LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 40. QUYỂN XL: PHẦN CÒN LẠI CỦA 141 GIỚI BA-DẠ-ÐỀ; GIỚI ÐỀ XÁ-NI PHÁP DIỆT TRÁNH; NHỮNG VẤN ÐỀ LINH TINH

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI

Quyển thứ bốn mươi

Phần còn lại của 141 Ba Dạ Đề –  Giới Đề Xá Ni Pháp Diệt Tránh –  Những vấn đề khác

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẦN CÒN LẠI CỦA 141 PHÁP BA-DẠ-ÐỀ

134- GIỚI: DU HÀNH TRONG LÚC AN CƯ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy đang mùa An cư, Tỉ-kheo-ni Ca-lê nhận giường nệm của Tăng xong rồi bỏ đi du hành. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di … Cuối cùng, Phật hỏi rồi cô đáp:

– Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

– Vì sao trong lúc an cư mà ngươi du hành? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 40. QUYỂN XL: PHẦN CÒN LẠI CỦA 141 GIỚI BA-DẠ-ÐỀ; GIỚI ÐỀ XÁ-NI PHÁP DIỆT TRÁNH; NHỮNG VẤN ÐỀ LINH TINH

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 39. QUYỂN XXXIX: PHẦN BA CỦA 141 BA DẠ ĐỀ;

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI

Quyển thứ ba mươi chín – Phần ba của 141 Ba Dạ Đề

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẦN THỨ BA CỦA 141 PHÁP BA-DẠ-ÐỀ.

100. GIỚI: CHO NGƯỜI CÓ CHỒNG DƯỚI 12 TUỔI THỌ GIỚI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy những người con gái của dòng họ Thích, họ Câu-lê, họ Ma-la, họ Li-xa sau khi lấy chồng rồi mới xuất gia, từng chịu đựng những việc cực nhọc nên đã khôn ngoan. Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di bèn hỏi Phật:

– Bạch Thế Tôn, những người nữ đã có chồng, chưa đủ 20 mùa mưa có thọ Cụ túc được không?

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 39. QUYỂN XXXIX: PHẦN BA CỦA 141 BA DẠ ĐỀ;

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 38. QUYỂN XXXVIII: PHẦN HAI CỦA 141 BA DẠ ĐỀ;

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI

Quyển thứ ba mươi tám – Phần hai của 141 Ba Dạ Đề

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẦN THỨ HAI CỦA 141 GIỚI BA-DẠ-ÐỀ.

72- GIỚI: CHO Y CHO TU SĨ NGOẠI ÐẠO.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có người tên là Kiệt Trụ xuất gia trong hàng ngũ ngoại đạo, còn cha mẹ ông thì xuất gia theo Phật pháp. Vào lúc trời đang mùa lạnh, Kiệt Trụ không có y phục, bèn đi đến chỗ mẹ, sống như loài cầm thú. Người mẹ thương tình, suy nghĩ: “Có y Uất-đa-la-tăng vừa mới giặt nhuộm ở đây”, bèn cởi ra cho con. Khi được y rồi, anh ta liền mặc đi vào ngồi trong quán rượu. Do thế bị người đời chê cười rằng: “Kẻ tà kiến này là con lừa ăn bã rượu mà lại mặc biểu tượng của thánh nhân!”

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 38. QUYỂN XXXVIII: PHẦN HAI CỦA 141 BA DẠ ĐỀ;

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 37. QUYỂN XXXVII: PHẦN CUỐI CỦA PHÁP TĂNG TÀN; PHẦN KẾ CỦA NI-TÁT-KÌ ; PHẦN ÐẦU CỦA 141 BA-DẠ-ÐỀ

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI

Quyển thứ ba mươi bảy

Phần cuối của Pháp Tăng Tàn – Phần kế của Ni Tát Kì – Phần đầu của 141 Ba Dạ Đề

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẦN CÒN LẠI CỦA 19 PHÁP TĂNG TÀN

12- GIỚI: KHUYÊN NGƯỜI LÀM ÐIỀU PHI PHÁP.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy đức Thế Tôn chế giới không cho Tỉ-kheo-ni nhận y, bát, thức ăn uống, thuốc trị bệnh của đàn ông có tâm nhiễm ô, nên Tỉ-kheo-ni Thọ-Ðề không nhận y bố thí của trưởng giả. Thế rồi, Tỉ-kheo-ni Thân-lan-nan-đà hỏi Thọ-Ðề rằng: “Vì sao cô không lấy vật bố thí của người đàn ông này? Người đàn ông có tâm ô nhiễm hay không đâu có liên quan gì đến việc của cô, miễn là tâm cô không ô nhiễm thì có thể lấy rồi tùy nghi sử dụng”.

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 37. QUYỂN XXXVII: PHẦN CUỐI CỦA PHÁP TĂNG TÀN; PHẦN KẾ CỦA NI-TÁT-KÌ ; PHẦN ÐẦU CỦA 141 BA-DẠ-ÐỀ

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 36. QUYỂN XXXVI: PHẦN ÐẦU CỦA 8 BA-LA-DI; PHẦN ÐẦU CỦA PHÁP TĂNG TÀN

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO NI

Quyển thứ ba mươi sáu

Phần đầu của 8 Baladi – Phần đầu của Pháp Tăng Tàn

-ooOoo-

GIỚI PHÁP CỦA TỈ-KHEO-NI:
NÓI RÕ PHẦN ÐẦU CỦA TÁM BA-LA-DI.

1- GIỚI: DÂM DỤC.

Ðức Thế Tôn Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác từ lúc ban đầu phát tâm tu đạo nay đã thành tựu, đang an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, nơi thành Ca-duy-la-vệ, được chư Thiên, người đời tôn kính cúng dường, như trên đã nói rõ. Lúc ấy, Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di cùng với năm trăm cô gái dòng họ Thích như: Xiển-đà-di, Xiển-đà-ba-la, Ðà-bà-xiển-đà, mẹ Xiển-đà v.v…, (514b) đi đến chỗ Phật, cúi đầu, đảnh lễ đứng hầu một bên. Thế rồi, Ðại Ái Ðạo bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Phật ra đời khó gặp, được nghe pháp cũng khó, nay gặp đức Như Lai xuất hiện trên đời, diễn thuyết diệu pháp cam lồ, khiến cho các chúng sinh chứng được đạo quả tịch diệt”. Như trong Kinh Ðại Ái Ðạo xuất gia đã nói rõ. Thế rồi, Phật dạy: “Từ nay về sau, Tỉ-kheo ni Ðại Ái Ðạo là bậc Thượng tọa của Ni Tăng, phải tuân thủ như thế”.

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 36. QUYỂN XXXVI: PHẦN ÐẦU CỦA 8 BA-LA-DI; PHẦN ÐẦU CỦA PHÁP TĂNG TÀN

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 35. QUYỂN XXXV: PHẦN HAI CỦA OAI NGHI

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Quyển thứ ba mươi lăm – Phần hai của Oai Nghi

-ooOoo-

NÓI RÕ PHÁP OAI NGHI THỨ HAI

CÁCH THỨC ÐI KINH HÀNH.

Khi Phật an trú tại vườn trúc Ca-lan-đà nơi thành Vương Xá, lúc ấy có một Tỉ-kheo mang guốc gỗ đi kinh hành trước một Tỉ-kheo khác đang ngồi thiền, khiến Tỉ-kheo này tâm không được định. Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi vị Tỉ-kheo ấy đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền hỏi:

– Ông có việc đó thật không?

– Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 35. QUYỂN XXXV: PHẦN HAI CỦA OAI NGHI

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 34. QUYỂN XXXIV: PHẦN ĐẦU CỦA OAI NGHI

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Quyển thứ ba mươi bốn – Phần đầu của Oai Nghi

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẦN ÐẦU CỦA OAI NGHI

TÁC PHONG CỦA THƯỢNG TỌA THỨ NHẤT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo Tăng tập hợp để bố tát; trong lúc mọi người tập trung đông đủ, thì vị Thượng tọa của Tăng là Nan-đà không đến. Khi ấy có đàn việt đem phẩm vật đến chờ chư Tăng tập hợp đông đủ để cúng dường, liền hỏi các Tỉ-kheo:

– Dạ thưa Tăng đã tập hợp đông đủ chưa?

– Tập hợp chưa đông đủ.

– Ai không đến vậy?

– Vị Thượng tọa của Tăng không đến.

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 34. QUYỂN XXXIV: PHẦN ĐẦU CỦA OAI NGHI

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 33. QUYỂN XXXIII: PHẨM TẠP TỤNG THỨ 11

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Quyển thứ ba mươi ba – Phẩm tạp tụng thứ 11

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ MƯỜI MỘT

BẢY TRĂM VỊ ÐẠI HỘI KẾT TẬP. PHÁP TẠNG.

Sau khi Phật Niết-bàn (khoảng 100 năm), các trưởng lão Tỉ-kheo ở Tăng-già-lam Sa-đôi, tại Tỳ-xá-li, theo xin các đàn việt, (493b) nói những lời bi ai như sau:

“Này Lão trượng, khi đức Thế Tôn còn tại thế, chúng tôi được cúng dường bữa ăn trước, bữa ăn sau và các y phục, nay Thế Tôn đã Niết-bàn, chúng tôi trở thành cô độc, đâu có ai cho thứ gì. Các vị nên bố thí tài vật cho Tăng”.

Lúc ấy, có người cho một đồng, hai đồng, cho đến mười đồng. Thế rồi, họ đựng số tiền ấy vào trong cái thau, đến ngày Bố tát, họ dùng cái chén nhỏ đong số tiền ấy phân chia cho từng người theo thứ tự. Lúc ấy, vị Tỉ-kheo trì luật là Da-xá được chia đầu tiên, liền hỏi:

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 33. QUYỂN XXXIII: PHẨM TẠP TỤNG THỨ 11

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 32. QUYỂN XXXII: PHẨM TẠP TỤNG THỨ 10

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Quyển thứ ba mươi hai – Phẩm tạp tụng thứ 10

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ MƯỜI

PHÉP ĂN CHUNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo cùng ăn chung bị người đời chê cười rằng:

– Vì sao Sa-môn Thích tử mà ngồi ăn chung giống như những kẻ dâm dật ở thế gian?

Cho đến Phật bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

– Các ông có việc đó thật không?

– Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

– Từ nay về sau, Ta không cho phép cùng ăn chung. Cùng ăn chung nghĩa là cùng ăn một bát. Còn thức ăn thì có 5 món ăn chính và 5 món ăn linh tinh nên đựng riêng ra mà ăn. Nếu không có bát thì nên dùng tô, chén để đựng. Nếu cũng không có tô, chén thì nên vò cơm thành viên bỏ trong bàn tay trái, dùng tay phải bốc ăn. Nếu cũng không thể được thì nên đặt bát trên cỏ, lá, rồi cùng bốc ăn. (485c) Không được dùng tay bốc ăn chung 5 thức ăn chính và 5 thức ăn tạp. Nhưng nếu là bột, bánh, rau, trái thì cùng ăn chung không có tội. Nếu cùng ăn chung trong một bát thì phạm tội Việt tỳ ni.

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 32. QUYỂN XXXII: PHẨM TẠP TỤNG THỨ 10

LUẬT MA HA TĂNG KỲ – 31. QUYỂN XXXI: PHẨM TẠP TỤNG THỨ 9

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hán dịch:
Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La (Người Thiên Trúc) cùng
Sa Môn Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn.

Việt dịch: Thích Phước Sơn – Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh

Phật lịch: 2545 – 2000

—0O0—

GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Quyển thứ ba mươi mốt – Phẩm tạp tụng thứ 9

-ooOoo-

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ CHÍN

NẤU ĂN Ở CHỖ NGỦ VÀ TỰ NẤU ĂN.

Khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng Dã được Chư Thiên và người đời cúng dường. Bấy giờ, nhà bếp được làm trong Tăng viện, nước vo gạo và nước bẩn rửa chén chảy ra ngoài đường hẻm, bị người đời chê trách:

– Vì sao chỗ ở và nhà bếp của Sa-môn Thích tử không cách biệt nhau?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo:

– Các ông thật đáng bị người đời chê trách. Từ nay Ta không cho phép làm nhà bếp ở trong chỗ ở để rồi nước vo gạo chảy ra bên ngoài. Phép làm nhà bếp không nên làm ở phương Ðông, phương Bắc mà nên làm tại phương Nam, phương Tây. Nếu Tỉ-kheo làm nhà bếp ở bên trong, để cho nước vo gạo chảy ra bên ngoài thì phạm tội Việt tỳ ni.

Read moreLUẬT MA HA TĂNG KỲ – 31. QUYỂN XXXI: PHẨM TẠP TỤNG THỨ 9