Home / THƯỜNG TRỤ TAM BẢO / Quan Thế Âm Bồ tát / Thiên Thủ Thiên Nhãn - Quan Thế Âm / Đại Bi thần chú giảng giải – HT. Thích Tín Nghĩa

Đại Bi thần chú giảng giải – HT. Thích Tín Nghĩa

MỤC LỤC | CONTENTS

1. Nam Mô Hát Ra Đát Na Đá Ra Dạ Da

Bồ tát Quán thế âm tự dùng chính bản thân của ngài, vận dụng thần lực và đại bi tâm để chuyển hóa tâm chúng sanh chuyển mê khai ngộ, thẳng đến cứu cánh niết bàn.

Đại ý : Nam mô tức quy y, quy mạng, tôn kính, vâng lời, … Hắc ra đát na tức là Bảo, báu, Đá ra dạ là tam (bảo) hay ba (ngôi báu), Da là lễ bái.

Vậy câu : “Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.” Là : Chúng con, đem cả thân mạng Quy y (quy mạng) kính lễ Thập phương thường trú vô tận Tam bảo.

Lược giải : Hành trì câu thần chú nầy là : Chúng ta trở về với tánh Giác ngộ như chư Phật để làm Phật.

Cho nên : Những bài chú, những câu niệm Hồng danh Phật hay Bồ tát đều phát khởi từ chữ Nam mô, đều có cùng một ý nghĩa là trở về nương theo Tánh giác. Phật Pháp Tăng nói cho đúng ý ban đầu của chư Phật, Tổ là : Giác – Chánh – Tịnh.

Đức Phật thường dạy : Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, nhưng vì mê nên trở thành chúng sanh. Chúng sanh nằm trong mê nên không hiểu tà, chánh ra sao, nay được Phật dạy là bỏ mê khai ngộ, đi theo con đường chánh.

Tâm chúng sanh xao động chẳng khác nào sóng giữa biển lớn, như ly nước đục đang bị khuấy động ; đức Phật hướng dẫn chúng sanh trở về với sự tịch tịnh thì mới có an lạc, mới giải thoát. Vậy, Giác – Chánh – Tịnh tức là Phật – Pháp – Tăng vậy.

Hát ra đát na : Ở đây, chúng ta thấy là đại thể vốn chẳng phải không mà cũng chẳng phải sắc (phi không phi sắc), trong đó hàm chứa những chơn lý vi diệu, những cảnh giới thanh tịnh. Đá ra dạ da : tức pháp âm của nhĩ căn có thể thấu triệt khắp cả mười phương, không hề ngăn ngại, đến chỗ tự nhiên. Tự nhiên ở đây là khế hợp với chánh pháp.

Nói khác đi là khế hợp với chánh pháp do nơi Tâm mà có. Trong kinh thường dạy: Phật tức tâm, tâm tức Phật, tức là đạo. Tất cả chúng sanh nương theo phương pháp của Phật mà tu hành thì dễ đạt đạo và sẽ chứng được Vô thượng bồ đề.

Câu nầy nói lên nguyện lực của Bồ tát Quán thế âm là mong muốn và hy vọng chúng sanh quy y với Tam bảo một cách chân chính ; nhờ đó, mà thấy được rõ lòng mình, hiện rõ chơn tánh.

Từ đó, chúng sanh mới đạt được thâm áo của câu chơn ngôn thần chú nầy. Và, Ngài muốn chúng sanh phải chứng ngộ để trở thành Chánh đẳng Chánh giác.

Bốn chữ “hát na đát ra” , hành trì đúng nghĩa và thành tâm là đã khai ngộ tâm tánh tức là khai thông minh nghĩa để diệu pháp của Phật thâm nhập vào tâm khảm của chúng sanh.

Như trên đã nói Quy y Tam bảo là trở về với Giác – Chánh – Tịnh. Trong phần sám hối và quy y Tam bảo đã từng dạy:

Quy y Phật lưỡng túc tôn.

Vậy thì lưỡng túc tôn là gì ? Lưỡng là hai, Túc là đầy đủ và Tôn tức cung kính, cao quý. Đó là : Phước túc tôn và Huệ túc tôn. Bồ tát Quán thế âm muốn chúng sanh quy y Tam bảo là vì đức Phật có đủ phước đức cả mười phương, chín cõi ; đức Phật có đủ cả huệ túc nên tùy cơ thuyết pháp, hóa độ chúng sanh thật dễ dàng. Chúng sanh thành tâm quy y Tam bảo, một ngày rất gần cũng có đủ như chư Phật.

Quy Pháp ly dục tôn.

Vậy thì ly dục tôn là gì ? Ly tức là lìa khỏi, bỏ đi, rời xa, Dục là ưa thích, ưa muốn. Bồ tát Quán thế âm muốn chúng sanh xa lìa ái dục của cõi hạ giới, cái dục nầy nó là mầm mống của gốc sanh tử, dễ dàng tạo những nghiệp quả không mấy tốt đẹp thì khó mà đoạn diệt được sanh tử luân hồi. Chúng sanh chí thành quy y Tam bảo một ngày rất gần cũng thâm nhập kinh tạng và đạt được giải thoát an lạc, tự tại như chư Phật.

Quy y Tăng chúng trung tôn.

Chúng trung tôn là những gì ? Chúng là một tập hợp gồm bốn người trở lên, Trung là ở giữa; tức là ngôi chúng trung hòa. Điều nầy chỉ cho hàng Tăng sĩ có sáu hòa hiệp cả sự lẫn lý, phạm hạnh (thanh tịnh) cao cả, thuyết pháp lợi sanh, làm vị thầy giữa cõi trời và cõi người. Nếu chúng sanh quy y Tam bảo, một ngày rất gần cũng sẽ trở thành bậc Thánh.

Chúng ta lãnh hội được ý nầy tức là đã thâm nhập câu thần chú trên đây. Từ đó sẽ hiểu được thế nào là chơn không diệu hữu.

Điều cần chú ý là : Khi hành trì, đọc tụng vừa đủ nghe, dừng quá nhanh mà cũng đừng quá chậm. Phải có tâm chí thành và cung kính với Tam bảo và với chính mình.

2. Nam Mô A rị Da

Bồ tát Quán thế âm tay bưng Như ý pháp luân, chuyển chánh pháp đến với chúng sanh và chúng sanh y giáo phụng hành.

Đại ý : A rị là bậc Thánh. Vị nầy có khả năng hướng dẫn chúng sanh xa lìa ác nghiệp, khổ não. Da tức là lễ.

Bồ tát Quán thế âm muốn chúng sanh phải xa lìa các Thần, Thánh hung dữ, ác đức.

Lược giải : A rị da cũng là xa lìa ác đạo, lo tu tâm dưỡng tánh.

Đức Quán thế âm có hóa thân là đức Như Ý Luân Bồ tát, hiện rõ sắc tướng mặt đen ; có tâm hàng phục ma quỷ và luôn luôn hộ trì chơn ngôn cho chúng sanh phát tâm tu niệm.

Sở dĩ hóa thân thành vị Như ý luân là ngài muốn diệu pháp của Phật vận chuyển đến mọi loài chúng sanh, như bánh xe quay tròn và quay đều đều vậy. Điều nầy phát xuất từ Tâm làm gốc. Tâm vận chuyển tất cả. Vị hóa thân hướng dẫn chúng sanh xa rời nghiệp xấu, tâm bồ đề hiển hiện.

Tánh giác viên dung vô ngại, vì thế mà trong bài sám đã có câu : Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng, … và, chúng sanh dự Phật đồng là vậy.

Khi chúng ta hành trì mật chú nầy được rốt ráo thì đạt đến quả vị Giác ngộ không xa. Điều quan trọng là phải nhất tâm, đừng để tâm buông thả, đừng để tâm vọng cầu bên ngoài; luôn luôn tự quán chiếu trong ta. Tại sao như vậy ?

Nếu hành giả không phát sanh một ý niệm xấu thì cõi lòng luôn sáng tỏ, thấu suốt được cảnh giới của thân và tâm. Từ đó, tiến dần và tiến sâu vào quả vị giải thoát. Muốn được kết quả như vậy, hành giả phải thật sự tu niệm tinh tiến và đạt cho được lý sự đều nhất tâm, nuôi dưỡng tâm niệm tu tập cho vững chắc.

Tuy nhiên, không phải chỉ một thời gian ngắn mà có được kết quả như vậy. Đức Như ý luân Bồ tát hiện tướng sắc thân màu đen là cốt ý để hàng phục chúng ma. Ma ở đây là nghiệp chướng sâu dày của hành giả đã tạo từ nhiều kiếp về trước ; nghĩa là đem tâm ô trược mà tạo tác nên gặt hái nghiệp báo phải luân hồi trong lục đạo. Phước báo còn được gặp Phật pháp, liền phát tâm nguyện tu tập và hành trì.

Vậy hành giả cố gắng trì niệm như thế nào để bản lai diện mục được tỏa hiện, cho dù gặp thời không có Phật, nhưng vẫn được chứng ngộ và được thân cận hầu một bên chư vị Bồ tát và Phật vậy.

3. Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da

Bồ tát Quán Thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Quán tự tại, làm vị hành giả trì bình bát. Ngài quán tưởng để hộ trì cho chúng sanh được trường thọ, khương ninh. Những ai muốn tu tập sau nầy lưu lại xá lợi thì thọ trì câu thần chú nầy. Câu nầy với ý đức Bồ tát Quán Tự Tại đang trì bình.

Đại ý : Bà lô yết đế bao gồm Quán, Quan sát. Thước bát ra tức Tự tại. Da là Lễ bái. Ý cả câu là cung kính, chí thành đảnh lễ đức Bồ tát Quán tự tại, tức Bồ tát Quán thế âm.

Lược giải : Câu nầy nói là hạnh nguyện của đức Quán tự tai luôn lo nghĩ và thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong cảnh sanh tử luân hồi. Hạnh nguyện của ngài là đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn.

Vì Từ năng bạt khổ, Bi viết độ sanh. Từ bi là hạnh nguyện cứu khổ ban vui của chư vị Bồ tát, thấy chúng sanh đau khổ thì nhận cái khổ ấy cho mình, thấy chúng sanh an lạc thì đó là hạnh nguyện của quý ngài. Bồ tát Quán thế âm hóa hiện Quán tự tại nghĩa là sáu căn đều tự tại, vô ngại và hoàn toàn thanh tịnh. Chúng sanh muốn tu theo hạnh nầy thì phải thực tập cả sáu căn, điều phục tâm mình và biết quán ngũ uẩn giai không.

Khi điều phục được sáu căn thì sáu trần sẽ bất nhiễm, đạt tới như như bất động ; nhưng, đừng chấp và đi thẳng vào ngoan không, bởi vì Vô thường thị thường.

4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Bất Không Quyên Sách với tâm nguyện tự giác và giác tha để phổ độ chúng sanh.

Đại ý : Bồ đề là Giác. Tát đỏa là Hữu tình. Bà da là Lễ bái. Ý cả câu là luôn lễ kính giác hữu tình.

Lược giải : Quyết tâm hóa độ chúng sanh ngài Bồ tát Bất không Quyên sách muốn hướng dẫn chúng sanh quyết chí tu tập, trở về cội nguồn tức là tánh giác sẵn có trong mỗi một chúng sanh.

Khi lập chí, lập nguyện để trì tụng câu chơn ngôn nầy tức là tự quán chiếu lấy mình; đó gọi là hồi quang phản chiếu. Khi trì chơn ngôn, biết ngũ uẩn giai không, biết thân bất tịnh, biết pháp vô ngã, và biết dừng lại, càng thọ càng khổ, …

Từ đó biết tâm của mình là vô thường nên cần phải hành trì chơn ngôn thần chú cho chuyên tâm. Biết gieo chủng tử tốt tức thiện nghiệp luôn phát triển, những tâm niệm xấu ác chưa khởi đừng để nó phát sanh, đã khởi lên thì tìm cách ngăn chận và trừ diệt; nghĩa là đừng để ngoại cảnh chi phối. Bồ tát Quán thế âm muốn đưa chúng sanh xả bỏ hết tất cả vọng niệm, xả bỏ tình trần mà trở về với tự tánh giác ngộ. Đồng với ngài Thần Tú thường nói : Thời thường lau chùi (phất thức), chớ cho dính bụi trần.

Lập chí và lập nguyện vững chắc, rồi tinh tiến tu tập chắc chắn sẽ đạt đến cảnh giới Vô thượng bồ đề.

5. Ma Ha Tát Đỏa Ba Da

Ma ha tát đỏa bà da tức là Bồ tát Quán thế âm đang hóa hiện với thân tướng ngồi trì tụng thần chú, theo pháp tu trì, được thiện giải thoát.

Đại ý : Ma ha là lớn, nhiều, tối thượng, rộng lớn, vô cùng vô tận. Tát đỏa là dũng mãnh, kiên cường. Bà da là Lễ bái. Nghĩa là chí tâm đảnh lễ rất kiên cường, dũng mãnh để tiến lên Giải thoát. Ngài hiện thân ngồi trì tụng thần chú để hóa độ chúng sanh, hướng dẫn chúng sanh đến cảnh giới bất thoái chuyển. Bồ đề vô thượng là đây.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm quán chiếu thấy hết thảy chúng sanh đang quay cuồng trong thất tình, lục dục ; lúc nào cũng trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Do đó, ngài đem tâm niệm rộng lớn và ánh sáng vi diệu có khả năng xoay chuyển hành nghiệp của chúng sanh sớm trở về bờ giác.

Ai trong chúng ta biết nhất tâm trì niệm câu thần chú nầy thì dễ dàng có được tâm an lạc và, giống chư Bồ tát ở trong Tạng giáo và Thông giáo một khi đã dứt hẳn kiến hoặc, tư hoặc và diệt hết tập khí, tu tiếp sẽ được chứng đắc quả vị Phật ; chư Bồ tát ở trong Biệt giáo và Thông giáo đoạn diệt được vô minh hoặc thì chứng đắc được quả vị Phật Diệu giác.

6. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da

Bồ tát Quán thế âm thành Bồ tát Mã Minh với hạnh nguyện tự giác giác tha, tự độ độ tha. Tay ngài đang cầm bạt chiết la phóng quang với tình thương cứu giúp chúng sanh sớm dứt trừ phiền não để giải thoát.

Đại ý : Ca lô nghĩa là bi thương, ni ca là tâm từ. Da là lễ bái, lễ kính. Ý của câu thần chú nầy là Bồ tát Mã Minh với tâm nguyện tự độ hóa tha.

Lược giải : Đức Bồ tát Mã minh ngoài tinh thần tự mình tu tập để chứng ngộ, ngài còn bi nguyện là cứu độ chúng sanh. Khi trì thần chú nầy thì tâm không phân biệt giữa người và mình; tâm luôn tự tại, vô ngại, không vướng mắc bất cứ hệ lụy nào từ bên ngoài đưa vào hay từ bên trong chổi dậy.

Tự quán chiếu nội tâm là tự mình tự tu, tự sửa. Sám hối tất cả những việc sai trái mình đã làm. Sám là pháp trắng, hối là pháp đen. Trắng là phải tu, đen là phải bỏ, phải trừ. Pháp trắng là tịnh tu, được tịnh nghiệp. Pháp đen là ác nghiệp, phiền não chướng của cả chín cảnh giới. Sám Hối có ba cách: Tác pháp sám hối, Thủ tướng sám hối và Vô sanh sám hối.

Hai cách đầu là sự tướng sám hối. Cách sau là tự tánh sám hối. Trì tụng thần chú trên đây với tâm niệm chí thành thì sẽ lên bậc Thánh trí, tâm luôn được an nhiên tự tại và chứng quả vô sanh.

7. Án

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng của các Quỷ thần vương, chấp tay trì niệm thần chú. Chư Phật quán tưởng chữ “ÁN” để thành Chánh giác. (Xin quý Phật tử xem hình chữ Án trong hình số 7 để biết rõ hơn).

Đại ý : Chữ Án có thể đọc : Um, Úm, Om. Mọi quỷ thần, quỷ vương đều phải chấp tay nghe từng lời chú. Nó là căn bản, mẫu lực, nguồn gốc của chơn ngôn.

Án cũng được hiểu là quy mạng, quy y theo, vâng giữ theo. Nó biểu hiện của Chơn như, cái hư không vô tận, cái tuyệt đối không thể nghĩ bàn.

Lược giải : Trong Mật tông, nhất là ở Tây tạng đa phần dùng chữ Án nầy và dùng nguyên câu Án ma ni bát di hồng. Có sách phiên âm là Úm ma ni bát minh hồng hay Om ma ni bá di hồng, … Câu nầy không chỉ dành cho Mật tông hành trì, mà đạo Bà la môn cũng dùng và trong Thiền-Tịnh cũng dùng để quán chiếu nội tâm. Nhờ đó mà suy tư tu niệm để ngộ đạo.

Chữ Án có công dụng thay thế cho chư Phật, chư Thánh thần. Có sức linh diệu hơn hết. Tiếng án là tiếng tạo tác, nó sáng lập ra muôn vật, muôn cõi. Cũng có nghĩa là “bổn mẫu” hay “bổn”, nghĩa là căn bổn, mẫu tức là gốc, cho nên có câu thần chú gọi là Phật mẫu Chuẩn đề thần chú, nghĩa là chư Phật là cha mẹ của hết thảy chúng sanh.

Nhờ hành trì chữ Án mà phát sanh ra trí huệ bát nhã, phát thiền định cao cường để tự độ và độ tha.

Một khi hành giả trì tụng chú Đại bi, đến chữ Án nầy thì tất cả chư Thiên và Thiện thần đều hộ vệ, tất cả ma quỷ, chướng duyên đều được dẹp trừ. Nhờ đó mà hành giả dễ dàng thâu nhiếp được các căn và dung hóa được thân và tâm. Các thanh âm trong vũ trụ phát lên là do tiếng án nầy vậy.

Dù là những vị tu theo Mật tông dùng làm căn bản cho tông phái, Thiền-Tịnh cũng phải dùng đến để tiến tu đạo nghiệp.

Chúng sanh nào phát nguyện chuyên tâm hành trì và quán chiếu chữ án thì có thể nghe rõ các âm thanh trong các cõi thế giới; từ đó, hiểu ngay sự phát sanh của mọi vật và tự mình được giải thoát, ra khỏi cảnh luân hồi.

Nhờ sức trì chữ Án nầy nảy sinh ra mười thứ pháp môn :

1. Tự, tức là chữ, từng chữ.

2. Cú, tức là kinh điển hoặc thần chú, từng câu từng chữ.

3. Quán, xem xét. Dùng chữ quán để tập tu từ thấp lên cao.

4. Trí, đây là trí huệ. Người tu Phật thì dùng kiếm trí huệ để chặt đứt các phiền não, nảy sinh ra được bát nhã. Quán cũng là thiền Ba la mật.

5. Hành, tức tu hành, thực hành pháp tu.

6. Nguyện, khi tu thì phát nguyện vâng theo Phật pháp để thực hành cho đúng. Nguyện tự độ và độ tha.

7. Y giáo phụng hành, nghĩa là luôn luôn vâng theo chánh pháp mà thực hành. Nếu không theo đúng giáo pháp của Phật thì cả trăm ngàn kiếp cũng khó mà thấy đạo. Không thấy đạo làm sao chứng đạo, làm sao an lạc giải thoát. Điều nầy cũng giống như lấy cát mà nấu thì bao giờ thành cơm.

8. Lý, tức đạo lý. Tu hành hợp chân lý, hợp pháp môn thì sẽ có kết quả. Tu mà không khế hợp với diệu lý thì giống như người mù xem voi, đã không ích lợi mà lại uổng phí thời gian. Đáng tiếc.

9. Nhân, khi tu tập thì phát nguyện gieo nhân tốt, nhân lành, nhân thù thắng thì mới mong kiến tánh thành Phật.

10. Quả, tức kết quả. Nghĩa là đạt được quả vị Thánh ở trong Phật pháp. Đạt được Chánh đẳng giác.

Do vậy, hành giả phải biết rằng : khi tu tập, thực hành và quán chữ Án mà đã phát sanh ra mười pháp môn vi diệu, đủ biết Thần chú Đại Bi tâm đà la ni có năng lực như thế nào.

Rất mong tất cả những ai phát tâm học Phật nên lưu tâm, phát tâm hành trì dõng mãnh.

8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ

Đức Quán thế âm hóa hiện tướng Tứ đại Thiên vương, ngài dùng lục độ để hóa độ tà ma.

Đại ý : Tát bàn ra có nghĩa là Tự tại. Phạt duệ là Thánh tôn.

Câu chú nầy có nghĩa bậc Thánh Tự tại cao quý nhất, tôn kính nhất. Tất cả các cõi đều quy kính, vì thân và tâm thanh tịnh nên chúng ma, quần tà không thể xâm nhập được. Muốn được như vậy, tất phải nhất tâm trì niệm.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm quán chiếu chúng sanh tạo nghiệp đủ thứ là do từ mê hoặc phát sanh ra. Vấn đề sanh tử trong chín giới đều do hai món sanh tử là khổ quả, vì do: nghiệp, hoặc và khổ nên mãi mãi phải quanh quẩn trong lục đạo, không bao giờ thoát ra được.

Ngài hóa hiện tướng Thiên vương để hỗ trợ cho chúng sanh tu niệm. Một khi phát tâm trì niệm thần chú nầy, thân và tâm phải nhất như. Thân khẩu và ý nghiệp thanh tịnh rồi, quán chiếu một tâm đủ rõ cả ba trí, chiếu một cảnh mà rõ cả ba đế, thì đế lý như như và trí quán chiếu sáng tỏ, đó mới là viên dung vô ngại.

Hành giả tu niệm hành trì câu mật chú trên đây được nhất như thì nội ma hay ngoại chướng không còn xâm nhập. Thân và tâm đều sáng sạch. Cảnh giới giải thoát hiển hiện. Tánh tướng nhất như. Ta và Phật không khác. Hành trì như vậy mới thật sự Giải thoát vậy.

9. Số Đát Na Đát Tả

Đức Quán thế âm hóa hiện tướng Bộ lạc Tứ đại Thiên vương để điều khiển, hướng dẫn cho chúng sanh cải tà, quy chánh. Số đát na đát tả là tên của Tứ đại Thiên vương.

Đại ý : Số đát na tức là chính giáo thắng diệu, hoặc là bậc tối thượng thắng sanh. Đát na là tiếng nói, cười lúc nào cũng vui vẻ. Ý của câu thần chú nầy là vị hóa hiện thân Tứ đại Thiên vương muốn hướng dẫn cho chúng sanh tu hành tinh tấn, hiểu rõ thâm áo của Phật để thẳng đến đường giải thoát tối thượng, chứng thành Phật quả. Tức bất thoái chuyển.

Lược giải : Tu là lấy tâm làm gốc, làm căn bản. Tâm có định mới phát ra huệ. Huệ nầy là đại trí huệ tức là trí huệ Bát nhã cũng là định huệ. Nếu tất cả chúng sanh phát nguyện và chí thành trì tụng câu thần chú nầy sẽ đi vào trí huệ bát nhã.

Bát nhã có ba thứ :

a. Thật tướng Bát nhã nghĩa là khi hành trì thần chú nầy đến lúc cái linh tri của mỗi chúng sanh sẵn có sẽ hiển hiện, chiếu sáng khắp tất cả.

b. Quán chiếu Bát nhã: Khi hành trì câu thần chú nầy đến lúc cái trí sáng quán sát thấu rõ tất cả vạn pháp, từ đó tịnh lự được khai thông.

c. Văn tự Bát nhã tức là sự sáng suốt, lý cao siêu mầu nhiệm của chánh pháp mà mỗi chúng sanh có thể thấu đạt được, nếu như chân thành phát tâm trì niệm thần chú nầy; vị hóa thân của Bồ tát Quán thế âm là Tứ đại Thiên vương sẽ luôn đi bên cạnh để gia hộ và trợ lực. Chúng ta đừng lo ngại là bị nội ma ngoại chướng lôi kéo, hoặc không được đến bờ giải thoát.

Số đát na đát tả cũng có nghĩa là Pháp.

Pháp ấy là pháp gì ? Đó là Diệu thắng xứ, cũng là diệu thắng pháp. Còn có một nghĩa nữa là Cao thượng thắng sanh, nghĩa là ngoài pháp nầy ra không còn pháp nào cao và trên được nữa. Vì thắng sanh là do thắng lực mà sanh ra diệu pháp.

Số đát na đát tả còn có nghĩa là diệu thắng thân hay tối thượng thừa địa. Diệu Thắng thân là một pháp. Tối thượng thừa địa là tu hành đến lúc được nhập vào cảnh giới thập địa tối thượng thừa của chư vị Bồ tát.

Phần trước có nhóm chữ Tát bàn la là Phật bảo, ở đây có Số đát na là Pháp bảo và Đát tỏa là Tăng bảo. Nói chung là Tam bảo. Ai trì tụng chú nầy là thỉnh nguyện Tam bảo chứng minh và được gia hộ.

Người nào phát nguyện hành trì thần chú nầy và toàn thần chú Đại bi sẽ được mãn nguyện, nhưng, phải nhất tâm bất loạn và phải có đủ Tín, Hạnh và Nguyện thì mới được an lạc và giải thoát.

10. Nam Mô Tất Cát Lật Đỏa Y Mông A Ri Da

Bồ tát Quán Thế âm hóa hiện tướng Bồ tát Long Thọ để hộ trì cho người tu hành, hàng phục tất cả chướng ma, ác nghiệp xâm nhập.

Đại ý : Nam mô là quy y, Tất cát lật là đảnh lễ, Đỏa y mông là chơn chánh, A lị da là bậc Thánh. Nghĩa toàn câu chú nói : Cúi đầu đảnh lễ và quy y bậc Thánh hiền chơn chánh để được trợ lực hộ niệm.

Lược giải : Khi chúng sanh phát nguyện tu trì theo câu thần chú nầy thì phải nhất tâm, nhưng, đừng mong cầu quả vị; vì khởi tâm mong cầu tức là còn vọng niệm.

Vọng niệm khởi thì tham – sân – si chổi dậy, sẽ không đi về đâu cả. Trì chú là cốt ở nhất tâm và chuyên cần, đừng bao giờ buông thả ; nếu buông thả chướng duyên dễ dàng len vào tâm trí của mình. Phải tự quán chiếu và biết rõ các pháp không có thật tướng, nên kinh dạy là không sanh, không diệt, không thêm không bớt, không dơ cũng không sạch là vậy.

Hành giả quán chiếu và hành trì được như vậy thì :

– Trí bát nhã sẽ được hiện tiền – Tâm bồ đề sẽ không thoái chuyển.

Đạt được lý chơn không diệu hữu, hiểu rõ thật tướng và, soi thấy năm uẩn đều không, không có luôn cả sáu căn, sáu trần và sáu thức nữa; không còn sợ sanh già bệnh chết sẽ thẳng đến cảnh giới an lạc, cứu cánh niết bàn.

11. Bà Lô Cát Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng đức Phật Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na để rộng độ hết thảy chúng sanh.

Bởi vì : Phật tại thế gian thường cứu khổ, tâm Phật không chỗ nào mà không trải mở lòng từ bi.

Đại ý : Bà lô cát đế là Quán, xem xét ; Thất Phật ra tức là thế âm, âm thanh trong trần gian nầy; Lăng đà bà là cái hải đảo hiền lành, một cõi từ ái, …

Trong 12 lời đại nguyện của bồ tát Quán thế âm có câu thứ hai, ngài nguyện : Chúng sanh nhất tâm nguyện đến sự giải cứu, không có việc gì làm cho ngài phải chán nản, sợ sệt, đức Quán thế âm nguyện thường ở biển Nam Hải là ý nầy vậy. Một tức là 12, và 12 tức là một.

Lược giải : Đại ý câu thần chú nầy dạy : Phát tâm tu là tự mình thắp đuốc lên mà đi, đừng nương tựa những gì ngoài ta. Đã có thần chú thì cần nhất tâm. Tánh và tướng không còn là hai.

Tổ Thiên Thai dạy :

– “Người chỉ quán một niệm tức không, tức giả, tức trung thì cả mười giới các pháp Tánh, Tướng, đâu chẳng đủ nếu từ đây mà tinh tấn, thẳng đến bậc Thánh không còn ngăn ngại gì nữa.” .

Người tu tập dù pháp môn nào, Thiền, Tịnh, Mật cũng đều phải có : Tín Nguyện Hạnh.

Tín : Phải tin rằng chúng sanh và Phật không hai, chúng sanh trì chú, niệm Phật để được vãng sanh, để được an lạc, rốt ráo đến bờ giải thoát.

Nguyện : Niềm tin của hành giả không phải là tin suông. Phải có niềm tin Phật như con nhớ mẹ. Muốn vãng sanh hay muốn giải thoát thì phải phát nguyện. Người tu không phát nguyện là không phải chân thật tu tập.

Hạnh : Nguyện của chúng sanh phát tâm tu thì không phải nguyện suông, luôn luôn tinh tấn. Mỗi sát na tu tập phải nối đuôi nhau không cho gián đoạn, dứt mất, … Phải chấp trì thần chú, câu niệm Phật đến độ nhất tâm.

Ba điều trên đây là tư lương của người tu tập. Đi đường không đủ tư lương sẽ bị gián đoạn hay bế tắt. Người tu tập không đủ ý chí (tư lương) thì cũng bị thối thất.

Hành giả trì niệm câu thần chú trên đến độ nhất tâm bất loạn (thân và tâm không còn loạn động) cũng được đến bờ giải thoát như vậy.

Rất mong quý vị thực hành chuyên nhất để đạt được chánh đạo vô thượng của Phật.

12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng đức Phật Thanh tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na để cứu độ và gia hộ cho hết thảy chúng sanh đều được an lạc.

Đại ý : Nam mô ra cẩn trì là yêu thương, che chở, dìu dắt kẻ hiền hậu, biết phục thiện.

Đức Quán thế âm hóa hiện thành đức Phật Thanh tịnh Pháp thân Tỳ lô giá na, có nghĩa là ngài muốn chúng sanh trở về con đường giải thoát, thanh tịnh khi hành giả phát tâm cung kính đảnh lễ và hướng về chân lý của Phật để tu tập.

Lược giải : Tâm nguyện của chư Bồ tát là muốn hết thảy chúng sanh trở về con đường giác. Chúng sanh nào đang chìm đắm trong đau khổ thì quý ngài tùy duyên nghiệp mà hóa hiện đến để che chở, dìu dắt.

Trong địa ngục có Bồ tát Địa tạng vương đem hạnh nguyện cứu độ chúng sanh đang bị nghiệp lực hành hạ sớm ra khỏi cảnh giới u đồ ; khắp đó đây trong mười phương, chín cõi chư Bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí, Văn thù, Phổ hiền, Chuẩn đề, … đều đem hạnh nguyện sẵn có của các ngài để giải cứu và hướng dẫn tu tập, sớm về bờ giác.

Những ai chỉ lo tu cho mình mà quên tha nhân thì đó là tâm niệm của Tiểu thừa; những ai vừa phát tâm tu tập mà còn khuyến tấn và hướng dẫn người khác cùng tu, nghĩa là tự tha kiêm lợi thì đó là hạnh nguyện của Đại thừa bồ tát.

Trong lục độ vạn hạnh, hạnh bố thí đứng đầu.

Muốn tu tập hạnh Bồ tát thì phải thực hành lục độ.

Lục độ gồm có : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ.

Lợi ích của nó ra sao ?

Bố thí là trừ được gian tham, trộm cắp, ..

Trì giới là trừ được ác nghiệp, sống một đời sống phạm hạnh, thanh tịnh, …

Nhẫn nhục là trừ được sân hận, giận dữ, thù hằn, …

Tinh tấn là trừ được biếng nhác, giải đãi, .

Thiền định là trừ được tán loạn, vọng động, …

Trí huệ là trừ được ngu si, dốt nát, …

Tu Tứ nhiếp pháp cũng bố thí rồi mới đến ái ngữ, lợi hành và đồng sự….

Bố thí có ba loại : Tài thí – Pháp thí – Vô úy thí.

Tài thí là đem của cải, tiền bạc ra giúp đỡ những người đang gặp hoạn nạn, khó khăn.

Pháp thí là đem giáo lý của Phật để hướng dẫn cho mọi người cùng tu tập, nhưng phải hướng dẫn đúng sự lý.

Vô úy thí là người ta đang sợ sệt, hoảng hốt thì mình giúp cho họ khỏi sợ sệt, lo âu, …

Trong kinh Kim cang, đức Phật dạy : Bồ tát có bố thí thì đừng nghĩ đến sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ; tức là đừng chấp tướng, ..

Theo kinh Địa Tạng, đức Phật dạy về sự so sánh công đức bố thí như sau : Như có hạng vua, sát đế lợi, bà la môn, trưởng giả đối với người hèn hạ, ốm yếu, tàn tật, câm, ngọng, điếc, ngây dại, đui mù mà muốn bố thí, nếu có lòng đại từ đại bi, nhìn xuống mỉm cười, tự mình bố thí hoặc sai người bố thí, dùng lời dịu ngọt mà an ủi, khuyến dụ thì phước đức vô cùng to lớn, không khác với sự cúng dường lên chư Phật khắp cả mười phương.

Ái ngữ là tùy theo căn tánh của chúng sanh, dùng lời nói của mình để cho họ vui vẻ và hướng dẫn cho họ theo học chánh pháp.

Lợi hành là việc làm bằng thân, miệng và ý mà giúp cho chúng sanh.

Đồng sự tức là dùng pháp nhãn nhìn căn tánh của chúng sanh, tùy duyên để cùng chung lo việc với họ, giúp họ bước vào chánh pháp.

Sở dĩ Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thành đức Thanh tịnh Pháp thân Tỳ lô giá na là ngài muốn cho hành giả trì niệm câu thần chú trên, phát nguyện rộng lớn của đại thừa tâm, hành bồ tát đạo, đúng theo lời Phật dạy thì dễ dàng đến bờ giác ngộ giải thoát. Tức là được an tịnh.

13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đá Sa Mế

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng Dương Đầu Thần Vương để hộ trì hành giả phát nguyện trì niệm câu thần chú trên đây để sớm xa lìa ác nghiệp.

Đại ý : Hê rị là cái tâm, Ma ha bàn đá sa mế tức là quang minh, chính đại.

Câu nầy ý nói : Khi phát lòng từ bi cứu độ chúng sanh một cách chơn chánh thì được thiện thần che chở và hộ niệm để hành giả tu tập được dễ dàng.

Lược giải : Chư tổ thấy mọi người không chịu tu tập, cứ đua chen trong vòng danh lợi, quên mất tánh giác của mình.

Đức Phật thường dạy :

*.- Trong các Pháp, Tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự đau khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe.

*.- Trong các pháp, Tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự hạnh phúc sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình.

Từ hai câu Phật ngôn trên đây đưa hành giả trở về với lý nhất tâm để hành trì thần chú cho rốt ráo ; Bồ tát Quán thế âm sẽ hóa hiện đủ 32 ứng thân để tùy duyên hóa độ hết thảy chúng sanh. Có một điều chúng ta phải biết là trong kinh

Kim Cang có dạy : Chánh pháp còn xả huống gì phi pháp.

14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng

Bồ tát Quán thế âm hiện tướng Bồ tát Cam Lộ Vương, tay cầm nhành dương liễu, tay cầm bình nước cam lộ để tẩy trần nghiệp chướng cho chúng sanh sớm được sạch sẽ, tiêu trừ. Lòng chúng sanh được mát mẻ, tâm chúng sanh được đượm nhuần mưa pháp.

Đại ý : Tát bà là hết thảy, A tha đậu tức nhiều lòng từ bi, Du bằng tức nghiêm túc, thanh tịnh.

Toàn ý của câu nầy là tình thương bao la của Bồ tát Quán thế âm đối với chúng sanh lúc nào cũng bình đẳng ; chúng sanh đều hưởng được ân huệ của ngài thật đầy đủ về mọi phương diện từ vật chất đến tinh thần.

Lược giải : Hạnh của chư vị Bồ tát ban bố cho chúng sanh rất là nghiêm túc và bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, gái trai già trẻ, … ai phát tâm chính trực tu niệm thì được các ngài hỗ trợ và dẫn dắt đến bờ giải thoát. Có cầu tức có cảm.

Hành giả nên biết một khi tam mật gia trì câu thần chú thì phải rõ : Năng trì tức là tâm của ta đang trì niệm, sở trì là câu thần chú mình đang trì phải hợp nhất.

Năng, sở không hai thì kiến tánh thành Phật.

Nhất tâm tu niệm, mặc dầu chưa đến đích, nhưng trong giây phút lâm chung cũng có được phước báo là thấy được hóa thân Phật. Hành giả cần chuyên và nghiêm trì thần chú sẽ được kết quả an lạc

15. A Thệ Dựng

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Phi Đằng Dạ Xoa Thiên Vương để tuần sát cả bốn phương, tám hướng khuyến tấn chúng sanh bỏ ác làm thiện, tức cải tà quy chánh để tiến tu đạo nghiệp.

Đại ý : A thệ dựng tức là nhất thừa vô thượng. Bất nhị pháp môn. Đây chính là 12 loại tâm trong kinh Đại bi và Đà la ni. Đại ý câu thần chú nầy là không tạp nhiễm mà là kim cang tâm, ma nghiệp không thể xâm nhập, hành giả dễ dàng quán tưởng thần chú.

Lược giải : Khi hành giả tu tập mà không bị tạp nhiễm xâm nhập, tức là định lực đã được viên dung. Tuy thế, cũng phải nương vào sự trợ lực của chư Phật và Bồ tát ; đừng nghĩ rằng đây là đã thiền định rốt ráo thì sai mất.

Theo Tổ Vĩnh Minh dạy : Chỉ có tu Thiền mà không tu Tịnh độ thì mười người đi lạc đường hết chín người, vì không có người hướng dẫn chu đáo, sẽ bị năm Ma ấm (tức ngũ ấm ma) cảnh hiện lên và dẫn dắt mình đi theo.

Chỉ cần có niệm Phật phát nguyện về tịnh độ, không cần phải tham thiền thì muôn người tu, đều vãng sanh cả muôn người, vì vừa có cả tự lực lẫn tha lực, năm ma ấm không thể nào lôi kéo được.

Bởi vậy, khi trì niệm thần chú nầy, Bồ tát Quán thế âm hóa hiện hình tướng Phi đằng Dạ xoa Thiên vương để trợ lực ; nếu hành giả chưa vững tâm thì vừa trì thần chú vừa niệm Phật cầu vãng sanh.

Khi về được thế giới cực lạc, chúng ta hãy tiếp tục trì niệm thần chú và có Phật, Bồ tát và thiện hữu tri thức trợ lực. Đạo quả chóng viên thành.

16. Tát Bà Tát Đá (Na Ma Bà Tát Đá) Na Ma Bà Dà

Đức Quán thế âm hiện tướng Thần Vương Bà Đà Đế để độ chúng sanh có cơ duyên với Phật pháp.

Một điều hành giả cần chú ý là : câu thần chú nầy có Năm chữ : Na Ma Bà Tát Đá viết nhỏ trong ngoặc đơn đã mất hẳn trong bản mà chúng ta thường tụng hằng ngày. Ở đây vẫn nêu ra, để khi hành trì cho đủ.

Đại ý : Tát bà tát đá là hết thảy đại thân tâm vương Bồ tát, Na ma bà tát đá tức là vị Đồng trinh khai sĩ, Na ma tức là không loại nầy thì loại khác (Có ý phân biệt), Bà dà tức là Thế tôn.

Ý toàn câu thần chú nói Phật pháp là vô biên, bình đẳng, hết thảy chúng sanh phát nguyện tu thì thấy đạo và chứng ngộ, không có sự phân biệt hay giai cấp cao hạ, …

Lược giải : Chúng sanh thì vô lượng vô biên, Phật pháp thì thâm diệu cũng vô biên vô lượng. Chúng sanh trong ba cõi tùy từng trình độ mà Bồ tát Quán thế âm hóa hiện hình tướng khác nhau để dẫn dắt cho họ được thấm nhuần chánh đạo và tiến tu đến quả vị Phật đà.

Các ngài không phân biệt bất cứ loại chúng sanh nào cả, giống như trong kinh Pháp hoa phẩm Dược thảo dụ có nói : Một cụm mưa tuôn xuống, tùy theo giống cây có cành lá lớn nhỏ khác nhau, nhưng, sự đón nhận không khí và nước mưa để đượm nhuần tươi tốt thì giống nhau.

Bất cứ loại cây như thế nào chăng nữa cũng được đâm chồi nẩy lọc cả. Cho nên câu thần chú có mấy chữ Na ma bà tát đá là như vậy.

Xin hành giả thành tâm hành trì.

17. Ma Phạt Đặc Đậu

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát, trên mặt ngài có ba con mắt.

Ngoài hai con mắt thường, giữa vầng tráng có một con mắt nữa ; một tay cầm bánh xe và một tay cầm sợi dây sắt có khả năng cảm hóa người ác thành người thiện.

Đại ý : Ma phạt đặc đậu ý nói vị nầy là thân thích với cõi trời và bạn thân của cõi người.

Từ câu Tát bà tát đá đến câu Ma phạt đặc đậu có ý nghĩa là quy y, quy mạng với Tam bảo để được học chánh pháp, tức là hồi đầu nương tựa Phật Pháp Tăng và được thiện thần, hộ pháp ủng hộ, khỏi bị chướng nghiệp chổi dậy khó tu tập, thì đường giải thoát khó lên, Phật cảnh khó được.

Lược giải : Bắt đầu câu thần chú đầu bài cho đến đây, Bồ tát Quán thế âm hóa hiện qua nhiều thân tướng khác nhau để dắt dìu cho chúng sanh tu tập.

Ngài khuyến tấn cho tất cả những ai muốn tu tập thì nên xả bỏ hết nhiễm ô của thế gian, đừng để thất tình lục dục ràng buộc, không để cho vòng danh lợi đoanh vây. Tự mình quán xét từ thân cho đến tâm để chuyển mê khai ngộ. Muốn tu thì phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo ; đoạn ái ân phú quý riêng mình, một đường thẳng tiến trong chánh niệm.

Niệm niệm nối nhau không dứt thì vọng niệm sẽ tan biến, chánh niệm hưng khởi ; lúc nầy tham sân si đốn đoạn, giới định huệ viên dung.

Đạt được trình độ nầy là hành giả sẽ nhất tâm bất loạn. Tuy nhiên, nhất tâm bất loạn có hai lẽ :

-. Đối với trì niệm bất luận là sự trì hay lý trì, hễ trì niệm câu thần chú đến lúc dẹp được phiền não, dứt sạch hết kiến hoặc, tư hoặc như vậy mới được gọi là Sự nhất tâm ; bất luận sự trì hay lý trì hễ trì niệm câu thần chú hay danh hiệu Phật, Bồ tát đến lúc tự tâm được khai ngộ, thấy được tự tánh, như vậy là đạt được đến Lý nhất tâm. Đạt được Sự nhất tâm thì không còn bị kiến hoặc, tư hoặc làm tán loạn ; đạt được Lý nhất tâm thì chẳng bị hai bên làm tán loạn.

-. Kiến hoặc và tư hoặc không còn làm cho hành giả bị tán loạn, giây phút lâm chung không còn bị dấy lên tư tưởng sanh tử điên đảo của cõi Ta bà nữa, có thể vãng sanh thẳng về cảnh giới Tây phương cực lạc hoặc có thể sanh về cõi phàm thánh đồng cư, hay cõi phương tiện, tùy nguyện.

Hành giả suốt đời chuyên hành trì thần chú nầy hoặc niệm hồng danh đã đến độ thuần thục, hoặc đời trước có gieo thiện duyên có thiện lực, đến lúc lâm chung trong hiện kiếp sẽ có được kết quả tốt, tùy niệm lực như thế nào để thấy Phật, thấy hoa, thấy cảnh giới giải thoát như thế ấy. Và, có thể trực vãng tây phương tức khắc.

Tuy nhiên, chúng ta nên lưu tâm là trong kinh Địa tạng có dạy : “Mống lòng động niệm, thì chắc chắn phải dấy lên tội lỗi” ; thế nên, từ khi chúng ta sanh ra trong cõi đời nầy từ trước đến nay, trải qua vô lượng kiếp số như vi trần, với các tội lỗi đã tạo từ trước, đâu có thể tính đếm hết cho được !

Nay dù phước báo có gieo chút đỉnh từ kiếp trước, thì nhớ mà trì niệm thần chú hay hồng danh Phật, Bồ tát cho nhất tâm, cố buông xả vọng tình. Cho dù có nhất tâm, nhưng với thân thể không được khỏe mạnh, tụng, lạy hồng danh, trì niệm thần chú, cũng khó thâu nhiếp cái định kiên cường như ý cho được. Điều nầy cũng giống như ngọn đèn giữa đám sương mù dày đặc lớn lao, lại thêm có gió thổi, thì ngọn đèn cũng còn khó giữ, thử hỏi làm sao mà ánh sáng tỏa rạng để thấy đường mà đi tới ?

Hành giả muốn tiến tu để thấy đạo, tu đạo và chứng đạo thì xả bỏ hết tất cả những cuồng huệ, đừng bám vào những lý lẽ suông hay đi theo con đường ngoan cố chấp trước, trước tướng mê tâm, cuối cùng không thể nào có kết quả tốt của sự tu tập ; đồng thời, dễ dàng lạc đạo và đi vào vòng ma đạo lúc nào không biết được.

Rất mong quý hành giả chú tâm điều nầy.

18. Đát Điệt Tha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện tướng một vị A La Hán để thuyết pháp độ sanh.

Đại ý : Đát điệt tha tức là lòng chí thành không bao giờ dứt đoạn. Đây là lời thuyết thần chú. Ý nói khi hành trì thần chú tâm và trí hợp nhất mới thấy đạo.

Lược giải : A la hán là quả vị cao nhất trong bốn quả.

Bốn quả ấy là :

-. Tu đà hoàn là quả ban sơ trong tứ quả, còn gọi là nghịch lưu (đi ngược dòng), còn gọi là nhập lưu (tức là được vào nước thánh) hay dự lưu (tức là được đi vào dòng thánh). Khi đắc quả Tu đà hoàn, người ta nhàm chán tất cả những gì có ở thế gian nầy và thấy được chánh pháp (nhãn pháp) hiện ra nơi thân của mình.

Ai đắc quả nầy, thì thấy rõ có sanh tất có diệt, vạn vật đều giả dối, không thật, nên không ưa thích. Tuy thế, còn trở lại để tu tiếp bảy lần như vậy, nên gọi là thất lai.

-. Tư đà hàm còn gọi là nhất lai, có nghĩa là trở lại một lần nữa và tu tiếp để chứng quả A la hán.

Vì trong kinh Kim cang, ngài Tu bồ đề có bạch với đức Phật rằng : “Tư đà hàm, còn gọi là bậc một lần sanh lên cõi tiên và một lần sanh trở lại cõi người, rồi mới nhập niết bàn nên gọi là nhất sanh, nhưng thật ra cũng chẳng có sanh lên mà cũng chẳng có trở lại đâu. Chỉ có cái sắc thân là sanh đi sanh lại, chứ chơn tâm vốn bất sanh bất diệt,…”. Đây là quả thánh thứ nhì trong bốn quả.

-. A na hàm là quả thánh thứ ba. Theo kinh Kim cang ngài Tu bồ đề bạch với đức Phật rằng : “A na hàm còn gọi là Bất lai, nhưng thật ra không có cái bất lai ; vì chính cái chân như vẫn trường tồn, nó không sanh không diệt, nó không đi luân hồi mà cũng chẳng nhập niết bàn”. Bực A na hàm về sau, trải qua bốn vạn kiếp sẽ thành Phật.

-. A la hán là quả cao nhất trong bốn quả.

Có ba nghĩa : Sát tặc, Ứng cúng và Bất sanh.

Đắc quả nầy có sáu phép huyền diệu. Theo ba nghĩa nầy, luận Đại trí độ giải thích như sau :

+ A la tức là tặc, Hán tức là sát, phá ; nghĩa là những giặc phiền não, vô minh đều bị phá sạch. Trong kinh Dược sư gọi là phá nát vỏ vô minh, tát cạn rừng phiền não là ý nầy.

+ Bực A la hán dứt sạch các lỗi lầm (nhất thế lậu tận) cho nên xứng đáng để cõi trời và cõi người cúng dường.

+ A là bất, chẳng, La hán là sanh, chẳng còn sanh ra ở cõi thế gian nầy nữa.

Một vị Bồ tát khi giáng thế độ sanh ở cõi ngũ trược ác thế, bắt buộc phải ngồi thiền định trở lại để chứng ngộ quả vị A la hán.

Giống như đức Thế tôn khi giáng trần ở cõi Ta bà thế giới đầy đau khổ nầy, Ngài cũng phải xuất gia, tu thiền định đắc quả A la hán rồi mới thành Phật.

Ai mà sát hại một vị A la hán, thì không thể được gia nhập vào hàng ngũ Tăng già, không thể làm một vị Tỳ kheo.

Theo câu thần chú nầy, Bồ tát Quán thế âm hóa hiện một vị A la hán là để thuyết pháp độ sanh, ý ngài muốn chúng sanh phát tâm tu niệm liên tục, đừng để gián đoạn mà ma nghiệp dễ dàng xen vào thân tâm mình. Khi đã bị chướng nghiệp xâm nhập vào thì vấn đề tu tập rất khó khăn.

Ngài dẫn chứng trong bốn quả vị cũng như đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni giáng trần hóa đạo đều phải xuất gia, tu thiền nhập định, đắc quả A la hán rồi mới chứng đắc Phật quả.

Điều nầy nhấn mạnh cho chúng ta biết để tu. Nhìn vào thì dễ, nhưng thực hành theo Phật pháp cũng không phải dễ; và, cố tâm tu niệm thấy khó nhưng cũng không phải là khó. Dễ hay khó chỉ do sự quyết định và nhất tâm của chính mình. Bởi vì Phật tại tâm, tâm thành tức Phật tại.

19. Án A Bà Lô Hê

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng chính của ngài, đem lòng từ bi vô lượng sẵn có để cứu khổ ban vui

Đại ý : Án tức là quy y, quy mạng tức là chúng sanh trở về, còn A bà lô hê là đức từ của Bồ tát thì được hiểu là dẫn đường, chỉ đường. Nói chung là đưa đường chỉ lối. Bà lô hê là Quán âm.

Toàn ý phải hiểu rõ là đức Bồ tát Quán thế âm đem lòng lành hướng dẫn cho chúng sanh đi đúng với chánh pháp.

Phải biết cách tu tập, quán chiếu từ nội tâm đến ngoại cảnh đều viên dung.

Lược giải : Hạnh của đức Quán thế âm là từ bi luôn đem lòng thương cứu chúng sanh hết nạn khổ. Ngài muốn hướng dẫn hết thảy chúng sanh trở về con đường thanh tịnh và giải thoát. Thanh tức là trong, tịnh là vắng lặng.

Như một ly nước đang bị vẫn đục thì phải gạn lọc cho sạch, để yên thì nó mới chìm tất cả những vẫn đục xuống đáy ly.

Người tu hành, trì niệm thần chú, quán tưởng đến thân Phật, Bồ tát thì đừng để cho tạp niệm, những chướng duyên chổi dậy ; thân phải trong sạch, tâm phải thanh tĩnh, phải nhất quán để có một định lực kiên cường mới thấy đạo.

Kẻ không tu tập thấy ái dục thì cho là vui sướng, không biết đó là khổ ; người tu tập thiền quán biết ái dục là nguyên nhân đưa đến đau khổ và sanh tử luân hồi nên muốn xa rời ái dục, nhiếp thân tâm vào chánh niệm ; ngặt nỗi không đủ năng lực để tự độ nên phải nhờ tha lực hỗ trợ của Bồ tát Quán thế âm.

Do đó, Ngài luôn theo sát chúng sanh để tùy duyên hóa độ.

20. Lô Ca Đế

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Đại phạm Thiên vương khắp trong mười phương thế giới để hóa độ chúng sanh.

Đại ý : Lô ca đế là đấng Thế tôn, là đức Tự tại. Bởi vì : Thế là đời, tôn là cao quý. Tự tại là như như bất động.

Nghĩa là tâm luôn luôn giải thoát an lạc, không còn chấp bỉ thử ; vì Bồ tát hóa hiện nên luôn có ánh sáng rực rỡ khắp cả châu thân ; đồng thời, hòa nhập với ánh sáng và bản thể của pháp giới, không ngăn ngại.

Lược giải : Câu nầy nói : Bồ tát Quán thế âm hóa hiện một vị Đại phạm thiên vương, tức là một vị thần luôn luôn đi sát với những người phát tâm tu niệm chánh pháp mà đặc biệt là hành trì thần chú như câu chú trên đây là một phần trong chú Đại bi.

Khi trì chú đến giai đoạn nhất tâm thì trong ngoài đều sáng sạch và bản thể nội tâm của chính mình hòa nhập với bản thế của vũ trụ vạn hữu, đưa về lý nhất như.

Như vậy, hành giả không còn bị nội ma ngoại chướng quấy nhiễu, giải thoát an lạc hiện tiền, tâm bồ đề không còn thoái chuyển ; hành giả sẽ được thấy đạo, chứng đạo và đi vào cõi vô sanh.

Lợi ích của sự tu tập hành trì thần chú, niệm hồng danh Phật và Bồ tát là như vậy.

21. Ca Ra Đế

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện hình tướng của một vị Đế thần to lớn, sắc đen và đi khắp cả mười phương thế giới để hằng thuận, thương cứu chúng sanh sớm ra khỏi cảnh sanh tử luân hồi.

Đại ý : Ca ra đế nghĩa là lòng từ bi, hay cứu khổ nạn và xiển dương chánh pháp. Câu nầy ý nói : Khi tu tập có hạnh từ bi, có tâm cứu độ chúng sanh và phát nguyện hộ trì, xiển dương Phật pháp thì đó là bậc đại trí huệ, bậc thánh, bậc giải thoát bồ tát.

Lược giải : Người xưa thường nói : Tâm bình thế giới bình, vạn pháp duy tâm sở hiện. Cái tâm là cội gốc. Tâm vướng tục là chúng sanh, là đau khổ; tâm không bị nhiễm ô theo trần thế, không bị vướng oan khiên phiền não thì đó là tâm giải thoát an lạc. Ai có được tâm nầy tức là một vị Bồ tát.

Các đức Bồ tát đều có tâm từ, tâm bi như nhau, nhưng tùy nguyện để độ sanh; một khi chúng sanh gặp tai ươn nạn khổ đều thị hiện cứu giúp, dù chúng sanh ở bất cứ nơi nào trong sáu nẻo.

Hành giả trì niệm câu thần chú nầy đến giai đoạn năng sở hợp nhất, chứng ngộ đạo lý nhất như ; lúc ấy niết bàn, cực lạc hay ta bà sẽ không còn biệt cảnh. Phật quả được viên thành và quay trở lại cảnh đau khổ nầy mà hóa độ.

Do đó : phân thân về chốn Ta bà, từ bi tiếp độ hằng hà chúng sanh, …

Trong tựa Lăng nghiêm có câu :

… – Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, …

là như vậy.

22. Di Hê Rị

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng một vị Thiên thần Ma hê Đầu la thống lãnh thiên binh sắc xanh trong ba mươi ba cõi trời, đi khắp đó đây hoằng độ chúng sanh, hướng dẫn họ vào Phật pháp.

Đại ý : Di là bình, hướng dẫn, Hê là chúng sanh, Rị là rộng độ hết thảy, phổ biến rộng rãi.

Ý của câu nầy có nghĩa là tùy thuận sự hướng dẫn chánh pháp với tâm không phân biệt.

Lược giải : Tâm bồ đề khi bố giáo thì vô tâm bố thí. Luôn luôn với tâm nguyện hoằng truyền và lợi tha làm phương châm.

Chúng sanh dù ở cảnh giới nào cũng được hướng dẫn đúng mức, đều được thấm nhuần chánh pháp và không bị bỏ rơi hay bị lạc lõng bơ vơ, …

Bồ tát Quán thế âm nương theo tiếng kêu cứu trầm thống, thiết tha của hết thảy chúng sanh trong lục đạo mà cứu độ.

Hành giả phát nguyện tu trì câu thần chú nầy là phát nguyện học theo hạnh từ bi của ngài, học cách nương theo âm thanh để tu chứng như ngài.

Làm được như vậy, trước tiên hành giả phải phát nguyện và chuyên tâm hành trì, đừng để cho vọng nghiệp xâm nhập thì uổng phí cho bản thân khi có phước báo được làm thân người, lại được lục căn hoàn cụ, gặp pháp Phật nhiệm mầu.

Kính mong quý hành giả lưu tâm để khỏi mất cơ hội khó kiếm lại được.

Vì:

Sanh ra thân người đã khó, gặp Phật pháp lại càng khó hơn.

23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa

Bồ tát Quán thế âm dùng tâm nguyện từ bi, thanh tịnh và vô ngã vị tha để hóa độ hết thảy chúng sanh phát tâm tu niệm.

Đại ý : Ma ha bồ đề tát đỏa là cái tâm quảng đại, dũng mãnh và không tạp nhiễm. Ma ha là lớn, rộng, quảng đại. Bồ đề là nhìn thấy thế giới hệ đều không. Tát đỏa là không có cái gì trên nữa.

Ý nói Phật pháp vô lượng vô biên, rộng độ hết thảy; nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.

Lược giải : Người học Phật, phát tâm tu niệm hành trì thần chú hay hồng danh Phật và Bồ tát thì phải buông bỏ hết tất cả mười tám giới, đừng để nó ràng buộc.

Những hành giả sơ cơ học đạo thì cần phải nhẫn nại, chịu đựng mọi thử thách từ thân cho đến tâm, từ nội ma cho đến ngoại chướng; nếu không rèn luyện được ý chí nhẫn nhục thì khó thấy đạo, khó minh tâm kiến tánh, vấn đề an lạc giải thoát đến với mình thật là mong manh.

Trong những pháp muôn tu giải thoát, kiến tánh thành Phật thì pháp môn nhẫn nhục đứng đầu. Nhẫn nhục đệ nhất đạo.

Nhẫn nhục là con đường tối thượng, con đường duy nhất (độc đạo) khó làm mà dễ sanh nghiệp chướng.

Thiếu nhẫn nhục là công đức tu niệm dễ dàng bị tiêu tan. Các đức hạnh lành, thiện và trong sáng có được đều do nơi hạnh nhẫn nhục mà ra.

24. Tát Bà Tát Bà

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Hương Tích đang dùng ấn Cam lộ để điều phục năm phương, các quỷ thần theo hầu hộ vệ và phụ giúp ngài cứu độ chúng sanh.

Đại ý : Tát bà tát bà là hết thảy, hết thảy (nhất thế). Câu nầy ý nói là Phật pháp đều đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh.

Bất cứ giới nào, loại chúng sanh nào cũng đều được độ và nếu chịu khó hành trì chắc chắn đều được giải thoát như nhau.

Lược giải : Tu là giải thoát sanh tử luân hồi. Tu là không để sắc tướng ràng buộc, không biết xả bỏ thì kiến tánh rất khó.

Mặc dầu trong kinh có dạy là Ngũ uẩn giai không, dù biết cái thân là giả huyễn, nhưng đừng hiểu lầm chữ giả huyễn để rồi hành hạ bản thân thiếu trí tuệ, lâm vào bệnh hoạn thì cũng khó tu niệm.

Cái thân bệnh hoạn thì trí huệ khó phát triển. Thân tuy giả tạm, nhưng cần nó để tu, đó là đạt giả tầm chơn.

Biết huyễn mà vẫn cần nó vì dĩ huyễn độ chơn. Hành giả thông hiểu được ý nầy thì Bồ tát Quán thế âm luôn luôn gia hộ cho mình.

Điều quan trọng là chính mình thực hành, chứng nghiệm nơi pháp của Phật, đừng nghe, đừng vội tin lời người khác khi mình chưa thực sự đi vào pháp tu tập đó.

Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Giải thoát không phải bên ngoài đem vào, cũng không thể đi tìm cầu đâu xa.

25. Ma Ra Ma Ra

Bồ tát Quán thế âm mặc bạch y, tay mặt cầm Như ý bảo luân, tay trái dắt Thiện tài đồng tử để hướng dẫn chúng sanh được thấm nhuần chánh pháp.

Đại ý : Ma ra ma ra là ghi nhớ, ghi nhớ. Càng ghi nhớ điều chân chính tức thì tâm bồ đề tăng trưởng, như ý. Tay ngài cầm Bảo luân như ý, tay dắt Thiện tài đồng tử với mật ý bảo hộ chúng sanh được thập phần viên mãn, mọi thành tựu đều được như nguyện.

Lược giải : Ma ra cũng có thâm nghĩa tức là ngọc như ý. Và, Ma ra cũng là trong suốt, không một vẫn đục nào cả. Có nghĩa là khi phát khởi tâm tu thì sẽ được an lạc.

Tâm an lạc tức là mọi chướng duyên, nghịch cảnh không còn ngăn cản; con đường thẳng tiến đến bờ giải thoát được hanh thông.

Phát nguyện tu tập, thành tâm trì chú nầy chắc chắn sẽ thấy đạo và chứng đạo giống như mọi người được viên minh châu trong suốt.

Bồ tát tay cầm bảo luân như ý, tay dắt Thiện tài đồng tử với ý là không có tuổi nào hồn nhiên, tự tại như tuổi non trẻ; không có cái gì sáng sạch và vô tư như tuổi ấu thơ (hình ảnh Thiện tài đồng tử), trong đời không có gì quý bằng ngọc ngà châu báu (hình ảnh tay cầm Bảo luân), do đó, trong đời không có gì trong sạch và cao quý tối thượng bằng đạo giải thoát.

Hành giả hiểu được ý nầy hành trì câu thần chú sẽ được như nguyện và dễ dàng chứng ngộ Phật ý.

26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng đức Phật A Di Đà, ngài muốn hết thảy chúng sanh sau khi xả báo thân nầy đều được vãng sanh về thế giới tây phương cực lạc do ngài làm giáo chủ.

Đại ý : Ma hê ma hê là tâm ý bao la, rộng lớn. Rị đà dựng là tâm hoa sen.

Đây là tâm chơn ngôn. Ý toàn câu là tâm ý quảng đại mà viên dung ; đồng thời, với thâm ý mà hành giả phải hiểu là trong nhơn có quả, trong quả có nhơn. Có tu là có an lạc. Tiến tu thì đạo nghiệp viên thành.

Lược giải : Ma hê là với, Ma hê cũng có nghĩa là giống nhau ; Rị đà dựng cũng là dũng mãnh như kim cương, không bị phá nát, không bị tàn tạ. Rị đà dựng cũng có nghĩa liên hoa tòa, tức đài sen, chỗ ngồi như tòa sen.

Trong mười hai đại nguyện của Bồ tát Quán thế âm, lời thứ mười hai nói :

– Tiền tràng phang, hậu bảo cái, Quán âm Như lai tiếp dẫn Tây phương nguyện.

Nghĩa là:

Trước ngài có cây phướn, sau ngài có tàng báu, đức Quán âm Như lai nguyện tiếp dẫn kẻ tu hành Phật pháp được về cảnh giới Tây phương cực lạc.

Tại sao Bồ tát Quán thế âm muốn hết thảy chúng sanh mà đặc biệt là đệ tử của Phật đều phát nguyện về cảnh giới Tây phương cực lạc ?

Vì theo ngài, khi chúng ta được vãng sanh về đó rồi thì được hưởng bốn đức của Phật cảnh.

Đó là :

a-. Thường hay chơn thường : Mặc dầu trải qua nhiều kiếp, tự tánh nó không hề biến đổi, giống như thể chất của vàng, dù thay hình đổi dạng mà vẫn không biến chất, phai màu, nên được gọi là chơn thường.

b-. Lạc hay chơn lạc : Tự tánh của nó có vô lượng công đức, giống như vàng ngọc hay khiến cho mọi người ưa thích, có nó là làm tăng giá trị như giàu sang, hưng thịnh, phước đức, …

c-. Ngã hay chơn ngã : Tự tánh của nó luôn luôn thông suốt cùng khắp, giống như vàng tùy người để tạo ra món đồ khác nhau, chất vàng vẫn không thay đổi, theo giáo lý thì gọi là tự tại, vô ngại.

d-. Tịnh hay chơn tịnh : Tự tánh của nó không bị nhuốm theo cảnh bất cứ trường hợp nào, hoàn cảnh nào, giống như vàng, thể chất nó từ trong ra ngoài đều là vàng cả, không bị nhuốm màu, phai sắc.

Với bốn điều trên đây, pháp tánh của nó vốn có sẵn những công đức vi diệu.

Pháp hoa Huyền nghĩa cuốn bốn có chép :

* “Người tu Phật đã phá hết phiền não hai mươi lăm hữu rồi, gọi là Tịnh. Đã phá rồi những cái nghiệp của hai mươi lăm hữu, gọi là Ngã. Không thọ cái báo thân của hai mươi lăm hữu, gọi là Lạc. Chẳng còn cái sanh tử của hai mươi lăm hữu nữa, gọi là Thường.

Với Thường – Lạc – Ngã – Tịnh, gọi là Phật tánh nó hiển hiện ra.

Nói ra thường lạc ngã tịnh ấy có cái lập trường để thuyết pháp của bộ kinh Niết bàn, thành thử với Niết bàn kinh, các Tổ xưa đã bảo là : “đào thường giáo” nghĩa là giáo điển nầy chuyên bàn về lẽ Hằng thường.”.

Qua sự dẫn giải lợi ích phát nguyện trì chú, niệm hồng danh Phật, Bồ tát hay bái sám theo kinh điển, quý hành giả phát tâm tu Phật nên hết lòng và thành kính để đạt được mục đích cứu cánh : giải thoát sanh tử luân hồi ; nếu không trực tiếp giải thoát được thì ít nhất khỏi bị đọa vào trong sáu nẻo luân hồi, thì nên phát nguyện vãng sanh tịnh độ của đức Phật A Di Đà mà tu tiếp.

Vì về được cảnh giới nầy thì :

– Không ơn, không oán, không sầu,

Không già, không chết, có đâu luân hồi ? …

27. Câu Lô Câu Lô Yết Mông

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ Tát Không Thân để hàng phục vạn ức thiên binh, hóa độ vô lượng chúng sanh.

Cũng có tên gọi là Áp thiên Đại tướng quân, thống lãnh hai mươi vạn ức thiên chúng.

Đại ý : Câu lô có nghĩa là phát tâm, Câu lô câu lô cũng là xây dựng sự nghiệp, làm nên sự nghiệp. Yết mông là công đức.

Ý của toàn câu là phát tâm tu niệm, khi tác pháp, tác dụng đều trang nghiêm thì mới chứa nhóm được công đức.

Lược giải : Câu lô câu lô yết mông : Ngoài sự hóa hiện thân tướng Bồ tát Không thân, còn mang ý nghĩa là phát tâm tu học, hành trì chánh pháp.

Ở đây là trì niệm thần chú thì phải nhất tâm, có như thế thiện thần hộ pháp mới gia bị và trợ giúp cho con đường tu tập của hành giả.

Không phải mới phát tâm là có kết quả liền, phải kiên cường chịu đựng mọi thử thách từ trong thân tâm ra đến ngoại cảnh để chứa nhóm các công đức, các hạnh lành. Được như vậy, chướng duyên, nghịch cảnh mới không khuấy động được hành giả.

Tất cả ma nghiệp đều dẹp yên, ba nghiệp hằng thanh tịnh thì an lạc và giải thoát sẽ hiện hữu.

Hành giả nên biết cực lạc, tịnh độ là đây.

28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ Tát Nghiêm Tuấn áp lãnh man vương Khổng tức vương để hàng phục các ma oán.

Đại ý : Độ lô độ lô là bảo trì hãy bảo trì, Phạt xà da đế là các người du ngoạn, đi chơi trên hư không.

Theo trọn ý là giữ gìn chánh pháp cho sáng sủa và nghiêm tịnh; đồng thời phải quảng bá rộng rãi hơn.

Lược giải : Nguyên nghĩa của nó là bảo trì hãy bảo trì, nhưng, khi tu tập thì giữ gìn cả thân lẫn tâm đừng cho nghiệp lực xấu ác xen vào; các người du ngoạn trên hư không với ý là phóng khoáng, rộng rãi bao la và tâm nguyện phải quảng đại.

Hành giả phát nguyện tu tập theo câu thần chú nầy thì phải có tâm như vị bồ tát hóa thân trên đây. Phải biết điều phục thân tâm của mình, nhưng cũng phải biết điều phục chướng duyên. Tâm tư được sáng sủa yên vui, siêu thoát được mộng tưởng điên đảo và đạt được cứu cánh nhất tâm; từ đó, phát đại thừa tâm như Bồ tát đề hoằng truyền chánh pháp, rộng độ hết thảy chúng sanh.

Tự tu để chứng đạo, độ tha để cứu giúp chúng sanh trong chín cõi, nghĩa là lợi mình lợi vật được viên dung; Phật đạo sẽ viên thành với hành giả.

29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng thành một vị Đại Lực Thiên Tướng, tay cầm Bảo xử, tay bắt ấn cam lộ để hộ trì chúng sanh, khuyến tấn tu hành.

Đại ý : Ma ha phạt xà da đế tức là các hành giả vân du trên cõi hư không lớn lao. Ma ha là lớn lao, Phạt xà da đế tức là các hành giả vân du trên hư không.

Ý toàn câu là giáo lý Phật thì bao la, rộng rãi, không biên cương, không bờ bến ; hành giả tu tập chứng vào lý vô sanh thì thấu đạt tột cùng thâm áo của Phật pháp và có thể độ tận chúng sanh.

Lược giải : Từ trước đến nay, chúng ta thấy rất nhiều lần về chữ Ma ha xuất hiện trong thần chú nầy không ngoài mục đích của Bồ tát Quán thế âm muốn nhắc nhở cho chúng sanh biết: hết thảy chúng sanh có khả năng thành Phật.

Tuy nhiên, dù có Phật tánh rồi, có khả năng thành Phật, nhưng chúng sanh có chịu khó cổi bỏ tất cả những chướng duyên, phiền não hay không ? Có chịu khó tiến tu đạo nghiệp hay không ? Giáo lý Phật đà thì bao la rộng rãi, nhưng khi đã rốt ráo được một pháp thì tất cả các pháp đều thông.

Từ đó, hành giả mới thấy vạn pháp duy tâm. Và chứng ngộ được ý vạn pháp do tâm sanh thì vạn pháp cũng do tâm diệt.

Khi chứng được lý nhất tâm rồi, thì chẳng thấy có pháp để tu mà cũng chẳng thấy có pháp để chứng.

Trong kinh Bát nhã có nói : Đối với tất cả các pháp, tâm là thiện đạo (bậc bắt đầu giỏi), nếu biết được Tâm, thì biết rõ các pháp. Tất cả thế gian pháp đều do tâm.

30. Đà La Đà La

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng trượng phu về khổ hạnh để hướng dẫn chúng sanh phá trừ ngã chấp và pháp chấp.

Đại ý : Đà la đà la (có chỗ phiên âm là Đà ra đà ra) nghĩa là Bảo trì hãy bảo trì.

Ý nói là khi hành giả phát tâm tu tập, gột rửa được các ác nghiệp thì hãy tự bảo hộ lấy thân và tâm đừng cho nhuốm bụi trần, tạp niệm sẽ bị trở lại cảnh giới vô minh. Thật là oan uổng.

Lược giải : Đà la đà la hãy giữ gìn, bảo trì tất cả.

Với những chỗ mà hoa sen nó ngậm lại gọi là tạng, hay tàng tức là giữ gìn tất cả những công hạnh tu tập được gom góp lại, chứa nhóm và giữ gìn đừng để rơi mất.

Tức là nhất tâm chơn như của chư Phật. Vô cùng đại nguyện là phong luân để duy trì nước biển đại từ bi, nảy nở vô biên hạnh rực rở tốt đẹp như hoa sen thì gọi là Phật cảnh hay quốc độ của Phật.

Vốn tâm sẵn có vô biên công đức, diệu trí, nếu không thực hành vào cửa vạn hạnh vô biên, thì không do đâu để tỏ rạng ra đức và trí. Chư Phật đã rốt ráo và có đủ tất cả.

Hành giả muốn tu tập để được rốt ráo vào bực giải thoát thì y theo Bồ tát Quán thế âm hướng dẫn câu Đà la đà la để quán chiếu, để thực hành niệm niệm tấn tốc đến lúc được minh tâm kiến tánh ; nên ngài khuyến tấn hành giả hãy bảo trì và tự bảo trì những cái tốt đã có và đừng cho thế gian pháp, tạp nhiễm, tạp niệm xen lẫn vào tâm trí của mình.

Đó là cửa ngõ giải thoát.

31. Địa Rị Ni

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Sư tử vương để xét nghiệm hành giả phát nguyện trì chú, khiến cho họ sớm tiêu trừ nghiệp chướng.

Đại ý : Địa rị ni là hành giả đang trì tụng.

Sư tử là chúa tể tất cả các loài thú. Bản thể dũng cảm, kiên cường. Địa tức là cảnh giới, thế giới, Rị là hết thảy, Ni là vị nữ đồng trinh tu đạo.

Đạo Phật không có phân biệt, hết thảy chúng sanh phát tâm tu niệm rốt ráo đều sẽ được chứng quả như nhau.

Lược giải : Hóa thân của Bồ tát Quán thế âm là muốn dắt dẫn hàng nữ giới dõng mãnh và tinh tiến đi vào đạo giải thoát như ngài ; bởi thế, ngài luôn luôn thị hiện thân nữ giới là biểu hiện cho sự nhẹ nhàng, yểu điệu, ít tang bồng hồ thỉ như nam giới, thích tĩnh mịch nên dễ dàng tu tập.

Có một điều, phái nữ có đức tin mạnh hơn nam giới, do đó thường được gọi là tín nữ.

Tất cả hàng nữ giới nếu thật sự phát tâm dũng mãnh tu tập, nhất tâm hành trì thần chú, niệm hồng danh Phật, Bồ tát hoặc lễ bái thì sẽ được thiện thần hộ pháp gia bị, trợ niệm chắc chắn sẽ sớm đạt thành chánh giác như ngài Mục nữ trong kinh Địa tạng, như Long nữ con gái của cung rồng Ta kiệt la phẩm thứ 11 nói về Đề bà đạt đa, kinh Diệu pháp Liên hoa, …

Vậy, hành giả phát tâm hành trì thần chú nầy, đặc biệt là hàng nữ giới, cố gắng xa trần lụy, rời cấu nhiễm, thẳng tiến trên đường đạo thì cũng đắc pháp, đắc quả như Bồ tát Quán thế âm, Bồ tát Địa tạng vương, …

32. Thất Phật Ra Da

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Tích Lịch hai tay đang cầm Kim cang xử để hàng phục quần ma và quyến thuộc của chúng.

Đại ý : Thất Phật ra da là đức Quán Tự Tại, tức đức Quán thế âm vậy.

Ngài phóng ra ánh sáng và hóa diệm quang, cũng là hóa thân của đức Nhật cung Thủ nhãn Bồ tát.

Ý nói khi chứng ngộ đạo lý nhất như thì toàn thân phóng ra vô lượng ánh hào quang rực rở để chúng sanh nương vào ánh sáng nầy mà gột rửa thân tâm và dễ dàng tu học đến quả vị giải thoát.

Lược giải : Đạo Phật là đạo tự tu tự sửa lấy mình. Giáo pháp của Phật chỉ là phương tiện như ngón tay chỉ mặt trăng, như con thuyền đưa người qua sông.

Hành giả muốn đạt đạo thì hãy tự quán chiếu nội tâm đừng để cho ngũ ấm ma chổi dậy và đừng để ngoại cảnh chi phối khi đang tu tập.

Phải có chí quyết đoán và dứt khoát đối với các vọng nghiệp, nếu không được như vậy thì sẽ bị trôi theo dòng đời và cũng trở lại trong lục đạo, khi lên cõi trời, hết phước thì trở lại địa ngục.

Ý thức những điều nầy, hành giả tiến tu đắc đạo rồi, sẽ có vô lượng ánh hào quang chiếu sáng cả bản thân như các bậc La hán, Bồ tát và Phật, …

Từ đó, hành giả đã có đủ năng lực vào ra trong sáu nẻo để độ sanh mà không còn sợ bị sa đọa hay vướng mắc trong dục lạc ; nhìn tiền tài danh vọng như đôi dép bỏ và cũng không còn sợ cảnh sanh già bệnh chết.

Luôn luôn có một cuộc sống tự tại, an lạc.

33. Dá Ra Dá Ra

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Tồi Toái tay cầm Kim luân để hóa độ các oán ma và điều phục cho chúng trở về với Phật pháp.

Đại Ý : Dá ra dá ra là hành động. Dá ra là hiện sắc tức giận, Dá ra dá ra cũng là hiện tướng tức giận.

Câu nầy ý nói khi chúng sanh mang tất cả những nghiệp lực xấu ác, các ngài phải hóa thân hộ pháp để dìu dắt chúng sanh ; trong đó trước là hiện tướng đại hùng, đại lực, sau cùng mới thể hiện đại từ bi.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng của một vị hộ pháp, tức là tồi tà phụ chánh. Chúng ta hãy nhìn hình tượng của đức Hộ pháp thì đủ rõ.

Dung nhan của ngài uy nghi, đỉnh đạc, tay cầm những dụng cụ giống như binh khí khi xuất trận, dương oai diệu võ rất hùng dũng. Những hình thái ấy, không ngoài mục đích dẹp bỏ các ma vương.

Ma vương của chúng ta không phải từ bên ngoài mà là từ trong. Đức Phật thường dạy con vi trùng trong bộ lông của con sư tử mới ăn thịt, mới có thể giết chết con sư tử (trùng trung thực sư tử nhục) là vậy.

Con người chủ động là cái tâm. Ta vọng động, ta tham muốn đủ thứ hay ta yên tĩnh, nhàn hạ cũng không ngoài cái tâm mà ra. Tâm là chủ tể, tâm là gốc của tội lỗi mà cũng là căn bản của thánh thiện.

Hình thái của đức hộ pháp là khuyến hóa chúng sanh tự nổ lực để chống đỡ những nghiệp duyên làm cản trở bước tu hành của chính mình.

Hành giả hiểu được thâm ý nầy thì dễ dàng bước vào đường tu tập mới dõng mãnh được.

34. Ma Ma Phạt Ma Ra

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Đại hàng ma Kim cang, tay cầm Kim luân hộ trì chúng sanh tu tập để được đại cát tường.

Đại ý : Ma ma phạt ma ra tức là không cấu uế. Ma ma tức là điều ta đang nắm giữ, Phạt ma ra là điều không cấu uế, cấu nhiễm.

Ý nói, khi hành giả nhất tâm trì niệm câu thần chú nầy thì thân tâm sáng sạch, không bị vướng bụi trần.

Lược giải : Ma ma tức là nắm giữ, nhưng ở đây là hành trì, tu niệm, tinh tấn trong chánh pháp.

Hành giả phải hiểu rằng : Khi tu tập, nắm giữ chánh đạo thỉ bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu ô uế của trần gian đều phải được phủi sạch.

Điều nầy trong kinh luật đức Phật mong muốn tất cả chúng sanh đều phải điều phục tâm tánh để tiến tu đạo nghiệp,

đó là :

Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu,

Đồng chứng Như Lai tịnh Pháp thân, là như vậy.

Nghĩa là :

Chúng sanh đang sống trong năm trược, sớm lìa cấu uế,

Cùng chứng ngộ được thân thanh tịnh của Phật.

Vậy thì Ngũ trựợc là gì ?

1.- Kiếp trược : Tức vào thời kiếp số bị giảm, tuổi thọ của con người cũng bị giảm dần, cho đến lúc nào tuổi thọ chỉ còn mười tuổi thì mới hết giảm kiếp số.

Trong thời kỳ ấy, con người có đủ bốn thứ ô trược : Kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược.

2.- Kiến trược : Sự thấy biết cũng nhơ nhớp. Con người luôn có kiến thức tà vạy, chấp tà bỏ chánh, lấy xấu bỏ tốt, sống trong điên đảo, thiên lệch.

3.- Phiền não trược : Tức các điều mê dục xấu nhớp. Con người ta trong tâm luôn chứa những điều tham lam, bẩn thỉu, luôn hờn giận hơn là tha thứ, thích đấu tranh hơn là hòa hiếu, thích chém giết hơn là thể hiện tình thương.

4.- Chúng sanh trược : Con người và tất cả vạn vật sanh ra đều ở trong cõi đau khổ, cấu uế; luôn luôn gặp cảnh đau khổ, tai nạn như chiến tranh, thiên tai bão lụt; cuộc sống phập phồng lo âu, không mấy khi được an ổn, thơ thới.

5.- Mạng trược : Đời sống ô uế, nhơ nhớp. Vì đời sống bị giảm lần, cho nên trong cuộc sống hằng ngày, con người phạm rất nhiều tội lỗi; luôn tìm sự sống thỏa thích trên sự đau khổ của người khác từ vật chất đến tinh thần. Ngay như khi chúng sanh vào đầu thai để được có cái thân, cũng đã ở trong một cái buồng chứa không mấy được sạch sẽ, khi được sanh ra cũng theo con đường không được sạch sẽ.

Như thế, mà chúng sanh không biết nương theo giáo lý Phật để tu tập, để quán chiếu lấy bản thân (không biết quán thân bất tịnh).

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng của một vị Đại hàng ma Kim Cang, tay cầm Kim luân đi vào đời mà hướng dẫn cho hết thảy chúng sanh bỏ tà, quy chánh ; bỏ hết tất cả những thói hư tật xấu trong thân và tâm, hướng về con đường giải thoát để tiến tu.

Hàng ma ở đây là ngài muốn chúng sanh điều phục, chế ngự ác nghiệp của chính bản thân mình không cho chổi dậy. Tay cầm Kim luân là một vòng tròn cứng, quý, ý nói: Giáo lý của Phật là viên dung, vô ngại, bất biến, vẹn toàn ; hành giả đã được vào trong biển Phật pháp rồi thì không còn chúng ma quần đạo nào có thể xâm nhập. Vấn đề đạt đạo, đắc pháp chứng quả Vô sanh không mấy khó khăn.

Hành giả khi phát tâm tu niệm, hành trì thần chú nầy hoặc niệm hồng danh Phật, Bồ tát hay lễ bái thì phải nhất tâm.

Phải đạt cho được trí huệ sáng suốt và cương trực như vòng Kim luân nơi tay Đại hàng ma Thiên tướng thì quả vị chứng đắc sẽ được hiện tiền. Phật và chúng sanh không hai. Hành giả thấu suốt lý bất nhị là vậy.

35. Mục Đế Lệ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng chư Phật, Bồ tát chấp tay lắng lòng nghe chúng sanh trì tụng thần chú, đồng thời hộ trì cho hành giả đang phụng trì sớm chứng đắc Phật quả.

Đại ý : Mục đế lệ tức là vô cấu thể, nghĩa là bản thể không bị dơ.

Câu nầy ý nói khi hành giả phát tâm tu tập thì cố gắng gạn lọc tâm tư được trong sạch, thanh tịnh, giữ gìn đừng vướng bụi trần để con đường đạt đạo khỏi gặp khó khăn.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Phật, Bồ tát, chấp hai tay, mắt nhắm lại như nhập thiền định quán tưởng thân và tâm đừng để vướng vào cấu uế; cố gắng trừ khử mọi phiền não.

Sự nhắm mắt ở đây không có nghĩa là buộc hành giả khi trì chú, niệm hồng danh Phật, Bồ tát là mắt nhắm khít lại, mà đây là ý ngài dạy đừng cho ánh sáng sắc dục lôi kéo, nói đúng hơn là đừng để ngũ uẩn khơi dậy che khuất chơn tánh.

Nghĩa là đừng để tâm vọng đông theo thế gian pháp, một lòng chuyên nhất vào câu thần chú quán nội tâm và ngoại cảnh như thế nào mà không còn là hai nữa, không kẹt bên nầy mà cũng không chấp bên kia.

Khi hành giả thấu đạt được thể tánh của các pháp, rồi quán chiếu tâm mình không còn bị vướng mắc ở bất cứ một vi tế hoặc nào, giây phút ấy thân tâm hành giả đã tiến sâu vào cõi Quán tự tại Bồ tát.

Như vậy, chính hành giả đã chứng đắc vào cảnh giới an lạc, thanh tịnh.

36. Y Hê Y Hê

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Ma Hê Thủ La Thiên Vương phổ triệu cảnh giới nhơn thiên hằng thuận và phục tùng chánh pháp.

Đại ý : Y hê y hê là thuận theo lời chỉ giáo và vâng lời theo khi được triệu tới.

Ý nói là luôn hằng thuận những gì được hướng dẫn, dạy dỗ; một khi được gọi đến thì luôn luôn vâng lời và phục tùng theo.

Lược giải : Y hê tức là thuận theo, Y hê y hê vâng theo và phục tùng những gì mà chánh pháp đã hướng dẫn.

Phát nguyện tu tập là lợi mình lợi vật, đó chính là tự giác giác tha giác hạnh viên mãn.

Muốn được vậy, khi hành giả phát tâm tu niệm, hành trì thần chú trước tiên phải tự mình ngăn ngừa vọng niệm đừng cho phát khởi, lắng đọng tâm tư để sớm trở về trạng thái tịch tịnh.

Ngay như trong kinh Vô lượng thọ, đức Phật có dạy : Chư Bồ tát, mãi cho đến khi thành Phật, không sa vào các tội ác (địa ngục, ngạ quỷ, Súc sanh), thần thông tự tại, thường nhớ những đời trước của mình.

Ngoại trừ bổn nguyện muốn sanh qua các cõi ngũ trược ác thế, thì thị hiện như chúng sanh để ở các cõi ấy, nghĩa là cũng gánh chịu những luật sanh, lão, bệnh, tử. Chúng ta chưa đạt được trình độ như vậy, ngoài năng lực tu tập của chính mình, còn phải nương nhờ vào tha lực của Phật và Bồ tát che chở, hướng dẫn và gia hộ.

Trong kinh có dạy :

– “Chí phàm phu tự lực khó thành,

Cầu Đại giác từ bi gia hộ”, là như vậy.

Rất mong hành giả lưu tâm và cẩn thận khi hành trì thần chú nầy.

37. Thất na thất na

38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng tay cầm khiên, tay cầm cung tên kính tụng thần chú, đắc pháp tự tại, phân thân rải thể, hóa độ chúng sanh.

Đại ý : A ra sâm là vua vận chuyển chánh pháp, Phật ra xá lợi (hay lị) giác ngộ rất kiên cố, giác ngộ chắc chắn.

Toàn câu ý nói khi tu hành đắc đạo rồi thì trở lại hóa độ chúng sanh; vận chuyển chánh pháp đi khắp đó đây thay Phật để tuyên dương, hoằng truyền.

Lược giải : Khi tu hành thì tuân theo phép tắc mà hành trì cho đúng, nhưng, đừng quá chấp nê nơi phép tắc để rồi bị mắc cứng vào điều cố chấp đó, đã không kiến tánh mà còn đi ngược lại ý của Phật. Kinh Hoa nghiêm có dạy: Người nên quán sát kỹ pháp vương, phép tắc của pháp vương như vậy, sắc tướng không có biên giới và phổ biến khắp thế gian.

Đó chính là điều được gọi là đã vượt ra ngoài phép tắc, mà là ý nghĩa của hai chữ pháp vương. Khi hành giả dụng công phu tu hành làm thế nào đến trạng thái tĩnh mà vô tĩnh tức là thật tĩnh, rất thần diệu. Động mà không động, tức là động, rồi xả bỏ mất cái động đến độ tuyệt diệu và an lạc giải thoát sẽ hiện tiền; từ đó, hành giả mới bước vào chơn thiệt nghĩa của chánh pháp.

Điều quan yếu là khi hành trì câu thần chú nầy phải có đủ tín hạnh nguyện để tiến tu. Phải tin sâu, nguyệt thiết.

Sự tu trì nầy đều tùy thuộc vào tâm niệm của mình mà thành lập, cũng đừng vọng chấp để trở thành định kiến thì khó mà thấy được thể tánh tức là thấy đạo.

Vấn đề hành trì thần chú không phải chỉ ngồi một chỗ, mà còn phải tùy thuộc vào hoàn cảnh nữa. Nghĩa là đi đứng năm ngồi thân tâm phải nhiếp thọ vào câu thần chú. Nếu trường hợp tâm bị xao động thì lấy câu niệm Phật để trợ duyên, kéo tâm trí trở lại trạng thái yên tỉnh.

Từ đó, bắt đầu nhiếp niệm trì chú trở lại. Đừng bảo rằng những lúc đi đứng nằm ngồi lại là không phải thời khắc để đưa thân tâm trở về cảnh giới hành trì. Ý thức được đeìu nầy, tức hành giả đã chuyển hóa thân tâm vào con đường tu tập chơn chánh.

Phải biết con người từ phàm phu tục tử, xả bỏ hết thói hư tật xấu của thế gian, bước vào con đường xuất thế gian; chuyển mê khai ngộ, siêu phàm nhập thánh như hoa sen từ bùn lầy nước đọng, vượt lên khỏi bùn nước xú uế, tỏa ra hương thơm ngạt ngào, đơm hoa kết trái tươi tốt cho đời. Tu Phật cũng như vậy hành giả nên cố gắng.

39. Phạt Sa Phạt Sâm

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Kim khôi Đại tướng, cầm linh tùy duyên, hằng thuận để giáo hóa độ chúng sanh đến bờ giải thoát.

Đại ý : Phạt sa phạt sâm là hoan hỷ, tùy hỷ. Phạt sa tức là tâm lượng của bậc đại trượng phu, Phạt sâm là đem niềm vui chia xẻ cho mọi người với tâm không phân biệt.

Ý toàn câu là lúc nào cũng hoan hỷ, rộng lượng và từ bi cứu giúp hết thảy chúng sanh.

Lược giải : Chúng sanh bị nghiệp cảm ràng buộc, không thấy được con đường giải thoát

Đức Quán thế âm luôn tùy duyên, tùy cảnh để hóa hiện đủ các thứ thân hình mà hoằng truyền chánh pháp, khiến cho tất cả đều trở về bờ giác.

Tuy thế, chúng sanh không đủ nghị lực, dũng cảm mà tiến tu đạo nghiệp.

Đặc biệt là chúng sanh không có ý chí nhẫn nại, không đủ sức chịu đựng cực khổ nên dễ dàng bị thối chí, nản lòng. Ngài thấy vậy, động lòng thương, phát tâm vô úy và ban cho chúng sanh cái vô úy đó.

Nhờ vậy mà mọi loài chúng sanh nương vào uy lực che chở, hướng dẫn của ngài rồi từ từ tiến bước vào con đường đạo một cách dõng mãnh và tinh tiến.

Hành giả cố gắng học theo hạnh của đức Quán thế âm khi hành trì thần chú cũng như niệm hồng danh Phật và Bồ tát được dễ dàng đạt được hạnh nhẫn nhục với tâm an nhiên, tự tại.

Được như vậy thì vấn đề giải thoát không còn xa vời đối với hành giả và hành giả cũng không còn cái tâm ngăn ngại, sợ sệt khi thực hành con đường tu niệm.

40. Phật Ra Xá Da

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng đức Phật A Di Đà, để hướng dẫn cho chúng sanh phát nguyện và niệm đến danh hiệu ngài thì hiện tiền được an lạc, tương lai sẽ được vãng sanh và gần với ngài.

Đại ý : Phật ra xá da là trừ hết mọi độc hại do tham sân si gây nên. Phật ra chính là bản thân, Xá da là thân tướng lớn lao.

Ý toàn câu là khi chính bản thân của mình trừ hết mọi phiền não, chứng đắc được Phật thân thì thân tướng lớn lao và có đủ tất cả 32 tướng hảo trang nghiêm đẹp đẽ như đức Phật.

Lược giải : Phật ra xá da là Bồ tát Quán thế âm hiện thân của đức Phật A Di Đà, ý nói là đã đắc đạo, thành đạo và hóa đạo.

Hiện thân nầy là nói lên cái diệu dụng không còn tạp nhiễm nữa, không vướng bận dù ở bất cứ quốc độ nào cũng thấy an lạc và giải thoát.

Nghĩa là nói cái vi diệu tối thượng của chánh pháp, nói vạn pháp do tâm biến hiện. Nói tâm tịnh thì Phật độ tịnh.

Bồ tát Quán thế âm muốn hết thảy chúng sanh sớm phát tâm bồ đề thật dõng mãnh, xả bỏ những triền phược của thế gian, nhìn tất cả các sắc tướng là không; chí tâm hành trì và bái sám đến lý nhất tâm thì ánh sáng của đạo sẽ hưng khởi, không còn mình và ta bị chướng ngại.

Chư Phật và Bồ tát ở mười phương cùng với hành giả không khác và dễ dàng thông hợp.

Ý nầy là thấu triệt được câu :

– Chúng sanh dự Phật đồng là vậy.

41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bát bộ Thần vương, chấp tay niệm chú, thể hiện lòng từ để hàng phục chúng ma cải tà theo chánh.

Đại ý : Hô lô hô lô ma ra là làm phép để không nhiễm bụi nhơ (tác pháp vô nhiễm).

Ý nói là hóa hiện thân tướng của một thần vương để hướng dẫn và cảm hóa chúng sanh sớm ra khỏi ba cõi, tu hành tinh tấn, liễu ngộ chánh pháp, thành tựu Phật thân.

Lược giải : Câu thần chú nầy là khuyến hóa cho hết thảy chúng sanh dõng mãnh tinh tiến bước chân vào đạo, chí tâm hành trì đến giai đoạn rốt ráo thì mọi ô nhiễm của thế gian không còn ràng buộc thân tâm nữa.

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bát bộ Thần vương với ý vừa là cứu giúp cho chúng sanh không bị nghiệp chướng quấy phá (tác pháp vô nhiễm), phát tâm tùy hỷ để làm lợi mình, lợi vật (tự lợi, lợi tha).

Hành giả trì niệm thần chú hoặc hồng danh Phật, Bồ tát hay lễ bái đến lúc :

Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,

Cảm ứng đạo giao nan tư nghì, …

tức là đã kiến tánh thành Phật, thì dẹp bỏ được cái tiểu ngã tầm thường mà bước lên cái đại ngã vô thượng như chư Phật và Bồ tát, tâm hết vọng động, an nhiên tự tại. Đó là lợi ích tu tập vậy.

Những cái hành giả đang có giữa thế gian nầy phải biết quán rằng: nó không thật có, chỉ là giả tạm. Biết vậy thì tâm ham muốn (dục lạc, danh sắc) tự nhiên tan biến.

42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tứ tý Tôn thiên Thần tứ Liễu diệp khải, tay bưng nhật nguyệt chiếu sáng để hóa độ chúng sanh sớm ra khỏi màng vô minh, tiến lên bờ giải thoát.

Đại ý : Hô lô hô lô hê rị là mau chóng, mau chóng đi, tóc đã bạc rồi. Hê rị là tác pháp tự tại, an nhiên.

Ý câu chú là muốn chúng sanh mau chóng đạt đạo để an lạc tự tại, giải thoát. Đừng ngồi chờ đợi.

Lược giải : Ý câu thần chú là : Một ngày qua mau, như cá thiếu nước, đâu đặng vui gì.

Phải cần tinh tấn như gấp gấp cứu lửa cháy trên đầu, mỗi niệm là vô thường, không nên phóng dật.

Hành giả phát tâm tu niệm, cần nhất là xả bỏ tất cả những gì triền phược của thế gian, phải mang vào mình chiếc áo nhẫn nhục để chịu đựng mọi thử thách với nghiệp chướng đã tạo từ nhiều kiếp trước.

Muốn cứu người chết đuối thì hành giả phải biết bơi, muốn cứu bệnh nhân thì phải biết thuốc và phương thức chữa trị, …

Muốn cứu độ chúng sanh ra khỏi sanh tử luân hồi thì hành giả phải tu đạo và chứng đạo. Bồ tát Quán thế âm hóa hiện 32 ứng thân là ngài đã rốt ráo tất cả các pháp mà chư Phật đã trao truyền; đồng thời, ngài mang hạnh vô úy đi vào cảnh khổ đưa chúng sanh ra khỏi khổ.

Nơi nào chúng sanh cần thì ngài thị hiện đến với tâm an nhiên tự tại, dù ngài đến với cõi người, cõi trời hay các cõi quỷ thần.

Chúng ta là đệ tử của ngài thì cố gắng sách tấn thân tâm trong từng giấy phút, từng sát na, đừng để cho nội ma ngoại chướng ràng buộc. Một khi mất thân nầy thì ngàn năm vạn kiếp khó gặp lại được.

Trong văn phát tâm bồ đề có đoạn nói rằng: Thân thể của chúng ta khó được mà dễ mất, giống như thì giờ dễ dàng trôi qua mà không bao giờ níu kéo lại được.

Không tu thì nghiệp lực cứ chồng chất lên mãi, con đường trước mặt vô cùng mờ mịt, ba con đường dữ cứ chờ sẵn chúng ta.

Một khi bước vào một trong ba đường dữ ấy (địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh) thì than ôi không biết đến lúc nào nghe chữ Mô Phật, thử hỏi làm thế nào để có cơ hội thính pháp văn kinh, làm sao mà có phước báo gặp được chư hiền thánh Tăng cho được, chứ đừng nói đến có phần phước dự vào tam thừa tứ quả.

Bởi thế, câu Hô lô hô lô hê rị là phải gấp gấp, mau chóng, mau chóng mà qua đi. Mau chóng, gấp gấp ở đây là sự tu tập theo chánh pháp thật tinh cần, không buông thả, không ngồi đợi những gì từ bên ngoài đem đến.

Đó chính là sự nhất tâm, quyết chí của chính hành giả vậy.

43. Ta Ra Ta Ra

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện núi Phổ đà rất hiển linh và không thể suy nghĩ hay đo lường được, nói lên cái khổ của cảnh giới Ta bà như núi non hiểm trở.

Đại ý : Ta ra ta ra là kiên cố, cố gắng lên.

Ý toàn câu là tâm phải vững, phải bền chắc một lòng cầu đạo giải thoát không thoái chuyển. Cứng và chắc như núi.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm hiện ra núi Phổ đà uy nghi, linh hiển.

Núi tượng trưng cho sự chắc chắn, bền vững. Nhưng núi cũng bị xoi mòn vì mưa sa, gió tạt.

Nghĩa là hành giả cầu đạo thì phải gặp những chướng duyên giống như phong ba bão táp ; nếu không có tâm bền vững thì dễ dàng bị sa ngã. Mưa gió là dụ cho nghiệp chướng của hành giả đã tạo từ trước.

Núi chứa đựng đầy cả cây cối lùm rừng, hang hẻm, khe suối, ghềnh đá cheo leo đủ thứ là dụ cho sự nguy hiểm, cần phải cẩn thận.

Núi chứa đựng những điều trên đây dụ cho chúng sanh đủ loại, đủ hạng đang ở trong cõi Ta bà ngũ trược ác thế, sự u hiển của núi Phổ đà dụ cho chánh pháp.

Ý nói trong tất cả chín cõi đều có chánh pháp của Phật hiển hiện, do vì chúng sanh không thấy được pháp Phật nên không chịu thỉnh cầu để tu tập đó thôi.

Nay hành giả đã biết đạo, phát nguyện tu tập hành trì thì cố gắng y theo lời Phật dạy, gột rửa thân tâm để sớm dứt bỏ màng vô minh mà vào nẻo đạo được thoải mái và an lạc cho mình và làm lợi cho tha nhân.

44. Tất Rị Tất Rị

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng của chính ngài với tay cầm nhành dương liễu, tay bưng tịnh bình rưới nước cam lồ cứu khổ ban vui cho chúng sanh.

Đại ý : Tất rị tất rị là hoa sen. Tất rị là làm lợi cho mọi người.

Ý toàn câu là tình thương ban rãi rất bình đẳng giống như hoa sen tỏa mùi hương nồng đượm chung cho đời.

Lược giải : Tất rị cũng còn nghĩa là làm lợi cho tất cả chúng sanh. Tất rị tất rị là yêu mến hết thảy chúng sanh, không phân biệt gì cả.

Chúng sanh nào phát tâm trì tụng câu thần chú nầy, ngoài phần tự lợi là thấm nhuần chánh pháp, có thể tiến đến bờ giải thoát; về phần lợi tha là đem sự tu chứng của mình mà ban rãi cho mọi loài chưa hiểu đạo, hướng dẫn cho hết thảy tu tập chánh pháp.

Vì vậy, hành giả phát tâm hành trì thần chú, niệm hồng danh Phật, Bồ tát hay bái sám đến nhất tâm thì tất cả những chướng duyên đều được tiêu diệt. Công đức tu niệm được viên mãn thì dấylên được tâm pháp giới, niệm Phật pháp giới, chứng tâm pháp giới thì trì chú cũng như vậy.

Do đó, tất cả do tâm và từ nơi tâm mà có, cho nên tâm nào mà chẳng phải Phật và Phật nào mà không do tâm ?

Mống tâm động niệm là phải tội, làm ác thì kết nghiệp ác, làm thiện thì kết quả có thiện nghiệp tức Phật tâm.

Với tín sâu để hành trì thần chú hoặc trì danh hiệu Phật và Bồ tát để làm một cang tôn lớn; bởi vì, hết thảy những khổ cực nặng nề trong thế gianb nấy không chi bằng cái khổ bị sanh tử.

Sanh tử không dứt được thì sẽ sanh rồi tử, tử rồi sanh.

Hết vào bào thai nầy rồi lại phải vào bào thai khác.

Cổi bỏ đãy da nầy thì cui vào đãy da khác. Khổ khổ chồng chất không bao giờ dứt được.

Khi hành giả đã có một chữ nguyện rộng lớn thì đã bao gồm được cả hạnh lẫn tín. Tín là tự tín về cà mình và người, cả nhân lẫn quả, cả sự lẫn lý, không hư dối.

Nghĩa là :

-. Tín tự : Tin tất cả do tâm tạo. Mình niệm Phật, trì chú nhất tâm sẽ được an lạc hoặc được Phật tiếp dẫn (nếu tin theo Tịnh độ).

-. Tín tha : Tín vào tha lực của Bồ tát Quán thế âm sẽ trợ duyên cho chính mình khi phát tâm hành trì thần chú.

-. Tín nhơn : Tin vào nhơn phát khởi thành tâm trì thần chú nầy một cách rốt ráo thì thế nào cũng được an lạc, giải thoát.

-. Tín sự : Tín vào đức Quán thế âm dùng cam lồ để rưới tất cả những nghiệp duyên đau khổ của chúng sanh, cho chính mình khi thực hành thần chú là điều hiển nhiên, không hư ngụy,…

-. Tín lý : Tín vào khả năng và thành tâm trì thần chú là được an lạc.

-. Tín hạnh : Tin vào sự chuyên trì thần chú sẽ không để cho tâm bị tán loạn, bất ổn.

-. Tín nguyện : Tin vào sự phát tâm kiên cố trong lúc hành trì thần chú thì còn bị chúng ma, quần tà xâm nhập để quấy phá, hoặc làm xao động sự tu niệm.

Đầy đủ những đức tính trên đây, chắc chắn hành giả sẽ đạt đạo, chứng đạo một cách dễ dàng.

Hành giả nên biết câu thần chú nầy vừa tự lợi mà vừa lợi tha là vậy.

45. Tô Rô Tô Rô

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng lá cây rụng, chúng sanh nghe tiếng lá rơi thâu nhiếp được bốn lợi ích : Quán đảnh, mát thân, tâm vui và đầy đủ.

Đại ý : Tô rô tô rô cọng của hoa sen. Cũng có nghĩa là nước cam lồ.

Ý nói nước cam lồ làm mát dịu tâm chúng sanh và cho chúng sanh chất ngon ngọt, giải thoát.

Lược giải : Nước cam lộ là nước làm cho chúng sanh vơi đi phiền lụy, vì nước nầy là ngon ngọt, có tám thứ công đức (bát công đức thủy). Tô rô tô rô còn là tượng trưng cho cọng hoa sen. Cọng có cứng thì nâng cho toàn hoa sen mới đứng vững. Tám công đức ấy :

1- . Trong sạch, nhẹ, lìa dục, (Nhẹ),

2.- Mát mẻ, trong trẻo (Trong),

3.- Ngon ngọt, béo bùi (Mát),

4.- Nhẹ nhàng, mềm mại, dễ lên xuống (Mềm),

5.- Nhuần, trơn, thấm thía không khô khan, không nhám (Ngon),

6.- Yên lặng, chậm rãi, hòa hiệp (Không hôi hám),

7.- Chẳng những đả khát mà không bị đói, (Khi uống vào thích thú) và

8.- Nuôi lớn thân tâm khỏe cho cả sáu căn. (Uống rồi không ốm).

Tám công đức nầy được gọi là vi diệu hương khiết. Chúng sanh có phước báo để được dùng nước cam lồ nầy mà tu tập thì dễ dàng bước lên bờ giải thoát. Hành giả cố gắng để dụng công phu tu niệm thần chú nầy sẽ được như nguyện, thì cần phải phát nguyện một cách dõng mãnh và tinh tiến.

Hành giả hành trì được như vậy thì không một phiền não nào mà không đoạn diệt, không một pháp môn nào mà không chứng đắc.

Tuy nhiên, trong lúc tu tập cần nhất là phải tập thiền quán. Khi quán tưởng phải hiểu : Phật và chúng sanh giống nhau không khác, thế nhưng, Phật giải thoát từ vô lượng vô lượng kiếp, còn chúng sanh thì cứ mãi trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, khi lên khi xuống không chừng.

Đức Phật thì đầy đủ thần thông tuệ giác, công đức vô cùng trang nghiêm, còn chúng sanh thì nghiệp lực cứ tạo tác mãi. Phải biết quán chiếu Phật và chúng sanh tâm tánh giống nhau mà sự mê ngộ hoàn toàn khác nhau.

Do đó, kể từ giờ phút đón nhận thần chú nầy, hành giả hãy vận dụng vô lượng năng lực, vô lượng thiện pháp để đối trị với vô biên phiền não chướng.

Con đường sáng của trí tuệ lần lần hiển hiện giống như viên ngọc đã được trau chuốt sáng sạch.

Như vậy mới không uổng phí thì giờ tu tập của chính mình. Và, không phụ lòng từ bi của Bồ tát Quán thế âm luôn luôn hộ niệm, che chở và dẫn dắt cho chúng ta.

46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện chính thân tướng của ngài với tâm từ, thân cận trẻ con qua hình ảnh Thiện tài đồng tử, kết duyên và làm lợi ích cho chúng sanh.

Đại ý : Bồ đề dạ bồ đề dạ là tỉnh ngộ. Bồ đề dạ là quyết tâm hạ thủ công phu tu tập, dũng cảm không sờn lòng nản chí.

Ý toàn câu là khi phát nguyện bước vào đạo là tâm trí phải hợp nhất, trước sau như một.

Lược giải : Hành giả tu tập phải biết phát tâm bồ đề (phát bồ đề tâm).

Thế nào là phát bồ đề tâm ? Nghĩa là do tâm thành mà phát khởi ý nguyện tu tập cho đến ngày thành Phật hoàn toàn để tế độ chúng sanh.

Bồ đề nầy là bồ đề của Phật, là quả Chánh giác. Gọi tắt là phát tâm mà cũng là Phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm.

Khi phát tâm bồ đề, hành giả phải khởi lên ba thứ :

-. Thiện tâm : Hết thảy phiền não, xin phát nguyện dứt bỏ, hết thảy pháp môn đều xin nguyện học.

-. Bi tâm : Xin phát nguyện độ hết thảy chúng sanh.

-. Trực tâm : Xin nguyện thành Phật đạo cho mau chóng.

Đầu tiên, khi còn tại gia phát nguyện quy y Tam bảo và giữ tròn năm giới. Muốn cho duyên trần không còn ràng buộc thì phát nguyện xuất gia để được sống trong Tăng bảo trang nghiêm, hòa hợp.

Hành giả hành trì và tiến bước đều như vậy thì tất cả vọng tưởng điên đảo không còn quấy nhiễu.

Đã vậy, hành giả với ý chí dũng cảm mang hạnh vô úy như Bồ tát Quán thế âm đi vào đời để độ đời.

Lúc ấy Ta bà hay Tịnh độ chỉ là một. Niết bàn hay địa ngục cũng không hai.

47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng A Nan tôn giả, tay bưng bình bát khất thực thị hiện tánh bình đẳng để độ chúng sanh.

Đại ý : Bồ đà dạ bồ đà dạ là được giáo dục cho thành tựu giác ngộ. Bồ đà dạ ý nói người tu tập thì phải biết mình và ta đều có cùng một bản thể giác ngộ, không có sự sai khác.

Ý toàn câu chú là hết thảy chúng sanh đều có khả năng thành Phật; tuy nhiên, có sự nhanh hay chậm về giác ngộ là do sự tiếp thu và công hạnh tu tập của chính hành giả mà thôi.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng ngài A Nan là biểu hiệu cho sự đa văn, cho sự uyên bác về trí huệ học rộng, nhớ nhiều.

Tay bưng bình bát khấc thực là biểu hiện cho sự không mong cầu giàu sang phú quý, mà chỉ cho sự bình đẳng giữa mọi người.

Hành khấc tức là không giàu mà cũng không nghèo, tức trung đạo; điều nầy hướng dẫn cho hành giả tu tập thì đừng có tâm phân biệt ta và người, đừng câu chấp pháp thượng pháp hạ.

Bất cứ nơi nào, ở đâu cũng đều đem tâm từ ra mà ban rãi thì xấu cũng trở thành tốt, nghịch cảnh cũng trở thành thuận duyên.

Đức Phật thường dạy : Đã phát tâm tu hành thì cố gắng đạt cho được thâm lý của Phật, tỉnh ngộ pháp vô vi, trong thì không có sở đắc, ngoài thì không có sở cầu, tâm chẳng buộc vào đạo, cũng chẳng kết nên nghiệp, không tư niệm, không tạo tác, không tu, không chứng, không trải qua các quả vị, tức là đạt đạo.

Nhưng một khi đã phát đại tâm, thì phải tu đại hạnh, mà trong những hạnh môn, dùng phương pháp để dụng công, mau thành tựu, rất an ổn và viên đốn, thì không chi ngoài tín thâm chí cố khi hành trì thần chú, trì danh hiệu Phật và Bồ tát.

Chấp trì thần chú hay danh hiệu là làm thế nào đừng để tạp niệm xen lẫn vào đó là chơn tinh tấn. Cứ thế mà tinh tấn mãi không thôi, từ từ bước lần vào cảnh giới nhất tâm bất loạn để viên thành tịnh nghiệp.

Nhất tâm bất loạn là chỗ quy thú của tịnh nghiệp.

Ý câu thần chú nầy hành giả trì niệm trọn vẹn là như vậy.

48. Di Đế Lị Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng A Dật Đa Bồ Tát (tức đức Phật Di Lạc) chỉ dạy cho chúng sanh hạnh hỷ xả, sớm dứt bỏ tánh tham lam, bỏn sẻn.

Đại ý : Di đế lị (lợi) dạ (có thể đọc là rị dạ) tức là người có lòng từ ái.

Ý nói người phát tâm tu hành thì việc trước tiên là khởi lòng đại từ bi, đại hỷ xả thương xót chúng sanh, tức là có đủ tứ vô lượng tâm.

Lược giải : Hạnh từ bi là lòng lành thương yêu và đau xót.

Từ là thương tưởng, dốc lòng làm lợi ích và an lạc cho chúng sanh.

Bi là đau xót trước mọi sự đau buồn khổ não, hoạn nạn ưu sầu của chúng sanh, một lòng ra tay cứu vớt họ. Phật đối với chúng sanh xem như con một nhà, lúc nào cũng thương yêu vỗ về và tìm phương pháp đưa chúng sanh tỏ ngộ giáo lý nhiệm mầu của ngài đến nơi an lạc thì gọi là Từ. Động lòng thương xót, hết lòng tìm cách cứu vớt chúng sanh ra khỏi bể trầm luân thì gọi là Bi.

Người tu tập theo thần chú nầy cũng xem chúng sanh như anh em một nhà, mong cầu cho mọi người được giải thoát, hưởng an lạc tức là có đức Từ. Nhìn mọi người đang chịu cảnh đau khổ, động lòng thương cảm, tìm phương kế cứu giúp họ ra khỏi cảnh ấy tức là có tâm bi.

Hạnh hỷ xả tức là lòng vui vẻ, bỏ đi.

Hỷ là vui vẻ đối với phúc lợi của chúng sanh, đối với sự thành công của chúng sanh về tài vật, vui vẻ khi thấy người ta tu hành chơn chánh, vui mừng là biết được có Phật, Thánh ra đời, biết thờ phụng và vâng theo giáo lý để tu tập.

Trong Niết bàn kinh, Phật có phân biệt Hỷ với Lạc.

*. Hỷ à vui vẻ cở thấp,

*.- Lạc là vui vẻ cở cao.

Ví dụ như chư vị Bồ tát, trong khi ngưng làm việc quấy thì gọi là hỷ, trong tâm tịnh trì Giới thì gọi là lạc ; trong khi quán tưởng sanh tử thì gọi là hỷ, còn khi thấy được Đại niết bàn thì gọi là lạc…

Xả là bỏ, thí đi. Giống như tha thứ cho ai khi họ xúc phạm đến mình, hoặc đem những gì mình có như tài vật, thân mạng mà cung cấp cho chúng sanh.

Hỷ xả cũng có nghĩa vui lòng mà bố thí, đồng nghĩa với tịnh xả, tịnh thí. Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng ngài Di Lạc là muốn cho người tu tập, hành trì thần chú nầy cố gắng và đạt cho được tứ vô lượng tâm.

Khi tu, tức hành trì thần chú thì phải quán tưởng tất cả chúng sanh cùng với mình đồng một bản thể, có thể là chgo mẹ hoặc con cháu của mình từ nhiều kiếp về trước và cũng có thể là chư Phật trong tương lai.

Nếu không có đủ tâm Từ, Bi, Hỷ và Xả để cứu vớt mọi loài ra khỏi cảnh trầm luân mà chỉ biết cho riêng mình thì với tình vẫn có chỗ chưa an, với lý thì có chỗ thiếu sót.

Do đó, ngoài không thể cảm thông với Phật, trong không thể khế hợp với tánh chơn, trên không thể tròn quả bồ đề, dưới không độ khắp muôn loài chúng sanh.

Người hành trì thần chú nầy và đạt được tâm nầy tức là chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

49. Na Ra Cẩn Trì

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng đức Địa Tạng Vương Bồ tát, tay cầm tích trượng khai thị cho chúng sanh sớm giác ngộ đạo lý để xa lìa cảnh khổ đau ở ngục tam giới.

Đại ý : Na ra cẩn trì là thanh cảnh. Địa là đất, Tạng là chứa, Vương là vua.

Ý nói đất dày, rộng lớn thường che chở và chứa đủ tất cả chúng sanh và báu vật. (Báu vật ở đây là chỉ cho chánh pháp của Phật).

Lược giải : Vạn vật trong vũ trụ nầy sanh ra và biến dịch đi cũng nhờ đất mà sống rồi cũng nhờ đất bảo bọc.

Bồ tát Địa Tạng vào trong địa ngục để khai hóa và hướng dẫn ngục tốt cải tà quy chánh, học đạo, tu đạo và sớm về bờ giác.

Tay cầm tích trượng là phương tiện mở các cửa ngục để cứu ngục tốt. Vì ngài có đại nguyện là : Trong địa ngục còn ngục tốt, tội nhơn thì Ngài sẽ không thành Phật quả.

Hình ảnh Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thành Bồ tát Địa Tạng cũng không ngoài mục đích là đem từ tâm và bi nguyện để thương cảm, khuyến hóa và dìu dắt chúng sanh ra khỏi bể trầm luân.

Na ra cẩn trì là thanh cảnh, tức hành giả chịu khổ luyện tu tập lúc ban đầu, khi đến quả vị giải thoát thì thân tâm nhẹ nhàng an lạc, không còn nghiệp trần lao bao phủ; dù hành giả vào ra trong tam giới mà không bị hệ lụy với bất cứ nghịch cảnh nào.

Hình ảnh ngài Địa Tạng là hình ảnh vừa cứu giúp, vừa che chở, vừa giáo dục chánh pháp.

Hành giả nương theo hạnh nguyện của ngài thì có những phước đức như :

1. Đất cát chỗ chúng sanh nương ở trở nên thạnh mậu,

2. Nhà cửa được bình yên mãi mãi,

3. Chúng sanh sau khi mãn phần được lên cõi trời,

4. Chúng sanh đang tại thế thì tuổi thọ tăng lên,

5. Chúng sanh cầu gì cũng được toại nguyện,

6. Không chịu cảnh tai nạn nước, lửa,

7. Mọi sự hư hao thì sẽ được bù đắp lại như cũ,

9. Khi đi đó đây đều được thiện thần hộ vệ,và

10. Được phước báo gặp Thánh địa và Thánh nhơn.

Trên đây là hạnh nguyện mà cũng là phước báo của ý nghĩa địa tạng.

Tay ngài cầm tích trượng là đón nhận và che chở và cản trở những hoạn nạn cho chúng sanh. Bởi vì tích trượng còn gọi là trí trượng, tiêu biểu cho trí huệ sáng suốt của nhà tu tập. Cũng còn ý nghĩa là minh trượng và thanh trượng, nghĩa là khi dùng đến thì phát ra âm thanh như tiếng chim kêu.

Trong tích trượng chứa đủ tứ diệu đế và thập nhị nhơn duyên. Đây là tích trượng của Phật pháp.

Tu hành mà xa rời chánh pháp sẽ dễ dàng lạc đạo và đi vào ma đạo.

Hành trì thần chú nầy có công năng như vậy. Rất mong hành giả chí thâm nguyện cố hành trì thì Phật đạo sẽ có kết quả hiện tiền. Không phải tìm cầu đâu xa.

50. Địa Rị Sắc Ni Na

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Bảo Tràng, tay kết ấn, tay cầm Kim xoa tìm phương tiện lợi ích chúng sanh.

Đại ý : Địa rị (lợi hay lị) sắt ni na là bền chắc và linh lợi.

Ý nói khi tu tập thì tâm phải kiên định và phải biết dùng cây kiếm trí huệ chặt đứt mọi phiền não, chướng duyên để thẳng tiến đến đạo quả.

Lược giải : Hành giả tu tập thì trí huệ cần phải sáng suốt và quyết chí. Vì lý trí là một vũ khí sắc bén giống như một thanh kiếm quý, sắc, nhọn có thể đâm thủng, xuyên qua mọi vật. Trí huệ cũng vậy, phải biết nhìn xa, nhìn gần và hiểu rõ thế nào là chánh pháp và tà pháp. Tám cái: tà, chánh, chơn, ngụy, đại, tiểu, thiên và viên thì cái nào là đúng, cái nào là sai, hành giả gạn lọc kỷ lưỡng để tu. Gọi là trạch pháp giác chi.

Tà là ngược lại với chánh, là không ngay thẳng, không thành thật. Không theo Phật mà lại quy ngưỡng theo tà ma, quỷ mị như tà thần, tà giáo, tín tà, v..v… Dù hành giả tu theo Phật mà không rốt ráo với giáo lý, lại mộ theo âm, thanh, sắc, tướng cũng là tà.

Trong kinh Kim cang, đức Phật dạy :

Nhược dĩ sắc kiến ngã,

Dĩ âm thanh cầu ngã,

Thị nhơn hành tà đạo,

Bất năng kiến Như lai.

Nghĩa là :

Thấy sắc, cho rằng thấy Phật đà,

Nghe thanh, lại bảo đó là Ta,

Người tu như vậy, tức tà đạo,

Đâu dễ rõ tường thấy Phật a!

Chánh tức là phải, đúng. Trái với tà. Nghĩa là thuần nhất, không tạp nhạp, không thiếu sót, vững chắc, … Chơn là thật thà, thành thật. Đối ngược với giả, hư, vọng. Cùng nghĩa với thành thật, như như.

Ngụy là hư dối, không thật, không ngay thẳng, không chính đáng. Nó đối ngược với chơn.

Đại là từ chữ Phạn là Ma Ha, nghĩa là rộng lớn, bao bọc khắp cả, tức là mầu nhiệm, nhiều hơn hết. Không thể nghĩ bàn. Trong Phật pháp được tôn kính, tôn xưng thì có nghĩa là đại. Nó đối ngược với tiểu.

Tiểu hay thiểu là nhỏ, là ít, là cạn mỏng, …

Thiên có rất nhiều nghĩa, riêng về trong Phật pháp, theo nghĩa đúng là lệch về một bên, không ngay thẳng, không chơn chánh ví dụ như thiên kiến.

Viên tức là tròn trịa, tròn đầy, hoàn toàn, bao bọc khắp cả. Viên là đức tánh của Phật thanh tịnh. Có đủ phước đức và trí huệ rất trang nghiêm, lời nói của ngài được gọi là viên âm. Tiếng nói tròn trịa, nhiệm mầu.

Trong kinh Hoa nghiêm nói :

Nguyện Phật ai mẫn, Tuyên thị viên âm.

Nghĩa là :

Xin Phật thương xót, Đem Viên âm mà tỏ bày.

Điều nầy trong Quy nguyên Trực chỉ có hướng dẫn : Mỗi tiếng cất lên đều là viên âm, mỗi việc làm ra đều là Phật sự.

Nói chung là viên dung, thông suốt, vô ngại. Lý và sự đều như như, không còn nghịch nhau. Thấy nước và sóng là một, phiền não tức bồ đề, sanh tử, luân hồi là niết bàn tịch tịnh.

Chúng sanh là bổn giác, Ta bà là Tịnh độ. Tại sao như vậy, vì hành giả tu tập đến nơi rốt ráo thì tâm trí hợp nhất, viên dung tất cả.

Nói tóm lại, khi tu tập là phải biết xử dụng cây kiếm trí tuệ. Cây kiếm ấy là gì ? Đó là giới luật của Phật. Phải biết giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn là Phật pháp còn, giới luật hư hỏng là chánh pháp cũng tiêu diệt.

Đừng bao giờ có cái tâm nói : chỉ cần thiền định là minh tâm kiến tánh mà không giữ giới.

Vì thiền có nhiều cõi khác nhau, có Phật thiền, nhưng cũng có ma thiền, hành giả chưa xác định được thiền nào là của Phật, thiền nào là của ma, của Tam thừa tứ quả ; thiền mới phát tâm và thiền đã phát tâm (ví dụ như bậc A la hán thì có : A la hán hướng và A la hán quả, có nghĩa là hai bậc khác nhau – một bậc mới tập tu quả vị A la hán và một bậc đã chứng ngộ quả vị A la hán. Do đó, thiền cũng khác nhau), …

Tuy nhiên, giới luật của Phật là tùy tâm phát nguyện cầu thọ. Hành giả cẩn thận điều nầy.

51. Ba Dạ Ma Na

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Bảo Kim Quang Tràng, tay cầm Bạt chiết La xử làm phương tiện độ sanh.

Đại ý : Ba dạ ma na tức nghe tên (danh văn). Nghe tên đều hoan hỷ, vui mừng.

Ý nói, khi chúng sanh nghe được tiếng Phật, tiếng Bồ tát, tiếng Phạm âm vang ra thì phát lòng hoan hỷ, sung sướng đón nhận, tiếp thu mà không nghĩ ngợi, ngăn ngại.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm có mười hai đại nguyện.

Nguyện thứ chín là :

“Tạo pháp thuyền, du khổ hải, Quán âm Như lai, độ tận chúng sanh nguyện”.

Nghĩa là :

Ngài tạo ra chiếc thuyền pháp, bơi đi trên biển khổ, đức Quán âm Như lai, nguyện với chúng sanh khỏi nạn trầm luân.

Do đó, ngài tùy thuận chúng sanh mà hóa hiện đủ thân hình để hàng phục, để hóa độ, khiến chúng sanh sớm ra khỏi cảnh giới đau khổ, sớm lên bờ giải thoát. Vì vậy, bất luận là hạng chúng sanh nào khi nghe đến danh hiệu của ngài đều hoan hỷ phát tâm tin theo; đồng thời, thọ nhận chánh pháp mà tiến tu đạo nghiệp sớm thành tựu. Ba dạ ma na là như vậy, hành giả nương theo câu thần chú nầy nhất tâm trì niệm thì chắc chắn sớm đạt được vô thượng bồ đề.

Tay cầm Bạt chiết La xử tức là pháp khí (chánh pháp) có đủ năng lực tự độ, độ tha (tự tha kiêm lợi). Hành giả ý thức được điều nầy thì vấn đề phát tâm tu niệm không còn ngăn ngại, thoái chí.

52. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng ba đầu Viên Tịch Thắng Nghĩa để phổ độ chúng sanh.

Đại ý : Ta bà ha là lòng mong mỏi được gặp, được diện kiến, phát lòng hoan hỷ.

Ý nói khi hành giả phát tâm trì niệm thì mong muốn được cảm ứng, được thấy tướng hảo của Ngài như ước nguyện.

Lược giải : Ta có nghĩa là bền vững, Bà là điều tốt, điều xấu. Ha là chơn không mà diệu hữu, tức thắng diệu vậy.

Cho nên Ta bà ha là hết thảy các pháp thì bất sanh, bất diệt, vốn tịch tịnh, tự nó như như bất động.

Cũng có một nghĩa đặc biệt là : cảnh giới Ta bà tuy là cảnh giới ngũ trược, nhưng lại là cảnh giới phàm thánh đồng cư.

Vì vậy mà trong kinh Nhân vương gọi là có bí tàng vô trú niết bàn, với năm ý nghĩa gồm: cứu cánh, viên mãn, kính giác, thành tựu và tán khứ.

Cứu cánh tức rốt ráo, Viên mãn là tròn đầy (nhơn viên quả mãn), Kính giác là ngưỡng mộ bậc giải thoát rốt ráo, Thành tựu tức gom góp lại những kết quả viên mãn và Tán khứ (Tán là làm cho tan mất, Khứ là mất đi, tiêu đi, …) làm cho tiêu mất các nghiệp chướng nhỏ nhiệm, vi tế để được giải thoát.

Vậy, Ta bà ha là thành tựu, điềm lành, viên tịch, tiêu tai, tăng ích và vô trú đó là sáu nghĩa mà hành giả phải lưu tâm và quán chiếu mãi mãi để sớm ở trong cửa của đạo.

Khi đã thấy đạo rồi, ngộ đạo rồi, chứng đạo rồi thì vạn duyên đến hay đi đều không vướng mắc; như kinh Kim cang dạy: Pháp thân không phải là tướng, là nghĩa trên đây vậy.

53. Tất Đà Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Xá Lợi Phất, tay kết ấn Liên thủ, thông đạt được tất cả các pháp.

Đại ý : Tất đà dạ là nghĩa thành, thành thục, thành tựu.

Ý nói đã chịu khó dụng công tu niệm, hành trì, khổ luyện theo Phật pháp thì một ngày rất gần Phật đạo sẽ viên mãn.

Lược giải : Sở dĩ chúng sanh không thành Chánh giác được là vì say đắm trong ngũ dục. Lý do chính là vì chúng sanh nằm trong vỏ vô minh, trong rừng phiền não.

Vô minh tức là không sáng suốt, tâm tánh ám độn ; không hiểu rõ những pháp về sự cũng như về lý, tức là si mê. Đại thừa Phật giáo bảo đó là loại không có huệ minh. Trong Thập nhị nhơn duyên thì nó đứng đầu.

Tứ thập nhị chương kinh bảo : Người nhìn được đạo cũng giống như cầm đuốc đi vào nhà tối, tức thì cái tối nó tiêu tan, chỉ còn ánh sáng.

Học đạo thấy được chơn lý thì cái vô minh (ám độn) liền tiêu diệt, chỉ còn ánh sáng (tức giác ngộ) sẽ hiện hữu.

Theo Phật học Giáo khoa thư, thì : Vô minh nghĩa là không minh bạch, không rõ ràng, không sáng suốt, ..

1. Không minh bạch rằng cái thân thể không phải là mình (thân thể phi ngã).

2. Không minh bạch rằng vạn vật đều không.

3. Không minh bạch rằng tất cả đều giả dối, không thật, không trường tồn.

Vô minh là như vậy. Hành giả nhớ lưu tâm.

Phiền não tức là mê dục, lầm lạc, nó gây ra do ba điều chính : tham, sân và si.

Đó là ba phiền não lớn nhất của chúng sanh. Vì khi phiền não dấy lên thì tâm lo buồn, vọng động, thân xao xuyến, bất an.

Phiền não dấy lên khiến cho chúng sanh hành động về ba nghiệp thân, miệng và ý sai lạc, đi vào đường tội lỗi ; từ đó, gánh lấy quả báo về sau.

Phiền não được gọi tắt là : cấu, lậu, nhiễm, kết, sử, hoặc, … để đối với bồ đề, niết bàn, giải thoát, …

Đức Phật dạy trong kinh Quán vô lượng thọ Phật như sau : Phiền não là giặc làm hại chúng sanh.

Muốn tránh thì phải phát tâm tu thiện nghiệp. Chuyển tham sân si thành giới định huệ để có phước báo trở về cảnh giới tịnh độ an lạc.

Muốn được như vậy, hành giả phải phát tâm :

a. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, phát tâm từ bi đừng giết hại sanh mạng, bỏ mười điều ác (thập ác) để thành mười điều thiện (thập thiện).

b. Thọ Tam quy, trì Ngũ giới, nếu khá hơn nữa thì từ từ bước lên hàng xuất gia, thọ mười giới rồi thọ Cụ túc giới ; không phạm oai nghi, tế hạnh. Luôn luôn sống thanh tịnh trong giới luật.

c. Phát Tâm bồ đề rộng lớn, tin sâu và chắc vào lý nhơn quả, phát nguyện đọc tụng kinh Đại thừa, trì niệm hồng danh Phật và Bồ tát cũng như thần chú phải cần chuyên ; cố gắng khuyến tấn mọi người cùng phát tâm như mình.

Hành giả khi chưa minh tâm kiến tánh thì bị phiền não lôi cuốn, khi chứng ngộ rồi thì phiền não được tiêu tan, dứt sạch.

Trong kinh Pháp bảo đàn phẩm thứ hai, đức Lục tổ Huệ Năng dạy rằng : Phàm phu tức là Phật, Phiền não tức Bồ đề.

Niệm trước còn mê tức là phàm phu, niệm sau giác tỉnh tức là Phật.

Niệm trước còn mắc vào cảnh tức phiền não, niệm sau lìa khỏi cảnh tức Bồ đề.

Nói tóm lại, Tất đà dạ là câu thần chú khuyến tấn hành giả hành trì để gạt bỏ ái ân, danh lợi phiền lụy của mình để thoát ra khỏi tam giới (tức đã thành Chánh giác), rồi trở lại tam giới mà độ sanh.

Sở dĩ Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng của ngài Xá Lợi Phất không ngoài mục đích là tu hành thì phải có trí tuệ. Ngài là hiện thân trí tuệ thứ nhất trong mười vị đệ tử lớn của đức Thế Tôn.

Người tu hành mà không có trí tuệ thì không thể thấy đạo, tu như vậy là tu mù.

54. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Hằng Hà Sa, đứng trên đầu rồng, dùng nước cam lồ để rưới tắt phiền não, dục tình cho chúng sanh với tâm cát tường, từ bi của ngài.

Đại ý : Ta bà ha là bậc đã được thành tựu. (xin xem đại ý trang 160). Chữ Ta bà ha cũng có thêm nghĩa là kết thúc trong giải thoát.

Lược giải : Phần nầy cũng tương tự như trang 160. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi nhấn mạnh thêm rằng : Muốn kết thúc khổ đau, tất cả phiền não và vô minh phải được diệt trừ.

Trong những trang trước, chúng tôi có nói và giải thích về hai vấn đề Vô minh và Phiền não ra từng phần một; nhưng, thật sự không phải là hai mà vô minh tức phiền não và ngược lại.

Để bổ túc thêm cho phiền não được hiểu tường tận hơn, có nghĩa là phiền não của chúng sanh gồm nhiều thứ :

a.- Có bốn phiền não (tứ phiền não), cũng được gọi là Tứ hoặc. Bốn phiền não cội rễ nầy, thường ứng với Mạc na thức (thức thứ bảy trong Duy thức học) :

1.- Ngã si, tức tánh ngu si, vô minh của mình.

2.- Ngã kiến, tức ý kiến chấp có mình, chỉ thấy có riêng mình là quan trọng mà thôi.

3.- Ngã mạn, tức tánh khinh khi, cho mình là hơn hết, xem mọi người là thua kém hơn mình (mục hạ vô nhơn nghĩa là dưới mắt mình không có ai đáng giá).

4.- Ngã ái, tức tánh tự ái, thương cho riêng bản thân mình, lòng tham dục cho mình.

b.- Có sáu phiền não lớn (lục đại phiền não):

1.- Tham,

2.- Sân,

3.- Si,

4.- Mạn,

5.- Nghi,

6.- Ác kiến (ganh ghét, tin bậy, tưởng sai).

c.- Có mười phiền não (Thập phiền não) cũng được gọi là Thập sử :

1.- Tham dục,

2.- Sân nhuế,

3.- Vô minh (ngu si),

4.- Mạn,

5.- Nghi,

6.- Thân kiến (Ngã kiến),

7.- Biên kiến,

8.- Tà kiến,

9.- Kiến thủ kiến, và

10.- giới thủ kiến.

Trong Mười phiền não trên đây, Năm phiền não trước là của người chậm lụt, kém thông minh (đần độn), Năm phiền não sau là của người lanh lẹ (lanh lợi, thông minh).

d.- Có 108 phiền não (bách bát phiền não), cũng gọi là Bách bát kết nghiệp.

e.- Chúng sanh có đến tám vạn bốn ngàn phiền não, cũng gọi là Bát vạn tứ thiên bệnh hay Bát vạn tứ thiên trần lao.

Tất cả đều do tham-sân-si biến hóa ra thành vô số phiền não nên được gọi là Bát vạn tứ thiên phiền não.

Trong kinh Nhơn thiên hộ quốc Bát nhã ba la mật có nói : Bồ tát khi chưa thành Phật, lấy bồ đề làm phiền não, Bồ tát khi đã thành Phật lấy phiền não làm bồ đề. Tại sao như vậy? Nghĩa là đối với đệ nhất nghĩa đế thì không có hai lẽ (phiền não và bồ đề).

Chư Phật trong mười phương đối với các pháp, nhìn các pháp thì như nhau.

Trong Du già luận, quyển tám có nói : Các đầu mối lầm lạc, phiền não, mê dục phát khởi là do từ trong tâm phát sanh ra, khiến cho chúng sanh nói quấy, nghĩ bậy, làm sai đều do sáu nhơn duyên :

1.- Do tự lòng mình (do sở y) : Vì tự tánh của mình đã có sẵn tham luyến, vọng tưởng, tà kiến, nên phiền não nẩy sinh.

2.- Do cảnh ngộ (do sở duyên) : Thuận theo các cảnh phiền não phát sanh ra trước mình.

3.- Do chỗ quen thuộc, gần gũi (do thân cận) : Do học theo bạn xấu, thầy tà.

4.- Do giáo lý tà quái (do tà giáo) : Vì nghe theo những phép chẳng lành, tà phái.

5.- Do tánh quen (do sở tập): Từ trước đã học, đã quen theo thói hư tật xấu, nay nó kết thành thế lực rất mạnh, dễ sai khiến sai trái con người.

6.- Do chỗ tác ý (do tác ý) : Ý tưởng phát ra không đúng với chánh pháp.

Hành giả muốn đạt được vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì trong lúc phát khởi tu tập phải nhất tâm đoạn trừ phiền não.

Bồ tát Quán thế âm nhìn chúng sanh có hằng hà sa phiền não, ngài cũng hóa thân thành Bồ tát Hằng hà sa mà cảm hóa.

Hành giả quán triệt như vậy thì dễ dàng thẳng tiến Phật đạo không xa. Đó chính là thành tựu, đại thành tựu.

55. Ma Ha Tất Đà Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Phóng Quang, tay cầm tràng phan quý báu để dẫn dắt và hóa độ chúng sanh.

Đại ý : Ma ha tất đà dạ tức đại nghĩa.

Phật pháp là vô lượng vô biên, mọi chúng sanh phát tín tâm tu niệm thì đều được thành đạt. Sự thành đạt rất lớn lao (ma ha) trong Phật pháp là thành Phật.

Lược giải : Tất đà dạ là viên thành, thành tựu. Ma ha tất đà dạ là thành tựu rốt ráo lớn lao, không thể nghĩ bàn, đó là quả vị trong tam thừa, tứ quả và quả vị viên mãn là Phật. Ma ha tất đà dạ cũng có nghĩa là đại nghĩa.

Đại nghĩa ở đây phải hiểu Chánh pháp rộng, sâu không thể dùng tâm trí bình thường mà suy nghĩ, suy lường được. Phải thực sự đi vào đạo và thực sự tu tập hành trì, khổ luyện mới có thể thấy.

Muốn được như vậy, hành giả cần phải quyết tâm phát nguyện là : Tín bất thối, hạnh bất thối và nguyện cũng bất thối.

Người phát tâm tu Phật mà không có ba điều: tín-hạnh-nguyện theo sát với hành giả tức là tà đạo ; đồng thời, đạo khó mà thâm nhập được.

Trong kinh đức Phật dạy cho hàng đệ tử :

Bát văn ái đạo, đạo tất nan hội,

Dĩ chí phụng đạo, kỳ đạo thậm đại.

Nghĩa là :

Nghe nhiều học rộng, đạo khó thâm nhập,

Hết lòng hành đạo thì đạo mới thấu suốt.

Đừng bao giờ chạy theo những hư ảo của thế gian mà hoang phí mất một đời người.

Hành giả nhất tâm phụng hành lời Phật dạy thì sẽ được thành tựu đại nguyện, quả vị sớm viên thành.

56. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Mục Kiền Liên, tay cầm tích trượng, tay nâng bình bát, hướng dẫn chúng sanh sớm dứt trừ tai chướng, cứu độ chúng sanh ra khỏi cảnh trầm luân.

Đại ý : Ta bà ha là bậc chứng ngộ, đã thành tựu đại nguyện (Xin xem ý nghĩa từ trang 160 và các trang ở trước đây có chữ Ta bà ha. Vì cùng một ý nghĩa).

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Mục kiền liên là Ngài muốn hướng dẫn chúng sanh phải biết : Tôn giả Mục kiền liên trước khi xuất gia đầu Phật là anh em kết nghĩa với Tôn giả Xá lợi Phất, một trong những vị luận sư nổi tiếng của một trong sáu phái luận sư Ấn độ thời đức Phật.

Sau khi gặp đức Phật, cả hai ngài đều theo Phật và là một trong mười vị đệ tử lớn của Phật. Ngoài hạnh hiếu, chứng thần thông của ngài, ngài thị hiện và hướng dẫn chúng sanh sớm ý thức bỏ tà quy chánh.

Ngài nhắn nhủ cho chúng sanh rõ : Dù thông minh, tài trí anh hùng; ngu si, dại dột mà không tu học, đạt đạo cuối cùng cũng chỉ lên xuống trong sáu nẻo luân hồi.

Chỉ có giáo lý Phật là chiếc thuyền đưa người qua bể khổ, sông mê. Lòng thương của Phật, của chư Bồ tát mà đặc biệt là Bồ tát Quán thế âm luôn luôn theo sát chúng sanh để cứu độ dưới nhiều hình thức khác nhau.

Hành giả muốn thân chứng Phật đạo thì nhất tâm phụng hành thần chú nầy sẽ được toại nguuyện.

57. Tất Đà Du Nghệ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng cảnh giới Tây phương cực lạc, có đủ chư thiên, Bồ tát đều vân tập để nghe pháp.

Đại ý : Tất đà là lợi ích được thành tựu, Du nghệ là vô vi pháp.

Ý toàn câu là tất cả thánh hiền và nhân dân ở thế giới cực lạc, sau khi nghe được pháp vô vi của Phật thuyết ra, ai ai cũng đều được thành tựu an lạc giải thoát.

Lược giải : Thế giới cực lạc là thế giới thanh tịnh phàm thánh đều ở chung với nhau (phàm thánh đồng cư tịnh độ khác với cõi Ta bà là phàm thánh đồng cư uế độ).

Vì là phàm thánh đồng cư nên trọn cả ba cõi : Phương tiện, Thiệt báo và Tịch quang.

Đặc biệt là chúng sanh nào được vãng sanh về đây, dù chưa chứng ngộ lên bậc thánh nhưng đều không bị đọa vào ba con đường dữ; từ đó, hội đủ phước đức nhơn duyên mà tiến tu đạo nghiệp.

Vì sao Bồ tát Quán thế âm hóa hiện cảnh giới cực lạc ? Và, vì sao được gọi là cảnh giới cực lạc ? Vì chúng sanh ở cõi ấy không phạm những điều ác hoặc gặp những điều ác làm thống khổ mà lại chỉ hưởng toàn những phước báu an vui nên được gọi là cực lạc.

Vả lại, Bồ tát Quán thế âm muốn tất cả chúng sanh trong ba cõi đều được về cõi tịnh độ cực lạc, thứ nhất khỏi đọa vào ba đường dữ, thứ hai dễ dàng tu tập. Điều tối thắng của nước cực lạc là đi tắt ngang ra ngoài ba cõi.

Nước cực lạc không có biển xanh biến thành ruộng dâu (thương hải biến vi tang điền) như ở cảnh giới Ta bà nầy. Thường nghe diệu pháp, tâm luôn ở trong chánh kiến và chánh tư duy, nghĩa là sự thấy cũng như sự suy nghĩ đều chơn chánh.

Vì do tâm thấy được chơn lý của bốn đế là khổ, tập, diệt và đạo. Chánh kiến là dùng cái huệ vô lậu mà làm thể, và là chủ thể của bát chánh đạo. Đã thấy được lý tứ đế rồi, còn phải tư duy để cho chơn lý ấy được tăng trưởng, lấy cái tâm sở để làm thể. Về thế giới cực lạc thì được trí huệ thanh tịnh, không gặp phiền não rắc rối, dễ dàng tu tập.

Được vào trong tam thừa, nên cái trí thanh tịnh và vô lậu, vì không bị nhiễm ô nên dễ dàng xa lìa phiền não.

Mọi người trong thế giới nầy, mình và người đều bình đẳng, vì hoàn toàn là người lành (thiện nhơn), không còn phân chia thượng cấp với hạ cấp. Ai tu tập thì đều được chứng đắc quả vô sanh, vì không có ác đảng cấu xé nhau. Về thế giới cực lạc thì Phật và chúng sanh tuổi thọ dài như nhau, vì do lấy trí huệ làm sanh mạng, nên không còn sanh tử luân hồi.

Bởi vậy, cảnh giới tịnh độ cực lạc hội đủ các điều :

1. Kiếp thanh,

2. Kiến thanh,

3. Phiền não thanh,

4. Chúng sanh thanh và

5. Mạng thanh, khác hẳn với cảnh giới Ta bà là :

1. Kiếp trược,

2. Kiến trược,

3. Phiền não trược,

4. Chúng sanh trược và

5. Mạng trược.

Tất cả chúng sanh được sanh về thế giới cực lạc thì :

1. Không khổ khổ, nghĩa là có vui trong vui.

2. Không hoại khổ, nghĩa là cái vui chẳng bị biến hoại và

3. Không hành khổ, nghĩa là vui với trí bất động.

Trái lại, cảnh giới Ta bà gặp tám điều khổ :

1. Bệnh sanh đẻ,

2. Phải già yếu,

3. Chịu đau đớn,

4. Cuối cùng phải chết,

5. Cầu không được cũng khổ,

6. Thương yêu nhau mà xa lìa cũng khổ,

7. Thù ghét mà gặp nhau cũng khổ và

8. Ngũ ấm xí thạnh khổ (Thân tâm dần dần dời đổi sự tiêu mòn của mỗi niệm chẳng ngừng, giống như lửa cháy bùng càng ngày càng bị thiêu hủy thân tâm của mỗi một chúng sanh).

Trên đây, chúng tôi chỉ đơn thuần lược sơ một vài phước báo của cảnh giới Cực lạc và một ít những khổ đau phiền lụy của cảnh giới Ta bà để, hành giả thấy rõ mà tiến tu đạo nghiệp; đồng thời, để hiểu lý do tại sao Bồ tát Quán thế âm hóa hiện cảnh giới tịnh độ, không ngoài mục đích chỉ dẫn cho chúng sanh phát tâm dõng mãnh tu tập và phát nguyện về đó.

Điều đặc biệt là : Khi được về cảnh giới tịnh độ, điều tối yếu là không bị đọa vào ba đường khổ, nên dễ dàng mà tu niệm bất cứ pháp môn nào.

Khi tu có thiện tri thức dẫn dắt, được Phật và Bồ tát gia hộ.

58. Thất Bàn Ra Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Thiên tướng Tự tại Viên mãn, hai tay chấp lại với ấn cam lộ, dùng định lực cứu độ chúng sanh.

Đại ý : Thất bàn ra dạ là bậc Đại tự tại.

Ý nói : Khi tu hành đắc đạo, đắc pháp đến viên mãn tâm an lạc và tự tại. Thiên tướng Viên mãn Tự tại là vậy.

Lược giải : Tự tại là kết quả của những thời gian tu luyện và đi theo chánh pháp. Được pháp tự tại thì: thân tự tại, tâm tự tại, cảnh tự tại và trong ngoài đều an nhiên tự tại, vô ngại.

1. Tự tại về vật chất, tức là tùy ý mình từ vấn đề ăn ở, đi đứng tới lui, có quyền sắp đặt theo ý.

2. Tự tại về tinh thần, tức lòng dạ không còn bị ràng buộc của phiền não. Sống trong chánh pháp.

3. Tự tại và vô ngại về cả hai phương diện trên, tức là đã đắc đạo giải thoát như các bậc ở trong quả vị của Tam thừa, tứ quả.

Do đó, nó có đến Mười tự tại :

1. Mạng tự tại tức đời sống an nhiên,

2. Tâm tự tại tức lòng dạ thảnh thơi,

3. Tư cụ tự tại tức tiền của vật chất vừa phải, đủ dùng,

4. Nghiệp tự tại tức nghiệp quả không có báo ứng đau khổ.

5. Thọ sanh tự tại tức tùy theo tâm niệm của mình, phát nguyện sanh bất cứ cảnh giới nào, không bị ràng buộc,

6. Giải tự tại tức sự hiểu biết tự tại,

7. Nghiệp tự tại tức sức nguyện được tùy ý,

8. Thần lực tự tại tức thần thông tự tại, muốn biến hiện thế nào cũng được,

9. Pháp tự tại tức việc hoằng truyền và phổ độ được tùy duyên, và

10. Trí tự tại tức trí huệ an nhiên.

Cũng có tám tự tại thường gọi là bát tự tại, khi chứng ngộ thành quả vị Phật thì xứng tụng là bậc Tự tại nhơn.

Vì ngài có đủ tám đức tự tại và chứng đắc được Đại ngã. Tám đức ấy gồm :

1. Ngài dùng một thân mà thị hiện ra nhiều thân, nhiều vô lượng vô số không thể đếm kể cho xiết,

2. Thân như số vi trần của ngài bao trùm khắp cả tam thiên đại thiện thế giới,

3. Cái đại thân của ngài nhẹ nhàng bay lên hư không, bay khắp cả hằng hà sa cõi (trong kinh Pháp hoa phẩm nói về Bồ tát Dược vương và Bồ tát Dượng thượng đi lên, đi xuống và vào ra nước, lửa, hư không mà không ngăn ngại),

4. Ngài biến hiện ra vô lượng hình thể đủ các thứ thân hình (ví dụ như Bồ tát Quán thế âm có 32 ứng thân, v.v..),

5. Sáu căn của ngài đều tự tại, dùng một căn mà cũng đồng như sáu căn (Nhìn hình ảnh Bồ tát Chuẩn đề vương, …),

6.Ngài chứng đắc tất cả các pháp, nhưng ngài không thấy có chứng đắc, không thấy vướng bận, …

7. Ngài thuyết pháp độ sanh không ngăn ngại mà tự tại, những giáo pháp của ngài nói ra đều tự tại dù trãi qua vô lượng kiếp nhưng ý nghĩa vẫn trường tồn và không sai khác,

8. Ngài tự bủa mình khắp nơi, chúng sanh vẫn thấy mà dường như hư không. (Quý vị nào muốn rõ, xin mở kinh Đại Bát Niết Bàn, quyển 33 thì rõ ràng hơn).

Hành giả muốn an nhiên tự tại thì trì niệm thần chú nầy hoặc trì niệm hồng danh, lễ bái tinh tấn, cần chuyên thì sẽ được toại nguyện, như ý.

Lợi ích tu niệm, hành trì là như vậy.

59. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả A Xà Na, hai tay hoan hỷ nâng cao bình bát tăng trưởng tâm lợi ích độ sanh.

Đại ý : Ta bà ha là bậc tự tại bởi Tất địa và Du già.

Ý nói phối hợp sự thành tựu cho mình và cho chúng sanh, cho muôn vật, thành tựu cho thế gian và cho cả xuất thế gian. (Thành tựu, đại thành tựu).

Lược giải : Tất địa cũng gọi là Tất đạt đa, Tất đạt, Tất đà, Tất đàn. Tất đàn tức là sự thành tựu (giống như trên đây). Du già tức là sự phối hiệp, tương ứng.

Đó là những phương thức tu hành, luyện đạo mục đích là làm cho thần hồn của mình phối hợp với cái hồn chung cùng bao quát vạn vật.

Tức là cách tu tập để đạt được tương ứng, tương đồng giữa mình và vũ trụ bao la, bát ngát để được cùng về với đức Chí tôn, tức là đức Phật Đại Nhật. Pháp môn Du già có trước khi đức Thích Ca ra đời.

Cho đến khi thành đạo và khai truyền chánh giáo ; có nhiều vị sư Du già đến thọ giáo với đức Thích Tôn.

Dù là tu sĩ Phật giáo hay ngoại đạo, đều có thể tu pháp môn Du già, tức là tu thiền định thật kiên cố, cho thần trí phối hợp, dung hòa, tương ứng với chư Phật, chư Bồ tát ở khắp các cõi.

Vào thế kỷ thứ năm, ngài Vô Trước, ngài Thế Thân đã nhập định lên cung trời Đâu suất để đàm luận Duy thức với đức Phật Di Lặc và được ngài truyền bộ luận Du già cùng một số kinh Đại thừa.

Ý nghĩa của Ta bà ha là như vậy. Hành giả nhất tâm hành trì thần chú nầy, cũng nhập định và sẽ được như nhị vị Thế Thân và Vô Trước.

60. Na Ra Cẩn Trì

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Sơn Hải Huệ, tay cầm kiếm vàng hóa độ thánh giả Tiểu thừa.

Đại ý : Na ra cẩn trì là hiền hòa và dễ mến.

Câu thần chú nầy cũng có một ý nghĩa là trí huệ rộng rãi bao la là quảng đại từ bi, khuyến tấn bỏ tiểu hướng đại.

Lược giải : Bồ tát Sơn Hải Huệ với ý nghĩa là trí huệ cao thâm, rộng rãi bao la. Hướng dẫn chúng sanh bỏ tâm địa nhỏ hẹp, bỏn sẻn để bước vào tâm địa độ lượng, nhân từ, lợi tha một cách rộng rãi.

Vậy hành giả cần phải hiểu thế nào là Tiểu thừa ? Đại thừa ? Chánh âm là Tiểu thặng tức cổ xe nhỏ. Đại thặng tức cổ xe lớn. Ý nói phát tâm tu ngồi trên cổ xe nhỏ để đến tiểu quả niết bàn của bậc La hán và Bích chi Phật (Độc giác), tự tu tự chứng cho mình trước, hóa độ tính sau, thì đó là Tiểu thừa tâm.

Còn, nếu muốn thông suốt tất cả, đầy lòng từ bi quảng đại, muốn độ hết thảy chúng sanh, vừa tu mà vừa độ; đồng thời cũng chịu khổ với chúng sanh thì đó là bậc Đại thừa tâm. Nghĩa là ngồi trên cổ xe lớn đến thẳng các bậc Bồ tát và quả vị Phật.

Trước tiên, chúng tôi có lời đến quý Tu sĩ, cư sĩ khi đọc phần nầy, nên nhận xét và bình tâm tỉnh trí, đừng vội phán xét gì cả.

Không biết xuất xứ từ niên đại nào, do ai phổ biến để thành: phái Tiểu thừa và phái Đại thừa ?

Ở đây theo sự giải thích qua Phật học từ điển của cụ Đoàn Trung Còn như sau :

a. Phái bộ đi truyền giáo xuống phương nam thì gọi là Nam tông hay Tiểu thừa như : Cao miên, Ai lao, Thái lan, Miến điện, Tích Lan, vì ở miền nầy các tu sĩ giữ y theo cổ lệ, không tùy phương tiện mà giáo hóa chúng sanh.

b. Phái bộ truyền lên miền bắc thì gọi là Bắc tông tức Đại thừa như : Trung hoa, Nhật bản, Tây tạng, Mông cổ, Cao ly và Việt nam …, vì ở miền nầy, các tu sĩ vừa tu vừa học và hành trì theo hạnh của các bậc Bồ tát, không chú ý đến quả vị La hán mà chủ ý đến quả vị rốt ráo là thành Phật.

Thật ra danh xưng Tiểu thừa và Đại thừa thì có vào thời Đức Phật còn tại thế. Theo chúng tôi được hiểu thì Tiểu thừa và Đại thừa là ở tâm nguyện, công hạnh hành trì và độ sanh, chứ không phải xuôi nam là Tiểu, lên bắc là Đại theo danh tướng bên ngoài.

Cuộc hoằng hóa của đức Phật lúc ban sơ ngài định đem Thanh văn thừa hay Tiểu thừa mà độ sanh.

Ngài dạy Tứ diệu đế để họ đắc quả La hán ; kế đó, ngài dạy Duyên giác thừa tức Trung thừa, đức Phật hướng dẫn quán Mười hai nhơn duyên để chứng Duyên giác hay Bích chi Phật (tức Độc giác).

Khi chúng đệ tử của ngài đã khai hóa trí tuệ rồi, ngài liền hướng dẫn lên hàng Bồ tát thừa, ngài dạy cho hạng nầy tu Lục độ vạn hạnh.

Sau cùng, ngài gom cả ba thừa làm thành một (nhất thừa) và được gọi là Đại thừa hay Phật thừa, Tối thượng thừa, Thắng thừa, Vô thượng thừa, Vô đẳng đẳng thừa.

Thời gian sau cùng, ngài chỉ dạy Đại thừa qua kinh Pháp hoa ở núi Kỳ xà quật (Linh thứu sơn), ngài cổ xúy và xiển dương giáo lý Đại thừa rất đắc lực, khiến cho chúng sanh mà đặc biệt là hàng đệ tử đã theo ngài từ lâu phát tâm rất dõng mãnh, quyết tu cho đến quả vị rốt ráo là thành Phật (hình ảnh của Thập đại đệ tử như Xá lợi Phất, Mục kiền Liên, Ca Diếp, A Nan, La hầu La, Tu bồ Đề, v..v…).

Ở trong kinh Pháp hoa, phẩm Thí dụ có nói rằng: Như có những chúng sanh nào từng theo Phật Thế tôn nghe pháp và tin lấy, thọ lấy, cần tu tinh tấn, cầu cho được cái Trí hiểu biết tất cả (nhất thế trí), cái Trí của Phật, cái Trí tự nhiên, cái Trí không thầy, cái Trí của bậc Như lai, cái Sức lực không sợ, lòng nhớ tưởng thương xót và làm an lạc vô lượng chúng sanh, làm lợi ích cho tất cả cõi trời, cõi người, độ hết thảy như vậy thì được gọi là Đại thừa.

Vì vậy, hành giả phải thấu triệt danh từ, ngữ ngôn để hành trì.

Trong sử sách, điển tịch dạy về đạo Phật thì có hai giáo pháp : Giáo pháp cỡ lớn và giáo pháp cỡ nhỏ.

Đối với chúng sanh trình độ cạn cợt, thấp kém, đức Phật đem giáo lý cỡ nhỏ (Tiểu thừa) mà dạy, như Tứ diệu đế, Thập nhị nhơn duyên để chứng lấy quả vị Thanh văn, Duyên giác; đối với chúng sanh có trình độ cao, thông minh đức Phật đem giáo pháp cỡ lớn (Đại thừa) mà dạy, như Lục độ vạn hạnh để chứng lên quả vị Bồ tát, Phật.

Sau khi đức Phật nhập diệt, đệ tử của ngài (các vị tổ) quy nạp rằng : Giáo pháp cỡ lớn thì gọi là Đại thừa tức Bồ tát tạng, Giáo pháp cỡ nhỏ thì gọi là Tiểu thừa tức Thanh văn tạng.

Xin hành giả cứ y theo như đây mà hành trì thì được rõ ràng. Theo câu thần chú thì Bồ tát Quán thế âm muốn chúng sanh bỏ Tiểu hướng Đại.

61. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Chiên Đà La, quảy nón lá vô trụ thắng nghĩa, hóa độ chúng sanh.

Đại ý : Ta bà ha là thành tựu viên mãn. (xin xem đại ý trang 160 hay các trang có chữ Ta bà ha).

Lược giải : Thành tựu viên mãn ở đây là thành tựu viên mãn kết quả sự tu tập của hành giả. Thành tựu hết các pháp công đức, chứng được niết bàn.

Hành giả khi chơn thật phát tâm hành trì thần chú cũng như niệm Phật trì danh :

Trong thì quên thân, ngoài quên cảnh như vậy được gọi là Bố thí.

Không sanh lòng tham được cái nầy, cái nọ, hoặc có tâm giận hờn, sân si tức là Trì giới.

Không câu chấp vào các tướng trạng, hoặc thị phi nhơn ngã tức là đã Nhẫn nhục.

Chấp trì thần chú cũng như trì danh hiệu Phật hay Bồ tát mà không hững hờ, không buông lung tức là Tinh tấn.

Tâm vắng lặng nhất như, không vọng tưởng, móng khởi thì được Thiền định.

Tâm không còn vướng mắc hay bị ràng buộc với trần lao tức là đã có trí huệ.

Ngay như hạng Chiên đà la là hạng hạ tiện nhất ở Ấn độ, một giai cấp thấp hèn, sau bốn giai cấp thông thường là : Sát đế lợi, Bà la môn, Phệ xá và Thủ đà la.

Hạng Chiên đà la là hạng chuyên môn làm thịt, đánh cá nô bộc, cho nên bốn hạng trên cho họ là ác, trược.

Nam gọi là Chiên đà la, nữ gọi là Chiên đà lỵ.

Ngày nay gọi là giai cấp Ba lỵ a (Pariaha).

Khi đức Phật còn tại thế, ngài có lòng từ bi vô lượng, không những thâu nhận bốn hạng người trên vào trong hàng đệ tử xuất gia cũng như tại gia của ngài; ngài còn thâu nhận và truyền trao giới pháp cho hạng thứ năm Chiên đà la nầy nữa, cũng đắc pháp đắc quả (Tôn giả đệ bát tổ Ưu Ba Ly, Luật tạng đệ nhất, trước kia làm nghề gánh phân).

Đức Phật đã đem giáo lý Lục hòa và tâm bình đẳng mà ban rãi khắp cho tất cả, không có sự phân biệt gì cả.

Khi đi khất thực, đức Phật cũng như hàng đệ tử của ngài vừa vào nhà quý tộc Sát đế lợi mà cũng vào nhà đê tiện Chiên đà la. Phật pháp không biên cương, không cao hạ, tiến tu thì đắc pháp, đắc quả như nhau. Buông dao đồ tể là cũng được thành Phật. Diệu pháp là như vậy.

Điều quan yếu là có chịu tu tập hay không mà thôi và khi hành trì thần chú hay niệm Phật có nhất tâm hay không mà thôi, chứ đừng lo đạo quả không viên thành.

62. Ma Ra Na Ra

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Bảo Ấn Vương, tay cầm búa vàng như ý, kiểm nghiệm tâm ý chúng sanh.

Đại ý : Ma ra là như ý, na ra là tôn thượng, tối tôn.

Nghĩa là sau khi tu tập rốt ráo thì sẽ được chứng quả vị tối thượng là Phật quả.

Lược giải : Ma ra là sự tu tập chân chính thì sẽ được những điều phi thường, như ý. Na ra là sau khi thành đạo thì có thể được những phước báu không lường (bất khả tư nghì), tức kết quả tối thượng, quả vị tối tôn như một báu vật kim cương vậy.

Vì kim cương là vật quý mà cũng là vật cứng rắn, không bị hoại diệt; bởi vậy, khi được chánh quả rồi thì không còn bị đọa lạc, không còn bị ô nhiễm dù ở vào cảnh giới nào. Nó là viên minh châu sáng sạch, là vật quý nhất trong thất bảo, nếu ai có phước báo thì lấy và giữ được, không ai cấm cản. Nó rất quý vì có cái tánh hay phát sanh ra các thứ quý báu khác, bởi vậy được gọi là vô giá.

Viên kim cương hay ngọc minh châu dụ như Chánh pháp của Phật, ai khéo tu thì giữ được, vụng tu thì bị thăng trầm trong sáu nẻo luân hồi, khi lên khi xuống.

Mỗi chúng sanh là một vị Phật trong tương lai, dù Phật đã thành hay Phật sẽ thành đều có chung một điểm, đó là Phật tánh ; cho nên chư tổ thường bảo : “Phật pháp như đại hải lưu nhập A Nan tâm” nghĩa là : Pháp của Phật như biển cả, trôi vào tâm của ngài A Nan Đà, thì cũng chỉ một tâm pháp.

Muốn được tâm pháp như đức Phật dạy thì hành giả phải :

– Phát tâm bồ đề, quán chiếu về sự sanh tử,

– Phải luyện tâm chuyên nhất để thừa nhiếp thần chú,

– Khi dụng công phu thực tập trì niệm thần chú là phải chiết phục được phiền não,

– Lấy khổ hạnh để trợ duyên tu tập,…

Hành giả hiểu ý nầy, chuyên tâm hành trì câu thần chú trên sẽ được như ý.

63. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Câu Hy La mang giày cỏ đạp trên sóng nước, phát thanh tiếng hải triều cảnh giác tâm chúng sanh.

Đại ý : Ta bà ha là sự thành tựu.

Xin xem phần nầy trang 160 và những trang có chữ Ta bà ha.

Lược giải : Phần nầy cũng tương tự theo sự giải thích của các phần trước về mấy chữ Ta bà ha.

Ở đây, chúng tôi xin lược giải thêm một ít là: Muốn đạt ngộ lên ngôi Chánh đẳng Chánh giác thì đừng vọng ngoại, hãy nỗ lực tự tâm mình, quán chiếu nội tại, bỏ vọng chơn tìm cho được bản lai diện mục của chính mình. Phật quả không phải tìm cầu tự bên ngoài mà có.

Đức Phật đã từng dạy : Mỗi chúng sanh đều là một vị Phật trong tương lai, tức là Phật tánh phải được triển khai đúng mức.

Có một điều hành giả cần phải lưu tâm là : Không có một kết quả nào muốn thành tựu mà không vượt qua những khó khăn. cực nhọc về thân cũng như về tâm.

Trong thì tự lực tiến tu, ngoài thực hành tâm từ để rãi khắp chúng sanh, tùy duyên tùy cảnh mà hành động.

Nhất nhất là phải biết hồi hướng. Hồi hướng nhơn và hồi hướng quả.

Kết được bốn duyên : Duyên thấy, duyên nghe, duyên hộ pháp và duyên phát tâm chơn chánh, đúng với Phật pháp.

Đạt được kết quả tối thượng, đó là kết thúc của Ta bà ha vậy.

64. Tất Ra Tăng A Mục Khư Da

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Dược Vương, tay cầm dược thảo trừ bệnh khổ cho chúng sanh.

Đại ý : Tất ra tăng a mục khư (khê) da tức là ái ngữ đệ nhất, quan trọng là yêu thương tất cả.

Ý nói : Đạo Phật chú trọng tình thương hòa đồng, không buông bỏ, không ràng buộc, có tâm bình đẳng.

Lược giải : Tất ra tăng là tình yêu mến rộng lớn, không biên cương, không bờ mé.

A mục khư da là bất thủ, bất xả, giống như học được nghề thuốc khi chữa bệnh ai đau thì chữa, không phân biệt cao hạ.

Chữa bệnh là tìm căn nguyên của bệnh mà trị liệu, tùy bệnh cho thuốc. Bệnh có hai loại: thân bệnh và tâm bệnh.

Về thân bệnh thì xem xét trong thân hay ngoài da. Tâm bệnh thì xem xét nguyên nhân phát khởi, lý do nào để phiền não chổi dậy, tại sao bị vọng tưởng điên đảo vây quanh.

Trừ tâm bệnh thì phải dùng trị liệu bằng Phật pháp. Bồ tát Dược Vương là hình ảnh của vị thầy thuốc vừa thân và vừa tâm bệnh.

Ngài dùng tâm từ và tâm bi mà chữa trị bệnh cho hết thảy chúng sanh, ngài rất từ ái khi vỗ về để cho chúng sanh được an lạc. Khi ngài chữa lành bệnh là trở về vị trí cũ không cầu phải đền ơn, đáp nghĩa.

Hành giả hành trì, học theo con đường Phật dạy là như vậy.

Đó là hành trì thần chú vậy.

65. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Viên Mãn, thân mặc y đỏ chấp tay cầu nguyện cho chúng tâm được an lạc, viên mãn.

Đại ý : Ta bà ha là tay cầm hoa sen.

Hoa sen là ý hướng dẫn cho chúng sanh biết nhơn quả đồng thời. Trong nhơn có quả và trong quả có nhơn. Có tu thì có an lạc. Học thuốc là biết nghề thuốc, để chữa bệnh. Học bơi biết bơi lội, cứu người chết đuối. (tùy khả năng).

Lược giải : Viên mãn là đầy đủ, tròn trịa về cả hai phần phước tướng và đức độ. Viên mãn tức là đầy đủ chơn tánh giải thoát.

Chơn tánh tựa như ly nước trong sạch, vắng lặng; nếu chúng ta đem bụi, đất thả vào ly nước thì làm cho ly nước bị vẫn đục (vì vô minh).

Tất cả những gì làm cho ly nước bị vẫn đục, dụ cho phiền não, nghiệp chướng ràng buộc thân tâm chúng ta. Thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì những khổ đau, phiền lụy đều là không. An trú trong tự tại, giải thoát. Và trí bát nhã sẽ hiện tiền. Trí bát nhã đây là trí của Phật, soi thấy vạn hữu giữa vũ trụ nầy thật rõ ràng.

Thế nên, hành giả phải biết trí Phật và tâm Phật đã siêu thoát. Đã sạch về ái dục, đó là chủ yếu.

Khi quán chiếu và tu tập rốt ráo đến lý và sự nhất tâm thì sẽ đạt được cứu cánh niết bàn tối thượng Phật đà.

66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Dược Thượng, tay cầm bình thần dược để giải trừ bệnh hoạn và khổ não cho chúng sanh.

Đại ý : Ta bà ma ha là thành tựu lớn lao, viên mãn, A tất đà dạ là không có gì có thể so sánh được.

Toàn câu chú nói, khi tu tập đến bậc giải thoát tức là đã thành Phật, thành tựu viên mãn quả vị mà không có gì có thể theo hoặc so sánh kịp.

Lược giải : Bồ tát Dược Thượng trong kinh Pháp hoa cùng với Bồ tát Dược Vương đồng phát nguyện độ chúng sanh và hộ trì chánh pháp.

Hai ngài là thượng thủ của kinh Pháp hoa. Ta bà là nhẫn nại (Kham năng nhẫn khổ), Ma ha là tâm niệm đại thừa, A tất đà dạ là thành tựu vô lượng.

Nhưng Ta bà ma ha là tất cả chúng sanh đều bình đẳng, đều được thành Phật và an lạc như nhau.

Tay ngài Dược Thượng bưng bình thuốc để chữa trị tất cả những bệnh hoạn ưu bi khổ não cho hết thảy chúng sanh trong cảnh giới Ta bà nầy.

Không những ngài chỉ trị bệnh cho chúng sanh mà còn hướng dẫn cho họ tu tập theo giáo pháp của Phật để được chứng ngộ, đạt được đại thành tựu viên mãn, rốt ráo vô thượng bồ đề, thẳng đến cứu cánh niết bàn tịch tịnh, không còn thoái chuyển, ngoại trừ phát nguyện trở lại để hóa độ tất cả chúng sanh.

Cố gắng dụng tâm hành trì.

67. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Xá Lợi Phất, tay cầm chơn kinh cứu cánh thắng nghĩa, hóa độ chúng sanh phát nguyện về cảnh giới tịnh độ.

Đại ý : Đại ý của cụm từ Ta Bà Ha cũng tương tự như các trang trước có chữ Ta bà ha. (Xin xem từ trang 160 trở về sau, có nói về sự lợi ích vãng sanh và thế giới cực lạc của đức Phật A Di Đà).

Lược giải : Hành giả phải biết : Tôn giả Xá lợi phất là vị đệ tử thượng thủ của Phật về trí huệ. Theo kinh Pháp hoa trong quyển thứ hai, phẩm Thí dụ thứ ba, ngài được thọ ký bổ xứ làm Phật trong tương lai, với danh hiệu Hoa quang Như lai và làm giáo chủ ở cõi nước Ly cấu, rất thanh tịnh; ngài đối trước Phật xin sám hối và chê trách cái tâm tiểu thừa của ngài ngày trước.

Sau khi được Phật khai thị Bồ tát thừa, ngài hội nhập đại thừa pháp và hướng dẫn chúng sanh hãy quay trở về pháp môn tu tịnh độ để được vãng sanh.

Vì đã vãng sanh thì khỏi bị đọa vào ba đường dữ, đồng thời, được gặp Phật, thiện tri thức để nghe pháp và dễ dàng tu tập đến bờ giải thoát.

Tôn giả Xá lợi phất biết tất cả chúng sanh đều chưa dứt khỏi cảnh sanh già bệnh chết, ngày đêm đốt cháy bập bùng không bao giờ ngừng nghỉ, ngài cũng như chư Bồ tát mà đặc biệt là Bồ tát Quán thế âm luôn luôn thị hiện nhiều thứ thân hình để dẫn dắt chúng sanh ra khỏi cái nhà lửa của ba cõi (xuất tam giới gia).

68. Giả Cát Ra A Tất Đà Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Thần Hổ gầm, cầm búa kiên định, lấy tâm từ hàng phục ma oán.

Đại ý : Giả cát ra tức là kim cang, A tất đà dạ là sự thành tựu.

Trọn câu là ý : Lấy chánh pháp hàng phục ma chướng, để thành tựu quả vị bồ đề.

Lược giải : Kim cang là chất rất cứng, không có gì có thể bẻ gãy (giả cát ra). Sự bẻ gãy ở đây là hàng phục các ma chướng từ thân cho đến tâm (A tất đà dạ), từ trong ra ngoài (nội ngoại chướng duyên).

Tuy nhiên, dù có ma hay không ma, tất cả đều do tâm tạo. Hành giả hãy trì tụng các câu kệ sau đây :

Nhược nhơn dục liễu tri,

Tam thế nhất thế Phật,

Ứng quán pháp giới tánh,

Nhất thế duy tâm tạo:

Nghĩa là :

Nếu người muốn rõ biết pháp môn công đức của tất cả chư Phật ở ba đời trong mười phương, thì cần phải xét soi nơi một niệm hiện tiền của tánh pháp giới, là : tất cả các pháp đều do nơi tâm biến hiện mà tạo tác ra.

Đức Phật dạy : Ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không tâm là vậy. tâm ấy bao khắp cả mười pháp giới (Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn, Trời, Người, A tu la, Địa ngục, ngạ quỷ và Súc sanh).

Đủ biết : Tâm bao thái hư lường khắp cả pháp giới. Nói hàng phục ma chướng, nhưng, đó là tự hàng phục tà tâm. Hiểu được ý nầy thì thấy được chánh đạo.

69. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Thiên Ma Vương, tay cầm xà thương phổ độ, hướng dẫn và giải trừ tâm oán hận cho chúng sanh.

Đại ý : Ta bà ha sự thành tựu không thể so lường, đem tâm suy nghĩ (bất khả tư nghì), ba chữ nầy quý hành giả và độc giả xem đại ý từ trang 160 và những trang có chữ Ta bà ha.

Lược giải : Oán hận là điều rất nguy hiểm cho cuộc sống.

Oán hận là điều phải dẹp bỏ cho những hành giả phát tâm tu hành chơn chánh. Dẹp trừ được oán hận tức là tự mình xây dựng chánh pháp cho bản thân, đầy đủ giới hạnh và oai nghi của Phật và dễ dàng vãng sanh về thế giới cực lạc.

Trong kinh Quán vô lượng thọ, đức Phật dạy: Muốn vãng sanh về thế giới nầy thì phải :

1. Hiếu dưỡng với cha mẹ, phụng sự sư trưởng, thể hiện tâm từ bằng cách không giết hại sanh mạng, phát nguyện tu theo thập thiện.

2. Phải thọ tam quy, trì ngũ giới, chẳng phạm oai nghi (nhất nhất sống theo chánh pháp), đừng vọng cầu.

3. Phát bồ đề tâm, tin sâu vào lý nhơn quả, phát nguyện tụng đọc kinh Đại thừa, khuyên mọi người cùng tinh tấn tu hành như mình (tự độ, độ tha).

Trì niệm được như vậy thì đừng lo không được giác ngộ.

70. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Linh Hương Thiên Bồ tát, tay bưng lư Như ý để hộ trì tai nạn và cứu khổ chúng sanh.

Đại ý : Ba đà ma yết tất đà dạ là đại nghĩa. Ba đà ma yết cũng có ý Phật pháp là vô biên, Tất đà dạ là hướng dẫn cho mọi người tu tập.

Ý toàn câu là: Hướng dẫn mọi người tu tập thì phải có tâm rộng lượng, bao la mới mong có kết quả tốt đẹp, mới thành tựu đại nghĩa.

Lược giải : Ba đà là như hoa sen đỏ, ma yết tức là thiện thắng, tất đà dạ là hết thảy đều thành tựu.

Tuy nhiên, hành giả phải hiểu : Không phải chỉ trì niệm thần chú là được kết quả ngay. Tại sao ? Hiện tai, chúng ta mới trì niệm thần chú, niệm hồng danh Phật, Bồ tát, hay lạy Phật, bây giờ mới thực hành.

Còn tất cả những nghiệp chướng từ xa xưa vô lượng kiếp, chúng ta tạo mà chưa trả. Thế nên, hiện tại nhất tâm bất loạn (nhất cử là một hành động, nhất tức là một hơi thở) vẫn chưa thể giải thoát, an lạc được (vì nợ thì nhiều, tiền của hiện tại mới tạo tức thiện nghiệp, vẫn chưa đủ để trả nợ cũ, nhưng vẫn không bị nợ nầng nhiều như xưa, tức nghiệp báo) ; tuy thế, chúng ta đã gieo trồng nghiệp lành, nhơn lành và quả tốt cho tương lai.

Đức Thích tôn và chư Phật, Bồ tát cũng vậy, nhưng, các ngài liên tục tu tập và buông xả tất cả, không vướng mắc bất cứ một tạp niệm nào, nên đã thành tựu và đại thành tựu quả vị Phật.

Muốn được vậy, người tu tập thiền quán, trì chú niệm Phật phải làm những gì ?

Thành tựu quả vị Phật chính là thành tựu chúng sanh, muốn chúng sanh giải thoát an lạc thì chính bản thân mình đã được an lạc giải thoát và đã thành Phật.

Trước hết phải :

1. Việc trước tiên là hằng thuận chúng sanh, làm thế nào để chúng sanh hoan hỷ,

2. Tùy theo căn cơ của chúng sanh để hướng dẫn chánh pháp có hiệu lực,

3. Dùng phương pháp đối trị cho chúng sanh hết phiền não mà chúng sanh hoan hỷ,

4. Khi chúng sanh hoan hỷ và chấp nhận học hành chánh pháp thì mới hướng dẫn những phương pháp cao diệu hơn.

Nghĩa là cơ duyên của chúng sanh đã thuần thục thì mới nói cho họ biết về cái thật tướng của các pháp để thân chứng quả vị tối thượng.

Điều nầy, chúng ta dễ dàng thấy sự thành tựu của Bồ tát Địa tạng đã thành tựu và đang thành tựu độ chúng sanh. Bồ tát Quán thế âm hay chư vị Bồ tát cũng đều thành tựu đại hạnh nguyện độ chúng sanh như vậy cả.

Hành giả muốn được như vậy, cứ liên tục trì niệm câu thần chú trên đây đến giai đoạn nhất tâm bất loạn. Tất cả những hành nghiệp nói năng, đi đứng nằm ngồi đều đúng với chánh pháp thì không lo gì mà không thành tựu.

71. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Tán Hoa Thiên, tay cầm hoa sen quý ngàn cánh để ban rãi phước báu cho chúng sanh; đồng thời, hướng dẫn tất cả chúng sanh sớm trở về bờ giác.

Đại ý : Ta bà ha là được khai ngộ do vì được nghe chánh pháp. Ba chữ nầy là chuyển mạch của câu chú Ba đà ma yết tất đà dạ, cũng có nghĩa tương tự như các trang trước (từ trang 160 về sau của Ta bà ha – Xin tìm đoc cuốn “Chú Đại Bi Lược Giải của HT. Tín Nghĩa”).

Lược giải : Thông thường có cùng ý chung của các chữ Ta bà ha là sự mong mỏi, sự diện kiến và hoan hỷ được gặp chánh pháp để được thành tựu sự giải thoát.

Hành giả thường thấy : Những người tu tập như niệm Phật, Bồ tát, lạy Phật hay trì chú, tụng kinh, bái sám vân vân đến độ gần như nhất tâm bất loạn mà vẫn hay gặp tai ương.

Tại sao ?

Như trên chúng tôi có nêu ra : Tất cả đều vì nghiệp chướng sâu dày đã tạo ra từ trước, hiện tại chỉ một giai đoạn ngắn mới phát tâm tu (thiện nghiệp) vẫn chưa bù đắp vào sự thiếu sót ấy, thử hỏi làm sao mà chứng ngộ, đắc đạo, đắc pháp và đắc quả như sự mong muốn được.

Hoặc là tuy có lòng mong mỏi, tìm cầu và hoan hỷ với sự tu tập; nhưng, trên bước đường tu niệm hành trì chưa dứt hẳn được những tạp niệm, những vọng tâm.

Đức Di Lặc bảo : Trong một tiếng gãy móng tay có đến ba mươi hai ức trăm ngàn niệm, niệm niệm liên tục, hễ niệm thiện thì quả thiện, niệm ác thì quả ác.

Chúng ta, trọn ngày luôn đêm chưa bao giờ liên tục tu tập, tụng kinh bái sám, hành trì thần chú thì kết quả mong muốn làm sao có được. Chưa gieo được nhân tốt làm sao có quả tốt ?

Bởi vậy, một khi tu tập, hành trì thì điều cần nhất là phải phát nguyện. Nguyện đã phát thì phải nhất nhất mỗi niệm mỗi niệm phải tinh chuyên, lấy tứ tất đàn mà đối trị. Vì tứ tất đàn là sự thành tựu, đại thành tựu cho chính mình và cho chúng sanh. Nói chung là thành tựu tất cả.

Nhìn vào cuộc đời đức Phật, chúng ta thấy lúc nào ngài cũng không xa rời tứ tất đàn. Ngài còn dùng như vậy, thì đủ biết đó là con đường tối thượng, hành giả không thể bỏ sót hay quên đi được.

Tứ tất đàn gồm :

1. Thế giới tất đàn,

2. Các vị nhơn tất đàn,

3. Đối trị tất đàn,

4. Đệ nhất nghĩa tất đàn.

Tất đàn cũng là tên của đức Thích Tôn.

Vì ngài tên thật là Tất đàn, Tất đạt đa (Siddharta), nghĩa là bậc làm cho chúng sanh được viên mãn, được thành tựu. Xin hành giả tư duy điều nầy.

72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Già Ra Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Phú Lâu Na, tay bưng bình bát, đi khắp đó đây để thuyết pháp cứu độ chúng sanh sớm lìa khổ nạn.

Đại ý : Na ra cẩn trì là bậc hiền thủ, Bàn đà ra dạ là bậc Thánh tôn.

Ý toàn câu: Bồ tát Quán thế âm luôn luôn hóa hiện thành những bậc hiền giả, tôn kính trong đời để tùy duyên hóa độ.

Lược giải : Tôn giả Phú lâu na còn có tên là Mãn từ tử, ngài có biệt tài thuyết pháp; bất cứ vị Phật nào ra đời, ngài cũng tùng học, đại diện giáo đoàn để thuyết pháp và luôn luôn là bậc nhất. Sự thuyết pháp của tôn giả Phú lâu na, chính là sự thuyết pháp của Bồ tát Quán thế âm, vì Tôn giả là hóa thân của Bồ tát vậy.

Những gì Tôn giả nói ra đều là diệu pháp. Vì đó là pháp mầu nhiệm chẳng có thể dùng lời nói mà nói được.

Vậy pháp ấy là pháp gì ? Chính là những thế giới, những quốc độ bao gồm cả sơn hà đại địa, đầy đủ cả y báo chánh báo, vừa thế gian và xuất thế gian pháp, vừa sắc pháp, tâm pháp và chúng sanh pháp.

Tuy là ba, nhưng lại là một nên được gọi là diệu pháp. Bất luận chúng sanh nào và ở đâu cũng được nghe diệu pháp nầy thì đều đắc pháp, đắc quả và chứng ngộ cảnh giới vô sanh. Khi đạt được chơn tâm rồi, thì nó biết khắp cả hư không.

73. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Đà La Ni Tử, tay bưng trái tươi cúng dường chư Phật và bố thí cho chúng sanh; đồng thời, hướng dẫn chúng sanh trở về con đường tu tập để rõ biết tánh không.

Đại ý : Ta bà ha là sự thành tựu. (Xin xem tất cả những trang trước có chữ Ta bà ha, từ trang 160 về sau nầy).

Lược giải : Như trên đã nói: Ta bà ha là sự thành tựu.

Thành tựu cái gì ?

Đó là : Trong cuộc sống không còn tham danh lợi, chẳng màng phú quý, tự đạm bạc cho bản thân, sống cuộc đời liêm khiết thanh cao, phải sáng suốt hiểu biết để cư xử giữa mình và người với nhân cách cao thượng.

Vào trong Phật pháp thì thọ trì giới luật tùy theo khả năng của mình ; đừng để phiền não trói buộc thân tâm, luôn kham chịu đựng mọi điều khó nhọc. Tự thân phải giữ và hành trì đúng giới luật, tu tập thiền định để phát khởi trí huệ bát nhã hầu gột rửa thân tâm được an lạc, để cứu độ mọi người và mọi loài, nói cách khác là tự tha kiêm lợi. Hành bồ tát đạo đến cứu cánh.

Hành giả đạt được con đường tối thượng nầy tức là thành tựu, đại thành tựu.

Vì bước lên con đường cao quý nầy mới thấy: Tất cả chúng sanh đều có Như lai trí huệ đức tướng và chúng sanh là chúng sanh trong tâm của chư Phật ở mười phương, mà mười phương chư Phật là các đức Phật ở trong tâm chúng sanh.

Thế mới rõ nghĩa được chúng sanh dự Phật đồng, nghĩa là: Tâm nầy tuy là chúng sanh, nhưng tâm nầy phải an lạc giải thoát, tâm nầy phải thành Bồ tát và tâm nầy phải làm Phật.

Trên đây chỉ là lý, còn đứng về sự thì sao ? Người phát tâm tu thì tự cứu mình trước. Cứu một cách cần kíp.

Vì chúng ta hiện đang sống trong thời mạt pháp thì phước mỏng, trí cạn, chướng nạn thì sâu dày ; bởi thế mà đức Thế tôn mới dạy cho chúng sanh pháp môn tu tịnh độ và thiền quán, tức là thiền tịnh song tu để bổ túc cho nhau.

Điều nầy cũng giống như một bệnh nhân đang mắc bệnh ngặc nghèo, sanh mạng chỉ trong hơi thở, điều đầu tiên là cần thuốc chữa trị, không nên trễ nãi để bệnh nhân khỏi chết. Đây dụ cho chúng sanh đang hụp lặn trong sông mê, biển khổ, cần có chánh pháp để hướng dẫn tu tập thì mới mong an lạc và giải thoát.

Hành giả hiểu đúng ý nghĩa nầy tức là ý nghĩa của thần chú Ta bà ha vậy.

74. Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Tam Ma Thiền Na, ngồi kiết già trên bánh xe, tay bưng đèn ngọc pha lê chiếu sáng khắp pháp giới.

Đại ý : Ma bà lợi thắng là bậc có đức uy dũng, Yết ra dạ tức là sanh tánh, bản tánh.

Ý toàn câu là bậc tu tập chơn chánh thì bản tánh sẽ được sanh ra uy đức, sanh thiện nghiệp, dễ thành tựu Phật đạo.

Lược giải : Phàm vạn loại hữu tình đều có Y báo và Chánh báo.

Thân thể của chúng ta có tri có giác thì được gọi là hữu tình, tức Chánh báo.

Sơn hà đại địa, cây cối lùm rừng, đồ ăn thức uống, y phục giường nằm, nhu dụng cho mình thì gọi là Vô tình, tức Y báo.

Chánh báo có được là nương vào y báo và ngược lại. Tùy theo trình độ và sự tu tập để có y báo và chánh báo.

Ngồi kiết già trên bánh xe (dụ cho tham thiền nhập định) để vận chuyển chánh pháp; ngọn đèn ngọc pha lê (dụ cho vật quý báu tức Phật pháp), chiếu sáng (dụ cho trí tuệ thâm nhập Phật pháp đã tu tập).

Do đó, hành giả phải biết Phật pháp là vô cùng cao quý, thâm diệu và khó tìm cầu, khó được. Bởi vậy, khi hành giả chí tâm tu niệm hành trì thần chú nầy đến giai đoạn minh tâm kiến tánh, rốt ráo đến cảnh giới bất khả tư nghì thì trí huệ bát nhã được triển khai, trí huệ ấy chiếu sáng khắp cả châu thân, tỏa rạng cùng khắp cả pháp giới, thông suốt vạn pháp đều nhất như, an lạc hiện tiền.

75. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán Thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Đại Ca Diếp, tay trái lần tràng hạt, tay phải cầm thiền trượng để hướng dẫn chúng sanh tu tập.

Đại Ý : Ta bà ha tức là thành tựu, đại thành tựu. (xin xem từ trang 160 và những trang có câu Ta bà ha).

Lược giải : Cũng như các trang có chữ Ta bà ha thì đều đồng một nghĩa như nhau. Tuy nhiên từ trang 160 trở về sau đều có bổ khuyết và tiếp nghĩa thêm để làm cho những vị cần cầu tu tập dễ dàng lãnh hội.

Do vậy mà hành giả cần phải biết rằng: Bổn tánh vẫn chơn không, nó không bị nhiễm bất cứ một đường tơ kẽ tóc nào về thế gian pháp; nhưng, do vì một tạp niệm, vọng niệm sinh khởi dấy lên, nên phát sanh ra nghiệp duyên để rồi bao trùm cả mười giới (bốn thánh, sáu phàm).

Hễ tâm đã phát sanh thì các pháp đều phát khởi, các pháp đã sanh khởi ra rồi thì tâm sanh đắm nhiễm. Khi tâm đã sanh khởi theo trần lụy thì tất phải mang lấy vọng nghiệp.

Kinh Địa tạng có dạy : Mống tâm động niệm thì tạo nên tội lỗi, làm ác kết nghiệp ác làm thiện tạo nghiệp thiện.

Hành giả muốn đạt được thành tựu, đại thành tựu của Ta bà ha thì phải hành trì và thật sự chứng nhập vào thâm ý của câu mật ngữ ấy ; nhất tâm cần cầu sám hối theo Phổ hiền Quán kinh đã nói : Nếu người muốn sám hối, thân ngồi ngay xương sống, tâm tưởng niệm đến cái thực tướng, các tội như sương móc, dễ dàng tiêu trừ đạt được pháp tánh diệu sám vậy.

Đức Di Lặc nói : Trong một khoảnh khắc qua tiếng kêu của cái gãy móng tay (nhất đờn chỉ khoảnh), cho ba mươi hai ức trăm ngàn niệm, cứ mỗi niệm thành một bình, một bình chịu một quả, nếu dứt một niệm, thì thiếu một bình, từ đó dần dần thanh tịnh, …”

Tổ Thiên thai cũng nói : Người chỉ quán được một niệm tức không, tức giả, tức trung, thì cả Mười giới, các pháp Tánh, Tướng đâu mà chẳng đủ. Biết được điều nầy thì thẳng tiến lên bực thánh, không còn xa xôi và không còn nghi ngờ gì nữa.

Điều nầy là lý giải và áp dụng theo câu thần chú đúng mức thì Phật tánh hiển hiện, chứng quả vị giải thoát thật dễ dàng, không còn đọa lạc trong tam giới, nếu trở lại, thì đó là phát nguyện độ sanh mà không bị nhiễm uế tình trần. Thành tựu, đại thành tựu là đây.

Lý do Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Tôn giả Ma ha Ca diếp, là vì : Ngài Ca Diếp đã thủ đắc và thân chứng pháp môn vi diệu từ đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni.

Pháp môn ấy là tâm truyền tâm qua vấn đề niêm hoa vi tiếu. Ngài là vị thủ đắc truyền tâm ấn của một trong mười vị đại đệ tử của Phật. Ngài có bổn phận nhận lãnh trách nhiệm trao truyền và ấn chứng cho Tôn giả A Nan; đồng thời, ngài có bổn phận kết tập kinh điển, hệ thống hóa tam tạng giáo điển để lưu truyền cho mai hậu.

Sở dĩ Tôn giả Ca diếp chứng đắc đến quả vị như vậy và được đức Phật thọ ký như vậy, chính vì bản thân ngài đã hoàn toàn phá hết vô minh, pháp thân quang rạng và sạch sẽ, giống như bầu trời mây tan thì trăng tỏ.

Ngài đã thật sự rốt ráo về phần “cứu cánh tức” sám hối là phần rốt ráo pháp sám hối của Đại thừa trong pháp “lục tức”.

Người tu Phật không sám hối, không thành tâm sám hối thì không phải là đệ tử của Phật. Vì là chúng sanh thì đều do mê hoặc mà tạo nghiệp, do nghiệp mà trôi lăn trong vòng lục đạo, mang lấy khổ vào thân. Chính ngài Thiên thai Đại sư thường bảo đồ chúng rằng : Dù lên bậc đẳng giác vẫn còn phải sám hối là vậy.

Trong phần trên đây, chúng tôi giải thích thêm để rõ ràng cho câu chú.

Tuy nhiên, nó tóm gọm trong những nghĩa chính như : Thành tựu, đại thành tựu, cát tường, tiêu tai tăng phước, viên tịch, vô trụ, kính giác chư Phật và chứng minh công đức.

Và, cũng đồng mật nghĩa với các câu chú như : Vãng sanh quyết định chơn ngôn hay Tiêu tai cát tường thần chú, v.. v…

76. Nam Mô Hắc Ra Đát Na, Đá Ra Dạ Da

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Hư Không Tạng, tay cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm và tinh tiến tu tập.

Đại ý : Nam mô hắc ra đát na, đá ra dạ da là đem thân mạng mà quy y với Tam bảo. Chữ Nam mô là quy y, quy mạng là tâm tư hướng theo Phật.

Vì Tam bảo là báu vật mà không có bất cứ cái gì trên thế gian nầy có thể so sánh được.

Lược giải : Phần đầu của bài chú đã có câu nầy rồi và ý nghĩa cũng tương đồng như vậy, không có gì sai khác. Ở đây chúng tôi xin hướng dẫn thêm ý nghĩa của Tam bảo.

Vậy Tam bảo là gì ? Đó là ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng.

Tam bảo có các nghĩa như : Bất biến vẹn toàn, vững bền, không nhơ nhớp, cứu khổ ban vui, khó gặp, phá phiền não, uy đức, mãn nguyện, trang nghiêm và rất mầu nhiệm.

Luôn luôn đem lợi ích giải thoát và an lạc cho chúng sanh nên được gọi là Bảo.

Tam bảo được thâu tóm thành ba bậc :

a. Đồng thể Tam bảo còn gọi là nhất thể Tam bảo hay đồng tướng Tam bảo,

b. Biệt thể Tam bảo còn gọi là chơn thật Tam bảo hay xuất thế Tam bảo,

c. Trú trì Tam bảo.

Trong Lục đạo tập hướng dẫn rằng: Trong thế gian đều cho châu ngọc, vàng bạc là quý báu (bảo), nhưng đó chỉ là đồ trang sức tạm vui chơi, không chắc thật, không lợi ích.

Niết bàn kinh dạy : Phật, pháp và Tăng, ba ngôi báu ấy đều như nhau (vô hữu sai biệt). Tánh tướng của Tam bảo là : Thường, Lạc, Ngã và Tịnh.

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thành Bồ tát Hư không tạng là ngài chỉ cho chúng sanh biết : Phật pháp rộng rãi, bao la, bao trùm hết thảy tất cả sơn hà, đại địa, nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.

Khi chưa nương (quy y, quy mạng) vào ba ngôi báu ấy thì chúng sanh sẽ không thấy được gì cả.

Nương vào Tam bảo đứng về sự mà nói : tức là gởi thân vào Phật, Pháp và Tăng; đứng về lý tánh mà nói là nhập vào và đạt được Giác thì có đủ trí huệ và phước đức – Chánh thì không còn bị tà kiến, sai lạc – Tịnh thì không chấp trước, ô nhiễm.

Nói tóm : Phật là Giác, Pháp là Chánh và Tăng là Tịnh vậy.

Nghĩa là mỗi một chúng sanh đều có tánh giác ngộ thành Phật như nhau. Khi mê là chúng sanh, khi đã ngộ là Phật. Giác ngộ rồi thì thấy mình và ta không có sai khác và giống như trong Bát nhã tâm kinh dạỵ: không nhớp, không sạch, không thêm, không bớt; cho nên trong Không : không có sắc thanh hương vị xúc pháp, … không vô minh và sự tận diệt của vô minh, … cũng không trí không được vì chẳng được gì cả.

Hành giả muốn đạt được lý nầy thì phải thực hành câu thần chú trên đây giống như thực hành lý Bát nhã để chứng nhập vào đó mới soi thấy được năm uẩn đều không, mới vượt thoát ra khỏi mọi sự đau khổ (khổ ách).

Muốn tu niệm hành trì thần chú nầy thì phải phát tâm Bồ tát giống như đức Quán thế âm, chứa nhóm tất cả như ngài Hư không tạng.

Khi phát tâm thực hành hạnh Bồ tát thì phải rộng tu sáu độ : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định và trí huệ để tận diệt sáu tệ của chúng sanh là : Xan tham, hủy phạm, sân nhuế, dải đãi, tán loạn và ngu si.

Hành giả đạt được lý nhất niệm và sự nhất niệm thì vô tận pháp giới sẽ được dung thông, không thiếu mà cũng không dư.

Nói như ngài Trí giả : Giấy lên một niệm, tức đủ cả mười giới như, ngoài một niệm ra, không còn có những gì bằng một sợi lông, sợi tóc.

77. Nam Mô A Rị Da

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ Tát Phổ Hiền, kiết già tọa thiền trên bạch tượng, hướng dẫn cho chúng sanh tu tập đến cứu cánh viên mãn.

Đại ý : A rị là bậc thánh. Da là lễ bái, lễ lạy.

Ý cả câu là chúng sanh phát quyện nương vào Tam bảo và hết lòng kính tín, phát tâm lễ bái, cung kính.

Lược giải : Hành giả nên biết hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền là muốn chúng sanh nương vào mười Đại ngưyện của Ngài mà tu tập.

Hạnh nguyện đầu tiên là lễ kính (Da) chư Phật (A rị), hai là xưng tán chư Phật, ba phát tâm hiến cúng rộng lớn, bốn là sám hối nghiệp chướng, năm là tùy hỷ công đức, sáu là xin chuyển pháp luân, bảy là xin Phật ở đời, tám là thường học theo Phật, chín là hằng thuận chúng sanh, mười là hồi hướng khắp cả.

Do đây mà hành giả nên biết từ lễ kính Phật đà cho đến hồi hướng tất cả : Chư Phật cũng như chúng sanh nhiều bằng số lượng cực vi của cả thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới; tất cả chúng sanh nương vào hạnh nguyện Phổ hiền mà tu tập để cho cả ba nghiệp thân, miệng và ý trong sạch và thường xuyên mà lễ kính, xưng tán, cúng dường, sám hối nghiệp chướng, tùy hỷ công đức, xin chuyển pháp luân, thỉnh Phật ở đời, thường học theo Phật, hằng thuận chúng sanh và hồi hướng khắp cả.

Thế nào là lễ kính chư Phật ?

Theo kinh Pháp hoa có dạy : Hoặc có người lễ bái bằng thân khẩu ý, hoặc lễ bái bằng cách chấp tay, nhẫn đến chỉ đưa một tay chứng tỏ cung cách lễ bái, hoặc giả chỉ hơi cúi đầu với một chút cung kính ; dùng những cách lễ bái trên đây để cúng dường trước tượng Phật, thì các người ấy dần dần được thấy nhiều đức Phật, và cũng từ từ sẽ thành vô thượng đạo.

Theo kinh Pháp hoa chép lời Phật dạy : Hoặc đem tâm hoan hỷ, để xưng tụng công đức của Phật như ca vịnh hay tán thán.

Những người ca ngâm, xưng tán để khen Phật với giọng cao hay trung bình, thậm chí là một giọng nho nhỏ, những người như thế thì : đã, đương, sẽ được thành Phật đạo.

Kinh Pháp hoa dạy : Thật cúng dường là gọi đúng pháp cúng dường Như lai.

Nếu hay tùy hỷ dâng lên một trần trong sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) thì tất cả các pháp đều tập trung nơi trần.

Sự tập trung ấy thì pháp nào cũng từ nơi trần và mỗi mỗi trần đều lẫn khắp với nhau, đó là tu cúng dường bằng lẽ duy tâm, không ngần ngại nhau, chính là pháp cúng dường vậy.

Đem cả ba nghiệp thân khẩu ý mà thành tâm cần cầu sám hối. Nếu có ác nghiệp và nếu ác nghiệp ấy có hình tướng thì cõi hư không cũng không thể dung chứa được. Vì ác nghiệp không có hình tướng, nên chúng sanh cứ mặc nhiên tạo tội mãi mãi.

Hành giả thật tâm tu niệm thì y theo pháp mà sám để: ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng tây phương.

Chư Phật nhiều bằng số lượng cực vi của tất cả thế giới khắp mười phương, suốt cả ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới, từ lúc mới phát tâm, vì Nhất thế trí mà siêng tu cái khối phước đức mà không tiếc thân mạng; trãi qua vô lượng vô lượng kiếp, tất cả khổ hạnh khó làm như vậy để được viên mãn các ba la mật, chứng bậc Vô thượng bồ đề, nay con xin tùy hỷ tất cả và thanh tâm đảnh lễ.

Như vậy, hành giả cần phải phát nguyện hết cả mười Đại nguyện vương. Và, lúc nào cũng phải biết: Hư không dù cùng tận, chúng sanh cùng tận, nghiệp của chúng sanh cùng tận, phiền não của chúng sanh cùng tận, sự tham học theo Mười đại nguyện vương của Bồ tát Phổ Hiền của con không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không bao giờ gián đoạn đối với thân, miệng và ý không hề chán nản, mỏi mệt.

Nếu hành giả tùy thuận mà đi mau vào Mười đại nguyện ấy thì có thể thành tựu vô thượng bồ đề; do đó, nghiêm mật trì tụng câu thần chú trên đây.

78. Bà Lô Cát (Kiết) Đế

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Văn Thù, ngồi trên sư tử tay trì thủ lư, tay bắt ấn cam lồ để khai thị chúng sanh chuyển mê khai ngộ.

Đại ý : Bà lô cát (kiết) đế tức là quán, quan, là xem xét.

Đại ý câu thần chú nầy là : Muốn đạt được cứu cánh của đạo thì phải dùng trí tuệ Bát nhã.

Lược giải : Lý do nào mà câu thần chú nầy Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng Bồ tát Văn Thù ?

Theo sự tích khi đức Văn Thù được sanh ra, trong xứ ấy hiện mười điềm tốt :

1. Ánh sáng rực rỡ chiếu đầy phòng,

2. Sương ngọt sa đầy sân,

3. Dưới đất nổi lên bảy báu,

4. Thần tài mở kho đã giấu xưa nay,

5. Gà nở giống con chim phụng tuyệt đẹp,

6. Ngựa sanh ra tựa giống kỳ lân,

8. Bò sinh con tốt giống, xinh tươi,

9. Kho lúa giống biến màu vàng tốt, và

10. Voi có đủ sáu ngà.

Ngài còn có tên là Mạn thù Thất lợi hay có tên Diệu thủ.

Tại sao ?

Đó là pháp môn Tín, Hạnh và Trí theo kinh Hoa nghiêm. Tín là đứng đầu của muôn hạnh, muôn đức. Diệu cát tường là Hạnh và Trí là mẹ của chư Phật nên gọi là Diệu đức (đức mầu nhiệm).

Hành giả nương vào uy đức của ngài Văn Thù thật rốt ráo thì có đủ: tín, hạnh và trí. Ba mà là một, vì khi chứng quả vô sanh, bất thoái nhìn vạn pháp giai không mà diệu hữu.

Khi phát tâm vãng sanh cảnh giới tịnh độ là quyền trí. Chính ngài Văn thù là bậc thật trí nên không còn phải sanh tịnh độ là vậy.

Hành giả cẩn thận để hiểu nghĩa nầy.

79. Thước Bàn Ra Dạ

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng hoa sen ngàn cánh để giải trừ cho chúng sanh biết: ái sắc trần cảnh là hư vọng, hướng dẫn tu tập thấy được tự tánh chơn không.

Đại ý : Thước bàn ra dạ tức là Tự tại, giải thoát, an lạc.

Câu nầy nói : Khi đã đạt đạo rồi thì không còn thoái chuyển dù ở bất cứ cảnh giới nào. Đi lên hoặc đi xuống vào hay ra, đó chỉ là tùy duyên để hóa độ.

Lược giải: Đức Phật chọn hoa sen là ý dạy cho chúng sanh biết: Nhơn quả đồng thời. Và, trong nhơn có quả, trong quả có nhơn. Dùng hoa sen nầy để diễn tả cái vi diệu, thậm thâm của thần chú.

Điều nầy giống như trong kinh Diệu pháp Liên hoa vậy. Nghĩa là ngoài có cánh nhưng ở trong đã có sẵn hột (tức quả).

Chú đại bi là thần chú, khó hiểu, mầu nhiệm, không thể dùng lời nói mà giải thích hết được. Đã là thần chú thì phải tu và thực hành rốt ráo.

Khi đã thực hành sâu xa vào thâm áo của câu thần chú trên đây cũng như toàn bài thần chú Đại bi rồi thì soi thấy sơn hà đại địa, thế giới quốc độ, y báo chánh báo cũng như thế gian pháp và xuất thế gian pháp, sắc pháp, tâm pháp đều vô ngại, không có sai khác.

Tuy nói thì nhiều, nhưng kỳ thật nó thâu tóm vào ba môn: Phật pháp, tâm pháp và chúng sanh pháp. Vì không có sai khác nên được gọi là thần chú, được gọi là đại bi tâm đà la ni.

Ai hành trì thần chú nầy đều được an lạc, vì nó có hiệu lực : Tiêu trừ hoạn nạn và tật bệnh, tuổi thọ dài lâu, sung mãn của cải vật chất, phát thiện tâm, tiêu trừ nghiệp chướng, sở cầu và sở nguyện như ý.

Ngoại trừ những kẻ : Tâm bất thiện, tâm bất kính tín, có tâm nghi ngờ thì sẽ không ứng nghiệm.

Thần chú nầy Bồ tát Quán thế âm đã nói ra từ vô lượng và vô lượng kiếp khi đức Phật xuất hiện với danh hiệu Thiên quang vương Tịnh trụ Như lai.

Như trên đã nói : Hoa quả đồng thành, nghĩa là hoa và quả phát xuất cùng một lúc. Ý nói có tu thì có kết quả thiện tâm của Phật pháp. Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh.

Tuy cái gốc nằm trong bùn, hoa vẫn nở và vẫn trồi ra khỏi bùn và nước. Bùn ví cho mê mờ, chúng sanh đau khổ, nước dụ cho nhị thừa chấp đắm cái Không.

Khi hoa sen ra khỏi bùn rồi, tỏa hương thơm ngào ngạt rồi thì đó dụ cho hành giả đã đạt được thâm diệu câu thần chú, thâm áo của diệu pháp vậy. Đạt được diệu pháp thì không còn vướng mắc vào lý chấp có, chấp không nữa. Chơn tâm hiển lộ, bao trùm cả pháp giới. Hoa sen ra khỏi bùn nước thì cũng đồng với tâm chúng sanh rời cấu nhiễm, xa trần lụy và đạt được chơn tâm, Phật tánh siêu việt.

Bởi vậy, hành giả phải hiểu và thấu triệt: ngoài tâm không có các pháp, tâm tức là bản thể của muôn pháp. Ai đạt được lý nầy tức là đã thấu triệt thần chú Đại bi và câu Thước bàn ra dạ, tức là rõ được đạo lý, ngộ được diệu lý chơn không.

Xưa nay, chúng sanh hụp lặn trong bùn nhơ, nước đọng là vì không thấy được Như lai trí huệ, đức tướng của tự tâm, luôn chạy theo vọng tưởng, tà vạy để chuốc lấy đau khổ triền miên, không biết tâm mình có sẵn ba đức.

Bồ tát Quán thế âm cứu độ bằng cách hướng dẫn cho chúng sanh đều biết hoa nở thấy Phật. Phải biết chư Phật ở mười phương đều có sẵn trong tâm chúng sanh và chúng sanh trong pháp giới cũng đều ở trong tâm chư Phật.

Cũng thế, ngài muốn mỗi chúng sanh đều có hoa sen, mỗi chúng sanh đều có Quán thế âm. Mỗi tâm như vậy là một vị Phật, là một vị Bồ tát và một vị Quán thế âm vậy. Chỉ vì chúng sanh mê ngộ và chấp trước khác nhau nên sinh ra thế nầy, thế khác đó thôi.

Kỳ thật : vạn pháp duy tâm tạo, do tâm biến hiện.

80. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng buông thõng hai tay, giải trừ nhĩ căn phân biệt thanh trần hư vọng, nghe tự tánh chơn không.

Đại ý : Ta bà ha là Thành tựu, đại thành tựu.

Đại ý câu chú nầy cũng giống như trước, từ 160 và các trang có câu Ta bà ha.

Lược giải : Theo trong phẩm kinh Bát nhã thì : Khi Bồ tát Quán tự tại (tức Quán thế âm) thực hành sâu xa về lý Bát nhã thì soi thấy năm uẩn đều không, xa rời mộng tưởng điên đảo, vượt thẳng đến cứu cánh niết bàn và ba đời các đức Phật cũng đều như vậy; cho nên theo như ý nghĩa trên đây, Bồ tát Quán thế âm đã hóa hiện đủ các thân hình, không ngoài mục đích là cứu độ chúng sanh ra khỏi mê lầm, chứng đắc diệu pháp, để thành quả vị Phật.

Hình ảnh ngài buông thõng hai tay là ý : Không còn vướng mắc những gì của thế gian pháp, của đau khổ, nhưng không thủ đắc những gì đã đạt được.

Vì vậy mà gọi là vô trí, diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, tức là không trí mà cũng không được và chẳng được gì cả.

Ngài muốn độ hết thảy chúng sanh sớm xa rời mộng tưởng điên đảo, thẳng đến cứu cánh niết bàn để khỏi bị chìm đắm trong bể khổ sông mê; khỏi bị đọa lạc trong tam đồ lục đạo mà thôi.

81. Án, Tất Điện Đô

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng mở hai bàn tay, đoạn tỷ căn (một trong năm căn đầu tức tiền ngũ căn) khỏi ái nhiễm hương trần, tự giác ngộ tánh chơn không.

Đại ý : Án tức là quy mạng, quy y. Tất điện đô tức là khiến cho sớm được thành tựu.

Ý toàn câu là khi hành trì thần chú nầy, hành giả đem hết cả thân mạng mà quy và nguyện cho Phật pháp sớm được thành tựu.

Lược giải : Bồ tát Quán thế âm có đủ tứ vô lượng tâm : Từ, Bi, Hỷ và Xả. Ngài đoạn một căn để không nhiễm trần, nhưng thật ra là cả năm căn và bao gồm cả ý căn nữa. Một mà sáu và sáu là một.

Vì ngài dùng Bi để cảm hóa, dùng Uy để chinh phục, dùng Định để an tâm, dùng Huệ là để giác sát, cứu độ chúng sanh, đều được đại tự tại ; ngài dùng Bi và Trí là diệu dụng của cả sáu căn để tiếp ứng trần lao.

Ngài hướng dẫn chúng sanh biết quán chiếu từ nội tâm ra ngoại cảnh đều trống không để đạt được chơn đế như tâm pháp của xuất thế gian

Mỗi hành nghiệp đều từ chơn tâm lộ ra và không bị vướn mắc vào vọng cảnh thì mới giải thoát hoàn toàn.

Cả chơn đế lẫn tục đế không còn tranh chấp bên nầy hay bên kia, đi vào trung đế (trung đạo) thì thể tánh tự tại.

Trì chú nầy đến mức độ như vậy, Phật tánh tự hiển hiện.

82. Mạn Đà Ra

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng có tay Đâu La Miên, đoạn trừ thiệt căn để không bị ái nhiễm vị trần hư vọng, tự giác ngộ tánh chơn không.

Đại ý : Mạn đà ra (có thể đọc là : Mạn trà ra hay mạn đà la,…) là chơn ngôn, là thần chú.

Nói chung là Đà la ni. Cũng gọi là mật giáo hay chơn ngôn tông. Có công năng bảo hộ cho người thật tâm tu tập và dễ dàng trừ hết tà ma, yêu quái.

Lược giải : Thần chú nầy còn gọi là Linh phù, Đàn tràng hay Đàn, có thể là hữu hình hay vô hình. Sau khi thật sự rốt ráo vào thần chú nầy sẽ đi vào ánh sáng trí tuệ của chư Phật và Bồ tát.

Khi sử dụng rốt ráo về thần chú nầy cả ba :

Tam mật :

* Mạn đà ra tức Linh phù, Đàn tràng hay Đàn thì gọi là Ý mật,

* Đà la ni Thần chú là Ngữ mật và

* Pháp ấn là Thân mật ; khéo học và hành trì được ba chỗ bí mật nầy thì chắc chắn được bước vào hào quang của Phật.

Trong khi tham trì ba mật ấy thì hành giả với Phật là một. Tâm trí hợp nhất và mãi mãi ở trong tam mật nầy thì thân, khẩu và ý của hành giả tức là thân, khẩu và ý của Phật vậy.

Cho nên, theo các câu chú trước mà Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng để quán sát ngũ căn và ý căn được rốt ráo như hành thâm lý Bát nhã rồi thì một mà tất cả và tất cả là một.

Nghĩa là một căn thông suốt thì cả sáu căn đều như vậy.

83. Bạt Đà Da

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng đức Phật A Di Đà phóng quang, tay trì bình hương, niệm chú giải trừ cảm xúc, khiến cho chúng sanh đoạn trừ thân căn của xúc trần hư vọng, tự chứng ngộ tánh giác chơn không.

Đại ý : Bạt đà da là tùy tâm viên mãn.

Từ câu thần chú Thước bàn ra dạ đến câu nầy, Bồ tát Quán thế âm đều hiện thân tướng đủ các thân hình Bồ tát và Phật để chuyển hóa sáu phàm căn thành chơn giác.

Tuy nhiên, ngài trực tiếp chỉ dẫn cho chúng sanh cần biết phải đạt giả để tầm chơn.

Lược giải : Kể từ đức Thế tôn Quang Vương Tịnh Trụ đến nay đã trải qua vô lượng vô lượng kiếp, Bồ tát Quán thế âm đã tu chứng, nhập đại định, xả bỏ cái thân tiểu ngã vô thường để chứng cái thân vô thượng và thâm nhập được Quảng đại Viên mãn Đại bi tâm Đà la ni.

Ngài luôn luôn theo sát và làm lợi ích cho chúng sanh; đồng thời, ngài hướng dẫn chúng sanh dứt trừ nghiệp chướng để sớm đến bờ giải thoát (đáo bỉ ngạn), rốt ráo cứu cánh viên mãn.

Như phần trước có đề cập đến sự chuyển hóa ngũ căn thành : Thành sở tác trí, nghĩa là sự diệu dụng trí tuệ của ngài biến hóa thành mọi sự, mọi vật, để làm lợi ích cho các hàng Thanh văn, Duyên giác và phàm phu.

Ngài đã chuyển hóa ý căn thành : Diệu quán sát trí để quán sát rành rẽ những tướng trạng của các pháp.

Ngài đã đạt đến cái trí gọi là Đại viên cảnh trí, cho nên thấy rõ tất cả mọi cảnh giới; biến hóa đủ các thân hình nên gọi là thiên thủ, thiên nhãn (ngàn tay, ngàn con mắt), nhưng vẫn vô ngại, tùy duyên và tùy cảnh mà hóa độ.

Tay là biểu hiện cho từ bi để nâng niu, tiếp nhận; mắt là biểu hiện cho trí tuệ để quán sát, soi xét. Nơi nào cần đến sự cứu độ, thành tâm niệm danh hiệu thì ngài hiện thân đến và cứu độ ngay (tầm thanh cứu khổ).

Chúng sanh nào tâm thành chí cố để niệm thần chú nầy thì sẽ không còn bị đọa lạc vào trong tam đồ, bát nạn nữa. Thậm chí còn được phước báo là cầu gì đều được toại nguyện ; ngoại trừ những kẻ bất tín, bất kính, lòng không chí thành mà lại giấy lên niệm nghi ngờ. Sở dĩ hóa ra cả ngàn tay là ý nói công hạnh quá rộng lớn, đâu đâu cũng có sự nâng niu, ân cần của ngài, tức là Phật pháp đã hưng khởi tại nơi có dấu tay.

Với ngàn mắt là ý : nơi nào ngài cũng xem xét, trông coi có chúng sanh đang gặp nạn khổ thì ngài phải phân thân rãi thể đến cứu khổ, ban vui. Con mắt là con mắt trí tuệ, con mắt của từ bi.

Trí và bi đầy đủ và sẵn sàng che chở muôn loài, sẵn sàng nhận lấy những đau khổ thế cho chúng sanh.

Ngài đưa mắt nhìn rồi dang tay ôm trọn chúng sanh vào lòng tức là trao trọn Bi và Trí, tùy duyên cảm hóa, dắt dẫn hết thảy đến cảnh giới an lạc, tịch tịnh tức cảnh giới niết bàn xuất thế gian vậy.

Nói tóm lại, sự hóa hiện của ngài nhiều như vậy là vì có tám vạn bốn ngàn chúng sanh thì phải có đủ tám vạn bốn ngàn pháp môn.

Khi chưa chứng ngộ chơn pháp thì một thân chỉ có hai tay, hai mắt ; khi tu chứng rồi thì một mà tất cả và tất cả là một. Hạng phàm phu một thân, sáu căn thì trở thành lục tặc, bậc giác ngộ thì trở thành lục thông với thiên biến vạn hóa.

Hành giả phải biết rõ khi bị vô minh mê hoặc thì thân tâm của mình nó trở thành bát ngu, tứ thiên phiền não cũng như bát vạn tứ thiên trần lao; trái lại, như trên đã nói: tu chứng rồi thì chuyển thức thành trí thì sự hoạt dụng của nó khắp cả thái hư, càn khôn, nên gọi là gom càn khôn mà làm lượng, là tâm bao thái hư.

Điều mà hành giả phải lưu tâm: Hành trì thần chú là đem hết tâm niệm của mình tín thâm, chí cố, đừng đem cái trí phàm phu mà luận bàn.

Nói như vậy, không có nghĩa là : Chúng ta nhắm mắt theo suông, nhưng, khi chúng ta tu tập theo thần chú cao siêu mầu nhiệm nầy thì ít nhất cũng đã được tu tập và thực hành những lớp Phật pháp căn bản và đã thực tập những gì trong Phật pháp rồi.

Nói cách khác, chúng ta đã bước lên một cấp khá vững mạnh và khá cao trong giáo lý Phật đà.

84. Ta Bà Ha

Bồ tát Quán thế âm hóa hiện thân tướng vị Hộ pháp, tay cầm tràng phan để giải trừ phân biệt các pháp ; khiến chúng sanh đoạn trừ ý căn chấp pháp trần lao hư vọng, tự chứng ngộ tánh chơn không.

Đại ý : Ta bà ha là thành tựu, đại thành tựu, đại viên mãn.

Ý nghĩa đều giống như các trang trước có chữ Ta bà ha (bắt đầu trang 160 – Có ở trong sách). Ở đây cần nói thêm là: Kết thúc toàn bài chú thì đúng hơn.

Lược giải : Trong tất cả các bài thần chú của Phật đa số thì kết thúc bằng ba chữ: Ta bà ha.

Như trong câu chú : Bạt đà da có nói : Bồ tát Quán thế âm đã thân chứng hết tất cả tiền ngũ thức thành : Thành sở tác trí và ý thức thành : Diệu quán sát trí rồi ; do đó, Trí và Bi đều đầy đủ, tức hoàn toàn viên mãn.

Sự lý dung thông. Tu tập đến mức độ nầy thì, tam giới, lục đạo, trời và mọi loài không còn ngăn ngại ; tự và tha không khác, không còn bị nạn khổ ràng buộc.

Sự luân hồi, vọng hoặc không còn là ma chướng. Đi đâu và sống ở đâu cũng an lạc. Ở đâu cũng là tịnh độ, giải thoát. Lúc nầy, tam giới không còn là hỏa trạch mà là quốc độ diệu nghiêm. Và, kiếm thọ giai vi ngọc, đao sơn tận tác bảo sơn.

Để kết thúc toàn bài chú, hành giả tự chứng biết : Các việc ác không nên làm, các việc thiện cố gắng phụng hành, luôn giữ tâm thanh tịnh, đó là chánh pháp vậy.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *