Home / THƯỜNG TRỤ TAM BẢO / Địa Tạng Bồ tát toàn tập / Bộ kinh Địa Tạng Bồ tát / Kinh Bách Thiên Tụng Đại Tập Bài Tán Địa Tạng Bồ Tát Thỉnh Hỏi Pháp Thân

Kinh Bách Thiên Tụng Đại Tập Bài Tán Địa Tạng Bồ Tát Thỉnh Hỏi Pháp Thân

Đại Tạng Kinh_Tập 13_ No.413

KINH BÁCH THIÊN TỤNG ĐẠI TẬP
BÀI TÁN ĐỊA TẠNG BỒ TÁT THỈNH HỎI PHÁP THÂN

Hán dịch: Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty_Đặc Tiến Thí Hồng Lô Khanh_ Túc Quốc Công, thực ấp gồm ba ngàn hộ_ Ban áo tía tặng Tư Không, tên thụy là Đại Giám, tên hiệu chính là Đại Quảng Trí_Chùa Đại Hưng Thiện_Tam Tạng Sa Môn BẤT KHÔNG phụng chiếu dịch

Việt dịch: HUYỀN THANH

_Quy mệnh lễ Pháp Thân (Dharma-kāya) Trụ ở các hữu tình
Ấy do không biết khắp Luân hồi ở ba Hữu (ba cõi) Tính ấy tức sinh tử
Khi tịnh lại cũng thế
_Thanh tị nh là Niết Bàn (Nirvaṇa) Cũng tức là Pháp Thân (Dharma-kāya) Ví như sữa xen tạp

Chẳng thể được Ðề Hồ (sarpirmaṇḍa) Như phiền não (Kleśa) xen tạp

Chẳng thể thấy Pháp Giới (Dharma-dhātu) _Ví như sữa sạch xong

Bơ tinh di ệu không dơ Như sạch phiền não ấy Pháp Giới rất thanh tịnh Như đèn trong bình ấy

Ánh sáng không chỗ có (ánh sáng không thể chiếu ra ngoài) Như trong bình phiền não
Pháp Gi ới (Dharma-dhātu) chẳng chiếu sáng _Để mỗi thứ một bên

Nếu bình ấy thủ ng lỗ Do mỗi thứ một bên Ánh sáng chiếu ra ngoài

Dùng chày Tam Ma Địa (Samādhi) Phá hoại bình phiền não

Tràn đầy ở hư không Ánh sáng chiếu khắp cả

_Pháp Giới (Dharma-dhātu) cũng chẳng sinh Cũng chưa từng hoại diệt
Tất cả Thời chẳng nhiễm Ðầu, giữa thường không dơ

Ví như Phệ Lưu Ly (Vaiḍurya) Thời luôn rất sáng tỏ
Dùng hầm đá che lấp

Ánh sáng ấy chẳng chiếu Như vậy, phiền não che

Pháp Giới (Dharma-dhātu) diệu thanh tịnh Chẳng chiếu nơi sinh tử

Sáng tỏ ở Niết Bàn (Nirvaṇa) _Có Tính (hữu tính) nếu có công
Liền nhìn thấy vàng th ật (chân kim) Không Tính (vô tính) nếu có công Mệt nhọc, không đạt được
Như trấu trùm bên trên Chẳng gọi là lúa gạo Phiền não trùm bên trên

Cũng chẳng gọi là Phật (Buddha) Nếu được lìa vỏ trấu

Hiển hiện rõ lúa gạo Xa lìa nơi phiền não

Pháp Thân (Dharma-kāya) được hiển hiện _Thế Gian lấy ví dụ

Cây chuối không thật bền Mà có quả tinh thật

Ăn, vị nh ư Cam Lộ (Amṛta) Như sinh tử không thật

Lưu chuyển biển phiền não Quả ấy t ức Phật Thể Cam Lộ cho Hữu Thí
Như vậy với các loại Tương tự sinh Quả ấy

Không Chủng (gieo trồng) cũng không Quả Bậc Trí ắt chẳng tin

Hạt giống tức Tính ấ y Nơi các Pháp nương tựa Thứ tự nếu hay Tịnh Ðạt được, thành Phật Vị

_Nhật Nguyệt thườ ng không dơ Đem năm thứ ngăn che
Mây, sương với nhóm khói Tay La Hầu (Rāhu) vớ i bụi Như vậy ánh sáng Tâm

Ngăn che bởi năm cấu (pañca āvaraṇāni: năm sự ngăn che)

Tham ái (rāga-āvaraṇa), giận (pratigha-āvaraṇa), ngủ mê (styāna-middha-āvaraṇa)

Trạo cử (auddhatya-kaukṛtya-āvaraṇa)và nghi ngờ (vicikitsā-āvaraṇa) Như lửa tẩy áo ấy

Mọi thứ dơ, chẳng sạch Nếu ném vào trong lửa Đốt dơ, chẳng đốt áo

_Không loại (các loại nói về Tính Không), các Khế Kinh (Sūtra) Hết thảy Như Lai nói
Tất cả chặt phiền não Ch ưa từng hoại Tính ấy Ví như đất dướ i nước Thường trụ mà thanh tịnh Trí ẩn nơi phiền não Thanh tịnh lại cũng thế

Pháp Giới cũng Phi Ngã (chẳng phải cái Ta) Chẳng nữ cũng chẳng nam
Xa lìa tất cả Chấp
Làm sao phân biệt Ngã? Các pháp không chỗ dính Nam n ữ chẳng thể có Tham, mù điều phục nên Hiện bày tướng nam nữ

_Vô Thường (anitya), Khổ (Duḥkha), Không Tính (śūnyatā) Tâm Tịnh Lự (Dhyāna:Suy tư tu) có ba
Tâm Tối Thắng Tịnh Lự
Các pháp không Tự Tính

Nh ư bào thai chứa con Có nhưng mà chẳng hiện Như phiề n não ngăn che Phật thật không thể thấy _Phân biệt có bốn loại

Đại (mahā-bhūtāni) đã sinh, tạo ra Ðại Nguyện của chư Phật

Không chỗ có (ākiṃcanya:Vô sở hữu), không Tướng (animitta:Vô Tướng) Tự giác tương ứng nên

Chư Phậ t thường Pháp Tính (Dharmatā) Như nói thỏ có sừng

Phân biệt mà chẳng có Như vậy tất cả Pháp Phân biệt chẳng thể được _Phân tích như bụi nhỏ Phân biệt chẳng thể được Như đầu, cuối cũng thế Trí làm sao phân biệt Như vậy hòa hợp sinh Hòa h ợp cũng diệt hoại _Một pháp tự chẳng sanh Vì sao ngu phân biệt? Thỏ, bò: hai sừng dụ Đây tên tướng Biến Kế
Y trụ ở Trung Đạo (madhyamā-pratipad)

Như Pháp Tính (Dharmatā) Thiện Thệ (Sugata: Bậc đi đến nẻo lành)

Như trăng và tinh tú Hiện ở bình nước trong Ảnh tượng mới hiển hiện

Tướng Viên Thành như vậy Ðầu, giữa cũng là thi ện Luôn luôn chẳng lừa dối _Không có năm loại Ngã Phân biệt Ngã thế nào?
Ví như nước lúc nóng
Nên gọi là nước nóng (nhiệt thủy) Thế thời lúc để lạnh

Liền gọi là nước lạnh (lãnh thủy) Lưới phiền não che lấp

Thế thời gọi là Tâm Nếu lìa phiền não ấy Liền gọi là Đẳng Giác

_Nhãn Thức (cakṣur-vijñāna) duyên với Sắc (Rūpa) Ảnh tượng rất trong sạch

Chẳng sinh cũng chẳng diệt Pháp Giới không hình tướng

_Nhĩ Thức (śrotra-vijñāna) duyên với tiếng (Śabda:thanh) Trong sạch biết ba loại

Dùng tự phân biệt nghe Pháp Giới không hình tướng

_Mũi (ghrāṇa) y theo mùi (gandha) mà ngửi Không màu cũng không hình

Tỵ Thức (ghrāṇa-vijñāna) là Chân Như (Tathatā) Pháp Giới ứng phân biệt

_Tự Tính Thiệt Giới (Jihvā-dhātu) rỗng (Śūnya: không) Tính Vị Giới (Rasa-dhātu) xa lìa

Không dựa (vô y) cũng không biết (vô thức) Vì Tự Tính Pháp Giới

_Tự Tính Thân (kāya) trong sạch Tướng đã chạm (xúc: sparśa) hòa hợp Xa lìa chỗ đã duyên
Ta nói là Pháp Giới
_Các Pháp (dharma) Ý (manas) cùng tột Lìa phân biệt năng sở

Pháp Giới không Tự Tính Pháp Giới mà phân biệt _Hay thấy, nghe rồi ngửi

Là Vị (Rasa) với tiếp chạm (xúc: sparśa) Pháp Du Già (Yoga-dharma) là biết Tướng Viên Thành như vậy

_Mắt (Cakṣuḥ), tai (Śrotra) cùng v ới mũi (Ghrāṇa) Lưỡi (Jihva), thân (Kāya) với Mạt Na (Manas:Ý)

Sáu xứ (Ṣaḍāyatana) đều trong sạch Tướng việc ấy như vậy

_Tâm thấy có hai loại Thế Gian, Xuất Thế Gian Chấp Ngã bị lưu chuyển Tự giác là Chân Nh ư _Không tận là Niết Bàn

Nếu hết Tham (Rāga) với Si (moha) Hiểu ấy là Phật Thể

Nơi hữu tình qui y _Tất cả ở thân này Có Trí với không Trí Cột buộc, tự phân biệt

Do ngộ (bừng tỉ nh) được giải thoát _Bồ Đề (Bodhi) chẳng xa, gần Chẳng đến cũng chẳng đi
Hoại diệt với hiển hiện Ở lưới phiền não này _Nói ở mọi Khế Kinh Trụ nơi mình, suy nghĩ Chiếu, dùng đèn Trí Tuệ

Liền được Tối Thắng Tịch

_Bồ Đề chẳng tưởng xa Cũng không tưởng sát gần Ảnh tượng sáu c ảnh đó Ðều do biết như vậy _Như nước hợp với sữa Ðồng để trong một vật Ngỗng uống hết sữa ấy Nướ c kia lại như th ường Như vậy phiền não tạp Trí (Jñāna) để tại một vật Bậc Du Già uống Trí Vứt bỏ nơi phiền não
_Nh ư vậ y Ngã (ātma), Ngã Chấ p (ātma-grāha) Cho đến Sở Thủ Chấp (grāhya)

Nếu thấy hai Vô Ngã (anātman) Có Chủng (hạt giống) mà diệt hoại

_Bát Niết Bàn (Parinirvaṇa) của Phật Luôn luôn sạch, không dơ

Người ngu phân biệt hai Câu Du Già không hai

_Mọi loại khó hành: Thí (Dāna:ban cho, bố thí) Dùng Giới (Śīla) nhiếp hữu tình

Nhẫn Nhục (kṣānti) mọi tổn hại Giới tăng thành là ba

_ Ở các Pháp, Tinh Tiến (vīrya)

Tĩnh Lự (dhyāna), Tâm gia hạnh Thường tập ở Trí Tuệ (prajñā) Lại được tăng Bồ Đề (Bodhi)

_Phương Tiện (Upāya) cộng với Tuệ (prajñā) Dùng Nguyện (Pranidhāṇa) đều thanh tịnh Dùng Lực (Bala) khéo bền Trí (Jñāna)
Giới tăng làm bốn loại
_“Chẳng nên lễ Bồ Tát”

Đây là Thuyết rất ác Chẳng gần gũi Bồ Tát Chẳng sinh Pháp Thân ấy _Tăng thêm giống cây mía

Muố n được ăn đường phèn (Thạch Mật: Phāṇita) Nếu hoại giống cây mía
Không chỗ sinh đường phèn Nếu giữ giống cây mía
Ba loại mới được sanh

Ðườ ng, bán đường (?chất có đường), đường phèn Đều được sinh ở trong
_Nếu giữ Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta) Có thể được ba loại

La Hán (Arhat), Duyên Giác (Pratyeka-buddha), Phật (Buddha) Trong đó đều được sinh

Như gìn giữ mầm lúa Nhà nông đều nên giữ

Như Thắng Giải Hạ nh (adhimokṣa-caryā) đầu Như Lai (Tathāgata) đều hộ giữ

_Như Bạch (śukla-pakṣa: 15 ngày đầu của tháng), ngày mười lăm Nhìn thấy hình vành trăng

Như vậy Thắng Giải Hạnh (adhimokṣa-caryā) Ảnh hiện hình tướng Phật

_Trăng mới mọ c nh ư vậy Mỗi sát na tăng dần
Như vậy người vào Địa (Bhūmi) Niệm niệm thấy tăng ích

_Như Bạch (śukla-pakṣa: 15 ngày đầu của tháng), ngày mười lăm Vành trăng được tròn đầy
Như vậy Cứu Cánh Địa
Pháp Thân mới được sinh
_Thắng Giả i (adhimokṣa), ấy bền chắc Thường nên ở Phật Pháp
Hay phát Tâm như vậy
Được làm Bất Thoái Chuyển (Avaivartika)
_Áo dơ (Nhiễm Y) được Chuyển Y (āśraya-parivṛtti:chuyển bỏ nơ i nương tựa của Pháp kém cỏi để chứng được nơi nương dựa của Pháp trong sạch thù thắng)

Ðược nh ận làm áo sạch (Tịnh Y) Do phần được giác ngộ

Gọi là Cực Hỷ Ðịa (pramuditā-bhūmi) _Bình thường ở nhiễm ô
Mọi loại dơ nhóm Dục Không dơ, được trong sạch

Gọi là Ly Cấu Địa (vimalā-bhūmi) _ Diệt hoại lưới phiền não

Chiếu diệu được lìa dơ Lìa vô lượng ám tối

Gọi là Phát Quang Ðịa (prabhākarī-bhūmi) _Thanh tịnh thường sáng tỏ

Xa lìa đời, tốt lành Vây quanh lửa Trí Tuệ

Gọi là Diệm Tuệ Ðịa (arciṣmatī-bhūmi) _Tất cả Minh (Vidya), công kỹ

Mọi Tĩnh Lự (Dhyāna) điểm tô Khó thắng nơi phiền não

Ðược thắng, (gọi là) Nan Thắng Địa (sudurjayā-bhūmi)

_ Nơi ba loại Bồ Đề Nhiếp thọ khiến thành tựu Sinh diệt ở sâu xa

Gọi là Hiện Ti ền Địa (abhimukhī-bhūmi) _Dạo chơi nơi lưới sáng

Khắp dùng Đế Thích (Indra) nghiêm Vượt qua dòng thác Dục

Gọi là Viễn Hành Địa (dūraṃgamā-bhūmi) _Tất cả Phật gia trì

Tham dự vào biển Trí Tự tại không công dụng

Bất Độ ng (acala) nơi Ma Sứ (Māra-ceṭa: sứ giả của loài Ma) _Ở các Vô Ngại Giải

Du Già (Yoga) đến bờ kia Nơi nói Pháp, đàm luận
Gọi là Thiện Tuệ Địa (sādhumatī-bhūmi) _ Thân dùng Trí đã thành

Như hư không không dơ Nơi chư Phật đều giữ

Khắp cả như mây Pháp (Dharma-megha) _Sở Y (āśraya) của Phật pháp

Hạ nh Quả đều gìn giữ Sở Y đề u được chuyển Nên gọi là Pháp Thân _Lìa bất tư nghị huân Với lìa lưu chuyển tập
Như ngươi mỗi mỗi nghĩ Làm sao mà được biết Cảnh vượt qua ngôn ngữ

M ọi Căn, chẳng phải cảnh Ý Thức đã nắm giữ

Như hết thảy Ngã Thể _Thứ tự mà gom chứa
Phật Tử Đại Danh Xưng

Ðều dùng Trí mây Pháp (Dharma-megha-Jñāna) Nhỏ nhiệm thấy Pháp Tính (Dharmatā)

Bấy giờ rửa sạch tâm Vượt qua biển sinh tử

Ấy (ng ười đó) dùng hoa sen lớn An lập làm Tòa lớn
Vô l ượng lá báu sáng Ánh sáng báu làm Đài Vô lượng ức hoa sen
Khắp cả làm Quyến Thuộc

_Trước dùng mười loại Lực (Daśa-bala) Dùng bốn loại Vô Úy

Pháp Bất Cộng (āveṇika-buddha-dharma) của Phật Ðại Tự Tại mà ngồi
Đều gom tất cả Thiện
Phước (puṇya) Trí (Jñāna) làm tư lương (Sambhāra) Trăng tròn tại Tinh Tú
Tràn khắp mà vây quanh
Liền dùng Phật Nhật Thủ (Bàn tay mặ t trời của Đức Phật) Dùng bảo quang (ánh sáng báu) không dơ

Quán Đỉnh cho con trưởng Khắp cả đều rưới rót
_Ấy (người đó) trụ Ðại Du già

Ðều thấy dùng Thiên Nhãn (divya-cakṣu) Vô minh quấy rối đời

Ác gom khổ, sợ hãi Dạ ng nh ư màu sáng vàng Từ Ánh sáng Du Già
Ấy bị Vô Tri (Không biết) che Ðược mở cửa Vô Minh

Dùng Phước Trí cảm, chiêu Đắ c được Định không chấp Từ duyên mà viên t ịch Tâm được đều biến hóa _Các Pháp không Tự Tính Tự Tính ở cảnh giới
Bồ Tát Vương khéo thấy

Pháp Thân diệu vô cấ u (Mầu nhiệm không dơ bẩn) Ðều dùng thân không dơ
An trụ ở biển Trí

Liền làm l ợi chúng sinh Như ngọc Ma Ni khéo

_Tất cả bậc Du Già

Ðại Du Già T ự Tại Ảnh Phật đều biến hóa Tràn khắp mà tuôn ra _Hoặc đấng có tám tay Ba mắt, thân rực sáng

Đều là Du Già Vương
Tràn khắp mà tuôn ra Ðều dùng tay T ừ Bi Thắng hỷ, cầm cây cung Bắn, dùng tên Bát Nhã

Chặt Vô Minh nhỏ nhiệm Dùng Đạ i Lực tiến lên Cầm giữ gậy Trí Tuệ
Tất cả mầm Vô Minh

Khắp cả đều hoại nát _Các hữu tình mạnh mẽ Thân rực sáng Kim Cương Điều phục hữu tình nên

Liền làm Kim Cương Thủ (Vajra-pāṇi) _Tự làm người tạo nghiệp

Hiện bày mọ i loại Quả Răn dậy như Giáo Lý

Biến làm Bình Đẳng Vương (Samatā-rāja) _Ðói khát thiêu đốt thân

Hay cho thức ăn uống Người th ường bị bệnh tật Liền làm Thiện Y Vương
_Ma Vương ở Doanh Tòng Ma nữ ở trang nghiêm
Bồ Tát làm bạn thân

Hay cho Bồ Đề Trường (Bodhi-maṇḍala) _Giống như hình Nhật Nguyệt

Tỏa sáng, đều vừa ý Tuôn như ánh sáng điện Chiế u sáng câu chi cõi _Do dùng một ngọn đèn Chiế u kh ắp đều được sáng Nếu một đèn diệt hẳn

Tất cả đều tận hết

_Như vậy Dị Thục (vipāka:Quả báo) Phật Hiện bày mọi ánh sáng

Một hóa hiện Niết Bàn Phật khác bày Quy Tịch Một cũng không diệt độ

Nhật Quang (ánh sáng của mặt trời) khởi mờ tối Thường hiện nơi ra, mất

Hiện bày biển sát độ (các cõi nước) _Ở đời tối, không Trí
Hay tịnh mắt Trí Tuệ Ði đến câu chi cõi

Xót thương cứu hữu tình Thảy đều chẳng mệt mỏi Dùng áo giáp Đại T ừ Tất cả ở Thần Túc

Du Già đều Bỉ Ngạn (bờ bên kia) Ðều quán Thời, Phi Thời

Khiến họ được lưu chuyển _Ngang ngượ c cùng xu nịnh Tạm thời liền vứt bỏ

Vô lượng điều (điều phục) hữu tình Làm ngay khiến thanh tịnh

_Vô lượng Phật biến hóa Tức thời đượ c tạm biến Ở trong biển ba cõi
Mà ném lưới điều phục

Giương duỗi lưới Diệu Pháp (Saddharma) Khắp cả khiến thành thục
Liền dùng lưới điều phục Khắp cả khiến thành thục Kh ắp cả khiế n nhấc ra Kẻ phiêu lưu trong đó Tức như ngàn hữu tình Khắp cả khiến độ xong _Ðộ xong khiến giác ngộ

Diệu Pháp, chẳng nghi ngờ Chuông Diệu Pháp (của) Thế Tôn Khắp cả khiến được nghe
Do ti ếng chấn động này Phủi rơi bụi phiền não

Người Vô Minh (Avidya), Tăng Thượng (abhi-māna:Tăng Thượng Mạn) Khiến tịnh ngay tức thời

Dùng sức sáng mặt trời Phá hoại mọi mù tối Tùy theo phiền não tối Với thân của tội khác Khiến họ làm lợi ích

Chứa dần khiến trong sạch _Mỗi mỗi người hiện hóa
An trụ như thủy nguyệt (Mặt trăng trong nước) Phiền não quấy nhiễu tâm

Chẳng thấy được Như Lai Như Quỷ đói ở biển Khắp cả thấy khô cạn

Như vậy kẻ ít Phước Không Phật, tạo phân biệt _Kẻ hữu tình ít Phước Như Lai làm thế nào?! Như ở tay người mù

An dùng báu tối thắng Làm sao mà thấy được Pháp Thân của vô thượng?! Thân câu chi Nhật Quang Lưới ánh sáng vây quanh Chư thiên dùng chút Phước Chẳng thể được nhìn thấy

Bên trên, đến Đại Thiên (Mahā-deva) Làm sao mà được thấy ?

Sắc ấy chẳng thể thấy Các Tiên lìa phiền não

Hàng Tr ời (Deva), Tu La (Asura), Phạm (Brahma) Làm sao dư chút Tuệ

Nhưng dùng uy lực Phật Thanh tịnh tâm mình nên Hay thấy loại như vậ y
Đắc được đầy tất cả

_Hữu tình phước đoan nghiêm Phật trụ trước người ấy

Thân tỏa sáng hào quang Ba mươi hai tướng tốt Bậc trượng phu như vậy Sẽ thấy như biển lớn Chẳng trải qua nhiều Thời Liền được Trí như biển _Sắc thân của Thế Tôn An trụ ở nhiều kiếp

Năng điều khả điều lợi (Hay điều phục lợi có thể điều phục) Hướng đến chủng loại Giới
Ðại Du Già sống lâu
Thiểu thọ (số ng ngắn ngủi) vì Nhân nào? Nhiều người, câu chi khác

Hiện bày tuổi tăng giảm Vô lượng câu chi kiếp

Dùng mệnh mệnh tăng trưởng Nhân duyên đều không tận Ðạt được Quả không tận.

_Nếu có tương ứng, hiển Lý này Chỉ thân dùng Tuệ để phân tích Ngườ i ấy sinh ở sen trong sạch Nghe Pháp đã nói Vô Lượng Thọ

KINH BÁCH THIÊN TỤNG ĐẠI TẬP

BÀI TÁN ĐỊA TẠNG BỒ TÁT THỈNH HỎI PHÁP THÂN _Hết_
27/09/2010



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *