Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / TAM BẢO / Tây Phương Cực Lạc / Phật A Di Đà / Hình tượng Đức Phật A Di Đà

Hình tượng Đức Phật A Di Đà

HÌNH TƯỢNG CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

Trong Thập Lục Quán Pháp của Kinh Quán Vô Lượng Thọ chủ yếu là Quán tưởng Thế Giới Cực Lạc và Đức Phật A Di Đà, trong Kinh văn miêu tả nói Thân Tướng của Đức Phật A Di Đà: Thân của Phật Vô Lượng Thọ như trăm ngàn vạn ức sắc vàng ròng Diêm Phù Đàn Trời Dạ Ma (Yama), thân Phật cao sáu mươi vạn ức Na Do Tha Hằng Hà Sa Do Tuần, Bạch Hào (Ūrṇa: sợi lông mày trắng) giữa hai lông mày (Tam tinh) xoay bên phải uyển chuyển như năm tòa núi Tu Di, mắt Phật như bốn biển lớn xanh biếc , trong trắng rõ ràng, các lỗ chân lông nơi thân Phật phóng tỏa ánh sáng như núi Tu Di. Viên Quang (hào quang tròn) của Phật ấy như trăm ức ba ngàn Đại Thiên Thế Giới.Trong Viên Quang ấy có trăm ức Na Do Tha Hằng Hà Sa Hóa Phật. Mỗi mỗi Hóa Phật cũng có đông nhiều vô số Hóa Bồ Tát làm Thị Giả.

Thân Phật Vô Lượng Thọ có tám vạn bốn ngàn Tướng tốt. trong mỗi mỗi Tướng tốt còn có tám vạn bốn ngàn Quang Minh, mỗi mỗi Quang Minh chiếu khắp Thập Phương Thế Giới, nhiếp lấy chúng sinh niệm Phật chẳng bỏ sót. Quang Minh, tướng tốt và Hóa Phật ấy chẳng thể nói đủ hết.

Đó là giải thích nội dung của Quán tưởng hình tượng Phật Vô Lượng Thọ, trong đó Phật A Di Đà có thân cao, Tướng, Bạch Hào, mắt Phật, các lỗ chân lông, đặc biệt là từ trong các lỗ chân lông phóng ra nguồn ánh sáng bất khả tư nghị, vả lại Phật A Di Đà cũng có đầy đủ Hóa Phật, Hóa Bồ Tát và bốn mươi tám ngàn Chủng Tướng.

Hình tượng trên Thế Gian của Đức Phật A Di Đà thường là ngồi xếp bằng theo tư thế Kiết Già Kim Cương ngay ngắn, tay kết Định Ấn, tức là bàn tay trái nằm ngửa để ở trên rốn, bàn tay phải nằm ngửa đặt chồng lên tay trái, hai đầu ngón tay cái hơi dính vào nhau. Ấn này cũng là A Di Đà Như Lai Ấn, khiến cho tất cả cuồng loạn vọng niệm đều được ngưng dứt, làm cho tâm chú vào một cảnh giới, vào Cực Lạc của Tam Muội là Ấn Tướng Tối Thắng bậc nhất.

Ngoài tượng Phật A Di Đà với tư thế ngồi, cũng có làm tượng Phật A Di Đà đứng với Ấn Tiếp Dẫn

Bồ Tát quyến thuộc của Đức Phật A Di Đà rất phổ biến thường là hai vị Đại Sĩ Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokite1svara) và Đại Thế Chí Bồ Tát (Mahā-sthāma-prāpta), hai vị đó đi theo Đức Phật A Di Đà Ở Thế Giới Cực Lạc (Sukhā-vatī) để giáo hóa Chúng Sinh, cũng ở trong Thế Giới Ta Bà dùng Đại Bi Cứu Độ tất cả chúng sinh, giúp đỡ cho Đức Phật A Di Đà khiến cho chúng sinh có thể phát nguyện thanh tịnh Vãng Sinh Tịnh Thổ Cực Lạc. Lúc mệnh chung sẽ tiếp dẫn hành nhân về cõi Tịnh Độ. Nhân Gian thường thường tạo tượng Đức Phật A Di Đà ở chính giữa, bên phải là Quán Thế Am Bồ Tát, bên trái là Đại Thế Chí Bồ Tát, hình thành Tây Phương Tam Thánh hoặc xưng là Di Đà Tam Tôn.

Mật Giáo Tây Tạng còn thờ phụng Tôn Tượng Tam Thánh với Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitāyus) ở chính giữa, bên phải là Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajra-pāṇi: Kim Cương Thủ là tướng phẫn nộ của Bồ Tát Đại Thế Chí) biểu thị cho Trí Tuệ, bên trái là Liên Hoa Thủ Bồ Tát (Padma-pāṇi, tức Quán Âm Bồ Tát) biểu thị cho Từ Bi

Đức Phật A Di Đà có bốn vị Bồ Tát theo hầu là: Địa Tạng (Kṣiti-garbha), Quán Âm (Avalokiteśvara), Đại Thế Chí (Mahā-sthāmaprāpta), Long Thọ (Nāgarjuna) và xưng là A Di Đà Ngũ Phật tiếp dẫn chúng sinh về cõi Cực Lạc.

Tôn hình của 25 vị Bồ Tát theo hầu Đức Phật A Di Đà, tiếp dẫn chúng sinh về cõi Cực Lạc là:

1_ Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteśvara).

2_ Đại Thế Chí Bồ Tát (Mahā-sthāma-prāpta).

3_ Dược Vương Bồ Tát (Bhaiṣaijya-rāja).

4_ Dược Thượng Bồ Tát (Bhaiṣaijya-samudgata),

5_ Phổ Hiền Bồ Tát (Samanta-bhadra)

6_ Pháp Tự Tại Bồ Tát (Dharmeśvara)

7_ Sư Tử Hống Bồ Tát (Siṃha-nāda)

8_ Đà La Ni Bồ Tát (Dhāranī)

9_ Hư Không Tạng Bồ Tát (Ākāśa-garbha)

10_ Đức Tạng Bồ Tát (Guṇa-garbha)

11_ Bảo Tạng Bồ Tát (Ratna-garbha)

12_ Kim Tạng Bồ Tát (Suvarṇa-garbha)

13_ Kim Cương Tạng Bồ Tát (Vajra-garbha)

14_ Sơn Hải Tuệ Bồ Tát (Giri-sāgara-mati)

15_ Quang Minh Vương Bồ Tát (Raśmi-prabha-rāja)

16_ Hoa Nghiêm Vương Bồ Tát (Avataṃsaka-rāja)

17_ Chúng Bảo Vương Bồ Tát (Gaṇa-ratna-rāja)

18_ Nguyệt Quang Vương Bồ Tát (Candra-prabha-rāja)

 

Nhật Chiếu Vương Bồ tát (bên trái)
Nhật Chiếu Vương Bồ tát (bên trái)

20_ Tam Muội Vương Bồ Tát (Samādhi-rāja)

21_ Định Tự Tại Vương Bồ Tát (Samādhīśvara-rāja)

22_ Đại Tự Tại Vương Bồ Tát (Maheśvara-rāja)

23_ Bạch Tượng Vương Bồ Tát (Śukla-hasta-rāja)

24_ Đại Uy Đức Vương Bồ Tát (Mahā-teja-rāja)

25_ Vô Biên Thân Bồ Tát (Ananta-kāya)

Tôn hình A Di Đà với các chúng Thánh tiếp dẫn chúng sinh về cõi Cực Lạc

Đồ hình Tây Phương Liên Trì Hải Hội

Hệ Phái Hiển Mật thường tạo dựng Tôn Tượng Phật A Di Đà ở chính giữa, hai bên có 8 vị Bồ Tát theo hầu là : Hư Không Tạng (Ākāśa-garbha), Phổ Hiền (Samanta-bhadra), Kim Cương Tát Đỏa (Vajra-satva) hay Kim Cương Tạng (Vajra-garbha), Văn Thù Sư Lợi (Mañjuśrī), Trừ Cái Chướng (Sarva-nīvaraṇa-viṣkaṃbhin), Địa Tạng (Kṣiti-garbha), Quán Âm (Avalokiteśvara), Di Lặc (Maitreya) và xưng là A Di Đà Cửu Tôn

Hệ thống Mật Giáo còn ghi nhận Tôn Tượng A Di Đà Như Lai ngồi trên tòa chim công (Khổng Tước Tòa)

Tạng Truyền Phật Giáo ghi nhận Tôn hình của Vô Lượng Thọ Phật (hay Trường Thọ Phật) là: thân màu hồng, có một cái đầu, hai cánh tay, tóc cột thành búi, đội mão báu ngũ Phật, mặc Thiên Y, quần lụa, thân đeo châu báu Anh Lạc, đầy đủ tất cả các loại trang nghiêm của Báo Thân Phật, hai tay để trên đầu gối kết Định Ấn, trên tay có bình báu Trường Thọ, trong bình báu hoặc đặt một đóa hoa Cát Tường, hai chân ngồi xếp bằng tư thế Kim Cương trên vành trăng trong hoa sen.

Tây Tạng vẽ Đường Ca (Thang-ka) thường dùng Trường Thọ Phật, Đỉnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu, Bạch Độ Mẫu làm Trường Thọ Tam Tôn (3 Tôn Trường Thọ), bốn phương là bốn Sự Nghiệp Không Hành Mẫu Tức (Tức Tai), Tăng (Tăng Ích), Hoài (Kính Ái), Tru (Giáng Phục) vây quanh… dùng câu triệu tinh hoa của năm Đại: đất, nước, lửa, gió, hư không với nhóm Thọ Mệnh, Phước Đức, Trí Tuệ.

_Trong Thai Tạng Giới Man Đa La (Garbha-dhātu-maṇḍala) A Di Đà được xưng gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai (Amitāyus-tathāgata) ngự ở cánh hoa phương Tây biểu thị cho Trí Phương Tiện Phổ Môn của Như Lai, là sự tu hành viên mãn đắc được quả Đức Tự Chứng nên còn gọi là Chứng Bồ Đề. Lai được biểu hiện cho Diệu Quán Sát Trí (Pratyave-kṣana-jñāna) là Trí khéo biết tướng chung tướng riêng của các Pháp mà không hề bị ngăn chuyển, lại y theo từng loại căn cơ của chúng Hữu Tình mà tự tại thuyết Pháp giáo hóa chúng sinh. Do đó Diệu Quán Sát Trí được xem là Ứng Hóa Pháp Thân (Nirmāṇa-dharma-kāya) của Đại Nhật Như Lai là Thân giáo hóa nhiếp thọ Bồ Tát Sơ Địa, Nhị Thừa, Phàm Phu.

Phương Tây chủ về mùa Thu là chỗ quy chung của vạn vật nên biểu thị cho Đức của Niết Bàn (Nirvāṇa) tương ứng với sự chung cực của Hành Chứng. Đức Vô Lượng Thọ Như Lai có thân màu vàng chói là sắc tu hành viên mãn, nghĩa là chẳng thể phá hoại, chuyển thức thứ sáu (Mano-vijñāna:Ý Thức) thành Diệu Quán Sát Trí là Đức của sự nói Pháp chặt đứt nghi ngờ của Đại Nhật Như Lai.

Đức Vô Lượng Thọ Như Lai kết A Di Đà Định Ấn với hai tay đem ngón trỏ nối ngón cái thành hình bầu dục, 3 ngón còn lại đặt chồng lên nhau biểu tượng cho 3 Đại (Đất, Nước, Lửa) dùng để chinh phục 2 Phiền Não Ma là Tham, Sân, Si…còn hình bầu dục tượng trưng cho Niết Bàn. Vì thế Ngài còn được được gọi là Thanh Tịnh Kim

Cương

Tôn Hình:Thân hiện màu đỏ trắng, tay kết A Di Đà Định Ấn, khoác áo mỏng, ngồi yên trên tòa sen

_Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La (Vajra-dhātu-maṇḍala)

.) Tại Thành Thân Hội (Karma) thì A Di Đà Như Lai là Thân Đẳng Giác của Pháp Bình Đẳng được tuôn ra từ Diệu Quán Sát Trí (Pratyave-kṣana-jñāna) của Đại Nhật Như Lai (Vairocana-tathāgata), tượng trưng cho Trí Tuệ Phổ Môn của tất cả Như Lai, khéo vận dụng phương tiện giáo hóa tất cả chúng sinh một cách bình đẳng

Do Đức Phật Quán Tự Tại Vương (Lokeśvara-rāja-buddha) gia trì cho nên Ngữ Luân hay nói vô lượng Pháp Môn Tu Đa La (Sūtra: Khế Kinh).

Trong Hội này thì A Di Đà được xưng gọi là Vô Lượng Quang Như Lai (Amitābha-tathāgata) là Chủ của Liên Hoa Bộ (Padma-kulāya), biểu thị cho việc chuyển thức thứ 6 (Mano-vijñāna: Ý Thức) thành Diệu Quán Sát Trí và được xem là
Thọ Dụng Trí Tuệ Thân
Tôn Hình: Thân màu đỏ, khoác áo kín vai phải, tay kết Di Đà Định Ấn

Chưa tìm được hình minh họa

.) Tại Tam Muội Gia Hội (Samaya) thì A Di Đà Như Lai có chữ chủng tử là:

HRĪḤ (猭)
Tam Muội Gia Hình là: Trên hoa sen để chày Ngũ Cổ nằm ngang, trên chày để chày Độc Cổ dựng đứng, trên đầu chày có hoa sen hé nở. Biểu thị cho Nhất Thiết Như Lai Tam Ma Địa Trí. Do mới phát tâm liền hay chuyển bánh xe pháp Biện Vô Ngôn Thuyết, Lý không có bờ mé, nơi thâu nhiếp của Ngữ Bộ hay khiến cho chúng sanh thông minh lợi trí. Đây là chỗ nhiếp của Pháp Bộ (Dharma-kulāya) ở phương Tây, tức là Diệu Quán Sát Trí (Pratyavekṣana-jñāna).

Chưa tìm được hình minh họa

.) Tại Vi Tế Hội (Sūkṣma) thì A Di Đà Như Lai có chữ chủng tử là: HRĪḤ (猭)

Tôn Hình: Đại lược đồng với Thành Thân Hội

Chưa tìm được hình minh họa

.) Tại Cúng Dường Hội (Pūja) thì A Di Đà Như Lai có chữ chủng tử là: HRĪḤ

(猭)
Tôn Hình: Đại lược đồng với Thành Thân Hội.

Chưa tìm được hình minh họa

.)Tại Giáng Tam Thế Yết Ma Hội (Trailokya-vijaya-karma) thì A Di Đà Như Lai có chữ chủng tử là: LO (吐)

Tôn Hình: Khoác kín vai, hai tay nắm Kim Cương Quyền, giao chéo nhau ở trước ngực.

Chưa tìm được hình minh họa

.)Tại Giáng Tam Thế Tam Muội Gia Hội (Trailokya-vijaya-samaya) thì A Đi Đà Như Lai có chữ chủng tử là: YA (娭)

Tam Muội Gia Hình là: Chày Ngũ Cổ nằm ngang trên hoa sen, trên chày có một chày Độc Cổ dựng đứng, trên đầu chày có hoa sen nở rộ. Biểu thị cho Nhất Thiết Như Lai Tam Ma Địa Trí. Do mới phát tâm liền hay chuyển bánh xe pháp Biện Vô Ngôn Thuyết, Lý không có bờ mé, nơi thâu nhiếp của Ngữ Bộ hay khiến cho chúng sanh thông minh lợi trí. Đây là chỗ nhiếp của Pháp Bộ (Dharma-kulāya) ở phương Tây, tức là Diệu Quán Sát Trí (Pratyavekṣana-jñāna).

Chưa tìm được hình minh họa

Biên soạn theo tài liệu A Di Đà Pháp Kinh của tác giả Huyền Thanh



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *