Home / 0000. 5th Anniversary / Giảng kinh A Hàm / Giảng kinh Trường A Hàm tuyển tập – Số 09. Kinh Chúng Tập

Giảng kinh Trường A Hàm tuyển tập – Số 09. Kinh Chúng Tập

ĐỌC CHÁNH KINH CHÚNG TẬP
LỜI PHẬT DẠY TRONG KINH CHÚNG TẬP – TRƯỜNG A HÀM

1. CHÍN NƠI CƯ TRÚ CỦA CHÚNG SANH

Các Tỳ-kheo, Như Lai nói chín chánh pháp, tức là chín chúng sanh cư:

1. Hoặc có chúng sanh có nhiều thân khác nhau, với nhiều tưởng khác nhau, tức là chư thiên và loài người.

2. Lại có chúng sanh có nhiều thân khác nhau, nhưng với một tưởng giống nhau, tức là trời Phạm Quang âm lúc mới sanh.

3. Lại có chúng sanh với một thân giống nhau, nhưng với nhiều tưởng khác nhau, tức là trời Quang âm.

4. Lại có chúng sanh với một thân một tưởng giống nhau, tức là trời Biến tịnh.

5. Lại có chúng sanh không có tưởng và không có giác tri, tức là trời Vô tưởng.

6. Lại có chúng sanh an trú hư không xứ.

7. Lại có chúng sanh an trú thức xứ.

8. Lại có chúng sanh an trú vô sở hữu xứ.

9. Lại có chúng sanh an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Các Tỳ-kheo, đó là chín nơi cư trú của chúng sanh đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kiết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài, làm lợi ích cho số đông, cho chư thiên và nhân loại được an lạc.

(Trường A Hàm, Kinh Chúng Tập, số 9)

2. HAI PHÁP

1) Hai pháp: danh và sắc; si và ái; hữu kiến và vô kiến; không biết tàm và không biết quí.

2) Hai pháp tàm và quí; tận trí và vô sanh trí.

3) Hai nhân duyên sanh ra ái dục: sắc tịnh diệu và không tư duy.

4) Hai nhân duyên sanh nơi sân nhuế: thù ghét và không tư duy.

5) Hai nhân duyên sanh nơi tà kiến: nghe từ người khác và tà tư duy.

6) Hai nhân duyên sanh nơi chánh kiến: nghe từ người khác và chánh tư duy.

7) Hai nhân duyên giải thoát: giải thoát hữu học và giải thoát vô học.

8) Hai nhân duyên về giới: hữu vi giới và vô vi giới.

(Trường A Hàm, Kinh Chúng Tập, số 9)

3. MỘT PHÁP

Như Lai nói một chánh pháp: Hết thảy chúng sanh đều do thức ăn mà tồn tại.

Như Lai lại nói một chánh pháp: tất cả chúng sanh đều do các hành mà tồn tại.

(Trường A Hàm, Kinh Chúng Tập, số 9)

4. MƯỜI PHÁP

Các Tỳ-kheo, Như Lai nói mười chánh pháp, tức là mười pháp vô học: vô học chánh kiến, vô học chánh tư duy, vô học chánh ngữ, vô học chánh nghiệp, vô học chánh mạng, vô học chánh niệm, vô học chánh phương tiện, vô học chánh định, vô học chánh trí, vô học chánh giải thoát.

Các Tỳ-kheo, đó là mười pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kiết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài, làm lợi ích cho số đông, cho chư thiên và nhân loại được an lạc.

(Trường A Hàm, Kinh Chúng Tập, số 9)

5. NĂM PHÁP

1) Như Lai nói năm chánh pháp, tức là năm nhập: mắt, sắc; tai, tiếng; mũi, hương; lưỡi, vị; thân, xúc.

2) Năm thọ ấm: sắc thủ uẩn; thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn.

3) Năm cái: tham dục cái, sân nhuế cái, thùy miên cái, trạo cử cái, nghi cái.

4) Năm hạ phần kết: thân kiến, giới đạo, nghi, tham dục và sân nhuế.

5) Năm thuận thượng phần kết: sắc ái, vô sắc ái, vô minh, mạn, trạo hối.

6) Năm căn: tín, tấn, niệm, định, huệ.

7) Năm lực: tín, tấn, niệm, định, huệ.

8) Năm diệt tận chi: 1. Tỳ-kheo tin Phật, Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác, mười hiệu thành tựu. 2. Tỳ-kheo không bịnh, thân thường an ổn. 3. Chất trực, không dua xiểm. Được như thế thì Như Lai chỉ bày con đường đi đến Niết-bàn. 4. Tự chuyên tâm không để thác loạn. Những điều đã tụng đọc từ trước ghi nhớ không quên. 5. Khéo quán sát sự sinh và diệt của các pháp bằng sự thực hiện của Hiền Thánh mà diệt tận gốc rễ của khổ.

9) Năm sự phát ngôn: phát phi thời, phát hư dối, phát phi nghĩa, phát hư ngôn, phát không từ tâm.

10) Năm thiện phát: phát đúng thời, phát sự thật, phát có nghĩa, phát lời nói hòa, phát khởi từ tâm.

11) Năm sự tật đố: tật đố về trú xứ, tật đố về thí chủ, tật đố về lợi dưỡng, tật đố về sắc, tật đố về pháp.

12) Năm thú hướng giải thoát: tưởng về thân bất tịnh, tưởng về thức ăn bất tịnh, tưởng hết thảy các hành vô thường, tưởng hết thảy thế gian không đáng vui, tưởng về sự chết.

13) Năm xuất ly giới: 1. Tỳ-kheo đối với dục không hoan hỷ, bất động, cũng không thân cận, mà chỉ niệm sự thoát ly, hoan hỷ nơi sự viễn ly, thân cận không giải đãi, tâm mềm mại, xuất ly, ly dục. Vị ấy đối với các lậu triền do nhân dục mà khởi, cũng dứt sạch, xả ly diệt trừ mà được giải thoát. Đó gọi là dục thoát ly. 2. Sân nhuế xuất ly, 3. Tật đố xuất ly, 4. Sắc xuất ly, 5. Thân kiến xuất ly cũng vậy.

14) Năm hỷ giải thoát nhập. Nếu Tỳ-kheo tinh cần không biếng nhác, ưa ở nơi nhàn tĩnh, chuyên niệm nhất tâm, chưa giải thoát thì được giải thoát, chưa an thì được an. Những gì là năm? 1. Ở đây Tỳ-kheo nghe Như Lai thuyết pháp, hoặc nghe đồng phạm hạnh thuyết pháp, hoặc nghe sư trưởng thuyết pháp, tư duy, quán sát, phân biệt pháp nghĩa, tâm đắc hoan hỷ. Sau khi được hoan hỷ thì được pháp ái, sau khi được pháp ái thân tâm an ổn, sau khi thân tâm an ổn thì chứng đắc thiền định. Đắc thiền định rồi, đắc như thật kiến. 2. Ở đây, Tỳ-kheo sau khi nghe pháp hoan hỷ. 3. Thọ trì đọc tụng cũng lại hoan hỷ. 4. Thuyết cho người khác cũng lại hoan hỷ. 5. Tư duy phân biệt cũng lại hoan hỷ, ở nơi pháp mà đắc định cũng như vậy.

15) Năm hạng người: trung bát-niết-bàn, sanh bát-niết-bàn, vô hành bát-niết-bàn, hữu hành bát-niết-bàn, thượng lưu sắc cứu cánh.

Các Tỳ-kheo, đó là năm chánh pháp đã được Như Lai giảng dạy. Chúng ta hãy cùng kiết tập để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông cho chư thiên và nhân loại được an lạc.

(Trường A Hàm, Kinh Chúng Tập, số 9)

6. TÁM PHÁP

Các Tỳ-kheo, Như Lai nói tám chánh pháp tức là tám pháp ở đời: đắc, thất, vinh, nhục, khen, chê, lạc và khổ.

Tám giải thoát: 1. Sắc quán sắc giải thoát. 2. Nội không sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát. 3. Tịnh giải thoát, 4. Vượt quá sắc tưởng, diệt sân nhuế tưởng, an trú hư không xứ giải thoát. 5. Vượt hư không xứ an trú hư không xứ giải thoát. 6. Vượt thức xứ an trú vô hữu xứ giải thoát, vượt vô sở hữu xứ an trú phi phi tưởng xứ giải thoát. 8. Vượt phi tưởng phi phi tưởng xứ, an trú diệt tận định giải thoát.

Tám thánh đạo: chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định.

Tám nhân cách: Tu-đà-hoàn hướng, Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm hướng, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm hướng, A-na-hàm quả; A-la-hán hướng, A-la-hán quả.

(Trường A Hàm, Kinh Chúng Tập, số 9)



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân]
    – Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng.
    – 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn.
    – Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *