Home / 0000. 5th Anniversary / Giảng kinh A Hàm / Giảng kinh Trường A Hàm tuyển tập – Số 13. Kinh Đại Duyên Phương Tiện

Giảng kinh Trường A Hàm tuyển tập – Số 13. Kinh Đại Duyên Phương Tiện

MỜI ĐỌC CHÁNH KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG TIỆN

LỜI PHẬT DẠY TRONG KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG TIỆN:

1. ĐẠI KHỔ ẤM

Danh sắc duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già chết, ưu bi khổ não, tập thành một đại khổ ấm.

(Trường A Hàm, Kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13)

2. HAI NHẬP XỨ

Thế nào là hai nhập xứ? Vô tưởng nhập và phi tưởng phi vô tưởng nhập.

A-nan, đó là hai nhập xứ mà các Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Chỗ này là nơi an ổn, nơi cứu vớt, nơi hộ trì; là cái nhà, là ngọn đèn, là ánh sáng, là nơi qui tựa, là không hư dối, là không phiền não.’

Này A-nan, nếu Tỳ-kheo biết hai nhập xứ, biết sự tập khởi, biết sự diệt trừ, biết vị ngọt, biết sự tai hại, biết sự xuất ly, biết một cách như thật; A-nan, Tỳ-kheo ấy nói: ‘Cái ấy không phải là ta. Ta không phải là cái ấy’ với tri kiến như thật.

(Trường A Hàm, Kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13)

3. LÝ DUYÊN KHỞI

Ánh sáng của mười hai nhân duyên rất sâu xa, khó hiểu. Mười hai nhân duyên này khó thấy, khó biết. Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, những người chưa thấy duyên, nếu muốn tư lương, quán sát, phân biệt nghĩa lý của nó, đều bị hoang mê không thể thấy nổi.

Như vậy duyên vô minh có hành, duyên hành có thức, duyên thức có danh sắc, duyên danh sắc có lục nhập, duyên lục nhập có xúc, duyên xúc có thọ, duyên thọ có ái, duyên ái có thủ, duyên thủ có hữu, duyên hữu có sanh, duyên sanh có già chết, lo, rầu, khổ não, tập thành một khối đại hoạn.

Đó là duyên của cái đại khổ ấm vậy.

(Trường A Hàm, Kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13)

4. NHÂN THỌ MÀ CÓ ÁI

Nhân tham ái mà có tìm cầu, nhân tìm cầu mà đắc lợi, nhân đắc lợi mà thọ dụng, nhân thọ dụng mà tham muốn, nhân tham muốn mà đắm trước, nhân đắm trước mà tật đố, nhân tật đố mà quản thủ, nhân quản thủ mà bảo hộ.

Do bảo hộ nên mới có dao gậy, tranh cãi, gây vô số điều ác. Nghĩa của ta nói là ở đó.

Nghĩa đó thế nào? Giả sử hết thảy chúng sanh không bảo hộ thế thì có dao gậy, tranh cãi, gây ra vô số ác không?

(Trường A Hàm, Kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13)

5. TÁM GIẢI THOÁT

1) Có sắc, quán sắc;

2) Bên trong có sắc tưởng, quán ngoại sắc;

3) Tịnh giải thoát;

4) Vượt sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm tạp tưởng, an trú không xứ;

5) Vượt không xứ, an trú thức xứ;

6) Vượt thức xứ, an trú vô sở hữu xứ;

7) Vượt vô sở hữu xứ, an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ;

8) Diệt tận định.

Các Tỳ-kheo đối với tám giải thoát này du hành theo chiều thuận và nghịch, xuất nhập tự tại, Tỳ-kheo như vậy chứng đắc câu giải thoát.

(Trường A Hàm, Kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13)

6. BA THỌ

Do duyên là cảm xúc không lạc không khổ mà phát sanh thọ không lạc không khổ. Nếu cảm xúc không lạc không khổ diệt mất thì cảm thọ không lạc không khổ cũng diệt mất. Ví như hai khúc cây cọ lại với nhau thì lửa bật ra, hai khúc cây rời nhau thì lửa không có.

Ở đây cũng vậy, nhân bởi duyên là cảm xúc lạc mà cảm thọ lạc phát sanh;

Nếu cảm xúc lạc diệt thì cảm thọ cũng đồng thời diệt.

Nhân bởi duyên là cảm xúc khổ mà cảm thọ khổ phát sanh;

Nếu cảm xúc khổ diệt thì thọ cũng đồng thời diệt.

Ba thọ đó là hữu vi, vô thường, do nhân duyên sanh, là pháp phải tận, phải diệt, là pháp hủ hoại, nó chẳng phải sở hữu của ngã; ngã không phải là sở hữu của nó. Hãy chánh quán điều đó một cách như thật với chánh trí. Ai thấy có ngã, cho rằng ‘thọ là ngã’, người ấy sai lầm.

(Trường A Hàm, Kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13)

7. BẢY TRỤ XỨ CỦA THỨC

1) Có hạng chúng sanh, với nhiều thân khác nhau và nhiều tưởng khác nhau, tức chư Thiên và loài Người.

2) Có hạng chúng sanh với thân đồng nhất nhưng với nhiều tưởng khác nhau, như trời Quang âm.

3) Có hạng chúng sanh với thân đồng nhất, tưởng đồng nhất, tức trời Biến tịnh.

4) Có hạng chúng sanh trú nơi không xứ.

5) Có hạng chúng sanh trú nơi thức xứ.

6) Có hạng chúng sanh trú nơi vô sở hữu xứ.

7) Có hạng chúng sanh trú nơi phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Đó là bảy trú xứ của thức mà các Sa-môn, Bà-la-môn nói:

‘Chỗ này là nơi an ổn, nơi cứu vớt, nơi hộ trì; là cái nhà, là ngọn đèn, là ánh sáng, là nơi qui tựa, là không hư dối, là không phiền não.’

Này A-nan, nếu Tỳ-kheo biết bảy trú xứ của thức, biết sự tập khởi, biết sự diệt trừ, biết vị ngọt, biết sự tai hại, biết sự xuất ly, biết một cách như thật;

A-nan, Tỳ-kheo ấy nói: ‘Cái ấy không phải là ta. Ta không phải là cái ấy’ với tri kiến như thật.

(Trường A Hàm, Kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13)



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân]
    – Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng.
    – 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn.
    – Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *