuê bốn lực sĩ và cùng bốn người đó lên núi Kỳ-xà-quật, ôm tảng đá lớn, đứng bên trên hang đá, đợi Như Lai đi ra.

Khi Phật ra khỏi hang đá để kinh hành, Ðiều-đạt cùng bốn người kia liền thả đá từ trên núi xuống để đè Như Lai. Lúc ấy, Dược-xoa Kim-tỳ-la đang đứng phía sau Như Lai. Trông thấy tảng đá đang rơi xuống, Dược-xoa liền đưa hai tay đỡ nó và quăng qua núi phía Nam. Tảng đá đó vỡ tan. Có một mảnh nhỏ – kích thước khoảng bảy mươi bộ – văng về phía Thế Tôn.

Vì muốn cho chúng sanh thấy nghiệp báo đời trước nên Như Lai liền ngồi thiền bay lên hư không. Hòn đá liền đuổi theo sau, mọi người đều thấy rõ.

Như Lai bay qua các phương Tây, Nam, Bắc, hòn đá đều đuổi theo sau.

Như Lai đi vào lòng đại dương, hòn đá cũng đuổi theo sau.

Như Lai bay lên đỉnh núi Tu-di, hòn đá cũng theo sau.

Như Lai vào cung trời trên núi Tứ-vương-ny-da, hòn đá cũng đuổi theo.

Như Lai lên các cõi trời Tam-thập-tam, Diệm-ma, Ðâu-suất, Niết-ma-la, Na-đề-ba-la, Ni-mật-bà-xá, Bạt-đề-phạm, Già-di-phạm, Phước-lâu-hê-đà, Ba-lật-đa, Bà-a-bà, Tối-la-a-nam, Tề-phất-như, Bát-tu-đa, Tỳ-pha-la, Túc-ha-túc-ha, A-thi-na-túc-ha, Ngật-túc-ra, A-ca-ny-tra… hòn đá cũng đều đuổi theo sau.

Thế Tôn dùng lực thần túc trở vào trong hang đá, tảng đá đè lên bàn chân phải của Thế Tôn làm chân bị thương, chảy máu. Ðiều-đạt và bốn lực sĩ bị mắc tội, không ai cứu được.

Lúc ấy, Thế Tôn bị đau đớn nơi chân, liền nói kệ:

Dù trốn ở hư không

Giữa biển sâu, núi đá

Không ở đâu thoát được

Tội báo ở đời trước.

Lúc ấy, nhiều Tỳ-kheo thoạt ngồi, thoạt đi ở hai bên hang đá vì sợ Ðiều-đạt hại Như Lai. Thấy vậy, Như Lai biết mà vẫn hỏi A-Nan:

– Các Tỳ-kheo ấy đang làm gì ngoài hang đá mà thoạt đi, thoạt ngồi vậy?

A-Nan bạch Phật:

– Trông chừng Như Lai, vì sợ Ðiều-đạt làm hại Như Lai nên họ thoạt đi, thoạt ngồi.

Thế Tôn bảo A-Nan:

– Ðiều-đạt rốt cuộc không thể hại được Như Lai Thế Tôn. Ông có từng nghe Như Lai bị người khác làm hại không?

– Không, thưa Thế Tôn.

Lúc ấy, Thế Tôn ngước mặt nhìn lên. Thấy Như Lai nhìn, bốn lực sĩ sợ hãi dựng tóc gáy, định chạy nhưng không nhấc chân lên được.

Các Sa-môn liền bắt từng người đem đến chỗ Phật.

Như Lai bảo bốn lực sĩ:

– Xin chào các cậu. Ta sẽ nói pháp cho các cậu nghe.

Bốn lực sĩ đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một phía.

Lúc ấy, Thế Tôn nói pháp ngữ để làm họ hoan hỷ. Sau khi nói pháp, Như Lai dạy:

– Các cậu hãy trở về nhà, chớ đi theo hướng lúc nãy đã đi.

Thấy bốn người đó đi lâu quá không trở lại, Ðiều-đạt dùng tám ngàn lượng vàng, thuê tám lực sĩ đi giết bốn người ấy. Trông thấy tám lực sĩ đến, Thế Tôn bảo:

– Lành thay, xin chào các cậu. Ta sẽ nói pháp cho các cậu.

Tám lực sĩ liền đảnh lễ sát đất và ngồi qua một phía. Thế Tôn liền nói pháp làm cho họ đều hoan hỷ và bảo:

– Các cậu hãy trở về nhà, chớ có đi theo con đường lúc nãy đã đi.

Thấy tám người này đi quá lâu không trở lại, Ðiều-đạt lại dùng mười sáu ngàn lượng vàng, thuê mười sáu lực sĩ đi giết tám người kia.

Trông thấy mười sáu người đến, Thế Tôn bảo:

– Xin chào các cậu, Ta sẽ nói pháp cho các cậu nghe.

Mười sáu người ấy đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Thế Tôn nói pháp làm cho họ đều hoan hỷ rồi bảo:

– Các cậu hãy trở về nhà, chớ có đi theo hướng lúc nãy đã đến.

Thấy mười sáu người ấy không trở về đúng hẹn, Ðiều-đạt lại thuê ba mươi hai lực sĩ đi giết mười sáu người kia.

Trông thấy ba mươi hai người đến, Thế Tôn bảo:

– Xin chào các cậu. ta sẽ nói pháp cho nghe.

Ba mươi hai người ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi qua một bên.

Thế Tôn thuyết pháp làm họ đều hoan hỷ và bảo:

– Các cậu hãy trở về nhà mình theo lối đi thích hợp.

Vâng lời Thế Tôn, ba mươi hai người ấy đứng dậy, đảnh lễ sát đất rồi đi.

Thấy ba mươi hai người ấy đi được một lát, Thế Tôn quay lại hỏi A-Nan:

– Ông hãy vào thành La-duyệt, đến các ngã tư đường và các chợ lớn thông báo rằng: “Tất cả lời nói, ý nghĩ, hành động của Ðiều-đạt đều không phải là do Phật, Pháp, Tăng dạy” cho đệ tử thân tín của ông ta biết.

A-Nan bạch Phật:

– Trước đây, khen ngợi Ðiều-đạt, nay lại nói xấu ông ta. Nếu có ai chê trách thì phải nói làm sao?

Thế Tôn bảo A-Nan:

– Hãy nói như vầy: “Tuy trước đây làm tốt nhưng nay lại làm ác, có gì là quái lạ?!”.

A-Nan liền dẫn theo một Tỳ-kheo đến thành La-duyệt, đứng ở các chợ lớn, các ngã tư đường thông báo rằng: “Tất cả lời nói, ý nghĩ, hành động của Ðiều-đạt đều không phải là do Phật, Pháp, Tăng dạy” cho đệ tử thân tín của ông ta biết.

Nghe tiếng xấu của Ðiều-đạt, thái tử A-xà-thế và cận thần của ông ta, những người đang theo Ðiều-đạt trở về, nói với nhau:

– Sa-môn Cù-đàm vì ganh ghét nên phỉ báng Ðiều-đạt hiền lương. Ðiều-đạt nào có lỗi gì nơi thân, miệng đâu.

Khi Ðiều-đạt nghe tin Sa-môn Cù-đàm sai người thân tín vào thành La-duyệt, đứng ở các chợ lớn, các ngã tư đường thông báo rằng: “Tất cả lời nói, ý nghĩ, hành động của Ðiều-đạt đều không phải là do Phật, Pháp, Tăng dạy” cho đệ tử thân tín của ông ta biết. Nghe tin ấy xong, Ðiều-đạt càng thêm tức giận, liền đến chỗ thái tử A-xà-thế bảo rằng:

– Anh hãy giết cha, còn tôi giết Sa-môn Cù-đàm. Anh làm vua xứ Ma-kiệt, còn tôi làm Phật. Ở nưóc Ma-kiệt này sẽ có vua mới và Phật mới, chẳng phải vui sao?!

Nghe lời ấy, thái-tử rất vui mừng.

Lúc đó, vua Tần-bà-sa-la cỡi xe lông báu đến vườn ngự uyển để tham quan. Thái-tử A-xà-thế đeo kiếm bén ở thắt lưng, ẩn mình gần cổng để đợi vua cha.

Sau một ngày vui đùa, vua lên xe tứ mã để về cung. Khi vua vừa vào cổng, thái-tử rút kiếm bén phóng tới, làm con ngựa sợ hãi nhưng không trúng vua. Thái tử liền bỏ chạy, các cận thần đuổi theo bắt được. Cận thần đó hỏi:

– Thái tử định làm gì?

Thái tử đáp:

– Ta muốn giết vua.

Cận thần lại hỏi:

– Có ai là phe đảng không?

– Ðó là thầy Ðiều-đạt và bốn đệ tử.

Bốn người ấy bàn luận:

– Nếu thật vậy thì phải bắt giết hết Sa-môn Thích tử.

Có người lại bàn:

– Hãy để yên cho Sa-môn Thích tử. chỉ bắt Ðiều-đạt và đồng bọn đem giết thôi.

Lại có người bàn:

– Chớ có giết Sa-môn Thích tử. Cũng chớ có giết Ðiều-đạt và đồng bọn. Vì sao vậy? – Vua Tần-bà-sa-la rất hiền lành, thường tha thứ cho những người mắc tội tử hình đang bị nhốt trong ngục, huống là Sa-môn Thích tử và Ðiều-đạt cùng đồng bọn. Chúng ta chỉ nên đến tâu với vua, vua sẽ tự phán xử. Việc gì chúng ta tự gây thù oán.

Họ liền đến tâu với vua.

Sáng hôm sau vua ra khỏi cung điện, lên trên tòa, sai người thân tín đi gọi thái tử A-xà-thế. Thái tử đến, vua liền hỏi:

– Con định làm gì vậy?

– Tôi muốn giết vua.

– Vì sao con muốn giết ta?

Thái tử nói:

– Vua có trống đưa đón, tôi không có trống đưa đón. Vua có lọng che, tôi không có lọng che. Vua có nghi vệ, tôi không có nghi vệ.

Vua bảo thái tử:

– Con hãy thay ta sử dụng trống, lọng, nghi vệ, những thứ ấy đều thuộc về con hết.

Lúc ấy, trống đưa đón, lọng, nghi vệ đều theo sau thái tử.

Những cận thần xiểm nịnh của thái tử nói rằng:

– Nếu thật vậy thì thái tử đã lên ngôi. Ðã lên ngôi thì hãy bắt vua đem giết đi để được tự do.

Thái tử liền chấp thuận lời ấy, sai Chiên-đà-la đến bắt vua cha nhốt trong ngục. Chiên-đà-la liền bắt vua nhốt vào ngục.

Vì vua vốn nhân từ với dân nên hàng vạn người dân thường đem thức ăn đến nuôi vua.

A-xà-thế hỏi cận thần:

– Vua cha còn sống không?

Ðáp:

– Còn sống.

– Vì sao vậy?

Ðáp:

– Nhân dân mang thức ăn đến đãi nên vua còn sống.

Thái tử bảo:

– Không cho người dân đến.

Các phu nhân lại đem thức ăn đến cho vua.

A-xà-thế hỏi:

– Vua cha vẫn còn sống chứ?

Ðáp:

– Còn sống.

Thái tử lại ra lệnh:

– Ðừng cho các phu nhân vào thăm vua.

Lúc ấy hoàng hậu lấy thức ăn bôi lên thân rồi mặc áo che bên ngoài, không cho phát hiện, rồi vào thăm vua để vua dùng thức ăn trên thân ấy.

Thái tử lại hỏi:

– Vua cha còn sống không?

Ðáp:

– Còn sống.

Thái tử ra lệnh:

– Nhốt luôn hoàng hậu vào ngục.

Vua cha hướng về núi Kỳ-xà-quật, trông thấy Thế Tôn và các Tỳ-kheo như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-na-lân-đà, Nan-đề, Kim-tỳ-la lên núi, xuống núi…

Vốn đã đắc sơ quả nên khi thấy chúng Tăng, vua liền hoan hỷ, không còn ý tưởng đói khát.

A-xà-thế lại hỏi cận thần:

– Vua cha còn sống không?

Ðáp:

– Vua cha còn sống.

Thái tử hỏi:

– Vì sao còn sống?

Cận thần ganh ghét đáp:

– Hằng ngày vua hướng về Như Lai mà lễ bái nên vẫn còn sống.

Thái tử bảo:

– Ông hãy đốc thúc đắp vách tường cao che trước ngục, đừng cho thấy núi Kỳ-xà-quật.

Họ liền đắp tường ngăn không cho thấy Phật.

Thường pháp của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại là: khi muốn vào thành thì có các điềm lành ứng hiện như voi ngước mặt cất vòi lên rống, ngựa đều hý, bò rống; chim le, nhạn, uyên ương, công, anh võ (bồ-câu trắng), ngỗng trắng, thiên thu, chim… đều hót vang. Ðàn không hầu, đàn tranh, trống, đàn tỳ-bà, đàn, ống sáo,… không đánh tự phát âm nhạc. Vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não trong kho các trưởng giả không ai đụng chạm mà tự phát ra tiếng. Người mù được sáng mắt, người điếc được nghe. Các nỗi đau khổ, bệnh tật như: mù lòa, què, khoèo chân, bướu cổ đều chấm dứt. Những kho tàng ẩn kín tự hiện ra.

Thế Tôn vào thành thì có những điềm lành như vậy xuất hiện.

Biết Phật vào thành, vua Tần-bà-sa-la hết sức vui mừng, dòm qua khe hở ở trong ngục để chiêm ngưỡng Phật và chúng Tăng. Vốn đã đắc sơ quả nên khi thấy Thế Tôn vua liền hết ý tưởng đói khát.

A-xà-thế hỏi các cận thần:

– Vua cha còn sống không?

Ðáp:

– Còn sống.

Hỏi:

– Vì sao còn sống?

Các bề tôi ganh ghét tâu:

– Vua cha dòm qua khe hở ở trong ngục để chiêm ngưỡng Thế Tôn khi Thế Tôn vào thành nên vẫn còn sống.

Thái tử nói:

– Khanh hãy đến đó lấy kiếm bén cắt lòng bàn chân để ông ấy không còn đi được, rồi cùm chân lại.

Cận thần liền đến cắt lòng bàn chân vua và cùm lại làm vua ngày càng gầy ốm.

Khi ấy, A-xà-thế vào cung ăn cơm với phu nhân. A-xà-thế có một đứa con nhỏ đang chơi đá gà ở bên ngoài. A-xà-thế hỏi phu nhân:

– Con đang ở đâu?

Ðáp:

– Ðang chơi đá gà ở bên ngoài.

Vua bảo phu nhân:

– Hãy gọi vào đây cùng ăn.

Cậu con liền ôm gà vào mà không chịu ăn.

Vua hỏi:

– Vì sao không ăn?

Ðáp:

– Nếu con gà này không ăn thì con quyết không ăn.

A-xà-thế bảo phu nhân rằng:

– Làm sao mà chịu được đứa bé này, dám bắt đại vương như ta ăn cơm chung với gà.

Phu nhân đáp:

– Có gì mà vua hiềm trách vậy? Có người vì con mà ăn cả máu mủ thì sao. Vua có nghe thái hậu kể lại sự khổ nhọc của phụ vương khi xưa hay chưa?

Vua hỏi phu nhân:

– Có gì là khổ?

Phu nhân đáp:

– Lúc vua còn nhỏ, ngón cái ở tay trái bị nhọt, đau đớn suốt đêm không thể ngủ được. Lúc ấy vua cha ẳm vua đặt lên đùi, ngậm ngón tay đau của vua trong miệng, ngón tay bớt đau và vua chợp mắt. Lúc đó, các mụt nhọt ở ngón tay vỡ ra, tuôn mủ trong miệng vua cha. Vua cha suy nghĩ: “Nếu ta rút ngón tay để nhổ mủ thì sợ rằng con ta sẽ bị đau”. Thế là vua cha liền nuốt mủ mà không rút ngón tay ra. Cha của vua có sự khổ nhọc như vậy, nhưng không hề nói cho ai biết. Xin vua hãy suy xét, chớ có giết vua cha.

Nghe lời ấy xong, vua im lặng không nói. Lúc ấy phu nhân cho là vua đã tha vua cha, liền ra ngoài nói rằng:

– Vua cha được tha rồi!

Lời ấy được lan truyền từ trong thành cho đến nhà giam, làm hàng vạn người đều hoan hỷ kêu lên:

– Lành thay! Lành thay!

Và đều chạy đến nhà giam, vừa chạy vừa nói:

– Vua đã được tha! Vua đã được tha!

Vua cha nghe lời ấy liền suy nghĩ: “Con ta hung ác, bất hiếu, chẳng biết còn định gây thêm cho ta nỗi khổ gì nữa đây?

Nghĩ xong, vua cha liền lao mình từ trên giường xuống đất chết lập tức.

Lúc ấy, vua A-xà-thế giết cha, mắc tội không ai cứu được.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Trước đây Ta đã sai A-Nan nói rõ hành vi thân khẩu ý của Ðiều-đạt ở chợ chính là vì sự cố ngày nay. Người giết cha không thể đắc đạo, không được mặc pháp phục làm Tỳ-kheo, không được làm Tỳ-kheo ni, không được làm Ưu-bà-tắc, không được làm Ưu-bà-di, không được thọ bát quan trai. Vì sao vậy? – Người ấy không thể đắc Dự-lưu, không thể chứng quả.

Không chỉ giết cha, giết mẹ cũng vậy.

Tỳ-kheo nào biết mà cho họ vào đạo thì cũng giống như phá hoại Tăng vậy.

Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo ở núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.

Lúc ấy, Ðiều-đạt muốn phá hoại, gây rối chúng Tăng, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến thuyết phục Ðiều-đạt:

– Chớ có phá hoại chúng Tăng. Vì sao vậy? – Vì Tăng phải hòa hợp như nước với sữa và học cùng một thầy.

Ðệ tử của Ðiều-đạt là Khiên-đà, Ðà-bà, Ca-lưu, La-đề-thi, Tam-môn-đà, La-hê-đầu bảo với Xá-lợi-phất:

– Các thầy chớ có nói với Ðiều-đạt bằng lời như vậy. Vì sao vậy? – Ðiều-đạt hướng về sự chơn chánh, đúng như pháp. Lời Ðiều-đạt nói, chúng tôi đều phụng hành.

Xá-lợi-phất nói với Khiên-đà, Ðà-bà…. rằng:

– Chớ có nói rằng: “Ðiều-đạt đúng pháp, đúng luật”. Các thầy chớ có theo lời của Ðiều-đạt mà gây rối loạn chúng Tăng. Chớ có trợ giúp việc gây rối loạn ấy. Vì sao vậy? – Tăng phải hòa hợp như nước với sữa và cùng học một thầy. Vì vậy chớ có phá hoại, gây rối loạn Tăng, chớ có trợ giúp người làm việc ấy.

Tuy được khuyên can như vậy, nhưng các Tỳ-kheo ấy không nghe và vẫn làm theo sự chỉ dạy của Ðiều-đạt. Xá-lợi-phất không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Nhân việc đó, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đầy đủ mười công đức nên kiết giới cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào trợ giúp cho người phá hoại, gây rối loạn chúng Tăng thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.

Lúc ấy Thế Tôn đắp y mang bát đi từ núi Kỳ-xà-quật vào thành Vương-xá khất thực. Khất thực xong, Ngài trở về núi Kỳ-xà-quật, ngồi kiết-già trong hang đá suốt bảy ngày, nhập vào các chánh định.

Qua bảy ngày, Ngài đắp y mang bát từ núi Kỳ-xà-quật vào thành Vương-xá khất thực. Ðiều-đạt nghe tin Sa-môn Cù-đàm đang ở núi Kỳ-xà-quật, thành Vương-xá. Vào giờ ăn, Sa-môn Cù-đàm cùng năm trăm đệ tử đắp y mang bát từ núi Kỳ-xà-quật vào thành Vương-xá khất thực. Khất thực xong lại trở về hang đá ngồi kiết-già, bảy ngày mới đứng dậy. Vua A-xà-thế có một con voi tên Vọng-già-bà mạnh bạo, hung dữ, vua các nước xung quanh không có con voi nào dữ như con Vọng-già-bà của vua A-xà-thế.

Lúc ấy, Ðiều-đạt mang năm trăm lượng vàng đến gặp người dạy con voi Vọng-già-bà, bảo với ông ta rằng:

– Ông có biết rằng ta rất có uy tín đối với vua A-xà-thế không?

Ðáp:

– Biết.

– Ngươi có tin rằng ta có thể làm ngươi giàu có hay không?

– Có thể.

Ðiềøu-đạt liền đưa năm trăm lượng vàng và nói:

– Số tiền này ta dùng để thuê ông giúp ta làm việc này. Ta cũng sẽ nói vua cho ông ruộng vườn, chức tước.

– Việc gì vậy?

Ðiều-đạt nói:

– Sa-môn Cù-đàm cùng năm trăm đệ tử đang ở núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá. Ðến giờ ăn, họ đắp y mang bát vào thành Vương xá khất thực. Khất thực xong, họ trở về núi Kỳ-xà-quật ngồi kiết-già bảy ngày mới đứng dậy. Khi họ vào thành La-duyệt-kỳ, ông hãy cho con voi Vọng-già-bà này uống rượu mạnh, cởi cái cùm bằng thép, thả cho nó đến giết Sa-môn Cù-đàm.

Người dạy voi nói:

– Ðó là việc nhỏ, không cần phải bận tâm. Khi việc ấy hoàn tất, xin đừng thất hứa.

Hàng ngày, người quản tượng co ngón tay đếm cho đến bảy ngày.

Khi ngày thứ bảy đã đến, ông ta đem rượu trắng mạnh cho con voi Vọng-già-bà uống, dùng cùm sắt cùm cho đứng yên, ẩn trong cửa thành để đợi Như Lai.

Thường pháp của chư Phật khi sắp vào thành thì có các điềm lành xuất hiện như: voi cất vòi lên rống, ngựa hý, bò rống; chim le, chim nhạn, uyên ương, chim công, vẹt, ngỗng trắng, thiên thu, chim hạc… đều hót. Ðàn không hầu, đàn tranh, trống, đàn tỳ-bà, đàn, sáo,… không đánh tự phát ra âm nhạc. Trong kho của các trưởng giả, các thứ như vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly, san hô, hổ phách, xà-cừ, mã não… không đụng tự phát ra âm thanh. Người mù được sáng, người điếc được nghe, mù lòa què quặt, khoèo chân, bướu cổ và đủ các thứ bệnh khổ khác dều chấm dứt. Kho tàng đang ẩn tự xuất hiện.

Khi Thế Tôn vào thành có những điềm lành như vậy.

Biết Phật sắp vào cửa thành, người quản tượng liền cởi cùm sắt thả voi ra. Hàng ngàn vạn người đều bỏ chạy để tìm chỗ yên ổn. Nhân dân sợ hãi, hoặc chạy vào nhà, hoặc leo lên lầu.

Voi chạy đến chỗ Như Lai, nhân dân nhìn theo kinh ngạc. Những người không tin Phật thì nói:

– Hãy giết Sa-môn ấy đi!

Người tin Phật thì nói:

– Con voi nhỏ này làm gì được Phật!

Có một trưởng giả trông thấy voi chạy, liền cỡi con voi khác, đến chỗ Phật trước, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, bạch Thế Tôn rằng:

– Voi Vọng-già-bà được cho uống rượu trắng say mèm và được cởi cùm sắt để hại Thế Tôn. Xin Thế Tôn hãy vào nhà này để tránh. Nếu đi trở ra khỏi thành con voi say đó sẽ làm hại Như Lai.

Thế Tôn bảo:

– Con voi này không thể hại ta. Không ai có thể giết được Thế Tôn.

Trông thấy Như Lai và các Tỳ-kheo, con voi nỗi sân dậm đất, gầm rống, giương ngà, căng rộng hai tai, cất cao vòi, cụp đuôi, chạy gấp đến chỗ Như Lai.

Các Tỳ-kheo thấy voi chạy đến đều dựng tóc gáy, chạy tránh xa Như Lai, chỉ còn một mình A-Nan không chạy. Lúc ấy, voi đến trước Như Lai, Thế Tôn dùng tâm nhơn từ hướng về voi làm voi hết say và không còn sân hận nữa, quỳ hai chân xuống đất, dùng vòi liếm chân Như Lai. Thế Tôn đưa cánh tay màu vàng ròng xoa đầu voi mà nói kệ như cha nói với con:

– Con chớ sanh sân hận Muốn làm hại Như Lai

Ai nổi sân với Phật

Không được sanh đường lành

Voi Y-la-bát-na

Ở trong hai cung trời

Cạnh ngọn núi Tu-di

Nơi các voi chúa ở

Trên đỉnh núi Linh-sơn

Voi chúa A-nậu-đạt

Ðều đảnh lễ Chánh giác

Còn ngươi định hại Phật

Các voi tu hạnh lành

Nên được ở nơi ấy

Ngươi say rượu hại Phật

Sao sanh nơi ấy được!

Lúc ấy, voi Vọng-già-bà buồn rầu rơi lệ, đảnh lễ sát đất rồi đi, suốt bảy ngày không ăn cỏ mà chết, sanh lên cõi trời Tứ thiên vương.

Hàng ngàn vạn người thấy sự biến hóa này của Như Lai đều đến chỗ Phật. Lúc ấy, Thế Tôn quay lại bảo A-Nan:

– Ông hãy đi chuẩn bị giường và nước, Ta muốn rửa chân.

Vâng lệnh Phật, A-Nan liền đi trải giường, múc nước. Kế đó, A-Nan quỳ chân phải sát đất, bạch Thế Tôn rằng:

– Sàn và nước đã được chuẩn bị xong, xin Thế Tôn hãy đi rửa chân.

Rửa chân xong, Thế Tôn ngồi thiền định hiện các loại biến hóa: biến mất ở phương Ðông, xuất hiện ở phương Tây. Biến mất ở phương Bắc, hiện ra ở phương Nam. Ngồi, nằm trên hư không. Thân phóng ánh sáng xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc màu lưu ly. Dưới chân phát ra lửa, trên thân phun ra nước. Trên thân phát ra lửa, dưới thân phun ra nước…

Sau khi biến hóa đủ cách, Ngài trở về chỗ cũ ngồi kiết-già.

Thấy Thế Tôn biến hóa, nhân dân liền được khai mở tâm ý.

Lúc ấy, Thế Tôn quán sát tâm ý của chúng sanh và thuyết đủ các pháp để thỏa ý nguyện của họ. Trong số những người ấy, có người phát sanh ý thần túc, có người phát tín căn, có người phát sanh pháp nhẫn, có người đắc quả Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, hoặc phát tâm Vô thượng Chánh chơn đạo, tâm Thanh văn, Bích Chi Phật, cả trăm vạn người đều được độ thoát.

Lúc ấy Thế Tôn sợ không kịp giờ ăn nên dùng cánh tay phảị xốc nách A-Nan bay về núi Kỳ-xà-quật.

Lúc đó, năm trăm Tỳ-kheo đều đã chạy đến các hang núi, xin thức ăn của những người địa phương. Khất thực xong, họ trở về tinh xá, cất y và đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

– Thật là kỳ lạ! Thấy con voi lớn đến, A-Nan vẫn không rời bỏ Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Không chỉ ngày nay mà trước kia cũng vậy. Hãy chú ý, Ta sẽ kể cho nghe.

Ngày xưa, cách đây lâu lắm, có một con nai chúa tên Thất-lợi-mạt cùng năm trăm con nai sinh sống ở núi Tuyết.

Lúc ấy có một người thợ săn, giăng một cái bẩy dây lớn dưới lớp cỏ. Nai chúa đi trước bị vướng chân trái vào bẩy. Nai chúa nghĩ: “Nếu nói với các con nai là ta dính bẩy thì các con nai sẽ không ăn được”.

Khi các con nai đã ăn no, nai chúa liền nói:

– Ta đã bị mắc bẩy.

Nghe nói vậy, các con nai đều bỏ chạy, chỉ có một con nai là không bỏ nai chúa Thất-lợi-mạt. Con nai ấy tâu với nai chúa rằng:

– Hãy cố gắng thoát thân. Thợ săn đang đến.

Ðáp:

– Ta đã kiệt sức, sợi dây siết chặt vào thịt, không thể thoát được, chẳng biết làm sao đây.

Khi thợ săn đến, con nai nọ nói:

– Hãy cầm dao giết tôi trước rồi mới giết nai chúa.

Thợ săn suy nghĩ: “Lời này thật kỳ lạ! Cầm thú mà lại biết chết thay cho người khác”.

Thợ săn bèn nói với nai:

– Ta không giết ngươi, cũng không giết chúa của ngươi. Ta sẽ tháo bẩy thả chúa ngươi đi.

Nói xong, thợ săn liền tháo bẩy thả nai.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Nai chúa lúc ấy chính là Ta. Năm trăm con nai nay là năm trăm Tỳ-kheo. Lúc ấy chúng bỏ ta, nay lại bỏ ta. Thợ săn lúc ấy nay là voi Vọng-già-bà, xưa kia không đụng đến Ta và nay cũng vậy. Con nai ở lại lúc ấy nay là A-Nan, xưa không bỏ Ta, nay cũng không bỏ Ta.

Nhân việc đó, Thế Tôn lại kể chuyện túc sanh khác:

– Cách thành Ba-la-nại-tư không xa, có ao nước tên Kiết-vũ, đầy ắp nước, có nhiều cá, ba-ba, nhiều nhạn, uyên ương… Có con nhạn chúa tên Ðề-đề-lại-trú, dẫn theo năm trăm con nhạn đến vui đùa ở ao ấy. Lúc ấy, có thợ săn giăng lưới bắt nhạn. Nhạn chúa bị mắc lưới, liền nghĩ: “Nếu ta nói ta dính lưới thì các con nhạn không ăn được”. Khi các con nhạn ăn xong, nhạn chúa liền nói:

– Ta bị mắc lưới.

Nghe vậy, các con nhạn đều kinh hoảng bay mất, chỉ có một con nhạn tên Tu-mặc ở lại không đi.

Nhạn chúa bảo Tu-mặc:

– Ta đã bị mắc lưới, khanh hãy thay ta làm vua.

Tu-mặc đáp:

– Thần không thể thay vua.

Vua hỏi:

– Vì sao không thể thay thế?

Tu-mặc nói kệ đáp:

– Thà cùng chết với vua

Hơn sống không có vua

Sống chết phải có nhauKhông dám thoát một mình.

Nhạn chúa tìm cách thoát thân nhưng không được. Thợ săn đã đến. Tu-mặc nói với thợ săn bài kệ:

– Máu thịt nhạn chúa

Chẳng khác gì tôi

Hãy giết tôi trước

Tha cho nhạn chúa.

Thợ săn liền suy nghĩ: “Chim nhạn này thật là kỳ lạ mới có ý muốn chết thay người khác”. Ông ta nói kệ đáp:

– Ngươi mang hình chim thú

Dám chết thay cho chủ

Nay ta không giết ngươi

Cũng không hại chủ ngươi

Ta sẽ mở lưới thả

Cho ngươi bay tự do.

Thợ săn liền mở lưới thả chim. Lúc ấy, nhạn chúa lùi lại bàn với nhạn tùy tùng:

– Người này rất nhơn từ, đã cứu ta khỏi chỗ chết. Nếu người ấy giết thì ai sẽ đến cứu ta?

Thợ săn đến hỏi:

– Các ngươi nói gì? Ta đã thả sao các ngươi không mau bay đi?

Ðáp:

– Chúng tôi không thể đi. Chúng tôi đang bàn cách báo ơn ông.

Thợ săn hỏi:

– Ngươi là chim thú, làm sao báo ân?

Nhạn chúa đáp:

– Hãy mang chúng tôi đến chỗ vua Phạm-ma-đạt ở thành Ba-la-nại. Ðến nơi ấy chúng tôi sẽ báo ơn.

Thợ săn hỏi:

– Ðến đó, nếu bị họ làm tổn thương, các ngươi sẽ làm cách nào?

Nhạn đáp:

– Việc đó không đáng lo. Cứ việc mang chúng tôi đi đi.

Thợ săn liền bế các con nhạn vào thành, đi từ chợ đến cửa cung vua. Trên đường đi, các thương nhơn thấy con nhạn đáng yêu, liền đem năm tiền, mười tiền, hoặc hai mươi tiền biếu cho thợ săn. Khi gần đến cửa cung vua thì thợ săn đã nhận được hàng ngàn tiền.

Lúc đó, thợ săn ẳm con nhạn thả ở cửa cung vua. Nhạn chúa bảo người giữ cổng:

– Nhạn chúa Ðề-đề-lại-tra đang ở cổng, xin cầu kiến.

Người gác cổng vào tâu vua. Vua bảo:

– Cho vào.

Lúc ấy, vua Phạm-ma-đạt bày giường vàng cho nhạn chúa ngồi. Tu-mặc theo hầu phía sau. Nhạn chúa nói kệ hỏi thăm vua có được yên ổn không, có mạnh khỏe không, binh mã trong nước có hùng mạnh không, nhân dân có dễ cai trị không?

Vua Phạm-ma-đạt nói kệ đáp lời:

– Khanh từ xa đến đây, vượt biển, vượt núi, trải qua một hành trình dài có mệt mỏi không?

Lúc ấy, hai vua cùng nhau nói năm trăm bài kệ, còn con nhạn Tu-mặc thì im lặng không nói.

Vua Phạm-ma-đạt hỏi:

– Vì sao khanh im lặng vậy?

Tu-mặc đáp:

– Một là vua loài người, một là vua loài nhạn. Hai vua cùng nói chuyện nên thần không dám xen vào.

Vua Phạm-ma-đạt bảo nhạn chúa rằng:

– Xin hãy nhận lời ta. Hãy cư trú trong vườn cây, ao nước ở nơi này. Ta sẽ cung cấp đồ ăn uống.

Nhạn chúa không dám nhận lời mời đó.

Phạm-ma-đạt hỏi:

– Vì sao không nhận?

Nhạn chúa đáp:

– Vua uống rượu say, sai đầu bếp giết nhạn. Nếu không có con nào khác thì họ sẽ bắt chúng tôi giết. Vì vậy chúng tôi không dám ở lại.

Nghe tin nhạn chúa ở chỗ vua Phạm-ma-đạt, năm trăm con nhạn liền dẫn nhau đến bay liệng trên cung. Vua hỏi:

– Ðó là nhạn gì?

Nhạn chúa đáp:

– Ðó là đồ chúng của tôi.

Vua hỏi:

– Khanh thật sự muốn đi phải không?

Ðáp:

– Thật sự.

– Khanh có cần gì không?

Nhạn chúa nói:

– Tôi không cần gì. Chỉ có người kia đã ôm tôi đến đây. Xin vua hãy ban cho anh ta vàng bạc, thức ăn uống, châu báu và các thứ cần dùng.

Nói xong, nhạn liền bay lên cao.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Lúc ấy, nhạn chúa Ðề-đề-lại-tra chính là Ta. Năm trăm con nhạn bỏ ta mà đi, nay là năm trăm Tỳ-kheo đã bỏ chạy. Vua Phạm-ma-đạt lúc ấy, nay là Thâu-đầu-đàn-thích, khi ấy đã thả Ta đi, nay lại cho Ta xuất gia. Thợ săn lúc ấy, nay là voi Vọng-già-bà, lúc ấy đã không hại Ta, nay cũng không động đến Ta. Nhạn Tu-mặc theo hầu Ta lúc ấy, nay là A-Nan, xưa đã không bỏ Ta, nay cũng không rời Ta.

Các Tỳ-kheo hãy nghe tiếp:

– Cách đây rất lâu, có con sư tử chúa dẫn theo năm trăm sư tử đi ở trên núi Tuyết, sư tử chúa đã già, các căn rã rời, mắt lòa không thấy đường.

Lúc ấy, sư tử chúa đi trước bầy sư tử và bị rơi xuống một cái giếng trống rỗng. Năm trăm con sư tử đều bỏ đi.

Cách giếng không xa có một con cáo, thấy sư tử rơi xuống giếng liền suy nghĩ: “Lúc có vị vua này, ta thường được no đủ. Ta phải nghĩ cách giúp ông ấy ra khỏi giếng”.

Cách giếng không xa có một con sông lớn. Cáo liền đào hang dẫn nước vào giếng. Nước mỗi lúc một nhiều và nâng sư tử lên. Cuối cùng sư tử cũng được ra khỏi giếng. Thần núi liền nói kệ khen:

– Người nào có bạn bè

Không cần chọn mạnh yếu

Như con cáo bé nhỏ

Cứu sư tử khỏi giếng.

Nói bài kệ này xong, vị thần biến mất.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Sư tử lúc ấy nay chính là Ta. Năm trăm sư tử bỏ đi lúc ấy, nay là năm trăm Tỳ-kheo. Con cáo lúc ấy nay là A-Nan. Ðó là người bố thí, tinh tấn, không làm việc ác. Người nào phát tâm hướng đạo thì sanh ở đâu cũng không gặp việc ác.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Mã-sư, Phất-na-bạt du hành ở vườn Ca-la, thuộc nước Na-kiệt-đề và cư trú ở trong nhà bạch y, làm các việc xấu. Những người ở các làng gần đấy không ai không nghe.

Lúc ấy, Phật sai tôn giả A-Nan đến nước Kế-thi khất thực, du hóa trong sáu mươi ngày. Sau khi A-Nan đi, Phật bay lên trời thuyết pháp cho mẹ suốt bốn tháng.

Lúc ấy, tôn giả A-Nan đi du hóa khất thực trong sáu mươi ngày, dần dần đến nước Na-kiệt-đề. Vào sáng sớm, vị ấy đắp y mang bát vào thành khất thực nhưng không được gì, phải trở về với chiếc bát không.

Lúc ấy Ưu-bà-tắc tên Kiếp-phủ vào trong thành. Trông thấy tôn giả A-Nan ra khỏi thành, ông ta liền đảnh lễ sát chân A-Nan, chấp tay bạch A-Nan rằng:

– Lâu lắm mới gặp lại Ngài. Ngài du hành giáo hóa có mệt nhọc không? Ðến đây khi nào vậy?

Tôn giả A-Nan đáp lời Ưu-bà-tắc Kiếp-phủ:

– Hiền giả biết không? Buổi sáng, tôi đắp y mang bát vào đây khất thực, nhưng không được gì. Hay là ở đây có Thích tử nào đã làm mất lòng tin của Ưu-bà-tắc, làm việc chẳng phải của Sa-môn, vi phạm các nghiệp thân, miệng, ý, phải không?

Ưu-bà-tắc đáp:

– Trong vườn Ca-la, ở đây có hai Tỳ-kheo là Mã-sư và Phất-na-bạt, thường đến ngủ ở nhà bạch y, làm các việc xấu. Những người ở những làng gần đây không ai là không nghe thấy. Họ cùng với phụ nữ ngồi chung một giường chiếu, ăn chung một bát, uống chung một ly, xếp Tăng-già-lê cất trên giá, rồi cùng phụ nữ ca, múa, chơi đàn cầm, khảy đàn tỳ-bà, tát má, vuốt miệng, đeo vòng hoa, cắm hoa trên tóc mai, hoặc đeo chuỗi anh lạc thơm, đắp y lụa ngũ sắc, cùng nhau đến nhà dâm nữ, mai mối nam nữ, hoặc mặc áo quần thế tục, chơi đùa với năm loại binh, hoặc chơi bắn cung tên, quăng ném, níu kéo, xốc nhau ném lên bàn, hoặc cùng nhau chạy, hoặc cởi voi, ngựa ra vào vườn, chẳng lúc nào ngưng… Giờ ăn đã đến, xin thỉnh đại đức đến nhà con thọ thực.

Tôn giả A-Nan im lặng nhận thỉnh.

Khi tôn giả A-Nan đã đến nhà, ngồi vào bàn, Ưu-bà-tắc ấy tự tay dâng nước rửa tay, dọn đồ ăn uống.

Khi đã ăn xong, A-Nan rửa tay, rửa mặt rồi thuyết pháp cho Kiếp-phủ nghe. Sau đó, vị ấy rời khỏi chỗ ngồi, đi du hành dần dần đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc ở nước Xá-vệ, đem việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn.

Do việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào ở tại nhà bạch y, làm các việc xấu như trên… phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Xiển-nộ chấp chặt, ngoan cố, rất khó giáo hóa. Ông ấy nói với các Tỳ-kheo:

– Các thầy chớ có nói với tôi điều gì tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các thầy điều gì tốt hoặc xấu.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo bảo Xiển-nộ:

– Tuy thầy không nói việc tốt việc xấu của tôi. Tôi cũng không nói việc tốt việc xấu của thầy. Nhưng thầy phải nói pháp lành và luật mà thầy biết cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng nói pháp và luật cho thầy nghe. Có như vậy thì hạt giống Phật mới được tăng trưởng.

Các Tỳ-kheo thay nhau dạy dỗ, khuyên răn:

– Thầy là người làm việc xấu, chớ có chấp chặt ý thầy, chớ có giữ tâm ấy.

Nhưng Tỳ-kheo Xiển-nộ không nghe theo. Các Tỳ-kheo nói:

– Xiển-nộ này thật khó giáo hóa!

Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn:

– Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đầy đủ công đức nên kiết giới cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào ngoan cố không nhận lời can ngăn, dạy dỗ như Tỳ-kheo Xiển-nộ thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Sau khi Ta Niết-bàn thì Tỳ-kheo Xiển-nộ sẽ nhận sự giáo hóa.

Ưu-ba-ly hỏi Thế Tôn:

– Thế nào là Tăng-già-bà-thi-sa?

– Tăng-già-bà-thi-sa là có lo sợ đối với chúng Tăng, có lo sợ đối với Thánh đạo, có ước mong chứng quả, có lo sợ về sự hối lỗi. Khi hối lỗi phải tập hợp hai mươi vị Tăng, phải tự hối lỗi sáu đêm, lễ lạy năm vóc sát đất, không được che giấu việc đã phạm, để Tăng quyết đoán. Do như vậy nên gọi là Tăng-già-bà-thi-sa.
TỲ NẠI DA

Hết quyển năm



  • Leave a Comment