Đại Phẩm – Chương Y Phục

TẠNG LUẬT PALI – ĐẠI PHẨM
Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch
—o0o—

VIII. CHƯƠNG Y PHỤC (CĪVARAKKHANDHAKAṂ)

[128] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, thành Vesālī được phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỷ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với giá) năm mươi (kahāpaṇa). Và có nàng thành Vesālī càng thêm phần rạng rỡ.

Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đi đến Vesālī do công việc cần thiết. Viên thị trưởng thành Rājagaha đã nhìn thấy thành Vesālī là phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỷ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với giá) năm mươi (kahāpaṇa), và có nàng thành Vesālī càng thêm phần rạng rỡ. Sau đó, khi đã hoàn tất công việc cần làm ấy ở Vesālī, viên thị trưởng thành Rājagaha đã quay về lại thành Rājagaha và đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:

– Tâu bệ hạ, thành Vesālī là phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỷ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với giá) năm mươi (kahāpaṇa), và có nàng thành Vesālī càng thêm phần rạng rỡ. Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay nếu chúng ta cũng có thể đào tạo thành kỷ nữ.

– Này khanh, như thế thì khanh hãy tìm người con gái tương tợ rồi đào tạo nàng thành kỷ nữ.

Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có người con gái tên Sālavatī là người xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất. Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đào tạo người con gái Sālavatī thành kỷ nữ. Sau đó chẳng bao lâu, nàng kỷ nữ Sālavatī đã trở nên thiện xảo về múa hát đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, và nàng qua đêm (với giá) một trăm. Sau đó chẳng bao lâu, nàng kỷ nữ Sālavatī đã mang thai. Khi ấy, nàng kỷ nữ Sālavatī đã khởi ý điều này: “Đàn bà mang thai đâu còn được đàn ông ưa thích. Nếu có người biết rằng: ‘Kỷ nữ Sālavatī mang thai’ thì tất cả các người đeo đuổi sẽ bỏ rơi ta. Hay là ta nên cáo bệnh?” Sau đó, nàng kỷ nữ Sālavatī đã bảo người gác cổng rằng:

– Này chú em gác cổng, chớ để bất cứ người đàn ông nào vào. Và ai hỏi ta thì bảo rằng: “Bị bệnh.”

– Thưa cô chủ, xin vâng. Người gác cổng ấy đã đáp lại nàng kỷ nữ Sālavatī.

Sau đó, khi bào thai ấy được phát triển đầy đủ, nàng kỷ nữ Sālavatī đã sanh ra đứa bé trai. Khi ấy, nàng kỷ nữ Sālavatī đã bảo người tớ gái rằng:

– Này em, giờ hãy đặt đứa bé trai này vào trong giỏ đan loại nhỏ rồi mang đi quăng bỏ ở đống rác.

– Thưa cô chủ, xin vâng.

Rồi người tớ gái ấy nghe theo nàng kỷ nữ Sālavatī đã đặt đứa bé trai ấy vào trong giỏ đan loại nhỏ rồi mang đi quăng bỏ ở đống rác.

Vào lúc bấy giờ, có vương tử tên là Abhaya đang đi chầu vua vào sáng sớm đã nhìn thấy đứa bé trai ấy đang bị bầy quạ bu quanh, sau khi nhìn thấy đã hỏi mọi người rằng:

– Này các khanh, vật gì bị bầy quạ bu quanh vậy?

– Thưa ngài, đứa bé trai.

– Này các khanh, còn sống không?

– Thưa ngài, còn sống.

– Này các khanh, như thế thì hãy mang đứa bé trai ấy về hậu cung của chúng ta và giao cho các vú nuôi chăm sóc.

– Thưa ngài, xin vâng.

Rồi những người dân ấy nghe theo vương tử Abhaya đã mang đứa bé trai ấy về hậu cung của vương tử Abhaya rồi giao cho các vú nuôi (nói rằng):

– Các người hãy chăm sóc.

Họ đã đặt tên đứa bé là “Jīvaka ” (vì khi vương tử Abhaya hỏi là “Cái gì?” thì mọi ngưòi trả lời là “Jīvati” nghĩa là “còn sống”). Và bởi vì “được nuôi dưỡng bởi vương tử” (kumārena posāpitoti) nên đã được đặt tên là “Komārabhacca.”

Sau đó chẳng bao lâu, Jīvaka Komārabhacca đã đạt đến tuổi hiểu biết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp vương tử Abhaya, sau khi đến đã nói với vương tử Abhaya điều này:

– Thưa ngài, ai là mẹ của con, ai là cha của con?

– Này Jīvaka thương, ta cũng không biết mẹ của con; tuy nhiên ta là cha của con vì con đã được ta nuôi dưỡng.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Không có nghề nghiệp không dễ gì sống nhờ vả vào các gia đình vương giả này, hay là ta nên học lấy nghề nghiệp?”

[129] Vào lúc bấy giờ, có người thầy thuốc tiếng tăm lẫy lừng sống ở Takkasilā. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca không xin phép vương tử Abhaya đã đi đến Takkasilā, tuần tự đã đi đến Takkasilā gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:

– Thưa thầy, con muốn học nghề.

– Này Jīvaka mến, như vậy thì con có thể học.

Sau đó, Jīvaka Komārabhacca học nhiều, học nhanh chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Sau đó, khi trải qua bảy năm Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý rằng: “Ta học nhiều, học nhanh chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Và trong khi ta đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng của nghề này vẫn không được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của nghề này mới được biết đến?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:

– Thưa thầy, con học nhiều, học nhanh chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Và trong khi con đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng của nghề này vẫn không được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của nghề này mới được biết đến?

– Này Jīvaka mến, như vậy thì con hãy cầm lấy cái thuổng, đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, nếu con thấy được bất cứ vật gì không phải là dược phẩm thì hãy đem vật ấy về đây.

– Thưa thầy, xin vâng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo người thuốc ấy đã cầm lấy cái thuổng, và trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, đã không nhìn thấy bất cứ vật gì không phải là dược phẩm. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:

– Thưa thầy, trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần con đã không thấy được bất cứ vật gì không phải là dược phẩm.

– Này Jīvaka mến, con đã học xong. Bấy nhiêu đó đã đủ cho cuộc sống của con rồi.

Rồi người thầy thuốc ấy đã trao cho Jīvaka Komārabhacca chút ít (tiền) dự phòng đường xa. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nhận lấy chút ít (tiền) dự phòng đường xa rồi ra đi về phía thành Rājagaha. Sau đó, vào khoảng giữa cuộc hành trình, ở Sāketa chút ít (tiền) dự phòng đường xa ấy đã hết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Những con đường này hoang vắng, ít nước, ít thức ăn, không có (tiền) dự phòng đường xa không phải dễ dàng để đi, hay là ta nên kiếm (tiền) dự phòng đường xa?”

[130] Vào lúc bấy giờ, ở Sāketa có người vợ của nhà đại phú bị bệnh đau đầu đã bảy năm. Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi vào Sāketa và hỏi dân chúng rằng:

– Này các người, ai bị bệnh? Tôi chữa trị ai đây?

– Này ông thầy, người vợ nhà đại phú kia bị bệnh đau đầu đã bảy năm. Này ông thầy, hãy đi và chữa trị người vợ nhà đại phú.

Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến tư gia của vị đại phú, sau khi đến đã bảo người gác cổng rằng:

– Này chú gác cổng, hãy đi và báo cho người vợ nhà đại phú điều này: “Thưa bà, người thầy thuốc đã đến, ông ấy có ý muốn gặp bà.”

– Thưa thầy, xin vâng.

Rồi người gác cổng ấy nghe theo Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã nói với người vợ nhà đại phú điều này:

– Thưa bà, người thầy thuốc đã đến, ông ấy có ý muốn gặp bà.

– Này chú gác cổng, người thầy thuốc ra làm sao?

– Thưa bà, còn trẻ lắm.

– Này chú gác cổng, thôi đủ rồi! Thầy thuốc còn trẻ lắm thì sẽ làm được gì cho ta? Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi.

Sau đó, người gác cổng ấy đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, người vợ nhà đại phú đã nói như vầy: “Này chú gác cổng, thôi đủ rồi! Thầy thuốc còn trẻ lắm thì sẽ làm được gì cho ta? Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi.”

– Này chú gác cổng, hãy đi và báo cho người vợ nhà đại phú như vầy: “Thưa bà, người thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Thưa bà, bà không phải đưa trước vật gì. Khi nào khỏi bệnh, khi ấy bà muốn cho vật gì thì bà cứ việc cho vật ấy’.”

– Thưa thầy, xin vâng.

Rồi người gác cổng ấy nghe theo Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã nói với người vợ nhà đại phú điều này:

– Thưa bà, người thầy thuốc đã nói như vầy: “Thưa bà, bà không phải đưa trước vật gì. Khi nào khỏi bệnh, khi ấy bà muốn cho vật gì thì bà cứ việc cho vật ấy.”

– Này chú gác cổng, như thế thì hãy bảo người thầy thuốc đi đến.

– Thưa bà, xin vâng.

Rồi người gác cổng ấy nghe theo người vợ nhà đại phú đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, người vợ nhà đại phú cho gọi thầy.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của người vợ nhà đại phú rồi nói với người vợ nhà đại phú điều này:

– Thưa bà, tôi cần một bụm tay bơ lỏng.

Khi ấy, người vợ nhà đại phú đã bảo người trao cho Jīvaka Komārabhacca một bụm tay bơ lỏng. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nấu sôi bụm tay bơ lỏng ấy với nhiều loại dược phẩm rồi bảo người vợ nhà đại phú nằm ngửa ở trên giường và cho vào theo đường mũi. Sau đó, bơ lỏng đã được cho vào theo đường mũi ấy đã đi ra theo đường miệng. Khi ấy, người vợ nhà đại phú đã nhổ bơ lỏng ấy vào vật đựng rồi bảo người tớ gái rằng:

– Này em, hãy thu hồi lại bơ lỏng này bằng lớp gòn.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ lạ! Bà chủ nhà này thật là hà tiện! Bởi vì thứ bơ lỏng chỉ đáng quăng bỏ này còn được bảo thu hồi lại bằng lớp gòn! Và nhiều thứ thuốc vô cùng quý giá của ta đã được sử dụng, rồi bà ta sẽ trả công cán cho ta bằng cái gì đây?” Khi ấy, sau khi xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của Jīvaka Komārabhacca, người vợ nhà đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, sao thầy có vẻ lo âu vậy?

– Trong trường hợp này, tôi đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ lạ! Bà chủ nhà này thật là hà tiện! Bởi vì thứ bơ lỏng chỉ đáng quăng bỏ này còn được bảo thu hồi lại bằng lớp gòn! Và nhiều thứ thuốc vô cùng quý giá của ta đã được sử dụng, rồi bà ta sẽ trả công cán cho ta bằng cái gì đây?”

