Các Pháp Thiền Định Của Đại Thừa

1. Hệ thống

Các pháp thiền định của Đại thừa rất nhiều như:

  • Pháp hoa tam muội,
  • niệm Phật tam muội,
  • Ban châu tam muội,
  • Giác ý tam muội,
  • Thủ tăng nghiên tam muội,
  • Tứ tính thiền,
  • Nhất thế thiền,
  • Nhất thế môn thiền,
  • Thiện nhân thiền,
  • Nhất thế hạnh thiền,
  • Trừ phiền não thiền,
  • Thử thế tha thế thiền,
  • Thanh tịnh tịnh thiền,
  • Tự tính thanh tịnh thiền,
  • Như lai tối thượng thừa thiền,
  • Đạt Ma sư tổ thiền
  • v.v…


Dưới đây chúng ta hãy nghiên cứu qua một số pháp thiền định thông thường của Đại thừa.
1. Sao gọi là “Pháp hoa tam muội”?
Phương pháp nay dựa theo kinh Đại phẩm Bát nhã. Hành giả tu pháp này, tâm ý giác ngộ tất cả các pháp và được vô sinh nhẫn (độc giả nào muốn rõ thêm, hãy xem lời bình luận của Ngài Trí Giả Đại Sư).
2. Sao gọi là “Thủ nghiêm tam muội”?
Phương-pháp này căn cứ theo kinh Thủ Lăng Nghiêm. Hành giả phải nhận chân rằng các pháp đều từ thực thể như là Như Lai tạng tam mà tùy duyên biến hiện, như huyễn, như hóa. Hiểu rõ các pháp đều như huyễn như hóa, rồi dựa theo lý ấy mà tham thiền nhập định, nên cũng gọi là như hiền tam muội.
3. Sao gọi là “Tự tính thiền, Nhất thế thiền, nan thiền v.v…”?
Các món thiền như ”Tự tính thiền, Nhất thế thiền, Nan thiền, Nhất thế môn thiền. Thiện nhân thiền, Nhất thế hạnh thiền, Trừ phiền não thiền, Thử thế tha thế thiền, Thanh tịnh tịnh thiền”, gồm cả thảy chín món và được gọi là Đại thừa thiền.
Sở dĩ, gọi các món thiền này là Đại thừa thiền, vì các vị Bồ Tát nhờ y theo các món thiền này mà tấn tu làm nên được công hạnh rộng lớn, thẳm sâu không thể lường được (độc giả nào muốn hiểu rõ thêm, hãy đọc quyển “Pháp giới thứ đệ sang môn” do Ngài Trí Giả Đại Sư soạn).
4. Sao gọi là “Trực chỉ thiền”?
Trực chỉ thiền là pháp thiền chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật, không dùng phương tiện tu quán và cũng không cần kinh giáo.
5. Sao gọi là “Như Lai thanh tịnh thiền”?
Như Lai thanh tịnh thiền là pháp thiền thanh tịnh của Như Lai. Như chúng ta đã biết, Đức Phật Thích Ca trước khi chưa thành đạo, đã ngồi tham thiền 6 năm dưới gốc cây Bồ đề. Sau khi phá trừ hết vô minh phiền não, tâm được thanh tịnh, Ngài chứng được đạo Bồ đề. Do đó, phép thiền này được gọi là “Như Lai thanh tịnh thiền”.
6. Sao gọi là “Như Lai Tối thượng thừa thiền”?
Đây là phép thiền cao siêu hơn tất cả các phép thiền mà đức Như Lai đã ứng dụng.
7. Sao gọi là Đạt Ma Tổ Sư thiền ”?
Như chúng ta nghe, Ngài Đạt-Ma sau khi từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền đạo, đã ngồi xây mặt vào tường chín nằm, tại chùa Thiếu-Lâm để thamm-thiền. Đat-Ma Tổ-sư thiền tức là phép thiền mà Ngài đã tu luyện ở chùa Thiếu-Lâm vậy.

2. Hai loại lớn

Các phép thiền của Đại thừa, như quý độc-giả đã thấy ở phần trên, tuy nhiều không kể xiết, tựu-trung có thể chia làm hai loại lớn:
1. Một loại thường gọi là tam muội (Niệm Phật Thiền), căn cứ theo kinh sách của Phật Tổ truyền dạy mà tu tập, có tu có quán, có phương pháp nhất định, như Pháp hoa tam muội, Niệm Phật tam muội, Ban châu tam muội, Giác ý tam muội, Thủ Lăng Nghiêm tam muội v.v…Các loại tam muội này vì có quy củ, có phương pháp nhất định và được phổ biến bằng văn tự, tương đối ít khó khăn và bí hiểm hơn loại thứ hai mà chúng tôi sắp nói dưới đây, nên được nhiều người tu luyện và số người thành tựu cũng nhiều.
2. Một loại thứ hai, được truyền dạy không căn cứ theo kinh giáo, không có văn tự, tức là loại thiền “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”’, như các pháp “Trực chỉ thiền, Như Lai thanh tịnh thiền, Tự tính thanh tịnh thiền, Như Lai tối thượng thừa thiền (Tổ Sơ Thiền), Đạt Ma Tổ sư thiền v.v… Với loại thiền này là người ngộ trước dùng tâm giác ngộ của mình để ấn chứng cho người sau giác ngộ. Đó tức là loại thiền “Dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật”: Vị minh sư dùng tâm mình đễ tiếp xúc với tâm đệ tử, truyền thẳng sự giác ngộ của mình qua tâm của đệ tử; như dùng ngọn đèn sáng chói mà tâm mình mãi bừng phát ra để chiếu vào tâm đệ tử; và tâm này cũng lại nhờ ảnh hưởng trực tiếp của sự giác ngộ của thầy mà bừng sáng lên và truyền nối từ thầy đến trò, từ đời này sang đời khác. Loại thiền này tức là loại thiền đa xây dựng truyền nối từ Đức Phật Thích Ca xuống cho đến Ngài Lục tổ. Đây là một lối “truyền đạo” hay “truyền đăng” trực tiếp linh động chính thống, nhưng không phổ biến như lối trên, vì mỗi đời chỉ truyền cho mỗi người, chứ không thể truyền cho nhiều người trong một lúc được. Và người được ấn chứng phải là một vị có trí tuệ xuất chúng, siêu phàm không ai sánh kịp.
Cách truyền dạy pháp thiền này có hai lối:
a) Tham cứu một câu thoại đầu. Thoại đầu là một câu nói thiền hay “công án”, nghĩa là một đề án hay luận án gồm một câu rất ngắn, nhưng ý nghĩa sâu xa, đối với người thường không hiểu được.
Khi một vị Tổ của phái Thiền tông này nhận thấy trong hàng đệ tử của mình có một vị xuất chúng, có thể giữ gìn mối đạo tiếp nối sự nghiệp của Thiền tông và tỏ ngộ đạo mầu được, thì vị Tổ trao cho vị đệ tử ấy một câu thoại đầu (một luận án, như bây giờ, các vị bác sĩ hay tiến sĩ, trước khi ra trường, phải nộp cho ban giám khảo). Vị đệ tử này, đêm ngày tham cứu câu thoại đầu ấy, có nhiều khi trải qua một thời gian mười năm hoặc mười lăm năm mới tỏ ngộ được. Sau khi xét thấy đệ tử của mình đã tỏ ngộ đạo mầu rồi, vị Tổ sư mới ấn chứng cho.
b) Nhưng nhiều khi vị Tổ sư lại không trao cho đệ tử của mình một câu thoại đầu để tham cứu, mà lại dùng những hình thức rất lạ lùng, người thường khó có thể hiểu được như: đánh, hét, ra dấu, mời ăn cơm, uống nước trà v.v… chẳng hạn; như có một vị đệ tử đến cấu đạo với một vị Tổ sư, vị này không nói gì cả, chỉ dùng Thiền tượng (roi thiền) đánh dập vị đệ tử kia, để xem sự phản ứng ấy như thế nào. Do sự phản ứng mà vị Tổ sư biết được vị đệ tử kia đã giác ngộ hay chưa.
(Xem Pháp Bảo Đàn Kinh).
Tóm lại, pháp thiền này rất là màu nhiệm, không thể nghĩ bàn được, cho nên người xưa có nói: “Thiền cơ huyền diệu” (máy thiền mầu nhiệm). Các vị Tổ sư trong khi truyền đạo, không dựa theo một nguyên tắc, một phương pháp gì nhất định cả. Các Ngài tùy theo thời cơ mà ứng biến, nghĩa là quan sát căn cơ của người cầu đạo, xét đã đúng thời chưa, và phải dùng phương pháp gì cho vị đệ tử kia được ngộ đạo, rồi các Ngài tùy cơ lập pháp. Tất nhiên phương pháp này các Ngài dùng chỉ trong nhất thời thôi. Do đó, mà không thể biết trước được các Ngài sẽ dùng phương pháp gì để truyền thọ.
Về sau cũng có người bắt chước những phương pháp như đánh, hét v.v… nhưng vì không biết quán thời cơ, nên chỉ làm cho người đau và sợ mà thôi, chứ không có hiệu quả gì.

3. Hệ Thống Truyền Thừa Của các Tổ Trong Phái Thiền tông Tại Ấn Độ

1.Ngài Ma Ha Ca Diếp, Sơ tổ của Thiền tông ở Ấn Độ

Trong kinh Phạm Thiên vấn Phật quyết nghi và trong bộ “Thích nghi kê cổ” quyển nhất,chùa chép đại khái như sau: khi Phật ở hội Linh Sơn, có ông Đại Phạm Thiên Vương, đem hoa sen dâng cúng Phật. Phật cầm cành hoa sen lên để khai thị cho đại chúng (thiền cơ). Toàn thể chúng hội đều yên lặng, không ai hiểu thâm ý của Phật như thế nào. Duy có Ngài Ma Ha Ca Diếp là tỏ ngộ được thiền cơ của Phật, nên đổi sắc mặt vui vẻ, mỉm cười (phá nhan vi tiếu). Đức Phật nhận thấy, liền ấn chứng (chứng nhận) cho Ngài Ca-Diếp được đắc truyền và làm tổ thứ nhất (Sơ tổ ở Ấn Độ) Phật tuyên bố như sau:
Nguyên văn:
Ngô hữu chính pháp nhãn tạng
Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng,
Vi diệu pháp môn, kim phú Ma Ha Ca Diếp.
Dịch nghĩa:
Ta ương “chính pháp nhãn tạng”, cũng gọi là Niết bàn diệu tâm, cũng tên là thật tướng vô tướng cũng gọi là “Vi diệu pháp môn”, nay ta truyền cho ông Ma Ha Ca Diếp.
Sau đó, Phật truyền y bát và nói bài kệ truyền pháp như sau:
Nguyên văn:
Pháp pháp bản vô pháp
Vô pháp pháp, diệc pháp
Kim phú vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.
Dịch nghĩa:
Các pháp vốn không pháp
Không pháp cũng là pháp
Nay truyền cái vô pháp (vô tướng)
Vô pháp nào có pháp.
Đây là nguồn gốc phát khởi Thiền tông, lấy tâm truyền tâm (dĩ tâm ấn tâm) không dùng kinh giáo và phương tiện.

2. Ngài A-Nan, Tổ thứ hai của Thiền tông ở Ấn Độ

Một hôm Ngài A-Nan hỏi Ca-Diếp:
– Ngoài việc truyền y bát, đức Thích Tông còn truyền pháp gì riêng cho Ngài nữa không?
Tổ Ca-Diếp gọi to:
– A-Nan!
Ngài A-Nan: Dạ!
Tổ dạy tiếp:
– Cây sào phướn trước của chùa ngã!
Ngài A-Nan lièn tỏ ngộ Thiền cơ, nên được tổ Ca-Diếp truyền y bát và ấn chứng cho làm vị tổ thứ hai. (Xem Phật học từ điển, trang 1638 về mục “Ca-Diếp can sát”).

3. 26 vị Tổ sư tiếp theo

Từ Ngài A-Nan trở về sau, có thêm 26 vị Tổ về Thiền tông nữa. Cộng cả Ngài Ca-Diếp và Ngài A-Nan, ở Ấn Độ có cả thảy là 28 vị Tổ, thứ lớp tuần tự như sau:
1 .Tổ Ma Ha Ca Diếp
2. Tổ A-Nan
3. Tổ Thương-Na Hòa-Thứ
4. Tổ Ưu-Ba Cúc Đa
5. Tổ Đề-Đa-Ca
6. Tổ Di Giá Ca
7. Tổ Bà Tu Mật
8. Tổ Phật Đà Nan Đề
9. Tổ Phục Đà Mật Đa
10. Tổ Hiếp Tông Giả
11. Tổ Phú Na Giạ Xa
12. Tổ Mã Minh
13. Tổ Ca Tỳ Ma La
14. Tổ Long Thọ
15. Tổ Ca Na Đề Bà
16. Tổ La Hầu Na Đa
17. Tổ Tăng Già Nan Đề
18. Tổ Già Đa Xá Đa
19. Tổ Cưu Ma La Đa
20. Tổ Xà Giạ Đa
21. Tổ Bà Tu Bàn Đầu
22. Tổ Ma Noa La
23. Tổ Hạc Lặc Na
24. Tổ Sư Tử
25. Tổ Bà Xá Tư Đa
26. Tổ Bát Như Mật Đa
27. Tổ Bát Nhã Đa La
28. Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
(Theo truyện Phú Pháp Tạng Nhân duyên)
Hai mươi tám vị tổ này được làm rực rỡ cho Phật Giáo ở Ấn Độ, chứ không cho riêng gì Thiền tông Phật Giáo sau này được lan rộng trên toàn cầu, một phần lớn do công đức của 28 vị Tổ này. Ngày nay khi nhắc đến những tên như Ma Ha Ca Diếp, A Nan, Hiếp Tông Giả, Mã Minh, Long Thọ, không một Phật tử nào là không biết đến. Và sự kiện này chứng tỏ rằng phần lớn các vị Tổ có tiếng tăm đều ở trong Phật Thiền tông. Sự nhận xét này không những được chứng minh ở Ấn Độ, mà cả đến Trung Hoa, Nhật Bản và đến Việt Nam nữa.
Trích Phật học phổ thông khóa V



  • Leave a Comment