[1464] TỲ NẠI DA : QUYỂN 05-10

TỲ NẠI DA

Hán Dịch: Đời Diêu Tần Sa Môn Trúc Phật Niệm

Việt Dịch: Thích Tâm Tịnh

Chứng nghĩa: Tỳ kheo Thích Ðỗng Minh,

— o0o —

Quyển thứ sáu

Hai pháp BẤT ÐỊNH

Và ba mươi pháp XẢ ÐỌA

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả Ca-lưu-đà-di thường đến nhà Ưu-bà-di Phù-đới và cùng cô ta ngồi ở nơi kín đáo. Ưu-bà-di Phù-đa (đới) muốn làm việc bất tịnh nên cùng ngồi chung một chỗ. Ca-lưu-đà-di cũng đồng ý nhưng sợ phạm giới nên không dám làm.

Thấy vậy, các trưởng giả ở nhà bên cạnh nói với nhau:

– Sa-mô Thích chủng tự ca ngợi mình tinh tấn, độc thân, nay lại cùng phụ nữ ngồi ở chỗ kín, ắt là có lý do.

Các Tỳ-kheo đầu-đà đến bạch với Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Ưu-đà-di:

– Việc ấy có thật không?

Ưu-đà-di bạch Phật:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn:

– Nhân việc đó, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, đủ mười công đức để kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào cùng người nữ ngồi ở chỗ kín, có người nữ nói, phạm một trong ba pháp Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa và Ba-dật-đề; và Tỳ-kheo ấy chấp nhận đã phạm ba pháp ấy, hoặc Ba-la-di, hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dật-đề. Ðó là phạm Bất định.

Lúc ấy, Ca-lưu-đà-di lại đến nhà Ưu-bà-di Phù-đới, đem ghế ra cùng ngồi nơi đất trống. Ở nơi trống trải ấy, Ưu-bà-di ấy định ôm thân của Ca-lưu-đà-di kéo lại cùng ngồi một chỗ. Ca-lưu-đà-di muốn làm theo nhưng lại sợ phạm giới.

Các trưởng giả thấy vậy liền nói với nhau: – Sa-môn Thích tử thường tự ca ngợi là tinh tấn, độc thân mà nay lại cùng người nữ ngồi nói chuyện ở nơi đất trống, ắt là có lý do.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo đầu-đà đến bạch đầy đủ với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào cùng phụ nữ mang ghế cùng ngồi ở đất trống, có phụ nữ nói, phạm hai pháp Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề và Tỳ-kheo ấy chấp nhận đã phạm hai pháp ấy. Ðó là pháp Bất định.

Thế Tôn ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Thích tử Bạt-nan-đà tích chứa y áo, để lâu đến độ hư mục, bị trùng, mọt, chuột gậm nhấm. Thấy vậy, các trưởng giả đều hiềm hận, tự nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử lẽ ra nên tiết kiệm y áo, nay lại tích chứa y áo lâu đến độ bị hư mục, bị trùng, mọt, chuột gậm nhấm.

Thấy vậy, các trưởng giả bảo với các Tỳ-kheo đầu-đà, các Tỳ-kheo không biết trả lời làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Nhân việc đó, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, đủ mười công đức kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào có ba y và y công đức đã hết thời hạn thì phải trì giữ cho đến hết đời. Nếu nhận quá thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Phật ở tại vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương-xá.

Lúc ấy Ma-ha-kế-diệp ở núi Kỳ-xà-quật. Vì một việc nhỏ của Tăng, Ma-ha-kế-diệp không đắp y Tăng-già-lê mà đến vườn Trúc. Lúc ấy, trời mưa dầm nên vị ấy không trở về núi Kỳ-xà-quật được. Ðến sáng, vị ấy mới trở về hang đá. Vị ấy phân vân không biết mình có bị mất Tăng-già-lê không, liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Nếu Tỳ-kheo không đắp ba y và y công đức đã hết thời hạn mà đến ngủ đêm ở nhà người khác, không mang theo Tăng-già-lê, y thượng, y hạ – trừ khi được Tăng cho phép – thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy có Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na cùng các Tỳ-kheo ni kiết hạ ở Xá-vệ. Những người binh sĩ của vua Ba-tư-nặc cư trú trong vườn, gần chỗ các Tỳ-kheo ni. Những binh sĩ này nhận lương của vua Ba-tư-nặc, ngày ngày đánh bạc, tiêu dùng phung phí nên không đủ nuôi thân và các bà vợ không đủ áo che thân. Hàng ngày, các Tỳ-kheo ni đều nghe họ đùa giỡn.

Một buổi sáng nọ, Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na liền đến nhà vợ các binh sĩ, hỏi các cô ấy:

– Vì sao y áo xấu và không đủ che thân vậy?

Các cô ấy đáp:

– Bổng lộc chỉ đủ ăn, không đủ sắm y áo.

Tỳ-kheo ni nói:

– Lương bổng nhận được hãy dùng một nửa để sắm y và thức ăn, một nửa đem bố thí.

Các phụ nữ đáp:

– Xin vâng theo lời dạy của Như Lai.

Lúc ấy, khi nhận được lương bổng, họ để dành một nửa để sắm y áo và thức ăn, một nửa đem bố thí. Nhờ thế, nhà các binh sĩ dần dần giàu có, y áo và đồ ăn dồi dào, y áo họ mặc khác hẳn mọi người.

Các phụ nữ liền nói với nhau:

– Tiền của mà chúng ta có ngày nay là nhờ ơn của Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na. Chúng ta phải cùng nhau báo ân.

Các phụ nữ liền nói với chồng mình:

– Chúng ta giàu có là nhờ Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na. Tôi muốn xin cúng dường các cô ấy trong bốn tháng hạ các món ăn ngon, tinh khiết.

Chồng bảo vợ:

– Rất tốt!

Các binh sĩ đó liền đến chỗ Tỳ-kheo ni Ðạt-mộ-đề-na, đảnh lễ sát đất ngồi qua một phía. Tỳ-kheo ni liền thuyết pháp cho họ. Sau khi thuyết pháp xong, cô ấy im lặng không nói. Lúc ấy, các binh sĩ rời khỏi chỗ ngồi, quỳ xuống, chấp tay bạch với các Tỳ-kheo ni rằng:

– Từ nay trở đi, chúng con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nguyện làm Ưu-bà-tắc trọn đời không sát sanh. Nguyện các sư cô nhận sự cúng dường của chúng con trong bốn tháng hạ.

Các Tỳ-kheo ni đáp:

– Phật đang ở tại Kỳ-hoàn, hãy đến thỉnh Phật trước, rồi chúng tôi mới dám nhận lời.

Các binh sĩ đáp:

– Chúng con sẽ đến thỉnh.

Các binh sĩ liền đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía. Thế Tôn nói cho họ nghe đủ các pháp. Sau khi nghe thuyết pháp, họ bạch Thế Tôn rằng:

– Xin Thế Tôn và chúng Tăng cho chúng con được cúng dường trong bốn tháng hạ ở vườn này.

Thế Tôn im lặng nhận lời.

Thấy Thế Tôn im lặng nhận lời, các binh sĩ rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi trở về nhà, chuẩn bị đồ ăn uống cho các Tỳ-kheo trong bốn tháng.

Biết đã sắp đến ngày kiết hạ, Thế Tôn liền dẫn các Tỳ-kheo đến nơi ấy kiết hạ bốn tháng. Các binh sĩ cúng dường Phật và chúng Tăng y áo, đồ ăn uống, thuốc trị bệnh trong bốn tháng.

Biết Phật không uống nước chưa lọc, các binh sĩ thường mang dụng cụ lọc nước treo cạnh túi đựng cung tên.

Lúc ấy, ở biên giới của vua Ba-tư-nặc có quân phản nghịch. Vua cho triệu tập các binh sĩ và bảo:

– Các khanh hãy công phạt quân phản nghịch ấy.

Các binh sĩ đáp:

– Xin vâng lệnh vua.

Lúc ấy các đại thần tâu với vua rằng:

– Vua sai các binh sĩ ấy đi công phạt, chắc là không xong.

Vua hỏi:

– Vì sao không xong?

Bề tôi đáp:

– Các binh sĩ ấy chẳng dám uống nước chưa lọc, trùng nhỏ còn không giết thì làm sao có thể công phạt.

Vua hỏi các binh sĩ:

– Các ông chắc không làm hỏng việc của ta chứ?

Binh sĩ đáp:

– Chẳng biết có việc gì vậy, thưa đại vương?

Vua hỏi:

– Nghe nói các khanh không dám uống nước chưa lọc. Trùng nhỏ còn vậy thì làm sao có thể công phạt sinh mạng lớn?

Các binh sĩ đáp:

– Trùng nhỏ ấy không có lỗi đối với vua. Nếu chúng phạm phép vua thì chúng thần cũng giết không tha.

Lúc ấy, vua liền suy nghĩ: “Những người này thật là sạch sẽ nên không uống nước chưa lọc”.

Lúc đó các binh sĩ bảo với nhau:

– Ðã cúng dường Thế Tôn và chúng Tăng mọi thứ nhưng chưa cúng dường y. Sợ rằng đi chinh chiến bị chết không trở về được, chúng ta hãy cúng dường y ngay bây giờ.

Họ liền đánh kiền-chùy để tập hợp các Tỳ-kheo, chỉ có Phật không đến. Các binh sĩ liền đem y cúng dường cho chúng Tăng nhưng chúng Tăng không nhận vì sợ phạm lỗi chứa y dư. Các binh sĩ ép họ phải nhận. Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Ðược nhận y bằng lòng từ bi.

Nhân việc ấy, Thế Tôn kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào đã có ba y và y công đức đã hết thời hạn mà được y dư thì được phép nhận và cất chứa trong một tháng. Quá một tháng phải cho người khác. Nếu cất chứa quá một tháng thì phạm Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Lúc ấy các binh sĩ đã đạt được tâm từ, liền đi chinh phạt. Khi hai bên giao đấu, họ liền nhập vào tam muội từ bi, quân địch liền thối lui vì người nhập vào tam muội từ bi thì lửa không thể đốt, dao chém không đứt, uống thuốc độc không chết, không ai có thể giết được.

Nghe tin các binh sĩ đã chinh phạt xong quân phản nghịch, vua Ba-tư-nặc liền tăng thêm ruộng vườn, bổng lộc lên gấp bội.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Vào sáng sớm, Tỳ-kheo ni A-la-tì đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong, cô ấy ra khỏi thành, cất y bát, rửa chân, đặt tọa cụ lên vai, đến núi An-đà-bà trải tọa cụ dưới một gốc cây và ngồi kiết-già.

Lúc ấy có bọn cướp vừa cướp được của cải và trốn lên núi này. Tên cầm đầu bọn cướp tin tưởng Phật, Pháp, Tăng, trông thấy Tỳ-kheo ni ngồi tọa thiền dưới gốc cây, nhan sắc xinh đẹp, các căn lặng lẽ, tướng cướp ấy hết sức vui mừng, liền mang một miếng thịt đến cúng dường Tỳ-kheo ni.

Tỳ-kheo ni đáp:

– Tôi chỉ ăn ngày một bửa, quá giờ không ăn nữa.

Tướng cướp càng thêm vui nên lấy một tấm vải trắng mịn gói miếng thịt ấy treo trên cây và nói rằng:

– Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào nhận thì xin cúng toàn bộ.

Nói xong, họ ra khỏi núi.

Tỳ-kheo ni suy nghĩ: “Tướng cướp nói lời ấy và để lại vải và miếng thịt là vì ta”.

Sáng sớm hôm sau, Tỳ-kheo ni mang miếng thịt ấy vào vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, cúng miếng thịt ấy cho nhà bếp để nấu cho các Tỳ-kheo dùng, rồi vắt tấm vải trên vai mà đi ra. Thấy vậy, Thích tử Bạt-nan-đà hỏi:

– Này chị! Từ đâu mà có được tấm vải xinh đẹp sạch sẽ như vậy? Chị có thể để lại cho tôi không?

Tỳ-kheo ni không dám trái lời, liền trao tấm vải cho Thích tử Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà bảo các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo ni ấy cho tôi tấm vải này.

Lúc ấy, Tỳ-kheo ni suy nghĩ: “Ðã vào thành mà chẳng thăm Thế Tôn đã vội trở về thì chẳng có lễ phép”. Cô ấy liền đến chỗ Thế Tôn với y áo rách nát.

Thấy Tỳ-kheo ni ấy đến, Thế Tôn quay lại bảo A-Nan:

– Ông hãy lấy một tấm y dư cho Tỳ-kheo ni này.

A-Nan liền lấy tấm y đã xả trao cho Tỳ-kheo ni. Tỳ-kheo ni đắp y vào rồi đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, đứng qua một phía. Thế Tôn liền nói pháp cho cô ấy nghe. Nói pháp xong, Thế Tôn bảo:

– Cô hãy trở về đi.

Cô ấy liền đảnh lễ Thế Tôn rồi ra đi.

Tỳ-kheo ni vừa ra đi, Phật liền hỏi A-Nan:

– Vì sao Tỳ-kheo ni này mặc y áo rách rưới như vậy?

A-Nan bạch Phật:

– Tỳ-kheo ni này vừa có một tấm vải nhưng đã bị Bạt-nan-đà đoạt lấy.

Nhân việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng và bảo các Tỳ-kheo:

– Vì sao y của Tỳ-kheo ni đã hư rách mà Tỳ-kheo lại đoạt y mới của cô ấy?

Sau khi dùng vô số phương tiện dạy dỗ, quở trách các Tỳ-kheo, Thế Tôn liền kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào đoạt lấy hoặc theo xin y của Tỳ-kheo ni không bà con – trừ trao đổi – thì phạm Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Thế Tôn ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Bấy giờ Ca-lưu-đà-di kết thân với Tỳ-kheo ni Quật-đa. Ca-lưu-đà-di đi du hóa hai tháng. Sau hai tháng du hóa, vị ấy trở về Xá-vệ.

Nghe tin Ca-lưu-đà-di đã du hóa xong và trở về Xá-vệ, Tỳ-kheo ni Quật-đa liền tắm rửa sạch sẽ, lấy dầu thơm thoa lên đầu, lại bôi phấn sáp trang điểm mặt, đánh răng thật trắng, đắp y mới rồi đến chỗ Ca-lưu-đà-di, đảnh lễ sát đất rồi ngồi trước vị ấy, nhìn chăm chú Ca-lưu-đà-di. Ca-lưu-đà-di cũng nhìn chăm chú Tỳ-kheo ni.

Ca-lưu-đà-di rời khỏi chỗ ngồi, chỉ mặc y hạ và đi phía trước. Tỳ-kheo ni cũng chỉ đắp một y và đi theo sau Ca-lưu-đà-di, nhưng không để cho thân đụng nhau vì sợ phạm giới.

Ca-lưu-đà-di phát sanh ý dâm dục quá mạnh, liền xuất tinh làm dơ y hạ. Biết Tỳ-kheo ấy bị xuất tinh, Tỳ-kheo ni liền lấy một tấm y hạ đưa cho Tỳ-kheo ấy thay. Thay y xong, Ca-lưu-đà-di liền đưa y dơ cho Tỳ-kheo ni giặt.

Tỳ-kheo ni đem y đến nơi vắng để giặt, lấy giọt tinh dịch uống một nửa, còn một nửa rưới vào âm đạo. Sau đó cô ấy liền mang thai và bụng càng ngày càng lớn. Các Tỳ-kheo ni mắng:

– Này Tỳ-kheo ni xấu xa kia! Cô chẳng phải mới làm Tỳ-kheo ni, cô đã vào đạo từ nhỏ, vậy do đâu mà mang thai?

Các Tỳ-kheo ni liên tục trách mắng cô ấy. Tỳ-kheo ni Quật-đa liền thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Các Tỳ-kheo ni không biết phải làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Các cô chớ có cho rằng Tỳ-kheo ni Quật-đa đã phạm giới. Vì sao vậy? – Phạm hạnh cô ấy hoàn toàn trong sạch. Chớ có nghĩ xấu Tỳ-kheo ni Quật-đa.

Sau tám chín tháng, cô ấy sanh được một cậu con trai nhan sắc xinh đẹp. Nghe tin cô ấy sanh con trai, các Tỳ-kheo ni đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn kiết giới cho các Tỳ-kheo ni:

– Tỳ-kheo ni không được ngủ đêm một mình. Hai Tỳ-kheo ni thì được. Không được ngủ đêm với người nam. Ðược phép ngủ chung phòng với Tỳ-kheo ni Quật-đa.

Các Tỳ-kheo ni bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Vừa rồi Ngài dạy không được phép ngủ chung phòng với người nam. Nay cô ấy có con trai thì làm sao ngủ chung được?

Thế Tôn đáp:

– Trẻ con chưa dứt sữa thì được ngủ chung. Sau khi dứt sữa thì không được ngủ chung.

Các Tỳ-kheo ni thọ giáo xong liền trở về.

Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp để kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào nhờ Tỳ-kheo ni không phải thân quyến giặt y dơ, hoặc nhuộm, hoặc ủi cho mới thì phạm Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo thường đến nhà trưởng giả xin y. Các trưởng giả hiềm trách, phiền muộn nên nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử tự nói mình tinh tấn, vậy mà trước đây ta chưa hứa cho y, nhưng họ cứ tới xin y mãi.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo giữ mười hai hạnh đầu-đà đến bạch với Phật, Phật bảo:

– Tỳ-kheo nào nài xin y từ trưởng giả hoặc vợ trưởng giả, chẳng phải bà thì con mắc tội Xả-đọa, trừ khi y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị mục nát, bị vua lấy thì được phép đến nhà trưởng giả, vợ trưởng giả xin lại số y đã mất. Nếu nhận dư y thì phạm tội Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có người vợ trưởng giả may y cho Thích tử Bạt-nan-đà.

Nghe tin vợ trưởng giả ấy may y cho mình, Bạt-nan-đà liền đến nhà ấy nói rằng:

– Cô hãy may y cho thật đẹp để đem cúng dường cho tôi.

Trưởng giả liền may y thật tốt cúng dường vị ấy.

Về đến phòng, vị ấy khoe với các Tỳ-kheo:

– Trưởng giả ấy đã may cho tôi cái y tốt này.

Các Tỳ-kheo im lặng, không biết làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn đáp:

– Tỳ-kheo nào nghe người khác may y cho mình, trước không được yêu cầu tùy ý mà đến nhà ấy bảo phải may cho thật tốt và nhận y đó thì phạm Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có hai nhà trưởng giả may y cho Bạt-nan-đà. Nghe tin hai nhà trưởng giả may y cho mình, Bạt-nan-đà liền đến hai nhà ấy nói rằng:

– Lành thay, trưởng giả! Nếu không đủ tiền may y cho tôi thì hãy hùn chung lại may một cái cho đẹp.

Hai trưởng giả liền gom lại may thành một y cho vị ấy. Về đến nhà, vị ấy huênh hoang nói với các Tỳ-kheo:

– Hai nhà ấy đã gom hai y thành một y, cúng cho tôi.

Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào trước chưa được sự yêu cầu tùy ý mà đi đến hai nhà trưởng giả chẳng phải bà con đang may y cho mình bảo gom hai cái thành một và nhận y ấy thì phạm Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nghe tin các Tỳ-kheo thiếu y, vua Ưu-điền liền cho người mang tiền sắm y đến Xá-vệ cúng cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không nhận và nói:

– Thế Tôn không cho nhận tiền sắm y, để khi nào may thành y rồi sẽ nhận.

Sứ giả hỏi:

– Có ai có thể mua y cho các thầy không?

Các Tỳ-kheo đáp:

– Không ai cả.

Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, đủ mười công đức, kiết giới cho Sa-môn. Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo muốn mua y thì phải mượn người quen thân, người giữ vườn, hoặc tịnh nhân giữ năm giới. Tỳ-kheo ấy nói với sứ giả rằng: “Ðây là người mua y, đây chẳng phải người mua y”. Sứ giả đưa tiền mua y cho người ấy đến chợ mua y. Người ấy đến chợ, hoặc dùng tiền, hoặc dùng vàng, hoặc dùng đồng, thiếc, hoặc dùng tơ lụa để đổi y. Khi người ấy trở về, Tỳ-kheo phải đến đứng im lặng trước người ấy bốn, năm, sáu lần. Nếu nhận được y thì tốt. Nếu đến quá sáu lần thì phạm Xả-đọa. Nếu không được y thì phải tự đi, hoặc cho người mang tin đến nhà người cho tiền sắm y nhắn tin rằng: “Tỳ-kheo ấy rốt cuộc không nhận được y, chớ nghĩ rằng vị ấy đã nhận được. Hãy đi đòi lại, đừng để tổn phí”.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo lấy vải dệt bằng tơ làm ngọa cụ mới. Thấy vậy, các trưởng giả nói:

– Sa-môn Thích tử tự nói không tham tốt mà lấy vải tơ làm ngọa cụ, có khác gì vua hay trưởng giả.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo giữ mười hai hạnh đầu-đà đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào dùng vải tơ làm ngọa cụ thì phạm Xả-đọa.

Nhóm sáu Tỳ-kheo dùng toàn lông dê đen làm ngọa cụ mới. Thế Tôn bảo:

– Không được dùng toàn lông dê đen làm ngọa cụ. Ai làm thì phạm Xả-đọa.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lại dùng toàn lông dê trắng làm ngọa cụ. Thế Tôn bảo:

– Không được dùng toàn lông dê trắng làm ngọa cụ. Nếu làm ngọa cụ thì phải dùng hai phần lông dê đen, phần thứ ba lông dê trắng và phần thứ tư màu xám. Nếu không làm đúng vậy thì phạm Xả-đọa.

Nhóm sáu Tỳ-kheo bỏ ngọa cụ cũ, sắm ngọa cụ mới. Các Tỳ-kheo thực hành mười hai hạnh đầu-đà nghe vậy, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới phải dùng cho đủ sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm đã xả bỏ và làm cái mới thì phạm Xả-đọa. Nếu đã quá hư rách thì phải bạch chúng, chúng cho phép thì được làm, nếu không cho phép mà làm thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Thích tử Bạt-nan-đà làm tọa cụ mới và vứt bỏ cái cũ. Thấy vậy, các Tỳ-kheo liền đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào làm tọa cụ mới phải lấy lai của cái cũ đắp lên bốn bên của cái mới để làm hoại sắc. Nếu không làm như vậy thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Ưu-đà-di cùng nhiều Tỳ-kheo đi từ Câu-tát-la đến nước Xá-vệ. Trên đường đi, họ gặp các lái buôn điều khiển xe ngựa chở rất nhiều lông thú đến nước Xá-vệ. Khi ấy, đường đi có rất nhiều trộm cướp, các Tỳ-kheo bảo với các lái buôn:

– Chúng tôi muốn làm bạn đồng hành với các ông để cùng đến Xá-vệ.

Các lái buôn đáp:

– Chúng tôi cũng thích kết bạn.

Các Tỳ-kheo sợ bụi đất dính thân thể nên thường đi ở sau. Có một lái buôn, xe bị gãy trục nên bảo các bạn đồng hành:

– Mỗi người các ông hãy chở giúp tôi một ít lông thú.

Các người đồng hành nói:

– Phần của chúng tôi, chúng tôi chở còn không hết, làm sao có thể chất thêm phần của anh.

Nói xong, họ liền bỏ đi trước. Lái buôn ấy ngồi đối diện với xe lông mà rầu rĩ. Một lát sau, các Tỳ-kheo đến. Lái buôn lấy lông thú cúng dường cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo phân chia ra và mang đi. Con đường đi xuyên qua một thành phố, nhân dân ở cạnh đường hỏi các Tỳ-kheo rằng:

– Lông này giá bao nhiêu? Lông ấy mắc hay rẻ? Cần đổi vật gì? Gánh nặng như vậy thu được lợi gì?

Nghe vậy, các Tỳ-kheo thực hành mười hai hạnh đầu-đà không biết đáp làm sao, liền đến Xá-vệ, bạch rõ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào trên đường đi được cúng dường lông dê thì được mang đi ba do-tuần. Nếu quá thì phạm Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Ca-lưu-đà-di nhận được lông dê liền nhờ các Tỳ-kheo ni giặt, nhuộm và lựa chọn lông dê. Ca-lưu-đà-di vốn là bạn của vua Ba-tư-nặc, là thầy của Mạt-lợi phu nhân. Vì vậy các Tỳ-kheo ni không dám trái lời. Họ lo giặt, nhuộm, chọn lựa lông dê nên phế bỏ việc tụng kinh, học tập.

Ðại Ái Ðạo Cồ-đàm-di liền đến bạch đầy đủ với đức Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào nhờ Tỳ-kheo ni – chẳng phải bà con – giặt nhuộm, chọn lựa lông dê thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Thạch-đài, tại sông Di-hầu, thuộc thành Tỳ-xá-ly.

Vào sáng sớm, Thích tử Bạt-nan-đà đắp y, mang bát vào Tỳ-xá-ly khất thực. Lúc ấy, trong thành Tỳ-xá-ly có các thanh niên đứng ở ngã tư đường. Trông thấy Thích tử Bạt-nan-đà đến, các cậu ấy nói với nhau:

– Bạt-nan-đà là Tỳ-kheo hung ác, Chúng ta hãy đem vàng bạc giả vờ đặt ở đầu đường. Nếu ông ấy nhặt thì chúng ta sẽ bắt dẫn đến gặp các vị trưởng lão.

Lúc đó, Thích tử Bạt-nan-đà đi đến nơi ấy và lập tức nhặt lấy vàng bạc. Các thanh niên liền chạy đến bắt giữ vị ấy và nói:

– Ông là Tỳ-kheo, vì sao lấy vàng bạc không được cho?

Bạt-nan-đà đáp:

– Chúng rơi trên đất nên ta lượm, chứ ta đâu có ăn trộm.

Họ liền dẫn nhau đến gặp quan huyện. Các thanh niên nói với quan huyện:

– Tỳ-kheo này ăn trộm vàng bạc của tôi.

Các quan rất tin Phật, Pháp, Tăng nên bảo với các thanh niên:

– Chắc chắn Sa-môn Thích tử này không có ăn trộm vàng bạc của các anh.

Ông ấy lại bảo Bạt-nan-đà:

– Thầy hãy về tịnh xá, chớ có làm lại việc này nữa.

Bạt-nan-đà liền trở về, kể cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết làm sao liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào tự tay cầm vàng bạc hoặc dạy người khác cầm thì phạm Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Thích tử Bạt-ban-đà mua bán vàng bạc để kiếm lời. Các trưởng giả hiềm trách, nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này tự ngồi mua bán vàng bạc để kiếm lời thì có khác gì con buôn!

Nghe vậy, các Sa-môn thực hành mười hai pháp đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào mua bán vàng bạc để cầu lợi, không khác gì người đời thì phạm tội Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-Cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Thích tử Bạt-nan-đà đem các loại đồ vật phân thành loại một, loại hai… để mua bán. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này tự xưng tinh tấn mà lại đi mua bán các loại hàng hóa để nuôi ai vậy?

Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp, liền đến bạch với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng vì muốn đủ mười công đức và kiết giới cho các Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào mang các loại đồ vật đến chợ để mua bán thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Thích tử Bạt-nan-đà làm quen với một chú bé bán hương. Trên sạp cậu ấy có một chiếc bát bằng ma-ni. Thích tử Bạt-nan-đà trông thấy liền bảo với chú bé:

– Chiếc bát này đẹp quá! Hãy cho tôi đi.

Chú bé ấy liền đựng cơm đầy bát rồi đem cúng dường. Bạt-nan-đà đem bát ấy đến Kỳ-hoàn nói với các Tỳ-kheo:

– Mỗi lần tôi đi đều được thu lợi. Khi qua chỗ bán hương, có một cậu bé đã đem chiếc bát này cúng dường cho tôi.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo nói:

– Vì sao Tỳ-kheo lại chứa bát dư?

Họ liền đến bạch rõ với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào được bát dư, không được chứa quá mười đêm. Nếu chứa quá mười đêm không xả thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Xá-vệ.

Bấy giờ trưởng giả Thọ-đề cho con em vào biển tìm châu báu, nhặt được một cây ngưu-đầu chiên-đàn. Khi về đến nhà, họ suy nghĩ: “Chúng ta nên đem hiến cho trưởng giả Thọ-đề”, và lập tức đem đi hiến.

Trong kho trưởng giả có rất nhiều chiên-đàn. Tuy được khúc chiên-đàn này, trưởng giả cũng không thích lắm. Trưởng giả liền cho thợ khéo tiện làm cái bát bằng chiên-đàn, dựng một cây cao cách đất mười nhận (một nhận bằng 7,8 m) đem bát đặt trên ngọn cây ấy và phát tâm rằng:

– Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà lấy được chiếc bát thì nó thuộc về người ấy.

Nghe tin trưởng giả Thọ-đề làm bát chiên-đàn cho mình, Phú-lan-ca-diếp liền đến nhà ấy, nói với trưởng giả Thọ-đề:

– Có thật ông làm bát chiên-đàn cúng dường cho tôi không?

Trưởng giả đáp:

– Tôi không làm vì một người. Tôi đã dựng một cây cao mười nhận, treo bát trên ấy. Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà có thể lấy được thì chiếc bát thuộc vị ấy.

Phú-lan-ca-diếp suy nghĩ: “Mình không có thần túc để lấy bát ấy” và lập tức đứng dậy bỏ đi.

Tiếp đó, Ma-ha-ly, Cù-da-lầu-a-di, Thoan-ba, Hưu-ca-chiên, Tiên-tỳ-lô, Trì-ni-càn-phất đến nhà trưởng giả Thọ-đề bảo trưởng giả rằng:

– Chắc là ông làm bát chiên-đàn cho tôi phải không?

Trưởng giả đáp:

– Tôi không làm vì một người. Tôi đã dựng cây cao mười nhận, treo bát trên ấy. Có Sa-môn, Bà-la-môn nào không cần dùng thang mà lấy được thì bát thuộc người ấy.

Nhóm sáu Tỳ-kheo suy nghĩ: “Ta không có thần túc để lấy bát ấy”. Họ lập tức đứng dậy bỏ đi.

Lúc ấy, tôn giả Tân-đầu-lô nghe tin trưởng giả Thọ-đề làm bát chiên-đàn đặt trên ngọn cây cao mười nhận và phát nguyện nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà có thể lấy được thì chiếc bát thuộc vị ấy; tôn giả Tân-đầu-lô liền đến chỗ Mục-kiền-liên đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía.

Tân-đầu-lô nói:

– Mục-kiền-liên nên biết, trưởng giả Thọ-đề tạo bát chiên-đàn treo trên ngọn cây cao mười nhận. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà lấy được thì bát thuộc người ấy. Thế Tôn thường ca ngợi Mục-kiền-liên có thần thông đứng đầu các Thanh văn. Vậy hãy đến đó lấy bát.

Mục-liên đáp:

– Chỉ vì chiếc bát gỗ mà hiện thần túc sao? Ta không đi lấy đâu.

Tôn giả Tân-đầu-lô liền trở về phòng.

Sáng sớm hôm sau, vị ấy đắp y mang bát, trên dưới chỉnh tề, không quay ngó hai bên, giống như đang ôm một bát dầu, ý niệm không tán loạn, giữ gìn năm căn, như con bò bị đóng vào xe, đi đến nhà trưởng giả Thọ-đề.

Trưởng giả trông thấy tôn giả Tân-đầu-lô bước đi thong thả, đắp Tăng-già-lê, mang bát, chống gậy, liền đứng dậy ra nghinh đón, chấp tay bạch rằng:

– Lành thay, Ðại đức Tân-đầu-lô! Sao lâu quá mới đến vậy? Thánh thể có nhẹ nhàng khỏe mạnh không? Xin mời ngài ngồi đây.

Tôn giả Tân-đầu-lô liền ngồi. Trưởng giả Thọ-đề đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một bên. Tân-đầu-lô hỏi trưởng giả:

– Nghe nói ngài làm bát chiên-đàn, treo bát trên ngọn cây cao. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào không dùng thang mà lấy được thì bát thuộc người ấy, việc đó có thật không?

Trưởng giả đáp:

– Thật có việc ấy.

Lúc ấy, Tân-đầu-lô không rời chỗ ngồi, duỗi tay lấy bát.

Thấy việc thần biến này, trưởng giả hết sức vui mừng, liền thưa rằng:

– Xin cho mượn bát để vào nhà lấy cơm.

Trưởng giả liền vào nhà đựng cơm canh đầy bát rồi đem ra trao cho Tân-đầu-lô. Tân-đầu-lô liền đứng dậy, đến vườn Trúc Ca-lan-đà nói với các Tỳ-kheo:

– Tôi vừa đến nhà trưởng giả Thọ-đề lấy chiếc bát ở trên ngọn cây cao.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo không biết trả lời ra sao, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Tân-đầu-lô:

– Có thật ông đã làm việc ấy không?

– Thật vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Vì sao Tỳ-kheo chỉ vì chiếc bát nhỏ mà tự hiện thần túc? Này Tân-đầu-lô! Nay Ta đuổi ông. Trọn đời không được nhập Niết-bàn, không được đến Diêm-phù-đề.

Lúc ấy, tôn giả Tân-đầu-lô bị Thế Tôn đuổi liền rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi ra đi. Khi Tân-đầu-lô đi được một lát, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng để kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào có bát thường dùng bị nứt dưới năm chỗ thì phải vá lại mà dùng. Nếu tìm thêm cái mới thì phạm Xả-đọa. Tỳ-kheo được bát mới thì phải giữ bát cũ, trao lại cho chúng Tăng cái mới. Chúng Tăng đem bát mới trao cho Tỳ-kheo này thọ trì suốt đời, đến khi nào hỏng mới thôi.

Lúc ấy, Tân-đầu-lô trở về phòng, thu xếp mười vật rồi nhập thiền, rời khỏi Diêm-phù-đề, hiện đến Câu-da-ni và kiết hạ ở đó, truyền giới cho năm trăm Ưu-bà-tắc, năm trăm Ưu-bà-di. Vị ấy có năm trăm đệ tử thọ giới Cụ túc, xây năm trăm ngôi tháp, năm trăm phòng có đủ năm trăm giường, chiếu, gối. Tân-đầu-lô làm Phật sự ở tại Câu-da-ni.

Phật ở vườn Ni-câu-đà, thành Ca-duy-la-vệ, thuộc nước Thích-ky-sấu.

Lúc ấy, những người dòng họ Thích có thợ dệt riêng. Nhóm sáu Tỳ-kheo theo các trưởng giả xin chỉ sợi rồi đến nhà họ Thích thân quen nhờ họ bảo những người thợ dệt dệt y cho mình. Lúc ấy nhưng người thợ dệt đã không được nhận tiền, lại không được thức ăn nên đều oán hận, nói:

– Sa-môn Thích tử dùng sức cưỡng ép bắt ta dệt y.

Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đến nhà trưởng giả xin chỉ sợi và cưỡng ép thợ dệt chẳng phải bà con may y thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Ni-câu-đà, thành Ca-duy-la-vệ, nước Thích-ky-sấu.

Lúc ấy dòng họ Thích ở Ca-duy-la-vệ dệt y cho Bạt-nan-đà. Nghe tin dòng họ Thích dệt y cho mình, Bạt-nan-đà liền đến chỗ thợ dệt bảo với thợ dệt rằng:

– Ông hãy dệt y này thật đẹp cho tôi. Tôi sẽ đi khất thực cho ông ít nhiều thức ăn.

Bạt-nan-đà kể với các Tỳ-kheo việc ấy. Các Tỳ-kheo không biết đáp làm sao, liền đến bạch đầy đủ với đức Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào trước chưa được chấp thuận mà lén đến chỗ thợ dệt bảo thợ dệt: “Hãy dệt y thật tốt và đẹp cho tôi, tôi sẽ khất thực cho ông ít nhiều thức ăn” và nếu được y thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Bạt-nan-đà có một đệ tử đầy đủ giới hạnh. Bạt-nan-đà vốn có bản tánh thích mua bán để sinh sống nên suy nghĩ: “Ðệ tử này có thể giúp ta một tay để làm việc ấy”.

Ông ta liền lấy một tấm y cho đệ tử ấy.

Lúc ấy vừa kiết hạ xong, Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo đắp y, mang bát đi du hóa khắp nơi. Ðệ tử của Bạt-nan-đà cũng từ giã thầy để theo Phật, nhưng thầy không cho đi.

Ðệ tử nói:

– Dù đúng hay sai con cũng sẽ đi.

Bạt-nan-đà bảo đệ tử:

– Sở dĩ ta cho ngươi tấm y là vì cần người giúp một tay. Nếu muốn đi thì hãy để tấm y này lại.

Nói xong, ông ta liền đoạt lại tấm y. Người đệ tử khóc lóc, chạy đến chỗ Như Lai, đảnh lễ sát chân Ngài rồi bạch Thế Tôn đầy đủ việc ấy. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào cho Tỳ-kheo khác y, sau vì tức giận nên dùng sức cưỡng đoạt lại, hoặc dạy người khác đoạt lại, nói với Tỳ-kheo ấy rằng: “Hãy đem y đó lại đây, ta không có cho ông”. Nếu Tỳ-kheo đó trả y lại và Tỳ-kheo này nhận y thì phạm Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc thành Xá-vệ.

Lúc ấy, Thế Tôn và chúng Tăng kiết hạ ở Xá-vệ. Trong mùa an cư có người cúng y, các Tỳ-kheo không dám nhận nên đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Trong mùa an cư, nếu có người cúng dường y, Tỳ-kheo nên dùng thiện ý để thọ nhận, chớ có làm Phật lòng đàn-việt.

Nhân việc đó, Phật chế giới cho các Sa-môn:

– Còn mười ngày nữa mới mãn hạ, Tỳ-kheo được cúng y thì hãy nhận. Nếu được y mới thì phải cất cho đến mãn hạ. Khi cất quá mười ngày phải tịnh thí cho người khác. Nếu cố giữ thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy tôn giả Bà-phú thường để lại y Tăng-già-lê ở nơi hoang vắng khi đi vào thành Xá-vệ. Ðến khi trở về thì bị mất y Tăng-già-lê. Vị ấy nói với các Tỳ-kheo:

– Sau khi tôi vào thành Xá-vệ thì bị mất y Tăng-già-lê.

Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch đầy đủ với Phật. Thế Tôn nói:

– Vào tháng cuối của mùa hạ, Tỳ-kheo sống ở nơi hoang vắng, muốn đi đâu mà đường đi có cọp, sói, giặc cướp thì có thể đem ba y gởi trong thành. Sau khi gởi y, Tỳ-kheo được phép lìa ba y trong sáu đêm. nếu quá sáu đêm thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Tỳ-xá-khư – mẹ của Vô-di-la – thỉnh Phật và các Tỳ-kheo thọ thực. Ngay đêm ấy, cô ấy chuẩn bị đồ ăn uống. Sáng sớm hôm sau, cô ấy trải tọa cụ rồi sai người đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc bạch với Phật và chúng Tăng rằng: “Thức ăn đã chuẩn bị xong, xin thỉnh Phật và chư Tăng đến”.

Sứ giả liền đến Kỳ-hoàn, thấy các Tỳ-kheo đang tắm nơi đất trống, giống như Ni-kiền-tử. Sứ giả suy nghĩ: “Ở đây không có Sa-môn Thích tử, chỉ có Ni-kiền-tử đầy khắp Kỳ-hoàn”. Sứ giả liền trở về báo cáo với chủ:

– Nơi ấy không có Sa-môn Thích tử, chỉ có toàn Ni-kiền-tử đầy khắp Kỳ-hoàn.

Tỳ-xá-khư vốn là người thông minh, đã đắc sơ quả, liền suy nghĩ: “Chắc là chúng Tăng đang tắm nơi đất trống”. Cô ấy lại sai người đến bạch Phật và chúng Tăng: “Ðồ ăn đã được chuẩn bị xong, xin thỉnh Phật và Tăng đến thọ thực”.

Sứ giả liền đến bạch Phật. Thế Tôn dẫn năm trăm Tỳ-kheo đến nhà Tỳ-xá-khư, ngồi theo thứ lớp. Khi Phật và chúng Tăng đã ngồi yên, cô ấy tự tay rót nước và dâng các loại thức ăn.

Khi chúng Tăng thọ thực xong, cô ấy lại rót nước, rồi ngồi ở một phía, đem việc ban nảy bạch lại với Phật và xin Thế Tôn cho phép cúng áo tắm mưa cho các Tỳ-kheo. Thế Tôn liền cho phép. Kế đó, Phật đọc kệ chúc phúc rồi về Kỳ-hoàn.

Nhân việc ấy Phật kiết giới cho các Tỳ-kheo:

– Còn một tháng là hết mùa Xuân, Tỳ-kheo phải sắm y tắm mưa, còn lại nửa tháng thì được dùng, nếu quá hạn thì phạm Xả-đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả Dạ-xá cùng chúng Tăng du hành đến biên giới nước Câu-tát-la. Trưởng giả, Bà-la-môn đều biết Dạ-xá nên cúng dường cho chúng Tăng cơm, bánh, đồ ăn ngon, vải lụa và được chúng Tăng nói pháp cho nghe. Các vật nhận được ấy, Dạ-xá đều gom hết về phần mình. Thấy vậy, các Tỳ-kheo nói với nhau:

– Vì sao Tỳ-kheo này lấy vật của chúng Tăng?

Họ liền đến bạch Phật, Phật bảo:

– Tỳ-kheo nào biết đó là vật của chúng Tăng mà lấy làm của riêng, hoặc lấy những thứ đàn-việt cúng cho Tăng làm của mình thì phạm Xả-đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả Tất-lăng-già-bà-thái bị đau hai mắt. Các trưởng giả, Bà-la-môn dâng cúng đồ ăn, đồ dùng, bốn loại thuốc, bơ, mè, dầu, mật, đường tán, đường phèn. Vị ấy tích trữ để dùng hàng ngày.

Thấy vậy, các Tỳ-kheo đến bạch với Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào tích trữ bốn loại thuốc thì không được để quá bảy ngày. Nếu quá, phạm Xả-đọa.

Ưu-ba-ly bạch Phật:

– Thế nào gọi là Ny-tát-kỳ?

Thế Tôn nói:

– Nếu ba y đã bị phạm Xả-đọa thì không được nhận lại, không được mặc, không được trao đổi, không được cho người. Ðó gọi là Ny-tát-kỳ-ba-dật-đề. Ðó cũng gọi là thiêu gốc thành đạo, thiêu đốt người, không đạt được tam muội. Ðó gọi là Xả-đọa.

TỲ NẠI DA

Hết quyển sáu

—o0o—

Quyển thứ bảy

Phần một: pháp BA-DẬT-ÐỀ

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả La-vân nói dối, trêu chọc mọi người. Các Tỳ-kheo liền quở trách:

– Ông là con Phật, vì sao lại nói dối?

Các Tỳ-kheo đem việc ấy bạch đầy đủ với Phật. Thế Tôn bảo La-vân:

– Vì sao ông lại nói dối để vui đùa?

Phật nói kệ quở trách La-vân:

– Nói dối gần địa ngục

Làm mà nói chẳng làm

Hai tội sau đều chịu

Bị nghiệp dẫn dắt đi.

Pháp y mặc trên thân

Làm ác không biết mệt

Người nào làm việc ác

Khi chết đọa địa ngục

Không giới, nhận cúng dường

Khất thực không hổ thẹn

Chết nuốt hòn sắt nóng

Lửa cháy đỏ rất nóng.

Sau khi quở trách xong, Thế Tôn kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào nói dối đùa giỡn, phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo mạ nhục các Tỳ-kheo bằng các chủng loại. Các Tỳ-kheo đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào dùng các chủng loại hủy nhục các Tỳ-kheo thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thường tranh cãi với nhóm mười bảy Tỳ-kheo. Có Tỳ-kheo nghe nhóm này có việc gì liền đến nói với bên kia, nghe bên kia có việc gì liền nói với bên này. Nghe vậy, các Tỳ-kheo liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào đùa cợt nói lời hai lưỡi, gây rối loạn hai bên thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Cù-sư-la, thuộc nước Câu-xá-di.

Tỳ-kheo ở Câu-xá-di thích đấu tranh, sự việc đã được các vị trưởn giả giải quyết như pháp ở giữa chúng, nhóm sáu Tỳ-kheo lại khơi dậy việc cũ và nói rằng:

– Việc tranh chấp đó vì sao không để chúng tôi dẹp trừ?

Nghe tin nhóm sáu Tỳ-kheo khơi dậy lại sự việc đã được giải quyết xong, các Tỳ-kheo liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào việc tranh chấp đã được giải quyết xong như pháp mà lại khơi dậy thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Ca-lưu-đà-di vào trong cung một mình để thuyết pháp cho Mạt-lợi phu nhân. Các đại thần của vua nói với nhau:

– Vì sao Tỳ-kheo vào cung thuyết pháp một mình vậy?

Tỳ-kheo hành mười hai pháp liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào một mình thuyết pháp cho người nữ thì không được quá năm sáu lời (trừ khi có người). Nếu quá thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo đem luật Tỳ-kheo nói với Sa-di. Thấy vậy các Tỳ-kheo nói:

– Vì sao lại đem luật Tỳ-kheo nói với người chưa thọ đại giới?

Họ liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào nói một câu giới pháp với người chưa thọ đại giới thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy có một Tỳ-kheo vào trong chúng Sa-di tự khen ngợi rằng:

– Tôi đã đắc sơ thiền, nhị, tam, tứ thiền, từ, bi, hỷ, xả. Thấy vậy, các Tỳ-kheo liền đến trách mắng:

– Vì sao Tỳ-kheo lại khoe với người chưa thọ đại giới rằng mình đắc thiền?.

Họ liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào tự ca ngợi với người chưa thọ đại giới rằng: “Tôi biết việc ấy, thấy như thật việc ấy” thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo nói với người chưa thọ đại giới:

– Tỳ-kheo ấy phạm Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề.

Nghe việc ấy, các Tỳ-kheo liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào nói với người chưa thọ đại giới rằng: “Tỳ-kheo ấy phạm Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề” (trừ khi được Tăng sai) thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy các trưởng giả đến tham quan vườn tược, phòng ốc. Ðến khi trở về thì đói không chịu nổi. Họ liền nói với Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp:

– Sa-môn Thích tử thường thọ nhận thức ăn của người vậy mà về tịnh xá không hề đãi khách.

Các Tỳ-kheo nói với nhóm sáu Tỳ-kheo:

– Các trưởng giả đến thăm tịnh xá, đến lúc về đói không chịu nổi. Xin các vị cho ít gạo để đãi khách.

Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:

– Ðược thôi.

Sau đó, các Tỳ-kheo lấy nhiều lúa gạo để đãi khách. Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:

– Ai cho các thầy phung phí tiền của chúng Tăng, lấy lúa gạo đãi khách?

Các Tỳ-kheo đáp:

– Chính thầy đã cho phép.

Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:

– Tôi dâu có cho.

Các Tỳ-kheo không biết trả lời làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào trước đã cùng nhau thỏa thuận, sau đó nói rằng: “Ông đã xài phí phạm của cải của chúng Tăng”, trái với sự thỏa thuận lúc trước thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy vào ngày mười lăm, kiền chùy được đánh để tập hợp chúng Tăng lại thuyết giới. Tôn giả Xiển-nộ nói với các Tỳ-kheo:

– Cứ nửa tháng lại nói những giới vụn vặt đó làm gì! Chỉ khiến cho các Tỳ-kheo buồn rầu, bối rối, không thể hành đạo.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo liền bạch Thế Tôn. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Vào ngày thuyết giới, Tỳ-kheo nào nói rằng: “Cứ nửa tháng lại nói những giới vụn vặt đó làm gì”, vì khinh chê giới thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo chặt cây làm giường. Thần cây tức giận, đến nói với Tỳ-kheo hành mười hai pháp rằng:

– Nhà tôi đang ở đã bị chặt phá sạch.

Các Tỳ-kheo đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Có thần nương ở rễ cây, có thần nương ở cành cây, có thần nương ở bên trong nhánh cây, có thần nương bên trong vỏ cây, có thần nương ở chỗ nứt trên vỏ cây, có thần nương ở nụ hoa, có thần nương ở lá cây, có thần nương ở hoa đã nở, có thần nương nơi quả… Tất cả cây cỏ đều có thần. Lý do thần nương nơi đó là để thọ hưởng mùi hương của nó. Tỳ-kheo nào tự chặt cây, hoặc dạy người chặt thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thường tranh cãi với nhóm mười bảy Tỳ-kheo. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo không thể chịu đựng được, lập tức nổi sân. Nghe vậy, các Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào nổi sân thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo quấy nhiễu, kích động các Tỳ-kheo ở A-lan-nhã:

– Các thầy đã đắc sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, tu phạm hạnh, chấm dứt sanh tử.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào kích động làm người khác nổi sân thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo bày ghế, giường, chiếu, gối ở đất trống, ngồi nói chuyện rồi đứng dậy bỏ đi. Lúc ấy trời mưa to, ướt hết tọa cụ, giường, chiếu, gối… Thấy vậy, các trưởng giả nổi giận nói với nhau:

– Chúng ta giảm bớt phần của con cháu để cúng cho chúng Tăng. Thế mà các Tỳ-kheo không biết xấu hổ khi nhận của tín thí đã để cho mưa làm mục nát.

Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào bày giường, chiếu, gối… ở đất trống để ngồi hoặc nằm, khi đứng dậy không chịu dọn cất, không dạy người khác dọn cất thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo bày ngọa cụ ở trong phòng. Sau khi đi không chịu dọn ất, làm ngọa cụ bị trùng ăn hư nát. Các trưởng giả vào phòng thấy vậy liền nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này nằm ngủ rồi không chịu dọn cất ngọa cụ để trung mối ăn hư nát.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo hành mười hai pháp đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào bày tọa cụ, ngọa cụ của chúng Tăng ở trong phòng để ngồi hoặc nằm, sau khi đứng dậy không tự dọn cất hoặc bảo người dọn cất thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy tôn giả Da-xá dẫn năm trăm đệ tử đi từ Câu-tát-la đến nước Xá-vệ. Nhóm sáu Tỳ-kheo nói với nhau:

– Chúng ta hãy tránh một lát để các Tỳ-kheo quét dọn phòng ốc, trải tọa cụ xong, chúng ta sẽ đến hỏi tuổi tác, họ sẽ nói họ bao nhiêu tuổi, chúng ta sẽ nói chúng ta lớn hơn và bảo họ ra khỏi phòng. Nếu họ không ra thì chúng ta sẽ cưỡng ép họ ra.

Khi ấy, các Tỳ-kheo đã quét dọn phòng ốc, trải tọa cụ, họ liền đến hỏi:

– Thầy bao nhiêu tuổi?

Ðáp: Tôi chừng đó tuổi.

Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:

– Tôi lớn tuổi hơn. Các thầy hãy đi đi, không được ở đây.

Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào giả vờ sân hận đuổi Tỳ-kheo khác ra khỏi phòng, hoặc sai người đuổi thì phạm đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Vào ban đêm có nhiều Tỳ-kheo trải tọa cụ ở trước giảng đường để tọa thiền hoặc nằm nghỉ. Ca-lưu-đà-di đến sau cũng trải tọa cụ để nằm. Ca-lưu-đà-di giả vờ nói sảng, thở gằn, ngáy, kêu la, quơ tay chân loạn xạ làm phiền nhiễu các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đang tọa thiền không trụ thiền được, đều thu tọa cụ tránh đi nới khác.

Nghe việc ấy, các Tỳ-kheo hành mười hai pháp liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào, ở trong phòng đã có trải sẵn ngọa cụ, mình đến sau, lại cưỡng ép trải thêm tọa cụ và nghĩ rằng: “Nếu không ưa ta thì họ sẽ tự động đi ra”, đồng thời gây rối loạn, phiền hà các Tỳ-kheo thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt.

Lúc ấy có căn gác mới được tạo thành, trên gác có đặt một chiếc giường chân nhọn. Dưới gác có Tỳ-kheo đang tọa thiền. Thích tử Bạt-nan-đà ở trên gác buông mình ngồi phịch xuống giường làm chân giường đâm xuyên qua sàn gác rơi xuống đất làm tét đầu Tỳ-kheo đang tọa thiền, vị ấy kêu la thất thanh. Các Tỳ-kheo chạy đến hỏi:

– Vì sao đầu thầy bị tét?

Tỳ-kheo ấy trình bày đầy đủ lý do. Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch với Phật. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào buông mình nằm hoặc ngồi phịch xuống giường có chân nhọn đặt ở trên gác thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành La-duyệt.

Tôn giả Xiển-nô lấy nước có trùng rưới lên đất bùn. Các Tỳ-kheo bảo Xiển-nô:

– Thầy không được đổ nước có trùng lên đất bùn.

Xiển-nô bướng bỉnh không chịu nghe lời can gián. Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào biết nước có trùng mà rưới lên đất, hoặc dạy người rưới, hoặc tự trộn với bùn, hoặc dạy người trộn thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một Tỳ-kheo vô tri nhận của đàn-việt trăm ngàn lượng vàng làm giảng đường lớn. Một ngày nọ, ông ấy cho trét nhiều lớp bùn trên nóc nhà nên ngay đêm ấy căn nhà bị sụp đổ. Nghe tin ấy, vị trưởng giả rất buồn rầu và kinh ngạc, nghĩ rằng: “Tốn bao nhiêu đó tiền mà rốt cuộc không thành giảng đường”.

Ông ấy liền đến bạch Phật. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, đủ mười công đức để kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào làm giảng đường lớn, trước tiên phải làm ngưỡng cửa, cửa sổ cho ánh sáng mặt trời chiếu vào, dùng bùn đất mịn trét lên ba lớp (lại lấy cỏ phủ lên). Nếu quá ba lớp thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo chưa đến lượt thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni nhưng tự đến thuyết pháp. Nghe vậy, các Tỳ-kheo hành mười hai pháp liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào chưa được Tăng sai mà tự đi thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Các Tỳ-kheo theo thứ lớp thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni. Ðến lượt tôn giả Nan-đà, vị ấy không chịu đi. Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di dẫn năm trăm Tỳ-kheo ni đến chỗ Như Lai, đảnh lễ sát đất rồi đứng qua một phía. Thế Tôn liền nói cho Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo ni nghe pháp vi diệu. Thuyết pháp xong, Thế Tôn nói:

– Ðã đến giờ, hãy trở về đi.

Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo ni đảnh lễ sát đất, nhiễu ba vòng theo chiều phải rồi ra đi.

Khi họ đi được một lát, Thế Tôn quay lại hỏi A-Nan:

– Lần này đến lượt ai thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni?

A-Nan bạch Phật:

– Chúng Tăng đã đi giáp vòng, nay đến lượt Nan-đà, nhưng thầy ấy không chịu đi.

Lúc ấy, Nan-đà cũng đang ở trong giảng đường. Thế Tôn bảo Nan-đà:

– Ông phải đến thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni. Vì sao vậy? – Việc thuyết pháp của Ta và việc thuyết pháp của ông có gì khác nhau đâu?

Nghe Phật dạy, Nan-đà im lặng vâng lời.

Vào sáng sớm, tôn giả Nan-đà đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong, vị ấy đi ra khỏi thành, cất y bát, vắt tọa cụ lên vai, vào phòng ngồi thiền.

Nghe tin đến lượt Na-đà thuyết pháp, các Tỳ-kheo ni nói với nhau:

– Nan-đà học một bài kệ suốt bốn tháng hạ không thuộc thì làm sao nói pháp cho Tỳ-kheo ni nghe được?

Nan-đà ra khỏi phòng, trải tọa cụ trước sân, ngồi kiết già.

Lúc ấy, Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo ni đến chỗ Nan-đà, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Tôn giả Nan-đà liền nhập thiền, dùng sức tam muội biến mất ở phía Ðông và vọt lên ở phía Tây, biến mất ở phía Tây vọt lên ở phía Ðông, ngồi nằm trên hư không, thân phóng ra các loại ánh sáng xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc màu lưu ly; dưới thân phun lửa, trên thân phun nước; trên thân phát lửa, dưới thân phun nước… biến hóa đủ cách như vậy rồi trở về ngồi kiết-già trên tòa.

Nan-đà bảo các Tỳ-kheo ni:

– Ta nói pháp, cá cô hãy chú ý lắng nghe.

Này các cô, mắt là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu vô thường, vậy khổ hay không khổ?

Ðáp:

– Là khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi, vậy bậc kiến đế có nói rằng đó là của ta hay chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà lại hỏi:

– Này các cô, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là vô thường, vậy là khổ hay vui?

Ðáp:

– Là khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi, vậy có bậc kiến đến ào nói rằng đó là của ta hoặc chẳng phải của ta không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà nói:

– Vì sao vậy? Như những bậc kiến đế với trí tuệ biết mắt là vô thường, sự khổ vui của nhãn thức cũng vô thường. Cũng vậy, như tai, mũi, lưỡi, thân, tâm vô thường, sự khổ vui, không khổ, không vui của nhĩ thức….. ý thức cũng vô thường.

Lành thay, này các cô! Như lời các cô nói: mắt vô thường, sự khổ vui mà mắt cảm nhận cũng vô thường. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm vô thường, sự khổ vui, không khổ, không vui do nhĩ thức…. ý thức cảm nhận cũng vô thường.

Này các cô! Do mắt mà có thức, vậy nhãn thức ấy là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là vô thường, vậy là khổ hay vui?

Ðáp:

– Là khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi, vậy bậc kiến đế có nói rằng đó là của ta hay chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà hỏi:

– Do tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà có thức phát sanh, vậy nhĩ thức,… ý thức là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là vô thường, vậy là khổ hay vui?

Ðáp:

– Là khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi, vậy bậc kiến đế có nói rằng đó là của ta hoặc chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà nói:

– Vì sao vậy? – Như bậc kiến đế với trí tuệ biết mắt vô thường, sắc trần vô thường, khổ vui do nhãn thức phát sanh cũng vô thường. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm thức vô thường. Sự khổ vui, không khổ, không vui do tâm thức làm duyên phát sanh ra cũng vô thường.

Lành thay! Lành thay! Này các cô, như các cô đã nói: mắt vô thường, sắc do nhãn thức nhận biết cũng vô thường. Sự khổ vui, không khổ, không vui do nhãn thức làm duyên sanh ra cũng vô thường. Tai, mũi, lưỡi, thân, tâm và pháp do tâm thức nhận biết được cũng vô thường. Sự khổ vui, không khổ, không vui do tâm thức làm duyên sanh ra cũng vô thường.

Này các cô, mắt làm duyên cho sắc, sắc làm duyên cho thức. Ba pháp ấy hợp lại nên có xúc. Này các cô, xúc ấy là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là vô thường, vậy là khổ hay vui?

Ðáp:

– Là khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi thì bậc kiến đế có nói rằng: đó là của ta hoặc chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà hỏi:

– Như vậy, xúc do tai, mũi, lưỡi, thân, tâm đối với pháp và tâm thức làm duyên tạo ra thì xúc ấy là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là vô thường, vậy khổ hay vui?

Ðáp:

– Khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi, vậy bậc kiến đế có nói rằng: đó là của ta hoặc chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà nói:

– Vì sao vậy? – Như bậc kiến đế với trí tuệ thấy mắt vô thường, sắc do mắt nhận biết, nhãn thức, sự xúc chạm, sự khổ vui, không khổ, không vui do nhãn xúc làm duyên sanh ra cũng vô thường. Như vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, pháp, tâm thức làm duyên sanh xúc thì sự xúc chạm, sự khổ vui,, không khổ không vui do sự xúc chạm ấy phát sanh ra cũng vô thường.

Lành thay, này các cô! Như lời các cô nói: mắt vô thường, sắc, nhãn xúc, nhãn thức làm duyên sanh ra xúc, khởi ra tưởng khổ vui, không khổ, không vui cũng vô thường. Như vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, pháp, tâm thức làm duyên sanh xúc, khởi ra tưởng khổ vui, không khổ, không vui cũng vô thường.

Này các cô! Mắt là duyên của sắc, sắc là duyên của thức. ba pháp ấy hợp thành xúc. Xúc làm duyên cho thọ. Cảm thọ do xúc phát sanh ấy là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu vô thường, vậy là khổ hay vui.

Ðáp:

– Khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi thì bậc kiến đế có nói rằng: đó là cảu ta hay chẳng phải của ta không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà hỏi:

– Như vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, pháp, tâm thức àm duyên phát sanh ra xúc, xúc làm duyên phát sanh thọ, thì thọ ấy là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là vô thường, vậy là khổ hay vui?

Ðáp:

– Khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi thì bậc kiến đế có nói rằng: đó là của ta hoặc chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà nói:

– Vì sao vậy? – Như bậc kiến đế với trí tuệ thấy mắt vô thường, sắc do nhãn thức nhận biết, nhãn thức, xúc chạm của mắt, sự cảm thọ do nhãn xúc phát sanh, tưởng do cảm thọ phát sanh, sự khổ vui, không không khổ, không vui do thọ phát sanh cũng đều vô thường. Như vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, pháp do tâm nhận biết, tâm thức, xúc chạm do tâm sanh, thọ do sự xúc chạm của tâm sanh cũng đều vô thường, tưởng do thọ phát sanh, sự khổ vui, không khổ, không vui do thọ ấy phát sanh cũng đều vô thường.

Lành thay! Này các cô! Như lời các cô nói: mắt vô thường, sắc do nhãn thức nhận biết, nhãn thức, sự xúc chạm của mắt, cảm thọ do nhãn xúc phát sanh, sự khổ vui, không khổ, không vui do thọ phát sanh cũng vô thường. Như vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, pháp được tâm nhận biết, tâm thức; xúc chạm do tâm sanh; thọ do tâm xúc chạm pháp phát sanh; sự khổ vui, không khổ, không vui do thọ làm duyên phát sanh cũng vô thường.

Này các cô! Mắt là duyên của sắc, sắc là duyên của thức, thức là duyên của xúc, xúc là duyên của thọ, thọ là duyên của ái. Ái do mắt phát sanh là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là vô thường, vậy là khổ hay vui?

Ðáp:

– Là khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi, vậy người đã thấy được hơn lý có nói rằng: đó là của ta hay chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà nói:

– Như vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, pháp do tâm nhận biết, tâm thức, sự xúc chạm của tâm, thọ do tâm xúc chạm phát sanh, ái do cảm thọ ấy phát sanh, vậy ái đó là thường hay vô thường?

Ðáp:

– Vô thường.

Nan-đà nói:

– Nếu là vô thường, vậy khổ hay vui?

Ðáp:

– Là khổ.

Nan-đà hỏi:

– Nếu là pháp vô thường, khổ, biến đổi thì người thấy chơn lý có nói rằng: đó là của ta hoặc chẳng phải của ta hay không?

Ðáp:

– Không, thưa thôn giả.

Nan-đà nói:

– Vì sao vậy! – Như bậc thấy chơn lý quán thấy các pháp tự sanh, các pháp tự diệt.

Lành thay, này các cô! Các pháp ấy tự sanh, các pháp ấy tự diệt. Như vậy, này các cô! Sự khổ vui, không khổ, không vui do sáu tình làm duyên phát sanh ra cũng lại vô thường.

Này các cô! Giống như người mổ trâu – hoặc học trò của ông ta -cầm dao bén giết trâu, lột da, lấy gân, thịt, cắt thành từng miếng rồi đem bỏ ở một chỗ, lại lấy da ấy phủ lên, thì này các cô, đống thịt da ấy có thành con trâu trở lại không?

Tỳ-kheo ni đáp:

– Không, thưa tôn giả.

Nan-đà nói:

– Vì sao vậy? – Trâu đã bị cắt xẻ thì không thể trở lại giống như cũ. Lý do tôi đưa ra ví dụ này là để giải thích ý nghĩa này.

Này các cô! Trâu là dụ cho sáu căn sum họp, nhân đó phát sanh tưởng cho là khổ vui, không khổ, không vui, thường trụ, không diệt, là pháp không biến đổi. Ai thấy được như vậy thì có thể đắc đạo. Vì sao vậy? – Như bậc kiến đế không lệ thuộc các pháp khi thấy các pháp sanh và diệt. Lý do đưa ra ví dụ này là để quán sát sự nhóm họp của ý. áu căn không khác con trâu, sáu trần chính là giống như gân, thịt… Dao bén chính là trí tuệ. Vì sao vậy?

Này các cô! Ðao trí tuệ có thể chặt đứt tất cả dây trói sanh tử, không còn sanh lại nơi này nơi kia.

Lành thay, này các cô! Các cô phải học như vậy, không dính mắc vào các pháp dễ dính mắc, phải muốn dứt bỏ các pháp ràng buộc, tâm không chạy theo sân hận, ngu si. Kế đó phải học bốn ý chỉ, bảy giác ý, tám thánh đạo, tám cửa giải thoát.

Này các cô! Các vị Như Lai Ðẳng Chánh Giác đều từ các pháp ấy mà ra. Vô số pháp lành đều từ ba mươi bảy phẩm phát sanh ra. Phải thường trau dồi thân tâm theo các pháp ấy, đừng cho gián đoạn,

Lúc Nan-đà nói pháp ấy, năm trăm Tỳ-kheo ni đắc đạo A-la-hán.

Lúc mới xem biến hóa, hai trăm năm mươi Tỳ-kheo ni đắc đạo A-la-hán..

Vào thời Phật Ca-diếp, hai trăm năm mươi Tỳ-kheo ni ấy đã nghe pháp này,nay lại nghe pháp ấy, liền được chứng quả.

Nan-đà nói:

– Ðến giờ rồi, các cô hãy về đi.

Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo nliền đảnh lễ sát đất rồi ra về.

Sáng hôm sau, Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo đắp y mang bát đến chỗ Như Lai, đản lễ sát đất rồi lui lại đứng qua một phía. Thế Tôn quan sát và thấy các Tỳ-kheo ni đều đã đắc đạo.

Phật bảo các Tỳ-kheo ni:

– Ðến giờ rồi, hãy trở về đi.

Các Tỳ-kheo ni liền đảnh lễ rồi trở về.

Thế Tôn bảo Nan-đà:

– Này mai hãy thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni nghe lần nữa.

Nan-đà im lặng vâng lời.

Ngày hôm sau, Nan-đà đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong, vị ấy trở ra ngoài thành, cất y bát, rửa tay chân, vắt tọa cụ lên vai, vào phòng ngồi thiền, sau đó ra khỏi phòng, trải tọa cụ trước giảng đường, ngồi kiết-già.

Ðái Ái Ðạo Cù-đàm-di dẫn năm trăm Tỳ-kheo ni dến chỗ Nan-đà, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía. Tôn giả Nan-đà giảng cho họ nghe các loại pháp vi diệu. Thuyết pháp xong, Nan-đà nói:

– Ðến giờ rồi, các cô hãy về đi.

Các Tỳ-kheo ni liền đảnh lễ sát đất rồi ra về.

Lúc ấy mặt trời đã lặn, cửa thành đã đóng. Các Tỳ-kheo ni hoặc nghỉ đêm dưới gốc cây, hoặc nghỉ đêm cạnh núi đất, hoặc trên bờ sông, bờ ao, hoặc trên bờ suối, hoặc nghỉ trên hào nước đào quanh thành.

Sáng hôm sau, khi cửa thành mở, các Tỳ-kheo ni vào thành. Nhưng người giữ thành nói với nhau:

– Các Tỳ-kheo ni là vợ của các Sa-môn nên ngủ đêm chung với nhau ở ngoài thành và sáng sớm thì vào trở lại.

Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp nghe vậy liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo theo thứ lớp thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni,k được thuyết giảng đến tối mới cho về. Ai thuyết giảng đến tối thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo đi chung đường với Tỳ-kheo ni. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Các Sa-môn Thích tử này đi chung đường với các Tỳ-kheo ni, chắc các cô ấy là vợ của Sa-môn. Nếu chẳng phải vợ thì vì sao đi chung đường?

Nghe vậy, các Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đi chung đường với Tỳ-kheo ni từ một thôn đến một thôn thì pạm tội đọa. Trường hợp có thể đi chung là đi với lái buôn, hoặc phía trước có hổ, sói, giặc cướp… thì được đi chung.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo đi từ nước Câu-tát-la đến Xá-vệ. Khi đó muốn qua sông A-chỉ-la thì phải đi thuyền. Nhóm sáu Tỳ-kheo đi thuyền chung với các Tỳ-kheo ni, hoặc chèo ngược dòng, hoặc chèo xuôi dòng, cho đến khi mặt trời lặn mới chịu qua sông rồi mạnh ai nấy đi.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo ni bị giặc cướp, liền đem việc đó bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đi cùng thuyền với Tỳ-kheo ni, hoặc đi ngược dòng, hoặc đi xuôi dòng, trừ khi đi ngang, thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy Ca-lưu-đà-di cho Tỳ-kheo ni Quật-đa tấm y. Các Tỳ-kheo ni hỏi:

– Do đâu mà được y này?

Ðáp:

– Ca-lưu-đà-di cho.

Các Tỳ-kheo ni đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đem y cho Tỳ-kheo ni chẳng phải bà con thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy Ca-lưu-đà-di sai Tỳ-kheo ni Quật-đa may y. Các Tỳ-kheo ni hỏi:

– Cô may y cho ai?

Ðáp:

– May y cho Ca-lưu-đà-di.

Các Tỳ-kheo ni không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào sai Tỳ-kheo ni chẳng phải bà con may y thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Câp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Ca-lưu-đà-di cùng Tỳ-kheo ni Quật-đa ngồi ở chỗ kín. Thấy vậy, các Tỳ-kheo ni đến bạch Thế Tôn, Phật liền chế giới:

– Tỳ-kheo nào ngồi một mình với Tỳ-kheo ni tại chỗ kín thì phạm tội đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy Ca-lưu-đà-di cùng Ưu-bà-di Phật-đa ngồi nơi đất trống. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Vì sao Sa-môn Thích tử lại cùng ngời nữ ngồi nơi đất trống?

Nghe vậy, các Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn liền chế giới:

– Tỳ-kheo nào ngồi một mình với người nữ tại nơi đất trống thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một Ưu-bà-di thỉnh Ma-ha Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-na-luật. Lúc ấy vợ trưởng giả soạn đủ loại đồ ăn uống, bày tọa cụ đẹp. Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà vốn đã quen biết với vợ trưởng giả, vào sáng sớm, cô ấy đắp y mang bát đến nhà trưởng giả đó. Thấy vợ trưởng giả soạn đủ loại đồ ăn uống và bày tọa cụ đẹp, cô ấy liền hỏi vợ trưởng giả:

– Ðịnh thỉnh ai mà làm đủ món đồ ăn uống ngon lành và trải tọa cụ vậy?

Vợ trưởng giả đáp:

– Thỉnh Ma-ha Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-na-luật.

Tỳ-kheo ni nói:

– Bỏ voi lớn mà đi thỉnh la lừa.

Vợ trưởng giả hỏi:

– Ai là voi lớn?

Tỳ-kheo ni đáp:

– Tôn giả Ðiều-đạt, Khiên-đà-đạt, Bà-ca-lưu-la, Ðề-thi-tam-văn, Ðà-hệ-đầu. Ðó là các bậc thượng nhân.

Ca-diếp là vị vào nhà trước tiên.

Thấy trưởng giả vào, Tỳ-kheo ni nói với vợ trưởng giả:

– Lành thay, này Ưu-đà-di! Bậc được gọi là voi lớn đã đến.

Các trưởng giả đều nghe lời này, liền nói rằng:

– Này Tỳ-kheo ni xấu xa! Lúc nãy nói vị ấy là la, lừa, sao giờ lại nói là voi lớn? Hãy đuổi Tỳ-kheo ni xấu xa ấy đi đi, đừng cho vào nhà trở lại nữa.

Thấy tôn giả đã ngồi yên, trưởng giả liền tự đi dâng nước, bày các loại đồ ăn uống. Ăn uống xong, trưởng giả lại đi dâng nước, rồi ngồi ở một phía để nghe lời chúc phúc. Sau khi nói lời chúc phúc xong, Ma-ha Ca-diếp liền đứng dậy, đến chỗ Như Lai đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía, đem việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn.

Nhân việ ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới hco Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào biết Tỳ-kheo ni khen một Tỳ-kheo này, chê một Tỳ-kheo khác mà đến đó dùng cơm thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương-xá.

Lúc ấy, nhân dân đói kém, khất thực khó được. Các trưởng giả hoặc thỉnh một Tỳ-kheo, hoặc thỉnh hai Tỳ-kheo. Những người không được thỉnh cũng đi theo bốn hoặc năm người. Thấy vậy các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử không biết đủ, không biết xấu hổ, thỉnh một người mà năm ba người kéo đến.

Nghe vậy, Tỳ-kheo hành lười hai pháp đến bạch với Thế Tôn, Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào không thỉnh mà tự đến thì phạm tội đọa, trừ khi có việc cần, bệnh, hoặc làm việc cho Tăng, hoặc may y thì được phép tự đến thọ thực.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Ở biên giới Câu-tát-la có một trưởng giả xây dựng nhà dành cho Tăng bốn phương. Nếu có Tỳ-kheo đến thì được ở và thọ thực một ngày.

Tôn giả Xá-lợi-phất mắc bệnh phải đi từ nước Câu-tát-la đến nước Xá-vệ, ngang qua nhà Tăng này, nghỉ và ăn ở đó ba đêm. Sau đó, Xá-lợi-phất lên đường đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc ở nước Xá-vệ, liền hoài nghi không biết mình có ăn quá phần thức ăn dành cho Tăng bốn phương hay không, nên liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào không bệnh thì được phép ở và thọ thực một đêm. Nếu thọ thực nhiều hơn thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có nhiều Tỳ-kheo đi từ Câu-tát-la đến nước Xá-vệ, giữa đường có trưởng giả cúng dường cơm và nhiều bơ, cao, sữa. Nhóm sáu Tỳ-kheo nhận đầy hai, ba bát. Các Tỳ-kheo đi sau không được nhận. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này nhận chồng chất hai, ba bát; còn các Tỳ-kheo đi sau thì không được nhận.

Các Tỳ-kheo liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào được thỉnh vào nhà, trưởng giả dọn thức ăn ngon chứa đầy bơ, cao, sữa thì không được nhận hai ba bát. nếu phạm thì mắc tội đọa. Nếu nhận hai ba bát thì khi ra khỏi nhà ấy phải phân chia cho các Tỳ-kheo không được nhận.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nước Xá-vệ có một trưởng giả bị tiêu gia bại sản, chỉ còn cóm ột cậu con trai nhỏ tuổi nối dõi. Cậu con trai này nghe nói cúng dường Phật và chúng Tăng thì được sanh lên tầng trời thứ nhì ở cõi trời Tam thập tam nên liền suy nghĩ: “Ta phải dùng hết sức lực kiếm tiền của để cúng dường Phật và chúng Tăng”.

Cậu ấy liền đến nhà bên cạnh nói với trưởng giả rằng:

– Tôi muốn làm thuê, có được không?

Trưởng giả đáp:

– Cậu cần vật gì?

Cậu thiếu niên nói:

– Cho tôi năm trăm lượng vàng, tôi sẽ đem hết sức ra phục vụ ngài.

Trưởng giả suy nghĩ: “Lúc này đói kém, khất thực khó được. Xin một bữa cơm còn không được, huống là bấy nhiêu lượng vàng”.

Trưởng giả hỏi:

– Cậu có thể làm được những việc gì?

Cậu thiếu niên đáp:

– Có thể ngồi bán vàng, bạc, đồng, thiếc, tơ lụa vải vóc… Tôi không nhận tiền công liền bây giờ. Ðợi làm đủ mười tháng rồi sẽ nhận.

Trưởng giả suy nghĩ: “Có người đòi tiền công trước, sau đó mới làm mướn. Cậu bé này lại làm mướn trước rồi mới lấy tiền công sau”.

Trưởng giả liền cho cậu ấy trông coi việc bán vàng bạc.

Cậu ấy vốn có phước đức. Người thường bán hàng được lời gấp đôi, còn cậu ấy bán thì lời gấp tám, gấp mười. Trưởng giả suy nghĩ: “Có được cậu bé này đó là sự may mắn của ta. Người thường ngồi bán chỉ lời gấp đôi, cậu bé này ngồi bán thì lới gấp tám, gấp mười”.

Kế đó, trưởng giả cho cậu ấy trông coi tiệm bán đồng, thiếc, vải vóc tơ lụa… thì đều được lợi như vậy. Trưởng giả lại cho cậu ấy trông coi ruộng vườn. Người thường gieo trồng, cày cấy chỉ được lời gấp đôi, cậu ấy thì lời gấp tám, gấp mười.

Kỳ hạn mười tháng chấm dứt, cậu ấy liền gặp trưởng giả xin tiền công. Trưởng giả không muốn đưa vì sợ nếu đưa thì cậu ấy sẽ ra đi. Cậu ấy lại đòi thêm hai, ba lần nữa:

– Xin hãy trả tiền công cho tôi.

Trưởng giả hỏi:

– Cậu dùng số vàng này làm những việc gì?

Cậu thiếu niên đáp:

– Tôi nghe nói dâng cơm cho Phật và Tăng thì được sanh lên cõi trời thứ Ba mươi ba. Vì vậy tôi làm mướn để kiếm tiền dâng cơm cho Phật và Tăng. Xin ông hãy giao cho tôi.

Trưởng giả suy nghĩ: “Thật lạ! Cậu bé này đã làm việc rất siêng năng là vì Phật và chúng Tăng”.

Trưởng giả hỏi:

– Cậu định cúng dường cơm cho Phật hay sao?

Ðáp:

– Dâng cơm cho Phật.

Trưởng giả nói:

– Ở đây đã có sẵn củi, cỏ, nồi, bếp, chén, bát và nhân lực. Hãy cúng Phật và Tăng ở đây để cả hai người đều được phước.

Cậu thiếu niên đáp:

– Như vậy cũng được.

Trưởng giả nói:

– Ông hãy tự đến thỉnh Phật và chúng Tăng.

Cậu ấy liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Thế Tôn liền thuyết pháp cho cậu ấy. Thuyết pháp xong, Thế Tôn im lặng. Cậu thiếu niên liền đứng dậy sửa áo bày vai phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Con muốn cúng dường, xin Phật và chúng Tăng hạ cố đến thọ nhận.

Thế Tôn im lặng nhận lời.

Thấy Như Lai im lặng chấp nhận, cậu thiếu niên liền đứng dậy đảnh lễ sát đất rồi ra về.

Ngay đêm ấy, cậu thiếu niên chuẩn bị các loại thức ăn, trải các tọa cụ đẹp, rồi đến bạch Thế Tôn:

– Ðồ ăn uống đã được chuẩn bị xong, đã đến giờ, xin thỉnh Thế Tôn đi thọ thực.

Thế Tôn cho chúng Tăng đi thọ thực, còn Thế Tôn ở lại tịnh xá đợi thị giả mang cơm về.

Chúng Tăng đến nhà trưởng giả và ngồi theo thứ lớp. Khi chúng Tăng đã ngồi yên, cậu ấy liền đich thân đi rót nước, dọn các loại đồ ăn. Hôm đó là ngày mồng tám. Vào ngày này, ở nơi đó có tục lệ cúng thức ăn cho những người đã quá cố, phàn còn lại họ đem cúng cho chúng Tăng. Các Tỳ-kheo ăn thức ăn ấy đã no nên khi đến nhà cậu ấy họ chỉ ăn qua loa rồi đồng thanh bảo người dọn thức ăn hãy dọn xuống.

Thấy đồ ăn uống còn nguyên vẹn, cậu thiếu niên suy nghĩ: “Tỳ-kheo Tăng không ăn, chắc ta không được sanh lên cõi trời Tam thập tam”. Cậu ấy liền khóc than và chạy đến chỗ Như Lai, bạch Thế Tôn rằng:

– Chúng Tăng chỉ ăn qua loa, con không được sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Thế Tôn bảo:

– Chỉ cần ông cúng chút ít thức ăn thì chắc chắn sẽ được sanh lên cõi trời Ba mươi ba, không còn nghi ngờ.

Cậu thiếu niên suy nghĩ: “Như Lai dùng lưỡi dài rộng để nói thì chắc chắn ta được sanh lên trời Tam thập tam”. Cậu ấy hết sức vui mừng, không thể tự kềm chế, liền đảnh lễ sát đất, nhiễu Phật ba vòng rồi đi đến chỗ chúng Tăng.

Khi chúng Tăng ăn xong, cậu ấy lại đi rót nước rồi quỳ phía trước nhận lời chú nguyện. Vị Thượng tọa chú nguyện xong, liền cùng chúng Tăng ra về.

Ngay hôm ấy có năm trăm lái buôn vào biển trở về. Người cầm đầu vào thành tìm thức ăn. Ông ta hỏi người đi đường:

– Nhà nào có bán thức ăn?

Người đi đường đáp:

– Nhà trưởng giả ấy hôm nay cúng dường cơm cho Phật và chúng Tăng, chắc là có đồ ăn uống.

Người cầm đầu liền đến nhà ấy, bảo người giữ cửa rằng:

– Nhờ anh vào thưa với trưởng giả, bên ngoài có người cầm đầu những người vào biển muốn gặp.

Người giữ cửa liền vào thưa trưởng giả. Trưởng giả liền ra đón, thăm hỏi nhau rồi dẫn vào trong nhà. Ngồi chơi được một lát, người lái buôn hỏi trưởng giả:

– Anh còn đồ ăn uống xin hãy bán cho tôi.

Lúc ấy, cậu thiếu niên đang ngồi ở một bên. Trưởng giả chỉ cậu ấy mà nói:

– Ðó chẳng phải là thức ăn của tôi mà là thức ăn của đàn-việt này.

Lái buôn lại hỏi cậu ấy:

– Có thức ăn xin hãy để lại cho tôi, tôi sẽ gởi tiền cho.

Ðáp:

– Thức ăn ấy tôi không bán, Nếu cần thì mời ngồi vào, tôi sẽ đãi chứ không lấy tiền.

Lái buôn liền gọi các lái buôn bạn vào ngồi. Cậu thiếu niên tự tay rót nước, dọn các loại thức ăn. Khi các lái buôn ăn xong, cậu ấy trở về chỗ ngồi. Cách chỗ cậu ấy không xa có chiếc bát bằng mã-não Câu-tát-la, người cầm đầu nhóm nói với các lái buôn:

– Thiếu niên ấy đã đãi cơm cho chúng ta ăn no nê, chúng ta phải cùng báo ân cậu ấy.

Các thương nhân đều cho là phải. Người cầm đầu bảo cậu ấy:

– Nhờ cậu đem chiếc bát kia lại đây.

Cậu ấy liền đem chiếc bát lại. Người cầm đầu liền mở khăn lấy viên ngọc trị giá trăm ngàn lượng vàng đặt vào bát. Các thương nhân khác đặt vào bát các viên ngọc trị giá chín mươi ngàn lượng vàng, hoặc tám mươi, bảy mươi, sáu mươi, năm mươi, bốn mươi, ba mươi, hai mươi, cho đến mười ngàn lượng vàng đầy tràn bát. Họ đem bát ấy biếu cho cậu thiếu niên. Cậu thiếu niên không nhận và nói rằng:

– Chút ít thức ăn tôi không bán mà chỉ đãi cho các vị.

Người cầm đầu nói:

– Số ngọc này có giá nhiều gấp trăm ngàn vạn lần giá của thức ăn ấy, chúng tôi muốn tặng cho cậu. Xin đừng từ chối.

Cậu ấy liền suy nghĩ: “Nếu ta nhận số ngọc này thì sợ rằng sẽ không được sanh lên cõi trời Ba mươi ba”. Cậu ấy nói:

– Ðợi ở đây một lát để tôi đến hỏi Thế Tôn”.

Cậu ấy liền trở lại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía, đem việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Ông cứ việc nhận đi. Ðó chỉ là hoa báo. Thật báo sẽ đến sau.

Cậu ấy hết sức vui mừng, không thể kềm chế được, liền đảnh lễ sát đất rồi ra đi. Một lát sau, Phật kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào đã nhận thọ thực rồi lại đi thọ thực chỗ khác nữa thì phạm tội đọa.

Lúc ấy trưởng giả đến gặp người vợ, nói rằng:

Nhà cửa, dòng họ của cậu thiếu niên này không thua gì dòng họ ta, giá của một viên ngọc cũng bằng giá ruộng vườn của ta. Ta hãy gả con gái cho cậu ấy.

Người vợ nói:

– Tốt quá.

Họ liền gả con gái cho cậu thiếu niên. Ðột nhiên vợ chồng trưởng giả đều qua đời. Nghe tin trưởng giả ấy chết, vua Ba-tư-nặc hỏi cận thần:

– Ông ấy còn anh em, con cái gì không?

Ðáp:

– Không, chỉ còn một cô con gái và người chồng của cô ấy.

Vua ra lệnh mời họ đến. Họ liền được mời đến. Thấy dung mạo cậu ấy, vua rất vui và kính mến, liền phong cho một ngàn nhà và trông coi khắp thành. Khi mặt trời mọc, cậu ấy lên nhận chức vị nên có tên là Tướng quốc Mặt trời mọc.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc thành Xá-vệ. Các Tỳ-kheo đi từ thành Xá-vệ đến biên giới Câu-tát-la. Ðệ tử của Bạt-nan-đà – kết bạn đi chung với các Tỳ-kheo đến Câu-tát-la – đến từ giã Bạt-nan-đà:

– Hôm nay các Tỳ-kheo lên đường, con muốn đi chung.

Bạt-nan-đà nhớ lại nỗi bực mình lúc trước nên nói:

– Ông hãy nán lại một lát để thọ thực.

Dệ tử nói:

– Con đã ăn rồi.

Bạt-nan-đà nói:

– Ta biết ông đã ăn rồi nhưng ta muốn ông ăn nữa rồi đi.

Hai người nói chuyện không dứt. Các Tỳ-kheo đã đi hết. Ðệ tử của Bạt-nan-đà đi sau, không đuổi kịp bạn nên bị giặc cướp cướp sạch, liền đến bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn liền chế giới:

– Tỳ-kheo nào biết Tỳ-kheo khác đã ăn no mà cưỡng ép, khuyến khích ăn nữa thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, trưởng giả Thất-lê-quật thờ ngoại đạo và thường nghi ngờ không biết Thế Tôn là Phật hay chẳng phải Phật, là Pháp hay phi pháp, là chúng Tăng hay chẳng phải chúng Tăng. Ông ta nghĩ: “Ta phải bày đồ ăn và đến thỉnh Phật để thử xem”.

Ông ta liền đến chỗ Thế Tôn, vòng tay thăm hỏi rồi ngồi ở một phía. Thế Tôn nói cho ông ta nghe pháp vi diệu. Thuyết pháp xong,, Phật ngồi im lặng. Trưởng giả Thất-lê-quật bạch Phật rằng:

– Con muốn thỉnh Sa-môn Cù-đàm và chúng Tăng.

Phật im lặng chấp nhận.

Thất-lê-quật rời khỏi chỗ ngồi, vòng tay mà lui ra.

Về nhà, ở trong sân trước, ông cho đào hố đựng đầy lửa than, không có khói và ánh lửa, dùng một lớp cát mỏng che lên trên và suy nghĩ như vầy: “Sa-môn Cù-đàm có Nhất thiết trí, biết tất cả các việc chưa xảy ra, sẽ tự biết việc này. Nếu không có Nhất thiết trí thì ông ấy sẽ rơi vào lửa cùng với chúng Sa-môn”.

Ở nhà trên, ông ta bày giường dây không có dây buộc và trải tọa cụ ở bên trên để ngụy trang. Ông ta suy nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm có Nhất thiết trí sẽ tự biết. Nếu không có trí Nhất thiết trí thì sẽ cùng chúng Tăng rớt từ trên giường xuống đất và bị mọi người chê cười”.

Ông ta lại bày thứ ăn có thuốc độc và nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm có Nhất thiết trí thì sẽ tự biết. Nếu không có Nhất thiết trí sẽ ăn cơm này mà chết cùng với các Sa-môn”.

Ông ta liền đến bạch Phật:

– Thức ăn đã được dọn xong, đã đến giờ, xin thỉnh Phật và chúng Tăng thọ trai.

Thế Tôn đắp y mang bát cùng các Tỳ-kheo đến nhà Thất-lê-quật. Thế Tôn quay lại bảo A-nan:

– Ông đến bảo các Tỳ-kheo không được vào nhà Thất-lê-quật trước Như Lai.

A-Nan liền đi nói với các Tỳ-kheo:

– Không được vào nhà Thất-lê-quật trước Như Lai.

Khi chân Như Lai đạp lên hố lửa, hố lửa tự nhiên biến thành ao tắm, bên trong sanh các loại hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, chim le le, chim nhạn, uyên ương đua nhau hót líu lo.

Lúc ấy, Thế Tôn bước chân lên hoa sen vào nhà Thất-lê-quật. Hoa có màu lưu ly hoặc màu ngọc bích, Như Lai có màu vàng ròng, các màu đó hòa vào nhau thật đẹp. Giường dây giả tự nhiên biến thành giường châu báu.

Thấy hai việc biến hóa ấy, tâm ý trưởng giả liền được khai mở, ông ta chấp tay bạch Thế Tôn rằng:

– Thức ăn này có chất độc, xin chờ một lát, con sẽ dọn thức ăn ngon.

Thế Tôn bảo:

– Cứ dọn thức ăn này, không có gì đáng lo cả.

Thất-lê-quật tự đi rót nước, dọn các loại thức ăn.

Phật bảo A-Nan:

– Tất cả các Tỳ-kheo không được ăn ở đây, phải đến chỗ A-nậu-đạt.

Lúc ấy, Thế Tôn nói cho những người nam nữ của Thất-lê-quật nghe pháp bố thí, trì giới, tu thập thiện, sanh thiên; tham dâm thì đọa đường ác, xuất gia thì đắc đạo. Thế Tôn lại nói pháp khổ, tập, diệt,đạo. Thất-lê-quật liền chứng sơ quả, như tấm vải trắng dễ nhuộm màu. Thất-lê-quật đứng dậy, đảnh lễ sát đất và nói:

– Từ nay trở đi, con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, làm người Ưu-bà-tắc, suốt đời không sát sanh.

Thế Tôn và năm trăm A-la-hán đựng cơm đầy bát rồi nhập tam muội, từ cửa ngõ nhà Thất-lê-quật bay hết lên hư không, đến cung A-nậu-đạt. Biết Như Lai đến, A-nậu-đạt liền hóa ra năm trăm hoa sen lớn như bánh xe. Lại hóa ra một bông hoa hết sức vi diệu cho Như Lai ngồi. Năm trăm vị A-la-hán đều ngồi theo thứ lớp.

Như Lai cùng chúng Tăng gồm năm trăm A-la-hán thọ thực xong, liền giảng rộng kinh A-nậu-đạt. Sau đó, Như Lai cùng chúng Tăng nhập thiền, từ cung A-nậu-đạt trở về Kỳ-hoàn.

Nghe tin Phật và năm trăm A-la-hán nhận lời thỉnh của Thất-lê-quật, đến A-nậu-đạt thọ thực, giảng rộng kinh A-nậu-đạt, nay đã trở lại Xá-vệ, Tỳ-xá-khư – mẹ của Vô-di-la – suy nghĩ: “Ta phải thỉnh Phật và năm trăm A-la-hán”.

Bà ấy liền đến chỗ Như Lai đảnh lễ sát đất và đứng qua một phía. Thế Tôn liền thuyết pháp cho Tỳ-xá-khư nghe. Khi Phật thuyết pháp xong, Tỳ-xá-khư liền quỳ xuống thỉnh Phật và năm trăm A-la-hán. Thế Tôn im lặng nhận lời. Tỳ-xá-khư đảnh lễ sát đất rồi ra đi.

Ngay đêm ấy, bà ấy chuẩn bị đầy đủ thức ăn ngon, bày tọa cụ đẹp, mở rộng cửa, rồi bà ấy đến chỗ Phật, tay bưng lư hương, chấp tay bái và bạch rằng:

– Ðồ ăn uống đã được chuẩn bị xong, xin thỉnh Phật và Tăng.

Các Tỳ-kheo đến đó, hoặc từ dưới đất vọt lên, hoặc xuyên qua vách mà vào, hoặc từ trên không xuống. Chỉ có Như Lai ở lại tịnh xá.

Tỳ-xá-khư xới thức ăn để riêng cho Phật. Thấy các Tỳ-kheo đã ngồi yên, Tỳ-xá-khư tự tay dâng nước, dọn các loại thức ăn. Khi chúng Tăng ăn xong, bà ấy đi dâng nước rồi quỳ phía trước để nhận lời chú nguyện. Chú nguyện xong, Thượng tọa ra về. A-Nan đến nhận phần thức ăn của Phật.

Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-Nan:

– Có bao nhiêu Tù-kheo đến nhà Tỳ-xá-khư thọ thực?

A-Nan bạch Phật:

– Năm trăm A-la-hán trước đây đã đến thọ thực ở cung A-nậu-đạt đều đến thọ thực ở nhà Tỳ-xá-khư.

Thế Tôn bảo:

– Này A-Nan, có Tỳ-kheo nào được chúng Tỳ-kheo sai đi không?

– Không, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Thật đáng tiếc cho Tỳ-xá-khư đã không thu được trọn vẹn phước. Vì sao lại không dâng thức ăn cho Tỳ-kheo như thế? A-Nan! Nếu Tỳ-xá-khư cúng thức ăn cho Tỳ-kheo như vậy sẽ được phước lớn, được quả báo lớn.

Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào không thông báo trong chúng mà tự đi thọ trai thì phạm tội đọa. Trường hợp được phép là: hoặc đi trên đường, hoặc đi thuyền, hoặc lễ hội lớn, hoặc hội chung của Sa-môn.

Lúc ấy người dân trong nước ai cũng đều nghe Phật nói cúng dường cơm cho một Tỳ-kheo như vậy thì được phước nhiều hơn cúng dường cơm cho năm trăm vị A-la-hán; trưởng giả, bà-la-môn đều tin Phật và kính trọng chúng Tăng.

TỲ NẠI DA

Hết quyển bảy

—o0o—

Quyển thứ tám

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy Thế Tôn chưa kiết giới không ăn quá giờ ngọ.

Vào lúc xẩm tối, tôn giả Ca-lưu-đà-di đắp y, mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy mây dày đặc, trời âm u tối đen, nổi sấm sét đùng đùng, chớp lóe sáng rực. Có một phụ nữ mang thai đi ra ngoài lấy nước. Tôn giả Ca-lưu-đà-di đến cửa định vào khất thực, chợt thấy Ca-lưu-đà-di trong ánh chớp, phụ nữ nọ kinh sợ quá độ, liền kêu thất thanh:

– Quỷ Tỳ-xá-chi !

Ca-lưu-đà-di đáp:

– Ta là Sa-môn chứ không phải quỷ.

Phụ nữ ấy nói:

– Này Sa-môn ! Tôi không giết cha hại mẹ ông, sao ông làm hại thai tôi?

Phụ nữ ấy liền đi nói với Tỳ-kheo thực hành mười hai pháp. Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào ăn quá giờ ngọ thì phạm tội đọa.

Lúc ấy tôn giả Bà-đặc-bà-lê nghe Thế Tôn kiết giới không ăn quá giờ ngọ, liền nói:

– Trong hai bữa ăn, bữa ăn chiều là bữa ăn ngon nhất, vậy mà Sa-môn Cù-đàm cắt mất bữa ăn đó.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Ngày xưa ông ấy cũng đã tham đắm vị, chứ chẳng phải chỉ có ngày nay. Các vị hãy nghe ta kể:

Ngày xưa, cách đây vô số kiếp, vào kiếp tận thế, trời đất tan rã. Sau đó, đất có lớp mỡ rất ngon ngọt, như cục đường phèn. Có một thiên tử A-bà-tối-la hạ xuống đất ấy, dùng ngón tay nếm lớp mỡ ngon ngọt trên đất, ý sanh ưa thích, liền trở lên trời nói với các thiên tử và dẫn các thiên tử xuống để nếm mỡ đất. Ðến ngày thứ ba, thân họ nặng nề không thể bay được nữa. Mỡ đất từ từ lặn mất, đất sanh chất mặn. Về sau, tự nhiên gạo tẻ xuất hiện. Họ liền ăn gạo đó. Lúc ấy người này tham đắm vị, ngày nay lại đắm vị.

Phật đến vườn Kỳ-thọ Cấ-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Tôn giả Tất-lăng-lệ-bạt bị đau mắt. Các trưởng giả Bà-la-môn đem đến bơ, dầu, mật, đường đen, đường phèn và các thức ăn tươi. Các đệ tử thường để thức ăn lại qua đêm mà ăn, Tỳ-kheo mười hai pháp liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn chế giới:

– Tỳ-kheo nào không bệnh mà giữ thức ăn lại qua đêm để ăn thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo dùng nước và thức ăn không được trao nhận. Thấy vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đưa vào miệng thuốc và thức ăn không được trao nhận – trừ nước và tăm – thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vào thôn xóm thấy cao, sữa, bơ, thịt, cá, nem… liền tự động vào xin. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Thích tử xin nhiều cá, nem để làm gì?

Họ liền đến thưa Tỳ-kheo mười hai pháp. Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp đủ mười công đức, kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào biết làng ấy có bơ, sữa, cao sữa, cá, thịt, nem… Nếu không bệnh mà đến xin thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy có hai Tỳ-kheo ở trong núi sâu, tại biên giới nước Câu-tát-la, chưa từng thấy Phật, thường trông mong được gặp Phật.

Hai người cùng bàn bạc rồi lên đường đi gặp Thế Tôn. Lúc ấy là cuối mùa Xuân, trời rất nóng, quáng nắng giống như nước. Mặt trời đã đứng bóng, ở giữa nơi hoang vắng không có một chút nước, thân thể khát cháy. Hai người tìm nước khắp nơi nhưng chỉ gặp một vũng nước nhỏ, nước ít mà trùng nhiều.

Một Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo kia rằng:

– Uống nước có trùng này để đủ sức vượt qua nơi hoang vắng này và được chiêm ngưỡng Như Lai.

Tỳ-kheo kia đáp:

– Ðã thọ giới của Thế Tôn, làm sao phá hoại được.

Lúc ấy một người uống, một người không uống.

Người không uống qua đời, sanh lên trời Tam thập tam, đội mũ làm bằng trăm thứ châu báu, đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ sát đất rồi đứng qua một phía. Thế Tôn thuyết pháp, vị ấy liền kiến đế.

Sau đó người uống nước mới đến. Thấy Tỳ-kheo ấy đến, Thế Tôn cởi y thượng, bày thân vàng ròng và nói:

– Ông là người ngu nên mới chiêm ngưỡng thân bốn đại, là nơi chứa đầy chất hôi hám. Ai thấy pháp thì thấy thân Ta.

Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào biết nước có trùng mà lấy uống thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một trưởng giả thỉnh Phật và chúng Tăng. Nhóm sáu Tỳ-kheo đến nhà bếp trước và nghỉ ở đó. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử đến đây trước, làm trở ngại việc nấu thức ăn.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đến quá sớm nơi nhà đã thỉnh chúng Tăng và ngồi hoặc nằm, đùa với trẻ con thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một trưởng giả thỉnh chúng Tăng. Trưởng giả ra đi không có ở nhà, một mình vợ trưởng giả làm thức ăn ở phía sau.

Lúc ấy, tôn giả Ca-lưu-đà-di đến sớm, ngồi ở nhà trưởng giả. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Vì sao Tỳ-kheo Thích tử lại cùng phụ nữ ngồi chung một chỗ?

Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đến nhà thỉnh chúng Tăng trước và cùng với phụ nữ ngồi chung một chỗ thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ cùng với năm trăm Tỳ-kheo.

Lúc ấy, thôn Tỳ-la-nhiên có Bà-la-môn tên A-kỳ-đạt-đâu, rất giàu tiền của, ruộng vường sung túc. Ông ta đến Xá-vệ, ở nhà một trưởng giả, nói với trưởng giả ấy rằng:

– Ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn nào thông minh trí tuệ, là thầy dẫn dắt đồ chúng không? Nếu có người ấy thì tôi muốn thường xuyên đến lễ lạy, thăm hỏi người ấy để tâm ý tôi được khai mở.

Trưởng giả đáp:

– Ở đây có Sa-môn Cù-đàm, thuộc dòng họ Thích, xuất gia học đạo, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, nay đã chứng quả Vô thượng Bồ-đề. Nếu muốn đi gặp thì đã đến lúc rồi. Hãy đến đó thăm hỏi.

Bà-la-môn hỏi:

– Cù-đàm đang ở đâu? Tôi muốn đi thăm hỏi.

Trưởng giả đáp:

– Thế Tôn đang ở nước Xá-vệ, tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc. Muốn đi thì đi.

Sáng sớm, Bà-la-môn A-kỳ-đạt-đâu ra khỏi thành Xá-vệ, đến tịnh xá Kỳ-hoàn.

Lúc ấy, Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô số trăm ngàn người. Trông thấy Thế Tôn trang nghiêm không ai bằng, các căn đầy đủ, thân màu vàng ròng, Bà-la-môn A-kỳ-đạt-đâu liền đến chỗ Phật, vòng tay chào rồi ngồi qua một phía.

Thế Tôn nói đủ loại pháp vi diệu. Nói pháp xong, Thế Tôn đứng im lặng. Bà-la-môn bạch Thế Tôn rằng:

– Xin Xa-môn Cù-đàm và chúng Tăng nhận lời thỉnh của con trong chín mươi ngày kiết hạ.

Lúc ấy Thế Tôn nhớ lại nghiệp báo trước kia, không thể tránh, liền im lặng nhận lời thỉnh của Bà-la-môn. Bà-la-môn liền đứng dậy, vòng tay từ giã.

Khi từ Xá-vệ đến Tỳ-la-nhiên, ông ta chuẩn bị đủ loại thức ăn cho bốn tháng Hạ.

Khi đến mùa hạ, ông ta dặn người giữ cửa:

– Trong bốn tháng này, ta ở trong đây, không muốn ra ngoài. Chớ có cho ai vào. Dù có các việc khổ, vui,lành, dữ cũng chớ có vào thưa với ta.

Người giữ cửa liền vâng lệnh.

Khi đến mùa Hạ, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng hòa hợp, Thế Tôn bảo:

– Các vị phải thu dọn y bát để đến thôn Tỳ-la-nhiên.

Năm trăm Tỳ-kheo liền đắp y, mang bát theo Thế Tôn đến Tỳ-la-nhiên.

Lúc ấy ở Tỳ-la-nhiên không có tịnh xá, phía Bắc có núi Ðại-thất-lợi-sa. Hang núi rộng lớn, cây cỏ sum suê, có đủ loại hoa, đủ loại chim… Lúc ấy Thế Tôn và chúng Tăng nghỉ đêm ở núi ấy.

Khi đó, Tỳ-la-nhiên toàn là Bà-la-môn, nhân dân đói kém, khất thực khó được. Ngay đêm ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, bảo các Tỳ-kheo:

– Các Tỳ-kheo nên biết, Tỳ-la-nhiên này toàn là Bà-la-môn, nhân dân đói kém, khất thực khó được. Tỳ-kheo nào muốn ở đây kiết hạ thì ở lại, ai không muốn thì đi đâu tùy ý.

Xá-lợi-phất liền lên đỉnh núi A-mậu-ha nhận sự cúng dường của vợ Thích Ðề Hoàn Nhơn Tu-di-a-tu-luân và ăn cơm cõi trời trong bốn tháng.

Thế Tôn cùng bốn trăm chín mươi chín Tỳ-kheo kiết-hạ ở Tỳ-la-nhiên.

Các trưởng giả Bà-la-môn tin Phật, hoặc cúng bốn bữa ăn, năm bữa ăn, hoặc sáu bữa ăn rồi ngừng. Các Tỳ-kheo khất thực không được.

Tôn giả Mục-kiền-liên bạch Phật:

– Sở dĩ gọi là Diêm-phù-đề là vì quả Diêm-phù-đề cách đây vô số ngàn dặm về phía Ðông. Ðể con đi lấy quả Diêm-phù-đề về cho các Tỳ-kheo ăn. Cách nơi ấy không xa có vườn Ha-lê-lặc, A-ma-lặc, hoặc là đến Uất-đan-việt lấy loại gạo mọc tự nhiên, đến trời Tam-thập-tam lấy cam lồ cõi trời cho các Tỳ-kheo ăn, hoặc lấy chất béo bổ của quả đất, dùng tay trái lật lên, tay phải lấy mỡ đất cho các Tỳ-kheo ăn.

Thế Tôn bảo Mục-kiền-liên:

– Ta biết ông có thần thông, nhưng nghiệp báo đời trước của các Tỳ-kheo đã đến, sẽ đem để ở đâu?

Thế Tôn không chấp nhận đề nghị ấy.

Ở Tỳ-la-nhiên có nhiều cỏ mềm và nước. Có người buôn ngựa thả ngựa ở đó. Thấy các Tỳ-kheo khất thực không được gì, ông ta bảo các Tỳ-kheo:

– Ở đây thóc lúa mắc, khất thực khó được. Tôi không có thức ăn chín, bột gạo rang hay cơm khô, chỉ có lúa mạch. Nếu các vị cần tôi sẽ cúng.

Các Tỳ-kheo đáp:

– Thế Tôn chưa cho phép ăn lúa mạch của ngựa.

Họ đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tuy biết là lúa mạch dành cho ngựa, nhưng hãy tùy thời ngâm nước cho nứt mộng thì có thể lấy ăn.

Lúc ấy, bầy ngựa gồm năm trăm con, chúng Tăng còn thiếu một người là đủ năm trăm vị. Mỗi con ngựa một ngày ăn một đấu lúa mạch, người chăn ngựa mỗi ngày ăn hai đấu. Người buôn ngựa liền phân đều mỗi người ngựa là nửa đấu một ngày và đem cúng cho Phật và chúng Tăng.

A-Nan đem phần của Thế Tôn và phần mình vào Tỳ-la-nhiên để nhờ người nấu. Gặp một phụ nữ, A-Nan ca ngợi công đức của Phật:

– Thế Tôn có giới – định – tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, có ba mươi hai tướng đại trượng phu, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân thể. Ánh sáng bao quanh thân trong phạm vi bảy thước (tính luôn ánh sáng bao quanh hai tay, hai Phật thì hơn bảy thước). Thân có màu vàng ròng, nhìn không biết chán, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, xuất gia học đạo, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cứu chúng sanh thoát khỏi nguy ách, độ người chưa được độ, giải thoát người chưa giải thoát, giúp người chưa nhập Niết-bàn được nhập Niết-bàn, không còn sanh – già – bệnh – chết, buồn rầu khổ não. Nếu không xuất gia học đạo, vị ấy sẽ làm vua Chuyển luân có đủ bảy báu là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, ngọc nữ báu, trưởng giả báu và quan cầm binh báu. Vị ấy sẽ có ngàn người con cường tráng, mạnh mẽ, thống lãnh khắp bốn phương, không cần dùng dao gậy… Tôi và các cô đều là bề tôi của vị ấy. Hôm nay vị ấy nhận thỉnh, đến kiết-hạ ở Tỳ-la-nhiên, chị có thể đem lúa mạch này làm bột gạo rang giúp không?

Phụ nữ đáp:

– Nhà tôi có nhiều việc gấp. Việc của mình làm còn không xuể, làm sao giúùp người khác được !

Cách đó không xa, có một phụ nữ nghe A-Nan khen ngợi công đức của Phật thật là kỳ lạ, cô ta liền suy nghĩ: “Thế gian lại có người như vậy sao?”. Cô ấy liền bảo A-Nan:

– Ðem lúa mạch đến đây tôi làm bột gạo cho. Từ nay trở đi, Phật, A_Nan và những người tu phạm hạnh khác cứ đem lúa mạch đến, tôi sẽ làm bột gạo giúp cho.

Phụ nữ ấy liền xay lúa mạch rồi trao cho A-Nan.

A-Nan đem bột đến chỗ Phật, dâng nước rửa tay chân rồi trao bột cho Phật. Phật liền ăn bột ấy. Thấy Phật ăn bột, A-Nan buồn rơi lệ, suy nghĩ: “Phật là con của quốc vương, thường ăn thức ăn ngon, chưa từng ăn thức ăn dở. Hôm nay lại ăn bột lúa mạch làm sao có sức khỏe được?!”.

Biết được ý nghĩ ấy, Thế Tôn bảo A-Nan:

– Ông có thể ăn bột này không?

Ðáp:

– Có thể.

Thế Tôn liền trao một bụm cho A-Nan ăn. A-Nan thấy có vị như cam lồ cõi trời. A-Nan lại suy nghĩ: “Thế Tôn ăn thức ăn này chắc có sức khỏe”.

Khi Thế Tôn ăn xong, A-Nan rửa bát, rót nước rồi bạch Phật:

– Vừa rồi con nhờ một phụ nữ làm bột nhưng cô ấy không làm. Có một phụ nữ không cần nhờ mà tự nhận làm. Xin Thế Tôn nói ý nghĩa việc ấy.

Thế Tôn bảo:

– Người không chịu làm, nếu chịu làm thì sẽ được làm đệ nhất phu nhân của Chuyển luân Thánh vương. Người không nhờ mà làm sẽ thu được công đức lớn. Tuy không làm thêm việc phước nào nữa, nhưng cũng đã gây nhân Vô thượng Chánh đẳng giác.

Không bao lâu mọi người đều nghe tin Phật và chúng Tăng phải ăn lúa mạch. Có thiên ma Ba-tuần hóa làm chúng Tăng, quảy túi đựng cơm khô, đường phèn, tay mang chín trăm tấm bánh, đi đến ngã tư đường. Các trưởng giả hỏi các Tỳ-kheo ấy:

– Các vị từ đâu đến?

Các Tỳ-kheo đáp:

– Từ Tỳ-la-nhiên đến.

Hỏi:

– Phật và Tỳ-kheo Tăng không có thiếu thốn sao?

Các Tỳ-kheo giả đáp:

– Ðồ ăn uống dồi dào, không thể ăn hết. Chúng tôi đang mang phần còn dư đến Xá-vệ.

Lúc ấy, mười sáu nước lớn đều hay tin Phật và chúng Tăng, trong ba tháng an cư ở Tỳ-la-nhiên chỉ ăn toàn lúa mạch. Các trưởng giả, Bà-la-môn đem lượng của cải có giá trị một ức tiền đến nghinh đón Thế Tôn và chúng Tăng.

Còn bảy ngày nữa là hết hạ, Phật biết mà vẫn hỏi A-Nan:

– Còn bao nhiêu ngày nữa mãn hạ?

A-Nan bạch Phật:

– Còn có bảy ngày.

Phật bảo A-Nan:

– Dẫn hai Tỳ-kheo vào thôn Tỳ-la-nhiên, bảo với Bà-la-môn A-kỳ-đạt-đâu rằng: “Phật đã nhận lời thỉnh của ông trong chín mươi ngày, nay đã hết hạn, phải đi du hóa trong nhơn gian”.

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

– A-kỳ-đạt-đâu không có ý cúng Phật một bữa cơm nào, thì việc gì phải cáo biệt?

Thế Tôn đáp:

– Tuy không dọn cơm đãi, nhưng là người đã thỉnh nên phải đến cáo biệt.

Vâng lời Phật dạy, A-Nan dẫn hai Tỳ-kheo vào Tỳ-la-nhiên, đứng ở cửa nhà A-kỳ-đạt-đâu, nói với người giữ cửa:

– Anh vào thưa với chủ rằng: A-Nan đang ở ngoài, muốn vào gặp.

Lúc ấy A-kỳ-đạt-đâu đang ở sân trước gội đầu, mặc áo trắng ngồi trên giường dây. Người giữ cửa liền thưa như trên. Trưởng giả đáp:

– Mời vị ấy vào.

A-Nan liền vào, từ từ đến chỗ ngồi và im lặng trong chốc lát. Bà-la-môn hỏi:

– Thầy đến có việc gì?

A-Nan đáp:

– Thế Tôn bảo đã nhận lời thỉnh của ông trong chín mươi ngày, nay Ngài sắp đi du hóa nhơn gian.

Bà-la-môn hỏi:

– Thưa thầy A-Nan, Cù-đàm đã kiết hạ ở đây sao?

A-Nan đáp:

– Trước đây ông đã thỉnh mà lại quên sao?

Bà-la-môn hỏi:

– Trong chín mươi ngày, các vị đã lấy gì ăn?

A-Nan đáp:

– Rất là nguy khốn. Thế Tôn và chúng Tăng đã ăn lúa mạch của ngựa trong ba tháng.

Bà-la-môn nhớ là mình đã thỉnh Phật và chúng Tăng, chuẩn bị tọa cụ, ra lệnh người giữ cửa đừng cho ai vào. Bà-la-môn A-kỳ-đạt-đâu lại suy nghĩ: “Bốn phương xa gần đều đã nghe tin ta làm việc ác này: A-kỳ-đạt-đâu thỉnh Phật và chúng Tăng mà không hề cúng dường”.

Ông ta lại hỏi A-Nan:

– Có thể lưu giữ Sa-môn Cù-đàm lại để tôi được sám hối không?

A-Nan đáp:

– Không thể lưu được.

Nghe vậy, A-kỳ-đạt-đâu buồn rầu áo não, ngã nhào xuống đất. Những người nhà liền lấy nước rưới lên mặt, ông ta mới ngồi dậy được.

Người nhà nói với A-kỳ-đạt-đâu:

– Ông chớ có buồn rầu. Chúng tôi sẽ cùng ông đến sám hối Sa-môn Cù-đàm. Nếu Phật không chịu ở lại thì hãy cho người mang các đồ ăn uống này đi theo sau xem Ngài có thiếu thốn gì thì cúng dường.

Lúc ấy, A-Nan cùng Bà-la-môn và người nhà ông ta đến nhà Bà-la-môn để sám hối. Trông thấy họ đến, Thế Tôn suy nghĩ: “Nếu Ta không ở lại thì ông ấy sẽ hộc máu miệng”.

Do từ bi, Thế Tôn lại ở thêm bảy ngày. Trưởng giả liền cho chở tất cả đồ ăn uống đã chuẩn bị cho bốn tháng đến chất đầy ngập.

Nghe tin sáu mươi ngày tới, Thế Tôn sẽ du hóa khắp nơi, nhân dân Bạt-thị đều chuẩn bị các món cúng dường để đãi Như Lai.

Lúc ấy Thế Tôn may vá y ở Tỳ-la-nhiên.

Vào ngày y đã được may vá xong, Ngài đắp y, mang bát đến nước Bạt-thị. A-kỳ-đạt-đâu cũng cho chở đồ ăn uống đi theo sau Như Lai để xem Ngài có thiếu gì thì liền cung cấp đầy đủ.

Biết được nơi Như Lai sắp dừng chân, ông ta liền đến đó trước, chuẩn bị và nói rằng:

– Ngày nay và ngày mai tôi đã thỉnh Phật.

Nghe tin A-kỳ-đạt-đâu chở đồ ăn uống đi theo sau Như Lai, nhân dân Bạt-thị nghĩ: “Như vậy chắc chắn sẽ trở ngại cho việc cúng dường Phật của chúng ta”. Họ liền tập hợp lại để tìm cách hạn chế không cho Bà-la-môn ấy nấu cơm dâng Phật, hoặc nấu ít lại, hoặc chỉ làm nước mật. Họ nói với nhau:

– Ðừng cho Bà-la-môn ấy làm cơm dâng Phật.

Người nào thấy A-kỳ-đạt-đâu liền mắng rằng:

– Bà-la-môn ác độc kia ! Ngươi cho Phật và chúng Tăng ăn lúa mạch suốt chín mươi ngày, nay lại chở đồ ăn theo Phật, làm trở ngại việc cúng dường của người khác

Bà-la-môn ấy buồn rầu, đứng ở một phía để xem nhân dân cúng thiếu món gì thì cúng thêm cho đủ và thấy chỉ thiếu món cháo đậu. Ông ta liền lấy hạt mè, tía tô, đậu, giã A-ma-lặc, Tỳ-hê-lặc, lá lốt, gừng để nấu cháo dâng cho Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Hãy phân chia cho chúng Tăng.

Chúng Tăng không nhận, vì Thế Tôn chưa cho phép ăn loại cháo này. Bà-la-môn liền đến bạch Thế Tôn:

– Các Tỳ-kheo không chịu nhận cháo.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Từ nay trở đi, dù có bệnh hay không có bệnh cũng thường ăn cháo này, vì nó có năm lợi ích là: trừ đói khát, không bị trúng gió, thương hàn, đường tiêu hóa được thông suốt và không bị các bệnh do thức ăn gây ra.

A-kỳ-đạt-đâu lại suy nghĩ: “Ðủ loại thức ăn được chuẩn bị cho bốn tháng hạ, ta đã chở đến đây, lại không được dâng cho Phật và chúng Tăng. Ta phải làm như pháp tế thần là trải thức ăn dưới đất cho các Tỳ-kheo bước qua. Như vậy là họ đã thọ nhận của ta”.

Thế Tôn bảo:

– Ðó chẳng phải là vật để dùng chân bước qua. Ðó la vật được ăm bằng miệng.

Thế Tôn liền thuyết pháp cho Bà-la-môn. Nghe pháp xong, Bà-la-môn liền trở về.

Lúc ấy, Thế Tôn đắp y, mang bát trở về nước Xá-vệ. Có một ngoại đạo Phạm chí thân thể béo phì đi theo sau Thế Tôn.

Có một Bà-la-môn mộ đạo đến hỏi Phạm chí ấy rằng:

– Ở đây có nhận được đồ ăn uống không?

Ðáp:

– Nhận được.

Lại hỏi:

– Do đâu mà được?

Ðáp:

– Từ trưởng giả trọc đầu mà được.

Bà-la-môn nói:

– Hãy đi ngay đi. Ông đã nói lời nói xấu xa. Ông được mập mạp là nhờ Sa-môn Cù-đàm mà lại mắng ông ấy. Nếu nghe được, Sa-môn Cù-đàm sẽ kiết giới là không được cho ngoại đạo đồ ăn uống.

Các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Ngoại đạo ấy đã quen thói điên đảo từ lâu. Nếu ông ta bị trúng độc thì sẽ báo với quan là bị Sa-môn Cù-đàm hạ độc.

Lúc ấy Thế Tôn chưa kiết giới cho Sa-môn mà đi thẳng đến nước Xá-vệ. Trưởng giả ở nước Xá-vệ làm bánh bơ và một trăm tấm bánh xốp cúng cho Phật và chúng Tăng.

Thường pháp của chư Phật Thế Tôn là khi ăn uống chưa đủ thì không đứng dậy, phải đợi đến lúc ăn no. Nếu đàn-việt cúng thiếu thì nhờ Phật lực, tất cả đều được đầy đủ.

Có hai phụ nữ Bà-la-môn đến xin tôn giả A-Nan ít bánh. Tôn giả lấy cho người này hai cái và người kia một cái bánh.

Người được một cái hỏi người kia:

– Chị được mấy cái?

Ðáp:

– Ðược hai cái.

Người kia hỏi ngược lại:

– Còn chị được mấy cái?

Ðáp:

– Ðược một cái. Chị được dư một cái, vậy hãy chia bớt cho tôi.

Ðáp:

– Ai có phần nấy, tôi không chia đâu.

Người nọ nói:

– Chắc A-Nan là chồng của chị.

Hai người cãi lộn nhau rất lớn. Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-Nan: – Vì sao hai người ấy cãi nhau?

A-Nan bạch đầy đủ việc trên với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đích thân đem bánh cho Bà-la-môn và vợ Bà-la-môn thì phạm tội đọa.

Thức ăn có năm loại:

Một là thức ăn rễ. củ. Thức ăn rễ là: ngó sen, rau cải, hệ-bà-đà (loại rễ nhỏ mà ngọt).

Hai là thức ăn bằng thân, như: mía, thúc-cơ và các thân cây có thể ăn được.

Ba là thức ăn bằng lá cây: là các loại lá có thể ăn được.

Bốn là thức ăn bằng hoa như: hoa bà-bà, la-lê.

Năm là thức ăn bằng quả như: nho, cam, quất…

Lại có năm loại thức ăn là: bắp, gạo nát, lúa mạch xanh, đậu oản, gạo tẻ.

Khi đang ăn các loại thức ăn này, nếu có Bà-la-môn đến xin thì phải nói đó chẳng phải là thức ăn của tôi.

Có ai xin nước thì nói đó chẳng phải nước của tôi.

Xin trái cây thì nói chẳng phải trái cây của tôi.

Không được cho bất cứ thứ gì, trừ khi đó là cha mẹ, hoặc bệnh nhân.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Vua Ba-tư-nặc và A-xà-thế thường gây chiến nhau, đem binh đánh nhau. Nhóm sáu Tỳ-kheo bảo nhau cùng đến xem quân mã và lập tức đi xem.

Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau: “Sa-môn Thích tử xuất gia học đạo mà lại đi xem quân mã”, rồi đem việc ấy bạch lại với Phật. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào khi quân mã sắp ra trận mà đi xem thì phạm tội đọa.

TỲ NẠI DA

Hết quyển tám

—o0o—

Quyển thứ chín

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Ðại thần của vua Ba-tư-nặc như: Y-sa-đa, Phú-lan-na, Hấp-bạt-đề, là những bậc kiến đế, dẫn các Tỳ-kheo đi xem quân mã. Các Tỳ-kheo cũng có bà con nên ở lại trong doanh trại quân mã đến ba ngày. Thấy vậy các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử xuất gia học đạo mà sao ở mãi trong quân đội?

Tỳ-kheo mười hai pháp nghe vậy, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo không được ở trong quân đội quá hai đêm. Nếu quá thì phạm tội đọa.

Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la cho quân đội diễn tập. Các Tỳ-kheo đến xem. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Chẳng phải là công việc của mình mà các Sa-môn Thích tử lại đến xem.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào xem quân đội diễn tập, xem nghi vệ, cờ chỉ huy của quân đội… thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thường tranh cãi với nhóm mười bảy Tỳ-kheo. Nhóm sáu Tỳ-kheo tự ỷ vào dòng họ cao sang nên đánh nhóm mười bảy Tỳ-kheo. Thấy vậy các trưởng giả nói với nhau:

– Vì sao các Tỳ-kheo lại đánh nhau?

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào sân hận đánh Tỳ-kheo khác thì phạm tội đọa.

Nhóm sáu Tỳ-kheo nổi giận, dùng gậy đe dọa nhau, dùng tay đánh nhau. Thấy vậy, nhóm mười hai Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào dùng gậy đe dọa nhau, dùng tay đánh nhau thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Nan-Ðà – em của Bạt-nan-đà – bảo với đệ tử của Bạt-nan-đà rằng:

– Tôi muốn đến nơi ấy, hãy cùng đi với tôi.

Họ liền cùng nhau đi.

Giữa đường gặp một người nữ, Nan-đà liền dẫn cô ấy đến nơi kín đáo làm việc bất tịnh. Thấy vậy, đệ tử của Bạt-nan-đà trở về nói với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đến bạch Phật. Nhân việc ấy, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào thấy Tỳ-kheo khác phạm tội mà che giấu qua đêm thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Thích tử Bạt-nan-đà suy nghĩ: “Ðệ tử này đã làm nhục em út ta. Hôm nay ta sẽ báo thù”.

Ông ta liền nói với đệ tử:

– Ta muốn đến nơi ấy, ông hãy đắp y mang bát đi theo ta. Ta cũng sẽ bảo đàn-việt cúng dường cho ông thức ăn ngon.

Họ liền dẫn nhau đi từ nơi này đến nơi khác, từ nhà này đến nhà khác. Thấy mặt trời sắp đứng bóng, giờ đánh kiền-chùy đã qua, Bạt-nan-đà liền bảo đệ tử:

– Ông hãy trở về Xá-vệ, ta không thích cùng đi với ông.

Người đệ tử liền trở về Kỳ-hoàn. Lúc ấy đã quá ngọ, các Tỳ-kheo đã thọ thực xong. Họ liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào nói với Tỳ-kheo rằng: “Tôi muốn đến nơi ấy. Hãy cùng đi với tôi. Tôi sẽ bảo đàn-việt cúng cho ông thức ăn ngon”. Sau khi dẫn đi, Tỳ-kheo đã rủ lại nói với Tỳ-kheo kia rằng: “Ông hãy đi đi. Tôi không thích đi với ông. Tôi thích đi một mình”. Tỳ-kheo nào nói lời giả dối như vậy thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Phật đi từ Xá-vệ đến biên giới Câu-tát-la. Giữa đường, không có làng xóm nên Ngài nghỉ đêm ở một ngọn núi.

Có một Tỳ-kheo vô trí vác một khúc cây mục lớn đến định đốt lửa. Chợt có con rắn hổ-mang từ trong bọng cây bò ra. Tỳ-kheo ấy lo sợ, liền kêu la thất thanh. Nghe vậy, các Tỳ-kheo liền cho là vị ấy bị cướp, liền đến hỏi:

– Vì sao lại kêu la kinh hoảng vậy?

Tỳ-kheo ấy liền kể lại sự việc.

Các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói:

– Tỳ-kheo nào không bệnh mà gom cỏ, củi, phân bò, vỏ trấu, lá cây… để đốt lửa nơi đất trống, hoặc tự đốt, hoặc dạy người khác đốt thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả Xá-lợi-phất đến từ giã Phật và chúng Tăng để đi khất thực khắp nơi trong sáu mươi ngày.

Nghe tin Xá-lợi-phất định đi du hóa, khất thực khắp nơi trong sáu mươi ngày, Tỳ-kheo Ca-la-đàn-đề liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía rồi bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Xá-lợi-phất giải đãi, ngã mạn, không từ biệt Thế Tôn và chúng Tăng mà định đi khắp thực khắp nhơn gian.

Thế Tôn liền dạy một Tỳ-kheo đến chỗ Xá-lợi-phất, gọi vị ấy đến gặp Thế Tôn. Tỳ-kheo ấy liền rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát đất rồi đến chỗ Xá-lợi-phất nói rằng:

– Thế Tôn bảo tôi gọi ngài đến gặp Thế Tôn.

Xá-lợi-phất cùng Tỳ-kheo ấy đến chỗ Như Lai, đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một phía.

Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:

– Vừa rồi, khi ông đi được một lát thì có Tỳ-kheo này đến nói rằng: “Xá-lợi-phất không từ giã Phật và chúng Tăng mà định đi khất thực trong nhơn gian”.

Xá-lợi-phất bạch với Phật rằng:

– Con đến nơi nào cũng đều đúng ý chỉ của Phật, và bao giờ cũng từ giã chúng rồi mới đi. Việc Tỳ-kheo này bạch với Phật là sự nhầm lẫn. Giống như con bò hiền lành đã bị chặt hai sừng, dược dắt đi trong nhơn gian thì không phiền ai cả; cũng vậy, con chưa từng biếng nhác, ngã mạn không từ giã đại chúng mà đi. Giống như mặt đất này chứa đựng cả những chất dơ bẩn, lớn nhỏ, mặt đất không nói sẽ chở vật này, không chở vật kia; con cũng vậy, không khác gì mặt đất thì làm sao có thể lười biếng, ngã mạn không từ giã Tăng chúng mà đi!

Tỳ-kheo Ca-lan-đà liền rời khỏi chỗ, đảnh lễ sát chân Xá-lợi-phất để sám hối:

– Thưa tôn giả Xá-lợi-phất, xin hãy tha thứ cho tôi. Tôi như người ngu si không biết gì. Vì sao tôi lại phỉ báng tịnh hạnh của ngài. Tôi đã phạm tội vọng ngữ. Xin Xá-lợi-phất hãy nhận sự sám hối của tôi.

Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:

– Hãy nhận sự sám hối đó, đừng để đầu Tỳ-kheo ấy bị vỡ thành bảy mảnh ngay tại chỗ ngồi này.

Vâng lời Phật dạy, Xá-lợi-phất liền nhận sự sám hối ấy.

Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào theo thường pháp, từ giã chúng Tăng và được Tăng cho phép ra đi, sau đó có Tỳ-kheo nói rằng: “Tỳ-kheo đó không từ giã chúng Tăng đúng như pháp”. Tỳ-kheo nói trái với sự thật như vậy thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Sa-di La-vân – đệ tử của Xá-lợi-phất – không được phép ngủ trong phòng thầy vào ban đêm. Ðến các phòng khác cũng đều bị từ chối, chỉ còn phòng dành cho khách Tăng là không có người, La-vân liền ngủ trong ấy. Ngủ được một lát lại có một Tỳ-kheo khách đến, nói:

– Ông là Sa-di, hãy đi tránh chỗ khác để đại Sa-môn như ta ở.

Ông ta liền kéo La-vân ra. Lúc ấy La-vân rơi nước mắt, đi đến nhà xí của Như Lai, vào trong nhà xí, gối đầu lên đôi giày của Như Lai mà ngủ.

Có một con rắn độc thường ở trong nhà xí, đã đi ra ngoài tìm thức ăn. Giữa đêm, mưa to gió lớn, rắn bò về nhà xí.

Thường pháp của chư Phật là một đêm ba thời, quán sát chúng sanh xem ai đáng được cứu độ và thấy La-vân sắp bị rắn độc làm hại, cần được cứu, Thế Tôn liền dùng lực tam muội, đến nhà xí, khảy móng tay ba lần để đánh thức La-vân. Thế Tôn hỏi:

– Ông là Sa-di nào?

Ðáp:

– Là La-vân.

Thế Tôn hỏi:

– Vì sao ngủ ở đây?

La-vân bạch đầy đủ với Thế Tôn. Lúc ấy, Như Lai dùng khuỷu tay trái ôm La-vân, dẫn vào hang đá.

Sáng hôm sau, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, bảo các Tỳ-kheo rằng:

– Sa-di này không cha không mẹ, chỉ trông cậy vào Hòa-thượng, A-xà-lê tùy thời trông nom. Nếu hai vị ấy không trông nom thì ai sẽ trông nom? Từ nay trở đi cho phép Sa-di được ngủ với Tỳ-kheo hai đêm. Nếu quá thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Xiển-nộ sanh ra ý nghĩ xấu xa này: “Xét theo pháp Như Lai đã nói thì tôi biết là phạm, nhưng ác pháp này chưa đủ để thành tội”.

Các Tỳ-kheo nghe tin Tỳ-kheo Xiển-nộ sanh ý nghĩ xấu xa: “Xét theo pháp Như Lai đã nói thì tôi biết mình đã phạm, nhưng ác pháp này chưa đủ để thành tội”. Các Tỳ-kheo liền đến chỗ Tỳ-kheo Xiển-nộ, bảo Tỳ-kheo Xiển-nộ rằng:

– Có thật thầy đã nói rằng: “Xét theo pháp Như Lai nói thì tôi đã phạm, nhưng ác pháp ấy không đủ thành tội”?

Tỳ-kheo Xiển-nộ đáp:

– Việc ấy đúng vậy. Theo pháp Thế Tôn nói thì tôi đã phạm nhưng ác pháp này không đủ thành tội.

Các Tỳ-kheo bảo:

– Hãy thôi đi, này Xiển-nộ! Chớ có nói như vậy. Chớ có phỉ báng Như Lai. Người phỉ báng Như Lai thì sẽ không được tốt đẹp trong hiện đời. Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện để nói đó là tội ác. Này Xiển-nộ! Thầy hãy xả bỏ kiến thức điên đảo ấy đi.

Tuy được các Tỳ-kheo khuyên răn, nhưng Xiển-nộ không chịu nghe theo. Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào phát sanh niệm ác này: “Xét theo pháp Phật dạy thì tôi đã phạm, nhưng việc ác ấy không đủ thành tội”. Các Tỳ-kheo hiền thiện can gián Tỳ-kheo ấy đến ba lần, nếu nghe thì tốt, nếu không nghe thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy Tỳ-kheo Xiển-nộ vẫn làm theo thói xấu, không thân cận với chúng Tăng mà kết bạn với nhóm sáu Tỳ-kheo và nhận sự dạy bảo của họ. Các Tỳ-kheo thấy vậy, liền đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào làm theo thói xấu, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc nói chuyện với người đã bị tẩn xuất thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy, tôn giả Mục-kiền-liên có hai đệ tử Sa-di không giữ giới và làm theo pháp ác. Họ thường làm việc xấu xa ở bên ngoài Kỳ-hoàn. Thấy vậy, các Tỳ-kheo bảo với Sa-di ấy rằng:

– Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói sự bất tịnh của dâm dục, của việc hướng về dâm, nghĩ về dâm, sự thiêu đốt của dâm, sự dơ bẩn của dâm. Vậy mà vì sao các chú vẫn làm theo việc bất tịnh này?

Sa-di đáp:

– Chúng tôi đã từng nghe Như Lai dạy rằng: “Người làm việc dâm dục không có tội”.

Các Tỳ-kheo nói:

– Ông là Sa-di, chớ có nói rằng: “Thế Tôn dạy: làm việc dâm dục không có tội”. Chớ có phỉ báng Như Lai. Ai phỉ báng Như Lai thì hiện đời không được tốt đẹp. Này Sa-di! Ông hãy xả bỏ ác kiến này ngay lập tức.

Lúc đó, Sa-di ấy không nghe lời can gián của Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Sa-di nào nói rằng:

“Như Lai dạy làm việc dâm dục không có tội”.

Các Tỳ-kheo can gián:

“Này Sa-di, ông chớ có nói: Thế Tôn dạy: làm việc dâm dục không có tội. Chớ có phỉ báng Như Lai. Ai phỉ báng Như Lai thì hiện đời không được tốt đẹp”.

Nếu Sa-di ấy nghe theo lời can gián thì tốt. Nếu không nghe theo thì Tỳ-kheo phải nói với Sa-di rằng: “Từ nay trở đi, ông không được đảnh lễ Như Lai, không được đi theo Tỳ-kheo. Các Sa-di được ngủ chung phòng với Tỳ-kheo trong hai đêm, riêng ông không được như vậy. Ông hãy đi đi! Không được ở lại đây”.

Tỳ-kheo nào biết Sa-di này đã bị đuổi mà dẫn về để sai bảo hoặc ngủ cùng phòng qua đêm thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy Tỳ-xá-khư – mẹ của Vô-di-la – đeo sợi dây chuyền trị giá trăm ngàn lượng vàng, đến chỗ Thế Tôn. Giữa đường, cô ấy suy nghĩ: “Ðến gặp Thế Tôn mà đeo sợi dây chuyền thì chẳng có lễ phép”. Cô ấy liền cởi sợi dây chuyền, gói trong tấm vải rồi giao cho một nàng hầu.

Lúc ấy, mẹ của Vô-di-la lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một phía. Thế Tôn giảng cho cô ấy nghe các pháp vi diệu. Nghe pháp xong, cô ấy rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Phật mà đi.

Lúc ấy nàng hầu bỏ quên sợi dây chuyền vàng. A-Nan thấy, liền nhặt lên rồi phân vân không biết mình có phạm tội đọa không, liền bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào cầm nắm chuỗi anh lạc bằng vàng, châu báu hoặc dạy người cầm thì phạm tội đọa, trừ khi nhặt được vàng, châu báu trong khuôn viên của Tăng, phải thông báo khắp. Nếu không ai nhận thì lưu lại chín mươi ngày. Sau chín mươi ngày lại thông báo, nếu không ai nhận thì lưu lại ba năm. Sau ba năm lại thông báo. Nếu không ai nhận thì đem cúng cho Tăng. Nếu sau ba năm có chủ đến tìm thì lấy vật của Tăng để trả lại. Ðó là trường hợp được phép lấy.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y mới chưa nhuộm. Các trưởng giả thấy vậy, liền nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này không chịu nhuộm y mà đắp vào thì có khác gì người đời?

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào nhận được y mới thì phải nhuộm một trong ba màu: xanh, đen, mộc-lan. Tỳ-kheo nào không nhuộm một trong ba màu ấy thì phạm tội đọa.

Phật ở tại vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Vua Ba-tư-nặc làm một nhà tắm riêng và hỏi các Tỳ-kheo:

– Hôm nay các vị có cần tắm không?

Các Tỳ-kheo đáp:

– Cần.

Vua bảo các Tỳ-kheo:

– Hãy tắm trong nhà tắm của tôi.

Các Tỳ-kheo hoặc tắm buổi sáng, hoặc tắm buổi chiều, hoặc tắm buổi tối.

Vào buổi tối, vua Ba-tư-nặc đến định tắm, nhưng các Tỳ-kheo đang tắm nên vua phải đợi đến gần sáng mới được tắm. Vua suy nghĩ: “Nếu không gặp Như Lai mà vội trở vào thành thì chẳng phải là phép tắc của ta”.

Vua Ba-tư-nặc liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Phật biết nhưng vẫn hỏi vua:

– Trời còn tối, vua đi đâu mà ghé đây vậy?

Vua liền bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn liền nói cho vua nghe đủ loại pháp rồi im lặng.

Nghe thuyết pháp xong, vua rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát chân Phật rồi ra đi.

Khi vua đi được một lát, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nửa tháng tắm một lần, nếu quá phạm Ba-dật-đề. Trừ thời gian thích hợp: một tháng rưỡi cuối mùa xuân, một tháng trước khi mãn hạ, đó là thời gian được tắm thường xuyên. Hoặc khi trời nóng, trời gió, mưa, làm việc cho Tăng, đi đường cũng được tắm thường xuyên.

Phật ở Thạch-thất, trên sông Di-hầu, thuộc Tỳ-xá-ly.

Lúc ấy, các thiếu niên Tỳ-xá-ly chơi bắn tên ở cửa thành, các mũi tên nối đuôi nhau.

Vào sáng sớm, tôn giả Ca-lưu-đà-di đắp y mang bát vào Tỳ-xá-ly khất thực. Thấy các thiếu niên chơi bắn tên, các mũi tên nối đuôi nhau, vị ấy liền đến chỗ bắn tên bảo với các thiếu niên rằng:

– Các cậu bắn tuy thật giỏi nhưng cũng không bằng ta.

Các thiếu niên liền trao cung tên cho Ca-lưu-đà-di. Ca-lưu-đà-di hỏi:

– Các cậu muốn tôi bắn vật gì?

Lúc ấy có một con diều hâu bay trên không, các thiếu niên bảo:

– Hãy bắn con chim này.

Ca-lưu-đà-di liền dùng mũi tên có bốn cạnh bắn chim, làm cho nó đứng yên trên không trung, không thể bay được.

Cậu thiếu niên nói:

– Không giết nổi con chim này thì có gì là giỏi!

Ca-lưu-đà-di hỏi:

– Muốn bắn vào chỗ nào?

Thiếu niên nói:

– Bắn vào mắt bên phải.

Ca-lưu-đà-di liền bắn vào mắt bên phải làm chim rơi xuống đất mà chết.

Các thiếu niên đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào cắt đứt mạng sống của chúng sanh thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thường cùng nhóm mười bảy Tỳ-kheo tranh cãi. Hai nhóm cùng đi đường. Nhóm sáu Tỳ-kheo bảo nhóm mười bảy Tỳ-kheo:

– Các thầy đi trước đạp chết côn trùng, phạm Ba-dật-đề. Hãy đến sám hối với ta.

Nhóm mười bảy Tỳ-kheo liền đến sám hối. Nghe vậy, các Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn liền chế giới:

– Có Tỳ-kheo không giết trùng. Tỳ-kheo nào vu khống Tỳ-kheo ấy đã giết trùng thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Các Tỳ-kheo ngồi thiền trong phòng. Khi ấy, trời rất nóng, làm mọi người đều buồn ngủ. Các Tỳ-kheo dùng ngón tay khảy nhau để cảnh tỉnh lẫn nhau. Kế đó, họ lại dùng ngón tay ngoáy trong miệng. Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Các Tỳ-kheo tọa thiền, Tỳ-kheo nào dùng ngón tay nhịp nhịp để làm tỉnh ngủ, kế đó lại dùng ngón tay ngoáy trong miệng thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy các Tỳ-kheo ngồi thiền trong phòng. Trời rất nóng làm mọi người đều buồn ngủ. Các Tỳ-kheo lấy nước rưới nhau để làm tỉnh ngủ nhau. Các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo không được dùng nước rưới nhau để cảnh tỉnh khi ngồi thiền. Ai làm thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy tôn giả A-na-luật kiết hạ ở biên giới Câu-tát-la. Kiết-hạ xong, vị ấy đắp y mang bát đến nước Xá-vệ khất thực. Khi đi qua một ngôi làng, vị ấy hỏi mọi người:

– Ở đây có chỗ nào nghỉ đêm được không?

Mọi người chỉ đến nhà một quả phụ và bảo:

– Có thể nghỉ trong ấy.

Tôn giả A-na-luật liền đến nhà đó và bảo:

– Này chị, tôi có thể ở đây được không?

A-na-luật có diện mạo xinh đẹp, người phụ nữ trông thấy liền phát sanh ý dâm nên đáp:

– Có thể nghỉ đêm ở đây.

Cô ấy liền quét dọn phòng, trải giường cho ngồi ở bên trong và chuẩn bị các món đồ ăn uống.

Khi trời sắp tối, cô ấy đem nước đến cho A-na-luật rửa tay, rồi mang thức ăn đến và mời:

– Sa-môn hãy ăn đi.

A-na-luật đáp:

– Tôi chỉ ăn mỗi ngày một lần, không có ăn chiều.

Quả phụ suy nghĩ: “Tuy không ăn, nhưng tối chắc sẽ nằm chung với ta”.

Cô ấy lại trải giường tốt cho nằm.

Quả phụ ăn xong, đốt đèn dầu rồi đứng ở đầu giường, níu kéo y áo của A-na-luật, định làm việc bất tịnh.

A-na-luật nói:

– Phạm hạnh ta trong sạch, không thể làm theo ý cô. Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói về sự bất tịnh của dâm, của việc hướng dâm, niệm dâm, sự thiêu đốt của dâm.

Suốt đêm, quả phụ quấy nhiễu A-na-luật nhưng không được, liền suy nghĩ: “Ðây ắt là Sa-môn thanh tịnh, chẳng phải là hạng bất tịnh”.

Tâm ý cô ta liền được khai mở và tin tưởng A-na-luật. A-na-luật giảng cho cô ấy nghe pháp vi diệu. Quả phụ lập tức dẹp bỏ hai mươi ức tà kiến và chứng quả Tu-đà-hoàn. Cô ấy liền đứng dậy đảnh lễ sát chân A-na-luật và nói:

– Từ nay trở đi, con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, xin làm Ưu-bà-di, suốt đời không sát sanh. Xin tôn giả A-na-luật nhận lời thỉnh của con, hàng ngày đến thọ thực ở đây.

A-na-luật im lặng nhận lời.

Quả phụ liền vào trong chuẩn bị các loại thức ăn, dâng nước sạch, tự tay dâng thức ăn. Khi tôn giả ăn xong, cô ấy dâng nước rồi quỳ phía trước, bạch A-na-luật rằng:

– Xin hãy nhận y áo, đồ ăn uống, giường nằm, thuốc chữa bệnh của con đến trọn đời.

A-na-luật im lặng nhận lời.

A-na-luật thuyết pháp xong liền đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở nước Xá-vệ, đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía. Phật hỏi A-na-luật:

– Trong hạ có thiếu thốn gì không?

A-na-luật bạch Phật:

– Không có thiếu gì cả.

A-na-luật đem việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– A-na-luật! Giống như có bốn con rắn ở trong một phòng, thà ở cùng một chỗ với rắn độc, chứ không ngồi chung giường với người nữ.

Giống như có một người sáng suốt, vua ra lệnh cho người này coi giữ bốn con rắn ấy, cho ăn uống điều độ và bảo: “Nếu một con rắn nổi giận thì sẽ giết ông ngay. Ông hãy làm theo những gì ông thấy là đúng”. Người ấy liền bỏ đi và lại gặp năm tên cướp cầm đao định giết ông ấy. Này A-na-luật! Người này sợ bốn con rắn nên trốn đi, lại gặp năm tên cướp, lại tránh khỏi chúng, lại gặp sáu kẻ thù thường rình tìm cách hại người ấy. Hễ gặp nhau là họ sẽ sẽ giết ông ấy ngay. Ông ta lại thoát khỏi nạn đó.

Phía trước có căn nhà trống, ông ấy muốn vào trốn trong đó. Thấy nhà trống rỗng, ông ta đập vào bốn vách thì gặp một cái bình trống rỗng. Có một người đến bảo người này rằng:

“Có giặc đang đến, hãy trốn ngay đi!”

Vừa ra cổng, ông ta đã gặp giặc và lại trốn thoát.

Phía trước có núi, sông, nước chảy rất xiết, có vô số người đã rơi xuống nước chết. Nơi ông ấy đang đứng lại có hổ, sói định đến làm hại ông ta. Ông ta muốn vượt sông nhưng không có ghe, thuyền. Ông ta suy nghĩ: “Ta phải làm cách nào để vượt dòng sông này?”

Ông ta liền gom cây, cỏ buộc lại làm chiếc bè, dùng tay chân bơi trong nước và qua đến bờ bên kia, thoát khỏi bốn con rắn, năm tên cướp, sáu kẻ thù, tên giặc nơi nhà trống, núi, sông, hổ, sói… Bà-la-môn ấy đã được sống sót.

Phật bảo A-na-luật:

– Lý do ta đưa ra ví dụ này là để giải thích ý nghĩa này:

Nơi rắn ở là dụ cho thân này.

Thân mập, trắng, xinh đẹp này nhờ cha mẹ mà được lớn.

Thân này vô thường, là pháp hư hoại.

Bốn con rắn là bốn đại: địa, thủy, hỏa, phong. Mỗi đại mà tăng lên thì chết ngay.

Năm tên giặc là năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Sáu kẻ thù là dụ cho sáu nhập.

Nhà trống là dụ cho sáu căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ. Quán sát mắt thì thấy mắt rỗng không, quán sát tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì thấy….ý rỗng không.

Ra cửa gặp giặc là dụ cho sáu trần bên ngoài.

Núi sông là dụ cho bốn sử ở Dục giới, đó là: dục sử, bất khả sử, nghi sử, kiến sử.

Nước sông là ba ái, đó là: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.

Hổ, sói ở nơi cư trú là năm đường sanh tử.

Vượt qua bờ kia là Niết-bàn.

Bè là tám đường chánh.

Tay chân bơi trong nước là sự dõng mãnh tinh tấn.

Bà-la-môn được thoát là Như Lai Vô Sở Trước Ðẳng Chánh Giác.

Phật bảo A-na-luật:

– Ta cùng ông khổ nhọc tinh cần học đạo chính là như vậy. Vì vậy phải thường ngồi thiền ở nơi vắng vẻ, dưới gốc cây, chớ có lười biếng.

Nhân việc ấy, Thế Tôn kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào ngủ đêm chung phòng với người nữ thì phạm tội đọa.

Phật ở núi Bạch Thiện.

Giữa đêm, Phật dậy đi kinh hành trước thất. Lúc ấy Tỳ-kheo Tu-na-sát-đa, con của người đóng kịch, dùng y trùm kín lại, đến dọa Thế Tôn rằng:

– Ta là đại thần của trời đất, ông hãy tránh xa ta.

Thế Tôn bảo:

– Mười tám ức ma đến đe dọa cũng không thể làm động một sợi lông của Ta, huống gì một người trùm kín áo như ngươi mà dọa được ta sao?

Sáng hôm sau, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo nào tự hù nhát người khác, hoặc bảo người hù dọa thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lấy y bát của nhóm mười bảy Tỳ-kheo đem giấu. Khi kiền chùy được đánh, chúng Tăng vào chỗ ngồi, nhóm mười bảy Tỳ-kheo tìm y bát không biết ở đâu. Khi chúng Tăng đã giải tán, họ mới được trả y bát. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo nói:

– Ông là Sa-môn, vì sao lại trộm y bát của người?

Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:

– Chỉ đùa thôi chứ đâu có trộm.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đùa giỡn giấu y bát, ống khóa, ống đựng kim, giày da… và các vật khác, tự giấu hoặc dạy người khác giấu thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Thích tử Bạt-nan-đà bán chịu y cho Tỳ-kheo ni. Sau đó mượn để mặc. Khi mặc y đó đã rách, Tỳ-kheo ấy lại theo cô ni nọ đòi tiền y.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào bán chịu y cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Thức xoa ma ni, Sa-di, Sa-di ni, lại mượn mặc. Khi mặc rách lại đòi tiền y thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Tôn giả Ma-ha-câu-chí-la từ nước Câu-tát-la đến nước Xá-vệ. Dọc đường vị ấy ngủ ở làng khác. Lúc ấy trong làng có hai vợ chồng cãi lộn, người vợ bỏ trốn.

Vào sáng sớm, tôn giả Ma-ha-câu-chí-la đắp y mang bát ra khỏi thôn này, đến nước Xá-vệ. Trên đường gặp người phụ nữ này, phụ nữ ấy hỏi Sa-môn:

– Thầy định đi về đâu?

Ðáp:

– Ðến nước Xá-vệ.

Phụ nữ đó nói với Sa-môn:

– Xin làm bạn đường để cùng đến nước Xá-vệ.

Ðáp:

– Tùy ý.

Lúc đó người chồng tìm vợ không thấy, gặp một người đi đường liền hỏi:

– Trên đường có thấy một người phụ nữ đi về phía Tây không?

Người ấy đáp:

– Có một phụ nữ cùng đi về phía Tây với Sa-môn.

Người chồng nổi giận, đuổi theo bắt được Sa-môn, liền hỏi:

– Ông là Tỳ-kheo, định dắt vợ tôi đi đâu vậy?

Tỳ-kheo đáp:

– Tôi không có dắt đi. Cô ấy tự đi theo.

Người chồng liền đánh Sa-môn nhừ tử rồi thả đi.

Ðến nước Xá-vệ, người chồng nói với các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo bạch với Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào đi chung đường với phụ nữ từ một làng đến một làng thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương-xá.

Tỳ-kheo Từ-địa vu khống tôn giả Ðạp-bà phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Nghe vậy, các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào vu khống Tỳ-kheo khác phạm Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ thì phạm Ba-dật-đề.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một Tỳ-kheo từ Câu-tát-la đến nước Xá-vệ. Giữa đường, đến vườn Âm-la thì gặp bọn cướp. Vị ấy hỏi bọn cướp:

– Các anh đi đâu vậy?

Ðáp:

– Ðến nước Xá-vệ.

Sa-môn liền xin làm bạn đường và bọn cướp đồng ý.

Ðến nước Xá-vệ, bọn cướp không dám đi đường lớn và bị đội cảnh vệ bắt gọn. Cảnh vệ hỏi bọn cướp rằng:

– Sa-môn này cũng làm cướp sao?

Ðáp:

– Là người cầm đầu bọn cướp.

Họ liền dẫn đến gặp quan và trình bày đầy đủ sự việc. Quan ấy có tâm đạo rất tốt nên nói:

– Sa-môn Thích tử quyết không làm cướp. Hãy đi đi và đừng có tái phạm nữa.

Tỳ-kheo ấy đến nước Xá-vệ, nói với các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào biết mà đi chung với bọn cướp từ một làng đến một làng thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương-xá.

Lúc ấy, tôn giả Ðại Mục-kiền-liên dẫn hơn mười thiếu niên ở thành La-duyệt vào đạo. Vị ấy tập hợp bảy tám chục Sa-di tuổi trẻ chưa đủ hai mươi tuổi và lần lượt truyền giới Cụ túc. Ở bên ngoài vườn Trúc, các Sa-di ấy thiếu sức khỏe, đói bụng quá nên kêu gào đòi ăn.

Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-Nan:

– Ai đang kêu gào than khóc vậy?

A-Nan bạch Phật:

– Tôn giả Mục-kiền-liên truyền giới Cụ túc cho bảy tám chục Sa-di ở bên ngoài. Vì đói không được ăn nên họ kêu khóc.

Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi Mục-kiền-liên:

– Ông đã truyền giới Cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi, phải không?

Ðáp:

– Ðúng vậy, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Chưa đủ hai mươi tuổi, không thể chịu nổi nóng lạnh, đói khát, cũng không thể hành đạo. Người đủ hai mươi tuổi mới có thể chịu được đói khát, nóng lạnh, lại có thể hành đạo. Tỳ-kheo nào truyền giới Cụ túc cho Sa-di chưa đủ hai mươi tuổi thì phạm tội đọa. Nếu truyền giới Cụ túc thì chẳng đắc giới. Các Sa-môn truyền giới thì phạm tội tàm quý.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo tự tay đào đất, rồi dạy người đào đất. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Vì sao Sa-môn Thích tử tự tay đào đất, lại dạy người đào đất, có khác gì người cày ruộng?!

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào tự tay đào đất, hoặc dạy người đào thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một trưởng giả thỉnh Phật và chúng Tăng trong bốn tháng hạ cúng dường cung cấp y áo, đồ ăn uống, thuốc trị bệnh. Các Tỳ-kheo đến chỗ trưởng giả xin thuốc trị bệnh trong bốn tháng. Có Tỳ-kheo xin quá bốn tháng. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Chúng ta chỉ hứa cung cấp cho Tỳ-kheo đủ bốn tháng chứ không có hơn.

Nghe vậy các Tỳ-kheo mười hai pháp liền đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo được thỉnh trong bốn tháng hạ thì chỉ đến xin y áo, thuốc trị bệnh trong bốn tháng, trừ khi họ thỉnh thêm, hoặc có lúc thỉnh riêng, hoặc thỉnh một ngày. Tỳ-kheo nào xin quá hạn thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Vào ngày mười lăm, kiền chùy được đánh để tập hợp chúng Tăng lại thuyết giới. Tôn giả Xiển-nộ bảo các Tỳ-kheo:

– Tôi không học giới ấy, phải hỏi Luật sư học rộng trước, xem giới này có nghĩa gì.

Các Tỳ-kheo không biết trả lời làm sao, liền đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Vào ngày thuyết giới, Tỳ-kheo nào nói rằng: “Tôi không học giới ấy, phải hỏi Luật sư học rộng trước, xem giới này có nghĩa gì” thì phạm tội đọa.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Nếu không hiểu giới, phải hỏi Luật sư học rộng thì không phạm.

Phật ở vườn Cù-sư-la, thuộc Câu-xá-di.

Tỳ-kheo ở Câu-xá-di thích tranh cãi, chửi mắng, phỉ báng nhau. Nhóm sáu Tỳ-kheo bảo nhau:

– Các Tỳ-kheo ấy chửi mắng, phỉ báng nhau. Chúng ta cứ việc tụng kinh rồi mai sẽ nói với họ.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào nghe Tỳ-kheo khác tranh cãi mà lặng lẽ tụng kinh, để sáng hôm sau mới nói thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Cù-sư-la, thuộc Câu-xá-di.

Lúc ấy, Tỳ-kheo Cù-sư-la tập hợp hai mươi vị Tăng để tác pháp sám hối. Nhóm sáu Tỳ-kheo bảo nhau: “Chúng ta hãy lặng lẽ đi ra cho họ không thể sám hối được”, và lập tức rời khỏi chỗ, đi ra ngoài.

Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào khi Tăng đoán sự mà lặng lẽ bỏ đi, không nói với Tỳ-kheo ngồi bên cạnh thì phạm tội đọa.

Phật ở núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương-xá.

Ở trong đại chúng, nhóm sáu Tỳ-kheo kêu gào lớn tiếng làm phiền chúng Tăng. Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào kêu gào lớn tiếng làm nhiễu loạn chúng Tăng thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy tôn giả Hải từ Câu-tát-la đến nước Âm-kiệt-đa. Cách nước Âm-kiệt-đa không xa có con rồng tên A-mạc-đề-thổ rất hung ác, bạo ngược cư trú, không ai được đến nơi ấy. Voi, ngựa, lạc đà, bò, lừa đều không được đến. Chim cũng không được bay bên trên.

Vào sáng sớm, tôn giả Âm-kiệt-đố (Hải) đắp y mang bát vào nước Âm-kiệt-đa khất thực và nghe nói cách thành không xa có con rồng tên A-mạc-đề-thổ hung ác bạo ngược, người không được đến nơi ấy. Voi, ngựa, lạc đà, lừa, bò đều không được đến nơi ấy. Chim cũng không được bay bên trên.

Khất thực xong, tôn giả trở ra khỏi thành, cất y bát, rửa chân, vắt tọa cụ lên vai, đến chỗ con rồng ấy.

Trước tiên làm rung động gốc cây ba lần rồi trải tọa cụ ngồi kiết-già.

Nghe mùi cà-sa, rồng A-mạc-đề-thổ nổi giận chạy đến. Tôn giả Hải liền nhập tam muội. Rồng tuôn mưa và sấm sét. Tôn giả Hải biến mưa và sấm sét thành các loại hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng… Rồng lại tuôn mưa rắn, bọ cạp, rùa, ba-ba… Tôn giả Hải hóa rắn thành hoa sen xanh để đeo làm đồ trang sức; hóa bọ cạp thành tràng hoa chiêm-bặc; hóa rùa, ba-ba thành tràng hoa trăm cánh. Rồng lại tuôn mưa giáo, dao, kích; tôn giả Hải hóa chúng thành mía, đường phèn, nho và lấy ăn.

Rồng suy nghĩ: “Ðây chắc là đại thần tiên muốn độ ta nên đến ngồi ở đây”. Rồng liền được khai mở tâm ý, không còn sân hận, hóa thành một Bà-la-môn, đến trước tôn giả Hải đảnh lễ sát đất, chắp tay thưa rằng:

– Con xin quy y ngài.

Tôn giả Hải đáp:

– Ông chớ có quy y tôi. Như tôi quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, ông cũng nên quy y Phật, Pháp, Tăng.

Rồng liền chấp tay vâng lời, chính thức quy y Phật, Pháp, Tăng, xin làm Ưu-bà-tắc, từ nay cho đến trọn đời không sát sanh.

Người trong nước đều nghe tin tôn giả Hải đã chế phục được rồng dữ. Nghe vậy, trưởng giả, Bà-la-môn tranh nhau đến cúng dường.

Tôn giả Hải đi dần đến vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ. Có một Ưu-bà-di nghe tôn giả Hải đến, liền thỉnh cúng dường riêng một ngày.

Vào sáng sớm, tôn giả Hải đắp y mang bát đến nhà Ưu-bà-di ấy. Thấy tôn giả đã ngồi yên, Ưu-bà-di liền đảnh lễ sát đất, dâng nước sạch, tự tay dâng các loại thức ăn.

Tôn giả Hải bảo Ư-bà-di rằng:

– Này chị, tôi đi đường khát quá, có nước trái cây để uống không?

Ưu-bà-di suy nghĩ: “Nếu dâng nước đường đen, đường phèn, nước nho, rượu đắng thì sợ uống vào bị no hơi”.

Cô ấy liền dâng loại rượu giống như nước, có vị cũng như nước. Tôn giả Hải không nếm mà uống ngay. Ưu-bà-di dâng nước xong, liền ngồi ở phía trước nghe pháp.

Tôn giả Hải nói pháp xong liền ra đi.

Khi đến cửa cổng Kỳ-hoàn, hơi rượu mới phát làm vị ấy say mèm, không thể đi được và nằm bên lề đường; ba y, bình bát, túi đựng bát, tích trượng nằm một đống.

Phật biết nhưng vẫn hỏi A-Nan:

– Ông hãy đắp y và cùng Ta ra cổng Kỳ-hoàn xem xét.

Thế Tôn dẫn A-Nan ra cổng Kỳ-hoàn và thấy tôn giả Hải say rượu nằm cạnh đường; ba y, bình bát, túi đựng bát, tích trượng đều nằm ở một chỗ. Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi A-Nan:

– Ðó là ai vậy?

A-Nan bạch Phật:

– Ðó là tôn giả Hải.

Thế Tôn bảo A-Nan:

– Ông hãy trở về Kỳ-hoàn bảo các Tỳ-kheo ra đây hết.

Vâng lời Phật, A-Nan liền vào Kỳ-hoàn mời các Tỳ-kheo ra ngoài cổng. Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Các Tỳ-kheo có từng thấy, nghe, biết tôn giả Hải chế phục rồng dữ hay không?

Người thấy đáp thấy, người nghe đáp nghe. Thế Tôn bảo:

– Này các Tỳ-kheo! Bây giờ ông ấy có thể chế phục nổi một con ểnh ương không? Huống gì là chế phục rồng dữ?!

Các Tỳ-kheo đáp:

– Không thể, thưa Thế Tôn.

Thế Tôn bảo:

– Như vậy đó, này các Tỳ-kheo! Uống rượu là một lỗi lớn. Từ nay trở đi, các Tỳ-kheo không được uống rượu, nếm rượu. Người nào uống rượu, nếm rượu thì phạm tội đọa.

Nước uống có tám loại: nước nho, nước mía, nước thị, nước lê, nước quả nại, nước lúa mạch nấu chín, nước bột gạo (rượu đắng), nước hoa.

Tóm lại mà nói, nước ấy giống như rượu, có vị như rượu, uống vào thì say, Thế Tôn nói đều không được uống.

Loại nước giống như rượu, vị cũng như rượu nhưng uống không say thì Thế Tôn cho phép uống.

Loại nước không giống rượu nhưng uống vào say, Thế Tôn cũng không cho uống.

Loại nước không giống rượu, có vị cũng không giống rượu nhưng uống vào không say thì Thế Tôn cho phép uống.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Ca-lưu-đà-di đã đắc đạo A-la-hán, liền suy nghĩ: “Khi chưa đắc đạo, ta đã cùng nhóm sáu Tỳ-kheo gây phiền não rất nhiều cho những gia đình trưởng giả ở thành Xá-vệ này và đã phạm nhiều việc. Ta phải đi giáo hóa để chuộc lỗi trước đây”.

Vị ấy liền giáo hóa chín trăm chín mươi chín gia đình ở Xá-vệ, còn thiếu một nhà nữa là đủ ngàn nhà. Số gia đình có vợ đắc đạo, nhưng chồng chưa đắc đạo thì không được tính. Số nhà có chồng đắc đạo, nhưng vợ chưa đắc cũng không được tính. Số gia đình vó chồng và vợ đều đắc đạo mới được tính.

Có một Bà-la-môn vợ chồng có duyên được đắc đạo nhờ Ca-lưu-đà-di. Vào sáng sớm, Ca-lưu-đà-di đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực đúng thứ lớp.

Khi đến nhà Bà-la-môn ấy thì Bà-la-môn đã đi khỏi, không có ở nhà. Vợ Bà-la-môn đóng cửa, làm thức ăn ở trong. Ca-lưu-đà-di liền nhập vào chánh định, từ mặt đất trước bếp vọt ra. Thấy vậy, vợ người Bà-la-môn liền suy nghĩ: “Người này chắc theo ta xin ăn đây. Nếu ông ấy treo ngược trên không trung ta cũng không cho”.

Ca-lưu-đà-di liền treo ngược lên không trung. Vợ Bà-la-môn lại suy nghĩ: “Mặt lớn như miệng nồi ta cũng không cho”.

Mặt Ca-lưu-đà-di liền lớn như miệng nồi. Vợ Bà-la-môn lại suy nghĩ: “Nếu tréo miệng treo trên trán ta cũng không cho”.

Ca-lưu-đà-di liền tréo miệng treo trên trán. Vợ Bà-la-môn lại suy nghĩ: “Dù cho ngã chết trước mặt ta, ta cũng không cho thức ăn”.

Ca-lưu-đà-di liền ngã ra chết. Vợ Bà-la-môn sợ quá, liền suy nghĩ: “Sa-môn Thích tử này có nhiều bạn bè, là bạn của vua Ba-tư-nặc, thầy của Mạc-lợi phu nhân. Nghe tin vị ấy chết ở nhà Bà-la-môn này, gia tộc ta chắc sẽ bị giết hết. Nếu vị ấy sống lại, ta sẽ theo ý vị ấy không dám trái nghịch”.

Lúc ấy Ca-lưu-đà-di uốn người ngồi dậy. Thấy vậy, vợ Bà-la-môn suy nghĩ: “Ta phải lấy cơm cháy trong nồi cho ông ấy ăn”. Cô ta liền lấy muỗng xới tìm nhưng không có cơm cháy, chỉ có cơm ngon. Lúc ấy cơm trong nồi tự chảy vào trong bát.

Thấy việc biến hóa này, vợ Bà-la-môn được khai mở tâm ý, nghĩ rằng: “Người có thần thông lớn này đến đây là vì muốn độ ta, chẳng phải đến xin ăn”. Cô ấy liền bưng bát cơm dâng cho vị thầy (Ca-lưu-đà-di). Vị thầy nói:

– Cô không dùng cơm này thì hãy đem cúng cho chúng Tăng.

Vợ Bà-la-môn vốn đã gieo trồng căn lành nơi vị Phật trước nên bảo với Ca-lưu-đà-di:

– Hãy cùng đi. Tôi muốn đem nồi cơm này dâng cúng hết cho chúng Tăng.

Vị thầy nói:

– Tùy ý.

Lúc ấy, vợ Bà-la-môn vác nồi cơm ấy đến Kỳ-hoàn, đánh kiền chùy tập hợp chúng Tăng, đem cơm dâng cúng cho chúng Tăng, đảnh lễ Ca-lưu-đà-di rồi ngồi qua một phía. Vị thầy liền nói các loại pháp, phá hai mươi ức thân kiến, đắc quả Tu-đà-hoàn.

Sau khi được kiến đế, phụ nữ ấy đảnh lễ vị thầy, nguyện từ nay trở đi quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, xin làm Ưu-bà-di, suốt đời không sát sanh.

Phụ nữ ấy đảnh lễ Ca-lưu-đà-di rồi trở về nhà nói với Bà-la-môn rằng:

– Tôn giả Ca-lưu-đà-di đã đến đây khất thực, làm bao nhiêu pháp biến hóa, tôi liền cúng dường nồi cơm cho chúng Tăng và được nghe thuyết pháp, nay đã đắc đạo Tu-đà-hoàn. Ông hãy mau đến đó nghe pháp.

Bà-la-môn ấy vốn đã trồng căn lành nơi vị Phật nên lập tức đến chỗ Ca-lưu-đà-di, đảnh lễ sát đất rồi ngồi ở phía trước. Ca-lưu-đà-di nói pháp phá hai mươi ức thân kiến làm cho Bà-la-môn ấy đắc đạo Tu-đà-hoàn.

Sau khi được kiến đế, Bà-la-môn liền đứng dậy đảnh lễ sát đất, nguyện từ nay trở đi quy y Phật, Pháp, Tăng, làm Ưu-bà-tắc, suốt đời không sát sanh.

Nghe thuyết pháp xong, Ưu-bà-tắc liền đứng dậy đảnh lễ rồi đi.

Về đến nhà, ông ta bảo vợ rằng:

– Ca-lưu-đà-di là thiện tri thức cao quý nhất của chúng ta, đã cắt đứt gốc sanh tử của chúng ta, đóng kín cửa địa ngục, vượt qua bờ bên kia. Hãy mời ngài đến đây nhận tất cả các thứ cần dùng như: y, áo, cơm ăn, thuốc trị bệnh.

Người vợ bảo Bà-la-môn:

– Ông hãy đến thỉnh đi.

Bà-la-môn liền đến gặp Ca-lưu-đà-di, đảnh lễ sát đất, quỳ ở phía trước, bạch rằng:

– Xin hãy đến nhà con nhận các thứ cần dùng như: y, áo, cơm ăn, thuốc trị bệnh. Chớ có nghi ngại.

Ca-lưu-đà-di im lặng nhận lời. Vị ấy thường đến đó nhận các thứ cần dùng.

Bà-la-môn này chỉ có một người con. Họ cưới vợ cho con và gọi hai vợ chồng người con đến dạy rằng:

– Sau khi cha mẹ qua đời, các con phải chăm nom Ca-lưu-đà-di như khi cha mẹ còn sống vậy.

Người con quỳ xuống đáp:

– Xin vâng.

Sau đó, cha mẹ lần lượt qua đời. Sau bảy ngày, người con tắm rửa, mặc áo, đến chỗ Ca-lưu-đà-di đảnh lễ sát đất rồi ngồi qua một phía, bạch vị thầy rằng:

– Ca-lưu-đà-di chính là cha mẹ của con. Xin hãy đến nhà con nhận các thứ cần dùng như: y, áo, cơm ăn, thuốc trị bệnh.

Ca-lưu-đà-di có cần thứ gì thường đến đó lấy.

Lúc ấy con của Bà-la-môn đi khỏi, không có ở nhà. Có năm trăm tên cướp vừa cướp của ở bên ngoài, đang đem của cải vào thành Xá-vệ. Người cầm đầu nhóm cướp có tướng mạo rất xinh đẹp. Ở trên lầu, nàng dâu của người Bà-la-môn trông thấy liền sai một nàng hầu đến, bảo:

– Xin hãy tạm dừng chân, hạ cố vào thăm tệ xá này.

Tướng cướp liền vào nhà cùng con dâu của Bà-la-môn làm việc bất tịnh.

Tôn giả Ca-lưu-đà-di cũng vừa đến nhà, đến chỗ ngồi ngồi xuống. Cô ta liền dâng nước sạch, bày các loại thức ăn.

Khi tôn giả ăn xong, cô ta lại dâng nước sạch và ngồi ở phía trước để nghe pháp. Tôn giả liền nói sự dơ bẩn của dâm, phạm giới đọa đường ác, trì giới sanh thiên.

Dâu của Bà-la-môn suy nghĩ: “Sa-môn này đến sau, lại nói về sự bất tịnh của dâm, trì giới sanh thiên; chắc là đã thấy ta làm việc bất tịnh, lại là người thân tín nhất của chồng ta. Nếu ông ấy nói việc này thì tội ta chẳng phải nhỏ”.

Sau khi Ca-lưu-đà-di đi, cô ấy bảo tướng cướp:

– Sa-môn này đến sau, chỉ nói về dâm dục. Chắc ông ấy dã thấy ta làm việc bất tịnh, ông ấy lại là người thân tín nhất của chồng em. Nếu ông ta nói việc này thì tội của em chẳng phải nhỏ.

Tướng cướp hỏi:

– Vậy phải làm sao?

Dâu của Bà-la-môn đáp:

– Phải bắt giết.

Tướng cướp đáp:

– Không thể giết được.

Nàng dâu nói:

– Vì sao không giết được?

Tướng cướp đáp:

– Ðó là con của dòng họ lớn, bạn của vua Ba-tư-nặc, thầy của Mạt-lợi phu nhân, vì vậy không thể giết được.

Nàng dâu nói:

– Cần phải tìm cách.

Cô ta liền giả bệnh và đưa thư mời Ca-lưu-đà-di đến.

Vào buổi chiều, Ca-lưu-đà-di đắp y mang bát đến nhà ấy. Nàng dâu đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Ca-lưu-đà-di liền nói pháp cho cô ấy nghe. Nói pháp xong, vị ấy định ra đi. Dâu của Bà-la-môn bạch rằng:

– Hãy ở lại thêm một lát, chớ có đi. Nhờ nghe pháp của ngài mà bệnh con đã giảm chút ít.

Ca-lưu-đà-di lại thuyết pháp.

Khi mặt trời lặn, tướng cướp liền cầm dao đứng ở phía sau chặt đầu, vị ấy liền qua đời. Họ đem xác vị ấy giấu dưới hố phân ngựa ở sau nhà.

Hôm ấy là ngày rằm, chúng Tăng đánh kiền chùy để tập họp chúng Tăng thuyết giới. Khi phát thẻ xong thì dư một thẻ. Bậc Thượng tọa hỏi:

– Ai không vào thuyết giới?

Người bên cạnh nói:

– Tôn giả Ca-lưu-đà-di không đến.

Thượng tọa hỏi:

– Vị ấy có dặn gì không?

Ðáp:

– Không.

Thượng tọa không biết làm sao, liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Các Tỳ-kheo hãy thuyết giới đi. Ca-lưu-đà-di đã nhập Niết-bàn. Còn thiếu một người nữa mới đủ năm trăm người.

Vị Thượng tọa nói:

– Bạch Thế Tôn! Ca-lưu-đà-di là bạn thân của con, nay vị ấy đã từ biệt con rồi!

Lúc ấy, vào sáng sớm Thế Tôn đắp y mang bát cùng chúng Tăng vào nước Xá-vệ.

Ðến hố phân ngựa, do sức Phật, thân Ca-lưu-đà-di trồi lên khỏi mặt đất bảy trượng. Các Tỳ-kheo đưa giường lên đỡ, thân ấy liền hạ xuống năm trên giường.

Các Tỳ-kheo đưa xác vị ấy ra ngoài thành, đến nghĩa địa, cúng dường các loại hoa hương, dựng tràng phan, bảo cái xung quanh, trỗi các loại âm nhạc, rưới dầu thơm lên thân vị ấy để làm lễ trà-tỳ rồi dựng tháp thờ.

Nghe tin tôn giả Ca-lưu-đà-di bị Bà-la-môn ấy giết, vua Ba-tư-nặc liền cho giết gia đình Bà-la-môn. Bề tôi đi giết mười tám gia đình, bắt năm trăm tên cướp, chặt hết tay chân quăng xuống hào ở Kỳ-hoàn.

Nhân việc này, Thế Tôn tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào không dặn Tỳ-kheo ở gần mà vào làng phi thời thì phạm Ba-dật-đề.

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

– Tôn giả Ca-lưu-đà-di đã tạo nghiệp ác gì mà nay chứng quả A-la-hán rồi còn bị gia đình Bà-la-môn ấy giết?

Thế Tôn bảo:

– Xưa kia Ca-lưu-đà-di làm chủ việc tế trời. Có năm trăm tên cướp, cướp được của cải đem vào nước Xá-vệ. Năm trăm tên cướp chặt bốn chân của con dê đem đến chỗ tế trời. Ông chủ đền tế trời liền giết con dê ấy. Năm trăm tên cướp chặt bốn chân dê lúc ấy, nay là năm trăm tên cướp ở Kỳ-hoàn. Chủ đền tế trời giết con dê, nay là Ca-lưu-đà-di. Tuy đắc A-la-hán nhưng không thoát khỏi nghiệp báo đời trước. Con dê lúc ấy nay là dâu của người Bà-la-môn.

Sau khi Thế Tôn nói chuyện đời trước của Ca-lưu-đà-di xong, các Tỳ-kheo hoan hỷ đảnh lễ mà lui ra.

TỲ NẠI DA
Hết quyển chín

—-o0o—-

Quyển thứ mười

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Vào sáng sớm, nhóm sáu Tỳ-kheo đến nhà đã thỉnh Phật và chúng Tăng ngồi đùa giỡn với trẻ con.

Lúc ấy trời rất nóng, vợ trưởng giả muốn cởi bớt y phục để làm thức ăn cho chúng Tăng nhưng xấu hổ với nhóm sáu Tỳ-kheo.

Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này không có điều gì cấm kỵ cả. Chúng Tăng chưa đến mà đã đến trước, làm trở ngại việc làm thức ăn của người.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Có gia đình thỉnh ăn sáng hoặc ăn ngọ, Tỳ-kheo nào đến ngồi ở nhà ấy trước đại chúng để đùa giỡn với trẻ em thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo tự ỷ thuộc dòng dõi nhà vua nên vào cung khi gà chưa gáy. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này tự ỷ thuộc dòng dõi nhà vua nên vào cung khi gà chưa gáy.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào khi trời chưa sáng, của báu chưa được đem cất, vua chưa mặc y phục mà bước qua ngưỡng cửa thành – trừ khi bị quan gọi gấp – thì phạm tội đọa.

Có mười lý do không nên vào cung vua:

– Nếu Tỳ-kheo vào cung vua, đệ nhất phu nhân bước ra mỉm cười, đảnh lễ Sa-môn, Tỳ-kheo cũng mỉm cười đáp lại. Vua thấy liền sanh ác ý, nghĩ rằng: “Sa-môn này tư thông với vợ mình”. Ðó là lý do đầu tiên của việc Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc vua cùng phu nhân ngủ chung, sau đó quên là đã ngủ chung mà phu nhân có thai. Tỳ-kheo vào cung, vua liền sanh ác tâm, nghĩ rằng: “Sa-môn này thường vào cung, chắc là đã tư thông với vợ ta”. Ðó là lý do thứ hai của việc Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc cung vua mất châu báu, thấy Tỳ-kheo vào cung, vua liền sanh ác tâm, nghĩ rằng: “Sa-môn này thường vào cung, chắc là đã ăn trộm châu báu mang đi”. Ðó là lý do thứ ba của việc Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc vua bàn luận định giết thái tử và những người thân. Vua chưa ra sắc lệnh thì sự việc bị tiết lộ. Tỳ-kheo vào cung, vua liền sanh ác niệm, nghĩ rằng: “Không còn ai khác, chính Tỳ-kheo đã tiết lộ việc này”. Ðó là lý do thứ tư Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc thái tử mưu tính giết vua. Tỳ-kheo vào cung ngồi nói chuyện với thái tử, vua liền sanh ác niệm, nghĩ rằng: “Tỳ-kheo này thường đến chỗ thái tử, chắc là đồng mưu với thái tử”. Ðó là lý do thứ năm Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc vua muốn giết đại thần. Vua chưa có sắc lệnh mà đã bị tiết lộ ra ngoài. Tỳ-kheo vào cung, vua liền sanh ác niệm, nghĩ rằng: “Không còn ai khác, chắc chắn Tỳ-kheo ấy đã tiết lộ việc này”. Ðó là lý do thứ sáu Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc vua muốn đưa người hạ tiện lên làm đại thần. Vua chưa có sắc lệnh thì tiếng đồn đã vang ra ngoài. Tỳ-kheo vào cung vua, vua liền sanh ác niệm, nghĩ rằng: “Tỳ-kheo ấy đã tiết lộ việc này”. Ðó là lý do thứ bảy Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc vua muốn công phạt nước khác. Phi nhân, Dược-xoa truyền tin ấy đi. Tỳ-kheo vào cung, vua liền sanh ác niệm: “Chắc chắn Tỳ-kheo tiết lộ tin này”. Ðó là lý do thứ tám Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

– Hoặc có lúc vua và đại thần không thích gặp Tỳ-kheo, Tỳ-kheo vào cung, đại thần không thích gặp. Ðó là lý do thứ chín Tỳ-kheo không được vào cung vua.

– Hoặc là Tỳ-kheo thường vào cung vua, bị giữ ở lại đêm trong ấy, trở ngại không thể ngồi thiền, tụng kinh, giảng dạy. Ðó là lý do thứ mười Tỳ-kheo không nên vào cung vua.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Vào ngày mười lăm, kiền chùy được đánh để tập hợp chúng Tăng thuyết giới. Lúc ấy Tỳ-kheo Xiển-nộ nói rằng:

– Các giới luật ấy tôi đã thông thuộc hết”, và các Tỳ-kheo cho là Tỳ-kheo Xiển-nộ đã thông thuộc. Các Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Khi thuyết giới, Tỳ-kheo nào nói rằng: “Tôi đã biết pháp này, việc gì cứ nửa tháng lại phải đến thuyết giới. Tôi đã hiểu pháp ấy”. Các Tỳ-kheo cho rằng Tỳ-kheo ấy thường xuyên đến nghe, đã từng nghe giới này, hoặc đã nghe ở nhiều nơi khác. Tỳ-kheo nào như vậy thì phải nên sám hối như pháp và dạy bảo họ phải chuyên chú nghe giới. Tỳ-kheo nào không hiểu mà nói hiểu thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Các Tỳ-kheo lấy ngà voi, xương, sừng làm ống đựng kim. Thấy vậy các trưởng giả nói với nhau:

– Nếu Sa-môn Thích tử không tham đồ tốt thì việc gì phải lấy ngà voi, xương, sừng làm ống đựng kim?!

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào dùng ngà voi, xương, sừng làm ống đựng kim thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Các Tỳ-kheo không biết pháp làm giường nên làm loại giường có chân rất cao. Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn dạy:

– Tỳ-kheo nào làm giường có chân cao quá tám ngón tay của Như Lai, trừ phần diềm ráp vào thành giường thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thu lượm sợi bông và cỏ Bồ-đài để dành làm ngọa cụ. Chỉ vài ngày sau liền sanh trùng. Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào cất sợi bông và cỏ Bồ-đài để nhồi ngọa cụ thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo làm y tắm mưa nhưng không biết kích cở. Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Phật, Phật bảo:

– Tỳ-kheo nào làm y tắm mưa dài quá sáu khuỷu tay, rộng quá hai khuỷu rưỡi thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Y áo các Tỳ-kheo mỏng, thưa, Thế Tôn cho phép mặc y lót. Các Tỳ-kheo không biết may dài ngắn thế nào, liền đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào may y lót dài quá bốn khuỷu tay, rộng quá hai khuỷu tay thì phạm tội đọa.

Thế Tôn ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Thế Tôn cho phép làm tọa cụ, các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, liền đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào làm tọa cụ dài quá hai khuỷu tay, rộng quá một khuỷu tay rưỡi (trừ phần biên) thì phạm tội đọa.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Tỳ-kheo Nan-đà là em con mẹ kế của Thế Tôn, có thân hình xinh đẹp không ai bằng. Phật có ba mươi hai tướng tốt, Nan-đà có ba mươi tướng. Nan-đà đắp y có kích thước bằng y của Như Lai đắp. Trông thấy Nan-đà đến, các Tỳ-kheo trưởng lão cho là Như Lai nên đều đứng dậy nghinh đón. Khi Nan-đà đến gần, họ mới biết là Nan-đà, chẳng phải là Phật nên đều xấu hổ, ngồi xuống trở lại.

Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng, vì muốn đầy đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Tỳ-kheo nào may ba y bằng kích thước của y Như Lai thì phạm Ba-dật-đề. Y Như Lai dài chín khuỷu tay, rộng sáu khuỷu tay. (Y Tỳ-kheo dùng có kích thước là: rộng ba khuỷu tay, dài năm khuỷu tay)

Pháp BA-LA-ÐỀ-ÐỀ-XÁ-NI

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy trời hạn hán, thóc lúa quý hiếm, khất thực khó được. Các Tỳ-kheo có nhan sắc tiều tụy.

Tỳ-kheo ni Cồ-đàm-di-đề-thứ có bạn bè rộng rãi, có thể xin mọi thứ theo ý thích, luôn được các trưởng giả giúp đỡ.

Thấy các Tỳ-kheo có nhan sắc tiều tụy, có bao nhiêu thức ăn xin được, cô ấy đều cúng hết cho các Tỳ-kheo, còn mình thì nhịn đói, không ăn liên tiếp ba bốn ngày.

Vào sáng sớm, cô ấy muốn vào thành nhưng khi đến cửa thành thì bị ngất xỉu, nằm cạnh đường. Có một Ưu-bà-tắc trông thấy, liền vào nhà sai tỳ nữ đến đỡ Tỳ-kheo ni ấy vào nhà. Tỳ nữ liền đỡ Tỳ-kheo ni đó vào nhà, nấu cháo cho cô ấy ăn.

Ưu-bà-tắc hỏi ni cô:

– Cô bị bệnh gì mà nằm ở cạnh đường vậy?

Tỳ-kheo ni nói đầy đủ việc ấy, nghe vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này không biết đủ mới để cho Tỳ-kheo ni Ðề-thứ nhịn đói ba bốn ngày rất là khổ sở.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Phật, Thế Tôn bảo:

– Tỳ-kheo nào không bệnh mà vào làng nhận thức ăn từ Tỳ-kheo ni không bà con thì Tỳ-kheo ấy phải sám hối với một Tỳ-kheo có giới hạnh rằng: “Tôi đã làm việc đáng nhục nhã, cần phải sám hối như pháp”. Ðó là pháp hối quá.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một trưởng giả bày thức ăn, thỉnh nhiều Tỳ-kheo. Tỳ-kheo ni Thổ-la-nan-đà cũng thọ thực ở nhà ấy. Cô ta lớn tiếng kêu xin để mong được lợi ích. Các trưởng giả thấy vậy liền nói với nhau:

– Ở giữa đại chúng, vì sao Tỳ-kheo ni này lại kêu la lớn tiếng như vậy?

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Khi Tỳ-kheo ngồi ăn, nếu có Tỳ-kheo ni nào lớn tiếng xin thức ăn thì Tỳ-kheo không được ăn, mà phải ngồi yên. Các Tỳ-kheo phải bảo Tỳ-kheo ni rằng: “Này cô! Hãy thôi, để yên cho các Tỳ-kheo thọ thực”. Nếu trong chúng không có Tỳ-kheo nào bảo với Tỳ-kheo ni như vậy thì các Tỳ-kheo này phải sám hối với các Tỳ-kheo rằng: “Tôi đã làm việc đáng hổ thẹn. Cần phải sám hối như pháp.”. Ðó là pháp hối quá.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy Thất-lê-yết-nộ – đại thần của vua Ba-tư-nặc – giàu có vô hạn, ruộng vườn rất nhiều, trì giới tinh tấn, thông minh trí tuệ, đã đắc quả kiến đế. Vị ấy thỉnh Phật và chúng Tăng xin cung cấp y phục, thức ăn, giường nằm, thuốc chữa bệnh, cúng dường làm phước không biết mỏi mệt. Sau đó vị ấy nghèo dần, vợ con tôi tớ không đủ y áo để che thân. Thấy vậy các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử không hề biết đủ. Cứ đến nhà Thất-lê-yết-nộ mãi, làm ông ấy lấy phần của vợ con cho Tỳ-kheo ăn đến nỗi vợ con không có áo quần để mặc.

Nghe vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Nhà của người đã kiến đế thỉnh thì không được cứ đến nhà ấy thọ thực mãi. Ðối với nhà của người đã kiến đế, tuy họ đã thỉnh trước nhưng Tỳ-kheo không được ở đó quá một đêm. Tỳ-kheo nào đến đó, tự tay nhận đồ ăn uống quá một lần thì phải sám hối với Tỳ-kheo có giới hạnh rằng: “Tôi thật đáng xấu hổ, phải sám hối như pháp”. Ðó là pháp hối quá.

Phật ở vườn Ni-câu-loại của dòng họ Thích, ở Ca-duy-la-vệ.

Dòng họ Thích ở Ca-duy-la-vệ thường để riêng đồ ăn uống để cúng Phật và Tăng, sau đó mới tự ăn.

Lúc ấy các phụ nữ họ Thích mang thức ăn đến tịnh xá cúng dường Phật và Tăng, khi sắp đến nơi thì bị bọn cướp cướp sạch. Nghe tin các phụ nữ họ Thích bị bọn cướp cướp sạch, nhóm sáu Tỳ-kheo bảo nhau rằng:

– Chúng ta hãy cùng đến trêu đùa chơi.

Họ liền đến bảo các phụ nữ rằng:

– Ðồ ăn uống đâu rồi? Hãy cho chúng tôi một ít đi!

Các phụ nữ đều mất hết quần áo nên xấu hổ nói rằng:

– Bị giặc cướp hết rồi.

Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi A-Nan:

– Ai nói chuyện lớn tiếng ngoài vườn vậy?

A-Nan bạch Phật:

– Các phụ nữ họ Thích mang đồ ăn uống đến, bị giặc cướp đoạt, lại bị nhóm sáu Tỳ-kheo đến trêu ghẹo, vì vậy gây ồn ào.

Thế Tôn bảo A-Nan:

– Ông hãy đi lấy vải dư đem cho họ đắp.

Vâng lệnh Phật, A-Nan liền lấy vải dư cho họ đắp. Các phụ nữ dòng họ Thích liền đắp vải ấy rồi đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía. Thế Tôn liền nói pháp cho các cô ấy nghe. Thuyết pháp xong, Ngài im lặng. Thấy Phật im lặng, các phụ nữ đứng dậy đảnh lễ Phật rồi đi.

Khi các phụ nữ ấy đi được một lát, nhân việc ấy Thế Tôn liền tập hợp chúng Tăng, vì muốn đủ mười công đức nên kiết giới cho Sa-môn:

– Có tịnh xá nằm ở nơi hoang vắng, xa đường cái, có tai nạn nguy hiểm, có nhiều giặc cướp; Tỳ-kheo nào biết chỗ mình ở, ở nơi hoang vắng, xa đường cái, có nhiều tai nạn nguy hiểm, có nhiều giặc cướp, trước không được Tăng sai ra ngoài và đã thọ thực ở bên trong, hoặc ngoài vườn mà lại ra ngoài xin thức ăn uống thì Tỳ-kheo ấy phải sám hối với Tỳ-kheo có đức hạnh rằng: “Tôi đã làm việc đáng hổ thẹn, phải sám hối như pháp”. Ðó là pháp hối quá.

Pháp XOA-KẾ-LẠI-NI (Pháp Chúng học)

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo mặc y hạ lụng thụng quét đất. Thấy vậy, các trưởng giả nói rằng:

– Sa-môn Thích tử mặc y hạ kéo lê lết không khác gì phụ nữ.

Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Mặc y hạ không được để lụng thụng quét đất. Tỳ-kheo nào để lụng thụng quét đất thì phạm pháp Chúng học.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y hạ quá cao. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử đắp y hạ quá cao, khác gì đàn bà!

Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Không được đắp y hạ quá cao. Ai đắp cao thì không thích hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y hạ lệch qua một bên. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử đắp y hạ lệch qua một bên.

Thế Tôn bảo:

– Ðắp y hạ không được để lệch qua một bên. Ai đắp y hạ lệch qua một bên thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y hạ quấn thắt lưng thật nhuyễn, tạo thành những nếp nhăn thòng từ trên xuống giống như cái búa, hoặc như mũi nhọn. Thấy vậy, các trưởng giả bảo nhau:

– Sa-môn Thích tử đắp y hạ quấn thật nhuyễn thành những nếp nhăn thòng từ trên xuống.

Thế Tôn bảo:

– Ðắp y hạ không được quấn thật nhuyễn thành những nếp nhăn cho thòng từ trên xuống. Ai làm như vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y hạ thành hình giống như lá cây Ða-lặc. Các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử đắp y hạ giống như lá cây Ða-lặc.

Thế Tôn bảo:

– Không được đắp y hạ tạo thành hình giống như lá cây Ða-lặc. Ai đắp như vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y hạ thành hình giống như vòi voi. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử đắp y hạ giống như vòi voi.

Thế Tôn bảo:

– Không được đắp y hạ giống như vòi voi. Ai đắp như vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y hạ giống như vắt cơm lúa mạch. Các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử đắp y hạ giống như vắt cơm lúa mạch.

Thế Tôn bảo:

– Không được đắp y hạ giống như vắt cơm lúa mạch. Ai làm như vậy thì không hợp giới hạnh. (Kéo lệch một góc rồi luồn vào bên trên, không có buộc thắt lưng)

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp y hạ giống như tấm lưới bằng len. Các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử đắp y hạ như tấm lưới bằng len.

Thế Tôn bảo:

– Không được đắp y hạ giống như tấm lưới bằng len. Ai đắp như vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo ủi y hạ bóng láng để đắp. Các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này ủi y hạ láng bóng để đắp.

Thế Tôn bảo:

– Không được ủi y hạ cho láng bóng để đắp. Ai làm như vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo túm đầu y hạ lại mà đắp. Các trưởng giả nói rằng:

– Sa-môn Thích tử này túm đầu y hạ lại mà đắp.

Thế Tôn bảo:

– Không được túm đầu y hạ lại để đắp. Ai làm như vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp đắp y hạ làm bằng tơ mịn. Các trưởng giả nói với nhau:

– Sa-môn Thích tử này đắp y hạ làm bằng tơ mịn.

Thế Tôn bảo:

– Không được đắp y hạ làm bằng tơ mịn. Ai vi phạm thì không hợp giới hạnh.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

-Phải đắp y hạ cho tề chỉnh. Ai đắp y hạ không tề chỉnh thì không hợp giới hạnh.

Phật ở vườn Kỳ thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo đắp ba y, để một góc y kéo lê trên đất. Thế Tôn bảo:

– Không được đắp ba y mà để một góc y rủ xuống kéo lê trên đất. Ai làm vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp ba y quá cao. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được đắp ba y quá cao. Ai đắp cao thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo buông một góc của ba y ở phía trước. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được buông một góc của ba y ở phía trước. Ai làm như vậy thì không hợp giới hạnh. (Không được vắt ngược y lên vai rồi buông nó xuống cánh tay trước khuỷu tay)

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Phải đắp ba y cho tề chỉnh. Ai đắp không tề chỉnh thì không hợp giới hạnh.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không giữ yên tĩnh khi đi vào nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Phải giữ yên tĩnh khi đi vào nhà. Ai vi phạm thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không giữ yên tĩnh khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Phải giữ yên tĩnh kh ngồi trong nhà. Ai không giữ yên tĩnh khi ngồi trong nhà thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không chú ý khi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Phải chú ý khi đi vào nhà. Ai không chú ý thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không chú ý khi ngồi trong nhà. Thế Tôn bảo:

– Phải chú ý khi ngồi trong nhà. Ai không chú ý khi ngồi trong nhà thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo trợn mắt khi đi vào nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được trợn mắt khi đi vào nhà. Ai làm vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo trợn mắt khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được trợn mắt khi vào ngồi trong nhà. Ai trợn mắt khi vào ngồi trong nhà thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo ngước đầu đi vào trong nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được ngước đầu đi vào nhà. Ai làm vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo ngẩng cao đầu ngồi trong nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được ngước đầu ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh (giống như tự đại).

Nhóm sáu Tỳ-kheo kêu gọi nhau khi đi vào nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được kêu gọi nhau khi đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo kêu gọi nhau khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được kêu gọi nhau khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo kêu la lớn tiếng khi đi vào nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được kêu la lớn tiếng khi đi vào nhà. Ai làm vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo kêu la lớn tiếng khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được kêu la lớn tiếng khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đi cà-nhót vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được đi cà-nhót vào nhà. Ai đi như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo ngồi chồm hổm trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được ngồi chồm hổm trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lấy ba y trùm đầu mà đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lấy ba y trùm đầu khi đi vào nhà y. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lấy ba y trùm đầu mà ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lấy ba y che đầu mà ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo quấn ba y nơi cổ đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được quấn ba y nơi cổ đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo quấn ba y nơi cổ ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được quấn ba y nơi cổ ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp ba y để hở ngực đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được để hở ngực mà đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đắp ba y để hở ngực mà ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được để hở ngực khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo rủ ba y che kín chân đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được rủ ba y che kín chân đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo rủ ba y che kín chân khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được rủ ba y che kín chân mà ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vắt ngược phần y ở hai bên hông lên trên vai mà đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được vắt ngược phần y ở hai bên lên vai mà đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vắt ngược phần y hai bên lên vai mà ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được vắt ngược phần y ở hai bên lên vai mà ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vắt ngược ba y lên vai trái đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được vắt ngược ba y lên vai trái đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vắt ngược ba y lên vai trái ngồi trong nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được vắt ngược ba y lên vai trái ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì không hợp giới hạnh.

(Thiếu giới bên phải)

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc hai tay ở trong ba y đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lắc hai tay bên trong ba y mà đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc hai tay bên trong ba y khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lắc lư cánh tay bên trong ba y khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vẩy tay đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được vẩy tay đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vẩy tay khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được vẩy tay khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì không hợp giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc khuỷu tay đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lắc khuỷu tay đi vào nhà. Ai lắc khuỷu tay đi vào nhà thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc khuỷu tay khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lắc khuỷu tay khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc vai khi đi vào nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lắc vai đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc vai khi ngồi trong nhà. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lắc vai khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc lư đầu khi đi vào nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được lắc lư đầu mà đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc lư đầu khi ngồi trong nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được lắc lư đầu khi ngồi trong nhà. Ai lắc lư đầu khi ngồi trong nhà thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc lư thân mình khi đi vào nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được lắc lư thân mình khi đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lắc lư thân mình khi ngồi trong nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được lắc lư thân mình khi ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.Nhóm sáu Tỳ-kheo nắm tay nhau đi vào nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được nắm tay nhau đi vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo nắm tay nhau ngồi trong nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được nắm tay nhau ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo co một chân lên nhảy lò cò vào nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được co một chân nhảy vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo co một chân ngồi trong nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được co một chân ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo chụm hai chân nhảy vào nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được chụm hai chân nhảy vào nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo chụm hai chân nhảy vào ngồi trong nhà. Thế Tôn bảo:

– Không được chụm hai chân nhảy vào ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.Nhóm sáu Tỳ-kheo xếp bàn chân lên nhau ngồi trong nhà. Phật dạy:

– Không được xếp chân lên nhau ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo tréo chân ngồi trong nhà. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được tréo chân ngồi trong nhà. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo chống cằm ngồi trong nhà cười đùa với nhau. Thấy vậy Thế Tôn bảo:

– Không được chống cằm ngồi trong nhà cười đùa với nhau. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một trưởng giả thỉnh Phật và chúng Tăng. Khi Phật và chúng Tăng đã an tọa, trưởng giả tự tay dâng nước và bày các loại đồ ăn uống. Vợ trưởng giả cũng đi dâng thức ăn. Nhóm sáu Tỳ-kheo mãi ngước nhìn vợ trưởng giả, làm đồ ăn uống không vào bát mà rơi hết ra ngoài. Thấy vậy, các trưởng giả nói với nhau: – Vì sao Sa-môn lại nhìn nhan sắc của phụ nữ để cho đồ ăn uống bị đổ hết ra ngoài bát!

Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn, Thế Tôn bảo:

– Phải chú ý nhìn ngay thẳng khi nhận thức ăn. Ai không làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không chú ý nhìn ngay thẳng khi nhận canh, đồ ăn. Thế Tôn bảo:

– Phải chú ý nhìn ngay thẳng khi nhận canh, đồ ăn. Ai không làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo nhận cơm đầy tràn bát. Thế Tôn bảo:

– Phải nhận cơm vừa ngang bát. Ai nhận cơm đầy tràn bát thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lựa thức ăn nằm trong cơm để ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lựa thức ăn nằm lẫn trong cơm để ăn. Ai làm vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo xoay bát rồi dùng ngón tay moi thức ăn ở trong cơm mà ăn. Thế Tôn bảo:

– Không được xoay bát rồi dùng ngón tay cái moi thức ăn ở trong cơm ra mà ăn. Ai làm vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vò cơm thành vắt để ăn. Thế Tôn bảo:

– Không được vò cơm thành vắt để ăn. Ai vò cơm thành vắt để ăn thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lượm cơm rơi rớt để ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lượm cơm rơi rớt mà ăn. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thun mũi lại mà ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được được thun mũi lại mà ăn. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo rảy tay mà ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được rảy tay mà ăn. Ai làm vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo hớp cơm mà ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được hớp cơm mà ăn. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo dùng lưỡi liếm bàn tay mà ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được dùng lưỡi liếm bàn tay mà ăn. Ai làm vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo co ngón tay vét bát rồi liếm ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được co ngón tay vét bát rồi liếm ăn. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thè lưỡi mà ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được thè lưỡi mà ăn. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không nhai thức ăn mà nuốt. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được không nhai thức ăn mà nuốt. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo dùng ngón tay vuốt bát làm dơ bẩn rồi dùng tay dơ đó nhận nước uống. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được dùng tay dơ mà nhận nước uống. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vắt nắm cơm lớn để vào lòng bàn tay rồi ép vào trong miệng. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được vắt nắm cơm lớn để vào lòng bàn tay rồi ép vào trong miệng. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo vò vắt cơm lớn hơn bốn ngón tay mà ăn. Thế Tôn bảo:

– Không được vò vắt cơm lớn hơn bốn ngón tay. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo há lớn miệng khi ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được há lớn miệng khi ăn. Ai há lớn miệng thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo há lớn miệng đợi khi vắt cơm chưa đưa tới miệng. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được há lớn miệng đợi khi vắt cơm chưa đến miệng. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo ngậm cơm mà nói. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được ngậm cơm mà nói. Ai ngậm cơm mà nói thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không bệnh mà xin cơm canh. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được xin cơm canh khi không bệnh. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo lấy cơm che lên canh để xin canh. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được lấy cơm che lên canh để xin thêm canh. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo quay đầu nhìn vào bát cơm của Tỳ-kheo ngồi cạnh hai bên để xem cơm nhiều ít. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được quay đầu nhìn vào bát của người ngồi cạnh hai bên để xem cơm nhiều ít. Ai làm vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo không nhìn vào bát khi ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được không nhìn vào bát khi ăn. Ai không làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo chọn người để nhận thức ăn. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Không được chọn người để nhận thức ăn. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo rửa bát, thức ăn còn thừa không nói với thí chủ mà đem đổ. Thấy vậy, Thế Tôn bảo:

– Rửa bát xong, thức ăn còn thừa, nếu chủ nhà không đồng ý thì không được đổ. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Vua Ba-tư-nặc tự ra quy định cho mình suốt đời.

Biết Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, thuộc nước Xá-vệ, vua chọn ngày đến bái yết Thế Tôn. Vua nghĩ: “Nếu ta không đi thì phải giao cho đại thần năm trăm lượng vàng”.

Vua bảo các đại thần:

– Hôm nay ta muốn đến đảnh lễ, chiêm ngưỡng Thế Tôn. Các khanh hãy đi quét dọn Kỳ-hoàn.

Tuy nghe vua ra lệnh nhưng các đại thần không làm theo. Vua lập lại đến ba lần:

– Hôm nay ta muốn đến lễ bái, chiêm ngưỡng Thế Tôn. Các khanh hãy đi quét dọn Kỳ-hoàn.

Tuy nghe vua ra lệnh, các bề tôi vẫn không nghe theo. Vua Ba-tư-nặc liền nổi giận, bảo các đại thần rằng:

– Ta bảo quét dọn Kỳ-hoàn, vì sao các khanh không nghe lời ta? Ai không nghe lời ta, không quét dọn Kỳ-hoàn thì sẽ bị chém đầu hết, bỏ lên đường cái rồi lấy chân hất đến cổng Kỳ-hoàn.

Nghe vậy, các bề tôi bảo nhau:

– Vua này hung bạo, không có lòng từ, có thể bắt giết chúng ta. Lúc ấy, họ liền đến quét dọn Kỳ-hoàn rồi trở về tâu với vua:

– Ðã quét dọn xong, xin đại vương lên đường.

Vua Ba-tư-nặc liền bảo người đánh xe:

– Ngươi hãy chuẩn bị xe “Vũ bão”, ta muốn đi lễ bái Thế Tôn.

Người đánh xe liền chuẩn bị xe cộ để sẵn ở ngoài cổng rồi vào tâu với vua:

– Xe đã được chuẩn bị xong. Ðã đến giờ xuất hành, thưa đại vương.

Vua Ba-tư-nặc liền lên xe Vũ bão, đi từ thành Xá-vệ đến bên ngoài cổng Kỳ-hoàn thì xuống xe, cởi bỏ năm oai nghi như: bỏ lọng, tháo mão, bỏ phất trần có chuôi bằng châu báu, tháo giày được khắc chạm, cởi kiếm và đi bộ đến chỗ Như Lai, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một phía.

Vua Ba-tư-nặc chợt nghe mùi hương chẳng phải của nhơn gian, vì vậy tuy nghe Thế Tôn thuyết pháp nhưng vua không tiếp thu được, chỉ để ý đến mùi hương.

Thế Tôn biết nhưng vẫn hỏi vua Ba-tư-nặc:

– Vì sao hôm nay vua không chú ý nghe pháp mà lại bị tán tâm?

Vua Ba-tư-nặc bạch Thế Tôn:

– Từ nhỏ trẫm đã được sanh trưởng trong cung, tám tuổi đã biết việc vua. Các loại hương có trong tất cả các kho như: mộc mật, thanh mật, chiên đàn, miệt tiền, kê thiệt… chỉ cần nghe qua là trẫm đều phân biệt được. Loại hương này chẳng phải là mùi hương của nhơn gian. Ðó là hương gì vậy? Xin Thế Tôn nói cho trẫm biết.

Thế Tôn nói:

– Ðại vương muốn thấy người phát ra mùi hương này sao?

– Dạ, muốn thấy.

Thế Tôn liền đưa cánh tay phải được trang nghiêm bằng trăm tướng, ấn bàn tay xuống đất, chợt có bộ hài cốt dài năm trượng sáu xuất hiện, bay lên hư không, ngồi, nằm, đi lại hoặc nhập thiền, phóng ra các loại ánh sáng xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc màu lưu ly, vọt lên phía Ðông, niến mất ở phía Tây, bốn phương đều như vậy. Dưới thân phun ra nước, trên thân phun ra lửa. Dưới thân phát lửa, trên thân phun nước… làm bao nhiêu biến hóa rồi lặn xuống đất.

Cả Kỳ-hoàn đều ngửi mùi hương của hài cốt ấy.

Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:

– Ðó là bộ xương của ai vậy?

Thế Tôn bảo:

– Ðó là xương của vị Bích-chi Phật.

Vua lại bạch Thế Tôn:

– Xưa kia vị ấy đã tạo công đức gì mà có mùi hương vi diệu này?

Thế Tôn đáp:

– Cách đây vô số kiếp, khi con người thọ hai mươi ngàn tuổi, có vị Phật Ca-diếp Vô sở trước Ðẳng chánh giác xuất thế, thuyết pháp cho chúng sanh một cách rộng rãi.

Khi Ngài nhập Niết-bàn, có vua Chấp Bì cho chở hương, hoa, cờ, lọng, loa, trống, tấu nhạc, cúng dường đủ cách để làm lễ trà tỳ.

Lúc ấy vua Chấp Bì suy nghĩ: “Ta phải dựng tháp thờ Phật Ca-diếp sao cho thật đẹp”.

Ở bốn cửa thánh có bốn con rồng lớn. Chúng ra khỏi nước, hóa thành Bà-la-môn, đến đứng trước vua, vòng tay thăm hỏi và ngồi ở một phía. Họ hỏi vua:

– Không biết đại vương định tạo tháp thờ Phật Ca-diếp bằng những vật gì?

Vua đáp:

– Sẽ đắp đất để làm.

Bốn người ấy tâu vua:

– Người thường chết thì đắp đất làm mộ, còn đây là Thế Tôn mà lại đắp đất sao?

Vua hỏi:

– Bốn người định làm ra sao?

Bốn người ấy đáp:

– Làm bằng bốn loại châu báu.

Vua hỏi:

– Ðem cả Diêm-phù-đề bán không được một loại châu báu, thì lấy đâu ra bốn loại?

Bốn người liền suy nghĩ: “Chắc vua không biết ta là vua rồng”. Họ liền tâu với vua:

– Chúng tôi là vua rồng, chẳng phải là người phàm. Chúng tôi ở trong bốn cửa thành, có các cung điện bằng vàng, bạc, lưu ly, hoặc thủy tinh. Vua hãy sai thợ đào hào ở bốn cửa thành, nơi nào có vàng thì sẽ thành hào vàng. Nơi có bạc, thủy tinh, lưu ly đều thành hào bạc, thủy tinh, lưu ly.

Vua cho người đào hào ở bốn cửa thành và đều thành bốn cái hào đựng bốn loại châu báu. Vua cho lấy số châu báu đó dựng tháp thờ Phật Ca-diếp., dài một do-tuần, rộng một do-tuần, cao một do-tuần. Sau đó treo lọng cách nóc tháp một do-tuần.

Khi tháp thờ Phật Ca-diếp được làm xong thì trời đã tối mịt. Vua cho người lắc chuông trong thành thông báo cho những người bán hoa đem tất cả các loại hoa đến cửa cung và vua mua hết.

Có con của một trưởng giả thường đến nhà dâm nữ để mua dâm. Dâm nữ ấy bảo cô tớ gái ra xem, nếu con của trưởng giả có mang hoa đến thì mở cửa ngay, còn nếu không mang hoa đến thì đừng có mở cửa.

Khi con của trưởng giả đến cửa, nàng hầu hỏi:

– Ai đó?

Ðáp:

– Con của trường giả.

Nàng hầu hỏi:

– Có mang hoa đến không?

Ðáp:

– Không có hoa.

– Nếu không có hoa thì không được vào.

Con của trưởng giả liền suy nghĩ: “Trong thành này hoa rất quý hiếm, không thể tìm được, chỉ có hoa ở tháp Phật Ca-diếp là dễ được”. Anh ta liền vào tháp Phật Ca-diếp, đựng hoa đầy tấm vải rồi trở ra. Lúc ấy trời đã tối, cửa thành đã đóng, anh ta theo cống thoát nước mà chui vào, đến gõ cửa nhà dâm nữ.

Nàng hầu hỏi:

– Ai vậy?

Ðáp:

– Con của trưởng giả.

Nàng hầu hỏi:

– Có mang hoa đến không?

Ðáp:

– Có.

Nàng hầu liền mở cửa mời anh ta vào. Anh ta vào, đưa hoa cho dâm nữ rồi cùng nhau giao hội suốt đêm.

Gần sáng, toàn thân thể anh ta đều sanh ghẻ lớn như hạt cải, dần dần lớn như hạt đậu bề, rồi như hạt đậu lớn, rồi như quả A-ma-lặc, rồi như quả Tỳ-hê-lặc, rồi lớn như trái bầu tiểu bách tử, thân thể tuôn mủ, máu đen tuôn chảy.

Dâm phụ bảo nàng hầu:

– Hãy đem quẳng vào hố.

Nàng hầu nói:

– Không được. Ðể báo với cha anh ấy.

Nàng hầu liền đến báo với cha anh ta rằng:

– Con trai ông bị bệnh. Hãy đến chăm sóc.

Người cha liền dẫn theo bốn người nữa đến khiêng cậu ấy về nhà, mời thầy thuốc giỏi đến nói rằng:

– Cậu bé này bị bệnh nặng, phải trị bằng cách nào đây?

Thầy thuốc đáp:

– Cần phải có chín lạng ngưu-đầu chiên-đàn

Người cha hỏi:

– Ðể làm gì?

Thầy thuốc đáp:

– Ba lạng để xoa thân, ba lạng uống vào bụng, ba lạng để xông y phục.

Người cha suy nghĩ: “Có bao nhiêu tiền đều đã giao hết cho nhà dâm phụ. Ngưu-đầu chiên-đàn có giá rất mắc, sợ rằng không thể mua nổi”. Ông ta liền nhờ bà con giúp đỡ và có được chín lạng ngưu-đầu chiên-đàn, đem mài trên đá ở trước bệnh nhân.

Người bệnh hỏi:

– Ðịnh làm gì vậy?

Người cha đáp:

– Ðể thoa lên mụt nhọt.

Người con nói với cha:

– Con phạm tội rất nặng. Dù có đặt con vào rừng chiên-đàn thì bệnh con cũng không khỏi.

Người cha hỏi:

– Tội gì mà nặng vậy?

Người con kể đầy đủ sự việc và xin chín lạng ngưu-đầu chiên-đàn đó. Người cha đưa chiên-đàn cho con. Người con nói:

– Xin cha hãy đem con đến chỗ tháp Phật Ca-diếp.

Bốn người liền khiêng cậu ấy đến chỗ tháp Phật. Cậu ta cầm ba lạng ngưu-đầu chiên-đàn và nói rằng:

– Vừa rồi con đã lấy trộm hoa của Phật Ca-diếp. Xin đem hương này đề bồi thường số hoa đó. Sáu lạng còn lại thì xin dâng cho Phật Ca-diếp.

Cậu ấy phát nguyện rằng:

– Nhờ công đức này, xin cho con không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỉ sanh trong trời người và cuối cùng đạt được quả Bích-chi Phật mà nhập Niết-bàn.

Các mụt nhọt trên thân cậu ấy lành ngay lập tức. Khi đến đây phải khiêng, nhưng khi về thì cậu ấy tự đi bộ. Sau khi mạng chung, cậu ấy sanh lên cõi trời Ba mươi ba.

Vào ngày cậu ấy sanh lên trời, chư thiên đều nghe mùi hương chiên-đàn. Khi hết tuổi thọ ở cõi trời thì được sanh ở nhơn gian, mỗi lỗ chân lông đều có mùi hương chiên-đàn. Sau đó, cậu ấy xuất gia, học đạo và đắc quả Bích-chi Phật, nhập vào Niết-bàn Vô-dư.

Từ lúc vị ấy nhập Niết-bàn đến nay đã năm trăm năm, xương cốt không mục cho nên có mùi hương chẳng phải ở nhơn gian này, làm cho cả Kỳ-hoàn đều được ngửi thấy mùi hương đó.

(Lúc Phật nói lời này, hàng ngàn vạn người phát sanh ý Bích-chi Phật).

Này đại vương! Con của trưởng giả lúc ấy, nay chính là hài cốt của vị Bích-chi Phật.

Thế Tôn liền thuyết pháp cho vua nghe. Thuyết pháp xong, Thế Tôn im lặng.

Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc đứng dậy đảnh kễ Phật rồi đi, cởi xe Vũ bão trở về thành Xá-vệ.

Khi vua đang ngồi trên xe, nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho vua nghe. Thấy vậy, Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Phật. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người cởi xe. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Vua ở phía trước, nhóm sáu Tỳ-kheo ở phía sau thuyết pháp. Thế Tôn bảo:

– Người ở phía trước, mình ở phía sau thì không được thuyết pháp. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Vua ở giữa đường, nhóm sáu Tỳ-kheo ở lề đường thuyết pháp cho vua nghe. Thế Tôn bảo:

– Người ở giữa đường, mình ở lề đường thì không được thuyết pháp. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Vua ngồi, nhóm sáu Tỳ-kheo đứng thuyết pháp cho vua. Thế Tôn bảo:

– Người ngồi, Tỳ-kheo đứng thì không được thuyết pháp. Ai thuyết pháp như vậy thì không hợp với giới hạnh.

Vua ngồi ở chỗ cao, nhóm sáu Tỳ-kheo ngồi ở chỗ thấp thuyết pháp cho vua. Thế Tôn bảo:

– Người ngồi ở chỗ cao, mình ngồi ở chỗ thấp thì không nên thuyết pháp. Ai thuyết pháp như vậy thì không hợp với giới hạnh (trừ người bệnh).

Vua che đầu, nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho vua. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người che đầu. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Vua trùm đầu, nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho vua. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người trùm đầu. Ai thuyết pháp như vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người lật ngược phần y hai bên. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người lật ngược phần y ở hai bên. Ai thuyết pháp như vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người đắp ba y bị lệch một bên và xệ dưới đất. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người đắp ba y lệch một bên và xệ xuống đất. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người đắp ba y để rủ phần trên của y xuống một bên, hở ngực. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người đắp ba y để rủ phần trên của y xuống một bên, hở ngực. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh (trừ người bệnh).

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người vắt ngược ba y lên vai. Thế Tôn bảo:

– Không nên thuyết pháp cho người lật ngược ba y lên vai. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh (trừ bệnh).

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người vung vẩy hai cánh tay bên trong ba y. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người vung vẩy hai cánh tay trong ba y. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo ngồi thuyết pháp cho người nằm. Thế Tôn bảo:

– Người nằm, Tỳ-kheo ngồi thì không nên thuyết pháp. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người mang giày da. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người mang giày da. Ai thuyết pháp như vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người mang guốc gỗ. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người mang guốc gỗ. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người cầm dù che thân. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người cầm dù che thân. Ai thuyết pháp như vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người chống gậy. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người chống gậy. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người cầm dao. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người cầm dao. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người cầm kích, Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người cầm kích. Ai thuyết pháp như vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người cầm búa. Thế Tôn bảo:

– Không được thuyết pháp cho người cầm búa. Ai thuyết pháp như vậy thì không hợp với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đại tiểu tiện, khạc nhổ lên rau cỏ ở trong vườn sạch. Thế Tôn bảo:

– Không được đại tiểu tiện, khạc nhổ lên rau cỏ trong vườn sạch. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đại tiểu tiện, khạc nhổ trong nguồn nước mà trưởng giả dùng để ăn uống. Thế Tôn bảo:

– Không được khạc nhổ, đại tiểu tiện trong nước sạch. Ai làm vậy thì trái với giới hạnh.

Nhóm sáu Tỳ-kheo đứng tiểu tiện. Thấy vậy, các trưởng giả bảo nhau:

– Sa-môn Thích tử này đứng tiểu tiện, có khác gì ngoại đạo Ni-kiền-tử.

Họ đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Không được đứng tiểu tiện. Ai đứng tiểu tiện thì trái với giới hạnh (trừ người bệnh).

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Có một trưởng giả thỉnh Phật và chúng Tăng. Lần đó đến phiên nhóm sáu Tỳ-kheo và nhóm mười bảy Tỳ-kheo ở lại giữ tịnh xá. Nhóm sáu Tỳ-kheo bảo nhóm mười bảy Tỳ-kheo ở lại giữ tịnh xá, còn họ sẽ đem phần cơm về cho.

Khi đi giữa đường, nhóm sáu Tỳ-kheo bảo nhau:

– Nếu nhận được cơm, chúng ta sẽ đi chậm rãi sau các Tỳ-kheo, đợi quá ngọ mới mang thức ăn về.

Chúng Tăng ăn xong, nhóm sáu Tỳ-kheo nhận phần cơm của nhóm mười bảy Tỳ-kheo và đi từ từ phía sau các Tỳ-kheo. Khi đến bên ngoài cổng Kỳ-hoàn, họ đứng chần chờ ở dưới chân thành hoặc dưới gốc cây chứ không chịu vào.

Nhóm mười bảy Tỳ-kheo tuổi nhỏ, không chịu nổi cơn đói, liền ra ngoài cửa trông chừng nhưng không thấy, liền leo lên cây cao và ngó thấy nhóm sáu Tỳ-kheo đang ngồi dưới gốc cây hoặc ở dưới thành. Thấy các Tỳ-kheo ấy trèo cây, các trưởng giả liền đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Không được trèo lên cây cao quá đầu người. Ai trèo lên cây cao quá đầu người thì không hợp với giới hạnh (trừ khi sợ hổ, sói, trộm cướp).

Phật ở vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Ðộc, thuộc nước Xá-vệ.

Lúc ấy có Tỳ-kheo tên Tư-cừu, ưa thích đấu tranh, không biết tôn ty, đụng ai cũng mắng chửi. Các Tỳ-kheo mười hai pháp đến bạch Thế Tôn. Thế Tôn bảo:

– Tha thứ cho Tỳ-kheo như tha thứ cho người si.

Có bảy pháp sám hối lỗi lầm:

1- Trước đó có lỗi, nên dạy sám hối lỗi ấy, là pháp thứ nhất.

2- Làm ngay thẳng, tâm ý của ông không để có lỗi lầm, là pháp thứ hai.

3- Nếu người ngu gây lỗi thì dạy cho yên lặng, là pháp thứ ba.

4- Người không biết pháp, dạy cho biết pháp, là pháp thứ tư.

5- Có phạm lỗi ở trong chúng Tỳ-kheo phải như cỏ che đất, sám hối rồi lại sám hối thêm nữa, là pháp thứ năm.

Tỳ-kheo trách phạt phải đủ năm pháp:

* Bản thân không có lỗi lầm, sau đó mới trách người kia. Mình đã không trong sạch, không thể tự làm trong sạch, thì trước hết phải tự làm trong sạch, sau đó mới làm trong sạch cho người. Ðối với pháp thứ nhất, Tỳ-kheo trách phạt phải giữ tâm ý cho ngay thẳng, sau đó mới trách phạt người. Ðó là pháp thứ nhất.

* Tỳ-kheo trách phạt ấy nếu có nói gì bất tịnh, riêng mình bất tịnh, không thể tự tịnh, trước hết phải tự làm sạch mình, sau đó mới làm sạch người. Ðối với pháp thứ hai này, Tỳ-kheo trách phạt phải chuyên nhất tâm ý, sau đó mới trách phạt người. Ðó là pháp thứ hai.

* Tỳ-kheo trách phạt ấy, nếu tâm mình bất tịnh, không thể tự làm sạch thì trước hết phải làm sạch tâm mình, sau đó mới làm sạch người. Ðối với pháp thứ ba ấy, Tỳ-kheo trách phạt phải chuyên nhất tâm ý, sau đó mới trách phạt người kia. Ðó là pháp thứ ba.

* Tỳ-kheo trách phạt đi lại vô độ, không thể tự kềm chế thì trước tiên phải làm trong sạch mình, sau đó mới làm trong sạch người. Ðối với pháp thứ tư này, Tỳ-kheo trách phạt phải chuyên nhất tâm ý, sau đó mới trách phạt người kia. Ðó là pháp thứ tư.

* Tỳ-kheo trách phạt nếu không được nghe nhiều, không được thông minh, trước kia chưa được học hành thì trước hết phải siêng năng học, sau đó mới dạy người. Ðối với pháp thứ năm này, Tỳ-kheo trách phạt phải chuyên nhất tâm ý, sau đó mới trách phạt người kia. Lại phải học năm pháp cung kính là: cung kính Thế Tôn, Pháp, chúng Tăng, giới, tịnh hạnh. Ðó là năm pháp.

Nếu có phạm lỗi thì Tỳ-kheo Thượng tọa phải sám hối với Tỳ-kheo Hạ tọa, Tỳ-kheo Hạ tọa phải sám hối với Tỳ-kheo Thượng tọa. Phải tha thứ lỗi lầm cho nhau, không được để qua một đêm không sám hối tội lỗi. Nếu để qua một đêm không sám hối thì đối với pháp Tỳ-ni sẽ không đạt được pháp Tỳ-ni.

Nếu các Tỳ-kheo ý không được tốt, có phạm lỗi gì thì Tỳ-kheo Thượng tọa và Tỳ-kheo Hạ tọa phải cùng nhau sám hối để đạt được pháp Tỳ-ni nơi pháp Tỳ-ni, các Tỳ-kheo liền được yên thân hành đạo.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Ai có lỗi không sám hối thì không hợp với giới hạnh.

(Trong bảy pháp thiếu mất hai pháp là trưởng lão và thiếu niên. Về sau, vị ấy phân năm pháp thành bảy pháp, tách pháp trên, dưới hướng về nhau sám hối ở năm pháp sau thành hai pháp nữa, thế là đủ bảy pháp).

Giới y hạ ở trong luật không giống nhau (luật nói quấn nhuyễn, giới bên trên nói quấn nhuyễn đầu y thành hình như vắt cơm lúa mạch nghĩa là cuốn ngược lên).

Trong phần liên quan đến ba y (bốn giới trước giống nhau, sáu giới sau thiếu một giới lật ngược y vắt lên vai phải mà đi vào hoặc ngồi trong nhà).

Thuyết pháp (mình ngồi ghế thấp, người ngồi ghế cao thì không được thuyết pháp).

Vẩy tay để lấy thức ăn (trong luật thiếu vẩy tay, vung vẩy hai chân).

Thọ thực: luật chỉ cho nhận cơm vừa ngang bát, không được há lớn miệng vét bát, thọc ngón tay cái vào cơm, không nhai mà nuốt, ăn vắt cơm lớn, dùng ngón tay lượm cơm bỏ vào miệng nhai.

Vào trong nhà (trong luật có trợn mắt, ngước đầu, kêu gọi lớn tiếng, ngước nhìn một cách tự đại như vậy).

TỲ NẠI DA

Hết quyển mười (trọn bộ)



  • Leave a Comment