– Thưa thầy, chúng tôi là những gia chủ hiểu về điều ấy là sự tiết kiệm. Bơ lỏng ấy là thuốc xoa chân rất tốt cho các tôi tớ và các người làm công, hoặc là dầu cho việc đốt đèn. Thưa thầy, thầy chớ có lo âu. Sự trả công cho thầy sẽ không phải bỏ phí.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã trị dứt chứng bệnh đau đầu bảy năm của người vợ nhà đại phú chỉ bằng có mỗi một việc làm ở mũi. Sau đó, khi được khỏi bệnh người vợ nhà đại phú đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người con trai (nghĩ rằng): “Mẹ ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người con dâu (nghĩ rằng): “Mẹ chồng ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người gia chủ đại phú (nghĩ rằng): “Vợ ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn, một tôi trai, một tớ gái, và chiếc xe ngựa. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy mười sáu ngàn ấy, một tôi trai, một tớ gái, và chiếc xe ngựa rồi ra đi đến thành Rājagaha. Tuần tự, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến thành Rājagaha gặp vương tử Abhaya, sau khi đến đã nói với vương tử Abhaya điều này:

– Thưa ngài, đây là công việc đầu tiên của con gồm có mười sáu ngàn, một tôi trai, một tớ gái, và chiếc xe ngựa. Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lấy cho việc đã nuôi dưỡng con.

– Này Jīvaka thương, thôi đi, hãy để cho chính con. Con hãy cho xây biệt thự trong tư dinh của chúng ta.

– Thưa ngài, xin vâng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo vương tử Abhaya đã cho xây biệt thự trong tư dinh của vương tử Abhaya

[131] Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bị bệnh rò rỉ (bhagandalābādha). Các vải choàng đều bị lấm lem bởi máu. Các vương phi thấy được trêu ghẹo rằng:

– Bữa nay, chúa công tới chu kỳ. Kinh nguyệt của chúa công đã có. Chẳng bao lâu nữa chúa công sẽ sanh con.

Vì chuyện ấy, đức vua bị xấu hổ. Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với vương tử Abhaya điều này:

– Này khanh Abhaya, trẫm có bệnh giống như vầy. Các vải choàng đều bị lấm lem bởi máu. Các vương phi thấy được trêu ghẹo rằng: “Bữa nay, chúa công tới chu kỳ. Kinh nguyệt của chúa công đã có. Chẳng bao lâu nữa chúa công sẽ sanh con.” Này khanh Abhaya, hãy tìm thầy thuốc hạng nào đó có thể điều trị cho trẫm.

– Tâu bệ hạ, Jīvaka này của thần là thầy thuốc trẻ, giỏi giang, cậu ta sẽ điều trị cho bệ hạ.

– Này khanh Abhaya, như thế thì hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka. Vị ấy sẽ điều trị cho trẫm.

Sau đó, vương tử Abhaya đã truyền lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:

– Này con Jīvaka, hãy đi và điều trị cho đức vua.

– Thưa ngài, xin vâng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo vương tử Abhaya sau khi nhét dược phẩm vào trong móng tay rồi đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:

– Tâu bệ hạ, hãy để thần xem bệnh của bệ hạ.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã trị dứt căn bệnh rò rỉ của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha chỉ bằng có mỗi một liều thuốc thoa. Sau đó, khi được khỏi bệnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cho người trang điểm năm trăm người nữ với tất cả các đồ trang sức, xong bảo tháo ra, cho chất thành đống, rồi nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Này khanh Jīvaka, tất cả các đồ trang sức này từ năm trăm người nữ là của khanh.

– Tâu bệ hạ, không dám, chỉ xin bệ hạ hãy nhớ cho chức vụ của thần.

– Này khanh Jīvaka, như vậy thì khanh hãy phục vụ trẫm, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu.

– Tâu bệ hạ, xin vâng. Jīvaka Komārabhacca đã trả lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.

[132] Vào lúc bấy giờ, có nhà đại phú ở thành Rājagaha bị bệnh đau đầu đã được bảy năm. Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi. Hơn nữa, ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: “Trong năm ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.” Một số thầy thuốc khác đã nói như vầy: “Trong bảy ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.” Khi ấy, vị thị trưởng thành Rājagaha đã khởi ý điều này: “Người gia chủ đại phú này có nhiều cống hiến cho đức vua và cho thị trấn nữa. Tuy nhiên, ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Trong năm ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.’ Một số thầy thuốc khác đã nói như vầy: ‘Trong bảy ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.’ Và Jīvaka này là thầy thuốc của đức vua, trẻ tuổi, và giỏi giang, hay là chúng ta nên cầu xin đức vua phái thầy thuốc Jīvaka điều trị cho người gia chủ đại phú vậy?” Sau đó, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:

– Tâu bệ hạ, người gia chủ đại phú này có nhiều cống hiến cho đức vua và cho thị trấn nữa. Tuy nhiên, ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: “Trong năm ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.” Một số thầy thuốc khác đã nói như vầy: “Trong bảy ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết.” Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka điều trị cho người gia chủ đại phú.

Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:

– Này khanh Jīvaka, hãy đi và điều trị cho người gia chủ đại phú.

– Tâu bệ hạ, xin vâng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp người gia chủ đại phú, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của người gia chủ đại phú rồi đã nói với người gia chủ đại phú điều này:

– Này gia chủ, nếu tôi chữa ông khỏi bệnh ấy, tôi sẽ được công cán gì đây?

– Thưa thầy, tất cả tài sản sẽ là của thầy và tôi sẽ là đầy tớ của thầy.

– Này gia chủ, ông có thể nằm một bên hông trong bảy tháng không?

– Thưa thầy, tôi có thể nằm một bên hông trong bảy tháng.

– Này gia chủ, ông có thể nằm bên hông kia trong bảy tháng không?

– Thưa thầy, tôi có thể nằm bên hông kia trong bảy tháng.

– Này gia chủ, ông có thể nằm ngửa trong bảy tháng không?

– Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng.

Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã bảo người gia chủ đại phú nằm xuống trên giường, sau khi buộc chặt ở trên giường rồi đã cắt làn da đầu, tách đôi vết mổ, rồi lôi ra hai con sâu đưa cho mọi người thấy (nói rằng):

– Hãy xem hai con sâu một nhỏ một lớn này. Các vị thầy nào đã nói như vầy: “Trong năm ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết,” các vị ấy đã thấy con sâu lớn này trong năm ngày nữa sẽ xâm nhập bộ não của người gia chủ đại phú; do sự xâm nhập vào bộ não mà người gia chủ đại phú sẽ phải chết. Các vị thầy ấy đã nhìn thấy đúng. Còn các vị thầy nào đã nói như vầy: “Trong bảy ngày nữa, người gia chủ đại phú này sẽ chết,” các vị ấy đã thấy con sâu nhỏ này trong bảy ngày nữa sẽ xâm nhập bộ não của người gia chủ đại phú; do sự xâm nhập vào bộ não mà người gia chủ đại phú sẽ phải chết. Các vị thầy ấy đã nhìn thấy đúng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca đã khép lại vết mổ, khâu lại đường cắt ở đầu, và bôi thuốc mỡ vào.

Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, tôi không thể nằm một bên hông trong bảy tháng.

– Này gia chủ, không phải ông đã cam đoan với tôi rằng: “Thưa thầy, tôi có thể nằm một bên hông trong bảy tháng” hay sao?

– Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã cam đoan, nhưng mà tôi sẽ chết mất. Tôi không thể nằm một bên hông trong bảy tháng.

– Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nằm bên hông kia trong bảy tháng.

Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, tôi không thể nằm bên hông kia trong bảy tháng.

– Này gia chủ, không phải ông đã cam đoan với tôi rằng: “Thưa thầy, tôi có thể nằm bên hông kia trong bảy tháng” hay sao?

– Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã cam đoan, nhưng mà tôi sẽ chết mất. Tôi không thể nằm một bên hông trong bảy tháng.

– Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nằm ngửa trong bảy tháng.

Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, tôi không thể nằm ngửa trong bảy tháng.

– Này gia chủ, không phải ông đã cam đoan với tôi rằng: “Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng” hay sao?

– Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã cam đoan, nhưng mà tôi sẽ chết. Tôi không thể nằm ngửa trong bảy tháng.

– Này gia chủ, nếu tôi không nói nhiều lên như thế thì ông không thể nằm xuống được như vầy. Hơn nữa, tôi đã tính trước và biết rằng: “Trong ba lần bảy ngày, người gia chủ đại phú sẽ khỏi bệnh.” Này gia chủ, hãy đứng dậy, ông đã khỏi bệnh. Ông hãy xem coi “Công cán của tôi là cái gì?”

– Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và tôi sẽ là đầy tớ của thầy.

– Này gia chủ, thôi đi. Ông chớ có cho tôi tất cả tài sản và chớ có là đầy tớ của tôi. Hãy trao cho đức vua một trăm ngàn và tôi một trăm ngàn.

Sau đó, người gia chủ đại phú được khỏi bệnh đã trao cho đức vua một trăm ngàn và Jīvaka Komārabhacca một trăm ngàn.

[133] Vào lúc bấy giờ, người con trai của nhà đại phú ở Bārāṇasī (Ba La Nại) trong lúc chơi giỡn trò nhào lộn bị bệnh xoắn ruột. Vì thế, ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, vật thực ăn vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Do đó, cậu trai trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Khi ấy, nhà đại phú thành Bārāṇasī đã khởi ý điều này: “Con trai ta có chứng bệnh như thế này. Ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, vật thực ăn vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Do đó, con trai ta trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Hay là ta nên đi đến thành Rājagaha cầu xin đức vua phái thầy thuốc Jīvaka điều trị cho con trai của ta vậy?” Sau đó, nhà đại phú ở Bārāṇasī đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:

– Tâu bệ hạ, con trai thần có chứng bệnh như thế này. Ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, vật thực ăn vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Do đó, con trai thần trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka điều trị cho con trai của thần.

Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:

– Này khanh Jīvaka, hãy đi. Sau khi đi đến Bārāṇasī khanh hãy điều trị cho con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī.

– Tâu bệ hạ, xin vâng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi Bārāṇasī gặp người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī rồi bảo mọi người tránh đi, dùng màn che vây kín lại, cột chặt (người con trai) vào cây cột nhà, bảo người vợ đứng ở phía trước, rồi cắt làn da ở bụng, lấy ruột ra, đưa cho người vợ thấy (nói rằng):

– Hãy nhìn xem bệnh của tướng công bà. Vì điều này mà ngay cả cháo húp vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, vật thực ăn vào cũng không được tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Vì điều ấy, người này trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.

Rồi Jīvaka Komārabhacca đã tháo gở phần ruột bị xoắn, đặt các thứ ruột vào trở lại, khâu lại làn da bụng, rồi bôi thuốc mỡ vào.

Sau đó chẳng bao lâu, người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī đã được khỏi bệnh. Khi ấy, người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī (nghĩ rằng): “Ta đã được khỏi bệnh” rồi đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca mười sáu ngàn. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy mười sáu ngàn ấy rồi quay trở về lại thành Rājagaha.

[134] Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota xứ Ujjenī bị bệnh vàng da. Nhiều thầy thuốc vô cùng nổi danh và tiếng tăm lừng lẫy đã đi đến và chữa trị dài ngày vẫn không đủ khả năng làm lành bệnh; họ đã nhận lãnh nhiều vàng rồi ra đi. Sau đó, đức vua Pajjota đã phái sứ giả đi đến tâu trực tiếp với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rằng:

– Tâu bệ hạ, tôi bị bệnh như thế này. Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka điều trị cho tôi.

Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:

– Này khanh Jīvaka, hãy đi. Sau khi đi đến Ujjenī khanh hãy điều trị cho đức vua Pajjota.

– Tâu bệ hạ, xin vâng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi Ujjenī gặp đức vua Pajjota, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi ở sắc mặt của đức vua Pajjota rồi đã nói điều này:

– Tâu bệ hạ, thần sẽ đun sôi bơ lỏng và bệ hạ sẽ uống thứ ấy.

– Này khanh Jīvaka, thôi đi. Ngươi hãy làm khỏi bệnh bằng cách nào mà có thể không dùng bơ lỏng. Đối với ta, bơ lỏng ghê tởm và không thích hợp.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Bệnh của đức vua này là như thế ấy; không dùng bơ lỏng ta không thể nào làm khỏi bệnh được. Hay là ta nên nấu sôi bơ lỏng có màu cam, hương của cam, và vị của cam?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nấu sôi bơ lỏng có màu cam, hương của cam, và vị của cam với nhiều loại dược phẩm. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Bơ lỏng khi đã được đức vua này uống vào, trong khi được tiêu hóa sẽ làm ợ chua. Đức vua này thì tàn bạo có thể cho người giết ta, hay là ta nên hỏi phòng xa trước?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức vua Pajjota, sau khi đến đã nói với đức vua Pajjota điều này:

– Tâu bệ hạ, những người thầy thuốc chúng tôi nhổ các thứ rễ cây, thu hoạch các thứ dược phẩm vào thời điểm thích hợp. Tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho các trạm xe và các cổng thành rằng: “Jīvaka muốn đi bằng xe nào thì hãy để cho đi bằng xe đó, muốn đi ra bằng cổng nào thì hãy để cho đi ra bằng cổng đó, muốn đi ra lúc nào thì hãy cho đi ra lúc đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy cho đi vào lúc đó.”

Sau đó, đức vua Pajjota đã ra lệnh cho các trạm xe và các cổng thành rằng:

– Jīvaka muốn đi bằng xe nào thì hãy để cho đi bằng xe đó, muốn đi ra bằng cổng nào thì hãy để cho đi ra bằng cổng đó, muốn đi ra lúc nào thì hãy cho đi ra lúc đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy cho đi vào lúc đó.

Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota có con voi cái tên là Bhaddavatikā có thể đi năm mươi do tuần (trong một ngày). Rồi Jīvaka Komārabhacca đã đem lại thứ bơ lỏng ấy cho đức vua Pajjota (nói rằng):

– Xin bệ hạ hãy uống cam.

Sau đó, khi đã cho đức vua Pajjota uống bơ lỏng xong, Jīvaka Komārabhacca đã đi ra chuồng voi và vội vã rời thành phố bằng con voi cái Bhaddavatikā. Sau đó, khi đã được đức vua Pajjota uống vào và trong khi tiêu hóa, bơ lỏng ấy đã làm ợ chua. Khi ấy, đức vua Pajjota đã nói với mọi người điều này:

– Này các khanh, Jīvaka xảo trá đã làm cho ta phải uống bơ lỏng. Như thế thì các khanh hãy truy nã thầy thuốc Jīvaka.

– Tâu bệ hạ, (thầy thuốc Jīvaka) đã vội vã rời thành phố bằng con voi cái Bhaddavatikā rồi.

Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota có nam nô lệ tên là Kāka được sanh ra có nguồn gốc phi nhân có thể đi sáu mươi do tuần (trong một ngày). Khi ấy, đức vua Pajjota đã ra lệnh cho nô lệ Kāka rằng:

– Này khanh Kāka, hãy đi và hãy đem thầy thuốc Jīvaka quay trở về (nói rằng): “Thưa thầy, đức vua bảo đem thầy quay trở về.” Này khanh Kāka, bọn thầy thuốc ấy vốn vô cùng quỷ quyệt nên khanh chớ có nhận lãnh bất cứ vật gì từ ông ta.

Sau đó, vào khoảng giữa đường đi tại thành Kosambī, người nô lệ Kāka đã bắt gặp Jīvaka Komārabhacca đang dùng điểm tâm. Khi ấy, người nô lệ Kāka đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, đức vua bảo đem thầy quay trở về.

– Này chú em Kāka, hãy chờ cho ta ăn. Này chú em Kāka, ngươi cũng nên ăn đi.

– Thưa thầy, thôi đi. Tôi đã được đức vua ra lệnh rằng: “Này khanh Kāka, bọn thầy thuốc ấy vốn vô cùng quỷ quyệt nên khanh chớ có nhận lãnh bất cứ vật gì từ ông ta.”

Vào lúc bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã dùng móng tay khảy lấy (chút) dược phẩm rồi ăn trái cây āmalaka và uống nước. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã nói với nô lệ Kāka điều này:

– Này chú em Kāka, ngươi hãy ăn trái cây āmalaka và nên uống nước.

Khi ấy, nô lệ Kāka (nghĩ rằng): “Thầy thuốc này ăn trái cây āmalaka và uống nước. Điều ấy xem ra không có điều gì là sai trái cả” rồi đã ăn nửa trái āmalaka và uống nước. Khi người nô lệ ấy vừa ăn vào nửa phần của trái āmalaka ấy liền bị ói ra ngay tại chỗ ấy. Khi ấy, nô lệ Kāka đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Thưa thầy, tôi có được còn mạng sống không?

– Này chú em Kāka, chớ có sợ. Rồi chính ngươi sẽ được khỏi bệnh. Còn đức vua thì tàn bạo, đức vua ấy cũng có thể ra lệnh giết ta; vì thế ta không quay trở lại.

Sau khi đã trao con voi cái Bhaddavatikā cho nô lệ Kāka dắt trở về, Jīvaka Komārabhacca đã ra đi về phía thành Rājagaha, tuần tự đã đi đến thành Rājagaha gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã trình sự việc ấy cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.

– Này khanh Jīvaka, khanh đã làm tuyệt lắm. Bởi vì nếu khanh không vội vã ra đi, đức vua Pajjota tàn bạo ấy cũng có thể ra lệnh giết khanh.

Sau đó, đức vua Pajjota khi được khỏi bệnh đã phái sứ giả đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca (nói rằng):

– Jīvaka hãy đi đến. Trẫm sẽ ban đặc ân.

(Jīvaka Komārabhacca đã nhắn lại rằng:)

– Tâu bệ hạ, thôi đi. Chỉ xin bệ hạ nhớ cho chức vụ của thần.

Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota được phát sanh xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi là loại hạng nhất, phẩm chất tốt, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải, trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi. Sau đó, đức vua Pajjota đã phái người đem xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi ban cho Jīvaka Komārabhacca. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi đã được đức vua Pajjota gởi đến cho ta là loại hạng nhất, phẩm chất tốt, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải, trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi; không ai xứng đáng để sử dụng xấp vải đôi này ngoại trừ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy hoặc là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.”

[135] Vào lúc bấy giờ, cơ thể của đức Thế Tôn phát ra mùi khó chịu. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo với đại đức Ānanda rằng:

– Này Ānanda, cơ thể của Như Lai phát ra mùi khó chịu. Như Lai muốn uống liều thuốc xổ.

Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Này đạo hữu Jīvaka, cơ thể của Như Lai phát ra mùi khó chịu. Như Lai muốn uống liều thuốc xổ.

– Thưa ngài Ānanda, như thế thì ngài hãy thoa dầu nơi cơ thể của đức Thế Tôn một vài ngày.

Sau đó, khi đã thoa dầu nơi cơ thể của đức Thế Tôn một vài ngày, đại đức Ānanda đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:

– Này đạo hữu Jīvaka, cơ thể của Như Lai đã được thoa dầu, đạo hữu hãy suy nghĩ xem bây giờ là thời điểm của việc gì.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Thật là không đúng đắn cho ta việc ta dâng đức Thế Tôn liều thuốc xổ thô tháo, hay là ta nên dùng ba nắm sen và nhiều loại dược phẩm trộn lẫn nhau rồi dâng đến đức Như Lai?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã dùng ba nắm sen và nhiều loại dược phẩm trộn lẫn nhau rồi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã dâng lên đức Thế Tôn một nắm sen (nói rằng):

– Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ nhất này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần.

Rồi đã dâng đức Thế Tôn nắm sen thứ hai (nói rằng):

– Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ hai này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần.

Rồi đã dâng đức Thế Tôn nắm sen thứ ba (nói rằng):

– Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ ba này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần. Như thế đức Thế Tôn sẽ có liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.

Sau đó, khi đã dâng đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần, Jīvaka Komārabhacca đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Khi ấy, trong khi đang đi ra khỏi cổng ra vào, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Ta đã dâng lên đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần nhưng do cơ thể của đức Như Lai đã bị phát ra mùi khó chịu nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ tắm; và khi tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.”

Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của Jīvaka Komārabhacca nên đã bảo đại đức Ānanda rằng:

– Này Ānanda, ở đây trong khi đang đi ra khỏi cổng ra vào, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Ta đã dâng lên đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần nhưng do cơ thể của đức Như Lai đã bị phát ra mùi khó chịu nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ tắm; và khi tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.” Này Ānanda, như thế thì ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng nước nóng.

– Bạch ngài, xin vâng.

Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã chuẩn bị sẵn sàng nước nóng.

Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, đức Thế Tôn đã được xổ chưa?

– Này Jīvaka, ta đã được xổ.

– Bạch ngài, ở đây trong khi đang đi ra khỏi cổng ra vào, con đã khởi ý điều này: “Ta đã dâng lên đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần nhưng do cơ thể của đức Như Lai đã bị phát ra mùi khó chịu nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ tắm; và khi tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.” Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy tắm, xin đấng Thiện Thệ hãy tắm.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã tắm nước nóng. Khi tắm, (liều thuốc) đã làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn đã có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, cho đến khi cơ thể của đức Thế Tôn trở lại bình thường, cần kiêng đồ khất thực là nước trái cây.

Sau đó chẳng bao lâu, cơ thể của đức Thế Tôn đã được bình thường. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, con cầu xin đức Thế Tôn một điều ước muốn.

– Này Jīvaka, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.

– Bạch ngài, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị chê trách.

– Này Jīvaka, hãy nói đi.

– Bạch ngài, đức Thế Tôn là vị sử dụng y may từ vải bị quăng bỏ, và hội chúng tỳ khưu cũng vậy. Bạch ngài, xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi này của con đã được gởi đến từ vua Pajjota là loại hạng nhất, phẩm chất tốt, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải, trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi. Bạch ngài, xin ngài thọ lãnh xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi này của con và cho phép y của gia chủ (gahapaticīvaraṃ) [1] đến hội chúng tỳ khưu.

Đức Thế Tôn đã thọ lãnh xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ta cho phép y của gia chủ. Vị nào thích thì hãy là vị sử dụng y may từ vải bị quăng bỏ, vị nào thích thì hãy chấp nhận y của gia chủ. Và này các tỳ khưu, ta ngợi khen sự biết đủ (dầu) với loại này hay loại kia (itarītarena).

[136] Rồi dân chúng trong thành Rājagaha đã nghe được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và những người dân ấy đã trở nên mừng rỡ phấn chấn (nghĩ rằng): “Giờ đây, chúng ta sẽ dâng các vật bố thí, chúng ta sẽ làm các việc phước thiện, bởi vì đức Thế đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và chỉ trong một ngày, ở trong thành Rājagaha nhiều ngàn y đã được phát sanh.

Rồi dân chúng trong nước đã nghe được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và những người dân ấy đã trở nên mừng rỡ phấn chấn (nghĩ rằng): “Giờ đây, chúng ta sẽ dâng các vật bố thí, chúng ta sẽ làm các việc phước thiện, bởi vì đức Thế đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và chỉ trong một ngày, ở trong nước nhiều ngàn y đã được phát sanh.

[137] Vào lúc bấy giờ, có tấm vải choàng (pāvāro) được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm vải choàng.

Có tấm vải choàng bằng tơ lụa (koseyyapāvāro) được phát sanh đến hội chúng.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm vải choàng bằng tơ lụa.

Có tấm choàng lông (kojava) được phát sanh đến hội chúng.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm choàng lông.

Dứt tụng phẩm thứ nhất.

[138] Vào lúc bấy giờ, đức vua xứ Kāsī đã gởi đến Jīvaka Komārabhacca tấm mền len (kambalaṃ) trị giá nửa kāsī[2] hoặc tương đương với nửa kāsī. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy tấm mền len trị giá nửa kāsī ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, tấm mền len này của con trị giá nửa kāsī hoặc tương đương với nửa kāsī đã được đức vua xứ Kāsī gởi đến. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lãnh tấm mền, điều ấy sẽ đem lại sự lợi ích và sự an lạc lâu dài cho con.

Đức Thế Tôn đã thọ lãnh tấm mền len. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) tấm mền len.

[139] Vào lúc bấy giờ, có các y loại đặc biệt phát sanh đến hội chúng. Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Loại y nào đã được đức Thế Tôn cho phép, loại nào không được cho phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại y: loại bằng sợi lanh (khomaṃ), loại bằng bông vải (kappāsikaṃ), loại bằng tơ lụa (koseyyaṃ), loại bằng sợi len (kambalaṃ), loại bằng gai thô (sāṇam), loại bằng chỉ bố (bhaṅgaṃ).

Vào lúc bấy giờ, những vị tỳ khưu nào chấp nhận y của gia chủ, những vị ấy ngần ngại không chấp nhận loại vải dơ bị quăng bỏ (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn cho phép chỉ một loại y chứ không phải hai.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép vị chấp nhận y của gia chủ chấp nhận luôn cả loại vải dơ bị quăng bỏ và này các tỳ khưu ta ngợi khen sự biết đủ với cả hai loại ấy,

[140] Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã không chờ đợi. Những vị tỳ khưu đi vào bãi tha ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị tỳ khưu không chờ đợi đã nói như vầy:

– Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.

Những vị kia đã nói như vầy:

– Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không chờ đợi?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép không chia phần cho các vị không chờ đợi nếu không có ý muốn.

Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã chờ đợi. Những vị tỳ khưu đi vào bãi tha ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những tỳ khưu chờ đợi đã nói như vầy:

– Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.

Những vị kia đã nói như vầy:

– Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không đi vào?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị đã chờ đợi mặc dầu không muốn.

Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma trước để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã đi vào sau. Những vị tỳ khưu đi vào bãi tha ma trước đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị tỳ khưu đi vào sau đã không nhặt được. Những vị ấy đã nói như vầy:

– Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.

Những vị kia đã nói như vầy:

– Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã đi vào sau?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép không chia phần cho các vị đi vào sau nếu không có ý muốn.

Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã đi vào bãi tha ma cùng một lúc để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị tỳ khưu đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Một số vị tỳ khưu đã không nhặt được. Những vị tỳ khưu không nhặt được đã nói như vầy:

– Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.

Những vị kia đã nói như vầy:

– Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị đi vào cùng một lúc mặc dầu không muốn.

Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã cam kết với nhau rồi đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị tỳ khưu đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Một số vị tỳ khưu đã không nhặt được. Những vị tỳ khưu không nhặt được đã nói như vầy:

– Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.

Những vị kia đã nói như vầy:

– Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị đã đi vào sau khi cam kết mặc dầu không muốn.

[141] Vào lúc bấy giờ, dân chúng cầm y đi đến tu viện. Họ không gặp được vị có trách nhiệm tiếp nhận nên đã mang về. Y phát sanh lên bị ít đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị tiếp nhận y (cīvarapaṭiggāhaka) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (vật) được nhận hay không được nhận. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:

Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị tiếp nhận y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[142] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu là các vị tiếp nhận y sau khi thọ lãnh y bỏ ngay tại chỗ ấy rồi ra đi. Y bị mất. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị cất giữ y (cīvaranidāhaka) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (vật) đã được cất giữ hay đã không được cất giữ. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:

Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị cất giữ y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[143] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu là các vị cất giữ y cất giữ y ở mái che, ở gốc cây, ở hốc cây nimba, và ở ngoài trời. Các y đã bị gặm nhấm bởi các con chuột và loài mối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định nhà kho chứa đồ (bhaṇḍāgāraṃ) thuộc loại nào mà hội chúng thích là trú xá (vihāraṃ), nhà một mái (aḍḍhayogaṃ), tòa nhà dài (pāsādaṃ), khu nhà lớn (hammiyaṃ), hang động (guhaṃ). Và này các tỳ khưu, nên được chỉ định như vầy:

Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là nhà kho chứa đồ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[144] Vào lúc bấy giờ, y ở trong nhà kho chứa đồ không được bảo quản. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị quản lý nhà kho (bhaṇḍāgārika) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (vật) đã được bảo quản hay đã không được bảo quản. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:

Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị quản lý nhà kho. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[145] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư làm cho vị quản lý nhà kho xao lãng (phận sự). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, không nên làm vị giữ nhà kho xao lãng (phận sự); vị nào làm xao lãng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[146] Vào lúc bấy giờ, trong nhà kho chứa đồ của hội chúng y được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép hội chúng chia phần theo sự hiện diện.

Vào lúc bấy giờ, tất cả hội chúng trong lúc chia phần y đã gây ra cảnh náo động. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị chia y (cīvarabhājaka) là vị tỳ khưu hội đủ năm điều: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (y) đã được phân chia hay chưa được phân chia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:

Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chia y. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chia y. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chia y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị chia y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

Sau đó, các tỳ khưu là vị chia y đã khởi ý điều này: “Y nên được chia như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép trước tiên phân loại, phỏng định giá trị, làm cho đồng đều (giá trị), đếm số tỳ khưu, gom lại thành nhóm, rồi xác định phần chia về y.

Khi ấy, các vị tỳ khưu chia y đã khởi ý điều này: “Phần chia về y có nên được cho đến sa di hay không?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép cho các sa di một nửa của phần chia về y.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn vượt qua (uttaritukāmo) (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia của bản thân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép trao cho phần chia của bản thân đến vị đang (chuẩn bị) vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia nhiều hơn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép trao cho phần chia nhiều hơn khi vật đền bù được trao lại.

Sau đó, các vị tỳ khưu chia y đã khởi ý điều này: “Phần chia về y nên được trao cho như thế nào, theo thứ tự đi đến hay là theo thâm niên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép bốc thăm để làm hoan hỷ các vị không được phần (vikalake tosetvā kusapātaṃ kātunti).

[147] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhuộm y với phân bò và đất sét đỏ. Y có màu sắc xấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại thuốc nhuộm: thuốc nhuộm từ rễ cây, thuốc nhuộm từ thân cây, thuốc nhuộm từ vỏ cây, thuốc nhuộm từ lá cây, thuốc nhuộm từ bông hoa, thuốc nhuộm từ trái cây.

Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhuộm y với nước lạnh. Y có mùi hôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép nồi nhuộm loại nhỏ để nấu thuốc nhuộm.

Thuốc nhuộm bị tràn ra. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc vòng đế tròn (uttarāḷuvaṃ bandhituṃ) (ở phần trên mặt nước của nồi thuốc nhuộm).

Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không biết thuốc nhuộm đã được nấu hay chưa được nấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép nhỏ giọt vào trong nước hoặc ở bề lưng của móng tay.

Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu khi đổ thuốc nhuộm ra, cái nồi bị xoay tròn. Cái nồi bị bể. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép cái môi múc thuốc nhuộm, cái gàu có cán.

Vào lúc bấy giờ, cái thùng để nhuộm của các vị tỳ khưu chưa được sử dụng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chậu nhuộm, lu nhuộm.

Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu vò nhồi y trong cái đĩa, trong bình bát. Y đã bị thủng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép máng nhuộm.

Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trải y ra ở trên nền đất. Y bị lấm bụi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép thảm cỏ.

Thảm cỏ bị mối nhấm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép sào máng y, dây treo y.

Các vị treo cao lên ở giữa. Thuốc nhuộm chảy ra hai bên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc ở các góc (y).

Góc (y) bị sờn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép sợi chỉ ở các góc (y).

Thuốc nhuộm chảy ở một bên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép nhuộm bằng cách trở y đầu này, rồi đảo trở lại, và không được bỏ đi khi nước chưa ngừng nhỏ giọt.

Vào lúc bấy giờ, y bị cứng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép ngâm trong nước

Vào lúc bấy giờ, y bị thô nhám. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép đập bằng bàn tay.

[148] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc các y chưa được cắt, mặc các y màu ngà voi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, không nên mặc các y chưa được cắt; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[149] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Dakkhiṇāgiri. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên dài rộng xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông giao nhau, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng:

– Này Ānanda, ngươi có nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha của chúng ta được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên dài rộng xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông giao nhau không?

– Bạch ngài, thưa có.

– Này Ānanda, ngươi có khả năng thực hiện các y có kiểu mẫu như thế cho các vị tỳ khưu không?

– Bạch Thế Tôn, con có khả năng.

Sau đó, khi đã ngự tại Dakkhiṇāgiri theo như ý thích, đức Thế Tôn đã quay trở về lại thành Rājagaha. Khi ấy, đại đức Ānanda sau khi thực hiện các y cho nhiều vị tỳ khưu đã đi đ ến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, xin Thế Tôn hãy nhìn xem các y con đã thực hiện.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, Ānanda thật thông thái. Này các tỳ khưu, Ānanda có đại trí tuệ bởi vì vị ấy hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ của điều đã được ta nói ra một cách vắn tắt. Vị ấy làm được dải nối theo chiều dọc (của y), vị ấy làm được dải nối theo chiều ngang (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều giữa (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc các dải điều bên (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc dải điều giữa (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc các dải điều kế (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc hai dải điều biên (của y), (như thế y) sẽ được cắt ra, sần sùi khi được ráp lại, phù hợp với sa-môn, không còn được mong mỏi bởi những kẻ đối nghịch.

Này các tỳ khưu, ta cho phép y hai lớp (saṅghāṭi) đã được cắt ra, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) đã được cắt ra, y nội (antaravāsakaṃ) đã được cắt ra (rồi ráp lại).

[150] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Vesālī. Khi đang đi trên đoạn đường xa giữa Rājagaha và Vesālī, đức Thế Tôn đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang đi ngược chiều với các y được túm lại thành đống, các vị đã làm cuộn y ở trên đầu, các vị đã làm cuộn y ở vai, các vị đã làm cuộn y ở hông; sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Những kẻ rồ dại này đã xoay xở được nhiều y thật mau mắn, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y?”

Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Vesālī. Tại nơi đó ở Vesālī, đức Thế Tôn ngụ tại điện thờ Gotamaka.

Vào lúc bấy giờ, trong khoảng thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo vào những lúc tuyết rơi, đức Thế Tôn đã ngồi ở ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y và đức Thế Tôn đã không có cảm giác lạnh. Khi canh đầu đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ hai và đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh giữa đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ ba và đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh cuối đã qua, hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ tư và đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các vị nào ở trong Pháp và Luật này là con trai của những nhà danh giá thường bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, các vị ấy có thể đối phó (với sự lạnh) bằng ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y cho các tỳ khưu, (hay là) ta nên cho phép ba y?” Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ở đây trong khi đi trên đoạn đường xa giữa Rājagaha và Vesālī, ta đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang đi ngược chiều với các y được túm lại thành đống, các vị đã làm cuộn y ở trên đầu, các vị đã làm cuộn y ở vai, các vị đã làm cuộn y ở hông, sau khi nhìn thấy ta đã khởi ý điều này: “Những kẻ rồ dại này đã xoay xở được nhiều y thật mau mắn, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y?” Này các tỳ khưu, ở đây trong khoảng thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo vào những lúc tuyết rơi, ta đã ngồi ở ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y và ta đã không có cảm giác lạnh. Khi canh đầu đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ hai và ta đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh giữa đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ ba và ta đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh cuối đã qua, khi hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ tư và ta đã không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, ta đã khởi ý điều này: “Các vị nào ở trong Pháp và Luật này là con trai của những nhà danh giá thường bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, các vị ấy có thể đối phó (với sự lạnh) bằng ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y cho các tỳ khưu, (hay là) ta nên cho phép ba y?” Này các tỳ khưu, ta cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi (tăng-già-lê) hai lớp, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) một lớp, và y nội (antaravāsakaṃ) một lớp.

[151] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép ba y” rồi đi vào làng với ba y nọ, mặc ở trong tu viện với ba y khác, và đi xuống tắm với ba y khác nữa. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại sử dụng y phụ trội (atirekacīvaraṃ)?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, không nên sử dụng y phụ trội, vị nào sử dụng thì nên được hành xử theo Pháp.[3]

Vào lúc bấy giờ, y phụ trội đã phát sanh đến đại đức Ānanda. Và đại đức Ānanda có ý muốn dâng y ấy đến đại đức Sāriputta. Đại đức Sāriputta đang ngụ ở Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sử dụng y phụ trội.’ Và y phụ trội này đã phát sanh đến ta. Và ta có ý muốn dâng y này đến đại đức Sāriputta mà đại đức Sāriputta lại đang ngụ ở Sāketa. Vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi lại đây?

– Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ta cho phép cất giữ y phụ trội tối đa mười ngày.

Vào lúc bấy giờ, có y phụ trội phát sanh đến các tỳ khưu. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Chúng ta nên thực hành như thế nào đối với các y phụ trội?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng chung (vikappetuṃ) y phụ trội.

[152] Sau đó, khi đã ngự tại thành Vesālī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bāraṇasī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bārāṇasī. Tại nơi đó ở Bārāṇasī, đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, nơi vườn nai.

Vào lúc bấy giờ, y nội của vị tỳ khưu nọ bị rách. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi hai lớp, thượng y một lớp, và y nội một lớp. Và y nội này của ta bị rách, hay là ta nên đắp thêm miếng vá, như thế xung quanh sẽ là hai lớp và ở giữa là một lớp?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đắp thêm miếng vá. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đắp thêm miếng vá, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:

– Này tỳ khưu, ngươi làm gì vậy?

– Bạch Thế Tôn, con đắp thêm miếng vá.

– Này tỳ khưu, thật tốt thay, thật tốt thay! Này tỳ khưu, thật tốt thay việc ngươi đắp thêm miếng vá!

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ta cho phép khi vải còn mới hoặc được xem như mới thì y saṅghāṭi là hai lớp, thượng y là một lớp, và y nội là một lớp. Khi vải đã bị sờn bởi thời gian thì y saṅghāṭi là bốn lớp, thượng y là hai lớp, và y nội là hai lớp. Nên thực hiện việc nỗ lực (tìm kiếm) vải dơ bị quăng bỏ hay (được bỏ rơi) ở các cửa tiệm theo như nhu cầu. Này các tỳ khưu, ta cho phép (đắp thêm) miếng vá, (dùng) chỉ mạng, (đắp chồng) lớp nữa, miếng vá nhỏ, và việc may lại cho chắc chắn.

[153] Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Visākhā mẹ của Migāra đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.

Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Vào lúc bấy giờ, khi trải qua đêm ấy có đám mây lớn khắp cả bốn châu đã đổ mưa xuống. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, trời mưa ở Jetavana như thế nào thì trời mưa ở bốn châu cũng như thế ấy. Này các tỳ khưu, hãy để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, đây là trận mưa lớn khắp cả bốn châu lần cuối cùng.

– Bạch ngài, xin vâng. Rồi các vị tỳ khưu ấy nghe theo đức Thế Tôn cởi các y ra và để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.

Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã cho chuẩn bị sẵn sàng vật thực thượng hạng loại cứng loại mềm rồi bảo người tớ gái rằng:

– Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”

– Thưa bà, xin vâng.

Rồi người tớ gái nghe theo bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị tỳ khưu có các y đã được cởi ra và đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): “Các tỳ khưu không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa” rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này:

– Thưa bà, các tỳ khưu không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.

Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người trí tuệ, kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là các ngài đại đức có các y đã được cởi ra và để cho thân thể ướt đẫm nước mưa! Cô gái đần độn này đây đã nghĩ rằng: ‘Các tỳ khưu không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa,’” nên đã bảo người tớ gái rằng:

– Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”

Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy sau khi đã làm cho mát mẻ thân hình, có cơ thể được khoẻ khoắn, nên đã mặc y rồi đi vào trú xá của mình. Sau đó, người tớ gái ấy đã đi đến tu viện, trong khi không nhìn thấy các vị tỳ khưu (nên nghĩ rằng): “Các tỳ khưu không có ở trong tu viện, tu viện thì trống không” rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này:

– Thưa bà, các tỳ khưu không có ở trong tu viện, tu viện thì trống không.

Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người trí tuệ, kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là các ngài đại đức sau khi đã làm cho mát mẻ thân hình, có cơ thể được khoẻ khoắn, nên đã mặc y rồi đi vào trú xá của mình. Cô gái đần độn này đây đã nghĩ rằng: ‘Các tỳ khưu không có ở trong tu viện, tu viện thì trống không,’” nên lại bảo người tớ gái rằng:

– Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”

Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, hãy sẵn sàng y bát, đã đến thời điểm của bữa ăn.

– Bạch ngài, xin vâng. Các vị tỳ khưu ấy đã đáp lời đức Thế Tôn

Sau đó, giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế đức Thế Tôn đã biến mất tại Jetavana rồi hiện ra ở cổng nhà của bà Visākhā mẹ của Migāra. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.

Khi ấy , bà Visākhā mẹ của Migāra (nghĩ rằng): “Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Bởi vì trong khi cơn lụt đang dâng tới mức đầu gối, trong khi cơn lụt đang dâng lên tới hông thế mà không một vị tỳ khưu nào có các bàn chân hoặc các y bị ướt!” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, bà Visākhā mẹ của Migāra đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, con cầu xin đức Thế Tôn tám điều ước muốn.

– Này Visākhā, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.

– Bạch ngài, các điều ấy là hợp lý, các điều ấy không bị chê trách.

– Này Visākhā, hãy nói đi.

– Bạch ngài, con muốn dâng vải choàng (tắm) mưa đến hội chúng, dâng bữa ăn dành cho vị vãng lai (āgantukabhattaṃ), dâng bữa ăn dành cho vị ra đi (gamikabhattaṃ), dâng bữa ăn dành cho vị bị bệnh (gilānabhattaṃ), dâng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh (gilānupaṭṭhākabhattaṃ), dâng dược phẩm dành cho vị bị bệnh (gilānabhesajjaṃ), dâng cháo hàng ngày (dhuvayāguṃ), dâng vải choàng tắm (udakasāṭikaṃ) đến hội chúng tỳ khưu ni đến trọn đời.

– Này Visākhā, trong khi thấy rõ sự hữu dụng gì mà bà lại cầu xin Như Lai tám điều ước muốn?

– Bạch ngài, ở đây con đã bảo người tớ gái rằng: “Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong’.” Khi ấy, người tớ gái ấy đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị tỳ khưu có các y đã được cởi ra và đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): “Các tỳ khưu không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa” rồi đã đi đến gặp con, sau khi đến đã nói với con điều này: “Thưa bà, các tỳ khưu không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.” Bạch ngài, sự trần truồng là không tinh khiết, ghê tởm, bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng vải choàng (tắm) mưa đến trọn đời.

Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu vãng lai không rành rẽ đường xá, không rành rẽ khu vực, đi khất thực trong khi đang mệt nhọc. Vị ấy sau khi thọ thực bữa ăn dành cho vị vãng lai của con được rành rẽ đường xá, được rành rẽ khu vực, sẽ đi khất thực trong khi không còn mệt nhọc. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị vãng lai đến trọn đời.

Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu ra đi trong khi tự mình tìm kiếm vật thực sẽ bị trễ đoàn lữ hành, hoặc sẽ đến nơi (mà vị ấy) có ý muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ phải đi đường xa trong khi đang mệt nhọc. Vị ấy sau khi thọ thực bữa ăn dành cho vị ra đi của con sẽ không bị trễ đoàn lữ hành, sẽ không đến nơi (mà vị ấy) có ý muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ đi đường xa trong khi không mệt nhọc. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị ra đi đến trọn đời.

Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu bị bệnh trong khi không nhận được các thức ăn thích hợp, bệnh tình sẽ trầm trọng, hoặc sẽ chết đi. Trong khi vị ấy thọ dụng bữa ăn dành cho vị bệnh của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, sẽ không chết đi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị bị bệnh đến trọn đời.

Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu là vị chăm sóc bệnh trong khi tự mình tìm kiếm thức ăn sẽ đem lại bữa ăn của vị bệnh lúc mặt trời đã lên (cao) và sẽ bị lỡ bữa ăn. Vị ấy sau khi thọ dụng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh của con sẽ đem lại thức ăn của vị bệnh lúc đúng thời và sẽ không bị lỡ bữa ăn. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh đến trọn đời.

Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu bị bệnh trong khi không nhận được các loại dược phẩm thích hợp, bệnh tình sẽ trầm trọng, hoặc sẽ chết đi. Trong khi vị ấy thọ dụng dược phẩm dành cho vị bệnh của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, sẽ không chết đi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng dược phẩm dành cho vị bị bệnh đến trọn đời.

Bạch ngài còn có điều khác nữa, ở Andhakavinda do thấy rõ mười điều lợi ích mà đức Thế Tôn đã cho phép (thọ dụng) cháo. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng cháo hàng ngày đến trọn đời.

Bạch ngài còn có điều khác nữa, các tỳ khưu ni trong khi tắm trần truồng với các cô điếm ở một bãi tắm của sông Aciravatī, bạch ngài các cô điếm ấy đã chế giễu các tỳ khưu ni rằng: “Các bà đại đức ơi, vì điều gì mà các bà thực hành Phạm hạnh trong lúc đang còn trẻ vậy? Chớ không phải là các dục lạc nên được thỏa thích hay sao? Khi nào trở nên già cả, các bà sẽ thực hành Phạm hạnh, như thế các bà sẽ vớ được cả hai đầu mối.” Bạch ngài, khi bị các cô điếm chế giễu các tỳ khưu ni ấy đã mắc cở. Bạch ngài, sự trần truồng của phụ nữ là không tinh khiết, ghê tởm, bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng tỳ khưu ni vải choàng tắm đến trọn đời.

– Này Visākhā, trong khi thấy rõ lợi ích gì mà bà lại cầu xin Như Lai tám điều ước muốn?

– Bạch ngài, ở đây các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở các phương sẽ đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, các vị ấy sau khi đi đến gặp đức Thế Tôn sẽ hỏi rằng: “Bạch ngài, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần. Cõi tái sanh của vị ấy là gì? Cảnh giới tương lai của vị ấy là gì?” Đức Thế Tôn sẽ nói về vị ấy rằng: “Trong quả vị Nhập Lưu, hoặc là trong quả vị Nhất Lai, hoặc là trong quả vị Bất Lai, hoặc là trong quả vị A-la-hán.” Con sẽ đi đến gặp (các vị) và hỏi rằng: “Thưa các ngài, có phải vị đại đức ấy trước đây đã đi đến Sāvatthi?” Nếu các vị trả lời con rằng: “Vị tỳ khưu ấy trước đây đã đi đến Sāvatthi.” Trường hợp ấy, con sẽ đi đến kết luận là: “Chắc chắn rằng vị đại đức ấy đã thọ dụng hoặc là vải choàng (tắm) mưa, hoặc là bữa ăn dành cho vị vãng lai, hoặc là bữa ăn dành cho vị ra đi, hoặc là bữa ăn dành cho vị bị bệnh, hoặc là bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, hoặc là dược phẩm dành cho vị bị bệnh, hoặc là cháo hàng ngày.” Trong khi nhớ lại điều ấy, sự hân hoan sẽ được sanh khởi ở con đây, do sự hân hoan mà hỷ sẽ được sanh khởi, do tâm có hỷ mà thân sẽ khinh an, do thân được khinh an con sẽ cảm giác sự an lạc, có sự an lạc tâm sẽ được định, con sẽ có được sự tu tập về Căn Quyền, có sự tu tập về Lực, có sự tu tập về Giác Chi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ lợi ích này mà con cầu xin Như Lai tám điều ước muốn.

– Này Visākhā, thật tốt lắm, thật tốt lắm! Này Visākhā, thật tốt thay trong khi thấy rõ lợi ích này mà bà cầu xin Như Lai tám điều ước muốn. Này Visākhā, ta cho phép bà tám điều ước muốn.

Sau đó, đức Thế Tôn đã tùy hỷ công đức cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng những lời kệ này:

[154]

Trong khi dâng cơm nước
nữ nhân được hân hoan,
thành tựu về giới luật
là đệ tử Thiện Thệ.
Vượt qua được bỏn xẻn,
người cúng dường vật thí
được hứa hẹn cõi trời,
hết sầu được an lạc.
Cô ấy đạt sức mạnh
và tuổi thọ của trời
đã đi vào đạo lộ
không nhiễm ô, thanh tịnh.
Cô ấy mong tạo phước
được an lạc, vô bệnh,
và vui hưởng dài lâu,
trong cuộc sống thiên đình.

[155] Sau đó, khi đã tùy hỷ công đức cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ta cho phép vải choàng (tắm) mưa, bữa ăn dành cho vị vãng lai, bữa ăn dành cho vị ra đi, bữa ăn dành cho vị bị bệnh, bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, dược phẩm dành cho vị bị bệnh, cháo hàng ngày, vải choàng tắm đến hội chúng tỳ khưu ni.

Dứt tụng phẩm Visākhā.

[156] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi thọ thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ rồi tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao khiến chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ. Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận đã nhìn thấy chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng:

– Này Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem?

– Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu sau khi thọ thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ rồi tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao. Bạch đức Thế Tôn, do đó chỗ nằm ngồi này bị lấm lem vì chất dơ.

– Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao vì các vị ấy có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này Ānanda, các vị tỳ khưu nào có niệm được thiết lập, được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, các vị nào dầu là phàm nhân đã xa lìa sự tham đắm trong các dục, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, tinh dịch của vị A-la-hán có thể bị xuất ra là điều không có thực tế, không có cơ sở.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ở đây trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với Ānanda là sa-môn hầu cận ta đã nhìn thấy chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi nhìn thấy đã hỏi Ānanda rằng: “Này Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem?” “Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu sau khi thọ thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, rồi tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao. Bạch đức Thế Tôn, do đó chỗ nằm ngồi này đã bị lấm lem vì chất dơ.” “Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao vì các vị ấy có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này Ānanda, các vị tỳ khưu nào có niệm được thiết lập, được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, các vị nào dầu là phàm nhân đã xa lìa sự tham đắm trong các dục, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, tinh dịch của vị A-la-hán có thể bị xuất ra là điều không có thực tế, không có cơ sở.” Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ: (Vị ấy) ngủ khổ sở, thức dậy khổ sở, thấy mộng điều ác xấu, chư thiên không hộ trì, tinh dịch bị xuất ra. Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này các tỳ khưu, đây là năm điều thuận lợi của vị có niệm được thiết lập, được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ: (Vị ấy) ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không thấy mộng điều ác xấu, chư thiên hộ trì, tinh dịch không bị xuất ra. Này các tỳ khưu, đây là năm điều thuận lợi của vị có niệm được thiết lập, được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) y lót ngồi (nisīdanaṃ) để bảo vệ cơ thể, để bảo vệ y, để bảo vệ chỗ ngồi.

Vào lúc bấy giờ, y lót ngồi quá nhỏ nên không bảo vệ được toàn bộ chỗ ngồi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép làm tấm trải nằm (paccattharanaṃ)[4] lớn theo như (kích thước) mong muốn.

[157] Vào lúc bấy giờ, thầy tế độ của đại đức Ānanda là đại đức Velaṭṭhasīsa có bệnh ghẻ sần sùi (thullakacchābādho). Các y của vị ấy bị dính vào thân vì chất máu mủ, các vị tỳ khưu phải liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:

– Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này bị bệnh gì vậy?

– Bạch ngài, đại đức này bị bệnh ghẻ sần sùi, các y bị dính vào thân vì chất máu mủ, chúng con phải liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra.

Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) y đắp ghẻ (kaṇḍupaṭicchādī) đến vị nào bị ghẻ ngứa, hoặc bị nhọt, hoặc có vết thương chảy mủ, hoặc bị ghẻ sần sùi.

[158] Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra cầm cái khăn lau mặt đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, xin hãy thọ lãnh cái khăn lau mặt của con vì điều ấy đem lại sự lợi ích và sự an vui lâu dài cho con.

Đức Thế Tôn đã thọ nhận cái khăn lau mặt. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) khăn lau mặt (mukhapuñchanacolaṃ).

[159] Vào lúc bấy giờ, Roja người Malla là bạn của đại đức Ānanda. Tấm vải dệt bằng sợi lanh của Roja người Malla đã bị đánh rơi nơi khuôn viên của đại đức Ānanda. Và đại đức Ānanda có nhu cầu về vải dệt bằng sợi lanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người hội đủ năm điều: là vị quen biết, thân thiết, (vị ấy) đã nói trước, (vị ấy) còn sống, và vị lấy biết được rằng: “Khi được ta lấy thì vị ấy sẽ hoan hỷ.” Này các tỳ khưu, ta cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người hội đủ năm điều này.

[160] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu có được đầy đủ ba y nhưng có nhu cầu về các đồ lọc nước và túi mang. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép miếng vải phụ tùng (parikkhāracolaṃ).

Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Các vật nào đã được đức Thế Tôn cho phép như là ‘Ba y,’ hoặc là ‘Vải choàng (tắm) mưa,’ hoặc là ‘Y lót ngồi,’ hoặc là ‘Tấm trải nằm,’ hoặc là ‘Y đắp ghẻ,’ hoặc là ‘Khăn lau mặt,’ hoặc là ‘Miếng vải phụ tùng,’ tất cả các thứ ấy cần được chú nguyện để dùng riêng (adhiṭṭhātuṃ) hay là chú nguyện để dùng chung (vikappetuṃ)?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng riêng ba y không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng vải choàng (tắm) mưa trong bốn tháng của mùa mưa sau đó chú nguyện để dùng chung vào các tháng khác, chú nguyện để dùng riêng y lót ngồi không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng tấm trải nằm không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng y đắp ghẻ lúc còn bị bệnh sau đó chú nguyện để dùng chung vào lúc khác, chú nguyện để dùng riêng khăn lau mặt không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng miếng vải phụ tùng không được chú nguyện để dùng chung.

Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Y nên được chú nguyện để dùng chung (có kích thước) tối thiểu là bao nhiêu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng chung y (có kích thước) tối thiểu với chiều dài là tám ngón tay với chiều rộng là bốn ngón tay theo ngón tay tiêu chuẩn (sugataṅgulena).

Vào lúc bấy giờ, y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ của đại đức Mahākassapa là nặng nề. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) việc mạng bằng chỉ.

(Y) có góc bị thừa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép cắt góc bị thừa.

Các mối chỉ bị xổ ra (ở chỗ bị cắt). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép gắn vào miếng vải viền hoặc miếng vải bọc lại.

Vào lúc bấy giờ, các mảnh vải của y hai lớp (saṅghāṭi) bị tưa ra (lujjanti). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép làm (đường chỉ may) ở tám chỗ (aṭṭhapadakam kātuṃ).

[161] Vào lúc bấy giờ, trong lúc y của vị tỳ khưu nọ đang được làm, toàn bộ các mảnh cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép hai (y) đã được cắt, một (y) không cắt.

Hai (y) đã được cắt một (y) không cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép hai (y) không cắt, một (y) đã được cắt.

Hai (y) không cắt một (y) đã được cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép đặt vào miếng vải khác loại (anvādhikaṃ). Và này các tỳ khưu, không nên sử dụng toàn bộ (ba y) không cắt; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[162] Vào lúc bấy giờ, có nhiều y được phát sanh đến vị tỳ khưu nọ. Và vị ấy có ý muốn cho đến cha mẹ y ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, điều gì ta có thể nói trong khi vị ấy cho đến cha mẹ? Này các tỳ khưu, ta cho phép cho đến cha mẹ. Và này các tỳ khưu, không nên lãng phí vật bố thí vì đức tin; vị nào lãng phí thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[163] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã để y hai lớp (saṅghāṭi) trong khu rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Những kẻ trộm đã lấy trộm y ấy. Vị tỳ khưu ấy trở thành ăn mặc bê bối y phục luộm thuộm. Các tỳ khưu đã nói như vầy:

– Này đại đức, vì sao ngài lại trở thành ăn mặc bê bối y phục luộm thuộm?

– Này các đại đức, ở đây tôi đã để y ở trong khu rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Những kẻ trộm đã lấy trộm y ấy, vì thế tôi trở thành ăn mặc bê bối y phục luộm thuộm.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, không nên đi vào làng với y nội và thượng y; vị nào đi vào thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, đại đức Ānanda vì thiếu sự ghi nhớ nên đã đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Ānanda điều này:

– Này đại đức Ānanda, không phải đức Thế Tôn đã quy định rằng: “Không nên đi vào làng với y nội và thượng y” hay sao? Này đại đức, vì sao ngài đã đi vào làng với y nội và thượng y?

– Này các đại đức, điều đã được đức Thế Tôn quy định rằng: “Không nên đi vào làng với y nội và thượng y” là sự thật. Này các đại đức, tuy nhiên vì thiếu sự ghi nhớ nên tôi đã đi vào (làng như thế).

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại y hai lớp (saṅghāṭi): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa (vassikasaṅketaṃ),[5] hoặc là phải đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại y hai lớp.

Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại thượng y (uttarāsaṅga): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc là phải đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại thượng y.

Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại y nội (antaravāsaka): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc là phải đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại y nội.

Này các tỳ khưu, có năm điều kiện cho việc để lại vải choàng (tắm) mưa (vassikasāṭikā): vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc là phải đi ra khỏi ranh giới, hoặc là phải đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vải choàng (tắm) mưa không được làm hoặc được làm chưa hoàn tất. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại vải choàng (tắm) mưa.

[164] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy khởi đã ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng tối thiểu là nhóm bốn vị’ và ta chỉ có mỗi một mình. Và các người này đã dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng,’ hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến Sāvatthi?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi và trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, các y ấy là của chính ngươi cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Này các tỳ khưu, ta cho phép các y ấy là của chính vị ấy cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống ngoài mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng ít nhất là nhóm bốn vị’ và ta chỉ có mỗi một mình. Và các người này đã dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng,’ hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến Sāvatthi?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi và trình sự việc ấy đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép chia ra cho hội chúng đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu sống ngoài mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ấy chú nguyện các y ấy rằng: “Những y này là của tôi.” Này các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy chưa được chú nguyện thành của vị tỳ khưu ấy thì có vị tỳ khưu khác đi đến, nên chia thành phần đồng đều nhau. Này các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy đang được chia bởi các vị tỳ khưu ấy nhưng chưa được bốc thăm thì có vị tỳ khưu khác đi đến, nên chia thành phần đồng đều nhau. Này các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy đang được chia bởi các vị tỳ khưu ấy và đã được bốc thăm thì có tỳ khưu khác đi đến, không cần phải chia phần nếu không thích.

Vào lúc bấy giờ, có hai vị trưởng lão là anh em: đại đức Isidāsa và đại đức Isibhatta đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú ngụ là ngôi làng nọ. Dân chúng (nghĩ rằng): “Đã lâu lắm các trưởng lão mới ghé đến” rồi đã dâng các thức ăn cùng với các y. Các tỳ khưu thường trú đã hỏi hai vị trưởng lão rằng:

– Thưa các ngài, những y thuộc hội chúng này đã được phát sanh nhờ vào (niềm tin nơi) các trưởng lão, các trưởng lão sẽ hoan hỷ phần chia hay không?

Hai vị trưởng lão đã nói như vầy:

– Này các đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y ấy là thuộc về của chính các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực.

Vào lúc bấy giờ, có ba vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa ở trong thành Rājagaha. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng ít nhất là nhóm bốn vị” và chúng ta chỉ có ba người. Và các người này dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng,’ vậy chúng ta nên thực hành thế nào?” Vào lúc bấy giờ, có nhiều trưởng lão là đại đức Nīlavāsī, đại đức Sāṇavāsī, đại đức Gopaka, đại đức Bhagu, và đại đức Phalikasandāna cư ngụ tại Pāṭaliputta ở tu viện Kukkuṭa. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến Pāṭaliputta và hỏi các vị trưởng lão. Các vị trưởng lão đã nói như vầy:

– Này các đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y ấy là thuộc về của chính các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực.

[165] Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai giòng Sākya đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú ngụ là ngôi làng nọ. Ở đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy đã nói như vầy:

– Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?

– Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.

Sau khi nhận phần y ở nơi đó, vị ấy đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy:

– Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?

– Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.

Sau khi nhận phần y ở nơi đó nữa, vị ấy đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy:

– Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?

– Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.

Sau khi nhận phần y ở nơi đó nữa, vị ấy đã cầm lấy gói y lớn rồi quay trở về lại Sāvatthi. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:

– Này đại đức Upananda, ngài có được nhiều phước báu. Nhiều y đã được phát sanh đến ngài.

– Này các đại đức, tôi có phước báu là do đâu? Ở đây, tôi đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú ngụ là ngôi làng nọ. Ở đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy đã nói với tôi như vầy: “Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?” “Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.” Sau khi nhận phần y ở nơi đó, tôi đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói với tôi như vầy: “Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?” “Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.” Sau khi nhận phần y ở nơi đó nữa, tôi đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói với tôi như vầy: “Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?” “Này các đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận.” Tôi đã nhận phần chia y ở nơi đó nữa, như thế mà nhiều y đã được phát sanh đến tôi.

– Này đại đức Upananda, có phải ngài đã sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác và chấp nhận phần chia y ở nơi khác?

– Này các đại đức, đúng vậy.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Upananda đã sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác lại chấp nhận phần chia y ở nơi khác?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này Upananda, nghe nói ngươi đã sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác và chấp nhận phần chia y ở nơi khác, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác lại chấp nhận phần chia y ở nơi khác? Này kẻ rồ dại, việc sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, vị sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác không nên chấp nhận phần chia y ở nơi khác; vị nào chấp nhận thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda một mình đã sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ (nghĩ rằng): “Như vầy nhiều y sẽ được phát sanh đến ta.” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Phần san sẻ về y nên được cho đến đại đức Upananda như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, hãy cho đến kẻ rồ dại phần của một người. Này các tỳ khưu, trường hợp một vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ[6] (nghĩ rằng): “Như vầy nhiều y sẽ được phát sanh đến ta.” Nếu vị ấy sống chỗ này một nửa (thời gian) chỗ kia một nửa (thời gian) thì nên cho phần san sẻ về y (cīvarapaṭiviso) gồm một nửa của nơi này một nửa của nơi kia, hoặc ở chỗ nào vị ấy sống nhiều hơn thì phần san sẻ về y nên được cho từ chỗ đó.

[166] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh kiết lỵ. Vị ấy đã bị té vào đống phân và nước tiểu của chính mình. Khi ấy, trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận, đức Thế Tôn đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy té và đang nằm trên đống phân và nước tiểu của chính mình, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:

– Này tỳ khưu, ngươi bị bệnh gì?

– Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ.

– Này tỳ khưu, ngươi không có người phục vụ?

– Bạch Thế Tôn, không có.

– Vì sao các vị tỳ khưu lại không phục vụ ngươi?

– Bạch ngài, con là người không có làm gì cho các vị tỳ khưu, do đó các vị tỳ khưu không phục vụ con.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:

– Này Ānanda, hãy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ tắm cho vị tỳ khưu này.

– Bạch ngài, xin vâng.

Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã mang nước lại. Đức Thế Tôn đã xối nước và đại đức Ānanda đã rửa ráy toàn bộ. Rồi đức Thế Tôn đã đỡ phần đầu còn đại đức Ānanda nâng lên ở phần chân và đặt ở trên giường. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại rồi hỏi các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, có phải có vị tỷ kheo trong trú xá ở đàng kia bị bệnh?

– Bạch Thế Tôn, thưa có.

– Này các tỳ khưu, vị ấy bị bệnh gì?

– Bạch ngài, đại đức ấy bị bệnh kiết lỵ.

– Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có người phục vụ không?

– Bạch Thế Tôn, không có.

– Vì sao các tỳ khưu lại không phục vụ vị ấy?

– Bạch ngài, vị tỳ khưu ấy là người không có làm gì cho các tỳ khưu, do đó các tỳ khưu không phục vụ vị ấy.

– Này các tỳ khưu, các ngươi không có mẹ, không có cha là những người có thể phục vụ các ngươi. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không phục vụ lẫn nhau thì khi ấy lấy ai sẽ phục vụ đây? Này các tỳ khưu, vị nào có thể phục vụ ta, vị ấy nên phục vụ những người bệnh. Nếu có thầy tế độ, thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có thầy dạy học, thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có đệ tử, người đệ tử nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có học trò, người học trò nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy dạy học, vị đồng thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu không có thầy tế độ, hoặc thầy dạy học, hoặc người đệ tử, hoặc người học trò, hoặc vị đồng thầy tế độ, hoặc vị đồng thầy dạy học, hội chúng nên phục vụ; nếu không phục vụ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Này các tỳ khưu, vị bị bệnh là khó phục vụ khi hội đủ năm điều: Là vị không làm việc cần làm; là vị không biết sự vừa phải trong việc cần làm; là vị không quen dùng dược phẩm; là vị không giải thích cho người phục vụ bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ ràng, đúng theo thực trạng như (bệnh) đã tăng thêm là “(Bệnh) đã tăng thêm,” (bệnh) đã giảm là: “(Bệnh) đã giảm,” (bệnh) ổn định là: “(Bệnh) ổn định;” là loại người không chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là khó phục vụ.

Này các tỳ khưu, vị bị bệnh là dễ phục vụ khi hội đủ năm điều: Là vị làm việc cần làm; là vị biết sự vừa phải trong việc cần làm; là vị quen dùng dược phẩm; là vị giải thích cho người phục vụ bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ ràng, đúng theo thực trạng như (bệnh) đã tăng thêm là “(Bệnh) đã tăng thêm,” (bệnh) đã giảm là: “(Bệnh) đã giảm,” (bệnh) ổn định là: “(Bệnh) ổn định;” là loại người chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là dễ phục vụ.

Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân không thích hợp để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị không có khả năng để phân phát thuốc men; không biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, làm điều không cần thiết và không làm điều cần thiết; phục vụ người bệnh vì mục đích tài vật và không có tâm từ; ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; không có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân hội đủ năm điều này là không thích hợp để phục vụ người bệnh.

Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân thích hợp để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị có khả năng để phân phát thuốc men; biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, không làm điều không cần thiết và làm điều cần thiết; có tâm từ và phục vụ người bệnh không vì mục đích tài vật; không ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân hội đủ năm điều này là thích hợp để phục vụ người bệnh.

[167] Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đang đi đường xa trong xứ Kosala. Hai vị ấy đã đi đến trú xứ nọ. Ở đó, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã bàn bạc điều này: “Này đại đức, việc phục vụ người bệnh đã được đức Thế Tôn khen ngợi. Này đại đức, vậy chúng ta hãy phục vụ vị tỳ khưu này.” Các vị ấy đã phục vụ vị kia. Trong khi được các vị ấy phục vụ, vị kia đã từ trần. Sau đó, các vị tỳ khưu đã cầm lấy y bát của vị tỳ khưu kia đi đến Sāvatthi và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu khi từ trần, hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên được ban cho như vầy:

Vị tỳ khưu phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội chúng và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy.” Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy. Hội chúng cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại đức nào đồng ý việc cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Ba y và bình bát này đã được hội chúng cho đến các vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

Vào lúc bấy giờ, có vị sa di nọ từ trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, đối với vị sa di khi từ trần, hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh y và bình bát thông qua hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên được ban cho như vầy:

Vị tỳ khưu phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội chúng và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy.” Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Hội chúng cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại đức nào đồng ý việc cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Y và bình bát này đã được hội chúng cho đến các vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ và vị sa di đã phục vụ vị bị bệnh. Trong khi được các vị ấy phục vụ, vị kia đã từ trần. Khi ấy, vị tỳ khưu phục vụ người bệnh đã khởi ý điều này: “Phần san sẻ về y của vị sa di là vị phục vụ người bệnh nên được cho như thế nào đây?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, ta cho phép cho đến vị sa di là vị phục vụ người bệnh phần san sẻ đồng đều.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có nhiều đồ đạc và có nhiều vật dụng đã từ trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu khi từ trần, hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng, (cho phép) hội chúng đang hiện diện phân chia đồ đạc loại nhẹ và vật dụng loại nhẹ ở nơi ấy, (cho phép) đồ đạc loại nặng và vật dụng cần thiết loại nặng ở nơi ấy là của hội chúng bốn phương đã đi đến hoặc sẽ đi đến, không được phân tán, không được phân chia.

[168] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi làm cho trở thành trần truồng rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, sự trần truồng này đưa đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn theo nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép sự trần truồng đến các tỳ khưu.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, …(như trên)… Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại thực hành nghi thức của ngoại đạo là sự lõa thể? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, không nên thực hành nghi thức của ngoại đạo là sự lõa thể; vị nào thực hành thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ che thân bằng cỏ kusa …(như trên)… che thân bằng vỏ cây …(như trên)… che thân bằng tấm ván gỗ …(như trên)… che thân bằng mền dệt bằng tóc …(như trên)… che thân bằng mền dệt bằng lông ngựa …(như trên)… che thân bằng cánh chim cú …(như trên)… che thân bằng da linh dương rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, (việc che thân bằng) da linh dương này đưa đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn theo nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép (việc che thân bằng) da linh dương đến các tỳ khưu.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, …(như trên)… Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc biểu tượng của ngoại đạo là (che thân bằng) da linh dương? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, không nên mặc biểu tượng của ngoại đạo là (che thân bằng) da linh dương; vị nào mặc thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ mặc (y làm bằng) sợi của cây akka, …(như trên)… mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, (y làm bằng) sợi của cây makaci này đưa đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn theo nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép (y làm bằng) sợi của cây makaci đến các tỳ khưu.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, …(như trên)… Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, không nên mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[169] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc các y toàn màu xanh đậm, mặc các y toàn màu vàng, mặc các y toàn màu đỏ, mặc các y toàn màu đỏ sậm, mặc các y toàn màu đen, mặc các y toàn màu nổi bật, mặc các y toàn màu sáng chói, mặc các y không cắt đường viền, mặc các y có đường viền rộng, mặc các y có đường viền vẽ bông hoa, mặc các y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, mặc áo choàng ngắn, mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka, mang khăn xếp đội đầu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?

Các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, không nên mặc các y toàn màu xanh đậm, không nên mặc các y toàn màu vàng, không nên mặc các y toàn màu đỏ, không nên mặc các y toàn màu đỏ sậm, không nên mặc các y toàn màu đen, không nên mặc các y toàn màu nổi bật, không nên mặc các y toàn màu sáng chói, không nên mặc các y không cắt đường viền, không nên mặc các y có đường viền rộng, không nên mặc các y có đường viền vẽ bông hoa, không nên mặc các y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, không nên mặc áo choàng ngắn, không nên mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka, không nên mang khăn xếp đội đầu; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[170] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, hoàn tục, từ trần, được biết là sa di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm ô uế tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm đức Phật chảy máu, được biết là kẻ lưỡng căn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, hội chúng là chủ quản. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh thì được biết là vị bị điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh được biết là kẻ vô căn, …(như trên)…, được biết là kẻ lưỡng căn, hội chúng là chủ quản.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia lại ra đi, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia lại hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, hội chúng là chủ quản. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia thì được biết là vị bị điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia được biết là kẻ vô căn, …(như trên)…, được biết là kẻ lưỡng căn, hội chúng là chủ quản.

Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho một nhóm (nói rằng): “Chúng tôi dâng y đến hội chúng.” (Y) ấy là của hội chúng. Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho chính nhóm ấy (nói rằng): “Chúng tôi dâng y đến hội chúng.” (Y) ấy là của hội chúng.

Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho một nhóm (nói rằng): “Chúng tôi dâng y đến nhóm.” (Y) ấy là (riêng) của nhóm. Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho chính nhóm ấy (nói rằng): “Chúng tôi dâng y đến nhóm.” (Y) ấy là (riêng) của nhóm.

Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y đã được phát sanh nhưng chưa chia phần thì hội chúng bị chia rẽ. Nên chia đồng đều cho tất cả.

[171] Vào lúc bấy giờ, đại đức Revata gởi y cho đại đức Sāriputta qua tay của vị tỳ khưu nọ (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị trưởng lão.” Sau đó ở khoảng giữa đường đi, vị tỳ khưu ấy đã lấy y ấy do sự thân thiết với đại đức Revata. Sau đó, đại đức Revata đã đích thân đi đến đại đức Sāriputta và hỏi rằng:

– Thưa ngài, tôi đã gởi y cho ngài trưởng lão. Y ấy đã đến chưa?

– Này sư đệ, ta không nhìn thấy y ấy.

Sau đó, đại đức Revata đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:

– Này đại đức, tôi đã gởi y của ngài trưởng lão qua tay của đại đức. Y ấy đâu rồi?

– Thưa đại đức, tôi đã lấy y ấy do sự thân thiết với đại đức.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi đi; (y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi đi; (y) đã được lấy đúng đắn.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị gởi (y) đã từ trần” rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị sẽ nhận (y) đã từ trần” rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy đúng đắn.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Cả hai đã từ trần” rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y) đã được xác định sai trái.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị gởi (y) đã từ trần” rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Vị sẽ nhận (y) đã từ trần” rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): “Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).” Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: “Cả hai đã từ trần” rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y) đã được xác định đúng đắn.

[172] Này các tỳ khưu, có tám tiêu đề về việc phát sanh y: (thí chủ) dâng trong ranh giới (sīmā), (thí chủ) dâng theo sự thỏa thuận, (thí chủ) dâng theo sự thông báo về vật thực, (thí chủ) dâng đến hội chúng, (thí chủ) dâng đến cả hai hội chúng (tỳ khưu và tỳ khưu ni), (thí chủ) dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa, (thí chủ) dâng sau khi đã thông báo, (thí chủ) dâng đến cá nhân.

(Thí chủ) dâng trong ranh giới (sīmāya deti) thì nên chia phần cho hết thảy các vị tỳ khưu đang ở trong ranh giới. (Thí chủ) dâng theo sự thỏa thuận (katikāya deti) thì toàn bộ các trú xứ đều có phần nhận lãnh đồng đều, (nghĩa là) khi được dâng ở một trú xứ thì được dâng cho tất cả. (Thí chủ) dâng theo sự thông báo về vật thực (bhikkhāpaññattiyā deti) là nơi nào các sự hộ độ thường xuyên được thực hiện đến hội chúng thì dâng nơi ấy. (Thí chủ) dâng đến hội chúng thì nên chia phần đến hội chúng đang hiện diện. (Thí chủ) dâng đến cả hai hội chúng thì dù cho có nhiều tỳ khưu mà có một tỳ khưu ni cũng nên được chia một nửa. Dù cho có nhiều tỳ khưu ni mà có một tỳ khưu cũng nên được chia một nửa. (Thí chủ) dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa (vassaṃ vutthassa saṅghassa deti) thì nên chia phần cho hết thảy các vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở trú xứ ấy. (Thí chủ) dâng sau khi đã thông báo (ādissa deti) về cháo, hoặc về bữa ăn, hoặc về vật thực cứng, hoặc về y, hoặc về chỗ trú ngụ, hoặc về dược phẩm. (Thí chủ) dâng đến cá nhân (puggalassa deti) là (nói rằng): “Tôi đã dâng y này đến vị tên (như vầy).”

Dứt Chương Y Phục là chương thứ tám.

Trong chương này có chín mươi sáu sự việc.

******

Tóm lược chương này:

[173]

Thị trưởng Vương Xá nhìn
kỷ nữ Vesālī
đến khi quay về lại
thành Rājagaha
báo điều ấy đến vua.
Người con trai kỷ nữ
Sālavatikā
con (nuôi) Abhaya
bởi vì vương tử hỏi:
“Jīvati?” “Còn sống?”
gọi tên “Jīvaka.”
Rồi chàng trai đi đến
thành Takkasilā
học xong được thành tài
trị lành bệnh bảy năm
bằng việc làm ở mũi.
Bệnh rò rỉ của vua
trị dứt bằng thuốc thoa,
“Hãy phục vụ cho ta,
các cung phi hoàng tộc,
đức Phật và Tăng-già.
Và chuyện đại phú gia
thành Rājagaha,
điều trị chứng xoắn ruột,
trị dứt bệnh rất nặng
của vua Pajjota
bằng bơ lỏng uống vào.
Chức vụ, vải Sivi,
bôi dầu bệnh bốc mùi,
với ba nắm sen xanh,
là ba mươi lần xổ,
lành bệnh xin điều ước,
Ngài nhận vải Sivi,
đức Như Lai cho phép
y dâng của gia chủ,
choàng vải, choàng tơ lụa,
choàng lông, nửa Kāsī,
và nhiều loại, hoan hỷ.
Các vị chờ, không chờ,
vào trước như vào sau,
cam kết, họ mang lại,
kho chứa, không bảo quản,
cũng thế làm xao lãng.
Có nhiều, cảnh náo động,
nên chia như thế nào?
Nên cho như thế nào?
Với phần chia nhiều hơn,
san sẻ cho làm sao?
Với phân và nước lạnh,
bị trào ra, không biết,
đổ ra, và chậu nhuộm,
trong đĩa, và nền đất,
mối, ở giữa, bị sờn,
một bên, và bị cứng,
thô, không cắt, kết lại.
Ngài thấy mang đống y,
sau khi đã suy xét,
đấng Thích Ca Mâu Ni
đã cho phép ba y,
với y phụ trội khác,
phát sanh, và y rách.
(Mây đen) bốn châu lục,
bà cầu xin điều ước
được dâng choàng tắm mưa,
vị vãng lai, xuất hành,
vị bệnh, người nuôi bệnh,
dược phẩm, cháo thường xuyên,
và choàng tắm (các ni).
Thượng hạng, y quá nhỏ,
ghẻ sần sùi, khăn mặt,
sợi lanh, được đầy đủ,
chú nguyện, việc cuối cùng,
điều quan trọng đã làm.
Không vuông, chỉ bị rời,
bị tưa, làm không đủ,
thêm vải khác, có nhiều,
rừng Andha, thiếu niệm,
sống an cư một mình,
và trong những mùa khác.
Hai vị là anh em,
chuyện Rājagaha,
vị Upananda
cũng ở hai (chỗ ngụ).
Vị bị bệnh kiết lỵ,
cả hai và vị bệnh,
lõa thể, cỏ kusa,
vỏ cây, tấm ván gỗ,
và mền dệt bằng tóc,
lông ngựa, cánh cú mèo,
sợi của cây akka,
của cây makaci,
màu xanh, và màu vàng,
màu đỏ, và đỏ sậm,
đen, nổi bật, sáng chói,
và đường viền không cắt,
rộng, vẽ hoa, rắn hổ,
áo choàng, sợi vỏ cây,
và khăn xếp đội đầu.
Chưa phát sanh, ra đi,
đến hội chúng chia rẽ,
dâng đến nhóm, hội chúng.
Ngài Revata gởi,
vị lấy do thân thiết,
và vị ấy chú nguyện.
Tiêu đề nói về y
thì có được tám điều.

[1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng y được dâng bởi gia chủ.

[2] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng 1 kāsī là một ngàn (?), có thể là loại tiền vàng kahāpaṇa.

[3] Liên quan đến tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị) thứ nhất.

[4] Tấm trải nằm (paccattharanaṃ) tức là ngọa cụ, y lót ngồi (nisīdanaṃ) tức là tọa cụ.

[5] Ngài Buddhaghosa giải thích là trong bốn tháng mùa mưa.

[6] Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên về trường hợp một vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa ở hai nơi. Ngài Buddhaghosa giải thích vị ấy sống thay đổi chỗ ở trong thời hạn từ một ngày đến bảy ngày theo quy định về mùa (an cư) mưa. Quý vị nếu có thắc mắc nên kiểm tra lại ở bản chú giải Samantapāsādikā.

-ooOoo-



  • Leave a Comment