DUY LỰC NGỮ LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Quyển Ngữ Lục này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền sư Duy Lực trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời. Cứ hàng tháng Ngài cho mở một khóa tu bảy ngày ở mỗi thiền đường cho các hành giả tu Thiền gọi là “Đả Thiền Thất” để hướng dẫn đại chúng chuyên sâu trong sự nghiệp tu hành. Những lời dạy trước sau đều được đồ đệ ghi âm lại làm tài liệu tham khảo.
Bởi là những giải đáp từ các câu hỏi trực tiếp nên có tính thực tiễn, giải tỏa được những gút mắc của người tham thiền.
Sau khi Ngài viên tịch, nhiều Tăng, Ni, Phật tử yêu cầu khuyến khích chúng tôi ghi chép lại những lời khai thị trên để in thành sách.
Thuở sinh tiền, có người hỏi Thiền sư Duy Lực: “Sau khi Sư phụ đi vắng, nếu có thắc mắc gì chúng con biết hỏi ai?”.
Ngài ĐÁP: “Nếu có thắc mắc thì gom lại viết thành thư để tôi trả lời, hoặc xem Kinh, sách Ngữ Lục của tôi đã dịch thuật hoặc nghe băng rồi ghi lại lời giải đáp mấy năm qua, theo đó mà tu”.
Nhận thấy đây là những lời di huấn vô cùng quý báu và cần thiết cho những hành giả tham thiền, nên chúng tôi không ngại sự nông cạn của mình, nguyện cố gắng thực hiện Ngữ Lục này hầu làm tài liệu cho người hiện tại và đời sau tham khảo.
Trong quá trình sao lục, chúng tôi vẫn trân trọng giữ trung thực những lời dạy của Người, chỉ xin mạn phép lược qua những phần trùng lấp, tránh đi đôi điều không cần thiết. Mặc dù đã hết sức cố gắng, tuy nhiên chắc chắn không thể tránh khỏi điều sơ sót. Kính mong chư hành giả, đọc giả Từ bi chỉ giáo.
Vì lời dạy của chư Phật, chư Tổ xưa nay vừa nói liền phá, chỉ là phương tiện tạm thời để trị bệnh chấp của chúng sanh, nay đem dây dưa bày ra, mong đọc giả được ý quên lời, nếu chấp lời nghịch ý, thì tội của những người thực hiện đã đáng ba mươi gậy!
Đại diện nhóm thực hiện
MAI THẮNG NGHĨA

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH DUY LỰC

(1923 – 2000)
A. THỜI THƠ ẤU
Sư họ LA húy DŨ hiệu DUY LỰC, tự GIÁC KHAI, sanh ngày 05 tháng 05 năm 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy tỉnh Cần Thơ, Việt Nam. Cha La Xương và mẹ Lưu Thị, làm nghề nông.
Năm lên 7 tuổi, theo cha về quê sống tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp phổ thông cấp 1, thì Sư phải nghỉ học theo cha trở lại Việt Nam sinh sống, lúc đó Sư được 16 tuổi (1938). Trú tại tỉnh Cần Thơ.
Sư thường tranh thủ tự học trong lúc rỗi rảnh. Đến năm 26 tuổi (1948), thi đậu bằng giáo viên Hoa văn, từng cộng tác biên soạn cho tờ báo Viễn Đông tiếng Hoa tại Chợ Lớn và được mời dạy ở các trường tiểu học tỉnh Tà-Keo Cao Miên (Nay là Campuchia), trường Khải Trí ở Cần Thơ, Trường Cái Vồn ở Vĩnh Long trong thời gian 10 năm. Năm 1958, sau khi thi lấy bằng Đông y sĩ cấp 1, Sư được mời làm đông y sĩ cho tiệm thuốc Tế Ngươn Đường Cà mau, Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm tỉnh Cần Thơ để khám bệnh miễn phí cho dân trong thời gian 8 năm.
Trong tủ sách của Cư Sĩ Lâm có bộ Kinh Tục Tạng gồm 150 quyển, lúc đầu Sư định đọc hết toàn bộ, nhưng trải qua một năm chỉ xem được 7 quyển, sau quyết định chỉ xem phần Thiền tông. Lúc đó Sư theo Pháp sư DIỆU DUYÊN tham học Tổ Sư Thiền (Ngài Diệu Duyên đã nhiều năm thân cận Lai Quả Thiền Sư và Hư Vân Thiền Sư, và Ngài tịch vào năm 1976 tại Chùa Thảo Đường).
B. THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO
Vào Mùng 08 tháng 02 năm 1973, Sư được Hòa Thượng HOẰNG TU cho xuất gia tu học tại Chùa Từ Ân Quận 11 Chợ Lớn. Tháng 05 năm 1974, Sư thọ giới Tam Đàn Cụ Túc tại Chùa Cực Lạc Malaysia.
Từ đó Sư chuyên tham câu thoại đầu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì? “Trải qua nhiều năm, một hôm do đọc quyển “Trung Quán Luận đến câu: “Do có nghĩa KHÔNG nên thành tựu tất cả pháp” đốn ngộ ý chỉ “TỪ KHÔNG HIỂN DỤNG”, lại tỏ ngộ câu “KHÔNG sanh nơi đại giác, như biển nổi hòn bọt, vô số nước hữu lậu, đều từ KHÔNG sanh khởi “Trong Kinh Lăng Nghiêm, với ý “Lấy VÔ TRỤ làm gốc” của Ngài Lục Tổ; “Từ gốc VÔ TRỤ lập tất cả pháp” của Ngài Duy Ma Cật vốn cùng một ý chỉ, VÔ TRỤ tức TÁNH KHÔNG, thể Chơn Như vốn KHÔNG mà tự hiển bày sự dụng; thể và dụng của Chư Phật với chúng sanh vốn chẳng hai chẳng khác, cùng khắp không gian thời gian, nơi thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt, dù là phàm phu mà sức dụng của Phật Tánh chẳng kém hơn Phật, cũng chẳng từng gián đoạn, chỉ vì chúng sanh ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết.
C. THỜI KỲ HOẰNG PHÁP
Ngày mùng 02 tháng 04 năm 1977, thừa lệnh Hòa Thượng Bổn sư (Hòa Thượng Thích Hoằng Tu) Sư ra hoằng pháp Tổ Sư Thiền tại Chùa Từ Ân đường Hùng Vương Quận 11 TP.HCM. Đến năm 1983, tứ chúng quy tụ ngày càng đông, Phật tử theo tu học pháp Tổ Sư Thiền hơn 4000 người, mỗi lần tham dự thiền thất đều vượt trên 300 người.
Từ những năm 1990, Hòa Thượng thường đi giảng Thiền ở nhiều nơi trên thế giới. Đến thiền đường học đạo có người Tây, Âu và Á Châu, trong đó người Việt Nam là đông nhất. Những năm cuối đời, Sư thường được thỉnh đến giảng tại các nước trên thế giới như: Chùa Chánh Giác ở Toronto Canada, Chùa Quan Âm ở Brisbane Australia, Tịnh xá Đại Bi ở Đài Loan và một số chùa ở Hồng Kông. Nhất là các thiền đường ở Mỹ để giảng dạy pháp Tổ Sư Thiền và thính chúng lui tới tu học đông đảo.
D. CÁC KINH SÁCH SƯ TRƯỚC TÁC VÀ PHIÊN DỊCH
Ngoài ra Sư còn trước tác và dịch thuật từ tiếng Hán sang tiếng Việt hơn 20 loại kinh điển và ngữ lục. Lượng sách phát hành tại Việt Nam trên mấy mươi ngàn quyển.
* Các Kinh sách được phát hành bao gồm:
1) ĐƯỜNG LỐI THỰC HÀNH THAM TỔ SƯ THIỀN
2) KINH LĂNG NGHIÊM
3) KINH LĂNG GIÀ
4) KINH PHÁP BẢO ĐÀN
5) TRIỆU LUẬN
6) PHẬT PHÁP VỚI THIỀN TÔNG
7) THAM THIỀN PHỔ THUYẾT
8) DANH TỪ THIỀN HỌC
9) CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA – THIỀN THẤT KHAI THỊ LỤC
10) PHẬT PHÁP và KHOA HỌC
11) NAM TUYỀN NGỮ LỤC- BỬU TẠNG LUẬN
12) LÂM TẾ NGỮ LỤC – TRUNG PHONG PHÁP NGỮ
13) LƯỢC GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
14) CHƯ KINH TẬP YẾU
Kinh kim Cang
Bát Nhã Tâm Kinh lược giải
Yếu Chỉ Kinh Pháp Hoa
Yếu Chỉ Kinh Hoa Nghiêm
Kinh Duy Ma Cật
Kinh Viên Giác
Giải Đáp Mặc Chiếu Thiền
15) ĐẠI THỪA TUYỆT ĐỐI LUẬN
Tín Tâm Minh tịch nghĩa giải
16) GÓP NHẶT LỜI PHẬT TỔ VÀ THÁNH HIỀN
Công án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma
Bá Trượng Quảng Lục và Ngữ Lục
Truyền Tâm Pháp Yếu
17) VŨ TRỤ QUAN THẾ KỶ XXI
Yếu Chỉ Trung Quán Luận
Yếu Chỉ Phật Pháp.v.v…
18) PHẬT PHÁP với THIỀN TÔNG
Đại Huệ Ngữ Lục
Tham Thiền Cảnh Ngữ
***
Dù ở cương vị nào và bất cứ nơi đâu, Sư đều tùy duyên giảng dạy, như: Đả Thiền Thất tại Chùa Từ Ân Quận 11; Chùa Hưng Phước Đường Cách Mạng Tháng 8 quận 3; Chùa Pháp Thành Quận 6; Chùa Sùng Đức Quận 6; Chùa Huệ Quang quận Tân Bình; và tại các tỉnh Long An; Đồng Tháp; Sóc Trăng; Tây Ninh; Đại Tòng Lâm Bà Rịa Vũng Tàu; tỉnh Khánh Hòa; Bình Định v.v…
Đ. THỜI KỲ THAM GIA PHẬT SỰ GIÁO HỘI
Đến năm 1998, Sư đã được Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, mời thỉnh vào Ban Hoằng Pháp Trung Ương, với cương vị Ủy viên Ban Hoằng Pháp Trung ương, Sư đã được Giáo hội phân thỉnh giảng tại các Khóa Bồi Dưỡng Hoằng pháp ngắn hạn cho các tỉnh miền Trung tổ chức tại Bình Định, cho các tỉnh Miền Đông, TP. Hồ Chí Minh và Miền Nam tại Văn Phòng 2 Trung Ương Giáo Hội.
E. THỜI KỲ VIÊN TỊCH
Sư biện tài vô ngại, tùy duyên hóa độ và tận tụy với Hoằng pháp lợi sanh, chẳng kể gian lao, không từ khó nhọc. Người xưa có nói “Bồ Tát dĩ lợi sanh vi bổn hoài”, thật khế hợp với Sư biết bao.
Hóa duyên ký tất, Sư thâu thần thị tịch lúc 01 giờ 30 giờ Việt Nam.
Ngày 02 tháng 12 năm Kỷ Mão (08/01/2000). Trụ thế 77 năm.

DUY LỰC NGỮ LỤC QUYỂN THƯỢNG

DUY LỰC NGỮ LỤC QUYỂN HẠ



  • Leave a Comment