Đại Bi Tâm Đà La Ni

ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI

Đại Bi Tâm Đà La Ni (Mahā-kāruṇika-citta-dhāraṇī) là bài Chú căn bản minh họa Công Đức Nội Chứng của Đức Quán Tự T ại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva). Bài Chú này có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni… và thường gọi tắt là Chú Đại Bi
Theo Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni do Ngài Già Phạm Đạt Ma (Bhagavad-Dharma) dịch thì bài Chú Đại Bi có 9 tên gọi là:
1) Quảng Đại Viên Mãn Đà La Ni
2) Vô Ngại Đại Bi Đà La Ni
3) Cứu Khổ Đà La Ni
4) Diên Thọ Đà La Ni
5) Diệt Ác Thú Đà La Ni
6) Phá Nghiệp Chướng Đà La Ni
7) Mãn Nguyện Đà La Ni
8) Tùy Tâm Tự Tại Đà La Ni
9) Tốc Siêu Thánh Địa Đà La Ni Nếu dựa vào Truyền Thống phổ thông thì Bài Chú Đại Bi này thường được xưng tán là Tâm Chú (Citta-mantra) của Đức Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát. Nhưng theo Truyền Thống Mật Giáo, hầu hết các bài Đà La Ni của các vị Quán Âm đều được xưng tán là Đại Bi Tâm Đà La Ni. Do vậy các Giáo Đồ Phật Giáo thường ngộ nhận bài Chú của Tôn này với Tôn khác.
Trong Chư Môn Phổ Truyền Chân Ngôn Tập do Ngài Tây Khang NẶC NA Hô Đồ Khắc Đồ truyền thụ và đệ tử Ngô Nhuận Giang biên thuật có ghi bài Đại Bi Tâm Chú là
NAMO RATNA-TRAYĀYA
NAMO BHAGAVATE MAHĀ-KARUṆIKĀYA-VAJRA-SĀRA PRAMARTHANI TATHĀGATĀYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA
TADYATHĀ: OṂ_ DHARA DHARA_ DHIRI DHIRI_ DHURU DHURU_ INTE VANTE (? ITI VATI) _ CALE CALE_PRACALE PRACALE_SARVA KLEŚA SARVA KARMA ĀVARAṆANI_ ŚUDDHE ŚUDDHE_ VIŚUDDHE VIŚUDDHE_ GAGANA SVABHĀVA VIŚUDDHE_ SVĀHĀ
Bài Chú trên chính là Đại Chú của Thập Nhất Diện Quán Âm
Ngoài ra câu Chú OṂ MAṆI PADME HŪṂ cũng thường được gọi là Đại Bi Tâm Chú.
Theo sự khảo cứu của chúng tôi thì bài Chú Đại Bi thường dùng chính là Tâm Chú của Đức Thanh Cảnh Quán Tự T ại Bồ Tát (Nīlakaṇṭha-avalokiteśvara Bodhisatva) và được lưu truyền dưới 2 dạng là bản dài với bản ngắn
1 Bản dài (Quảng Bản) được ghi nhận qua các bài: Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát Đà La Ni (Ngài Bất Không dịch), Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Nễ La Kiến Tha Đà La Ni (Ngài Kim Cương Trí dịch), Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni (Ngài Chỉ Không dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú (Ngài Kim Cương Trí dịch)
2) Bản ngắn (Lược Bản) được ghi nhận qua các bài: Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Tự Tại Vương Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Tự Tại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Đà La Ni (Ngài Bất Không dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (Ngài Bất Không dịch), Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni (Ngài Già Phạm Đạt Ma dịch)
Do các bản Chú Văn có nhiều loại phiên dịch nên chương cú cũng dựa theo các Kinh Văn mà có sự khác biệt kể cả số lượng câu và Phạn Ngữ. Có điều hầu hết các Kinh Bản ấy đều công nhận là tụng bài Chú này sẽ thành tựu 4 Pháp: Tức Tai, Tăng Ích, Giáng Phục, Kính Ái và Câu Triệu.
Tức Tai (Śāntika) là Pháp tu tiêu trừ các bệnh nạn, việc ác của mình với người khác
Tăng Ích (Puṣṭika) là Pháp tu tăng ích về Trí Tuệ, Phước Đức, Thọ Mệnh của mình và người khác
Giáng Phục (Abhicāruka) là Pháp tu chiết phục các nhóm ác hoặc điều phục các kẻ ác
Kính Ái (Vaśikaraṇa) là Pháp tu cho mình và người khác được chư Phật gia hộ, hoặc muốn được Quân Vương và mọi người yêu thương giúp đỡ
Câu Triệu (Ākarṣaṇi) là Pháp Thỉnh Triệu Bản Tôn.Vì Pháp Câu Triệu thường được nhiếp trong Pháp Kính Ái nên chỉ nói 4 Pháp
Về nghĩa thú của Đà La Ni. Thông thường Hành Giả chỉ hiểu biết được qua lời giảng giải của Bậc Đạo Sư (Guru) và hoàn toàn thấu hiểu khi đã thâm nhập vào Tất Địa (Siddhi: Thành Tựu) của Đà La Ni. Ngoài ra vì 5 duyên cớ (Tâm Niệm bí mật, Nghĩa Lý bí mật, Danh Tự bí mật, Âm Thanh bí mật, sự Thiện Sinh bí mật) nên Đà La Ni không được phiên dịch hoặc giảng nghĩa. Do vậy, thông lệ cổ xưa là chỉ trao truyền câu chữ của Đà La Ni chứ không dạy nghĩa lý của Chú. Sự kiện này có lợi là nhờ Tâm an định , tin tưởng chí thành, nhất Tâm trì tụng Đà La Ni nên uy lực thầm kín của âm thanh Chú Ngữ tác động lên thân tâm mà Hành Giả dễ cảm ứng và mau chóng khế hợp với Bản Tôn Đà La Ni, thọ hưởng mùi vị của Diệu Pháp (Saddharma).
Tuy nhiên, đối với hàng căn cơ yếu kém chậm lụt thì sự định Tâm phóng Ý thường sai lệch với ý chỉ của Bản Tôn. Hoặc do Kinh Văn thừa thiếu, không đủ nghi tắc tu trì, thiếu nơi chốn thích hợp… nên hao tốn rất nhiều công phu mà thành quả gặt hái được chẳng đáng là bao! …Cuối cùng nhiều người đành buông bỏ sự tu trì Mật Pháp, thậm chí còn chê bai Chú Ngữ?! … Đấy là chưa kể đến việc chướng ngại qua sự chỉ trích của nhiều Hệ Phái khác như: “Tu Trì cái gì mà chẳng biết ý nghĩa của nó. Nào có khác chi kẻ t ịt mũi cứ khen mùi hương của thực phẩm mà chính nình không ngửi được. Thật mê muội đáng thương!…”
Điều nguy hại khác nữa là nương vào thông lệ “Truyền âm chữ chứ không truyền nghĩa lý“ một số Tà Sư và Tà Thần đã chỉ dạy cho người tu học tụng trì những câu Chú Nguyện “Thề muôn đời làm nô lệ, tôi tớ chỉ phục vụ cho Thầy cho Thần” nên kết quả cuối cùng lại là sự đọa lạc muôn kiếp, khó có dịp thoát khỏi sự khổ đau trói buộc.
Lại nữa, nếu chỉ dựa vào âm chữ mà không thông hiểu nghĩa lý thì nhiều khi Hành Giả phải chịu sự tác dụng ngược của việc truyền thụ thiếu âm chữ của Chú
_ Như Kinh Đại Cát Tường Thiên Nữ 12 Khế 108 Danh Vô Cấu Đại Thừa do Ngài Bất Không dịch thì âm chữ Hán của câu 37 và câu 38 của bài Đại Cát Tường Chân Ngôn ghi là :
“ Tát phộc lạc khất-sử nhĩ, bát-la xả ma ninh, sa-phộc ha “
Nếu chuyển âm theo Phạn Ngữ thì 2 câu trên được ghi nhận là :
SARVA LAKṢMI PRAŚAMANI SVĀHĀ (Tiêu diệt tất cả điều tốt lành, quyết định thành tựu)
Trong khi đó câu đúng phải là :
SARVA ALAKṢMI PRAŚAMAṆI SVĀHĀ (Tiêu diệt tất cả điều chẳng tốt lành, quyết định thành tựu)
_ Trong Bài Đại Bi Tâm Đà La Ni, câu 51 và câu 52, do Ngài Già Phạm Đạt Ma dịch, ghi là:
“ Bà dạ ma na, sa bà ha “
Chuyển theo Âm Phạn là BHAYA MAṆA SVĀHĀ (Quyết định thành tựu Tâm Ý sợ hãi)
Trong khi câu đúng là ABHAYA MAṆA SVĀHĀ (Thành tựu Tâm ý của bậc không sợ hãi )
Lý do truyền âm chữ bị thiếu này là khi dịch Âm Phạn ra Âm Hán, Dịch Giả đã lược bỏ âm liên kết của chữ trước với chữ sau và điều này thường xảy ra với nhiều bài Chú âm Hán
Ví dụ: Trong Bài Chú Đại Bi có ghi câu: “Na mô A lị gia bà lô yết đế thước bát la gia”
Phạn Ngữ của câu này được ghi là NAMAḤ ĀRYĀVALOKITEŚVARĀYA Tách âm nghĩa là NAMAḤ (Kính lễ) ĀRYA (Thánh) AVALOKITEŚVARĀYA (Quán Tự Tại )
Do nhận thấy sự tai hại này, các Bậc Đạo Sư phái Hoàng Mạo (Gelugpa) của Tây Tạng thường truyền dạy một lúc cả âm chữ và nghĩa lý của bài Chú.Ngoài ra các vị ấy thường khuyên dạy là :
“Bạn phải xét cho kỹ cái Pháp mà bạn sẽ dùng làm Pháp Tu cho bạn. Nếu nó giúp cho bạn nhận ra rằng mọi Giáo Lý đều ăn khớp với nhau, mọi Kinh Điển đều trở thành những lời chỉ giáo giúp cho bạn dễ dàng tìm ra chân lý của Đức Phật và giúp bạn tự mình thoát khỏi những Tà Hạnh tệ nhất thì bạn hãy tu trì Pháp ấy”
Ngài Sakya Pandit có nói:
“_ Khi bạn kinh doanh buôn bán
Như lái ngựa, buôn châu báu
Bạn nghi vấn đủ điều
Và bạn khám xét mọi mặt
Tôi thấy bạn cần mẫn làm sao
Với những việc vặt vãnh của đời này
_ Những đời tương lai, bạn tốt hay xấu
Đều tùy thuộc vào Pháp vi diệu
Ấy mà bạn xử sự với Pháp đó
Như con chó ngốn ngấu đồ ăn
Bạn thành kính đón nhận bất kỳ gì gặp được
Mà không xem trước cho kỹ
Để biết nó là Chánh hay Tà”
Kinh Dhamma Dôsa có ghi: “ Hãy đến đây, người Kâlâma! Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì ta nghe thấy có người ấy nói điều ấy một lần rồi. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy được truyền lại từ xưa. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được đồn từ phương xa đến. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy được viết ra từ Kinh Sách. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì chính ta đã ước đoán và nêu ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì chính ta đã suy diễn và nói ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với những thành kiến của ta. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì tính cách có thể chấp nhận được của điều ấy. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì sự kính trọng của ta đối với người nói ra điều ấy…. Mà hỡi người Kâlâma! Chỉ khi nào tự các ngươi, các ngươi hiểu rõ ràng điều ấy đúng với Đạo Lý, không có gì để chê trách, lại được các Bậc thiện Tri Thức Thiện Tâm tán đồng và có khả năng mang lại an vui hạnh phúc chân thật, thì các ngươi phải thực hành đúng như điều ấy”.
(Bản dịch của ông Đoàn Trung Còn)
Theo Mật Tông Phật Giáo thì Đà La Ni (Dhāraṇī: Tổng Trì) có diệu dụng là tạo ra sự suy nghĩ cho Hành Giả, giữ gìn và thâu tóm nghĩa lý làm tiền đề cho việc tham khảo của Hành Giả tức là Đề Mục của sự Trì Niệm Quán Tưởng nhằm đi vào Chính Định để phát sinh Trí Tuệ. Do vậy Đà La Ni còn được gọi là Minh Chú (Vidyamantra) tức là bài Chú có ý nghĩa rõ ràng trong sáng nhằm nắm giữ Pháp Lành không cho tản mất (tức là Trì: Dhāra) chế ngự Pháp Ác không cho nổi lên (tức là cột trói: Bandha) và sinh ra mọi diệu dụng (tức Tất Địa: Siddhi). Lại nữa, do Tâm Nguyện Từ Bi, các bậc Chính Đẳng Chính Giác, Bồ Tát, bậc Thánh Giải Thoát thường tuyên phát Đà La Ni trong lúc nhập định nhằm hiển bày Thần Lực vi diệu giúp cho người Tu Hành mau chóng Dứt Khổ trừ mê nên Đà La Ni còn được gọi là Thần Chú (Mantra). Ngoài ra Đà La Ni còn diễn tả sự chân thật chân chính của một hay nhiều Giáo Pháp nên còn gọi là Chân Ngôn.
Như vậy, ngoài uy lực nhiếp trì gia hộ, Đại Bi Tâm Đà La Ni còn hàm chứa đường lối tu tập rõ ràng giúp cho Hành Giả nắm vững được Giáo Pháp giải thoát từ sơ học tiến dần đến quả vị Vô Thượng Bồ Đề.
Riêng về Nghi Quỹ tu Pháp Đại Bi Tâm Đà La Ni thì Mật Tạng có ghi nhận hai bản dịch là:
_ Đại Bi Tâm Đà La Ni Tu Hành Niệm Tụng Lược Nghi (No.1066) do ngài Đại Quảng Trí Bất Không dịch.
Nội dung Kinh bản này nói về quy tắc giản lược về pháp tu hành niệm tụng lược bản “Đại Bi Tâm Đà La Ni” với phương cách Quán Tưởng, kết Ấn niệm Chân Ngôn.
_ Kim Cương Đỉnh Du Già Thanh Cảnh Đại Bi Vương Quán Tự Tại Bồ Tát Niệm Tụng Nghi Quỹ (No.1112) do Tam Tạng Pháp Sư Kim Cương Trí dịch
Nội dung Kinh bản này nói về quy tắc về pháp tu hành niệm tụng quảng bản “Đại Bi Tâm Đà La Ni” với phương cách Quán Tưởng, kết Ấn niệm Chân Ngôn.
Ngoài hai bản dịch trên, các bậc Đạo Sư Trung Hoa còn lưu truyền một số nghi thức niệm tụng Đại Bi Chú như Đại Bi Chú Niệm Tụng Nghi Qui, Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Chú Hành Pháp, Đại Bi Sám Pháp…..
Người muốn tu trì Chú Đại Bi, trước tiên phải phát khởi Tâm cảm ơn sự trong sạch của nguồn Pháp, quy mệnh Bản Tôn Đại Bi Thanh Cảnh Quán Âm cùng với Thần Chú này. Tiếp theo khẩn cầu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát giúp đỡ chúng ta đến được cảnh giới viên mãn thanh tịnh, đập nát tất cả chướng ác. Ngoài ra chúng ta cần phải nhớ trì mười loại tướng mạo Đà La Ni này, nhằm tăng cường thêm cho uy lực của Chú Đại Bi.
1_ Tâm Đại Từ Bi: Đại Từ (Mahā-maitri) là giúp cho chúng sinh vui vẻ, Đại Bi (Mahā-kāruṇa) là nhổ sạch khổ đau của chúng sinh, cần phải đầy đủ Tâm Đại Từ Bi này mới gọi là Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Tâm Đại Từ Bi là từ trong Thể Tính của Pháp Giới sinh ra, là lực lượng được sinh ra trực tiếp từ trong Tâm Bồ Đề
2_ Tâm Bình Đẳng: Là biết tất cả Pháp Giới đều bình đẳng. Chư Phật, chúng sinh chẳng có sai khác, ta và Chư Phật ngang bằng không hai. Ta trì tụng Chú này tức là chư Phật cũng trì tụng Chú này, mà trong Tâm không có bất cứ ngã mạn nào, toàn bộ là ở sức Pháp Giới trì tụng Chú này, phân biệt căn bản không có ta cũng không có Chư Phật. Ta trì tụng Chú này cúng dường tất cả chúng sinh, tất cả chúng sinh cũng phải nhận cúng dường của Đức Phật Đà. Tất cả bình đẳng, không có hai.
3_ Tâm Vô Vi: Vô Vi là không chấp trước, không tác ý, tự nhiên mà khởi, không cần theo thứ tự mà tiến lên, buột miệng nói ra; tự nhiên sinh khởi, Tâm không có chướng ngại, bấy giờ tức là Vô Trụ Sinh Tâm, Tâm Quá khứ, hiện tại, vị lai chẳng thể đắc. Vô Vi không chế tác, tự nhiên buột miệng mà niệm.
4_ Tâm không có nhiễm dính (Vô nhiễm trước): Không chấp dính cảnh giới của Chú Đại Bi, không chấp dính cảnh giới của chư Phật, không chấp dính cảnh giới của chúng sinh, không chấp dính hết thảy cảnh giới của Thần Thông, cũng không chấp dính vào công dụng của Chú Đại Bi, tất cả đều là Như Huyễn của Hiện Quán.
5_ Tâm Không Quán: Không Quán đó là như huyễn. Quán sát sự trống rỗng của Tính Duyên Khởi, Như Huyễn của Hiện Quán, đồng dạng cũng không có bất cứ sự nhiễm dính, ngay cả Chú Đại Bi cũng là trống rỗng (Śūnya: Không). Nhân vào Duyên của trống rỗng (Không) cho nên hay sinh khởi Chú Đại Bi.
6_ Tâm Cung Kính: Cho dù chúng ta biết rõ là trống rỗng, cho dù là như huyễn, cho dù là không nhiễm dính, nhưng đối với Chú Đại Bi vẫn có Tâm cung kính vô thượng, đối với Quán Thế Âm Bồ Tát có Tâm cung kính vô thượng, đối với chư Phật có Tâm cung kính vô thượng.
7_ Tâm Thấp Kém: Cho dù biết các Pháp bình đẳng không hai, nhưng không tự mãn, không tự cho là đủ, cúng dường Chú này. Nói chung giống như trái đất, cúng dường tất cả, Tâm không dâng lên cao.
8_ Tâm không có Tạp Nhiễm: Tâm không có tạp nhiễm là Định, buột miệng nói ra, an trụ vào trong Chú Đại Bi, Tâm không hỗn loạn bất cứ cái gì, an trụ ở cảnh giới Đẳng Trì (Samādhi) của Định Tuệ, là Tâm không có tạp nhiễm.
9_ Tâm không có Kiến Thủ: Kiến Thủ là ở trong pháp Ngũ Uẩn quên loại bỏ ngã chấp, loại bỏ sự dính mắc các Pháp. Tâm không có Kiến Thủ là tương ứng với Tâm Không Quán, Tâm không có Kiến Thủ là Không Quán, đó là khởi Hiện Không, không có chấp dính, niệm niệm chẳng thể đắc. Là pháp môn Vô Niệm, là pháp môn Bát Nhã, là Nhất Hạnh Tam Muội. Đi, đứng, ngồi, nằm trong Nhất Hạnh đều ở trì tụng Chú Đại Bi mà không có chấp dính; tuy độ tất cả chúng sinh mà quả thực không một chúng sinh nào được độ.
10_ Tâm Vô Thượng Bồ Đề: Cần phải phát khởi Tâm Vô Thượng Bồ Đề cùng với Quán Thế Âm Bồ Tát và mười phương chư Phật đồng một Từ Lực, cùng với chúng sinh đồng một Bi Ngưỡng, đầy đủ Vô Thượng Bồ Đề, cứu độ tất cả chúng sinh. Nếu hay như Pháp tụng trì Chú này, không những chỉ thông đạt Phật Pháp mà tất cả học vấn thế gian cũng đều hiểu biết hết, các loại Kinh Điển, Pháp Thuật cũng hay thông đạt, hay xua đuổi tất cả bệnh tật, cũng hay chế phục tất cả Thiên Ma và Quỷ Thần…. khiến cho không thể gây chướng ngại.



  • Leave a Comment