Địa Tạng Bồ Tát Linh Cảm Lục

Lời thệ nguyện sâu xa của Địa Tạng Bồ Tát bao la. Mối nhân duyên của Ngài với chúng sinh trong các cõi thế giới rất là rộng lớn. Có lúc Ngài xuống địa ngục để cứu vớt những kẻ có tội. Thánh tích linh cảm của Ngài rất nhiều và lan tràn khắp nơi. Tiếc rằng người đời ghi chép lại rất ít. Mùa Đông năm qua tôi ngẫu nhiên có dịp được đọc Tục Tạng Kinh, được biết là có Sa Môn Thường Cẩn ghi lại vào đời nhà Tống. Cuốn sách tập trung những việc linh nghiệm ghi lại Địa Tạng Bồ Tát thành một quyển. Chuyện linh cảm của Ngài ghi rất nhiều ở dưới đời nhà Đường và nhà Tống, cũng chưa thấy được đóng thành sách để phổ biến, cũng vì thời gian quá lâu và xa xưa, người ghi chép có thể có rất nhiều sai lầm về sự duyệt xét lại, vì vậy nên tập truyện được tu chỉnh lại ít nhiều. Nay sao lại được mười tám chương để công bố. Mong rằng người thấy kẻ nghe, đem lòng tin tưởng, cúng dường, xưng niệm sẽ được phước lợi vô biên.

Lý Viên Tịnh.

Vẽ Tượng Khỏi Nguy Hiểm

Đời Nhà Lương ở Hán Châu thuộc huyện Đức Dương, Chùa Thiện Tịch. Trên bức vách ở phía hành lang phía Đông Chùa có một bức họa do Trương Tang Dao vẽ tượng Địa Tạng Bồ Tát, hình dáng như một Tăng nhân, khóac áo ngồi nghiêm chỉnh, thường có ánh sáng tỏa ra khác thường. Lân Đức nguyên niên đời nhà Đường, có vị Sư trong Chùa vẽ theo kiểu bức tượng cũng có ánh sáng tỏa ra.
Lân Đức năm thứ ba lúc Vương Ký đi nhận nhiệm sở ở Tư Châu chức sử, cũng thường tập vẽ bức tượng đó và rất thành tâm tôn thờ. Lúc đó đoàn thuyền 10 chiếc cùng đi, giữa đường gặp cơn gió bão nổi lên, chín chiếc bị đắm, duy chỉ có thuyền của Vương Ký là bình yên vô sự. Rõ ràng là được Bồ Tát Từ Bi phù hộ. Vương Ký thành kính phụng thờ.
… Cũng năm thứ ba Bà Thiên Hậu được biết chuyện này, bèn ra lệnh cho họa sĩ phóng theo vẽ bức tượng đó, cũng lại có ánh sáng tỏa ra như trước.
Đến năm Đại Lịch nguyên niên, có vị Đại Đức ở Chùa Bảo Thọ thấy bức tranh trong đạo tràng cũng tỏa ánh hào quang, bèn viết sớ tâu nhà Vua. Vua cũng thành tâm đảnh lễ và ca ngợi vô cùng. Bức tượng thường tỏa ánh hào quang thì quốc gia an lạc.
Lại có một thương gia, vợ mang thai 28 tháng mà chưa sanh, một ngày kia thấy ánh sáng trong bức tranh vẽ hình Địa Tạng tỏa ra, bèn quyết tâm một lòng cung kính mô phỏng vẽ hình Bồ Tát Địa Tạng, đêm đó liền sinh một đứa con trai, khôi ngô tuấn tú ai trông thấy cũng yêu mến. Đó là nhờ ở ánh sáng vi diệu của Bồ Tát vậy.

Nghe Danh Khỏi Tù Tội

Đời nhà Đường ở Ung Châu, huyện Vân, có một người đàn bà, thường hay ăn chay cúng Phật, rất có lòng tin. Trong nhà có cung phụng một pho tượng Địa Tạng Bồ Tát tạc bằng gỗ, cao một thước sáu, rất là linh ứng. Lý Thị có nuôi một tỳ nữ, tuổi trên 50 thường tà kiến không tin ở chánh pháp. Một ngày kia chờ Lý Thị có việc vắng nhà bèn đem bức tượng bỏ ra ngoài hoang vu ở sân ngoài nhà. Khi Lý Thị trở về, bèn khóc lóc tìm kiếm. Bỗng thấy bãi hoang trước nhà có ánh sáng tỏa ra, vui mừng ra rước bức tượng về, nhưng không biết người Tỳ Nữ đã làm việc ấy. Ngày hôm sau người Tỳ Nữ ngất đi, bất tỉnh, sau đột nhiên tỉnh lại, khóc lóc hối hận, tự mình kể lại sự việc đã làm rằng: “Khi tôi chết thấy hai quan nhân cưỡi ngựa, đọc quan điệp, tôi phạm tội lớn vì đã hủy hoaị và làm nhục Thánh Tượng”. Nay phải trói đi để chờ Vương khiển trách và phạt giáng xuống địa ngục chịu tội. Lúc đó có một vị Thầy bước vào. Vua mời ngồi rồi kính cẩn hỏi nguyên do. Thầy ấy đáp rằng: “ Người nầy là Tỳ Nữ của đàn việt tôi, tuy làm nhục tượng của tôi nhưng tôi không nỡ trách phạt, mong Vua ra ơn ban cho mệnh thọ”. Vua nói rằng: “ Tôi xin làm theo ý Thầy”. Lúc đó tôi hối hận vô cùng, tôi bèn khấn rằng: “Nam Mô Địa Tạng Đại Bồ Tát”. Liền đó các tội nhân trong sảnh đường cũng đồng thanh tụng niệm, khóa tay tự mở. Thầy ấy dắt tay tôi ra khỏi ngoài sảnh đường. Tôi bèn tỉnh lại.
Lý Thị nghe xong lại càng kính trọng pho tượng. Từ đó những người trong huyện lại càng tín ngưỡng hơn trước.

Giúp Cha Sanh Thiên

Thời nhà Đường thuộc Châu Phủ, có Bà nội của vợ Thứ Sử quy kính Đức Địa Tạng Đại Sĩ , lòng tin rất chân thành, duy có Cha Mẹ ruột chưa có sanh tín tâm, Bà nội vì Cha Mẹ bỏ tiền ra mà tạc một pho tượng Địa Tạng Bồ Tát màu vàng, cao ba thước, thành tâm cung phụng. Lúc đó Cha nàng vì có việc phải đi xa, Mẹ nàng ở nhà một mình. Đêm đó có kẻ trộm định ăn trộm quần áo, nhìn vào khe cửa thấy Địa Tạng Bồ Tát ngồi nghiêm trang. Ngày hôm sau tên trộm đó cải trang đến nhà thăm dò thì thấy có mình mẹ của Tổ Thị, đâu có thấy Thánh Tượng gì, nên lấy làm lạ, bèn tự thú tội lỗi của mình. Trong lòng hổ thẹn và kể lại thấy chuyện đêm hôm trước.
Sau Cha nàng đi Phủ Châu, dọc đường bị kẻ thù vây đánh chém giết, bỗng có một vị Thầy áo màu vàng lấy tay đỡ dao, lấy đầu đón giáo, bị hại nằm dưới đất. Lúc đó kẻ thù tưởng rằng đã chết bèn rút đi, nên Cha nàng tránh khỏi bị hại. Ông lấy làm lạ, về nhà kể lại chuyện đó cho con nghe, sanh tâm hy hữu cùng đến Phật Đường lễ bái, thấy đầu pho tượng có vài vết dao, màu vàng phai nhạt chút ít, hình như có rướm máu. Bà nội biết ngay đó là Bồ Tát Địa Tạng đỡ đòn chịu ba nhát dao để cứu nạn cho Cha nàng. Cha nàng liền sinh chánh tín và đón Mẹ đến nhà, ngày đêm cung phụng. Ba người ngày đêm lễ bái cúng dường. Cha nàng sống đến bảy mươi chín tuổi mới mất, ba mươi lăm ngày sau, Bà nội nằm mơ thấy Cha hiện về, mình mẩy sáng sủa đứng lơ lửng trên không, bay bổng tự nhiên sanh tâm hy hữu, quỳ lạy mà hỏi rằng: “Con hiện sống ở đâu?”. Đáp rằng: “Sống ở tầng trời thứ tư cùng với các đồng sự đều là bổ xứ. Người trời phần nhiều là nhờ Bồ Tát Địa Tạng hướng dẫn. Bà mẹ thọ đến ba mươi lăm năm sau, còn con thì sống được 25 năm. Chồng nàng sống được 28 năm.” Nói xong biến mất. Từ sau Mẹ và chồng nàng tất cả rất ứng nghiệm như lời Cha đã nói.
Từ đó dân làng cả Châu đều nô nức tạc hay vẽ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát để phụng thờ. Mọi người đều được hưởng linh nghiệm che chở của Bồ Tát.

Niệm Danh Hiệu Đức Địa Tạng Khỏi Bị Qủy

Đời nhà Đường có cư sĩ Lý Tín Tư, người xứ Lư Thủy, cả gia đình gồm hơn 30 người, bị ma quỷ quấy nhiễu. Lần lượt bị ốm đau, có người thổ huyết, lại có kẻ ngất đi. Lúc đó Tín Tư rất là phiền não, hỏi chư Tăng phương pháp giải cứu. Vị Thầy ấy suy nghĩ rất lâu và nói rằng:
Khi Đức Phật còn tại thế ở chân núi Tỳ Phú La, trong nhà trưởng giả Kiều Đề, cũng bị ác quỷ quấy nhiễu, trong gia đình chừng 500 người. Lúc đó ai nấy đều bịnh khổ cả 10 ngày chưa tỉnh lại. Khi đó ngài Địa Tạng Bồ Tát vân du đến nhà trưởng giả, khi đó Ngài sinh lòng từ bi niệm chú cứu vớt, yêu ma được trừ đi. Mọi người được yên ổn, các người nên theo phương pháp đó, quy y Địa Tạng Đại Sĩ, nhất tâm xưng danh. Suy nghĩ tin theo và làm theo, vẽ hình Bồ Tát. Từ đó trong 50 năm, huyện Lư Thủy không ai bị ma quỷ quấy nhiễu nữa.

Thờ Pháp Sống Lại

Đời nhà Đường ở núi Trung Sơn, thuộc Chùa Khai Thiện , có pho tượng Bồ Tát Địa Tạng cao ba thước, hào quang bốn thước rưỡi, đã lâu năm không biết ai là người tạc tượng này. Sau này có ông Đặng Tông Đô Đốc Dương Châu, năm 61 tuổi bị bệnh thường mà chết, ngực còn ấm thoi thóp thở nên thân nhân chưa dám vào liệm. Đến đêm chợt tỉnh lại, ngày đêm thương khóc, bèn bảo người nhà dìu dắt ông đến Khai Thiện Tự, hỏi một Tăng rằng: “Trong tự có một pho tượng Địa Tạng Bồ Tát, cao ba thước, hào quang bốn thước rưỡi, ở đâu? Tôi muốn đến để cúng bái và phụng thờ”. Chư Tăng nghe theo lời tìm kiếm, sau tìm thấy, Đặng Tông kính bái rồi ngỏ ý xin rước pho tượng về phụng thờ. Vị Tăng hỏi: “Tại sao?”. Đặng Tông đáp rằng: “Lúc tôi chết thì thấy một vị quan tứ phẩm, tôi bị dẫn tới trước một vị Vua và Vua, nói rằng: “Ngươi không thể chết, phụng pháp là việc gia nghiệp của ngươi, phải sống mà trở lại nhân gian, con đường âm phủ rất đáng sợ, ngươi không thể biết được, người có muốn thấy địa ngục không? “Tôi nói có”. Vị Vương bèn cho gọi một vị quan mặc áo màu lục đến, theo vị Vua ra ngoài thành, đi theo hướng Đông Bắc khoảng năm hay sáu dặm, có một tòa thành bằng sắt, cửa đóng, dần dần mới nhìn thấy ánh lửa mãnh liệt. Trong ngục cả trăm ngàn tội nhân đang chịu khổ.
Lúc đó có một vị Tăng vào ngục, hàng phục lửa cháy, giáo hóa các tội nhân. Lửa dần dần dập tắt. Lại đi đến một thành sắt khác, trong đó có mười tám tầng địa ngục, sự cực khổ của các tội nhân không thể nói hết được, lại thấy vị Tăng lại giáo hóa các tội nhân như trước. Sau khi du lãm ra về, vị Tăng ấy từ trong địa ngục ra hỏi rằng: “Ngươi biết ta là ai không?”. Tôi trả lời là không biết. Vị Sa Môn đó nói rằng: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát ở Khai Thiện Tự đây. Trước kia có một vị thầy tên là Trí Tạng Pháp Sư có đồ đệ là Trí Mãn Pháp Sư, vì muốn cứu khổ tam đồ chúng sinh nên đã khắc tượng của ta. Ta thuận theo nên mỗi ngày một giờ vào mười tám tầng địa ngục và vô lượng tiểu địa ngục giáo giới khai Đạo. Những kẻ trước đã trồng thiện căn, thiện lực mạnh hơn phát tâm lập tức thoát khổ. Ngoài ra những kẻ đoạn thiện căn, tà độc ăn sâu, bất tri bất giác, khó thoát khổ ải. Còn ở trên đời những kẻ thiện căn yếu kém, còn dễ hóa độ, nếu một khi đi vào đường ác, Thánh lực cũng không thể cứu bạt được, ác tính vẫn như cũ, vì ác nghiệp quá nặng. Những kẻ bất giác này, nếu sau này có lòng hối cải, nhờ pháp lực thoát khỏi đau khổ ở địa ngục, sẽ sớm được về nhân gian. Hãy tuyên cáo cho mọi người biết, liền chiêm ngưỡng vị Tăng ấy, thân cao ba thước, đỉnh đầu tỏa hào quang sáng chói chang. Vị Tăng đó dạy cho hai câu kệ rằng: “Nếu ở nhân gian mà tu đạo, xiển đề có tâm cũng có thể phát. Nếu vào ác đạo nghiệp, đã sâu. Trong tâm không phân biệt, không thể cứu được. Như kẻ già nua muốn đi đứng, nếu dùng lực mà dìu thì dễ tiến bước. Nếu nằm yên chẳng cựa quậy không đủ sức thì nghiệp định chúng sinh cũng như vậy”. Vị Tăng đọc xong hai câu kệ rồi biến mất.
Tôi nằm trên giường bệnh nhớ kỹ việc này, sợ có sự sai trái nên chẳng dám nói cho ai hay. Nay được thấy bức tượng hoàn toàn giống như mắt thấy, vì nguyên do như vậy, cho nên muốn thỉnh rước về nhà cung phụng. Vị Tăng trong Chùa nghe vậy rất vui mừng, khen ngợi và nói rằng: “Có thể mô phỏng tạc tượng này, nhưng không thể rước đi”, đành rước thợ tạc tượng rước về cung phụng . Còn pho tượng này vẫn để nguyên trong Khai Thiện Tự.

Đổi Nhà Thành Chùa

Đời nhà Đường ở Giản Châu, huyện Kim Thủy, có ông Thị Lang họ Đặng, từ xưa đến nay rất tin đạo Phật. Một ngày kia thấy một cây gậy trên đầu có khắc tượng một vị Thầy, bèn đem về nhà, cắm ở vách. Hai ba năm sau ông bỗng bị bệnh chết đi, nhưng ngực còn hơi ấm nên người nhà nghi mà chưa khâm liệm. Qua đêm sau, ông tỉnh lại, khóc nước mắt chảy ròng kể rằng: “Lúc ta mới chết có hai người cưỡi ngựa dắt ta vào cửa của một thành lớn. Trước sảnh đường, thấy rất đông người đang bị xiềng xích. Vị Vua đang tức giận, đang muốn chất vấn tôi. Lúc đó có một vị Sa Môn, tướng mạo xấu xí, bước vào sảnh đường. Vị Vua vội cung kính đứng dậy, chắp tay quỳ lạy nói rằng: “Đại Thánh vì sao Ngài đến đây?” Sa Môn nói: “Thị Lang này là đàn việt của tôi, Vua nên tha cho y”. Vua nói: “Nay đã quyết định, số đã tận, thực lộc đã hết, khó mà tha thứ được”. Sa Môn nói: “Trước kia ta ở trên Thiện Pháp Đường ở cõi trời thứ 33, Đức Phật đã phán cho ta được cứu những định nghiệp của kẻ có tội. Từ bấy lâu nay, huống chi gã Thị Lang không phạm trọng tội, sao lại không cứu được? Vua nói: “Đại Nguyện của Đại Sĩ vững chắc bất động như núi Kim Cương, tôi tuân theo lời chỉ thị, tha cho y trở về nhân gian”.
Sa Môn rất vui mừng dắt tay tôi, dẫn vào đường sống. Khi đang muốn ra đi, tôi hỏi rằng: “Thầy cứu tôi là đại ân nhân của tôi, thỉnh cho biết pháp hiệu để nhớ ơn?” Vị Sa Môn trả lời rằng: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát, xưa kia Thị Lang dọc đường có nhặt được cái gậy có khắc tượng của tôi, tuy chưa rõ biết, đem về cắm trên vách, vì niềm vui của trẻ mà khắc tượng trên đầu cây gậy. Mới khắc nửa chừng được đầu gậy, còn chưa xong nên hình dung xấu xí, Thị Lang còn nhớ không?” Nói xong thì biến mất.
Thị Lang tỉnh dậy, thấy cây gậy cắm trên vách chỉ còn đoạn đầu, bèn thuê thợ lấy gỗ đàn hương tạc lớn lên năm tấc. Pho tượng thường tỏa ánh sáng soi khắp cả gian phòng. Thị Lang lại tạc thêm một pho tượng lớn hơn, bỏ nhà làm Chùa gọi là Địa Tạng Đài phụng thờ tượng nhỏ bên trong để thập phương thiện nam tín nữ xa gần chiêm ngưỡng.

Nhờ Đức Địa Tạng Thoát Khỏi Nạn Cọp Xé

Vào đời nhà Đường, ở Hoa Châu, Huệ Nhựt Tự có một vị Thầy tên là Pháp Thượng. Năm ba mươi bảy tuổi xuất gia. Khi còn ở nhà thường đi săn. Có một hôm, thấy trong bụi cây ánh sáng tỏa ra, lấy làm lạ, bèn xuống ngựa đi đến xem, chỉ thấy một khúc gỗ mục dài hơn một thước, bèn đem về nhà. Sau lại đi săn, thấy cây gỗ độ nọ lại tỏa sáng bèn lấy làm lạ, bèn nhặt khúc gỗ để gác trên cành lại. Trở về dọc đường gặp Hổ, bèn phóng ngựa đuổi theo. Dây cung bị đứt, không có dây cung. Con Hổ trở lại hoảng sợ chạy trốn, rồi sợ quá ngã ngựa. Tự nghĩ rằng thế nào cũng bị Hổ vồ, chắc chắn không thể tránh. Đang lúc hoang mang thấy một vị Thầy hình dáng xấu xí đến đánh đuổi con Hổ. Tôi hỏi Thầy là ai ? Vị ấy bảo rằng: “ Ta là Địa Tạng Bồ Tát, khúc gỗ mục ở bụi cây đó là thân ta. Trứớc kia Tằng Tổ phụ của người đã từng lấy cây này xây cất Chùa, tạo tượng. Nay Chùa đã bị hư hại, tượng ta cũng bị mục. Chỉ còn ruột cây, người thấy ánh sáng của ta nên đến cứu người.”
Sau khi tỉnh giấc, chỉ thấy tiếng ngựa hý, không còn thấy bóng con Hổ nữa, vô cùng hối tiếc bèn ở chỗ tỏa ánh sáng, kiến tạo một căn Tịnh Xá, khúc gỗ mục tạc tượng Địa Tạng Bồ Tát, tiếp tục hương đăng thờ phụng, tức là Tuệ Nhật Tự vậy. Vào ngày 24 tháng 2 Pháp Thượng được 78 tuổi nói với các bạn rằng: “ Ngài Địa Tạng Bồ Tát đến nhà ta nói rằng: “ Người là ở trong pháp hội của Từ Thị Như Lai ba lần thuyết pháp. Trong lần thuyết pháp thứ hai, người là kẻ đắc đạo, hôm nay xả thọ, liền sanh Đao Lợi.” Tôi bạch Đại Sĩ rằng: “Trên trời có cảnh giới ngũ dục, rất là sung sướng, nếu mất Bồ Đề, khó mà gặp Phật. Nay nguyện vãng sanh Tây Phương nơi thế giới An lạc.” Bồ Tát trả lời: “ Tùy theo ý nguyện của người, nếu muốn vãng sanh Tịnh Độ phải niệm A Di Đà Phật một ngày một đêm, chuyên tâm trì chí mới được vãng sanh”. Được tới Bồ Tát , từ hôm qua chuyên niệm A Di Đà Phật. Nay được vãng sanh, nói rồi chắp tay hướng về Tây Phương rồi mất.

Khắc Tượng Tiến Thân

Hồi triều nhà Đường, có một người thiếu nữ con của quan Đô Đốc họ Trần ở nước Tàu. Nàng mồ côi Mẹ hồi thuở còn nhỏ, đêm ngày rầu rĩ nhớ thương không biết làm sao thấy được Mẹ, nên không còn cái hy vọng sống đời, chỉ một lòng quyết hủy mình, đặng xuống suối vàng tìm Mẹ mà thôi. Quan Đô Đốc thấy tình cảnh ấy, thiệt như dao cắt ruột, như bị muối xát vào lòng, song ngài cũng ráng làm tỉnh mà dùng lời an ủi rằng:
– Con ơi! Hết thảy nhân loại trên thế giới này, không ai là người chẳng muốn sống, nhưng vì số thọ yểu chẳng đồng, cuộc hiệp ly có khác, kẻ giàu lại chết sớm, người nghèo thì sống lâu, là bởi chỗ tạo nhân sai biệt mà xưa nay chẳng có ai cải theo ý muốn của mình được. Huống chi Mẹ của con tuy mất rồi, thì đạo làm con cũng đồng một tâm lý biết thương mến buồn rầu, phải toan liệu cách nào cho đặng lưỡng toàn. Chớ nay con rước lấy sự bi quan vào lòng, rồi bỏ ngủ, bỏ ăn, bỏ uống, quyết làm cho chết thân con mà để lại cho cha thêm một mối buồn rầu nữa, thì thiệt hại cho cái sống trong lúc tuổi già của Cha nhiều lắm. Vậy nếu con nhớ thương Mẹ của con thì con nên tạo tượng Đức Địa Tạng như trong kinh Phật đã dạy, đặng đêm ngày lễ bái cầu nguyện cho vong linh của Mẹ con sớm thoát khỏi khổ luân, sanh về Cực Lạc. Như vậy thì con cũng trả được cái công lao mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm.
Ông khuyên nói như thế rồi, bèn xuất ra năm trăm quan tiền, mướn thợ khắc tượng Đức Địa Tạng cao ba thước, và đặt bàn hương án nghiêm trang nơi phòng của vợ ông nằm khi trước, rồi để con gái của ông chiêm ngưỡng Thánh nhân mà tụng kinh niệm Phật.
Từ khi đó nàng mới an tâm, sớm chiều chí tâm cầu nguyện cho Mẹ hết khổ được vui, tiêu diêu Lạc Quốc. Một đêm nọ, sau giờ tụng kinh niệm Phật, nàng đương lúc ngủ, bỗng chiêm bao thấy một vị Tăng nói với nàng rằng: “Hồi khi ta thọ thân nữ nhân, Cha ta là Thi La Thiện Hiện, Mẹ ta là Duyệt Đế Lợi, bị khổ nơi địa ngục hết sức nặng nề, ta bèn phát tâm Bồ Đề thệ nguyện cứu độ hết thảy những chúng sanh bị khổ, đặng đem công đức ấy mà hồi hướng cứu cho Cha Mẹ được siêu thoát. Nay ta cảm tấm lòng chí hiếu của nàng, nên ta thân hành vào địa ngục, thuyết pháp mà độ thoát cho vong mẫu của nàng được sanh lên cõi trời Đao Lợi rồi”.
Trần nữ là con gái của quan Đô Đốc, nghe vị Tăng nói như vậy rồi thì nàng rất vui mừng, liền giật mình thức dậy, đem câu chuyện chiêm bao mà tường thuật lại cho Cha và hết thảy người trong nhà nghe. Ai nấy cũng đều vui vẻ và thấy áo tượng Đức Địa Tạng thờ tại gia đổi ra sắc nám đen, y như trong cơn nàng nằm chiêm bao nghe vị Tăng nói, vì vào địa ngục mà bị lửa liếm nhằm cháy áo, thì sự tín ngưỡng của các người ấy lại càng tăng lên đến cực điểm.
Đó rồi chẳng những người trong xóm, mà cả người ở xa cũng đồng vẽ tượng Đức Địa Tạng mà thờ để cầu siêu cho Cha Mẹ, và phát tâm tu hành rất nhiều.

Khắc Tượng Địa Tạng Cầu Siêu Cho Thân Mẫu

Đời nhà Đường, có thiếu nữ con của Trần Đô Đốc. Từ nhỏ mồ côi Mẹ hồi thuở còn nhỏ, ngày đêm thương nhớ. Vì không được thấy Mẹ, mà muốn tự tử. Đô Đốc an ủi rằng: “Ta cũng là người thân, Mẹ con tuy mất, nhưng Cha con vẫn còn đây. Tại sao không chịu ăn uống mà muốn tự tử? Nếu con nhớ Mẹ thì nên tạc một pho tượng Địa Tạng Bồ Tát, cầu nguyện cứu khổ cho Mẹ con”. Bèn lo bỏ ra năm trăm tiền, thuê thợ tạc pho tượng Địa Tạng Bồ Tát cao ba thước và nói với Cha: “Xin cho phép được đặt tại phòng ngủ của Mẹ khi xưa. Nếu muốn thấy Mẹ thì được thấy pho tượng.” Đô Đốc cảm động bằng lòng để con đặt pho tượng trong phòng ngủ của Mẹ, ngày đêm lễ bái con phụng thờ. Cầu xin Bồ Tát cứu khổ cho Mẹ. Một đêm nằm mơ thấy một vị thầy nói rằng: “ Mẹ hiện đang sống trong địa ngục nóng bức.”
Lúc còn là con gái Cha tôi là Thi La Thiện Kiến Mẹ tên là Duyệt Đế Lợi, sau khi Mẹ chết, thọ khổ ở Địa ngục, nên phát tấm lòng Bồ Đề thề cứu bạt nỗi khổ của chúng sanh. Cảm lòng hiếu thảo của con nên vào Địa ngục phóng quang thuyết pháp. Cứu bạt tội khổ cho Mẹ con. Nay được sanh Thiên. Trần Nữ thấy quần áo của vị tu sĩ bị cháy xém bèn hỏi tại sao ? Vị ấy trả lời: “ Khi vào Địa ngục lửa nóng quá nên bị cháy”. Trần Nữ nghe lời mới biết là Mẹ đã thóat nạn rất vui mừng. Từ đó trọn đời thủ tiết mà cung phụng Bồ Tát.

Dịch Lớn Chẳng Lo

Đời Đường, ở Lộ Chậu có ngự sử Khang Cư Thông, là người thành tín nhất mực, đã nhiều năm phụng thờ Bồ Tát Địa Tạng, và rất thành tâm họa hình Bồ Tát. Nhất mực thành kính. Chưa bỏ hình nào, phóng quang sáng tỏ. Đều do tín tâm nầy vậy. Ngẫu nhiên bị hai quan binh đi ngựa đến đuổi bắt, rất là sợ hãi. Hai vị quân quan bỗng xuống ngựa nói rằng: “Chúng ta lầm rồi ! Địa Tạng Đàn Việt. Tuy có lỗi, nhưng khó mà ghép tội ”, nói xong biến mất. Khi tỉnh giấc lại càng thành tâm hơn.
Đến đời Hy Tông Quảng Nguyên nguyên niên, trong nước xảy ra hoạn dịch, ma quỷ hoành hành, người chết chất thành núi, mơ thấy trăm ngàn quỷ quái đi qua cửa nhà nói rằng: “Nhà này là phòng Thất của Bồ Tát Địa Tạng, chúng ta là kẻ tôi tớ, cẩn thận đừng vào nhà này”. Vì thế cả gia đình được thoát nạn. Đến năm Trung Hòa, có việc phải đi xa, ông lạc đường trong bãi tuyết, vội khấn niệm Địa Tạng Bồ Tát. Chợt có con oanh vũ bay xuống bãi tuyết, thấy lạ bèn đuổi theo thì là đến được đường chính. Khi đến Quang Khải, bị bệnh, thành tâm cầu nguyện mong được khỏi bệnh. Nằm mơ thấy vị Thầy nói: “Ngươi giết con chim xanh của ta, tội đáng xuống địa ngục. Nay phải đền nghiệp đó, chịu khổ đến hai ngày mới được sanh về Tịnh Độ”. Nghe xong vui mừng lễ bái, bệnh khỏi liền, qua hai ngày thì mất.

Trì Danh Giải Nguy

H ồi triều nhà Đường, có một vị quan Biệt giá, tên là Kiện Khác, bình sanh ông có lòng tin Phật một cách thiết thật, vâng theo chỉ giáo của Phật pháp ở đời, nên trên đã được lòng Vua thương và các quan đều kính nể, dưới cũng được hàng nhân dân yêu mến, xem ông như một vị phúc tinh vậy. Một ngày kia, ông vào chùa hỏi mấy vị Tăng: “Bạch các ngài! Kẻ tại gia cư sĩ như tôi đây nên thờ vị Phật hay là vị Bồ Tát nào?”. Khi ấy các vị Tăng đều nói khác nhau, sau rốt có một vị nói rằng: “Quan lớn nên thờ Đức Địa Tạng, vì Ngài đã vâng lời Phật sắc, thề độ tất cả chúng sinh trong tam giới lục đạo”.
Kiện Khác nghe rồi để vào lòng và xin lên chánh điện lạy Phật. Khi từ giã các vị Tăng mà trở về, thì ông nghĩ: Đức Địa Tạng đã vâng lời Phật dạy mà phát nguyện độ hết chúng sinh thì lẽ nào Ngài không độ ta? Ông phát nguyện khắc tượng Địa Tạng từ khi đó, nên quyết lòng kiếm mua cho được cây chiên đàn thứ tốt, rồi lựa thợ thiện nghệ mà mướn chạm một vị tượng đã khéo lại trang nghiêm, xem đến phải động lòng tín ngưỡng. Đó rồi ông làm lễ an vị tượng và thường dùng hương hoa cúng dường, khi đi đứng nằm ngồi đều thầm niệm danh hiệu của Đức Địa Tạng.
Vào khoảng niên hiệu Thiên Thành, đời vua Trang Tông, cả trong thiên hạ đều nổi loạn, Kiện Khác bị vây, sắp thấy cái chết trước mắt, nhưng ông vẫn định tâm chuyên niệm danh hiệu của Đức Địa Tạng hoài. Khi ấy, bên loạn quân dường như bị cái mãnh lực gì đó làm cho họ ghê sợ trong lòng rồi giải tán, chớ không vây ép Kiện Khác nữa, nên ông được bình an vô sự. Đến lúc thời bình rồi, ông bèn thuật chuyện lại cho các hạng người ở xứ ấy nghe, thì ai nấy cũng đều cho là việc lạ hết sức.
Sang niên hiệu Trường Hưng, ông vâng thánh chỉ đi phó nhiệm một châu kia, nhưng khi đi được nửa đường lại gặp bọn oan gia vây đón thích khách. Trong khi kinh khủng, ông đã đành bó tay đợi cho chúng giết, bỗng nhiên bọn hung thủ kia chỉ nhìn thấy một vị Tăng, chớ không phải là Kiện Khác. Chúng liền hối hận vô cùng, cầu Ngài tha lỗi cho chúng ăn năn sám hối, thì vị Tăng đó vui vẻ nói rằng: “Tham, sân, si là ba thứ độc, nó làm cho người đời phải trôi lăn trong tam đồ lục đạo, chịu sự khốn khổ gớm ghê. Vậy ta khuyên chúng ngươi hãy ráng trau dồi tâm tánh, nuôi dưỡng lòng từ và quy y Tam Bảo, đặng nhờ phần an lạc về sau, cho khỏi luân hồi thống khổ nữa”.
Nghe sơ qua mấy câu ấy rồi, chúng toan cúi đầu cảm tạ thì chẳng còn thấy vị Tăng đâu nữa, nên lòng chúng đều phập phồng sợ hãi, bèn thầm nguyện cải ác tùng thiện, rồi cùng nhau trở về xứ sở. Đó là nhờ từ lực của Đức Địa Tạng gia bị mà ông Kiện Khác được an toàn vô hại.
Lần sau, ông đi lỡ đường, phần trời cũng tối, nên cùng mấy kẻ tùy ứng ở giữa đồng, chia phiên ra kẻ ngủ người thức mà canh gác. Không ngờ đến lúc nửa đêm, trời phát mưa rất lớn, làm cho đèn lửa tắt hết, chỉ có pho tượng gài trong búi tóc tỏa ánh sáng ra sáng như ban ngày. Khi ấy ông Kiện Khác đang ngủ, bỗng nghe có tiếng nói nho nhỏ rằng: “Đàn việt hãy thức dậy sửa soạn mà đi nơi khác lập tức”. Ông nghe mấy lời, nhờ ánh sáng dẫn đường, liền vội vã đi tìm nơi khác mà an trú. Tản sáng ông trở lại chỗ ấy coi thử, thì thấy nước mưa trên bốn phía núi chảy dồn lại đó mà thành một trận ngập lụt thật sâu. Chừng đó ông mới biết nhờ Đức Địa Tạng độ mình khỏi bị thủy thần nhận chết.
Năm Thanh Thái ông sống đến 78 tuổi mới viên tịch. Khi ông đang hấp hối, pho tượng trong búi tóc tỏa ánh sáng, ông bèn chắp tay niệm Phật, êm đềm ra đi, theo ánh sáng bay bổng lên trời.

Niệm Danh Hiệu Địa Tạng Khỏi Binh Đao

Đời Đường ở Biệt Giá có Kiện Khác có lòng tin thanh tịnh, phụng pháp là Tôn Chỉ. Ngày đó hỏi một vị Thầy rằng: “Cư Sĩ tại gia nên phụng thờ Bồ Tát nào?” Các Thầy đều nói: Nên thờ Địa Tạng được Phật phù hộ. Kiện Khác tự nghĩ nếu được Đức Phật chiếu cố, hỷ xả cho chúng ta ? liền tìm gỗ đàn hương khắc một pho tượng ba tấc, gói trong búi tóc, đi, đứng, ngồi, nằm, đều niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát. Năm Tráng Tông Thiên Thành thiên hạ binh loạn, Kiện Khác bị vây khó thoát khỏi chết, liền niệm Bồ Tát Địa Tạng, Đại Tướng cưỡi ngựa kinh hoàng bỏ chạy. Sau khi binh loạn đã bình, nói đến chuyện này, mọi người nghe thấy đều lấy làm lạ. Đến năm Trường Hưng lúc đi phó nhiệm, kẻ thù hay tin muốn hãm hại nên phục ở bên đường để chờ, chỉ thấy một vị Thầy đi qua chứ không thấy Kiện Khác. Cảm ơn giải thóat, có lần trên đường nghỉ lại, trời mưa rất lớn, đèn đóm đều tắt, chỉ có pho tượng Ngài trong búi tóc, ánh sáng tỏa ra sáng như ban ngày. Bỗng nghe tiếng nói nhẹ như trẻ con: “ Hãy đi ngay! Đi ngay!” rất lấy làm lạ, nhờ ánh sáng dẫn đường, đi trú ngụ nơi khác. Ngày hôm sau hồng thủy rất lớn, ngập lụt nơi trú ngụ đêm qua bị chìm xuống đáy sông. Tự biết là Bồ Tát Địa Tạng phù hộ. Năm Thanh Thái thứ hai sống đến 78 tuổi mới mất, khi đang hấp hối pho tượng trong búi tóc tỏa ánh sáng bèn chắp tay niệm Phật êm đềm ra đi theo ánh sáng bay bổng lên trời.

Được Gặp Mẹ Hiền

Thời Ngũ Đại, ở Vi Châu có người đàn bà tên là Đặng Thị, người Mẹ mất sớm nhờ người bác nuôi dưỡng, ngày đêm nhớ Mẹ, bèn hỏi vị Thầy rằng: “Làm thế nào mà gặp được Mẹ? ”. Vị Thầy ấy nói: “Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện đại từ bi, một lòng tưởng niệm, sẽ được gặp lại”. Thị Nữ ngày đêm xưng danh cầu khẩn. Sau đó lại đến gặp vị Sa Môn nói rằng: “Con nhờ ơn ân sư muốn gặp lại Mẹ con. Xin kính cúng dường áo quần và in kinh biếu”. Sa Môn bèn hỏi rõ ngọn ngành, Thị Nữ kể lại rằng: Con nằm mơ thấy ở trên lưng Thầy, rồi bay bổng lên trời đến 49 tầng Ma ni bảo điện. Trong đó có rất nhiều chư Thiên, Mẹ con cũng ở đó. Con đến lễ bái thăm hỏi, Mẹ con trả lời rằng: “Con nên ghi ơn Bồ Tát Địa Tạng đã đưa ta đến đây, mới được gặp con. Cảm ứng như vậy, đừng quên ơn Bồ Tát”.

Lửa Tắt Được Sống

Đời Ngũ Đại ở Kinh Châu có chàng Liệp Hộ, làm nghề bắn nhạn. Ai cũng biết tiếng, xưng danh là Nhạn Hùng. Năm 51 tuổi bị chướng khí mà chết, vợ đem thây vứt bỏ ngoài bãi hoang để nuôi hổ sói. Ba ngày sau anh sống lại, trở về nhà. Vợ trông thấy sợ hãi tưởng là ma hiện về. Hùng kể lại rằng: “Khi tôi chết đi, có cỗ xe chất lửa chạy đến trước mặt, bị lửa đốt. Bỗng có một vị Tăng lấy nước dội lửa. Lửa tắt, tôi thấy trong người mát mẻ, có hy vọng được sống. Sau đó đến chỗ thấy heo, dê, gà, trĩ, và muôn vạn cầm thú đến trước Diêm Vương kêu la: “Trả mạng cho tôi. Xin trị tội Nhạn Hùng”. Vua nói: “Tụi bay kêu vậy, Hùng tất là người ác. Nhưng tổ tiên của y quy y Địa Tạng Bồ Tát, y là kẻ có ơn, được miễn họa tai”.Nhạn Hùng thấy vậy bèn nhất tâm khấn tên Địa Tạng Bồ Tát. Tất cả các chim thú đều biến thành hình người. Vua bèn tha tội cho tôi. Từ nay bỏ nhà ra đi, tự xưng là Phật Nô, du hành trong nhân gian, thường nói rằng: Địa ngục cực khổ, chăm chỉ khấn niệm Bồ Tát Địa Tạng sẽ được miễn nạn đó.

Đổi Chết Yểu Sống Lâu Hơn

Vào Đời Tống, ở Chùa Khai Bảo có vị Sa Môn Thích Huệ Ôn nuôi một đồng tử, nhưng không biết tên là gì. Năm 14 tuổi Thầy tướng Kiện Chân nói rằng: “Là tướng đoản thọ, sống thêm tháng nữa sẽ không nuôi sống được nữa”. Sư nghe vậy, cho đồng tử đó về nhà. Lúc đó trời mưa to, đường không đi được, đồng tử bèn ngủ nhờ ở nhà một Họa Sư, thấy bức họa Địa Tạng Bồ Tát, lấy móng tay tập vẽ hình Địa Tạng Bồ Tát trên vách tường. Sau khi trời tạnh mưa, về nhà hơn tháng sau, đồng tử bèn trở lại Chùa Khai Bảo. Huệ Ôn rất mừng rằng: “ nay nhân ngày sinh nhật của Kiện Chân, bèn mời Kiện Chân đến gặp Đồng Tử. Thấy tướng mạo của Đồng Tử, mạng sống thêm 50 năm, thấy là việc lạ, không hiểu tại sao ? Đồng tử nói rằng: “ Tôi lấy móng tay vẽ hình Địa Tạng Bồ Tát trên vách. Đêm đó có một Tăng nhân gọi tôi bảo rằng: “Năm mươi, năm mươi”, như vậy ba lần rồi biến mất. Huệ Ôn và Thầy tướng đều lấy làm lạ về chuyện này từ xưa chưa từng có. Sau này Đồng tử đó xuất gia, tĩnh tu lục độ, pháp hiệu là Huệ Tạng Pháp Sư.

Cầu Phước Được Vàng

Đời nhà Tống, ở huyện Trần Lưu, có một Cô thiếu nữ nhà nghèo, đi làm mướn cho người ta để mưu sinh, cuộc sống vất vả. Cô bèn ăn chay, niệm Thánh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát, cầu xin Ngài phù hộ ban cho phú quí. Tự lượng mình nghiệp xưa rất nặng, không biết rằng có thể đạt được sở nguyện hay không?
Ngày 24 tháng 2 nhuận, năm Khai Bảo thứ 5, Cô thấy kiến bò đầy nhà, không dám vào nhà vì sợ dẫm chết kiến. Rồi lại thấy những con kiến biến dần thành màu vàng, Cô lấy làm sợ hãi. Hàng xóm thấy vậy cũng lấy làm lạ. Trải qua một ngày một đêm sau, Cô mới vào nhà, thấy các con kiến biến mất, thấy trên tấm thảm đầy là vàng, thật vừa đủ ba đấu. Thiếu nữ đem bán, thành ra giàu có. Sau đó lòng càng vững tin Bồ Tát, lấy nhà đó sửa lại làm Chùa, thờ phụng cúng bái. Sau có một Quận Chủ góa vợ, cưới thiếu nữ đó làm vợ và chìu chuộng đủ điều.

Phóng Quang Tiêu Trừ Tật Bịnh

Đời nhà Tống, làng mạc ở Liêu Thành có chừng hơn hai ngàn hộ dân, xưa nay rất phụng thờ Chánh pháp, rất tin Quan Âm và Địa Tạng Bồ Tát, nhất là Quan Âm Kinh và Địa Tạng Thập Luân Kinh. Có ngôi Chùa cổ ba gian bốn chái, mái xanh thảm đỏ, hai bên trái và phải đặt hai pho tượng Quan Âm và Địa Tạng, cao bảy thước rưỡi, chính giữa thờ tượng A Di Đà Phật, cao một trượng sáu thật trang trọng.
Đời vua Thái Tông, trong nước thái bình hưng thịnh. Bỗng bệnh dịch lưu hành, người chết rất nhiều. Thành Chủ cầu khẩn trước tượng Địa Tạng Bồ Tát, thấy phóng ánh sáng soi khắp làng mạc. Ánh sáng soi tới đâu, mọi người đều khỏi bệnh tới đó. Những kẻ đã chết đều được sống lại. Có một Thần Nữ không tin Phật pháp, bị bệnh chết đi. Một đêm sau mới sống lại, ở trong Tịnh Xá, cầu khẩn Địa Tạng Bồ Tát, khóc lóc mà xin xuất gia. Có người hỏi tại sao? Thần Nữ trả lời rằng: “Tôi bị quỷ bắt trói, kêu gọi Thần cứu, Thần cũng sợ quỷ ác. Sau bị vị Thầy cảm hóa nên quỷ bỏ tôi mà đi. Vị Thầy nói rằng: “Mi là Thần Nữ ngu dại, cậy có Thần Đạo, không tin Phật pháp. Ta là Đại Tự Địa Tạng Bồ Tát, theo lời thỉnh cầu của Thánh Chủ, cứu mạng ngu dốt của người, hãy cất Chùa làng xóm, cảnh giới ác tâm, ta khống chế quỷ, vì sao vậy? quỷ tự tạo nghiệp”. Thần Nữ thuật lại lời của vị Thầy, và tự nhủ rằng: “Nay ta thấy sự việc này mà được sống lại. Từ nay cải tà quy chánh, nên xin xuất gia tu hành”. Mọi người hoan hỷ để cho Thần Nữ làm Ni Cô.

Cầu Nguyện Được Mọc Răng

Vào đời Tống, trong chùa Thiên Phúc, góc phía Đông Bắc, có một pho tượng Địa Tạng, cao một thước sáu, không biết ai là người đã tạc và từ thời gian nào. Chỉ biết rằng nhiều người đồn bức tượng ấy rất linh dị, kẻ đến ngủ nhờ hay đến cầu xin gì đều rất linh nghiệm. Lúc đó có một cư sĩ, khoảng ba mươi bảy tuổi, nhưng không có mọc một cái răng nào, tìm đến trước pho tượng, không ăn cầu nguyện khắp người nhẹ nhàng. Nửa đêm nằm mơ thấy pho tượng đến sờ đầu, không bao lâu sau đó mọc 38 cái răng. Mọi người nghe và thấy linh dị như vậy, nên phỏng theo kiểu vẽ hình tượng Đức Địa Tạng này lập đàn cung phụng, đều được cảm ứng. Rất nhiều người biết chuyện này.

Con Thảo Gặp Của Qúy

Đời nhà Tống, ở huyện Hải Lăng, có một đàn trẻ nô đùa bên bờ biển, chơi vẽ hình Địa Tạng Bồ Tát trên bãi cát, đột nhiên nghe tiếng sấm sét nổ vang dậy, mọi người sợ hãi chạy tán loạn. Lúc đó có một vị Thầy đến cứu hộ. Kẻ ngã đỡ lên, kẻ khóc thì an ủi. Lúc đó có đứa trẻ con của một họa sĩ hoảng quá chạy xuống biển, vị Thầy bèn cứu lên bờ, cho các thứ đồ ăn, và cho một hòn ngọc hình như thủy tinh, lớn như hạt sen. Người cha đem về nhà tạc thành Thánh tượng. Đứa trẻ lớn lên khỏe rất là giàu sang phú quý.

Bồ Tát Hóa Thân

Vào Đời Tống, có vị Sa Môn tên Trí Hữu, người xứ Tây Ấn Độ, đến Trung Hoa từ năm Thiên Phúc, ở Chùa Thanh Thái. Trong cuốn kinh tượng có hình Địa Tạng Bồ Tát, và cuốn Kinh Bản Nguyện Công Đức, bằng chữ Phạn, trong vòng giữa có vẽ tượng và ảnh Bồ Tát Quan Âm, đầu đội mão, tay cầm báu vật. Hai bên phải và trái có 10 hình Thánh. Năm vị bên trái là: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương và Diêm La Vương. Bên phải năm vị: 1. Kha Thành Vương, 2. Thái Sơn Vương, 3. Bình Đẳng Vương, 4.Đô Thị Vương, Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương. Mọi người đều có ty mệnh, ty lộc, Phủ quân, Điển quân v.v… Tự nói duyên khởi rằng: “ Trước kia ở Tây Ấn Độ có Bồ Tát Từ Bi cứu thế, phát thề nguyện lớn, vì cứu tam đồ chịu khổ thay cho chúng sinh nên vẽ hình Đức Địa Tạng, đến Thập Vương Thành cáo rằng: “Hôm nay ta phát nguyện cứu khổ tam đồ, nên giúp đỡ ”. Thập Vương chắp tay kính cẩn hứa, và bạch trước hình tượng rằng: “Tất cả chúng sinh đều thuộc Đại Thánh, tùy nghi hóa Đạo. Chúng tôi chỉ là người phụ trợ”. Lúc đó tôn tượng mỉm cười nói: “Lành thay! Lành thay! Tội nghiệp của chúng sinh không lâu nữa sẽ được giảm nhẹ”. Liền phóng ánh sáng chiếu soi nơi khổ não của tam đồ. Chúng sinh được soi sáng, mọi khổ não được giải trừ. Đó là nhân duyên vậy. Ta ở Lưu Sa gặp yêu quái, cầu niệm Bồ Tát. Vì vậy nên được cầm tích trượng đuổi đánh. Lại trong đêm mưa lớn, khổ vì không đèn lửa, không biết phương hướng, không phân biệt Đông Nam Tây Bắc, mãnh thú gầm gừ. Người và ngựa đều bị lạc đường, tượng đó tỏa ra ánh sáng như ban ngày, mãnh thú mới chạy tán loạn, đường đi mới thông. Khi qua sông lại gặp sóng lớn, sóng gió nổi lên không biết sâu cạn, nước chảy yếu, cây lá không nổi, huống hồ là thuyền bè. Bèn niệm Thánh Tượng thì thấy một vị Thầy cùng hai đồng tử, một tay cầm phan, một đồng tử cầm mái chèo. Vị Thầy tay cầm lá bùa. Vì vậy chúng ta qua bờ, khi đến bờ phía Đông thì từ biệt. Tặng Tăng lá bùa, đây là Thổ Đạo Tục.
Theo kiểu mà vẽ, để mọi người làm theo, rất là linh dị. Ba năm sau, không ai biết Trí Hữu và pho tượng ở đâu. Ai cũng nghĩ rằng đã về lại Ấn Độ. Ai cũng cho rằng Trí Hữu là hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát vậy.

Bồ Tát Tứ Hoằng Thệ Nguyện

Chúng sanh vô biên thề nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Chúng sanh vô biên thề nguyện độ
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Dịch nghĩa:

Chúng sanh không số lượng
Thề nguyện đều độ khắp
Phiền não không cùng tận
Thề nguyện đều dứt sạch
Pháp môn không kể xiết
Thề nguyện đều tu học
Phật đạo không gì hơn
Thệ nguyện được viên thành.

Tụng Kinh Địa Tạng Cứu Mẹ Lành Bịnh Thủng

Thuở xưa có một nữ giáo viên tên là Tào Tông Thanh, hiệu là Tuyết Tài, sanh trưởng tại huyện Ngô, thuộc về nước Tàu. Phu nhân họ Phan là Mẹ của nàng, tuổi quá bảy mươi, lại đau ốm hoài, có khi uống đủ thứ thuốc mà không thấy mạnh. Đến mùa xuân năm Mậu Thìn, bệnh thế của bà càng trầm trọng, toàn cả thân thể đều thủng, thầy thuốc nói là chứng “Khí hư trung mãn”, đợi khi nào nước ứ trong sớ thịt tan hết thì mới chết, không phương gì trị được.
Lúc ấy nàng Tuyết Tài mắc dạy học ở Than Gian, mỗi tháng về thăm được có một lần. Nàng thấy bệnh thế của Mẹ đã đến thời kỳ hấp hối, da sưng thẳng và láng bóng, tưởng như muốn nức nở, và nghe Mẹ kêu la rên siết không ngớt miệng, trong lòng nàng muôn phần sầu thảm. Nàng chẳng biết tính sao, bèn đến tỏ hết tự sự cho một người bạn thân rõ, và xin coi có biết phương gì chỉ dùm đặng cầu cứu. Người ấy vì sớm biết tín ngưỡng Phật pháp và thường thấy nhiều việc linh hiển, nên khuyên nàng Tuyết Tài tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mà cầu nguyện cho mẫu thân. Nàng lập tức trở về nhà mà phát nguyện ăn chay và thọ trì Kinh Địa Tạng ba mươi quyển.
Đến ngày 27 tháng 5, nàng tụng kinh vừa viên mãn, kế tối mặt trời mới xế qua, thấy Mẹ của nàng phát hạ lợi và tiểu tiện không ngớt, trọn đêm tới sáng, cả nhà ai cũng hoảng kinh, sợ cho bà không sống nổi. Quả nhiên ngày sau, các chỗ thủng nơi thân của Bà đều xọp lại và da hết láng như trước nữa, rồi lần lần bà ăn uống được và trở nên mạnh khỏe như thường. Nàng Tuyết Tài rất vui mừng và biết nhờ Đức Địa Tạng cảm ứng mới được vậy. Nên nàng càng tín ngưỡng Phật pháp, cứ ăn chay và tụng kinh mãi cho đến thời kỳ Mẹ của nàng quá vãng.
Khi ấy, nàng lo tang khó và tuần tự mà trả hiếu, xong rồi nàng gởi đơn xin từ chức giáo viên, vào trong núi lo tu tịnh nghiệp. Còn những người ở trong huyện ấy thấy sự linh cảm như thế, đều đem lòng tín ngưỡng theo Phật pháp rất nhiều.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *