Home / THƯỜNG TRỤ TAM BẢO / Thích Ca Mâu Ni Phật / Đảnh lễ Đức Phật Đà / Danh hiệu, Kinh điển, Thần chú và Thánh địa đảnh lễ Đức Phật Thích Ca

Danh hiệu, Kinh điển, Thần chú và Thánh địa đảnh lễ Đức Phật Thích Ca

1. Danh hiệu Phật Thích Ca

Thích Ca Mâu Ni, tên Phạn là Śākya-muṇi dịch âm là Thích Ca Văn Ni, Xả Ca Dạ Mâu Ni, Thích Ca Mâu Nẵng, Thích Ca Văn…. lược xưng là Thích Ca, Mâu Ni, Văn Ni. Dịch ý là Năng Nhân, Năng Nhẫn, Năng Tịch, Tịch Mặc, Năng Mãn. Hoặc xưng là Thích Ca Tịch Tĩnh. Lại xưng là Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi) lại được dịch là Năng Nhân Tịch Mặc trong đó Năng Nhân (Śākya) là dòng họ Thích Ca và Tịch Mặc (Muṇi) là bậc Đại Thánh. Như vậy Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là Bậc Đại Thánh của dòng họ Thích Ca.
Theo ý nghĩa khác thì Năng biểu thị cho Đại Hùng Lực, Nhân biểu thị cho Đại Từ Bi, do Năng Nhân cho nên chẳng trụ ở Niết Bàn. Tịch Mặc biểu thị cho Đại Trí Giác, do Tịch Mặc cho nên chẳng trụ ở sinh tử. Như vậy Hồng danh Thích Ca Mâu Ni biểu thị cho Bi Trí kèm vận, Chân Tục song dung, Phước Trí viên mãn của Đấng Toàn Giác.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi-buddha) là Đức Phật thứ tư trong đời Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa) tại Thế Giới Ta Bà (Sāha-loka-dhātu) và là Đấng mở bày con đường Chính Pháp Giải Thoát hóa độ chúng sinh, hình thành Phật Giáo ngày nay.

Danh hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni được viết bằng 6 ngôn ngữ: Việt ngữ, Trung ngữ, Anh ngữ, Pháp ngữ, Nepal ngữ, Tây Tạng ngữ.

NAM MÔ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
南無本師釋迦牟尼佛
NAMO SHAKYAMUNI BUDDHA
NAM MO LE BOUDDHA ÇÃKYA MUNI
शाक्यमुनिबुद्ध
སངས་རྒྱས་ཤཱཀྱ་ཐུབ་པ་

2. Kinh điển thuyết Phật Thích Ca

2.1. Phật Đản

Các kinh thuộc Nam truyền đề cập về Phật đản gồm: kinh Nalaka trong kinh Tập (Sutta Nipata) thuộc kinh Tiểu bộ, kinh Đại bổn (Mahapadana Sutta) thuộc kinh Trường bộ, kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp (Acchariya-abbhutadhamma Sutta) thuộc kinh Trung bộ, kinh Đại bát Niết-bàn thuộc kinh Trường bộ(1).

Các kinh thuộc Bắc truyền nói về Phật đản gồm: kinh Đại bổn duyên thuộc kinh Trường A-hàm, kinh Phương quảng đại trang nghiêm, kinh Phổ diệu, kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, kinh Tu hành bản khởi, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả, kinh Phật bản hạnh tập, kinh Phật thuyết thập nhị du(2). Trong phạm vi giới hạn của bài viết, ba bài kinh thuộc hai hệ phái có đề cập rõ về sự kiện đản sanh với những miêu tả mang tính huyền thoại sẽ được sử dụng như là tài liệu nguồn để trích dẫn. Ba bài kinh đó là kinh Đại bổn thuộc bộ Nikaya, kinh Đại bổn duyên thuộc bộ A-hàm và kinh Phật bản hạnh tập.

2.2. Ngày Đức Phật Thành Đạo

Ngày, tháng Thành đạo của Đức Phật theo Hán tạng

+ Ngày mùng 8 tháng 2, gồm có các kinh, luật sau:

– Kinh Trường A-hàm, do ngài Phật-đà-da-xá và Trúc-phật-niệm dịch vào năm 4132.

– Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả do ngài Cầu-na-bạt-đà-la (394-468) dịch3.

– Tát-bà-đa-tỳ-ni Tỳ-bà-sa,mất tên người dịch, phụ vào dịch phẩm nhà Tần4.

+ Ngày mùng 8 tháng 4, gồm có các kinh sau:

Kinh Phật Bát-nê-hoàn do Sa-môn Bạch Pháp Tổ dịch vào thời Tây Tấn (266-316)5.

Kinh Bát-nê-hoàn, không ghi tên người dịch, phụ vào dịch phẩm thời Đông Tấn (317-420)6.

Kinh Phật thuyết Ma-ha-sát-đầu do Sa-môn Thích Thánh Kiên dịch vào thời Tây Tần (385-431)7.

Trong sáu nguồn kinh, luật nêu trên không đề cập đến ngày mùng 8 tháng 12. Vậy, thực chất ngày Thành đạo của Đức Phật mà Phật giáo Bắc truyền hiện đang tổ chức dựa trên cơ sở nào?

+ Ngày mùng 8 tháng 12:

Theo Sắc tu Bách Trượng thanh quy, quyển 2, cho rằng ngày Đức Phật thành đạo là ngày mùng 8 tháng 12 (臘月八日). Tác phẩm không nêu rõ dựa trên cơ sở tư liệu nào để ngài Bách Trượng, hoặc ngài Đức Huy cho rằng, ngày mùng 8 tháng 12 là ngày Đức Phật thành đạo, mà chỉ trình bày cách thức tổ chức và nội dung nghi lễ.

nguồn gốc ngày lễ Đức Phật thành đạo mùng 8 tháng 12 xuất hiện trong văn bản khá sớm, vào khoảng thế kỷ thứ VI, hiện được thu lục trong Đại tạng kinh chữ Hán, tập 46, với tên gọi là Nam Nhạc Tư Đại Thiền Sư Phát Thệ Nguyện Văn.

Tác phẩm Nam Nhạc Tư Đại Thiền Sư Phát Thệ Nguyện Văn do ngài Nam Nhạc Tuệ Tư (515-577), vị cao tăng ở thời đại Nam-Bắc triều, là vị Tổ thứ ba của tông Thiên Thai10, soạn vào đời nhà Trần (557-589). Nội dung bản văn nói về việc phát tâm Bồ-đề trong quá trình cầu đạo của tác giả. Đặc biệt, đầu bản văn, ngài Tuệ Tư đã khẳng định, Đức Phật thành đạo vào ngày mùng 8 tháng 12 năm Quý Mùi, lúc Ngài 30 tuổi

Ngày, tháng Đức Phật thành đạo theo kinh tạng Nikāya

Có thể nói, lịch sử Đức Phật nói chung và chi tiết về ngày thành đạo nói riêng theo quan điểm Phật giáo Nam truyền, có thể tìm thấy trong hai nguồn tư liệu chính, đó là tác phẩm Nidānakathā và Mahāvaṃsa.

Theo tác phẩm Nidānakathā, sau khi thọ dụng bát cháo sữa từ nàng Sujātā vào ngày trăng tròn tháng Vesākha (Visākhapuṇṇamāya)18, Bồ-tát Siddhattha đã thiền tọa dưới gốc cây bồ-đề (Bodhirukkha)19,hàng phục ma quân và chứng thành Phật quả (Buddhabhūtassa)20.

Theo tác phẩm Mahāvaṃsa (Mhv.I,12), tại Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela) thuộc vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha), dưới gốc cây bồ-đề (Bodhimūla), bậc Đại sĩ (Mahāmuni) đã chứng đạt quả vị Toàn giác tối thắng (patto sambodhimuttamaṃ) vào ngày trăng tròn tháng Vesākha (Visākhapuṇṇamāyaṃ)21.

3. Chủng tử, Thần chú, Chân ngôn Phật Thích Ca Mâu Ni

_Chữ chủng tử là: BHA ( ), BHAḤ ( ), BHRŪṂ ( )

_Thích Ca Mâu Ni Phật Thủ Ấn:

.) Bát Ấn: Chân Ngôn là: NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ_ SARVA KLEŚA NIRSUDANA _ SARVA DHARMA VAŚITAḤ PRĀPTA _ GAGANA SAMA ASAMA_ SVĀHĀ

.) Trí Cát Tường Ấn: Chân ngôn giống như trước

.) Trí Cát Tường Ấn: Chân ngôn giống như trước

_Chân ngôn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Hệ Thuần Mật thường dùng câu Thích Ca Mâu Ni Phật Bát Ấn Chân Ngôn:
NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ_ SARVA KLEŚA NIRSUDANA _
SARVA DHARMA VAŚITAḤ PRĀPTA _ GAGANA SAMA ASAMA_ SVĀHĀ

_ Thích Ca Mâu Ni Phật Diệt Ác Thú (nẻo ác) Vương Căn Bản Chú:

OṂNAMOBHAGAVATE DURGATE-PARIŚODHANI-RĀJĀYA
TATHĀGATAYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA
TADYATHĀ: OṂ_ ŚODHANI SARVA-PĀPAṂ VIŚODHANI, ŚUDDHE
VIŚUDDHE, SARVA-KARMA-ĀVARAṆA VIŚUDDHE KURU_ SVĀHĀ

_ Thích Ca Mâu Ni Phật Tồi Tà Hiển Chính Chân Ngôn:

AMALEVIMALENIRMALEMAṄGALEHIRAṆYA-GARBHE
SAMANTA-BHADRE SARVĀRTHA-SĀDHANI PARAMĀRTHA-SĀDHANI
MANAS ACYUTI BRAHMASVARE PŪRṆE, PŪRṆA MANORATHE

_Thích Ca Mâu Ni Phật Tâm Chân Ngôn:

OṂ _ MUṆI MUṆI MAHĀ- MUṆI _ ŚĀKYAMUṆĀYE _ SVĀHĀ

_Phật nói Kinh Tiểu Tự Bát Nhã Ba La Mật ghi nhận Chân Ngôn này có tên gọi là Thánh Phật Mẫu Tiểu Tự Bát Nhã Ba La Mật Đa Chân Ngôn:
“Nẵng mạc xá cát-dã mâu nẵng duệ, đát tha ngã đá dã, lạt-hạt đế, tam ma dược ngật tam một đà dã. Đát nễ-dã tha: Mâu ninh, mâu ninh, ma hạ mẫu nẵng duệ, sa-phộc hạ”

4. Thủ Ấn Phật Thích Ca

Thủ Ấn Giảng Dạy: Thủ Ấn Giảng Dạy (Dharmacakra Mudra) để cả hai tay đưa trước ngực, đầu các ngón trỏ và các ngón cái đụng vào nhau.

Thủ Ấn Giảng Dạy
Thủ Ấn Giảng Dạy

Thủ Ấn Từ Bi: Quà Tặng Ban Cho, Thủ Ấn Từ Bi (Varada Mudra) tay phải thả lỏng với lòng bàn tay quay ra phía ngoài.

Thủ Ấn Từ Bi
Thủ Ấn Từ Bi

Thủ Ấn Thiền: Thủ Ấn Thiền (Samadhi Mudra) để cả hai tay đặt trên đùi, lòng bàn tay hướng lên trên.

Thủ Ấn Thiền
Thủ Ấn Thiền

Thủ Ấn Không Sợ Hãi: Thủ Ấn Không Sợ Hãi (Abhaya Mudra) để tay phải hơi cao, lòng bàn tay quay ra phía ngoài, còn gọi là Thủ Ấn Từ Bỏ.

Thủ Ấn Không Sợ Hãi
Thủ Ấn Không Sợ Hãi

Thủ Ấn Tranh Luận: Thủ Ấn Tranh Luận giải thích những lời dạy của Đức Phật (Vitaka Mudra) với bàn tay nâng lên và đầu các ngón trỏ và ngón tay cái chạm vào nhau.

Thủ Ấn Tranh Luận
Thủ Ấn Tranh Luận

Thủ Ấn Tránh Ác: Thủ Ấn Tránh Ác (Tarjani Mudra) để các ngón tay trỏ và ngón tay út duỗi thẳng ra.

Thủ Ấn Tránh Ác
Thủ Ấn Tránh Ác

Thủ Ấn Cầu Nguyện: Thủ Ấn Cầu Nguyện (Namaskara Mudra) để hai lòng bàn tay chấp lại vào nhau.

Thủ Ấn Cầu Nguyện
Thủ Ấn Cầu Nguyện

Thủ Ấn Vượt Thoát Khổ Đau: Thủ Ấn Vượt Thoát Khổ Đau (Buddha-Shramana Mudra) còn được gọi là Thủ Ấn Từ Bỏ Của Nhà Tu Khổ Hạnh.

Thủ Ấn Vượt Thoát Khổ Đau
Thủ Ấn Vượt Thoát Khổ Đau

Thủ Ấn Tránh Ác: Thủ Ấn Tránh Ác (Bhutadamara Mudra) này là một thủ ấn bảo vệ

Thủ Ấn Tránh Ác
Thủ Ấn Tránh Ác

Nguồn Đạo Phật ngày nay

5. Thánh địa tưởng nhớ, đảnh lễ Đức Phật Đà

Trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật dặn Ngài A Nan: Này A-Nan, chớ lo, các hàng đệ-tử sẽ có bốn chỗ để tưởng nhớ Phật là:

1- Thứ nhất là chỗ Phật Giáng-sinh có những công-đức như thế: Lâm Tỳ Ni (Phạn, Pàli : Lumbini – nay là Rumindai)

Vườn Lâm Tỳ Ni trước ngày tôn tạo
Vườn Lâm Tỳ Ni trước ngày tôn tạo – source: internet
Bên trong điện thờ Hoàng hậu Mada
Bên trong điện thờ Hoàng hậu Mada
Sun raise on the ruins of former monastery and temple at the Maya Devi Temple in Lumbini Nepal, marks the birth place of Siddhartha Gautam Buddha. In 1976, the Nepalese Government and UNESCO designated Lumbini as a world heritage site.

2- Thứ hai là nơi Phật Thành-đạo có những thần-lực như thế: Bồ Đề Đạo Tràng (Boddha Gaya)

Gốc Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo
Gốc Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo

3- Thứ ba là nơi Phật chuyển Pháp-luân lần đầu có những sự hóa-độ như thế: Vườn Lộc Uyển (Sarnath)

Vườn Lộc Uyển - Nơi Đức Phật chuyển Pháp Luân lần đầu tiên cho 5 anh em Kiểu Trần Như
Vườn Lộc Uyển – Nơi Đức Phật chuyển Pháp Luân lần đầu tiên cho 5 anh em Kiểu Trần Như

4- Thứ tư là chỗ Phật vào Niết-Bàn có những lời di-chúc như thế: Câu Thi Na

Đại Bảo tháp Niết bàn
Đại Bảo tháp Niết bàn

Thanh Tịnh Lưu Ly tổng hợp



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *