Công năng của Ngàn Mắt Ngàn Tay

CÔNG NĂNG CỦA NGÀN MẮT NGÀN TAY

QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT vì muốn cứu độ chúng sanh nên hiển thị ngàn tay ngàn mắt, với ngàn mắt sinh ra 1000 vị Phật đời Hiền Kiếp, và ngàn tay sinh ra 1000 vị Chuyển Luân Thánh Vương. Khi Bồ Tát hiện ra thân Thắng Ma này thì tất cả chúng sanh trong Thế Giới đều được tiêu trừ tội chướng, xa lìa ba nẻo ác và đều được tái sanh vào cõi người, cõi Trời. Do vậy ngàn tay biểu thị cho phương tiện hoá độ thiện xảo và ngàn mắt biểu thị cho Trí Tuệ quán sát tỏ tường muôn sự. Nói theo cách khác thì ngàn mắt biểu thị cho tinh thần Chân Không của Bát Nhã, còn ngàn tay biểu thị cho tinh thần Diệu Hữu của Bát Nhã. Biểu tượng này nhằm đánh thức Tuệ Giác của chúng sanh khiến cho họ xa lìa sự chấp Thường, chấp Đoạn để đi vào Trung Đạo đồng thời giúp cho người tu hành tìm thấy sự giác ngộ trong công việc độ sanh cũng như tìm thấy sự giải thoát giữa biển sanh tử phiền não, tức không từ bỏ Pháp Tu cũng không từ bỏ cuộc đời và đây chính là nghĩa chân thật của Tâm Đại Bi vậy.

Theo Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh thì ngàn tay là tổng số tay làm lợi ích cho 25 HỮU trong đó một HỮU thường có 40 tay hóa độ.

Lại nữa, khi Quán Tự Tại Bồ Tát nhập vào Tam Muội VÔ SỞ ÚY (Abhayaṃ samādhi) thì trong ánh sáng Tam Muội hiện ra 25 vị Bồ Tát, mỗi vị đều có 11 mặt 40 tay, chứng đắc 25 Tam Muội. Riêng thân hiển thị ở Nam Thiệm Bộ Châu (Jambudvīpa) là 40 pháp hóa độ của Thí Vô Úy Quán Tự Tại Bồ Tát (Abhayaṃdāda Avalokiteśvara Bodhi-satva).

40 pháp (tức 40 tay) được hoá hiện thành 40 vị Quán Tự Tại, mỗi một vị đều có 11 mặt 2 cánh tay, mỗi một tay cầm vật khác nhau, y theo cầu nguyện khác nhau của chúng sinh mà ban bố cho

24031681

24031682

24031683

40 pháp (tức 40 tay) biểu thị cho 5 Trí Tuệ của Như Lai nhằm minh họa cho vạn Đức cứu cánh là:

1.NHƯ LAI BỘ (Tathāgata-kulāya): biểu thị cho Pháp Giới Thể Tính Trí (Dharma-dhātu-prakṛti-jñāna) là cái Trí thâm nhập khắp nơi của Pháp Giới, 8 tay thuộc Bộ này là: Hóa Phật, Dây Lụa, Thí Vô Úy, Phất Trần Trắng, Bàng Bài, Việt Phủ, Kích Báu, Dương Liễu minh họa cho Pháp Tức Tai Śāntika) là pháp tiêu trừ các loại bệnh nạn, việc ác của thân mình hoặc người khác.

2.KIM CANG BỘ (Vajra-kulāya): biểu thị cho Đại Viên Kính Trí (Adarśa- jñāna) là cái Trí phản chiếu mọi sự vật mà không dính mắt vào sự vật nào, cũng không bị sự vật ấy động chạm hay lay động được. Có 8 tay thuộc Bộ này là Bạt Chiết La (Tam Cổ Kim Cương), Chày Kim Cương (Độc Cổ Kim Cương) Kiếm báu, Cung điện, Bánh xe vàng (Kim Luân), Bát báu, Nhật Tinh Ma Ni, Nguyệt Tinh Ma Ni minh họa cho Pháp Điều Phục (Abhicāruka) là pháp tu chiết phục các nhóm ác hoặc điều phục các người ác.

3. BẢO BỘ (Ratna-kulāya): biểu thị cho Bình Đẳng Tính Trí (Samatā-jñāna) là cái trí phô bày tâm thức Từ Bi Bình Đẳng. Tám tay thuộc Bộ này là: Ngọc Như Ý, Kinh Báu, cây Cung Báu, Hoa Sen Trắng, Hoa Sen xanh, Chuông báu, Hoa Sen tím, Chùm Bồ Đào minh họa cho Pháp Tăng Ích (Puṣṭika) là pháp tu tăng ích về Trí Tuệ, Phước Đức, Thọ Mệnh cho mình và người khác

4.LIÊN HOA BỘ (Padma-kulāya): biểu thị cho Diệu Quán Sát Trí (Pratyavekṣana-jñāna)là sự quán tưởng của Trí xem xét mọi tướng chung, tướng riêng của các pháp mà không hề b ị ngăn ngại. Tám tay thuộc Bộ này là: Hợp Chuởng, Gương báu, Ấn báu, Vòng ngọc, Hồ Bình, Quân Trì Bình, Hoa Sen hồng, Tích Trượng minh họa cho Pháp Kính Ái (Vaśikaraṇa) là pháp tu cho mình và người khác được Chư Phật, Bồ Tát gia hộ hoặc muốn được Quân Vương và mọi người yêu thương giúp đỡ.

5.YẾT MA BỘ (Karma-kulāya):biểu thị cho Thành Sở Tác Trí (Kṛtyamuṣṭhāna-jñāna) là cái trí khéo léo thi hành mọi việc của thế gian chuyển chúng thành phương tiện giải thoát. Tám tay thuộc Bộ này là: Thiết Câu, Đỉnh Thượng Hóa Phật, Tràng Hạt, Hoa Báu, mũi Tên Báu, Rương báu, Độc Lâu, Mây Ngũ Sắc minh họa cho Pháp Câu Triệu (Ākarṣaṇi) là pháp triệu thỉnh Bản Tôn, chư Thần. Thông thường thì pháp này thường được nhiếp trong Kính Ái .

Như vậy 40 tay này thông cả 5 loại Pháp Hộ Ma (Homa), xong bình thường theo lời Thầy dạy thì chỉ nhấn mạnh vào 2 pháp tu TỨC TAI và KÍNH ÁI mà thôi.

Lại nữa 4 loại Pháp: Tức Tai, Tăng Ích, Kính Ái, Giáng Phục còn được biểu thị bằng 4 vị Bồ Tát: Bạch Y, Đại Bạch Y, Đa La, Tỳ Câu Đê là 4 Đức của Thiên Thủ Quán Âm.

_ BẠCH Y (Pāṇḍaravāsini) là biệt môn của Liên Hoa Bộ, là Mẫu của các Bộ Quán Âm nên biểu thị cho Đức Tức Tai (Śāntika)

Bạch Y Quỹ ghi: “Nếu có người ác, vô cớ gây tai họa cho ta, nên quán tưởng người ấy ở dưới chân Bậc Du Già (Yogī) tụng Chân Ngôn 21 biến thì tất cả sự gây hại thảy đều bị tiêu diệt,cùng với hướng tâm Từ Bi chẳng bị chướng ngại”

Chân Ngôn là

NAMAḤ SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ (Quy mệnh khắp cả b ậc Giác Giả) TATHĀGATA-VIṢAYA (Cảnh giới của Như Lai) SAṂBHAVE (phát sinh) PADMA-MĀLINI (vòng hoa sen) SVĀHĀ (quyết định thành tựu).

_Thiên Thủ Quỹ ghi bài Chú khác là:

OṂ_ KAṬE VIKAṬE NIKAṬE KATAṂKAṬE KAROṬE VĪRYE SVĀHĀ

_ ĐẠI BẠCH Y (Mahā-pāṇḍara-vāsini): Do Pháp Giới Thể Tính Trí sanh ra Liên Hoa Bộ nên gọi là Đại Bạch Y, tức là Tổng Môn của Liên Hoa Bộ. Vì Tổng là Năng Sinh nên biểu thị cho nghĩa Tăng Ích (Puṣṭika)

Quỹ ghi: “Muốn biết việc lành dữ ở thời vị lai có thành hay không, tụng Minh Phi (Vidya-rājñi) ấy thì nằm mộng sẽ biết”

Đây là đức chưa nảy mầm nên cũng biểu thị cho nghĩa Tăng Ích. Như vậy Đại Bạch Y biểu thị cho Tăng Ích. Chân Ngôn là:

NAMO RATNA-TRAYĀYA (Quy mệnh Tam Bảo)

NAMAḤ ĀRYA-AVALOKITEŚVARĀYA BODHI-SATVĀYA, MAHĀSATVĀYA, MAHĀ-KĀRUṆIKĀYA (Kính lễ Đấng có đầy đủ Tâm Đại Bi là Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát)

TADYATHĀ (Như vậy liền nói chú là)

ŚVETE (màu trắng) ŚVETĀṂGE (thân màu trắng) ŚVETA-BHŪJA (cánh tay màu trắng) ŚVETA-VASTRE (áo màu trắng) ŚVETA-MALYA RALAṂKṚTE (đeo tràng hoa trắng buông rũ) JAYE (Tôn thắng) VIJAYE (Tối thắng) AJITE (Vô năng thắng) SARVA SIDDHA NAMAḤSKṚTE (Kính lễ tất cả sự thành tựu) HILI (kết hợp hòa hợp) MILI (ngăn chặn, cản trở) KILI (găm chặt, giết chết) DARŚAYA SĀDHAYA (Nghi quỹ đã nhìn thấy) SVĀHĀ (viên mãn, quyết định thành tựu)

-ĐA LA (Tārā): Tôn này được sanh ra từ con mắt của Quán Tự Tại Bồ Tát . Do tôn này dùng mắt Từ xem xét chúng sanh để kịp thời cứu độ nên biểu thị cho nghĩa “Bi Ngưỡng Ái” vì thế ĐA LA biểu thị cho Đức Kính Ái (Vaśikaraṇa).Chân Ngôn là:

OṂ (Cảnh giác) TĀRE (sự tự do thoát khỏi luân hồi) TUTTĀRE (sự tự do thoát khỏi tám nạn) TURE (sự tự do thoát khỏi bệnh tai) SVĀHĀ (quyết định thành tựu)

-TỲ CÂU ĐÊ (Bhṛkuṭi): Tỳ câu đê theo tiếng Phạn nghĩa là nếp nhăn. Do nếp nhăn trên vầng trán là hình phẫn nộ nên Tỳ Câu Đê biểu thị cho Đức Giáng Phục (Abhicāruka). Chân Ngôn là :

NAMAḤ SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ (Quy mệnh khắp cả chư Phật) SARVA BHAYA (tất cả sự đáng sợ) TRASANI (ba tâm tham lợi) SPHAṬYA (phá bại tất cả) SVĀHĀ (Quyết định thành tựu)

Từ các ý nghĩa này mà Quỹ ghi là “Ở 4 góc của lầu gác báu có 4 Vị Bồ Tát Bạch Y, Đại Bạch Y, Đa La, Tỳ Câu Đê cùng với vô lượng chúng của Liên Hoa Bộ trước sau vây quanh”

Riêng một số vị Đạo Sư Tây Tạng đối với Quán Âm Pháp để tăng cường sức mạnh gia hộ của Bản Tôn cho người tu hành thì mỗi bộ đều có một cách quy mệnh kính lễ riêng:

1.NHƯ LAI BỘ:

NAMA RATNA-TRAYĀYA ( Quy mệnh Tam Bảo) NAMAḤ ĀRYA-JÑĀNA-SĀGARĀYA VAIROCANA-VYŪHA-RĀJĀYA TATHĀGATĀYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA (Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chính Đẳng Chính Giác) NAMAḤ ĀRYA-AVALOKITEŚVARĀYA BODHI-SATVĀYA, MAHĀSATVĀYA MAHĀ-KĀRUṆIKĀYA.

2.KIM CƯƠNG BỘ:
NAMA RATNA-TRAYĀYA ( Quy mệnh Tam Bảo) NAMAḤ ĀRYA-JÑĀNA-SĀGARĀYA AKṢOBHYA-VYŪHA-RĀJĀYA TATHĀGATĀYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA (Kính lễ Thánh Trí Hải Bất Động Trang Nghiêm Vương Như Lai ,Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác) NAMAḤ ĀRYA-AVALOKITEŚVARĀYA BODHI-SATVĀYA, MAHĀSATVĀYA MAHĀ-KĀRUṆIKĀYA.

3.LIÊN HOA BỘ:
NAMA RATNA-TRAYĀYA ( Quy mệnh Tam Bảo) NAMAḤ ĀRYA-JÑĀNA-SĀGARĀYA AMITĀBHA-DEVA-VYŪHARĀJĀYA TATHĀGATĀYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA (Kính lễ Thánh Trí Hải Vô Lượng Quang Thiên Trang Nghiêm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chính Đẳng Chính Giác ) NAMAḤ ĀRYA-AVALOKITEŚVARĀYA BODHI-SATVĀYA, MAHĀSATVĀYA MAHĀ-KĀRUṆIKĀYA.

4.BẢO BỘ:
NAMA RATNA-TRAYĀYA ( Quy mệnh Tam Bảo) NAMAḤ ĀRYA-JÑĀNA-SĀGARĀYA RATNA-SAṂBHAVA-VYŪHARĀJĀYA TATHĀGATĀYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA (Kính lễ Thánh Trí Hải Bảo Sinh Trang Nghiêm Vương Như Lai, Ứng Cúng , Chính Đẳng Chính Giác). NAMAḤ ĀRYA-AVALOKITEŚVARĀYA BODHI-SATVĀYA, MAHĀSATVĀYA MAHĀ-KĀRUṆIKĀYA.

5.YẾT MA BỘ: NAMA RATNA-TRAYĀYA ( Quy mệnh Tam Bảo) NAMAḤ ĀRYA-JÑĀNA-SĀGARĀYA AMOGHA-SIDDHI-VYŪHARĀJĀYA TATHĀGATĀYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA (Kính Lễ Thánh Trí Hải Bất Không Thành Tựu Trang Nghiêm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chính Đẳng Chính Giác) NAMAḤ ĀRYA-AVALOKITEŚVARĀYA BODHI-SATVĀYA, MAHĀSATVĀYA MAHĀ-KĀRUṆIKĀYA.

2403169



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *