Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / TAM BẢO / Thích Ca Mâu Ni Phật / Đảnh lễ Đức Phật Đà / Chủng tử, Thần chú, Chân ngôn Phật Thích Ca Mâu Ni

Chủng tử, Thần chú, Chân ngôn Phật Thích Ca Mâu Ni

_Chữ chủng tử là: BHA ( ), BHAḤ ( ), BHRŪṂ ( )

.) BHA ( ): là tất cả Pháp Hữu chẳng thể đắc. Do tất cả Hữu là 3 Hữu cho đến 25 Hữu nên BHA biểu thị cho nghĩa Được Tự Tại trong các Hữu , thường hay phá nát các Pháp dời đổi (thiên biến) hiển lộ Pháp Tự Tại. Vì thế BHA còn biểu thị cho Phương Tiện Ba La Mật (Upāya-pāramitā) là phương cách trong đó công hạnh tu tập 6 Độ được chuyển sang để giác ngộ kẻ khác. BHA biểu thị cho Ứng Hóa thân là Sinh Thân Thích Ca Mâu Ni Phật ở phương Bắc, hiển thị mọi giáo nghĩa giúp chúng sinh vượt ra khỏi nhà lửa của Tam Giới. Vì thế Đức Thích Ca Mâu Ni Phật còn được xưng tán là PHÁ HỮU PHÁP VƯƠNG

.) BHAḤ ( ): biểu thị cho nghĩa đã chứng đạt viên mãn Pháp của chữ BHA

.) BHRŪṂ ( ): được kết hợp bởi bốn âm tự là BHA, RA, Ū, MA. Trong đó BHA ( ): biểu thị cho Phương Tiện Ba La Mật (Upāya-pāramitā) là phương cách trong đó công hạnh tu tập 6 Độ được chuyển sang để giác ngộ kẻ khác RA ( ) là tất cả Pháp Lìa bụi nhiễm. Do hay phá nát sự nhiễm ô của 6 Trần hiển lộ sự thanh tịnh vô cấu nên RA được biểu thị cho Nguyện Ba La Mật (Praṇidhāna-pāramitā) là ý chí hành 6 Độ để giác ngộ kẻ khác.

Ū ( ) là tất cả Pháp Tổn giảm chẳng thể đắc. Do tất cả Pháp Hữu đều không lìa được thể Tổn Giảm nên Ū hàm chứa nghĩa Diệu hữu chân thiện và biểu thị cho Lực Ba La Mật (Bala-pāramitā) là khả năng có thể nuôi lớn 6 Độ để giác ngộ kẻkhác.

MA ( ) được ký hiệu thành âm tiêu ( ) đặt trên đầu chữ là thanh Tam Muội, biểu tượng của Trí Đại Không thường hay phá nát các Pháp Ngô Ngã hiển lộ Pháp Đại Không cực thiện. Do đó, MA được biểu thị cho Trí Ba La Mật (Jñāna-pāramitā) tức hiểu rõ được đặc tính của 6 Độ là phương cụ để giác ngộ kẻ khác.

Do 4 Ba La Mật: Phương Tiện, Nguyện, Lực, Trí xuất phát từ Bát Nhã Ba La Mật (Prajña-pāramitā) nên BHRŪṂ biểu thị cho một giai đoại không chứng nhập quả vị Niết Bàn mà lao vào thế gian sinh tử, thi hành vạn hạnh Đại Bi, hóa độ chúng hữu tình, hoàn thiện mọi thiện căn, chứng nhập từng phần Pháp Thân để viên mãn quả vị Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác của các vị Bồ Tát Bất Thoái Chuyển (Avaivartika-bodhisatva).

Lại nữa:

BHA ( ): biểu thị cho Ứng Hóa thân là Sinh Thân Thích Ca Mâu Ni Phật ở phương Bắc, hiển thị mọi giáo nghĩa giúp chúng sinh vượt ra khỏi nhà lửa của Tam Giới.

RA ( ) biểu thị cho Báo Thân là Sa La Thọ Vương Phật ở phương Nam, hiển thị cho sự mở bày vạn Đức, nuôi lớn Tâm Bồ Đề, viên mãn vạn hạnh Đại Bi để thành Chính Giác.

Hai chữ BHA và RA đều hàm chứa chữ A biểu thị cho Pháp Thân Đại Nhật Như Lai, biểu thị nghĩa Vạn Pháp thảy đều Bất Sinh thường trụ. Điều này có nghĩa là Hóa Thân Thích Ca ở phương Bắc ( ) sau khi hết hạn hóa duyên sẽ nhập vào chữ RA ( ) ở phương Nam là Trí Đại Thành Pháp Thân Nội Chứng Pháp Giới, phân chia ngọc Xá Lợi còn mọi tướng tốt đẹp của thân thể đều biến thành một chữ BHRŪṂ để nhiếp trì Chính Pháp. Tức là: Biến Hóa Thân vô thường quy về Pháp Thân Thường Trụ Kim Cương Bất Hoại Xá Lợi

Như vậy, hai chữ BHA, RA là nội chứng ngoại dụng, Sinh Thân Pháp Thân, chủng tử của Lý Trí, Trí Đức Phước Đức, công đức của hai Bộ. Từ hai chữ này sinh ra hóa dụng của Đại Trí (Mahā-jñāna), Đại Bi (Mahā-kāruṇa)

Ū ( ) là nghĩa Tối Thắng của Kim Cương, biểu thị cho Chân Thiện Diệu Hữu.

MA ( ) là Kim Luân Tối Thắng vạn đức trang nghiêm cụ túc viên mãn, hiển thị cho Trí Đại Không.

Do các ý nghĩa này nên BHRŪṂ được xem là chủng tử Pháp Thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

_Thích Ca Mâu Ni Phật Thủ Ấn:

.) Bát Ấn:

Kéo dẫn một góc áo cà sa bên tay trái và góc áo vắt trên vai khiến cho quấn qua cánh tay trái, nắm hai góc ấy như hai lỗ tai quấn nhau ngau trong lòng bàn tay trái, nắm ngay trước rốn, ngửa lòng bàn tay trái lên trên. Tay phải giống như dạng này, hướng lên trên chồng lên nhau, hai ngón cái cùng chạm nhau hơi thành vòng tròn, thành hình dạng của cái bát. Hoặc như dạng Pháp Giới Định Ấn, hai bàn tay chồng lên nhau, duỗi ló góc áo cà sa, xưng là Thích Ca Đại Bát Ấn, Bát Ấn, Như Lai Bát Ấn, là Ấn Đại Bát của Thai Tạng.

Chân Ngôn là:
NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ_ SARVA KLEŚA NIRSUDANA _
SARVA DHARMA VAŚITAḤ PRĀPTA _ GAGANA SAMA ASAMA_ SVĀHĀ

.) Trí Cát Tường Ấn:

Hai tay đều tự đem ngón cái nắm dính ngón giữa thành dạng búng ngón tay (đàn chỉ), duỗi thẳng đấu các ngón còn lại. Tay trái để trước ngực, hướng lòng bàn tay lên trên. Bàn tay phải úp bên trên nhưng không không chạm nhau.

Bên trái là Thượng Cầu (bên trên cầu), bên phải là Hạ Hóa (bên dưới hóa độ). Hoặc dùng Ấn này là Ấn của Báo Thân Thuyết Pháp.

Pháp Thân Thuyết Pháp là đem ngón cái nắm ngón vô danh

Ứng Thân Thuyết Pháp là: đem ngón cái nắm ngón trỏ, dùng nói Pháp thì xưng là Trí Cát Tường Ấn. Tức có nói Pháp tác dụng Hậu Đắc Trí, chúng sinh y theo đây có thể được đến cát tường.

Trí Cát Tường Ấn là Ấn căn bản của Đức Thích Ca Như Lai.

Chân ngôn giống như trước

.) Trí Cát Tường Ấn: Hai tay tác Nội Phộc, dựng hai ngón giữa, hai ngón út bằng nhau cùng hợp một.

Chân Ngôn giống như trước.

_Chân ngôn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Hệ Thuần Mật thường dùng câu Thích Ca Mâu Ni Phật Bát Ấn Chân Ngôn:

NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ_ SARVA KLEŚA NIRSUDANA _
SARVA DHARMA VAŚITAḤ PRĀPTA _ GAGANA SAMA ASAMA_ SVĀHĀ
Namaḥ samanta-buddhānāṃ: Quy Mệnh khắp cả Đấng Giác Ngộ
Bhaḥ: Chữ chủng tử của Thích Ca Mâu Ni
Sarva kleśa nirsudana: Tồi phá nhiếp phục tất cả phiền não
Sarva dharma vaśitaḥ prāpta: Tất cả Pháp được Tự Tại
Gagana sama-asama svāhā: Quyết định thành tựu Đẳng Vô Đẳng như hư không)

_ Thích Ca Mâu Ni Phật Diệt Ác Thú (nẻo ác) Vương Căn Bản Chú:

OṂNAMOBHAGAVATE DURGATE-PARIŚODHANI-RĀJĀYA
TATHĀGATAYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA
TADYATHĀ: OṂ_ ŚODHANI SARVA-PĀPAṂ VIŚODHANI, ŚUDDHE
VIŚUDDHE, SARVA-KARMA-ĀVARAṆA VIŚUDDHE KURU_ SVĀHĀ
Oṃ namo bhagavate durgate-pariśodhani-rājāyatathāgatāya arhate
samyaksaṃbuddhāya: Quy Mệnh kính lễ Thế Tôn Tịnh Trừ Nhất Thiết Ác Thú
Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác
Tadyathā: Như vậy, nói Thần Chú là
Oṃ: Nhiếp triệu
Śodhani: Thanh tịnh
Sarva-pāpaṃ viśodhani: Khiến cho tất cả tội lỗi đều thanh tịnh
Śuddhe viśuddhe: thanh tịnh, khiến cho thanh tịnh
Sarva karma-āvaraṇa viśuddhe kuru:Làm cho tất cả Nghiệp Chướng đều được thanh tịnh
Svāhā: Quyết định thành tựu

_ Thích Ca Mâu Ni Phật Tồi Tà Hiển Chính Chân Ngôn:

AMALEVIMALENIRMALEMAṄGALEHIRAṆYA-GARBHE
SAMANTA-BHADRE SARVĀRTHA-SĀDHANI PARAMĀRTHA-SĀDHANI
MANAS ACYUTI BRAHMASVARE PŪRṆE, PŪRṆA MANORATHE
Amale: Vô cấu
Vimale: Ly cấu
Nirmale: Bất cấu
Maṅgale: Cát tường, cát khánh
Hiraṇya-garbhe: Bên trong Kim Tạng
Samanta-bhadre: Bên trong Phổ Hiền
Sarvārtha-sādhani: Nghi thức của tất cả nghĩa lợi
Paramārtha-sādhani: Nghi thức lợi ích tối thắng
Manas acyuti viraje: Suy tư về Định Nghiệp bên trong sự lìa các bụi dơ phiền não
Amṛte brahmasvare pūrṇe: đầy đủ âm thanh khiết tịnh bên trong sự Bất Tử
Pūrṇa manorathe: Ý nguyện mong muốn được đầy đủ
[Bản khác thì ghi nhận thêm câu VIMUKTI SUVIMUKTI SVĀHĀ ở phần cuối Chân Ngôn
Vimukti: Khiến cho Giải thoát
Suvimukti: Khéo khiến cho Giải Thoát
Svāhā: Quyết định thành tựu]

_Thích Ca Mâu Ni Phật Tâm Chân Ngôn:

OṂ _ MUṆI MUṆI MAHĀ- MUṆI _ ŚĀKYAMUṆĀYE _ SVĀHĀ
Oṃ: Quy mệnh
Muṇi muṇi mahā-muṇi: Tịch Mặc, tịch mặc, đại tịch mặc. Biểu thị cho sự tịch mặc của ba Thừa
Śākyamuṇāye svāhā: Quyết định thành tựu Thích Ca Mâu Ni đẳng

_Phật nói Kinh Tiểu Tự Bát Nhã Ba La Mật ghi nhận Chân Ngôn này có tên gọi là Thánh Phật Mẫu Tiểu Tự Bát Nhã Ba La Mật Đa Chân Ngôn:
“Nẵng mạc xá cát-dã mâu nẵng duệ, đát tha ngã đá dã, lạt-hạt đế, tam ma dược ngật tam một đà dã. Đát nễ-dã tha: Mâu ninh, mâu ninh, ma hạ mẫu nẵng duệ, sa-phộc hạ”

NAMAḤŚĀKYAMUṆĀYETATHĀGATĀYAARHATE
SAMYAKSAṂBUDDHĀYA (Quy mệnh Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Úng
Chính Đẳng Chính Giác)
TADYATHĀ: MUṆI MUṆI MAHĀ-MUṆĀYE SVĀHĀ
Đức Phật bảo Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Thánh Phật Mẫu Tiểu Tự Bát Nhã Ba La Mật Đa Chân Ngôn này. Tất cả chư Phật do đây mà được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Anuttāra-samyaksaṃbuddhi). Ta cũng do Tiểu Tự Bát Nhã Ba La Mật Đa Chân Ngôn này cho nên được Vô Thượng Chính Đẳng Bồ Đề. Xưa kia có Đức Phật tên là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ta ở chỗ của Đức Phật ấy nghe được Pháp này. Đức Phật đó nói rằng: “Như vậy tất cả chư Phật ba đời, do Pháp này mới được thành Phật”

_Thần Chú Thỉnh triệu Bản Sư Thích Ca Mâu Ni:
Từ đóa sen lòng sùng kính trong tim con
Hỡi Đức Thầy Từ Bi! Chỗ mong cậy duy nhất của con
Hãy xuất hiện che chở con trong cơn nguy khốn
Bởi các nghiệp quá khứ và cảm xúc hỗn loạn
Như viên ngọc an trú trên đầu con, MAN ĐA LA của Đại lạc
Khơi dậy tỉnh giác và sáng suốt trong con
Xin Thầy !
OṂ ĀḤ ŚĀKYAMUṆĀYE BHRŪṂ HŪṂ (3 lần)

Con khẩn cầu Thầy: Vị chủ tể của bốn thân
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Vị chủ tể Pháp thân vô ngại
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Vị chủ tể Báo thân phước lạc
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Vị chủ tể vô lượng Ứng thân
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của tất cả các Bậc Thầy
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của tất cả các vị Trời
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của tất cả chư Phật
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của tất cả Pháp
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của Tăng Già
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của tất cả Nam Thần
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của chư Thần Hộ Pháp
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ
Con khẩn cầu Thầy: Hiện thân của tất cả chỗ Quy Y
OṂ ŚĀKYAMUṆĀYE VAJRA-DHĀRA HŪṂ BHRŪṂ

Hỡi Đức Bản Sư Tôn Quý của con
Xin hãy an vị trên tòa sen trong vành trăng trên đỉnh đầu của con
Xin xót thương con vì lòng bi mẫn
Cho con thành tựu về Thân, Lời, Ý
OṂ ĀḤ HŪṂ_ ŚĀKYAMUṆĀYE _ SIDDHI HŪṂ (3 lần)

Nguồn: Như Lai Phật Bộ – Huyền Thanh



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *