[0206] KINH CỰU TẠP THÍ DỤ

KINH CỰU TẠP THÍ DỤ

Lê Mạnh Thát

GIỚI THIỆU

Cựu tạp thí dụ kinh chiếm một vị trí đặc biệt trong toàn bộ dịch phẩm của Khương Tăng Hội, vì nó ghi lại 14 đoạn bình luận của người “thầy” của Hội sau 13 truyện của nó, tức các truyện 4, 6, 7, 9, 13, 14, 17, 18, 19, 22, 26, 32 và 40. Riêng truyện 7 có hai đoạn, nên thành 14. Mười bốn đoạn văn này có thể nói là những đoạn bình luận xưa nhất được biết của văn học và Phật giáo nước ta. Chúng cùng với bài Việt ca, Mâu Tử Lý hoặc luận, Lục độ tập kinh, Tạp thí dụ kinh và chính Cựu tạp thí dụ kinh sẽ giúp chúng ta nghiên cứu lại giai đoạn đầu của lịch sử văn học, tư tưởng và Phật giáo Việt Nam. Cho nên, Cựu tạp thí dụ kinh có một vị trí đặc biệt là thế.

I. TRUYỀN BẢN VÀ TÊN GỌI

Bản kinh lục sớm nhất hiện còn là Xuất tam tạng ký tập của Tăng Hựu trong phần liệt kê dịch phẩm của Khương Tăng Hội ở quyển 2 ĐTK 2145 tờ 7a27-b1 cũng như trong tiểu truyện của Hội ở quyển 13 tờ 96a29-97a17 không có ghi Cựu tạp thí dụ kinh như là dịch phẩm của Hội. Nhưng trong phần ghi về các bản kinh “thất dịch” ở quyển 4 tờ 22a4-5 có ghi tên hai bản Cựu thí dụ kinh 2 quyển và Tạp thí dụ kinh 2 quyển. Hai bản này có bản nào là của Khương Tăng Hội, ta ngày nay không thể nào trả lời được. Đến khi viết Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13 Huệ Hạo chắc do tiếp nhận được nhiều tài liệu mới đã ghi Tạp thí dụ vào danh sách các dịch phẩm của Khương Tăng Hội.

Khai Hoàng năm thứ 14 (590) Pháp Kinh viết Chúng kinh mục lục hẳn đã khảo các kinh lục của Lý Quách biết dưới tên Nguyên Ngụy chúng kinh mục lục, của Bảo Xướng với kinh Lương đại chúng mục lục và Pháp Thượng với Tề đại chúng kinh mục lục, ngoài Xuất tam tạng ký tập của Tăng Hựu, Cao tăng truyện của Huệ Hạo và Chúng kinh biệt lục của một tác giả vô danh đời Lưu Tống, nên ở quyển 6 ĐTK 2146 tờ 144b13 đã viết: “Cựu tạp thí dụ kinh tập, hai quyển, Khương Tăng Hội đời Ngô dịch”. Ba năm sau, Phí Trường Phòng viết Lịch đại tam bảo ký 3 ĐTK 2034 tờ 36b24 còn gọi Khai Hoàng tam bảo lục, vì viết vào năm Khai Hoàng 17 (593) nói: “Thái Nguyên năm thứ nhất (251) Khương Tăng Hội ở chùa Kiến Sơ của Dương Đô dịch kinh Lục độ tập v.v… bốn bộ 16 quyển”. Còn ở quyển 5 tờ 59a21 ghi “Tạp thí dụ tập kinh, hoặc không có chữ tập”, xem Hựu lục và 14 bộ dịch phẩm của Khương Tăng Hội. Đến Ngạn Tôn viết Chúng kinh mục lục vào năm Nhân Thọ thứ 2 (602), nên gọi Nhân Thọ chúng kinh mụcï lục, ở quyển 2 ĐTK 2147 tờ 161b25, ta thấy ghi: “Cựu tạp thí dụ kinh tập 2 quyển, Khương Tăng Hội đời Ngô dịch”. Tỉnh Thái soạn Chúng kinh mục lục 3 ĐTK 2148 tờ 196a23 chép: “Cựu tạp thí dụ kinh 2 quyển 37 tờ Khương Tăng Hội đời Ngô dịch”.

Thế là từ Huệ Hạo trở đi, ta biết Khương Tăng Hội có dịch một Tạp thí dụ kinh. Pháp Kinh, Phí Trường Phòng và Ngạn Tôn xác định rõ hơn, đó là Cựu tạp thí dụ kinh, nhưng không nói lấy tài liệu từ đâu. Đến Đạo Tuyên viết Đại Đường nội điển lục 2 ĐKT 2149 tờ 230a9, khi ghi các tác phẩm của Khương Tăng Hội đã chép: “Cựu tạp thí dụ kinh, 2 quyển, hoặc không có chữ tập. Xem Hựu lục”. Tất nhiên, xem “Hựu lục” ở đây không có nghĩa xem Xuất tam tạng ký tập của Tăng Hựu để biết Cựu tạp thí dụ kinh là của Khương Tăng Hội, vì như đã thấy, Tăng Hựu không làm thế. Ngược lại xem “Hựu lục” để biết Cựu tạp thí dụ kinh trong bản kinh lục của Tăng Hựu vốn không có chữ “tập” thế thôi.

Tỉnh Mại viết Cổ kim dịch kinh đồ ký 1 ĐTK 2151 tờ 352b17 cũng ghi Tạp thí dụ tạp kinh 2 quyển vào giữa những dịch tác phẩm của Khương Tăng Hội. Minh Thuyên soạn Đại châu san định chúng kinh mục lục 8 ĐTK 2153 tờ 424b8-9 ghi: “Tạp thí dụ kinh, 1 bộ 2 quyển, hoặc không có chữ “tập”, 37 tờ. Trên đây là do Khương Tăng Hội đời Ngô dịch. Theo Trường Phòng lục”. Trí Thăng viết Khai Nguyên thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 490b6 chép rõ hơn: “Cựu tạp thí dụ kinh, 2 quyển, Nội điển có chữ ‘cựu’, Phòng lục thì không. Cũng nói Tạp thí dụ tập kinh, hoặc không có chữ ‘tập’. Xem Cao tăng truyện và Trường Phòng lục”. Viên Chiếu viết Trinh Nguyên tân định Thích giáo mục lục 3 ĐTK 2157 tờ 787c5 sao y nguyên văn những gì Trí Thăng đã nói về Cựu tạp thí dụ kinh.

Vậy, việc ghi nhận Tạp thí dụ kinh hay Cựu tạp thí dụ kinh là một dịch phẩm của Khương Tăng Hội bắt đầu với Huệ Hạo. Sau đó, các nhà kinh lục đều nhất trí thừa nhận ghi nhận vừa nêu của Hạo và chép Cựu tạp thí dụ kinh vào danh mục các dịch phẩm của Hội. Thế Hạo đã lấy nguồn tin của mình từ đâu? Tất nhiên, Hạo có thể rút ra từ các tác gia mà ông liệt trong bài tựa và lá thư của Vương Mạn Dĩnh ở Cao tăng truyện 14 tờ 418 b3-423a10. Và các tác giả ấy đến lượt họ lại có những nguồn tin riêng. Điểm cần lưu ý là cuối thế kỷ thứ V sau Tây lịch một số nhà sư nước ta đã được mời qua Kiến Nghiệp, mà ngày nay hai trong số họ chúng ta biết tên. Đó là Huệ Thắng và Đạo Thiền. [1]Phải chăng chính những người như Huệ Thắng, Đạo Thiền v.v… đã đem đến những thông tin mới về Khương Tăng Hội, mà trước đó Tăng Hựu đã không có? Trong số những thông tin ấy có cả tên dịch giả Cựu tạp thí dụ kinh?

Trước những câu hỏi này, ta hiện không có câu trả lời dứt khoát. Tuy nhiên, dù trả lời thế nào đi nữa, sự thật vẫn là Cựu tạp thí dụ kinh, từ sau Huệ Hạo trở đi được xác nhận là một dịch phẩm của Khương Tăng Hội. Và chúng ta không có lý do gì để bác bỏ một xác nhận như vậy. Huệ Hạo gọi bản kinh là Tạp thí dụ. Pháp Kinh thì gọi Cựu tạp thí dụ kinh tập. Phí Trường Phòng chỉ ghi Tạp thí dụ tập kinh hay Tạp thí dụ kinh. Tỉnh Thái có tên Cựu tạp thí dụ kinh. Tỉnh Mại và Minh Thuyên chép Tạp thí dụ tập kinh. Đạo Tuyên lại nói Cựu tạp thí dụ tập kinh. Trong khi Trí Thăng và Viên Chiếu ghi là Cựu tạp thí dụ kinh. Tên gọi cuối cùng này ngày nay xuất hiện trong bản in Đại Chính. Cho nên, chúng tôi chấp nhận và chính thức gọi là Cựu tạp thí dụ kinh.

II. VẤN ĐỀ NIÊN ĐẠI VÀ BẢN ĐÁY

Tất cả các tư liệu về Khương Tăng Hội, bắt đầu với Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97a12-13 và Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 326a19-20 cho đến Đại Đường nội điển lục 2 ĐTK 2159 tờ 230 b21-c23 đều nói: “Hội ở chùa Kiến Sơ, dịch ra các kinh”, mà không nói rõ dịch cụ thể vào những năm nào. Điều chắc chắn là các dịch phẩm của Hội phải được thực hiện sau năm 247, khi Hội đã đến Kiến Nghiệp. Nói như Xuất tam tạng ký tập 2 tờ 7b1, “Tăng Hội dịch ra (chúng) vào đời Ngô chúa Tôn Quyền, Tôn Lượng”, tức khoảng giữa những năm 222-258. Đạo Tuyên chỉ nói: “Trong những năm Chính Thỉ đời Tề vương nhà Ngụy”, tức khoảng những năm 241-249 của Tề vương Tào Phương.

Các tư liệu hậu kỳ bắt đầu với Lịch đại tam bảo ký 3 ĐTK 2034 tờ 36b24 của Phí Trường Phòng, Cổ kim dịch kinh đồ kỷ 1 ĐTK 2151 tờ 352 b15-27 của Tỉnh Mại, Khai Nguyên thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 491b14-L5 của Trí Thăng và Trinh Nguyên tân định thích giáo mục lục 3 ĐKT 2157 tờ 788c12-14 của Viên Chiếu đều nói Khương Tăng Hội khởi công dịch Lục độ tập kinh và các kinh khác từ năm Thái Nguyên trở đi. Tỉnh Mại viết: “Vào năm Thái Nguyên thứ hai (252) nhà Ngô, nhằm năm Tân Mùi ở Vương Đô (Hội) dịch Lục độ tập kinh 9 quyển, Ngô phẩm kinh 5 quyển, Bồ tát tịnh hạnh kinh 2 quyển, Tạp thí dụ tập kinh 2 quyển, A Nan (sic) niệm di kinh 1 quyển, Kính diện vương kinh 1 quyển, Sát vi vương kinh 1 quyển, Phạm hoàng vương kinh 1 quyển, Quyền phương tiện kinh 1 quyển, Tọa thiền kinh 1 quyển, Bồ tát nhị bách ngũ thập pháp 1 quyển, Pháp kính giải tử chú 2 quyển, Đạo thọ kinh chú giải 1 quyển, An ban kinh chú giải 1 quyển, gồm 14 bộ, cộng 29 quyển”.

Trí Thăng nhận ra năm Tân Mùi là Thái Nguyên thứ nhất, chứ không phải thứ hai, nên đã viết ở Khai Nguyên thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 491b14-15 nói: “Hội vào năm Tân Mùi Thái Nguyên thứ nhất (251) của Tôn Quyền ở chùa Kiến Sơ do ông sáng lập, dịch các kinh Lục độ v.v… gồm 7 bộ, đều khéo được thể kinh, văn nghĩa đúng đắn”. Viên Chiếu chép lại câu vừa nói của Trí Thăng trong Trinh Nguyên tân định thích giáo mục lục, biểu thị việc ông hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Thăng. Vậy, từ Phí Trường Phòng trở về sau, người ta xác định hẳn là Khương Tăng Hội dịch Lục độ tập kinh và Cựu tạp thí dụ kinh vào năm Thái Nguyên thứ nhất, tức năm 251 trở đi tại Kiến Nghiệp ở Trung Quốc.

Thực tế, vấn đề phức tạp hơn nhiều. Trong số 5 tác phẩm hiện còn của Khương Tăng Hội, đó là Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh, An ban thủ ý kinh chú giải, An ban thủ ý kinh tự, và Pháp kính kinh tựï, chúng chứa đựng một ít dữ kiện buộc ta phải đặt vấn đề phải chăng toàn bộ dịch phẩm của Khương Tăng Hội được thực hiện ở Kiến Nghiệp và sau năm 247, như các kinh lục Trung Quốc đã có? Trả lời câu hỏi này ta có một số dữ kiện phản biện. Cụ thể là An ban thủ ý kinh tự trong Xuất tam tạng ký tập 6 ĐTK 2145 tờ 43b18 và Phật thuyết đại An ban thủ ý kinh. An ban thủ ý kinh tự khi đề cập đến An Thế Cao tới Trung Quốc, đã viết: “Bèn ở kinh sư”. Kinh sư đây chỉ Lạc Dương, thủ đô nhà Hán và Ngụy, chứ không thể chỉ Kiến Nghiệp, thủ đô nhà Ngô của Tôn Quyền. Do thế, bài tựa này không thể viết sau năm 247 ở Kiến Nghiệp được, khi Tôn Quyền xưng đế đã gần 30 năm và đóng đô ở Kiến Nghiệp.

Hơn nữa, trong An ban chú tự của Xuất tam tạng ký tập 6 tờ 43c22-23, Đạo An viết: “Đầu đời Ngụy, Khương Hội viết chú nghĩa. Nghĩa hoặc có chỗ ẩn chưa rõ, An trộm không tự lượng mình, dám nhân người trước, giải thích ở dưới”. Điều này có nghĩa cả An ban thủ ý kinh tự lẫn An ban thủ kinh ý chú giải đều do Khương Tăng Hội viết “đầu đời Ngụy” (Ngụy sơ). Nhà Ngụy do con Tào Tháo là Tào Phi thành lập năm 221 và chấm dứt năm Hàm Hy thứ nhất (265) của Nguyên đế Tào Hoán, kéo dài được 45 năm. Như vậy, nếu đúng lời Đạo An nói là Khương Tăng Hội viết An ban thủ ý kinh chú giải vào “đầu đời Ngụy” (Ngụy sơ), thì dứt khoát không thể có việc Hội viết bản chú giải ấy cùng lời tựa của nó sau năm 247 và càng không thể sau năm 251, như Tỉnh Mại, Trí Thăng và Viên Chiếu đã chủ trương, bởi vì từ những năm đó trở đi không thể gọi là “Ngụy sơ”, là “đầu đời Ngụy” được nữa.

“Ngụy sơ” phải là những năm 221-230, tức những “năm đầu của nhà Ngụy”, chứ không thể những năm 251 về sau, mà ta gọi là “Ngụy mạt”. Thế thì, Khương Tăng Hội phải viết An ban thủ ý kinh chú giải vào những năm 231-230, chứ không thể từ năm 251. Và đã viết vào những năm đó, Hội không thể viết nó tại Kiến Nghiệp, mà phải viết ở nước ta, bởi vì Hội không thể “chống gậy đông du” qua Trung Quốc trước những năm 240, ngay khi ta chấp nhận thời điểm Xích Ô năm thứ tư (241) của Tỉnh Mại. Kết luận này đem lại cho ta khá nhiều giải thích lôi cuốn đối với một số sự kiện và một phần nào được các sự kiện ấy xác nhận ngược trở lại sự đúng đắn của kết luận ấy.

Thứ nhất, sự kiện Khương Tăng Hội viết An Thế Cao “ở Kinh sư” đã thấy Kinh sư ở đây rõ ràng chỉ Lạc Dương chứ không phải Kiến Nghiệp, Kinh sư của nhà Ngô Tôn Quyền. Lạc Dương vốn là kinh đô của nhà Đông Hán cho đến khi Đổng Trác làm loạn năm 189, tạo cơ hội sau này cho Tào Tháo đưa Hiến đế về đóng tạm ở Hứa và Nghiệp. Khi mới lên ngôi năm 221, theo Ngụy chí 2 tờ 13b2 Tào Phi đã cho xây cung Lạc Dương để đến ở. Năm 236, Ngụy chí 3 tờ 10b9-10 chép Minh đế Tào Duệ “xây cung Lạc Dương, dựng điện Chiêu Dương, Thái Cực…”. Vậy, Lạc Dương trong đời Ngụy vẫn giữ vai trò một Kinh sư, dù có lúc phải tạm đóng tại Hứa và Nghiệp.

Tuy nhiên, theo Ngô chí 4 tờ 8a8 thì từ năm Kiến An thứ 15 (210) Sĩ Nhiếp đã đón Bộ Chất của Tôn Quyền đến làm thứ sử nước ta. Cho tới khi Nhiếp mất năm Hoàng Vũ thứ năm (226), Sĩ Huy kế nghiệp, chống lại việc Tôn Quyền bổ nhiệm Tải Lương và Trần Thì qua làm thứ sử và thái thú. Hẳn phải một năm sau, Lữ Đại mới nhận được lệnh qua đánh Sĩ Huy, tức khoảng năm 227-228. Sĩ Huy chống lại Tôn Quyền, chắc đã muốn dựa vào thế nhà Ngụy của Tào Duệ, nếu không muốn nói là liên minh với Duệ. Cho nên, nếu Khương Tăng Hội viết An ban thủ ý kinh tự trong khoảng những năm Ngụy sơ, tức khoảng 221-230, thì có khả năng Hội viết vào những năm 227-228 này, vì đây là thời gian nước ta tách ra khỏi Đông Ngô của Tôn Quyền, muốn đứng về với nhà Ngụy, như trường hợp Lữ Hưng ba mươi năm sau, để cho Hội nói An Thế Cao đến ở “Kinh sư”.

Thứ hai, trong An ban thủ ý kinh tự Khương Tăng Hội nói: “Tôi sinh muộn màng, mới biết vác củi, cha mẹ chết mất, ba thầy viên tịch, ngửa trông mây trời, buồn không biết hỏi ai, nghẹn lời trông quanh, lệ ra lã chã. Song phước xưa chưa mất, may gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bì Nghiệp từ Dĩnh Xuyên, Trần Tuệ từ Cối Kê. Ba vị hiền này tin đạo dốc lòng, giữ đức rộng thẳng, khăng khăng vươn tới, chí đạo không mỏi, tôi theo xin hỏi, thước hợp góc đúng, nghĩa không sai khác. Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước, chẳng phải (lời) thầy thì không truyền, không dám tự do …”

Đọc lời tựa này, ta thấy nói Hội “sinh muộn màng”, điều này có nghĩa Hội là người con út trong gia đình. Nên đến tuổi “mới biết vác củi”, theo Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96b2, Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a14, Khai Nguyên thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 490b15 và Trinh Nguyên tân định thích giáo mục lục 3 ĐTK 2157 tờ 787 c14, là “năm hơn mười tuổi” (niên thập dư tuế). Cổ kim dịch kinh đồ kỷ 1 ĐTK 2151 tờ 352a27 lại nói đó là “năm chưa đến tuổi đi học” (niên vị xỉ học). “Tuổi đi học” theo Khổng Tử là 15, như câu “thập ngũ chí ư học” trong Luận ngữ đã diễn tả. Điều này được xác định thêm khi ta truy về nguồn gốc của cụm từ “mới biết vác củi” (thỉ năng phụ tân). Ta thấy Lễ ký chính nghĩa 5 tờ 9a8-11 bảo: “Cao thứ nhân lớn thì nói có thể vác củi, nhỏ thì nói chứa thể vác củi”. Khổng Dĩnh Đạt giải thích thêm: “Mười lăm tuổi trở lên là lớn (. . .), mười bốn tuổi trở xuống là nhỏ” Vậy, khi Khương Tăng Hội được 15 tuổi, cha mẹ đều mất.

Tiếp theo việc cha mẹ Hội đều mất là sự “điêu táng” của “ba vị thầy”. Cụm từ “ba vị thầy” (tam sư) này là một bộ phận trong thành ngữ “tam sư thất chứng” (ba vị thầy và bảy vị làm chứng) trong các giới đàn Phật giáo về sau, để chỉ các vị tham gia lễ trao các giới cấm Tỳ kheo chính thức nhận một người nào đó vào hàng ngũ xuất gia thực sự. Nếu hiểu như vậy, “ba thầy” của Hội đã mất sau khi Hội đã hai mươi tuổi hay hơn nữa, bởi vì theo quy định của giới luật Phật giáo thì người nào muốn thọ giới Tỳ kheo, đều bắt buộc phải từ 20 tuổi trở lên, trừ một số ít trường hợp ngoại lệ đặc biệt thì cũng phải 17, 18 tuổi. Cũng có trường hợp 15 tuổi đã thọ giới Tỳ kheo như Tri Lễ trong Tứ minh tôn giả giáo hạnh lục 7 ĐKT 1937 tờ 919b20: “Mười lăm cắt tóc thọ cụ túc giới” (thập ngũ chúc phát thọ cụ). Nhưng đây là những trường hợp quá hãn hữu, xem thêm tờ 917b13-918b15. Thế thì, khi Hội tuổi “mới biết vác củi”, không thể có chuyện “ba thầy” của Hội “điêu táng” được. Chí ít Hội cũng phải 17, 18 nếu không là 20 tuổi, khi sự việc “điêu táng” ấy xảy ra.

Dù với trường hợp nào đi nữa, khi “cha mẹ chết mất, ba thầy viên tịch”, Hội đã “buồn vì không biết hỏi ai để học”. Trong tình cảnh đó, Hội gặp Hàn Lâm, Bì Nghiệp và đặc biệt Trần Tuệ. Hội đã “đi theo xin hỏi” mới phát hiện ra “thước giống góc khít, nghĩa không sai khác”. Viết thế cũng có nghĩa Hội đã được thầy dạy cho ý nghĩa của kinh An ban thủ ý, trước khi gặp Trần Tuệ. Nhưng Hội sợ hiểu biết của mình không chính xác, mà thầy đã mất rồi “không thể hỏi học được”, nên Hội mới hỏi ba vị “hiền”, để xác nhận lại. Do vậy, Hội gặp Trần Tuệ, khi đã hơn 20 tuổi, và viết An ban thủ ý kinh chú giải vào khoảng những năm 227-228 là hợp lý, lúc khoảng 27-28 tuổi.

Như thế, chỉ giới hạn vào năm dịch phẩm hiện còn của Khương Tăng Hội, ta có thể thấy qua phân tích trường hợp An ban thủ ý kinh tự và An ban thủ ý kinh chú giải, là một số các dịch phẩm ấy không thể viết sau năm 247 ở Trung Quốc, như các nhà viết sử và kinh lục Trung Quốc đã chủ trương một cách chung chung và võ đoán qua nhiều thế kỷ. Vì vậy, về niên đại của Cựu tạp thí dụ kinh, chúng ta cũng không thể đơn giản coi nó được dịch ở Trung Quốc sau năm 251, dù ngày nay ta không có những chứng cứ cụ thể và chắc chắn. Dẫu thế, không phải là không có.

Một mặt, về phương diện ngôn ngữ, tuy không nhiều như Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh nhưng vẫn có một ít cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Cựu tạp thí dụ kinh quyển thượng tờ 515a20 truyện 25 có cấu trúc “thần thọ” với nghĩa “thần cây” của truyện 41 Lục độ tập kinh 4 tờ 22c12, chứ không phải nghĩa “cây thần” trong Bính Nguyên biệt truyện, mà Bùi Tùng Chi dẫn trong Ngụy chí 11 tờ 16a1-3: “Nguyên thường đi, được tiền rơi, nhặt treo cành cây. Tiền đã không bị lấy, mà tiền treo càng thêm. Hỏi lý do, người đáp bảo đó là ‘cây thần’ (thần thọ)”. Truyện 2 của Cựu tạp thí dụ kinh quyển thượng tờ 511a13- và b1 có cấu trúc “nhất sơn kim” với nghĩa “một núi vàng” trong khi, cũng nội dung giống truyện 2 của Cựu tạp thí dụ kinh, truyện 20 của Lục độ tập kinh 3 tờ 13a24 và b15-16 lại có “Kim sơn” và “nhất sơn chi kim” với nghĩa “núi vàng” và “vàng một núi”.

Rõ ràng, các cấu trúc vừa nêu của Cựu tạp thí dụ kinh phản ảnh ngữ pháp tiếng Việt, chứ không phải ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Ngoài ra, một số câu dịch trong Cựu tạp thí dụ kinh vẫn còn mang sắc thái ngữ nghĩa tiếng Việt. Cụ thể là câu “tự tại hành lai” trong truyện 18 quyển thượng tờ 514a27. Câu này, nếu hiểu theo nghĩa tiếng Trung Quốc, ta sẽ có “tự tại đi đến”. Nhưng nếu hiểu vậy, nó không phù hợp tí nào với ý để cho các cung nữ tự do đi lại mà thái tử ở truyện 18 yêu cầu vua cha. Trái lại, nếu coi “lại” là một tá âm như chữ “lại” tiếng Việt, ta sẽ có “tự tại đi lại” và nghĩa nó hoàn toàn phù hợp. Lối dùng chữ “lại” như một tá âm này cũng xuất hiện trong câu “đắc thủy lai hoàn” (được nước lại về) của truyện 14 quyển thượng tờ 513a8, câu “thùy cảm hạ thủ đắc quất lai” (ai dám xuống lấy được quýt lại) của truyện 26 tờ 515b1-2 và câu “thừa xa lai hoàn” (cuõi xe lại về) của truyện 15 tờ 513b19 v.v…

Mặt khác, các cấu trúc theo ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt vừa thấy, tuy ít ỏi, đã bộc lộ cho thấy ảnh hưởng ngữ học của nguyên bản tiếng Việt, mà Cựu tạp thí dụ kinh là một thí dụ. Nguyên bản tiếng Việt này từ nguyên thủy hẳn là một tập hợp các bài giảng có kể chuyện của vị thầy Khương Tăng Hội. Cho nên, trong số 64 truyện, hiện có 13 truyện có 14 đoạn bình luận về chúng ở cuối mỗi truyện và ghi là “Thầy nói” (sư viết). “Thầy” đây chắc chắn là thầy của Khương Tăng Hội, chứ không thể một người thầy nào khác, bởi vì không chỉ ở đây trong Cựu tạp thí dụ kinh, Hội đã nhắc đến thầy mình, mà trong hai tác phẩm hiện còn khác, đó là An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh tự Hội cũng làm thế.

Trong đoạn đầu tiên của An ban thủ ý kinh tự, ta thấy Khương Tăng Hội nói tới việc “chẳng phải (lời) thầy không truyền” (phi sư bất truyền) khi viết An ban thủ ý kinh chú giải. “Thầy” đây không phải chỉ An Thế Cao, như đã có người lầm tưởng và nghĩ rằng những lời chú trong bản chú thích ấy là do Trần Tuệ và Trần Tuệ là học trò trực tiếp của An Thế Cao. Thực tế khi viết “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước”, Khương Tăng Hội chỉ muốn khiêm tốn, chứ nếu Tuệ quả đã “chú nghĩa” An ban thủ ý kinh thì không lý do gì Đạo An và các bản kinh lục về sau lại ghi Hội chú giải kinh ấy.

Thêm vào đó, không có việc Khương Tăng Hội học An ban thủ ý kinh với Trần Tuệ, Hàn Lâm và Bì Nghiệp, mà chỉ có việc “theo xin hỏi” về kinh này với ba người ấy. Hỏi để xác nhận lại những gì mình hiểu do học với thầy mình là đúng đắn. Cho nên, Hội mới viết tiếp: “Thước giống, góc khít, nghĩa không sai khác”. Viết thế cũng có nghĩa Hội đem những hiểu biết do mình học được với thầy ra so sánh với những gì ba người đó nói thì thấy hoàn toàn phù hợp. Vì vậy, tuy nói khiêm tốn, “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm trước”, sự thực Hội đã viết An ban thủ ý kinh chú giải theo những gì thầy mình dạy, sau khi kiểm tra với “ba vị hiền” từ Nam Dương, Dĩnh Xuyên và Cối Kê tới.

Không chỉ viết An ban thủ ý kinh chú giải theo lời thầy, “không phải (lời) thầy thì không truyền, không dám tự do”, Khương Tăng Hội còn viết Pháp kính kinh giải tự chú mà bài tựa Pháp kính kinh tự trong Xuất tam tạng ký tập 6 tờ 46c8-11 nói: “Tang thầy nhiều năm, nên không do đâu mà hỏi lại. Lòng buồn, miệng run, ngừng bút rầu rĩ, nhớ thầy thương Phật, lệ chảy ròng ròng, nay ghi điều mình biết, để lại chỗ nghi ngờ, các bậc minh triết về sau …”. Một lần nữa thầy của Khương Tăng Hội không chỉ dạy ông An ban thủ ý kinh, mà còn dạy Pháp kính kinh. Cho nên, sau này nhu cầu giảng dạy truyền giáo, Hội viết Pháp kính kinh giải tự chú và lấy làm buồn là thầy mình đã mất “không do đâu mà hỏi lại được”.

Việc ghi lại những bình luận của thầy mình sau 13 truyện của Cựu tạp thí dụ kinh, như vậy chứng tỏ nó được thực hiện rất sớm, có thể ngay buổi thuyết giảng vừa xong, bởi vì làm thế nó mới có độ chính xác trung thực cao. Và Khương Tăng Hội là một người có khuynh hướng ưa chính xác trung thực, như lời tựa cho các bản chú giải kinh An ban thủ ý và Pháp kính chứng tỏ. Một khi đã vậy, thì 13 trong số 61 truyện của Cựu tạp thí dụ kinh đã được ghi chép lại từ những năm 220, lúc Hội mới trên dưới 20 tuổi và vừa thọ giới Tỳ kheo xong. Lý do là vì sau những năm 220 ấy “ba thầy” của Hội đều viên tịch, và đến khoảng 227-228 khi viết An ban thủ ý kinh giải, Hội than là “không có ai để hỏi mà học” (vô do chất thọ).

Do đó, quá trình hình thành dịch bản Cựu tạp thí dụ kinh đã diễn ra trong một thời gian dài. Ban đầu, khi các “thầy” của Khương Tăng Hội còn sống, đã đem nguyên bản tiếng Việt Cựu tạp thí dụ kinh ra giảng cho ông và chắc còn cho nhiều môn đồ khác. Sau mỗi buổi giảng xong một truyện, vị thầy đã tóm tắt ý chính, mà truyện nhắm tới. Đôi khi, ngoài tóm tắt ra, ông còn bình luận giải thích thêm, như trường hợp truyện 7 và 13 với một đoạn văn dài gần bằng với truyện chính. Khương Tăng Hội chắc đã ghi những tóm tắt và bình luận giải thích ấy bên lề các truyện của nguyên bản kinh Cựu tạp thí dụ tiếng Việt, mà ông đã sao chép lại. Sau này, do yêu cầu giảng dạy và truyền giáo cho người Trung Quốc, ông đã đem nó ra dịch thành Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Trung Quốc như ta hiện có.

Công tác phiên dịch có thể tiến hành ở Trung Quốc, tại chùa Kiến Sơ của Kiến Nghiệp, kiểu Cao tăng truyện và các bản kinh lục đã ghi. Nhưng sự việc không nhất thiết là vậy, bởi vì nó cũng có thể thực hiện ở nước ta. Lý do nằm ở chỗ nước ta lúc ấy không phải là không có người Trung Quốc, và Khương Tăng Hội không phải là không viết những tác phẩm tiếng Trung Quốc, trước khi “chống gậy Đông du” qua Kiến Nghiệp năm 247, cho những độc giả người Trung Quốc ấy. Cụ thể là bản An ban thủ ý kinh chú giải do Hội viết với sự tham gia ý kiến của Trần Tuệ hẳn nhằm những đối tượng vừa nêu vào những năm 227-228.

Dẫu sao đi nữa, dù dịch ở nước ta trước năm 247 hay ở Trung Quốc sau năm đó, Cựu tạp thí dụ kinh vẫn là một bản văn Khương Tăng Hội quan tâm rất sớm trong sự nghiệp trước tác phiên dịch của mình. Nó đã được thầy ông đem giảng dạy trước khi mất vào khoảng những năm 220 và đã được ông ghi chép lại, để sau này trở thành bản đáy cho việc dịch Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt ra bản tiếng Trung Quốc ngày nay. Trong tình hình tư liệu hiện có, phải nói Cựu tạp thí dụ kinh là văn bản đầu tay, tuy chưa phải là trọn vẹn, mà Khương Tăng Hội đã ghi chép cẩn thận và trân trọng. Chính nhờ sự cẩn thận và trân trọng này, 14 đoạn bình luận của “thầy” ông bây giờ được bảo tồn, làm phong phú cho nền văn học và Phật giáo nước ta.

Có thể có trường hợp những đoạn bình luận ấy có sẵn trong nguyên bản tiếng Việt? Và vị thầy đưa ra 13 đoạn bình luận trên chưa hẳn là thầy của Khương Tăng Hội. Đây là một có thể. Tuy nhiên, do việc Hội nhắc đến thầy mình trong các bài tựa An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh tựï đầy tha thiết nhớ thương, chúng tôi nghĩ vị thầy đưa các bình luận ấy có khả năng thực sự là thầy của Khương Tăng Hội hơn là một vị nào đó có sẵn trong nguyên bản tiếng Việt. Ngoài ra, điều này cũng giải thích cho ta tại sao chỉ 13 truyện có bình luận. Ấy là vì có thể khi đến truyện thứ 13 thì thầy của Hội mất, nên Hội chỉ ghi được chừng ấy lời bình.

Nói tóm lại, bản đáy dùng cho việc dịch ra Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Trung Quốc hiện nay được Khương Tăng Hội chuẩn bị rất sớm, có thể từ những năm trước hay sau năm 220, bằng cách chép lại nguyên bản tiếng Việt của kinh ấy cùng một số lời bình luận của thầy mình. Sau này, khi có cơ hội và do nhu cầu thuyết giảng và truyền giáo, Khương Tăng Hội mới dịch ra tiếng Trung Quốc, có thể trước hay sau năm 247, tại nước ta hay Trung Quốc. Có khả năng lớn là sau năm 247 và ở Trung Quốc, vì văn từ của nó so với Lục độ tập kinh chẳng hạn, tương đối trau chuốt hơn và không có nhiều cấu trúc mang ngữ pháp tiếng Việt nữa, nếu căn cứ vào văn bản hiện nay.

Thế thì, ai là người thực hiện việc dịch nguyên bản Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt? Trong tình hình tư liệu hiện nay, ta chưa thể trả lời được. Chỉ có hai điều ta có thể chắc chắn. Thứ nhất, người thực hiện dịch nguyên bản Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt dứt khoát phải là một người Việt sống vào khoảng thế kỷ thứ II sau Tây lịch, nếu không là sớm hơn. Thứ hai, người này không thể là vị “thầy” của Khương Tăng Hội với những câu bình luận ghi sau 13 truyện của Cựu tạp thí dụ kinh, bởi vì qua các đoạn văn bình luận ấy ta thấy thầy của Hội đã sử dụng một bản văn có sẵn để giảng cho Hội và những người khác, chứ không phải sử dụng chính bản văn do ông dịch hay viết. Cụ thể là truyện 7 kể chuyện Nguyệt Nữ tự cho sự giàu sang của mình là “tự nhiên”. Hội đã ghi thêm đoạn “Thầy nói” để giải thích tại sao. Đoạn này, nếu “thầy” của Khương Tăng Hội viết hay dịch Cựu tạp thí dụ kinh, thì chắc chắn đã được chính thức đưa vào trong cốt truyện chính của truyện, chứ không để nằm trong đoạn văn bình luận, như ta hiện có.

III. VẤN ĐỀ XUẤT XỨ

Cựu tạp thí dụ kinh ngày nay có cả thảy 61 truyện. Trong đó, 11 truyện có tương đương với các truyện bản sinh của truyền thống văn học bản sinh Pàli Jàtaka, đó là truyện 1, 15, 16, 18, 21, 24, 27, 39, 40, 45 và 54, và 3 truyện có tương đương xuất hiện trong Lục độ tập kinh, đó là 2, 40 và 45, riêng các truyện 40 và 45 không chỉ có mặt trong văn học bản sinh Pàli, mà còn trong truyền thống bản sinh Phạn văn. Phân tích các tương đương này đem lại cho ta một số ý niệm về nỗ lực tiến hành cải biên xuất phát từ những yêu cầu khác nhau, từ yêu cầu truyền đạt tư tưởng cho đến yêu cầu thích nghi văn hóa địa phương.

Các yêu cầu này tự thân chúng nói lên không ít quan điểm tư tưởng cũng như thị hiếu thẩm mỹ của những người tiến hành cải biên. Cho nên, so sánh các truyện tương đương sẽ thấy dị bản do đâu xuất hiện, mang trong mình chúng những hàm ý gì, nhắm vào những đối tượng người nghe nào và nhắn gửi cho họ những thông điệp ra sao. Ở đây, chúng tôi chỉ phân tích sơ bộ một số có tương đương chủ yếu trong văn học bản sinh Pàli Jàtaka, mà về niên đại chắc chắn xuất hiện trước các truyện của Cựu tạp thí dụ kinh ít lắm cũng phải trên một thế kỷ, do thế có khả năng đã truyền vào nước ta để làm truyện gốc cho các truyện cải biên của Cựu tạp thí dụ kinh.

Tất nhiên, truyền thống văn học bản sinh Phạn văn đóng một vai trò xung yếu. Nhưng do tính tản mạn và phần lớn hậu kỳ của chúng, ta không thể sử dụng để phân tích mà không đi vào các chi tiết dị bản và niên đại phồn tạp của chúng, một công tác chúng ta chưa thể thực hiện ở đây được. Vì vậy, chúng tôi tạm thời giới hạn vào truyền thống bản sinh Pàli và Lục độ tập kinh, và chỉ nhắc tới truyền thống bản sinh Phạn văn ở những nơi thích hợp, mà không tập trung nghiên cứu truyền thống Phạn văn ấy. Điều này chỉ có thể làm được khi ta tìm hiểu từng truyện một, như chúng tôi đã thực hiện với truyện 23 về trăm trứng của Lục độ tập kinh [2].

1. Truyện 1 » Panõcàvudha (Jàt. 55)

Cốt lõi hai truyện thống nhất với nhau, nhưng về các tình tiết mở đầu thì không giống. Thứ nhất, truyện 1 cho nhân vật có tên là Tát Bạc làm lái buôn đi qua một nước khác, nghe thuyết pháp và thọ năm giới. Vị thầy nói thêm mỗi giới có 5 vị thần, nên 5 giới có 25 vị thần hộ vệ người giữ giới. Thứ hai, khi về nước bèn cùng 500 lái buôn đi qua một nước khác, nhưng phải vượt một đoạn đường có quỉ ăn thịt người. Bèn bảo những người đồng hành nghỉ lại, để một mình đi. Nếu thành công hàng phục quỉ thì sẽ về nước.

Hai tình tiết mở đầu vừa nêu, truyện Panõcàvudh Jàtaka kể khác đi. Thứ nhất, nhân vật là con vua đi Takkhasila học. Thứ hai, trên đường về gặp quỉ đòi ăn thịt.

Còn về cuộc chiến đấu với quỉ, truyện Panõcàvudha Jàtaka cho nhân vật bắn tên, múa kiếm, phóng lao và ném chùy vào quỉ, trước khi dùng tay chân và đầu đánh quỉ và bị mắc kẹt vào mình quỉ. Truyện 1 không có. Cuối cùng, nhân vật cả hai truyện kết thúc bằng việc giáo hóa quỉ thọ năm giới.

Như thế, về cốt lõi thì hai truyện thống nhất nhưng khác về tình tiết mở đầu và chiến đấu.

2. Truyện 2 » Truyện 20 Lục độ tập kinh

Hai truyện hoàn toàn thống nhất với nhau, tuy câu văn dài ngắn có khác. Truyện 2 dài khoảng hơn 500 chữ, trong khi truyện 20 dài trên 700 chữ. Điều này xảy ra do truyện 20 bình luận hơi dài về tai hại của việc mê sắc đẹp, nghe lời “yêu dụ của dâm phụ” v.v …

3. Truyện 15 » Illìsa (Jàt. 78) và Sudhàbhojana (Jàt. 535)

Hai truyện 15 và Illìsajàtaka chủ yếu nhất trí với nhau, cùng tên YLySa (Illìsa), cũng tính bủn xỉn keo kiệt, thấy người ta ăn thịt cá (theo truyện 15) hay uống rượu (theo truyện Illìsajàtaka), bèn giết một con gà nấu cháo (hay mua rượu), rồi đem vào rừng ăn (uống) một mình. Thiên Đế Thích hóa làm một Illìsa khác về nhà tổ chức bố thí hết của cải. Khi Illìsa thật về, thì bị đánh đuổi đi. Sau Thiên Đế hiện nguyên hình giảng đạo cho Illìsa hối lỗi, làm việc thiện.

Chỉ có mấy dị biệt. Thứ nhất, truyện 15 có tình tiết Thiên Đế hóa thành chó đòi ăn cháo gà với Illìsa, mà truyện Illìsajàtaka không có. Thứ hai, truyện Illìsajàtaka cho Illìsa là bộ trưởng ngân khố của vua nên trước khi Thiên Đế giả Illìsa bèn đến vua đòi cho vua của cải của Illìsa thật. Vua không nhận, bèn mới bố thí. Chi tiết này, truyện 15 không có. Thứ ba, khi Illìsa trở về nhà, bị đánh đuổi, bèn đi kiện vua. Vua nhận thấy không ra ai là Illìsa thật, hỏi đến vợ con, vợ con cũng nhận Illìsa không ra. Tức quá, Illìsa thật nghĩ đầu mình có nốt ruồi, chỉ anh thợ hớt tóc biết, bèn nhờ thợ hớt tóc, thợ cũng thua vì đầu nào cũng có nốt ruồi. Chi tiết này, truyện 15 không có.

Truyện Sudhàbhojanajàtaka kể chuyện Macchari Kosiya, bộ trưởng ngân khố của vua Brahmadatta, tính bủn xỉn keo kiệt. Khi thấy ông phó của mình ăn, bèn thèm. Đến mấy ngày sau vợ hỏi, cho nấu cháo đem ra ngoài rừng ngồi ăn, thì gặp năm Bà la môn đi qua là hóa thân của Salcka, Panõcisikha, Canda, Suriya và Màtàhi, đến xin cháo. Đuổi không đi, Kosiya bắt buộc phải cho. Cho xong, Panõcisikha hóa thành con chó, chảy nước dãi trên tay Kosiya. Kosiya phải đi rửa tay, chó bèn đái vào bát cháo của Kosiya. Quá tức, bèn lấy cây đánh thì chó hóa thành ngựa biển lớn nhỏ màu sắc bất thường. Cuối cùng năm Bà la môn hiện nguyên hình thiên thần, giảng đạo cho Kosiya. Kosiya bèn về bố thí và đi tu. Đế Thích (Sakka) có bốn cô con gái là Hy Vọng, Trung Thành, Vinh Quang và Danh Dự, mà không biết cô nào đạo đức nhất, bèn sai Màtali chở bốn cô đến cho Kosiya. Cuối cùng, Kosiya chọn cô Danh Dự, vì có giữ danh dự mới giữ đạo đức.

Rõ ràng, chi tiết con chó trong truyện 15 là từ truyện Sudhàbhojanajàtaka này, tuy những tình tiết khác, đặc biệt là sự xuất hiện 5 Bà la môn và bốn cô gái hoàn toàn không có. Truyện 15 như vậy là một cải biên tổng hợp của hai truyện Illìsajàtaka và Sudhàbhojanajàtaka.

4. Truyện 16 » Ananusociya (Jàt 328), Udaya (Jàt 458), Kanala (Jàt 536)

Truyện 16 có thể chia làm 3 phần. Phần thứ nhất, kể chuyện người con trai và con gái cho đúc hình mình bằng vàng. Chi tiết đúc hình này về phía con trai xuất hiện khá phổ biến trong các truyện của truyền thống Pàli. Cụ thể là các truyện Ananusociyajàtaka và Udayajàtaka. Phần hai kể chuyện hai người lấy nhau, và cô con gái đã gian dâm khi chồng mình vừa đi khỏi, và bị bắt gặp khi chồng trở về bất ngờ. Phần này chưa tìm thấy ở bất cứ truyện Jàtaka nào. Phần ba kể chuyện chồng buồn, nhưng khi thấy vợ vua đi ái ân lén lút với tên giữ ngựa trong chuồng ngựa, bèn mới phát hiện chân lý “nữ nhân không thể cùng mình làm việc được”. Bèn hết buồn, chứng quả duyên giác. Tình tiết về vợ vua gian dâm này rõ ràng lấy từ truyện vợ vua Brahmadatta là Pingiyànì đi ăn nằm lén lút với tên giữ ngựa trong truyện Kunalajàtaka.

Như thế, truyện 16 là một cải biên tổng hợp các truyện Udayajàtaka và Kuralajataka, mà ta hiện biết, và chắc chắn có tham khảo thêm các truyện khác nữa, mà ta chưa rõ xuất xứ.

5. Truyện 18 » Samugga (Jàt. 436)

Truyện 18 có thể chia làm 2 phần. Phần đầu kể chuyện chính phi của vua do thái tử là con mình đưa đi chơi, mà vẫn tỏ ra lẳng lơ. Phần hai kể người con thấy thế bất mãn, bèn trở vào rừng, thấy một Phạm chí xuống hồ tắm, mửa ra một chiếc bình, trong bình có cô gái, bèn ân ái với Phạm chí. Khi Phạm chí mệt ngủ, cô gái lại mửa ra một chiếc bình khác, trong bình có một chàng thanh niên. Cô gái ăn nằm với chàng thanh niên xong, thì lại nuốt bình vào bụng. Chốc sau, Phạm chí thức dậy, lại nhốt cô gái vào bình và nuốt luôn.

Bèn trở về, cho mời Phạm chí đến cung ăn cơm. Phạm chí đến, thấy dọn ba phần cơm, bèn phản đối, nói chỉ có một mình Phạm chí đến. Thái tử bảo Phạm chí mửa cô gái ra. Bất đắc dĩ, bèn mửa. Rồi đến lượt cô gái, thái tử lại đòi. Bất đắc dĩ, cô mửa ra. Thấy vậy, thái tử mới hiểu ra “nữ nhân gian trá không thể chấm dứt” và truyện kết luận: “Thiên hạ không thể tin nữ nhân”.

Phần hai của truyện 18 hầu như thống nhất hoàn toàn với truyện Samuggajàtaka, tuy đã đổi thay tên nhân vật. Thứ nhất, Phạm chí của truyện 16 là con quỉ Asura ăn thịt người, đón đường bắt được người đàn bà đẹp, bèn lấy làm vợ. Để giữ nàng, bèn bỏ vào một chiếc hộp, rồi nuốt vào bụng. Thứ hai, một hôm Asura cùng nàng đi tắm, tắm xong để nàng đi chơi, gặp con thần gió Vàyu, nàng ngoắt xuống, cho vào nằm trong hộp. Asura tắm xong, nàng chui vào hộp, Asura nuốt vào bụng như thường lệ. Thứ ba, Asura đến thăm một đạo sĩ ở gần. Đạo sĩ chào cả ba người. Asura lấy làm lạ, hỏi. Cuối cùng, cả người con thần gió lẫn cô gái nhảy ra. Asura mới vỡ lẽ, bèn thọ năm giới với đạo sĩ.

Như thế, tuy thay đổi tên nhân vật, cốt lõi của truyện Samuggajàtaka thống nhất với phần hai của truyện 18. Phần đầu xuất xứ hiện chưa rõ.

6. Truyện 21 » Kharaputta (Jàt. 386)

Hai truyện chủ yếu thống nhất với nhau, tuy có một số tình tiết dị biệt. Thứ nhất, không phải con gái vua rồng được vua người cứu khỏi đám chăn trâu đánh như truyện 21 ghi, mà chính vua rồng được cứu theo truyện Kharaputta. Thứ hai, để đền ơn, vua rồng cho một long nữ đến sống với vua người, mà truyện Kharaputta gọi là Senaka. Thứ ba, truyện Kharaputta kể long nữ đến sống với vua người, lại tư thông với rắn nước, nên bị đánh, bèn về nước rồng, báo vua rồng, trong khi truyện 21 lại ghi con gái vua rồng tố vua rồng là mình bị vua người đánh. Thứ tư, để rõ thực hư, theo truyện 21 thì vua rồng đã hóa thành rắn đi nghe vua người kể chuyện với vợ, trong khi truyện Kharaputta cho vua rồng gửi bốn rồng trẻ đến để giết Senaka. Khi bốn rồng này vào phòng ngủ thì nghe Senaka kể chuyện gian dâm của long nữ với vợ, bèn trở về kể cho vua rồng.

Vua rồng vỡ lẽ, bèn xin lỗi và truyền cho vua người khả năng nghe được tiếng loài vật. Truyện Kharaputta kể, vua nghe kiến và ruồi nói chuyện với nhau, trong khi truyện 21 chỉ ghi nghe chuyện ruồi thôi. Nghe chúng nói chuyện, vua cười. Hoàng hậu đòi biết, vua bảo nếu tiết lộ, mình sẽ chết. Nhưng hoàng hậu đòi riết, vua bèn hứa sẽ nói, khi đi chơi về. Khi đi chơi, theo truyện 21 thì vua gặp một đàn dê do vua rồng hóa ra, có con dê cái đòi dê đực đưa mình qua sông, nếu không đưa, nó sẽ tự sát. Dê đực nói nó không ngu như ông vua kia đâu, muốn tự sát thì tự sát. Vua hiểu ra là “Đàn ông làm theo ý đàn bà để giết thân mình”. Còn truyện Kharaputta thay vua rồng bằng vua trời Sakka và cho biến thành dê đực làm tình với dê cái trước mặt con dê kéo xe của vua Senaka. Dê của vua Senaka phản đối cho đó là ngu si đáng hổ thẹn. Dê đực phản đối, nói nó ngu si chưa bằng vua Senaka ngu si mà tiết lộ phép nghe hiểu tiếng nói động vật vì đòi hỏi của vợ. Vua Senaka hiểu ra, bèn về nói vợ muốn biết phép phải chịu đòn một trăm roi. Vợ đồng ý, nhưng mới đánh mấy roi đã khóc, không chịu nữa.

Như thế, tuy có một vài xuất nhập, hai truyện căn bản nhất trí với nhau. Hiện tượng cải biên đã xảy ra, dẫu không triệt để lắm.

7. Truyện 24 » Vedabbhajàtaka 48

Truyện 24 là cải biên tóm tắt của truyện Vedabbha, chỉ kể chuyện Phật đi vào trong cỏ. A Nan hỏi, Phật đáp: “Trước có cướp. Sau ba Phạm chí sẽ bị giặc bắt”. Ba người đến sau, thấy bên tường có đống vàng. Một người vào làng mua cơm, nghĩ bỏ thuốc độc để giết hai người kia. Hai người kia cũng nghĩ giết người này. Cuối cùng cả ba người đều chết.

Truyện Vedabbhajàtaka kể dông dài hơn, chuyện hai thầy trò Bà la môn bị một toán cướp 500 tên bắt. Thầy dùng phép làm mưa vàng cho chúng, bèn được thả ra. Nhưng sau đó, bọn cướp này bị bọn cướp 500 tên khác chặn bắt, chúng chỉ Bà la môn. Bọn sau bắt Bà la môn, nhưng Bà la môn không làm mưa vàng được nữa nên bị giết. Rồi chúng đuổi theo bọn cướp trước, giết sạch và cướp vàng. Sau đó, chúng lại giết nhau. Cuối cùng chỉ còn hai tên, một tên vào làng mua cơm, nghĩ cách giết tên còn lại bằng cách trộn thuốc độc vào cơm. Tên ở lại giữ vàng cũng nghĩ cách giết tên mua cơm, nên khi tên mua cơm vừa về, nó giết liền. Giết xong, bèn ăn cơm, rồi cũng chết.

Truyện Vedabbhajàtaka còn cho người học trò sống, để đi lấy tiền chuộc và để kết luận, vì thầy không nghe lời trò, nên không những thầy chết, mà còn làm chết theo một ngàn tên cướp.

8. Truyện 27 » Macchuddànajàtaka 288

Truyện 27 kể hai mẹ con. Người mẹ nói mình không bao giờ mất gì. Cậu con lấy chiếc nhẫn của mẹ quăng xuống sông, rồi hỏi mẹ có mất gì. Mẹ trả lời không mất. Mấy ngày sau, nhân mời các vị Mục Liên, A Na Luật và Ca Diếp đến nhà ăn cơm, bà sai người ra chợ mua cá về làm. Mổ bụng cá thì được lại chiếc nhẫn.

Lý do việc không mất gì này, truyện 27 kể tiếp là do kiếp trước bà nguyên là một bà góa già và nghèo ở phía bắc một ngọn núi. Dân vùng đó đến mùa đông đều dời về ở phía nam. Một mình bà ở lại giữ đồ đạc của cải của những người đã đi, đến mùa xuân họ về thì trả lại đầy đủ không thiếu một món. Nên kiếp này bà không bao giờ mất gì.

Truyện Macchuddànajàtaka kể chuyện hai anh em. Người em muốn lấy gói tiền của anh, bèn làm một gói đá y như gói tiền của anh, rồi khi qua sông bèn đánh rơi gói tiền xuống sông, mà nghĩ là gói đá. Đến khi về nhà, nó mở gói nó giữ lại thì ra là gói đá. Trong lúc đó, người anh về nhà mình thì có người đánh cá đem đến bán cho một con cá. Mổ bụng ra, thấy lại gói tiền mình. Thần sông Hằng mới nói bài kệ: “Kẻ ác không giàu”.

Nhân vật và tình tiết, hai truyện khác nhau, nhưng rõ ràng cốt lõi là thống nhất, việc mất của được trả lại thông qua một con cá.

9. Truyện 39 » Kacchapa (Jàt. 215)

Chuyện cò đem rùa đi trong văn học dân gian Việt Nam có thể nói chắc chắn phải xuất hiện vào thế kỷ thứ III sau Tây lịch, vì nó là truyện 39 ở đây. Truyện 39 chủ yếu thống nhất với truyện Kacchapajàtaka, tuy có một vài tình tiết dị biệt. Thứ nhất, truyện 39 có ba ba (tệ) thay cho rùa của truyện Kacchapajàtaka. Thứ hai, truyện Kacchapajàtaka nói rùa ở Hy Mã Lạp Sơn, vịt trời đến hẹn rùa đi thăm nhà mình. Trong khi chuyện 39 nói ba ba gặp mùa khô hạn xin cò giúp đem đi đến chỗ có ăn. Thứ ba, theo Kacchapajàtaka thì rùa rơi vào cung vua. Vua đến xem và được dạy cho một bài học về tội nói nhiều. Truyện 39 chỉ kể ba ba rơi xuống, người ta bắt được, đem xẻ nấu ăn.

Chuyện rùa vì không cẩn thận khi ăn nói, mà bị thiệt thân, các nền văn học Đông Tây đồng thời và trước thời với Khương Tăng Hội đều có. Phạn bản Pànõcatantra có kể tới [3]. Trong văn học phương Tây, Babrius [4] và Phaedus [5] có ghi. Văn học Việt Nam cũng thế. Và bây giờ ta có thể khẳng định là truyện này, nếu không lưu hành trước thời Khương Tăng Hội, thì cũng phải lưu hành vào thời Khương Tăng Hội trở đi với Cựu tạp thí dụ kinh, tức khoảng những năm đầu của thế kỷ thứ III sau Tây lịch.

10.Truyện 40

» Mahàsutasomajàt 537

» Jayaddisa (Jàt. 513)

» Angulimàla-suttam, MN 86, 11.1.97

» Jàtakamalà 31

Truyện 40 là một trích đoạn của truyện 41 trong Lục độ tập kinh về việc vua Phổ Minh đi xem dân sướng khổ thế nào, bị A Quần bắt, vua xin về gặp Phạm chí nghe kệ, rồi sau trở lại gặp A Quần. A Quần ngạc nhiên, kinh phục và nhờ bài kệ đã giác ngộ.

Truyện 40 ở đây không nói rõ tên, chỉ nói vua và quỉ ăn thịt người, và cũng không có bài kệ. Chỉ kết thúc bằng câu: “Quỉ thấy vua đến, cảm sự chí thành, lễ tạ, không dám ăn”.

11. Truyện 45 » Sasajàtaka 316 » Jatakamàlà 6

Truyện 45 hầu như thống nhất hoàn toàn với truyện 21 của Lục độ tập kinh, tuy hành văn có một ít ngữ cú xuất nhập.

12. Truyện 54 » Lohakumbhi (Jàt. 314)

Cốt lõi của hai truyện thống nhất với nhau, tuy có mấy dị biệt sau. Thứ nhất, truyện 50 có 6 người trong địa ngục, trong khi Lohakumbhijàtaka chỉ có 4 người, nói thêm 4 người này rơi vào địa ngục vì đã “gian dâm với vợ người khi còn ở trần thế”. Thứ hai, vì có bốn người, truyện Lohakumbhijàtaka chỉ có bốn bài kệ giải thích bốn âm thanh do bốn người đó thốt ra là dà, du, na, so trong khi truyện 54 có 6 người nên có sáu âm thanh, mà ngoài bốn âm vừa kể, còn thêm âm cô và đà la và có sáu bài kệ.

Ngoài ra truyện Lohakumbhijàtaka còn có phần mở đầu kể chuyện vua Ba La Nại nghe bốn âm thanh trên, bèn tính làm lễ tế thần theo lời khuyên của các Bà la môn. Bồ tát thấy vậy liền đến vườn ngự uyển. Có một đệ tử trẻ tuổi của vị Bà la môn tư tế của vua không đồng ý lễ ấy, bèn đến Bồ tát. Cuối cùng, anh ta đem cả vua đến và được giải thích thỏa đáng nguồn gốc các âm thanh ấy, cứu sống được các con vật sắp bị đưa đi tế thần.

Qua phân tích 12 tương đương trên, nổi bật rất rõ nét một đặc trưng của Cựu tạp thí dụ kinh là văn từ gọn nhẹ, cốt truyện được giản đơn hóa tới mức tối đa, bỏ những chi tiết rườm rà, mà vẫn giữ nguyên vẹn cấu trúc câu truyện. Truyện 39 chẳng hạn đã tước bỏ chi tiết địa phương của rùa là Hy Mã Lạp Sơn. Truyện 24 rút ngắn cốt truyện mà vẫn giữ nguyên cấu trúc. Thậm chí có truyện như truyện 16 là một cải biên tổng hợp các truyện Ananusociyajàtaka, Udayajàtaka, và Kunalajàtaka với một số thêm bớt tình tiết, mà vẫn bảo tồn tính gọn nhẹ của văn từ cũng như câu truyện. Sự tình này đưa chúng ta đến hai kết luận khá lôi cuốn.

Thứ nhất, giống như Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh là một tập hợp các truyện kể lấy từ nhiều nguồn kinh điển Pàli và Phạn văn khác nhau, rồi được cải biên để thích nghi với truyền thống văn hóa địa phương. Đôi khi, nó lấy ngay cốt truyện tại địa phương và Phật giáo hóa để gửi gắm một giáo lý nào đó của Phật giáo, như truyện 7, dù không rõ ràng cho lắm. Truyện 7 này có thể là một hóa thân của truyện An Tiêm trong Lĩnh Nam chích quái. Nhưng cũng có thể truyện An Tiêm lại là một hóa thân của nó. Đây là điểm khó khăn ta chưa giải quyết dứt khoát được.

Thứ hai, vì là một tập hợp các truyện kể, Cựu tạp thí dụ kinh không nhất thiết được dịch trực tiếp từ một nguyên bản Pàli hay Phạn văn một cách trọn vẹn và trung thành. Ngược lại, có khả năng người tập hợp, một tác giả Việt Nam trước thời Khương Tăng Hội, nhưng không thể là “thầy” Khương Tăng Hội, đã rút các truyện của mình từ những truyền thống văn học khác nhau. Có truyện ông dịch trực tiếp từ các truyền thống ấy. Có truyện ông cải biên. Có truyện ông tổng hợp các truyện của những truyền thống ấy thành một truyện mới. Thậm chí, có truyện ông lấy cốt truyện từ nền văn học địa phương, để rồi Phật giáo hóa với một nội dung giáo lý Phật giáo. Tất cả là để chuyển tải và truyền đạt một số quan điểm giáo lý Phật giáo mà ông thấy cần.

IV. NỘI DUNG CỰU TẠP THÍ DỤ KINH

Cựu tạp thí dụ kinh hiện nay chia làm hai quyển thượng và hạ. Quyển thượng gồm từ truyện 1 đến 34. Quyển hạ từ 35 đến 61. Nó như vậy có cả thảy 61 truyện theo cách đánh số của bản in Đại Chính ngày nay. Nhưng một kiểm tra kỹ cho ta đến 65 truyện bởi vì bốn truyện 8, 9, 14 và 39 là bốn truyện đôi. Trừ 7 truyện cuối sách có tiêu đề riêng là truyện “thí dụ bẻ gãy la hán” nhằm nêu những giới hạn của quả vị la hán, và hai truyện 2 và 45 là những truyện tiền thân đích thực, 56 truyện còn lại là những truyện thí dụ thuần túy. Gọi là thí dụ, thực tế chúng là những truyện ngụ ngôn, ngắn có dài có, với mục đích nhắn gửi một lời khuyên, một cảnh giác thông qua câu chuyện. Những lời nhắn gửi này đôi khi không nhất thiết chỉ mang nội dung đặc biệt Phật giáo, mà còn bộc lộ một sự khôn ngoan chung, một dạng minh triết, mà bất cứ dân tộc nào cũng có thể có.

Vì thế trong 56 truyện loại ngụ ngôn trên, có những truyện xuất hiện trong nhiều dân tộc khác nhau, như truyện 39, cò đem baba đi kiếm ăn. Có truyện không giống nội dung Phật giáo và cũng chẳng có thông điệp nhắn gửi gì đặc biệt Phật giáo, như truyện 10, 19, 26 chẳng hạn. Có những truyện có nguồn gốc địa phương, nhưng đã được Phật giáo hóa để gửi gắm một đạo lý, một quan điểm sống Phật giáo, như truyện 7, 29 v.v … Cuối cùng, có những truyện xuất phát từ đời sống Phật giáo thực được viết thành truyện để gửi gắm một tư tưởng, một nhận định thực tiễn có giá trị khuyên răn, cảnh giác như truyện 36, 49 …

Nói vậy, cũng có nghĩa về mặt nội dung Cựu tạp thí dụ kinh tuy tự thân mang danh một bản kinh, nhưng thực tế là một tác phẩm văn học chứa đựng nhiều nhân tố phi Phật giáo. Nó do thế phong phú hơn nhiều so với các bản kinh khác. Ngay cả khi đối chiếu với Lục độ tập kinh, nó dù đơn giản vẫn vượt trội tính đa dạng, không chỉ về mặt giáo lý, mà còn về mặt tư tưởng chung. Sự thực, ta phân tích nội dung của một truyện như truyện 39 kể việc cò đem baba đi kiếm ăn. Baba do không giữ được miệng mình, nên đã bị rơi mất xác, thì ý nghĩa truyện không còn đơn thuần giới hạn vào trong giáo lý đặc biệt đạo Phật nữa, mà đã tỏa ra, mang một tính nhân loại phổ quát.

Tuy nhiên, với tư cách một bản kinh, Cựu tạp thí dụ kinh tự bản thân có những lời giáo huấn đặc biệt Phật giáo. Ngay truyện đầu, nó muốn nhấn mạnh đến giá trị của việc tuân thủ các điều răn của Phật giáo thông qua việc thắng được cả quỉ dữ. Đề cao vai trò của giới luật là một thông điệp giáo lý đầu tiên của Cựu tạp thí dụ kinh. Ngoài truyện 1, nó còn có các truyện 13, 40, 41. Việc nhấn mạnh này có thể hiểu được, khi ta nhớ rằng quan hệ xã hội bình thường phải dựa trên một số nguyên tắc. Mà các nguyên tắc này, người Phật giáo gọi là giới, một dạng pháp qui bắt buộc, nhưng lại mang tính tự nguyện.

Thực tế, đúng với tinh thần Lục độ tập kinh, những dạng pháp qui này không chỉ áp dụng giới hạn thuần túy vào cách hành xử của từng cá nhân, mà còn có tham vọng trở thành khả thi đối với toàn xã hội: “Năm giới, mười lành làm quốc chính, làm chính sách quốc gia” (truyện 41). Quan niệm giới này vượt ra ngoài phạm vi của khái niệm giới nguyên thủy với nội hàm “phòng phi chỉ ác” đơn giản tôn giáo. Ngược lại, nó muốn vươn tới việc biến hệ thống giới luật Phật giáo thành một hệ thống pháp luật chính trị quốc gia. Đây là một nét đặc trưng của Cựu tạp thí dụ kinh cũng như Lục độ tập kinh, hai bộ kinh xuất phát từ nước ta.

Sự tình này phải chăng không chỉ phản ảnh ước muốn xây dựng một hệ thống pháp luật quốc gia dựa trên đức lý Phật giáo, mà còn thể hiện một thái độ chính trị, đối với hệ thống pháp luật Trung Quốc đã được đưa vào nước ta sau khi Mã Viện đánh bại Hai Bà Trưng vào năm 42? Hệ thống pháp luật Việt Nam trước năm 42 ta biết tồn tại qua bộ Việt luật. Nhưng nội dung bao gồm những điều khoản gì thì ngày nay ta chưa truy ra được do thiếu tư liệu. Chỉ biết sau năm 42, truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư 54 tờ 8b6-7 nói Viện “điều tấu Việt luật với Hán luật sai khác hơn 10 điều. Bèn cùng người Việt giải rõ cựu chế để ước thúc. Từ đó về sau, Lạc Việt vâng làm việc củ của Mã tướng quân”.

Hán luật, ngay từ thời Lý Hiền (651-684) viết chú thích Hậu Hán thư 1 hạ tờ 1a11 đã nói: “Hán luật nay mất”. Cho nên, ta hiện khó có thể giả thiết điều khoản nào của Hán luật có khả năng khác với Việt luật. Điều ta có thể chắc chắn là người Việt đã có một bộ luật gọi là Việt luật và họ có một tổ chức chế độ chính trị pháp qui gọi là “cựu chế” và Mã Viện đã tiến hành cải cách “hơn 10 điều”, dựa trên cơ sở Hán luật. Việc đưa những yếu tố Hán luật vào Việt luật, sau khi đánh sụp hệ thống nhà nước Hùng Vương, tất không thể nào được nhân dân ta nhận đón một cách vui vẻ và biết ơn.

Từ đó, tất yếu phải hình thành một thái độ chính trị đối kháng chống lại hệ thống pháp luật mới đưa vào ấy thể hiện qua việc kêu gọi sử dụng “năm giới mười lành làm quốc chính” của Phật giáo. Việc kêu gọi này thực chất là một phê phán nghiêm khắc hệ thống pháp luật Trung Quốc do Mã Viện áp đặt, coi nó không xứng đáng để làm “quốc chính”. Lối biểu thị này vào giai đoạn lịch sử ấy là một hệ quả tất nhiên, một mặt do hệ thống kềm kẹp của kẻ thù và mặt khác do lực lượng đối kháng dân tộc chưa biến thành sức mạnh vũ trang đập tan được hệ thống kiềm kẹp đó.

Nói khác đi, nếu trước mắt chưa thể làm sống lại hệ thống pháp luật dân tộc của Việt luật, thì ít nhất cũng biểu lộ một quan điểm đối với hệ thống pháp luật do Mã Viện cải cách. Việc này được thực hiện bằng cách kêu gọi sử dụng hệ giới luật “năm giới mười lành làm quốc chính”, để “đưa nước tới thái bình” (truyện 1), “tới long bình” (truyện 41). “Năm giới mười lành” do vậy không chỉ làm cho mỗi cá nhân trở nên tốt lành thánh thiện, mà còn tạo nền thái bình cho quốc gia, cho dân tộc. Khẳng định như thế cũng có nghĩa quốc gia này, dân tộc này không thể thái bình được, nếu cứ sống dưới hệ thống Hán luật của Trung Quốc.

Vậy việc biến một hệ giới luật mang tính tôn giáo thành một hệ “quốc chính”, một hệ pháp qui chính trị nhà nước rõ ràng vượt ra ngoài ý nghĩa “phòng phi chỉ ác” nguyên thủy của quan niệm giới luật Phật giáo và bộc lộ một thái độ chính trị phê phán Hán luật đương thời của dân tộc ta thông qua kinh điển Phật giáo. Chỉ nhìn dưới góc độ này ta mới thấy tại sao Lục độ tập kinh và Cựu tạp thí dụ kinh lại đầy dẫy những phát biểu về việc sử dụng “năm giới mười lành làm quốc chính” mà các bản kinh khác dịch ở Trung Quốc không có hoặc có một cách hết sức mờ nhạt.

Ngay trong truyền thống văn học bản sinh Phạn văn hay Pàli, quan niệm “quốc chính” “đưa nước tới thái bình” ấy cũng vắng mặt một cách đáng tò mò. Phân tích truyện 1 của Cựu tạp thí dụ kinh và truyện Panõcavudhajàtaka của văn học bản sinh Pàli chẳng hạn, ta thấy quan niệm ấy không xuất hiện trong văn học bản sinh Pàli, trong khi truyện 1 nói rất rõ “vâng giới (năm giới mười lành …) nước đi tới thái bình”. Đây là một cải biên có hàm ý chính trị, chứ không phải đơn thuần có tính ngẫu nhiên, tuỳ tiện. Nó nhằm bộc lộ một ước muốn, một thái độ chính trị của người tiến hành cải biên, khẳng định có một lối quản lý đất nước, ngoài phương thức quản lý hiện hành và ưu việt hơn nó.

Khuynh hướng chính trị hóa hệ tư tưởng Phật giáo, đặc biệt hệ thống giới luật, là một nét đặc trưng của các tác phẩm Phật giáo tại nước ta trong mấy thế kỷ đầu. Khi buộc phải xác định cái đạo của ông là gì, Mâu Tử trong điều 4 của Lý hoặc luận đã nói: “(Cái đạo đó) tại gia có thể dùng để thờ cha mẹ, giúp nước có thể dùng trị dân, ở riêng một mình có thể dùng để tu thân”. Thế là đạo Phật của Mâu Tử vào những năm 198 được xác định rõ ràng là một đạo có thể để tu thân, tề gia và trị quốc, một đường lối để hoạt động chính trị. Có tu thân đi nữa cũng để nhằm mục đích trị quốc, giúp nước. Cần ghi nhận là vào lúc đó, Mâu Tử chưa nói tới “bình thiên hạ”.

Đến Lục độ tập kinh, không những lý tưởng và mục đích “dân giàu nước mạnh” (truyện 8, 11, 15 và 53), “đất nước thái bình” (truyện 10, 15) được khẳng định mạnh mẽ, mà phương thức để đạt tới lý tưởng ấy cũng được chỉ ra rõ ràng. Đó là phải “lấy năm giới mười lành làm quốc chính” (truyện 9), lấy “mười lành làm minh pháp” (truyện 15), “lấy mười lành làm quốc pháp” (truyện 23), “thực hiện mười lành làm trị pháp” (truyện 82), lấy “năm lời dạy làm trị chính” (truyện 91). Và khi “mọi người giữ mười lành” thì “vua nhân, tôi trung, cha nghĩa, con hiếu, chồng tín, vợ trinh” (truyện 70).

Thế là Phật giáo được trình bày như một hệ thống điển huấn, một hệ thống pháp luật có thể sử dụng để quản lý đất nước, quản lý xã hội, chứ không phải chỉ như một hệ thống niềm tin, hệ thống giáo lý. Khi làm vậy, dù không nói trắng ra, tác giả Lục độ tập kinh chắc chắn có một mục đích, một ý đồ. Mục đích đó, ý đồ đó là kiên quyết không để cho hệ thống điển huấn Trung Quốc, hệ thống pháp luật nhà Hán áp đặt lên dân tộc ta, hạn chế tới mức tối đa những nọc độc nô dịch do chúng phun ra, và chuẩn bị cơ sở lý luận cho một hệ thống nhà nước Việt Nam mới, khi hệ thống nhà nước Hùng Vương đã bị đánh vỡ và chưa được phục hồi.

Như vậy, trong những giờ phút đụng độ đầu tiên đầy cam go khốc liệt này của dân tộc ta với kẻ thù phương Bắc, Phật giáo đã xuất hiện như một vũ khí sắc bén, có khả năng tác chiến cao. Và thực tế, đến khoảng những năm 190 hệ thống điển huấn và pháp luật Phật giáo đã tỏ ra có sức lôi cuốn mạnh mẽ, đến nỗi một thứ sử như Chu Phù đã “vứt điển huấn của tiền thánh, bỏ pháp luật của Hán gia”, để chấp nhận nó nhằm cho việc “trợ hóa”, như Giang biểu truyện đã ghi, mà Bùi Tùng Chi trong Ngô chí 1 tờ 12a9-10 và Lý Hiền trong Hậu Hán thư 60 hạ tờ 20a1-2 đã dẫn ra. Đây là một sự trưởng thành vượt bậc của không chỉ Phật giáo, mà của nền văn hóa dân tộc ta.

Sự trưởng thành ấy không chỉ của Phật giáo, bởi vì hệ thống giới luật Phật giáo, tuy có những tác động xã hội chính trị nhất định, nhưng đó không phải là chủ yếu. Đối tượng chủ yếu mà hệ thống giới luật này nhắm tới đầu tiên và sau cùng, là đời sống của từng cá nhân và quan hệ của những cá nhân này với xã hội. Cho nên, nói đến “quốc chính”, “quốc pháp” và muốn “năm giới mười lành thành quốc chính, quốc pháp” của Cựu tạp thí dụ kinh rõ ràng phản ảnh một nỗ lực vận dụng lý luận và tư tưởng Phật giáo thực tiễn vào nền chính trị nước ta, vào nền văn hóa dân tộc ta, nhằm đáp ứng yêu cầu bức thiết của sinh hoạt chính trị dân tộc ta vào thời điểm đó. Nó biểu lộ một cố gắng tổng hợp hệ thống đức lý của Phật giáo với tinh hoa văn hóa Hùng Vương và thực tiễn chính trị nước ta, lúc Cựu tạp thí dụ kinh ra đời.

Nhưng Cựu tạp thí dụ kinh vẫn là một bản kinh Phật giáo. Cho nên, những gửi gắm chính trị vừa nêu không đánh mất được quan tâm giáo lý của nó, mà nổi bật nhất là các chủ đề tham dục, bố thí, nghiệp quả và giác ngộ. Tham dục là lòng ham muốn có thể do “mùi thơm của vài ba hạt cơm” đối với môt chú tiểu trong truyện 6, có thể do quan hệ nam nữ trong truyện 20 đối với người nữ, hay truyện 21, đối với người nam. Một khi đã lầm lạc, lòng ham muốn ấy nhất định dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng tai hại đau thương. Vì thế phải làm chủ lòng ham muốn, đừng để bị lầm lạc. Nói như vị thầy của chú tiểu, “phải giữ lòng đúng đắn, đừng để dao động”. Dao động thì dễ sa ngã.

Bên cạnh lòng ham muốn cho chính mình là lòng nghĩ tới người khác, lòng vị tha, muốn giúp đỡ cúng dường những người khác. Một loạt truyện gồm những số 3, 6, 7, 9, 12, 14, 15, 32, 42 v.v … trình bày những khía cạnh khác nhau của sự biểu lộ lòng vị tha đó, từ việc cúng dường thức ăn cho sa môn Phạm chí (truyện 3) đến việc cho chó ăn vẫn tiếc (truyện 15), việc đem “quả ngọt” trị bệnh cho người đau (truyện 9) v.v… Chúng mô tả những dạng thức tâm lý phức tạp liên hệ đến lòng ham muốn của cải, trở ngại số một trên con đường đi đến giác ngộ của những người Phật giáo. Sắc đẹp, danh vọng, ăn và ngủ phải đứng sau lòng ham muốn số một ấy. Và bố thí là một phương thuốc đối trị hữu hiệu trên đường dẫn đến giác ngộ.

Dẫu thế phải công bằng mà nói, quá trình giác ngộ Phật giáo không đòi hỏi nhất thiết phải vượt qua một quá trình trị liệu lâu dài, tập hợp được nhiều công đức, làm được nhiều việc thiện. Chỉ cần nghe tiếng va chạm của chiếc vòng tay người con gái giặt áo quần bên sông, người ta cũng có thể giác ngộ (truyện 28). Hay buổi sáng nhìn vườn nho đầy trái, hồ sen đầy hoa, buổi chiều có kẻ đến bẻ hái sạch, người ta cũng giác ngộ. Thậm chí do ngộ nhận mà vẫn giác ngộ, như trường hợp hai vợ chồng của truyện 9b. Lạ lùng hơn là ba anh say rượu vẫn được Phật dự kiến sẽ giác ngộ (truyện 8a). Thậm chí một anh thấy chùa có chiếc vạc bằng vàng muốn ăn cắp, bèn vào tu ở chùa với mục đích đó. Vậy mà, nhờ nghe thầy giảng, bèn lại giác ngộ (truyện 36). Mầu nhiệm và dị thường không kém là việc con chó nằm dưới giường nghe chủ nó là một sa môn tụng kinh, thoát được kiếp chó, làm một người con gái và cuối cùng cũng giác ngộ (truyện 8b).

Con đường giác ngộ của Phật giáo do thế muôn hình muôn trạng, không nhất thiết có một giới hạn nhất định nào. Có người rất nhanh chóng, trong sát na nghe tiếng vòng va chạm là giác ngộ. Nhưng có người phải trải qua một quá trình đấu tranh gian khổ chống lại những thói hư tật xấu của bản thân mình như Y Ly Sa của truyện 15. Cuộc tranh cãi đốn tiệm về sau trong thiền giới, bao gồm cả thiền của Trí Khải lẫn thiền của Bồ Đề Đạt Mạ tại Trung Quốc đã có giải pháp trong Cựu tạp thí dụ kinh, dù trên thực tế nó chưa sử dụng tới những cặp từ chuyên môn đó. Giải pháp ấy nằm trong việc thừa nhận tính đa dạng của quá trình giác ngộ. Nói như truyện 36, “mỗi một giác ngộ có nguyên nhân của nó” (giác ngộ các hữu nhân). Vì thế, trong lịch sử Phật giáo thiền tông nước ta đã không xảy ra cuộc đấu tranh đốn tiệm dai dẳng như đã thấy ở Trung Quốc.

Quá trình giác ngộ đa dạng, cho nên mức độ giác ngộ có khác nhau. Chỉ có một giác ngộ trọn vẹn, đó là sự giác ngộ của Phật. Đây hẳn là quan điểm của Cựu tạp thí dụ kinh, bởi vì bảy truyện cuối cùng của nó là để “bẻ gãy la hán”. Gọi “bẻ gãy la hán” thực chất nhằm chứng minh quả vị la hán chưa phải là quả vị tuyệt đối của sự giác ngộ hoàn toàn. Bắt đầu với truyện 55, nó đánh giá trí tuệ của A la hán Xá Lợi Phất như “sắt đồng chì thiếc”, khi so với “vàng ròng” của trí tuệ đức Phật. Tiếp đến, truyện 56 đánh giá thần thông của Mục Kiền Liên với câu: “Thế Tôn nói ta thần thông số một, thế vẫn chưa đáng nói … Ai phát tâm nên có chí như Phật, chứ đừng bắt chước ta, mà thành thứ giống hư”.

Truyện 57 kể chuyện một vạn la hán thấy rồng Bạt Kỳ bạo ngược, muốn đi cứu nó. Không những không cứu được, mà còn suýt bị nó chế ngự, nếu không có sự can thiệp của đức Phật. Cuối cùng, đức Phật kết luận: “Một vạn la hán đó muốn cứu các tội của rồng, nhưng sức không gánh nổi”…Truyện 58 kể có một nước “nhân dân giàu có …, nhưng tính hạnh ngang ngược, hung bạo, khó dạy”. Đức Phật bèn gửi Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, rồi Ca Diếp, ba A la hán đều thất bại. Cuối cùng đức Phật sai Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và thành công. “Năm trăm la hán gục xuống đất, rơi lệ, nói: Oai thần Bồ tát dạy dỗ còn như vậy, huống nữa là đức Như Lai có thể kể hết sao được? Chúng ta là giống hư không ích lợi cho mọi người”.

Quan điểm la hán là một thứ “bại chủng”, truyện 59 nhấn mạnh bằng hình ảnh đức Phật rơi lệ khi thấy các đệ tử “không thể kể xiết” lại hướng đến quả vị A la hán. Truyện 60 ghi nhận phước báo to lớn của việc cúng dường dấu chân Phật, trong khi truyện 61 kể chuyện một thiên thần xuống đầu thai, mà Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên không biết. Tất cả những nhận định này về quả vị A la hán, từ việc đánh giá nó là một thứ giống hư cho đến tính giới hạn và bất lực của quả vị này trước một số những công việc phải thực hiện cho ta thấy quan điểm Phật giáo Việt Nam đã phê bình gay gắt lý tưởng và phẩm chất A la hán, mà trong các kinh điển thuộc Nikaya và A hàm được đánh giá rất cao. Điều này có nghĩa khi Phật giáo mới truyền vào nước ta lý tưởng Bồ tát chắc chắn đã được đề cao và truyền bá rộng rãi, cho nên mới dẫn đến tình trạng có sự hạ thấp và phê phán gay gắt như thế. Đây là sự tình ta cần chú ý, khi nghiên cứu lịch sử Phật giáo cũng như tư tưởng dân tộc ta vào những thế kỷ đầu sau dương lịch.

Điểm đáng lưu ý hơn nữa là Cựu tạp thí dụ kinh với truyện 60 là văn bản đầu tiên hiện biết nhắc tới danh hiệu đức Phật A Di Đà trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đây cũng là một trong những nguồn tư liệu bằng minh văn đầu tiên nhắc tới tên đức Phật này. Cựu tạp thí dụ kinh do thế trở thành một văn bản quan yếu cho việc nghiên cứu quá trình hình thành tín ngưỡng A Di Đà không chỉ ở nước ta, mà còn trên thế giới. Đối với nước ta, tín ngưỡng này từ đó xuất hiện khá sớm và đến khoảng năm 450 đã chiếm lĩnh được một vị thế trọng yếu ở trung tâm Tiên Sơn, để cho Đàm Hoằng từ Trung Quốc đến tu học.

Toàn bộ bảy truyện cuối của Cựu tạp thí dụ kinh, như vậy, phê phán quả vị la hán là một “giống hư” (bại chủng), mạnh mẽ ca ngợi lý tưởng Bồ tát, như Lục độ tập kinh đã làm, đó là “quên mình cứu người”, dù có chịu bao gian khó. Quan điểm Phật giáo của Cựu tạp thí dụ kinh do thế cực kỳ rõ ràng. Nó đứng hẳn về hệ tư tưởng đại thừa, tiếp thu và quảng bá hệ tư tưởng này. Thực tế, quan niệm “mười lành” như một hệ giới luật, để cho Lục độ tập kinh tuyên bố “lấy mười lành làm quốc pháp” (truyện 23) là một nét đặc trưng của tư tưởng giới luật nền văn học bát nhã [6], mà Khương Tăng Hội có tham gia phiên dịch qua bản Ngô phẩm.

Điểm đáng tò mò là bảy truyện trên được gom lại dưới tên Chiết la hán thí dụ sao. Thế phải chăng tự nguyên thủy chúng là một bộ phận lưu hành bên ngoài Cựu tạp thí dụ kinh và có tên Chiết la hán thí dụ sao, để sau đó được một tác gia nào đó thu vào Cựu tạp thí dụ kinh? Trong tình hình tư liệu hiện còn, ta chưa thể có một câu trả lời dứt khoát. Tuy vậy, bảy truyện vừa tóm tắt trên rõ ràng phản ảnh một quan điểm nhất quán về tính ưu việt của lý tưởng Bồ tát và phê phán nặng nề quả vị la hán.

Điều này hiển nhiên ám chỉ ít nhiều về một cuộc đấu tranh nội bộ trong lịch sử Phật giáo nước ta trong những thế kỷ đầu liên quan đến lý tưởng Bồ tát. Chiết la hán thí dụ sao do thế có thể từng được lưu hành độc lập bên ngoài Cựu tạp thí dụ kinh, trước khi được gộp vào.

Ngoài những truyện thuyết giảng mang tính giáo lý Phật giáo trên, Cựu tạp thí dụ kinh còn chứa đựng một số truyện, mà thông điệp gửi gắm không nhất thiết có tính Phật giáo hay chỉ duy nhất có tính Phật giáo. Chẳng hạn, các truyện từ số 17 đến 23 và 25, 26, 39. Các truyện này, có truyện có thể dùng để minh họa cho giáo lý tham dục Phật giáo, nhưng cũng có thể coi như một loại truyện cảnh giác về mưu mẹo đàn bà hay đàn ông. Song cũng có truyện có lời khuyên mang tính phổ quát. Thí dụ, truyện 19 nói đến việc “học thì nên lấy ý mà suy”. Thậm chí có truyện có ý nghĩa rất mơ hồ, cụ thể là truyện 26.

Truyện này tự nguyên thủy có thể phản ảnh một phong tục nào đó mà ngày nay đã biến mất, nên những tình tiết bên trong truyện không có gì có vẻ hấp dẫn, nếu không nói là nhạt nhẽo. Cũng có thể cốt truyện bị đơn giản hóa quá mức, chỉ còn lại bộ sườn, do thế trông có vẻ khẳng khiu, khắc khổ. Điểm lôi cuốn là lời bình luận của vị thầy của Khương Tăng Hội, trong ấy ông dẫn ý kiến của những người khác. Điều ấy chứng tỏ truyện 26 đã lưu hành rộng rãi và thu hút sự chú ý của nhiều người, trước khi ông đem giảng cho Hội và đưa ra nhận xét của riêng ông. Đây là một chứng cớ khác xác định không những Cựu tạp thí dụ kinh phải lưu hành trước thời Khương Tăng Hội, mà còn phải lưu hành dưới một bản kinh tiếng Việt, bởi vì chỉ khi lưu hành dưới dạng bản kinh tiếng Việt, nó mới được bàn cãi nhiều và sau đó mới được Khương Tăng Hội dịch ra tiếng Trung Quốc. Chứ nếu nó lưu hành dưới dạng bản tiếng Phạn hay Pàli, tất nhiên không thể có việc nhiều người tham kiến. Còn nếu lưu hành bằng tiếng Trung Quốc thì không có việc Khương Tăng Hội dịch ra tiếng Trung Quốc một lần nữa làm gì.

Trên đây là một tóm tắt sơ bộ những nét chính của nội dung Cựu tạp thí dụ kinh. Nó hiển nhiên là không đầy đủ, nhưng cũng đủ để cho ta một ý niệm về các quan điểm phát biểu trong bản kinh đó. Điểm lôi cuốn đối với chúng ta là Cựu tạp thí dụ kinh cùng với Lục độ tập kinh, sẽ giúp định vị lại, nếu không phải là thời điểm ra đời thì cũng là thời điểm lưu hành của một số tác phẩm văn học dân tộc, thường được xếp vào loại “truyện cổ tích”, mà cho đến nay chưa được nghiên cứu một cách dứt khoát và nghiêm túc.

V. CỰU TẠP THÍ DỤ KINH VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Trong lịch sử văn học dân tộc ta có một mảng thường được gọi là nền văn học dân gian bao gồm các truyện thần thoại, cổ tích, tục ngữ, ca dao, mà về mặt lịch sử cho tới nay chưa được định vị thời điểm ra đời một cách chính xác. Lý do, theo cách nghĩ của một số người, nằm ở chỗ nó là nền văn học truyền khẩu do dân gian truyền miệng cho nhau đời này qua đời khác và không biết ai là tác giả. Vấn đề xác định niên đại từng tác phẩm hay tiểu phẩm của nó do thế tỏ ra cực kỳ khó khăn. Cho nên, đến nay vẫn chưa có một kết luận xác định một cách có căn cứ thời điểm ra đời hay lưu hành của một số tác phẩm của nó, đặc biệt những thời điểm xa xưa lên tới một vài nghìn năm, để làm cột mốc cho việc viết lại lịch sử văn học dân tộc.

Vấn đề này, Cựu tạp thí dụ kinh cùng với Lục độ tập kinh giúp ta giải quyết một phần nào trong số 200 truyện do Nguyễn Đổng Chi thu thập lại trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam [7] hiện có 4 truyện có thể truy một phần hay toàn bộ cốt truyện về Cựu tạp thí dụ kinh. Đó là các truyện 1, 15, 60 và 142. Truyện 1 Sự tích dưa hấu thực chất là một thuyết giảng về giáo lý nhân quả “ở hiền gặp lành” của Phật giáo dân gian. Nó gồm hai đoạn. Đoạn 1 kể An Tiêm gốc là một nô tỳ, được lấy con gái nuôi của vua Hùng, ăn mặc sung sướng, của cải giàu có. Có người khen, Tiêm nói đó là “vật tiền thân” của Tiêm. Vua Hùng nổi giận, đày Tiêm ra đảo. Đoạn 2 kể Tiêm ở đảo, nhờ chim đem hạt dưa hấu đến, trở nên giàu có và được gọi về.

Tóm tắt như thế, rõ ràng cốt lõi truyện An Tiêm đã xuất hiện trong truyện 7 của Cựu tạp thí dụ kinh với những cải biên tình tiết. Thứ nhất, cũng hai nhân vật là con gái (nuôi) vua và chàng rể nghèo khó (bên nợ, bên ăn xin), nhưng truyện An Tiêm thì cho chàng rể nói, còn Cựu tạp thí dụ kinh thì để con gái Nguyệt Nữ nói. Thứ hai, vì nói “mọi của cải là vật tiền thân”, là “tự nhiên” và bị đuổi đi, An Tiêm trở nên giàu có nhờ dưa hấu, còn vợ chồng Nguyệt Nữ lại làm vua. Hai cải biên tình tiết vừa nêu tuy thế vẫn che không khuất mỗi cốt truyện chính, mà cả hai cùng chia xẻ. Do vậy, truyện An Tiêm là một biến dạng của truyện 7 Cựu tạp thí dụ kinh.

Truyện 15 Sự tích con dã tràng cũng thế, khi so với truyện 21 của Cựu tạp thí dụ kinh. Truyện 15 kể Dã Tràng thấy một cặp vợ chồng rắn. Khi vợ thay vỏ, chồng săn sóc che chở hết mực. Đến lúc chồng thay, vợ lại dẫn tình địch về giết chồng. Dã Tràng giận, giương cung bắn tên tình địch, không may, tên trúng cô vợ. Chồng thề trả thù, tìm đến ở trên máng nhà Dã Tràng, nhờ thế biết sự tình, bèn trả ơn bằng cách nhả cho Dã Tràng một viên ngọc mà nếu mang theo mình thì hiểu được tiếng chim muông. Một hôm, quạ bảo ông có thịt dê trên núi, ông đi lấy một ít và mách cho xóm giềng. Họ lấy hết dê. Quạ tức, trả thù, cắm mũi tên có tên ông vào một xác trôi sông. Ông bị bắt, đang ở ngục, ông nghe sẻ bảo nước sắp bị tấn công, ông báo quan và được tha. Trên đường về, nhờ cứu ngỗng do bạn bắn chết, ngỗng đền ơn ông một viên ngọc đi được vào nước. Ông đi thăm Long vương. Sau vợ trộm hai viên ngọc để đi làm hoàng hậu.

Truyện 21 kể con gái Long vương đi chơi, bị đám chăn trâu đánh, vua người can thiệp, được tha, lại vu vua người đánh. Long vương đền ơn, làm cho vua người hiểu tiếng chim muông. Vua nghe ruồi đực cái bảo nhau rồi cười. Bà vợ đòi biết lý do, nếu không nói, bà tự sát. Long vương hóa bầy dê dạy vua. Vua bèn bảo bà chết, tôi còn những cung nữ khác.

Một lần nữa, rõ ràng cốt truyện 21 đã được vay mượn và hoán vị để có truyện Dã Tràng với những sắc thái và thêm thắt địa phương. Truyện 60 cũng vậy. Nó là một mở rộng của truyện 24 trong Cựu tạp thí dụ kinh. Truyện 24 chỉ kể ba người đi đường thấy một đống vàng, cùng lấy. Một người được cử đi mua cơm, muốn chiếm hết vàng, bèn trộn thuốc độc vào. Hai người còn lại cũng không muốn chia, nên người kia mới đem cơm về, liền giết anh ta, rồi ăn cơm và ngã lăn ra chết.

Truyện 60 mở rộng ra, đưa thêm người nghèo khổ mò cua được vàng. Tên trọc phú chiếm lấy, rồi quan huyện, lái buôn. Cuối cùng, bốn tên cướp giết lái buôn, lấy vàng và bốn tên đều chết do giết nhau bằng bỏ thuốc vào rượu và dùng dao đâm. Thế nhưng chưa hết, truyện còn xuất hiện một khách thương lấy số vàng vô chủ đó, đi buôn bằng thuyền. Bị bão, thuyền chìm, mất sạch của cải. Khách thương lại về tay không.

Truyện 142 Hai con cò và rùa của kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và truyện 39 của Cựu tạp thí dụ kinh về cốt lõi thống nhất với nhau, tuy về tình tiết có một vài thêm bớt. Thứ nhất, truyện 142 cho Rùa là đầu thai của một người đàn bà lắm miệng, một tình tiết không có trong truyện 39. Thứ hai, Cò phải thuyết phục Rùa đi khỏi ao, trong khi truyện 39 kể Rùa gặp khô hạn, xin Cò giúp mình đi chỗ khác. Thứ ba, truyện 142 cho Cò bay qua quán nước và chợ, người ta bàn tán, Rùa không dẹp được tật “ngoa mồm” của mình, nên rơi xuống đất và bị ăn thịt. Truyện 39 kể Cò cắp Rùa bay qua kinh thành, Rùa bèn hỏi, liền rơi và bị bắt làm thịt ăn.

Qua phân tích bốn truyện có đối bản trong Cựu tạp thí dụ kinh, điểm lý thú là có ba truyện của kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có tương đương trong văn học bản sinh Pàli, đó là các truyện 15, 60 và 142. Do thế, chúng rất có khả năng rất lớn là đã xuất xứ từ Cựu tạp thí dụ kinh. Đặc biệt là truyện 60 và 142, dù mở rộng và cải biên tới đâu, vẫn có cốt truyện hoàn toàn thống nhất với truyện 24 và 39 của Cựu tạp thí dụ kinh và với các truyện Vedabhhajàtaka và Kacchapajàtaka của văn học bản sinh Pàli. Vì vậy chúng cùng với các truyện 25 và 49 của Lục độ tập kinh có thể nói là các tác phẩm văn học truyện kể xưa nhất hiện biết của lịch sử văn học dân tộc ta. Thời điểm lưu hành của chúng từ đó không thể muộn hơn năm 200 sau Tây lịch, nếu không là sớm hơn vào thế kỷ thứ II, thậm chí thứ nhất sau Tây lịch hay sớm hơn nữa, tức các thế kỷ trước Tây lịch.

Thế ai viết chúng? Tất nhiên Khương Tăng Hội không viết chúng. Ngay cả vị thầy của Hội cũng không tham gia viết chúng, dẫu một số lời bình của ông đã được Hội ghi lại. Kể từ ngày Pháp Kinh liệt Chúng kinh mục lục 6 ĐTK 2146 tờ 144b13, Cựu tạp thí dụ kinh vào loại “Tây phương chư thánh hiền sở soạn tập”, các nhà kinh lục về sau như Ngạn Tôn trong Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2147 tờ 161b3-25, Tỉnh Thái trong Chúng kinh mục lục 3 ĐTK 2148 tờ 195c21-196a23, Đạo Tuyên trong Đại Đường nội điển lục 9 ĐTK 2149 tờ 312a20-b11, Trí Thăng trong Khai Nguyên thích giáo lục 13 ĐTK 2145 tờ 621c12-623a5 v.v… cũng nhất trí xếp nó vào loại “thánh hiền tập truyền” hay “thánh hiền truyện ký” hay “thánh hiền soạn tập”, nhưng không nói đến “phương Tây” nữa.

Điều này cũng có nghĩa Cựu tạp thí dụ kinh phải do một vị “thánh hiền soạn tập”. Và vị “thánh hiền” đây phải là một tác giả Việt Nam, chứ không ai xa lạ, bởi vì hai lý do sau. Thứ nhất, Cựu tạp thí dụ kinh đã lưu hành bằng tiếng Việt, thứ hai, nó có những truyện như truyện 19 chẳng hạn không đặc biệt mang tính thuyết giảng Phật giáo, mà chỉ có tính ngụ ngôn chung chung. Do vậy, tuy chưa có những bằng chứng rõ rệt đặc trưng Việt Nam như Lục độ tập kinh nhưng chúng ta có thể hình dung quá trình hình thành của Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt này, trừ bảy truyện cuối cùng của Chiết la hán thí dụ sao.

Ban đầu khi Phật giáo mới truyền vào nước ta, một số truyện có nguồn gốc Phật giáo Ấn Độ xuất phát từ nền văn học bản sinh Phạn văn hay các phương ngôn như Pàli đã được dùng để thuyết minh giáo lý trong những buổi giảng. Sau đó một thời gian, một tác giả Việt Nam vô danh nào đó đã tập hợp chúng lại, gồm luôn các truyện có nguồn gốc địa phương và biên tập thành Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt, để sau đó đã trở thành bản đáy cho Khương Tăng Hội dịch ra tiếng Trung Quốc. Một khi đã thế, người viết các truyện trên không thể ai khác hơn là vị “thánh hiền” Việt Nam sống khoảng giữa thế kỷ thứ nhất và thứ hai sau Tây lịch, nếu không là sớm hơn nữa, mà ta hiện chưa truy tìm được tên tuổi.

Dân tộc ta thường tự hào là có bốn nghìn năm văn hiến. Mà đã nói đến văn hiến là nói đến văn học hiến chương điển huấn. Thế thì, văn học hiến chương điển huấn trong bốn nghìn năm đó là gì, bao gồm những chủng loại học thuyết gì? Đây là những câu hỏi không phải dễ trả lời. Tuy nhiên, với việc tiến hành nghiên cứu Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh cùng một số tác phẩm khác như bài Việt ca, Tạp thí dụ kinh và Lý hoặc luận, chúng ta đang từng bước tìm lời giải đáp cho những câu hỏi vừa nêu. Diện mạo văn hiến dân tộc ta cách đây hai nghìn năm đang dần dần được phác vẽ lại. Việc xác định thời điểm lưu hành và xuất hiện bốn truyện “cổ tích” trên do vậy không chỉ quan trọng đối với lịch sử văn học dân tộc, mà còn đối với lịch sử văn hiến Việt Nam. Những đóng góp của Cựu tạp thí dụ kinh là vô giá và đáng trân trọng.

Nhân đây cũng nên nói đôi điều về vị thầy của Khương Tăng Hội cùng 14 lời bình của ông. Trong phần nghiên cứu về An ban thủ ý kinh chú giải, chúng ta có những văn cú tương đồng giữa bản chú giải này với Lý hoặc luận của Mâu Tử. Chẳng hạn, Phật thuyết đại An ban thủ ý kinh quyển thượng ĐTK 602 tờ 163a9-10 có câu: “Hoảng hốt phảng phất, xuất nhập vô gián, thị chi vô hình, thính chi vô thanh, nghêng chi vô tiền, tầm chi vô hậu”. Rồi tờ 163b14-15 có: “Vô hà bất kiến, vô thanh bất văn, hoảng hốt phảng phất, tồn vong tự do, đại di bát cực, tế quán mao ly”. Tờ 163c14 có: “Độ thoát thập phương”.

Những văn cú này ta cũng thấy xuất hiện trong Lý hoặc luận của Mâu Tử ở các điều 1, 2, 3 của Hoằng minh tập 1 ĐTK 2102 tờ 1c22-2a9-11 và 2a1418: “Độ thoát thập phương”, “Hoảng hốt biến hóa, phân thân tán thể, hoặc tồn hoặc vong…” và “Khiên chi vô tiền, dẫn chi vô hậu, cử chi vô thượng, ác chi vô hạ, thị chi vô hình, thính chi vô thanh, tứ biểu vi đại, uyển diên kỳ ngoại, hào ly vi tế, gián quan kỳ nội”. Những tương đồng ấy cho phép ta giả thiết Mâu Tử có thể là vị thầy đã trực tiếp dạy dỗ Khương Tăng Hội và có ảnh hưởng nhất định đến bản An ban thủ ý kinh chú giải. Còn vị thầy, tác giả mười bốn lời bình luận trên, ta hiện rất khó xác định. Thứ nhất, Hội có đến “ba thầy”. Thứ hai, văn cú của mười bốn đoạn văn ấy về mặt văn phong và tư tưởng hiện chưa chứng tỏ có những liên quan gì đến Lý hoặc luận. Do thế, tuy chưa thể kết luận dứt khoát, ta vẫn có thể giả thiết vị thầy ấy cũng là Mâu Tử. Mười bốn lời bình của vị thầy này có thể nói là những đoạn văn bình luận xưa nhất hiện biết về truyện cổ Việt Nam, cụ thể là truyện 7 và 21. Chúng bộc lộ không ít những vấn đề mà ông quan tâm. Với tư cách một vị thầy, ông nói: “Học nên dùng ý mà suy nghĩ khít khao mới hiểu, giản lược thì không thấu, đó chẳng phải là lỗi của thầy” (truyện 19). Đây là một phát biểu đầy tính sư phạm, thể hiện lý thuyết giáo dục của không những Phật giáo, mà còn của dân tộc ta vào những thế kỷ thứ hai, thứ ba sau Tây lịch.

Ngoài cương vị một thầy dạy, ông còn là một nhà tu Phật giáo. Cho nên, mười một phát biểu còn lại phản ánh khá nhiều lối nhận thức và tiếp thu Phật giáo của ông qua một số tư tưởng then chốt. Thứ nhất, đó là đạo lý “nợ không kể ít nhiều, không thể mắc, cũng không thể giao cho người khác” (truyện 4). Đây là một nhận thức mở rộng nguyên lý nhân quả trong đời sống xã hội, đòi hỏi tư tưởng công bằng phải được thực hiện một cách triệt để. Một hệ luận của đạo lý đó là “Người không có kiếp trước thì rốt cuộc không do đâu hiểu nhau, cũng không gặp nhau, nói chuyện rốt cuộc không ăn ý với nhau. Mỗi người đều có thầy riêng của mình” (truyện 14) và “người có đôi kiếp trước, không thể dùng sức ngăn được. Gặp đôi thì hợp nhau. Lúc sinh cũng vậy”. (truyện 17)

Niềm tin vào kiếp trước này giải thích rất nhiều cho quan hệ xã hội hiện tại. Vì thế, “Nguyệt Nữ với người ăn mày kiếp trước là vợ chồng cùng làm ruộng” (truyện 7). Và ba người cùng giác ngộ, thì “kiếp trước nhiều đời ba người là anh em, nguyện học dấu đạo, cùng thực hành, nên đều chứng đạo” (truyện 9b). Do cuộc sống quá khứ có một liên hệ trực tiếp đến cuộc sống hiện tại, nên con người phải biết “tội phước … không thể không cẩn thận” (truyện 32), phải “trì trai”, “một ngày trì trai có 60 vạn năm lượng, lại có năm phước báo” (truyện 13), phải “vâng giữ năm giới, bố thí hết lòng” (truyện 40), đừng “si mê, làm theo ý vợ thì giết thân mình”(truyện 2) vì “thiên hạ không thể tin người nữ” (truyện 18), để chuẩn bị cho cuộc sống sắp tới. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận “người chưa được đạo thì không thể khiến thấy đạo …” (truyện 6).

Bằng những trích dẫn trên, ta thấy một cách cụ thể Phật giáo đã được nhân dân ta nhận thức, tiếp thu và truyền đạt như thế nào trong giai đoạn đầu của lịch sử Phật giáo tại nước ta. Những quan điểm giáo lý nào đã được nhấn mạnh và đề cao, và thông qua đó nhận ra niềm tin Phật giáo lúc ấy có nội dung tư tưởng gì trong quá trình thuyết giảng và truyền trao. Đây là một điểm thú vị, vì nó bổ sung cho những vấn đề nêu lên trong Lý hoặc luận về “cánh sinh” và “sự giải” của các điều 12 và 13, chứng tỏ Mâu Tử nêu chúng lên không phải từ hư vô, mà từ một thực tiễn niềm tin Phật giáo, không phải hoàn toàn giống như trong kinh điển, ngược lại theo nhận thức của dân tộc ta.

VI. TỔNG KẾT

Đến đây, rõ ràng chúng ta có thể sơ bộ rút ra một số nhận xét sau về Cựu tạp thí dụ kinh. Thứ nhất, nó có một bản đáy tiếng Việt và được Khương Tăng Hội sao chép tương đối sớm, vào những năm 220. Thứ hai, sự khan hiếm các cấu trúc tiếng Việt trong bản tiếng Trung Quốc hiện nay chứng tỏ nó đã được Khương Tăng Hội và những người về sau nhuận sắc lại nhiều lần trong quá trình lưu hành và phổ biến, dẫn tới việc có lúc nó đã bị loại khỏi danh sách các dịch phẩm của Hội. Đây cũng giống trường hợp Nam hải Quan Âm của Chân Nguyên, Hứa Sử truyện vãn của Toàn Nhật v.v … có lúc đã trở thành những tác phẩm văn học vô danh và vĩnh viễn là những tác phẩm văn học dạng đó, nếu không tìm ra các bản in có ghi tên tác giả thời trước.[8]

Thứ ba, bảy truyện cuối cùng tập hợp dưới nhan đề “Chiết la hán thí dụ sao” có thể tự nguyên ủy là một bản lưu hành độc lập bên ngoài Cựu tạp thí dụ kinh, vì chủ đề và nội dung nó tập trung và thống nhất phê phán quả vị la hán. Sau đó nó mới được gộp vào Cựu tạp thí dụ kinh. Ai thực hiện việc gộp này, ta hiện chưa thể xác định được. Có thể là Khương Tăng Hội, hay thầy ông, hay những người trước của thầy ông nữa.

Thứ tư, nội dung Cựu tạp thí dụ kinh tuy chủ yếu thuyết giảng giáo lý nhưng vẫn dành phần cho những khôn ngoan minh triết chung, phản ánh một tính nhân loại phổ quát. Do thế, có những truyện có nguồn gốc không phải Phật giáo, thậm chí có nguồn gốc Việt Nam, trong đó có 4 truyện lưu hành cho đến ngày nay dưới dạng “truyện cổ tích”. Bốn truyện này cùng với chín truyện tương đương trong Lục độ tập kinh tạo nên nền văn học truyện kể của dân tộc ta vào thế kỷ thứ II, thứ III sdl. Đây phải nói là một đóng góp to lớn của Cựu tạp thí kinh đối với lịch sử văn học và văn hiến Việt Nam, mà chúng ta cần nghiên cứu kỹ hơn trong tương lai.

Lê Mạnh Thát, Góp vào việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ V, Tư tưởng (1969) và Sơ thảo lịch sử Phật giáo Việt Nam II, Tp. HCM: Tu thư Phật học Vạn Hạnh, 1979.

[1] Lê Mạnh Thát, Góp vào việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ V, Tư tưởng (1969) và Sơ thảo lịch sử Phật giáo Việt Nam II, Tp. HCM: Tu thư Phật học Vạn Hạnh, 1979.

[2] Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội và Lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sài Gòn: 1972.

[3] Pànõcatantra I, Benfey in, tr. 239.

[4] Babrius I, Leuis in, tr.122.

[5] Phaedrus, Oredhi in, tr.55,128.

[6] Lê Mạnh Thát, Lịch sử hình thành văn hệ bát nhã, Sài gòn: Vạn Hạnh, 1968.

[7] Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam I-V Hà Nội: Văn Học, 1957.

[8] Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập II, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980; Toàn Nhật thiền sư toàn tập I, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1979.

KINH CỰU TẠP THÍ DỤ

LÊ MẠNH THÁT

CHÁNH KINH

Xưa vô số kể, có một nhà buôn tên gọi Tát Bạc, lúc ấy đến một nước khác mua hàng hóa. Chỗ trú chân gần nhà một đệ tử Phật. Nhà đệ tử Phật bấy giờ làm lễ cầu phước lớn, đặt tòa cao, các tăng thuyết pháp, giảng bàn tội phước thiện ác đều do thân, miệng, ý tạo ra và giáo lý bốn sự thật, vô thường, khổ, không. Người buôn đường xa lúc ấy đến nghe, lòng hiểu, vui tin, bèn thọ 5 giới gọi là ưu bà tắc. Vị thượng tọa đem giáo lý khuyên dỗ, nói: “Thiện nam tử, giữ thân miệng ý thì mười lành đầy đủ. Mỗi giới có 5 thần, năm giới có 25 thần, đời này hộ vệ khiến không chết oan, đời sau tự tại, đạo lớn vô vi”. Nhà buôn nghe giảng càng vui vô kể.

Sau về nước mình, trong nước hoàn toàn không có Phật pháp. Bèn muốn truyền đạo, sợ không người nghe, nên đem giáo pháp đã nhận giáo hóa cha mẹ, anh em, vợ con và người làm trong ngoài, ai cũng vâng theo.

Cách nước nhà buôn ngàn dặm có một nước, dân đông giàu sướng, của quý nhiều, đẹp. Hai nước ngăn cách, tuyệt không thông hiếu đã hơn trăm năm, trên đường có quỉ Dạ xoa ở, bắt người ăn thịt, trước sau khôn kể, vì thế đoạn tuyệt không người vãng lai. Nhà buôn tự nghĩ: “Ta giữ giới Phật, thì như kinh dạy, có 25 vị thần hộ trợ, không nghi ngờ gì. Còn quỉ kia nghe nói chỉ một mình nó. Ta đến hàng phục, chắc được thắng lợi”.

Bấy giờ có hơn 500 nhà buôn cùng đi, bèn nói với họ: “Tôi có sức lạ, có thể phục quỉ, còn quý vị có đi đến gặp quỉ thì chắc không có lợi lớn”. Họ bèn tự bàn nhau: “Hai nước không thông hiếu đã lâu lắm rồi. Nếu thông được, thì lợi được không nhỏ”. Họ đồng ý lên đường đi. Đến giữa đường thấy chỗ quỉ ăn người, hài cốt tóc tai lăn lóc đầy đất. Tát Bạc tự nghĩ: “Quỉ thần trước sau đều có thể ăn thịt người, nay là điều chứng nghiệm. Ta chết, đó đúng với chức phận, chỉ sợ cho những người này thôi”. Bèn nói với họ: “Quí vị ở lại đây, chỉ một mình tôi đi tới. Nếu thắng được quỉ, thì sẽ trở lại đón. Nếu không trở lại thì biết ngộ hại, các vị nên mỗi người trở về, chớ đừng đi tới nữa.”

Rồi Bạc một mình đi tới. Mới đi vài dặm đã gặp thấy quỉ đến, bèn một lòng niệm Phật, ý định không sợ. Quỉ đến hỏi: “Ông là ai?” Đáp: “Tôi là người hướng đạo mở đường”. Quỉ cười lớn nói: “Ngươi có nghe đến tên ta không mà muốn mở đường?”. Tát Bạc đáp: “Biết ngươi ở đây, nên đến tìm để đấu với ngươi. Nếu ông thắng, ông ăn ta. Nếu ta thắng, thì mở đường cho muôn họ, làm lợi ích cho thiên hạ”. Quỉ hỏi: “Ai nên hạ thủ trước?” Nhà buôn đáp: “Ta đến tìm, nên phải hạ thủ trước”. Quỉ đồng ý. Bạc dùng tay phải đánh nó, tay đụng bụng quỉ, mắc cứng không ra. Tay trái lại đánh, cũng mắc. Như vậy, hai chân và đầu đều mắc vào bụng quỉ, không thể đụng đậy được. Bấy giờ, Dạ xoa dùng bài tụng hỏi:

Tay chân cùng với đầu

Năm món vậy cột chắc

Chỉ nên ra chịu chết

Vùng vẫy lại ích gì?

Nhà buôn dùng kệ đáp:

Tay chân cùng với đầu

Năm món tuy bị cột

Giữ lòng như kim cương

Rốt không bị ngươi giết

Quỉ ma lại nói kệ:

Ta là vua các thần

Làm quỉ nhiều “sức lớn”

Trước sau ăn bọn ngươi

Số không thể đếm xiết

Nay ngươi chết gần rồi.

Sao lại nói năng lắm.

Khách buôn dùng kệ đáp:

Vô thường là thân này

Ta muốn sớm bỏ đi

Mà nay nguyện ta thỏa

Đem ra bố thí mày

Nhờ thế được chính giác

Trí vô thượng chứng ngay

Quỉ nói kệ đáp ý:

Chí mầu người vĩ đại

Ba cõi hiếm có ai

Chắc làm thầy độ ngươi

Chẳng lâu đức trùm cả

Xin đem thân tự qui

Đầu diện kính lạy ngài.

Rồi thì Dạ xoa ra xin thọ năm giới, lòng thương chúng sinh, xong làm lễ, rút vào trong núi sâu. Tát Bạc trở lại kêu mọi người tiến lên về nước kia. Từ đó, hai nước đều biết chuyện 5 giới 10 lành dẹp quỉ mở đường, mới biết Phật pháp chí chân vô lượng, đều cũng giữ giới, cung kính Tam bảo, nước thành thái bình, sau lên trời đắc đạo. Ấy là nhờ ân lực của vị hiền giả thẳng tin 5 giới.

Phật bảo các Tỳ kheo: “Tát Bạc lúc ấy là thân ta”.

Bồ tát thực hành giới Ba la mật, độ được như vậy.

2

Quá khứ vô số kiếp, bấy giờ có vua công với 500 vợ công theo nhau đi khắp các núi non, thấy công xanh kia sắc rất đẹp, bèn bỏ 500 vợ đi theo công xanh. Công xanh chỉ ăn quả ngọt cam lộ. Lúc ấy, vợ vua có bệnh, đêm mộng thấy vua công. Thức dậy trình vua: “Xin vua nên treo giải lớn để bắt”. Vua ra lệnh thợ săn ai bắt được vua công đem dâng thì sẽ thưởng vàng 100 cân, gả con gái cho làm vợ.

Các thợ săn chia nhau đi khắp các núi, thấy vua công đang theo công xanh, bèn lấy hồ ngọt đem bôi khắp cây. Vua công ngày ngày đi lấy thức ăn ấy cho công xanh. Như vậy quen thói, thợ săn bèn lấy hồ ngọt đem bôi lên thân mình. Vua công đến lấy hồ ngọt, liền bị người bắt được, bèn nói với người: “Ta đem một núi vàng cho ông, ông có thể thả ta ra?” Người đáp: “Vua cho ta vàng và gả con gái làm vợ, đủ để sống một đời rồi”. Rồi mang nạp vua.

Vua công trình vua: “Vua vì quá yêu phu nhân, nên mới bắt tôi. Xin đem nước đến, tôi chú nguyện cho phu nhân uống, tắm rửa, nếu không lành bệnh thì giết cũng chẳng muộn”. Vua bèn lấy nước cho chú nguyện, rồi đem trao phu nhân uống. Bệnh liền hết. Trong cung hay ngoài ai có bá bệnh đều nhờ nước ấy mà được chữa lành. Vua và nhân dân đến lấy nước, số nhiều không kể. Vua công nói với vua: “Ngài có thể lấy cây cột chân tôi, để tôi đi lại tự do trong hồ nước cùng chế thuốc chú nguyện, khiến dân xa gần có nước lấy thoải mái”. Vua đáp: “Rất hay”. Công đem cây đi vào trong hồ nước, tự chế nhiều phương, vừa chú nguyện. Người dân uống nước, mù được sáng, điếc được nghe, què gù được thẳng.

Vua công lại trình vua: “Trong nước các bệnh dữ đều được chữa lành hết. Nhân dân thờ cúng tôi như thiên thần không khác. Tôi rốt cuộc không có ý bay đi. Đại vương có thể mở chân tôi, khiến tôi được bay đi lại vào trong nước hồ. Đêm đến tôi nghỉ đêm trên rừng kia”. Vua liền sai mở. Như vậy được vài tháng.

Một hôm đứng trên rừng vua công cười lớn. Vua hỏi: “Ngươi sao lại cười?”. Đáp: “Tôi cười thiên hạ có 3 cái ngu. Một là cái ngu của tôi. Hai là cái ngu của thợ săn. Ba là cái ngu của vua. Tôi có 500 người vợ đi theo, mà lại bỏ để được theo công xanh. Vì lòng ham muốn nên bị thợ săn bắt. Đấy là cái ngu của tôi. Người thợ săn, tôi cho một núi vàng không lấy, lại nói có vua cho vàng và vợ. Đó là cái ngu của thợ săn. Vua có được thần y vương, phu nhân, thái tử, nhân dân trong nước, ai bệnh đều được chữa lành, lại thêm đẹp đẽ. Vua được thần y mà không giữ kỹ, lại thả cho đi. Đó là cái ngu của vua”. Nói rồi vua công bay đi.

Phật bảo Xá lợi phất: “Vua công bấy giờ là thân ta đó. Quốc vương bấy giờ là thân ông. Phu nhân bấy giờ, nay là vợ Điều Đạt. Thợ săn bấy giờ là Điều Đạt”.

3

Xưa có quốc vương đi săn trong vùng đầm rộng, rất đói khát mệt mỏi. Xa trông thấy nhà cửa cây cối um tùm, bèn đi đến đó. Trong nhà có người con gái, vua đến xin ăn uống trái cây các loại. Vua xin gì được nấy, bèn xin gặp người con gái. Người hầu trả lời: “Trần truồng, không có áo quần”. Vua liền cởi áo đem cho, tự nhiên có lửa cháy áo. Ba lần như thế. Vua kinh ngạc hỏi người con gái: “Vì sao lại như vậy?”. Người con gái đáp: “Đời trước tôi là vợ vua. Vua đãi cơm các sa môn Phạm chí, lại muốn dâng áo. Tôi lúc đó nói: Chỉ đãi cơm là được rồi, khỏi cần cho áo. Nên bây giờ mắc tội này. Nếu vua còn nghĩ tới, xin may áo cúng cho các sa môn đạo sĩ trong nước. Nếu có ai hiểu kinh Phật, xin chú nguyện cho người con gái ấy thoát được sự khổ cực kia”.

Vua nhận lời, trở về nước may áo, tìm các sa môn đạo sĩ mà không có ai. Lúc ấy trong nước không ai hiểu kinh Phật. Vua nhớ lại, bảo hỏi ông chèo đò thì chắc biết. Ông chèo đò nói: “Trước đây có người muốn qua sông, không có tiền trả, bèn lấy kinh Năm giới một cuốn trao tôi để đọc”. Vua bảo: “Người biết kinh Phật thì đem áo cho người”. Rồi khiến người chèo đò chú nguyện cho người con gái trần truồng được phước vô lượng mà thoát khỏi sự cực khổ. Người con gái lúc ấy có áo mới mặc vào thân. Nên sau hết sống trong đường quỉ, sẽ sinh lên cõi trời thứ nhất.

4

Xưa bờ biển có quốc vương đi săn, bắt được một sa môn, bèn khiến sa môn ban đêm tụng kinh tán nhạc. Vua bảo: “Người này là một ca sĩ lớn”. Nên hễ có khách, bèn bảo ca. Bấy giờ có một nhà buôn ưu bà tắc nước khác đến nước ấy. Vua xin đem sa môn ra bảo ca. Vị ưu bà tắc nghe đọc kinh xong, trong lòng hớn hở ra đi. Nhà buôn đem một ngàn muôn đến chuộc, đến 3 ngàn muôn, vua mới cho chuộc. Nhà buôn làm lễ nói: “Tôi đem ba ngàn muôn đến chuộc mới được như vậy”. Nhà sư tức khắc bay lên giữa hư không, nói: “Khanh tự chuộc mình, chứ không phải chuộc tôi. Sao vậy? Xưa vua là người bán hành. Ông đến vua mua hành, không trả đủ ba tiền. Ta bấy giờ cho ông mượn. Ông lại không trả lại 3 tiền. Nay tiền ấy sinh cháu con tới đến 3 ngàn muôn, mà ông phải trả lại cho 3 tiền gốc”. Ý vua liền hiểu, hối lỗi, thọ 5 giới làm ưu bà tắc.

Thầy nói: “Nợ không kể nhiều ít, không thể mắc, cũng không giao cho người khác.”

5

Lúc Phật còn ở đời có một bé con cùng ở với con người anh. Bé hằng ngày đến chỗ Phật nghe kinh giới. Con người anh can mãi không được, sau bắt bé kiềng giữ lại, lấy gậy đánh, nói: “Phật, tỷ kheo tăng sẽ đến cứu mày”. Bé khóc kêu sợ hãi tự qui Tam bảo thì chứng được quả Tu đà hoàn. Nhờ oai thần của Phật, bé liền bay đi cùng với cây kiềng trói, vào tường ra tường, lên đất độn thổ một cách tự do theo ý. Con người anh thấy thế, sợ hãi cúi đầu hối lỗi. Bé liền nói các việc làm lành dữ cho con người anh, rồi cùng đến chỗ Phật thọ giới. Phật tái hiện lại đầu đuôi đời trước, con người anh vui vẻ, lòng hiểu hết, do thế được quả Tu đà hoàn.

6

Xưa có la hán cùng hành đạo với một sa di trong núi. Sa di hằng ngày đến nhà đạo hữu lấy cơm. Đường đi qua trên một con đê gồ ghề hiểm trở, thường trượt chân đổ cơm vào trong bùn. Sa di lấy phần cơm sạch bỏ trong bát thầy, còn phần cơm nào dơ bèn đem rửa để ăn. Chuyện như thế chẳng một ngày. Thầy hỏi: “Sao rửa mất đi mùi cơm?” Đáp: “Khi đi xin thì trời tạnh, về thì mưa. Trên đường đê trượt chân đổ cơm”. Thầy lặng lẽ thiền định, biết là do rồng chọc ghẹo sa di. Bèn đứng dậy, đến trên đê, cầm gậy gõ vào đê. Rồng hóa làm một ông già, cúi đầu lễ sát đất. Sa môn hỏi: “Ngươi vì sao lại chọc ghẹo sa di của ta?” Đáp: “Không dám chọc ghẹo. Sự thật là thích dung mạo của sa di”. Rồng lại hỏi: “Sao ngày nào cũng thấy đi?” Thầy đáp: “Đi xin cơm”. Rồng nói: “Từ ngày nay trở đi, xin hằng ngày đến nhà con ăn cơm cho đến hết đời con”. Sa môn mặc nhiên nhận lời, trở về bảo sa di: “Con đi chỉ xin phần cơm của con, chớ đừng mang phần cơm thầy về”.

Sa di từ đó đến nhà kia ăn. Sau thấy trong bát thầy có vài ba hạt cơm thơm ngon khác với cơm thế gian. Bèn hỏi Hòa thượng: “Phải cơm trên trời không?” Thầy mặc nhiên không đáp. Sa di muốn rình biết cơm thầy từ đâu, bèn chui xuống giường, ôm lấy chân giường. Hòa thượng tọa thiền, dùng định ý cùng giường bay đến cung bảy báu của rồng. Rồng cùng vợ và các thể nữ đều đến làm lễ sa môn, rồi lại làm lễ sa di. Thầy biết, kêu ra, nói: “Chính tâm ngươi, chớ động. Đây là một việc phi thường. Sao lại làm dơ lòng mình. Ăn xong trở về, ta sẽ nói cho biết. Rồng kia tuy cung điện nhà cửa bảy báu, vợ con thể nữ, cũng vẫn là súc sinh. Ngươi là sa di, tuy chưa đắc đạo, nhưng nhất định sinh lên trời Đao Lợi, hơn kia trăm lần. Nên chớ vì thế mà dơ lòng”. Lại bảo sa di: “Cơm trăm vị này, vào miệng hóa thành ểnh ương. Lòng ghét mửa ngược ra lại, cơm lại ăn không xuống. Hai là đàn bà con gái đẹp khó sánh, muốn làm lễ vợ chồng thì hóa thành hai con rắn quấn nhau. Ba là lưng rồng có vẩy ngược, cát sinh ở trong, đau tới tim gan. Rồng có ba nỗi khổ đó. Ngươi sao muốn làm rồng?” Sa di không đáp, ngày đêm tương tư không ăn, mắc bệnh mà chết. Thần hồn sinh làm con rồng, oai thần dũng mãnh. Sau rồng hết số, thoát được làm người.

Thầy nói: “Ngươi chưa đắc đạo, không thể khiến thấy đạo và trong nhà quốc vương”.

7

Xưa có vợ vua sinh một người con gái. Cha mẹ đặt tên Nguyệt Nữ, đẹp đẽ vô song. Vua đem cho quần áo trân báu, cô bảo là tự nhiên. Đến năm 16 tuổi, vua giận nói: “Đấy là đồ ta cho, sao con bảo tự nhiên”. Sau có đứa ăn mày đến xin, vua nói: “Đó thật là chồng con”. Nguyệt Nữ thưa: “Vâng, tự nhiên”. Bèn bị đuổi đi. Người ăn xin sợ hãi, không dám nhận. Cô gái nói: “Anh xin ăn thường không no, vua cho anh vợ, sao anh từ chối”. Rồi cùng nhau ra khỏi thành, ngày nghỉ đêm đi.

Đến một nước lớn, vua nước ấy mới băng hà, không có thái tử. Vợ chồng ngồi ở ngoài thành. Những người đi vào ra hỏi: “Các người là ai, tên họ là gì, từ nước nào đến?” Đáp: “Tự nhiên”. Như vậy hơn mười ngày. Bấy giờ quan đại thần sai tám Phạm chí ra ở cửa kinh thành theo thứ tự, xem tướng những người vào ra cửa, chỉ có hai vợ chồng ấy là đúng tướng. Lúc ấy, quần thần cả nước cùng đón về làm vua. Hai vợ chồng vua dùng chính pháp cai trị, nhân dân yên ổn. Các tiểu vương đến chầu, trong đó có vua cha của Nguyệt Nữ. Ăn uống xong, Nguyệt Nữ đặc biệt giữ vua cha lại. Nguyệt Nữ dùng bảy báu làm một chiếc máy cá, màn kéo một con thì 120 con hiện ra, gõ cửa một con thì (120 con) mở, bèn xuống làm lễ cha, thưa với cha: “Nay được như vậy là tự nhiên”. Người cha nói: “Phu nhân làm vậy, thần không bì kịp được”.

Thầy bảo: “Nguyệt Nữ cùng người ăn xin đời trước là hai vợ chồng cùng làm ruộng, chồng bảo vợ đi lấy cơm. Chồng xa thấy vợ gặp sa môn dừng lại bên bờ sông theo vợ khất thực. Vợ chia phần cơm dâng cho nhà sư. Nhà sư dừng lại ăn. Chồng từ xa thấy hai người, không thể bảo là (không) có ác ý, liền cầm gậy đến xem. Nhà sư bèn đi. Vợ nói: “Phần anh đang còn đó, chớ giận”. Chồng bảo: “Phân làm hai, anh và em cùng ăn”.

Thầy nói: “Chồng có ác ý, nên đọa làm con nhà nghèo khó, sau thấy nhà sư, bèn vui vẻ tự hối lỗi, nên cùng hưởng phước ấy”.

8

Xưa có chúng Tỳ kheo cùng đi với nhau, gặp ba người say. Một người chạy vào trong cỏ trốn. Một người ngồi ngay ngắn, vỗ má bảo không có tình trạng phạm giới. Một người đứng dậy, múa, nói: “Ta cũng đâu uống rượu của Phật thì có gì mà sợ”. Phật bảo A Nan: “Người trốn trong cỏ, khi đức Phật Di Lặc chứng Phật, sẽ được độ thoát làm la hán. Người ngồi ngay ngắn vỗ má, thì qua một ngàn đức Phật, đến đức cuối cùng sẽ được độ thoát làm la hán. Người đứng dậy múa thì vô số kiếp sau mới được độ”.

Xưa có sa môn ngày đêm tụng kinh. Có con chó nằm dưới giường, một lòng nghe kinh, không còn nghĩ tới ăn uống. Như vậy mấy năm, khi chết, được làm thân người, sinh làm con gái ở nước Xá Vệ. Lớn lên, thấy sa môn khất thực, cô liền tự chạy đi lấy cơm, vui vẻ cúng dường. Như vậy sau cô theo sa môn xuất gia làm Tỳ kheo ni, tinh tấn tu hành, được quả la hán.

9

Xưa lúc đức Phật Duy Vệ còn ở đời, các họ lớn trong nước, mỗi họ cúng Phật và chúng Tỳ kheo một lần. Bấy giờ có một họ lớn, nghèo không có gì cúng Phật, bèn thưa rằng: “Xin chúng Tỳ kheo, có ai muốn có thuốc trị bệnh, tôi xin cung cấp hết”. Lúc ấy, có một Tỳ kheo, thân thể có bệnh. Họ lớn đem một quả ngọt cho ăn, Tỳ kheo được an ổn lành bệnh. Họ lớn sau chết, sinh lên cõi Trời, hơn các chư thiên khác năm điều: Một là thân không tật bệnh. Hai là đẹp đẽ. Ba là sống lâu. Bốn là được của giàu. Năm là có trí tuệ. Như vậy trong 91 kiếp, trên thì làm trời, thác xuống thì làm nhà họ lớn, không đọa vào đường dữ. Cho đến khi đức Phật Thích Ca Văn thì làm con nhà giàu, tên là Đa Bảo, gặp Phật thì vui vẻ, làm sa môn thì tinh tấn tu hành được đạo gọi là la hán. Hễ cúng dường sa môn cao hạnh một người còn hơn cúng dường người cả nước dơ dáy đầy tà kiến.

Xưa có vợ chồng đều giữ năm giới phụng sự sa môn. Có Tỳ kheo mới học, không biết kinh, đến nhà xin ăn. Vợ chồng mời vị Tỳ kheo lên ngồi làm cơm cúng dường. Ăn xong, vợ chồng đều cúi đầu làm lễ, thưa: “Chúng con phụng sự quí thầy chút ít, mà chưa từng nghe kinh. Mong thầy khai mở chỗ u tối bất cập của chúng con”. Vị Tỳ kheo cúi đầu, không biết gì để đáp, nói: “Khổ thay, khổ thay!” Tâm ý vợ chồng đều được cởi mở, nói rằng thế gian thật khổ, lúc ấy liền chứng được đạo. Tỳ kheo thấy hai người vui vẻ, cũng được chứng đạo.

Thầy nói: “Kiếp trước nhiều đời, ba người này là anh em nguyện học đạo cùng thực hành, nên nay đều chứng đạo”.

10

Xưa có quốc vương đi săn trở về, qua nhiễu tháp, làm lễ sa môn. Quần thần đều cười. Vua biết, bèn hỏi quần thần: “Có vàng trong vạc, vạc đang sôi, có thể dùng tay lấy ra được không?” Đáp: “Không thể được”. Vua nói: “Đem nước lạnh đổ vào, có thể lấy được không?” Quần thần thưa vua: “Có thể được”. Vua nói: “Ta làm việc vua săn bắn thì như nước sôi. Thắp hương đốt đèn, nhiễu tháp, thì như đem nước lạnh đổ vào nước sôi. Hễ làm vua thì có việc làm lành và dữ, sao lại chỉ có việc làm dữ mà không là việc lành?”.

11

Xưa có sa môn đi đến nước khác, ban đêm không được vào thành, nên ngồi trong cỏ ngoài thành. Đến đêm quỉ Dạ xoa tới bắt nói “Phải ăn mày”. Sa môn đáp: “Cách xa nhau rồi”. Quỉ hỏi: “Sao cho là cách xa nhau?”. Sa môn đáp: “Ngươi hại ta, ta sẽ sinh lên trời Đao Lợi, ngươi sẽ vào địa ngục, thế không cách xa sao?” Quỉ bèn dâng lời, từ tạ làm lễ mà đi.

12

Xưa có quốc vương sai người đi kêu người bạn. Người bạn bảo: “Cám ơn vua, tôi đang mắc đào đất làm hầm, muốn giấu bảy báu”. Vua nghe rất kinh ngạc. Vua lại sai người đi kêu người bạn. Người bạn thưa vua: “Nay đang mắc đưa của báu vào trong hầm”. Vua lại ra lệnh gọi người bạn. Người bạn thưa vua: “Nay đang mắc lấp đất hầm, lấp bằng xong sẽ đi”. Vua hỏi: “Ngươi sao ngu thế? Giấu bảy báu mà đi nói cho người biết ư ?”. Người bạn thưa: “Ban nãy lo thức ăn chén dĩa ngon đẹp, định để dâng cơm cho Phật và các thầy Tỳ kheo, ấy là đào đất làm hầm. Đem cơm canh ra dọn, ấy là đưa của báu xuống hầm. Quét đường sá, dâng nước rửa, giảng kinh, ấy là san lấp đất hầm. Thưa vua, của báu đó năm nhà không thể làm nhục được”. Vua nói: “Lành thay! Lành thay! Ngươi sao không nói sớm. Ta sẽ nói sớm. Ta sẽ kiểm lại các báu giấu trong kho”. Vua liền mở kho tàng, bố thí lớn, dâng cơm đức Phật và các thầy Tỳ kheo. Đức Phật vì vua giảng lẽ thanh tịnh và chú nguyện. Vua liền phát lòng đạo.

13

Xưa có nhà giàu thỉnh Phật dâng cơm. Bấy giờ có một người bán sữa bò, nhà giàu giữ lại ăn cơm, dạy giữ trai giới. Ở lại nghe kinh, khách mới về nhà. Vợ nói: “Em từ sáng chờ anh, chưa ăn cơm”. Rồi ép chồng ăn, phá việc trai giới. Tuy vậy, vẫn bảy lần sinh lên trời, bảy lần sinh ở đời.

Thầy nói: “Một ngày trì trai, có lương thực cho sáu mươi vạn tuổi. Lại có năm phước. Một là ít bệnh, hai là thân thể yên ổn, ba là ít lòng dâm, bốn là ít nằm ngủ, năm là được sinh lên trời, thường biết việc làm đời trước của mình”.

14

Đức Phật và chúng Tỳ kheo đáp lời mời. Có một sa môn cùng một sa di đến sau. Giữa đường gặp dâm nữ lôi kéo vị sa môn. Sa môn cùng dâm nữ ăn nằm. Ăn nằm xong mới đến nhà dâng cơm. Đức Phật bảo vị sa di: “Con đến dưới núi Tu Di lấy nước cam tuyền đến đây”. Sa di đã đắc đạo, bèn quăng bát lên trước, rồi chắp tay đuổi theo, phút chốc đã được nước đem về. Vị thầy hổ thẹn, tức tưởi, hối lỗi, trách mình, liền chứng la hán. Người nữ ấy kiếp trước từng là đôi bạn với sa môn. Gặp đôi bạn, hết tội, mới chứng được đạo.

Xưa vua A Dục mỗi ngày dâng cơm cho một nghìn la hán. Sau đến một sa môn trẻ tuổi, cùng một nghìn vị sư vào cung. Vị sa môn trẻ tuổi ngồi xong, nhìn cung điện vua trên dưới, rồi lại nhìn không ngớt vợ cả của vua. Vua có ý giận. Cơm xong, mỗi người tự ra về. Vua giữ lại ba vị thượng tọa, hỏi: “Vị sa môn trẻ tuổi từ đâu đến, tên họ là gì, thờ ai làm thầy, đó chẳng phải là sa môn, sao đem vào cung, nhìn mặt phu nhân, mắt không nhấp nháy?” Ba vị đáp: “Vị sa môn ấy từ Thiên Trúc đến. Thầy tên ấy, y họ ấy, tên ấy, có trí tuệ, hiểu rõ kinh điển, nên đến để xem cung điện xây cất, rồi ngó lên trời Đao Lợi, vừa ngang bằng, chứ không có ý gì khác. Vua đời trước đem cát cúng trong bát Phật, vòi vọi là vậy. Nay mỗi ngày lại dâng cơm cho một nghìn la hán, phước ấy vô cùng. Còn vì sao nhìn chính phu nhân, ấy là phu nhân đẹp đẽ vô song trên một vạn sáu ngàn người, nhưng sau bảy ngày thì chết sẽ vào địa ngục. Thế gian vô thường, vì thế nên mới nhìn”. Vua sợ hãi kêu phu nhân quy y với ba vị sư. Vị sư nói: “Vua tuy hằng ngày dâng cơm cho chúng tôi cả ngàn người, nhưng ngàn người không thể cởi mở được ý của phu nhân, nên phải mời được vị sa môn trẻ tuổi kia giảng kinh thì phu nhân mới mau thấy được đạo Phật”. Vua sai đi mời vị sư thật ấy. Vị sư trở lại. Vua cùng phu nhân cúi đầu sát đất, xin quy y, khiến cho tội nặng được nhẹ. Vị sư giảng cho phu nhân những gì đã thấy trải qua ở đời trước và giáo lý chính yếu của đạo. Bèn lúc ấy vui vẻ, lông tóc dựng ngược, chứng được quả Tu đà hoàn. Phu nhân năm trăm đời trước vốn là chị của vị sư này, có cùng nhau thề ai được đạo trước thì độ cho nhau.

Thầy nói: “Người không có đời trước, rốt cuộc không thể do đâu hiểu được, không thể gặp nhau, nói năng thì rốt cuộc không ăn ý với nhau. Mỗi người đều có thầy riêng của mình”.

15

Xưa có nhà giàu tên Y Lợi Sa, giàu không thể kể, nhưng bủn xỉn không chịu ăn ngon mặc đẹp. Bấy giờ có một ông già ham ăn cũng ở gần, hằng ngày ăn uống cá thịt tự do, khách khứa không dứt. Người nhà giàu tự nghĩ: “Ta của cải không kể xiết, trái lại không được như ông già ấy”. Bèn giết một con gà, nấu một thăng gạo trắng, đem lên xe, đến một chỗ không người. Xuống xe, vừa định ăn thì trời Đế Thích hóa làm chó đi đến, trông lên ngó xuống. Bèn nói mời chó: “Mày nếu treo ngược được giữa trời, ta sẽ cho mày ăn”. Chó liền treo ngược giữa trời. Người nhà giàu ý quá sợ, do đâu mà có việc đó, bèn nói: “Mắt mày văng ra ngoài đất, ta sẽ cho mày chăng?” Hai mắt chó liền văng rơi xuống đất. Người nhà giàu bỏ đi chỗ khác.

Vua trời hóa làm thân thể, giọng nói người nhà giàu, cưỡi xe trở về nhà, ra lệnh người nhà có ai trá xưng nhà giàu thì phải xua đuổi đánh đi. Người nhà giàu chiều trở về nhà. Kẻ giữ cửa la mắng bảo đi. Vua trời lấy hết của cải để bố thí lớn. Người nhà giàu cũng không được về. Của cải hết, ông vì thế phát cuồng. Vua trời hóa làm một người đến hỏi: “Ngươi sao mà buồn?” Đáp: “Của cải tôi sạch hết rồi”. Vua trời nói: “Hễ có của quí khiến người ta nhiều lo lắng. Năm nhà rốt cuộc đến không hẹn. Chứa của không ăn không cho, chết làm quỉ đói thường thiếu ăn mặc. Nếu thoát được làm người, thường sinh vào nhà hạ tiện. Ngươi không hiểu vô thường, giàu lại bủn xỉn không ăn, muốn mong cái gì?” Vua trời liền giảng bốn sự thật, khổ, không, vô ngã. Người nhà giàu lòng hiểu, vui vẻ. Vua trời liền đi. Người nhà giàu được trở về, tự mình hối lỗi trước, hết lòng đem bố thí, chứng được đạo.

16

Xưa có con một dòng họ lớn, đẹp đẽ, đem vàng đúc một tượng con gái, thưa với cha mẹ: “Có con gái ai giống như thế, con sẽ lấy làm vợ”. Bấy giờ nước khác có một người con gái cũng đẹp đẽ, cũng đem vàng làm một tượng con trai, thưa với cha mẹ: “Có người con trai nào như thế, con sẽ lấy làm chồng”. Cha mẹ mỗi bên nghe có việc ấy, bèn xa đưa lễ, hợp hai người làm vợ chồng. Lúc ấy, quốc vương đưa gương soi mình, bảo quần thần: “Người trong thiên hạ, có ai dung nhan như ta không?” Đáp: “Thần nghe nước kia có người con trai đẹp đẽ vô song”. Bèn sai sứ đến mời. Sứ giả đến, đem ý vua ra nói: “Vua muốn gặp hiền giả”. Bèn đóng xe ra đi. Rồi tự nghĩ: “Vua cho ta sáng suốt, nên đi mời”. Bèn trở về lấy những yếu thuật của sách vở thì gặp vợ đang gian dâm với khách. Buồn rầu trĩu nặng, bèn vì thế hết khí, nhan sắc hư hao cổ quái, lại xấu. Bề tôi thấy như vậy, nghĩ người đi đường khó nhọc, nên nhan sắc tiều tụy, bèn lấy chuồng ngựa để cho nghỉ ngơi. Đến ở chuồng ngựa, anh thấy chính phu nhân của vua ra thông dâm với tên nuôi ngựa. Lòng anh tự hiểu ra: “Phu nhân của vua còn vậy, huống nữa là vợ ta!”. Ý được cởi mở, nên nhan sắc trở lại như cũ. Bèn đến gặp vua, vua hỏi: “Sao ở ngoài đến ba ngày?” Đáp: “Sứ giả đến đón, tôi có chỗ quên, nên giữa đường trở về lấy thì thấy vợ gian dâm với khách, tức ý vì thế buồn giận, nhan sắc suy vi, phải ở chuồng ngựa ba ngày. Hôm qua trong chuồng ngựa thấy chính phu nhân đến tư thông với tên nuôi ngựa. Phu nhân còn vậy, huống nữa là những người khác. Lòng hiểu ra, nên nhan sắc trở lại như cũ”. Vua nói: “Vợ ta còn vậy, huống nữa đàn bà người thường”. Hai người cùng vào núi, cạo bỏ râu tóc, làm sa môn, nghĩ rằng không thể làm việc với đàn bà, tinh tiến không biếng nhác, đều được quả Phật Bích Chi.

17

Xưa có người đàn bà sinh một người con gái đẹp đẽ vô song. Năm ba tuổi, quốc vương lấy xem, kêu nhà sư coi tướng sau có trúng làm phu nhân không. Nhà sư nói: “Người con gái này sẽ có chồng, vua ắt đến sau” (Vua nghĩ): “Ta phải giấu kỹ nó”. Bèn gọi chim câu đến hỏi: “Ngươi ở chỗ nào?” Nó thưa vua: “Tôi ở lưng chừng núi lớn, có cây, người và súc thú không thể đến được, dưới có dòng nước xoáy, thuyền không thể qua được”. Vua nói: “Đem người con gái này gửi ngươi nuôi”. Bèn kẹp đem đi. Hằng ngày đều đến chỗ vua lấy cơm cho người con gái.

Như vậy lâu sau đó, thượng lưu có một xóm bị nước đẩy trôi đi, có một cây thẳng băng trôi theo nước, dưới dòng có một người con trai ôm được cây ấy, rớt vòng nước xoáy không trôi đi được. Xoáy một hồi, cây đứng thẳng lên, bám vào núi. Người con trai leo lên cây của chim câu, tư thông với con gái. Người con gái giấu người đó. Chim câu hằng ngày cân người con gái xem. Khi chưa có thân người con trai thì nhẹ. (Bây giờ) chim biết người con gái nặng. Bèn tìm hiểu phải trái thì biết được người con trai, đem quăng đi, rồi đến như thật trình vua. Vua nói: “Nhà sư đã xem tướng rồi”.

Thầy nói: “Người có đôi từ kiếp trước, không thể dùng sức mà ngăn được. Gặp đôi thì được. Các loài súc sinh cũng vậy.”

18

Xưa có quốc vương giữ kỹ phụ nữ. Vợ cả gọi thái tử bảo: “Ta là mẹ con, cả đời không thấy cảnh trong nước, mẹ muốn đi chơi một lần, con có thể thưa với vua”. Nói vậy đến ba lần, thái tử trình vua. Vua liền đồng ý. Thái tử tự làm người đánh xe, đưa quần thần ra đường nghênh đón, vái chào phu nhân. Phu nhân đưa tay mở màn cho người thấy được mình. Thái tử thấy đàn bà như vậy, bèn giả vờ đau bụng trở về. Phu nhân nói: “Ta vô duyên quá”. Thái tử nghĩ: “Mẹ ta còn như vậy, huống nữa là người khác”. Đêm đến, bèn giao việc nước lại, đi vào trong núi xem chơi.

Bấy giờ bên đường có cây, dưới cây có dòng suối đẹp. Thái tử leo lên cây, thấy Phạm chí đi một mình đến suối tắm rửa. Rồi đem cơm ra ăn. Dùng thuật mửa ra một chiếc bình. Trong bình có người con gái cùng Phạm chí ăn nằm ở chỗ kín đáo. Phạm chí thỏa mãn nằm ngủ. Người con gái lại dùng thuật ói ra một chiếc bình, trong bình có người con trai trẻ tuổi, lại cùng ăn nằm, xong lại nuốt bình. Giây lát, Phạm chí thức dậy, lại đem người con gái nhốt vào bình, nuốt bình, rồi cầm gậy mà đi.

Thái tử trở về nước trình vua mời nhà tu cùng các thần hạ, làm ba phần cơm để một bên. Phạm chí đến rồi, nói: “Tôi một mình thôi”. Thái tử nói: “Nhà tu nên đưa vợ ra cùng ăn”. Nhà tu bất đắc dĩ đưa vợ ra. Thái tử bảo bà vợ: “Phải đưa người con trai ra cùng ăn”. Như vậy đến ba lần, bất đắc dĩ bà đưa người con trai nọ ra cùng ăn. Ăn xong, họ bỏ đi.

Vua hỏi Thái tử: “Con làm sao biết được?” Đáp: “Mẹ con muốn xem cảnh trong nước, con làm người đánh xe. Mẹ đưa tay ra khiến người ta thấy. Con nghĩ người nữ hay có nhiều dục, nên vờ đau bụng trở về vào núi, thấy nhà tu ấy giấu vợ trong bụng ắt có điều gian. Như vậy, người nữ gian không thể dứt được. Xin đại vương tha những người trong cung tự do đi đâu thì đi”. Vua liền ra lệnh trong hậu cung ai muốn đi tùy ý mình.

Thầy nói: “Thiên hạ không thể tin người nữ”.

19

Xưa có hai người theo thầy học đạo, cùng đi đến nước khác. Trên đường đi thấy dấu voi. Một người nói: “Con voi mẹ này có mang voi con cái, một mắt nó mù, trên voi có một người đàn bà đang mang thai một bé gái”. Người kia hỏi: “Anh sao biết?”. Đáp: “Dùng ý tứ mà biết. Anh không tin đi tới nữa sẽ thấy”. Hai người đi bắt kịp voi, đều đúng như lời người trước nói. Đến sau, voi và người đều sinh. Như vậy, người kia tự nghĩ: “Ta với anh ấy cùng theo thầy học, riêng ta không thấy được chỗ chính yếu”. Sau trở về thưa với thầy: “Hai người con cùng đi, anh ấy thấy dấu voi, biết những điểm đúng, mà con thì không hiểu. Xin thầy giảng lại, con không lơ là”. Thầy liền gọi anh kia vào hỏi: “Con sao biết điều đó?” Đáp: “Ấy là điều thầy thường nói. Con thấy chỗ đất voi tiểu tiện thì biết đó là voi cái, thấy chân phải đạp đất lún sâu thì biết voi mang thai con voi cái, thấy cỏ phía bên phải đường không động đậy thì biết mắt phải nó mù, thấy chỗ voi dừng có tiểu tiện thì biết đó là người nữ, thấy chân phải đạp đất lún sâu thì biết mang thai gái. Con dùng ý tứ suy nghĩ chặt chẽ mà thôi”.

Thầy nói: “Hễ học thì phải dùng ý tứ suy nghĩ chặt chẽ thì mới đạt được. Hễ giản lược thì không tới, chẳng phải là lỗi của thầy”.

20

Xưa có người đàn bà có vàng bạc, cùng giao du với một người đàn ông, bèn đem hết vàng bạc, áo quần theo nhau mà đi. Đến bờ một con sông xiết, người đàn ông nói: “Em đem của cải đến đây, anh đưa qua trước, rồi trở lại đón em”. Người đàn ông qua rồi liền chạy đi không trở lại. Người đàn bà một mình ở lại bên này bờ sông, thấy cáo bắt được ó, lại buông ra đi bắt cá. Bắt không được cá, lại mất cả ó. Người đàn bà gọi cáo bảo: “Mày sao ngu quá! Bắt hai thì không được một”. Cáo nói: “Tôi ngu còn được, chứ bà ngu còn quá hơn tôi”.

21

Xưa con gái vua rồng đi chơi, bị đứa chăn trâu bắt trói đánh. Quốc vương đi thị sát, thấy bé gái, bèn cởi trói, bảo đi đi. Vua rồng hỏi con gái: “Sao lại khóc?” Bé gái đáp: “Quốc vương đánh oan con”. Vua rồng nói: “Vua này thường nhân từ, sao đánh oan người”. Vua rồng lén hóa làm một con rắn, nằm dưới giường nghe vua nói với vợ: “Ta đi thấy một đứa bé gái bị đứa chăn trâu đánh. Ta cởi trói bảo đi”. Hôm sau vua rồng hiện thành người đến gặp vua, nói với vua: “Vua có ơn lớn ở chỗ hôm qua hứa cho con gái đi chơi, bị người đánh, được vua đến cởi thả. Tôi là vua rồng, ngài có muốn được gì không?” Vua nói: “Của báu mình đã nhiều, xin nghe được tiếng súc thú nói”. Vua rồng nói: “Phải trai giới bảy ngày. Bảy ngày xong đến bảo tôi. Cẩn thận chớ cho ai biết”.

Như vậy, vua với phu nhân cùng ăn cơm, nghe con ruồi cái bảo ruồi đực lấy cơm. Ruồi đực bảo mỗi con tự mình lấy. Ruồi cái nói: “Bụng em bất tiện”. Vua lỡ cười. Phu nhân hỏi: “Sao vua cười?” Vua mặc nhiên. Sau cùng phu nhân ngồi, vua thấy ruồi leo vách, gặp nhau tranh giành, đánh nhau cùng rớt xuống đất. Vua lại lỡ cười. Phu nhân hỏi: “Sao lại cười?” Như vậy nghe tới lần thứ ba vua nói: “Ta không nói cho em”. Phu nhân nói: “Nếu vua không nói, em sẽ tự sát”. Vua nói: “Đợi ta đi về sẽ nói cho em”.

Vua bèn ra đi. Vua rồng hóa làm vài trăm đầu dê vượt sông. Có một con dê cái mang thai kêu con dê đực: “Anh trở lại đón em”. Dê đực nói: “Anh thật không thể đưa em qua”. Dê cái nói: “Anh không đưa em qua em sẽ tự sát. Anh không thấy quốc vương đang chết vì vợ”. Dê đực nói: “Vua ấy ngu si mới chết vì vợ. Em chết, nghĩ anh chắc không có dê cái khác hay sao?”. Vua nghe vậy, nghĩ: “Ta làm vua một nước, mà trí không bằng con dê ư?” Vua trở về, phu nhân nói: “Vua không vì em mà nói thì em sẽ tự sát”. Vua đáp: “Em tự sát được thì tốt. Trong cung ta còn nhiều phụ nữ, không cần đến em”.

Thầy nói: “Người đàn ông ngu làm theo ý muốn của vợ thì tự giết thân mình”.

22

Xưa có một nước, ngũ cốc được mùa, nhân dân yên ổn, không có bệnh tật, ngày đêm đàn hát, không có lo lắng. Vua hỏi quần thần: “Ta nghe thiên hạ có họa, nó giống cái gì?” Đáp: “Thần cũng không thấy”. Vua sai một bề tôi đến nước láng giềng tìm mua. Thiên thần hóa làm một người bán nó trong chợ, hình thù nó giống như con heo cầm khóa sắt trói chặt. Vị bề tôi hỏi: “Cái đó tên gì?” Đáp: “Mẹ họa”. Hỏi: “Bán bao nhiêu tiền?” Đáp: “Ngàn muôn”. Vị bề tôi bèn xem, hỏi: “Nó ăn gì?” Đáp “Mỗi ngày ăn thăng kim”.

(Từ đó), vị bề tôi phát động nhà nhà tìm kim. Như vậy nhân dân tụm hai, tụm ba gặp nhau đều tìm kim, khiến cho các quận huyện nhiễu loạn đến nỗi hoạn độc cũng không thảm hại hơn. Vị bề tôi trình vua: “Mẹ họa này đã khiến dân chúng rối loạn, trai gái thất nghiệp, muốn giết vứt đi”. Vua nói: “Rất hay!” Rồi ở ngoài thành, đâm không thủng, chém không đứt, phanh không chết, chất củi đốt, thân thể nó đỏ như lửa, bèn chạy đi. Chạy qua làng đốt làng, chạy qua chợ đốt chợ, chạy vào thành đốt thành. Như vậy, chạy qua nước, nước rối loạn, nhân dân đói khát. Ấy là do chán hưởng sướng mà vua đi mua họa.

23

Xưa có oanh vũ bay nhóm ở một núi khác. Chim chóc súc thú trong núi trở nên thương kính, không còn tàn hại nhau. Oanh vũ tự nghĩ: “Tuy vậy không thể ở lâu, nên phải trở về”. Rồi bèn đi. Sau đó vài tháng núi lớn thất hỏa, bốn bề đều cháy. Oanh vũ xa thấy, bèn bay vào sông, dùng lông mình lấy nước bay lên không trung, dùng lông mình rũ nước tưới lên, ý muốn diệt lửa lớn. Như thế cứ bay đi bay lại, bay đi bay lại. Thiên thần nói: “Hỡi oanh vũ, ngươi sao ngu thế. Lửa ngàn dặm, há vì nước đôi cánh ngươi mà dập được sao?” Oanh vũ nói: “Tôi cũng biết là không dập tắt được. Nhưng tôi đã từng ở trọ trong núi đó. Chim chóc súc thú trong núi đều hiền lành, thảy là anh em. Tôi không nỡ thấy chúng chết cháy”. Thiên thần cảm lòng chí thành, bèn làm mưa dập tắt lửa.

24

Phật với Tỳ kheo cùng đi, tránh (đường lớn) đi vào trong cỏ. A Nan hỏi Phật: “Sao thầy bỏ đường, mà đi trong cỏ”. Phật bảo: “Trước có giặc. Sau ba Phạm chí sẽ bị giặc bắt”. Ba người đến sau, thấy bên đường có đống vàng. Họ dừng lại, cùng lấy, rồi sai một người trở lại xóm mua cơm. Người đó lấy thuốc độc bỏ vào cơm để giết hai người kia. “Ta sẽ một mình được vàng”. Hai người kia lại sanh ý thấy người đó đến thì cùng giết, xong lại ăn cơm có thuốc độc, nên đều chết. Ba người mỗi người sanh ác ý, dần dà giết nhau như vậy.

25

Xưa có nhà giàu giấu vợ không để người thấy. Vợ sai đứa hầu đào hang đất, để tư thông với với tên dũa bạc. Chồng sau đó biết được. Vợ nói: “Em suốt đời không đi đâu, anh đừng nói bậy”. Chồng nói: “Phải đem em đến chỗ thần cây”. Vợ nói: “Tốt”. Trì trai bảy ngày, họ vào nhà trai. Người vợ lén nói với tên dũa bạc: “Anh phải làm gì? Anh giả vờ làm người điên, gặp người ở chợ thì ôm giữ kéo đi”. Chồng trì trai xong, bèn đem vợ ra đi. Vợ nói: “Em suốt đời không thấy chợ, anh đem em đi qua chợ”. Tên dũa bạc bèn ôm giữ nằm xuống đất làm vợ tại chỗ. Vợ bèn thở hổn hển kêu chồng: “Sao lại sai người ôm giữ em?” Chồng nói: “Đó là người điên”. Vợ chồng cùng đến chỗ thần, cúi đầu thưa: “Suốt đời không làm ác, chỉ bị người điên ấy ôm”. Vợ liền được sống. Chồng lặng lẽ hổ thẹn. Đàn bà gian trá đến như thế ấy!

26

Xưa có một người con gái đi về nhà chồng. Những cô gái khác cùng tiễn đưa, ăn uống vui chơi ở trên lầu. Một trái quít rớt xuống đất. Các cô cùng trông theo, nói: “Ai dám xuống lấy được quít lên thì sẽ cùng ăn uống”. Người con gái sắp gả bèn xuống lầu, thấy một thanh niên đã lấy được quít. Cô gái nói với cậu thanh niên: “Cho trái quít đi”. Thanh niên đáp: “Em đến lúc lấy chồng thì trước phải đến nhà tôi, tôi mới trả quít lại. Nếu không thì không cho”. Cô gái nói: “Vâng”. Thanh niên liền trao quít. Cô gái được quít mang trở về. Các cô cùng nhau ăn uống, rồi đem cô đến chỗ chồng. Cô gái nói: “Tôi có lời thề nặng, xin trước đến gặp cậu thanh niên, rồi trở về làm vợ anh”. Người chồng cho đi. Ra khỏi thành gặp giặc, cô xin xỏ giặc: “Tôi có lời thề nặng phải trả”. Giặc thả cho đi. Vừa lên phía trước thì gặp quỉ ăn thịt người, cô cúi đầu xin cỗi lời thề. Quỉ thả cho đi. Đến cửa nhà cậu thanh niên, bèn xin ngồi tại gia trước, cậu thanh niên không cản trở, còn dọn đồ ăn uống, rồi đem vàng riêng một bánh, đưa trở về.

Thầy nói: “Như vậy, chồng, giặc, quỉ, và cậu thanh niên, bốn người đều tốt. Tuy ý còn có chỗ khác nhau. Hoặc có người nói chồng hơn vì giữ kỹ vợ, hoặc nói giặc hơn vì giữ kỹ của cải. Hoặc nói quỉ hơn vì giữ kỹ ăn uống. Hoặc nói cậu thanh niên hơn vì là thường thường”.

27

Xưa có người đàn bà thường nói: “Ta không bao giờ mất gì”. Đứa con đem chiếc nhẫn của mẹ quăng xuống sông rồi đến hỏi mẹ: “Chiếc nhẫn vàng đâu rồi?”. Người mẹ nói: “Ta có mất gì đâu”. Hôm sau, người mẹ mời ngài Mục Liên, A Na Luật và Đại Ca Diếp đến ăn cơm. Bấy giờ đang được mùa cá. Bèn sai người đi chợ mua cá về làm thì tìm được chiếc nhẫn trong bụng cá. Người mẹ gọi con nói: “Ta có mất gì đâu”. Người con rất vui mừng, đi đến chỗ Phật hỏi: “Mẹ con vì đâu có được phước báu không mất ấy?” Đức Phật dạy: “Xưa có một tiên nhân ở phía Bắc núi, đến mùa đông thì tối tăm lạnh lẽo, ai ai cũng dời về phía Nam núi. Bấy giờ có một bà góa già nghèo khó không thể đi, một mình ở lại cất giấu của cải đồ vật cho mọi người. Xuân đến, mọi người trở về, người mẹ đem hết từng cái trao lại cho chủ chúng. Mọi người đều vui mừng”. Đức Phật dạy: “Người mẹ góa ấy là mẹ con bây giờ. Đời trước giữ của cải cho mọi người nên nay được phước báu không mất gì”.

Xưa có người con nhà giàu làm một nhà nhỏ cho Ly Việt, chỗ đủ để ở cho một người, lại làm chỗ kinh hành. Sau chết, bèn sinh lên trời Đao Lợi, có được nhà báu doanh vây bốn ngàn dặm, muốn gì thì được thỏa, vui vẻ đem hoa trời rải trên nhà Ly Việt. Vị trời nói: “Ta làm một chòi đất nhỏ, mà được cung điện đẹp, nhớ ơn nên đến rải hoa”.

28

Xưa có ba nhà tu cùng hỏi nhau: “Thầy vì sao đắc đạo?” Một người nói: “Tôi ở trong vương quốc, thấy vườn nho nở rộ đẹp, đến chiều người ta đến bẻ lấy đi mất. Cả vườn tàn tạ ngổn ngang trên mặt đất. Tôi thấy vậy biết đời vô thường, nhân thế đắc đạo”. Người kia nói: “Tôi ngồi bên bờ sông, thấy người đàn bà đưa tay giặt đồ, những chiếc vòng va nhau, nhân thế hợp thành tiếng. Tôi nhờ vậy mà đắc đạo”. Người thứ ba nói: “Tôi ngồi bên bờ sông có hoa sen, thấy hoa nở rộ đẹp, đến chiều có vài chục cỗ xe đến, người ngựa đều xuống tắm, lấy hoa đi sạch. Vạn vật vô thường là thế. Tôi giác ngộ điều đó nên đắc đạo”.

29

Xưa có Phạm chí tài cao, học vấn rộng lớn, luận nghị chi ly, chủ trương không mối, ép đổi lẽ ngay, đem hư làm thật, lấy vật kết dụ, chẳng ai đương nổi, các nước đều thờ làm thầy. Sau đến nước Xá Vệ, ban ngày thắp đuốc mà đi. Người trong thành hỏi: “Sao lại như vậy?” Đáp: “Nước tối tăm không ánh sáng, nên đốt đuốc”. Quốc vương rất xấu hổ, treo trống dưới cổng thành, chiêu tìm người sáng suốt có thể đánh bại kẻ kia. Bấy giờ có một sa môn vào nước hỏi: “Sao lại có chuyện đó?” Đáp: “Vua xấu hổ vì việc làm của Phạm chí. Nếu có ai sáng suốt thì xin đánh trống”. Sa môn dở chân nhảy vào. Vua nghe rất vui mừng. Bèn mời sa môn và Phạm chí lên điện ăn uống. Sa môn nói với vua: “Lành thay Phạm chí này, trí tuệ minh đạt, đúng là nhà tu, chẳng phải giống nô tì, lính tráng hay vác người chết”. Phạm chí mặc nhiên, không có gì đáp lại. Nhạc múa đồng thời trổi lên. Vua bèn đem Phạm chí quăng vào sọt phân, xóa dấu vết, đuổi ra khỏi nước, truyền bảo nói cho nhau biết.

30

Xưa có sa môn ăn xong, kỳ cọ trang sức mặt mày, chỉnh đốn áo quần, ngắm nghía trước sau. A Nan bạch Phật nói: “Tỳ kheo này không đúng phép nên mới thế”. Đức Phật dạy: “Ông ấy vừa đến từ kiếp đàn bà, nên thói cũ chưa hết”. Thầy Tỳ kheo liền hiện quả la hán, tịch đi luôn.

31

Xưa ngoài thành Xá Vệ có vợ nhà người kia là thanh tín nữ, giới hạnh thuần đủ. Đức Phật tự đến cửa nhà khất thực. Người vợ đem cơm đặt trong bát, rồi làm lễ. Đức Phật dạy: “Gieo một sinh mười, gieo mười sinh trăm, gieo trăm sinh ngàn, như vậy sinh vạn sinh ức, đến được thấy đạo chân”. Người chồng không tin đạo đức, lặng lẽ đứng sau nghe Phật chú nguyện, nói: “ Sa môn Cù Đàm nói sao như quá lắm. Cho một bát cơm mà được phước đến vậy, lại thấy được đạo chân”. Đức Phật hỏi: “Anh từ đâu đến?” Đáp: “Từ trong thành đến”. Đức Phật hỏi: “Anh thấy cây bàng cao bao nhiêu?” Đáp: “Cao bốn mươi dặm, mỗi năm vài vạn hộc trái, hạt lớn như hạt cải”. (Chỗ này chắc có thoát lạc đi một câu hỏi của đức Phật, đại khái như: “Trồng bao nhiêu hạt mà được nhiều thế?” để có lời đáp: “Chút ít thôi”) Đáp: “Chút ít thôi”. Đức Phật hỏi: “Một thăng ư?” Đáp: “Một hạt thôi”. Đức Phật hỏi: “Anh nói sao như quá lắm thế, trồng một hạt như một hạt cải, mà cao tới bốn mươi dặm, một năm vài mươi vạn trái”. Đáp: “Thật vậy”. Đức Phật dạy: “Đất vô tri, mà sức báo trả nó còn thế, huống nữa vui vẻ đem một bát cơm dâng Phật, phước không thể kể đo”. Vợ chồng lòng ý cởi mở, tức khắc chứng được quả Tu đà hoàn.

32

Xưa có sa môn đã chứng được quả A na hàm, ở trên núi nấu cỏ nhuộm y. Bấy giờ có người mất trâu, đi khắp nơi tìm trâu. Thấy trên núi có khói, bèn đến xem thấy trong nồi thảy là xương trâu, bát hóa thành đầu trâu, cà sa hóa thành da trâu. Người ấy bèn lấy xương cột với đầu, đi khắp trong nước. Mọi người đều thấy.

Sa di thấy mặt trời đã đứng bóng, đánh bảng, không thấy thầy đến. Bèn vào phòng ngồi suy nghĩ, thấy thầy đã bị người ta làm nhục, liền đến đảnh lễ thưa: “Vì sao như vậy?” Đáp: “Tội lỗi xa xưa”. Sa di nói: “Có thể tạm về ăn cơm”. Hai người liền duỗi chân thần cùng đi. Sa di chưa đắc đạo, thường có lòng giận chưa trừ, xem thấy thanh tín sĩ và người trong nước đối đãi với thầy mình như vậy, bèn sai rồng mưa cát đá. Thành quách nhà cửa đều bị phá hoại. Thầy bảo: “Ta kiếp trước một đời làm nghề mổ trâu, nên bị họa như thế. Con vì sao lại gây tội đó? Con đi không cần phải đuổi theo ta”.

Thầy nói: “Tội phước như vậy, há không cẩn thận ư?”.

33

Xưa có quốc vương và năm người đại thần. Một đại thần hôm trước đến mời Phật. Phật không nhận. Đại thần trở về. Nhân vua mời Phật, Phật nói: “Đại thần ấy hôm nay chắc hết sống, ngày mai nhờ ai mà làm phước ư?” Đại thần thường bảo thầy xem tướng nói: “Phải chết về việc binh”. Nên thường dùng lính để tự vệ. Bản thân mình cũng rút kiếm cầm lấy. Đêm khuya muốn ngủ, bèn đem kiếm giao cho vợ giữ. Vợ ngủ gục, rơi kiếm, cắt đầu chồng. Vợ liền khóc lóc nói: “Anh chết”. Vua liền triệu bốn đại thần đến hỏi: “Các ông tổ chức tự vệ, gấp rút đề phòng gian biến, mà đem vợ theo để bỗng chốc gây ra tội này, thì đứng giữ một bên là để cho ai”. Bèn chém tay phải của bốn đại thần.

A Nan hỏi Phật vì sao? Đức Phật nói: “Người chồng đời trước làm trẻ chăn dê, vợ là con dê mẹ trắng. Bốn đại thần đời trước làm giặc, thấy trẻ chăn dê, gọi trẻ cùng giơ tay phải chỉ khiến giết con dê mẹ trắng, rồi năm người cùng nướng ăn. Trẻ khóc lóc buồn bã, giết dê cho giặc ăn. Như vậy dần dà sống chết đến đời này mới gặp nhau để trả tội kiếp trước.”

34

Xưa có nhà giàu, giàu cả cự ức, thường thích bố thí, ai xin không trái ý. Sau sinh một đứa con trai không có tay chân, thân hình như cá, nên gọi là ngư thân. Cha mẹ cuối cùng mất đi, bèn thừa kế gia nghiệp, nằm ngủ trong nhà không có ai thấy.

Bấy giờ có lực sĩ được ăn bếp vua luôn thấy đói thiếu, một mình kéo mười sáu xe củi bán để nuôi mình, lại thường không đủ. Bèn đến nhà giàu trên xin chỗ không đủ, nói: “Nhiều năm được vua cho ăn uống, nhưng thường không đủ, luôn cảm thấy đói, (nay) nghe nhà giàu của cải cự ức, nên đến xin ăn.”

Ngư thân mời đến gặp. Thấy thân hình ấy, lực sĩ trở về tự nghĩ: “Sức đá nên vậy, gần không như người không tay chân nhờ lấy đồ vật”. Bèn đến chỗ Phật, hỏi chỗ mình nghi: “Đời hoặc có người giàu sang như quốc vương, mà chết không có tay chân. Lo làm giàu nên mới vậy. Gần hơn là con sức vóc trong nước vô địch, mà thường đói khát, ăn uống không đủ. Cớ sao như thế?”

Phật dạy: “Xưa vào đời Phật Ca Diếp, ngư thân với vua ấy cùng dâng cơm cho Phật, con lúc ấy nghèo khó, chạy đến giúp. Ngư thân lo đủ những gì cần có, rồi cùng vua đi, nhưng gọi vua bảo: “Hôm nay có việc, tôi không thể cùng đi được. Bỏ việc đó là chặt bỏ tay chân tôi không khác”. Người đi lúc ấy, nay là vua. Người thất hứa không đi, nay là ngư thân. Người nghèo khó giúp đỡ, nay là thân con”. Nhờ thế, lòng ý lực sĩ hiểu ra, liền làm sa môn, đắc đạo A la hán.

35

Đức Phật giảng kinh cho các đệ tử. Bấy giờ có người thợ săn vác nỏ và mang hơn mười con chim chết, qua đến xem Phật, với ý tinh thành, nguyện nghe giảng kinh, lòng muốn nghe nhận. Phật bèn ngưng, không giảng nữa. Người thợ săn bỏ đi, nói: “Nếu ta thành Phật, sẽ vì hết thảy mọi người thuyết pháp, không trái ý ai”.

A Nan hỏi Phật: “Người này dọn lòng, muốn nghe giáo lý, sao làm trái ý?” Phật dạy: “Người ấy là bậc đại Bồ tát, lập tâm kiên cố. Xưa làm quốc vương, lòng ở không đều với đám thể nữ, những kẻ không gặp sủng ái cùng nhau giết vua. Vua sinh vào nhà thợ săn. Các thể nữ đều đọa làm muông thú. Nay trả hết tội rồi, sau sẽ thành tựu. Nếu giảng kinh cho người ấy, e lòng y sợ hãi, sẽ đọa vào đường la hán, nên không giảng kinh cho y”.

36

Xưa trong chùa Phật có vạc vàng dùng để nấu thức ăn cung cấp cho các sư. Bấy giờ có người phàm vào xem, thấy vạc vàng, muốn lấy cắp, nhưng không có cách. Bèn giả vờ làm sa môn. Mặc áo tu vào ở trong các sư, nghe vị thượng tọa giảng kinh, nói về các chứng yếu của tội phước sống chết, các bằng cớ của quả báo ảnh hưởng không thể thoát được. Kẻ cắp trong lòng hiểu ra, cảm thấy hổ thẹn hối hận, dọn lòng chuyên tâm thì thấy được dấu đạo. Nghĩ đến nguyên do thì “vạc là thầy ta”, bèn đặc biệt trước đến lạy chiếc vạc, đi quanh ba vòng, rồi tự nói hết đầy đủ cho các sa môn nghe.

Phàm việc giác ngộ mỗi người đều có lý do. Lòng chuyên nhất thì không thể nào không thấy sự thật.

37

Xưa có A Na Luật đã chứng la hán thì dung nhan ông trong chúng Tỳ kheo đẹp đẽ như người con gái. Lúc ấy ông đi một mình trong cỏ. Có một thanh niên ăn chơi thấy, cho là con gái. Lòng tà nổi mạnh, muốn đến cưỡng hiếp, thì biết là đàn ông. Trông lại mình, thân hình biến thành con gái. Bèn hổ thẹn uất ức, tự đày mình vào núi sâu, không dám về nhà.

Trải hơn mấy năm, vợ con nhà anh ta không biết sống chỗ nào, cho là đã chết mất, khóc lóc không yên. (Một hôm) A Na Luật đi khất thực, đến tới nhà ấy. Người vợ khóc lóc, tự kể việc chồng mình đi không về, mong phước lực bố thí khiến chồng được sống sót. A Na Luật mặc nhiên không đáp, lòng có niềm thương. Bèn đến trong núi, tìm gặp. Người ấy hối lỗi tự trách, thân hình trở lại thành đàn ông, bèn trở về nhà, gặp lại vợ con.

Phàm người đắc đạo thì không thể dùng ý ác đối với họ, nếu không, trở lại mình chịu tai họa.

38

Xưa có Tỳ kheo ngồi dưới gốc cây trống vắng hành đạo. Trên cây có một con khỉ, thấy Tỳ kheo ăn, nó tụt xuống đứng một bên. Tỳ kheo lấy cơm dư đem cho. Khỉ được ăn, bèn đi lấy nước dùng để tắm rửa. Như vậy cả tháng. Hôm sau ăn, bỗng quên không để cơm lại. Khỉ không được ăn, rất giận, lấy cà sa của Tỳ kheo đem lên cây, xé nát hết. Vị Tỳ kheo tức con vật đó, lấy gậy đánh, lỡ trúng rớt xuống đất. Khỉ liền chết. Mấy con khỉ khác cùng đến gào khóc, khiêng con khỉ chết đến trong chùa Phật. Chúng Tỳ kheo biết tất có lý do. Họ tập hợp các Tỳ kheo tìm hỏi ý nghĩa. Vị Tỳ kheo ấy kể lại đầy đủ sự thật. Từ đó, đặt quy định: “Từ nay trở đi, Tỳ kheo mỗi khi ăn phải cắt bớt phần ăn để lại cho các loài động vật, không được ăn hết”. Đàn việt dâng cơm bắt đầu từ đó.

39

Xưa có ba ba gặp mùa khô hạn, ao đầm cạn kiệt, không thể tự mình đi đến chỗ có ăn. Bấy giờ có con cò đến đậu một bên. Ba ba đến xin thương xót, mong được cứu giúp. Cò ngậm ba ba, bay qua trên kinh đô. Ba ba không im tiếng, lại hỏi: “Đây là đâu?”. Như vậy không ngưng. Cò bèn đáp. Khi đáp thì mở miệng, ba ba liền rớt xuống đất. Người ta bắt được, làm thịt ăn.

Phàm người ngu không suy nghĩ, không giữ miệng lưỡi thì cũng ví như vậy.

Xưa có vị sa môn bảo người anh cạo đầu. Cạo xong, người anh cúi đầu sát đất làm lễ nói: “Xin cho ta đời sau, tâm ý trong sạch, trí tuệ như nhà tu”. Nhà tu nói: “Mong ông trí tuệ hơn tôi”. Người ấy làm lễ mà đi. Sau chết sinh lên trời Đao Lợi. Hết sống trên trời lại thác xuống sinh làm con nhà giàu, sau được làm sa môn có trí tuệ, thấy được dấu đạo. Đó là do lòng thành mà có.

40

Xưa có Phạm chí đến xin quốc vuơng. Quốc vương định đi săn, bảo Phạm chí chờ trên điện đợi ta về. Rồi ra đi săn, đuổi theo muôn thú, lạc mất đám bề tôi. Tới trong hang núi thì gặp quỉ. Quỉ muốn ăn thịt. Vua nói: “Hãy nghe ta nói. Sáng nay tại trong cửa hành, ta gặp một nhà tu tới xin. Ta bảo chờ trên điện đợi về. Nên nay ta xin tạm trở về cho đồ nhà tu ấy, xong sẽ đến cho ăn thịt”. Quỉ nói: “Nay ta muốn ăn ông, mà ông há chịu trở lại ư?” Vua nói: “Lành thay! Thật không có người tin là ta đang nghĩ tới nhà tu ấy sao?” Quỉ liền thả vua đi. Vua về cung, đem đồ vật cho nhà tu, giao nước cho thái tử. Vua trở lại gặp quỉ. Quỉ thấy vua đến, cảm lòng chí thành của vua, lễ tạ không dám ăn.

Thầy nói: “Vua dùng một chữ thành, mà toàn mạng cứu nước, huống nữa là người hiền giả vâng giữ năm giới, bố thí hết lòng, thì phước ấy vô lượng”.

41

Xưa vua A Dục thường thích bố thí, dâng cơm sa môn, bảo thái tử tự mình múc dọn các món ăn. Thái tử thầm giận nói: “Đến khi ta làm vua, sẽ giết hết các thầy tu”. Nhà tu biết thái tử tức giận, gọi thái tử bảo: “Ta không còn ở lâu thế gian nữa”. Thái tử kinh ngạc nghĩ: “Nhà tu sáng suốt nên mới biết tâm ý ta như vậy”. Bèn liền nghĩ ngược lại: “Khi ta làm vua, sẽ cúng dường các nhà tu hơn cha ta”. Lòng bèn thanh thản, bỏ ác theo thiện. Nhà tu nói: “Đến khi Ngài làm vua thì tôi đã sinh lên trời”. Thái tử nói: “Thánh thay vị sa môn”. Sau lên làm vua, bèn dùng năm giới mười lành làm quốc chiùnh, nước thành thái bình.

42

Xưa có nhà giàu lấy hai vợ. Vợ lớn hằng ngày đem cơm ngon cúng dường sa môn. Sa môn mỗi ngày đến lấy cơm. Vợ bé ghét cay. Hôm sau sa môn lại đến. Vợ bé liền lấy bát, đem đồ dơ bỏ trong bát, lấy cơm đặt lên trên, rồi trao bát lại cho sa môn. Sa môn đem đi, ở trong núi vừa định ăn, thấy đồ dơ, bèn đi rửa bát, sau không dám đến nữa. Từ đó trong miệng và thân thể vợ bé đều hôi. Người gặp đều chạy tránh. Sau chết đọa vào địa ngục phân sôi. Như vậy trải qua ba đường dữ mấy ngàn vạn năm, tội hết mới được làm người, thường muốn ăn phân, nếu không được thì bụng quặn đau. Sau làm vợ người ta, đêm dậy lén đi ăn phân. Như thế nhiều lần, chồng lấy làm lạ, bèn đi tìm xem, thấy vợ ăn phân. Do việc làm đời trước đưa tới.

Người có bốn việc khó được thành. Một là tháp. Hai là nhà ở cho chúng Tăng. Ba là dâng cơm cho chúng Tỳ kheo. Bốn là xuất gia làm sa môn. Làm được bốn việc đó thì phước nó vô lượng. Vì sao vậy? Ba cõi có lúc có. Đã được làm người, lại có của cải, hay nhổ được gốc bủn xỉn, bố thí đúng lúc, công nghiệp dựng thành, đó cũng là khó được. Có thể biết phước đó, chỉ đức Phật mà thôi.

Phật dạy: “Tỳ kheo không đem chuyện cơm ăn, mà gọi nhau là thân đạo. Chỉ đem kinh pháp răn dạy nhau mới là thân. Tỳ kheo đem chuyện ăn uống ngon ngọt dâng cúng nhau thì đời này Tỳ kheo có tiếng lành, nhưng đời sau không có gì đáp lại, mà đối đức Phật thì mắc lời dữ. Vì sao vậy? Ngoại đạo thấy Tỳ kheo sẽ nói: “Đệ tử Phật chỉ đem cơm ngon áo đẹp cho nhau. Ai dạy họ thế, chính là Phật”. Nên Phật mắc lời dữ. Tỳ kheo đem kinh giới đạo pháp mời dạy nhau, thì mới là rất thân hậu. Vì sao vậy? Ngoại đạo thấy Tỳ kheo, sẽ nói: “Đệ tử Phật chỉ đem kinh giới đạo pháp cho nhau, chứ không cho nhau gì khác”. Thì đối với Tỳ kheo đời này được tiếng lành, đời sau được giải thoát, còn đối với Phật thì có lời lành. Sao lại nói thế? Đức Phật là thầy của các Tỳ kheo, dạy đệ tử chỉ dùng kinh giới đạo pháp. Cho nên, không nhất thiết cho cơm ăn là ân huệ, mà chỉ đem lời lành cho nhau thôi.

Phật dạy: “Tỳ kheo nên biết đủ. Những gì là nên biết đủ? Ấy gọi là đi tìm một manh áo, một bữa ăn, thường ở chỗ kinh hành nghĩ tới điều không nghĩ, bên ngoài tìm cách ngừng lại không làm loạn ý. Đó là biết đủ. Nhưng cũng không nên kể biết đủ, ấy gọi là kinh giới cho đến được định bốn thiền và bốn không; bậc Tu đà hoàn, Tư đà hàm, thì chưa thể kể là biết đủ. Như thếø không nên kể là đủ”.

43

Có Tỳ kheo đi khất thực. Đứng giữa đường, thấy quá muốn tiểu, bèn đi tiểu. Người đi đường thấy, đều chê cười, nói: “Đệ tử Phật đi đứng có phép tắc, ăn mặc có oai nghi. Mà Tỳ kheo này đứng tiểu thì thật rất đáng chê cười”. Bấy giờ có ngoại đạo phái Ni Kiền Tử thấy người ta chê cười Tỳ kheo ấy, bèn tự nghĩ: “Chúng ta giòng Ni Kiền Tử, trần truồng mà đi không ai hỏi. Đệ tử Phật đứng tiểu thì người ta đều cười chê. Như vậy, thấy chúng ta không có phép tắc, nên người ta không cười. Chỉ riêng đệ tử Phật, phép tắc trong sạch, có lễ nghi, dễ cho người ta bàn tán vậy”. Bèn tự mình đi về chỗ Phật, xin làm sa môn, liền được quả Tu đà hoàn.

Tỳ kheo là thầy của mọi người, giống như sư tử là vua của các loài thú, nên ăn nói phải đúng phép, đi đứng nằm ngồi phải có oai nghi, để làm phép tắc cho mọi người, không được tự khinh. Tự khinh tự hủy mình là làm nhục tiên hiền.

Vua trời Đế Thích và đệ nhất Tứ thiên vương, vào ngày rằm ba lần xem thiên hạ ai trì giới, thấy ai trì giới liền vui mừng. Bấy giờ vào ngày rằm, vua trời Đế Thích ngồi tại chánh điện, tự nghĩ: “Thiên hạ nếu có ai ba lần ăn chay ngày rằm thì khi chết có thể được ngôi ta”. Các trời ngồi bên vô cùng kinh sợ, nói: “Chỉ ngày rằm ăn chay ba lần, mà được chỗ của Đế Thích ư?” Có Tỳ kheo đã chứng A la hán, biết tâm niệm của Đế Thích, bạch Phật, nói: “Há có thể đúng như lời Đế Thích nói chăng?” Phật dạy: “Lời Đế Thích nói, không thể tin, vì không nói thật. Sao vậy? Người tinh tấn ngày rằm ăn chay ba lần có thể độ được đời, sao chỉ vì ngôi của Đế Thích? Như thế là nói không thật, chưa đủ tin. Ai có thể biết được phước của việc trì trai, chỉ Phật mà thôi”.

44

Trong biển có rồng lớn. Rồng muốn làm mưa trên đất cõi Diêm phù đề, nhưng sợ đất không chịu được nước mưa. Ý rồng nghĩ: “Đất không chịu được ta làm mưa, thì ta về biển mình mà mưa”. Phật ban cho đệ tử oai đức rất lớn, muốn đem ban cho chín mươi sáu nhà ngoại đạo, nhưng sợ không thể chịu được. Nên đệ tử Phật dần dà tự ban cho nhau, giống như rồng tự trở về làm mưa trong biển mình.

45

Xưa có Phạm chí đã 120 tuổi. Trẻ không lấy vợ, không có lòng dâm, ở chốn núi sâu không người, dùng tranh làm nhà, lác làm chiếu, dùng nước suối trái rừng làm thức ăn uống, không chứa của cải. Vua mời không đến, lòng lặng ở chốn vô vi, ở trong núi đã mấy chục năm hơn (chỗ này nguyên bản viết chữ “thiên” là ngàn, nhưng so với truyện này trong Lục độ tập kinh, thì Lục độ tập kinh có chữ “thập”, chúng tôi cho chữ “thiên” là in sai của chữ “thập”, và dịch “chục”), ngày cùng cầm thú vui chơi. Có bốn con: Một là cáo. Hai là khỉ. Ba là rái. Bốn là thỏ. Bốn thú này hằng ngày ở chỗ tu nghe kinh dạy giới, như thế đã lâu, nên các trái rừng đã bị ăn sạch.

Sau nhà tu có ý muốn dời đi. Bốn con ấy rất buồn không vui, bèn cùng bàn nhau: “Chúng ta mỗi con đi tìm thức ăn để cúng dường nhà tu”. Khỉ đi đến một núi khác, lấy quả ngọt dâng nhà tu, xin ngưng đừng đi. Cáo cũng đi, hóa làm người xin ăn được một túi cơm khô, đem về dâng nhà tu có thể dùng làm lương thực cho một tháng, xin ở lại. Rái cũng lại xuống sông bắt cá lớn đem đến, để dâng nhà tu, đủ lượng một tháng, xin đừng đi. Thỏ tự nghĩ: “Ta sẽ có gì cúng dường nhà tu?” Rồi tự nghĩ: “Sẽ đem thân ta đến cúng dường”. Bèn đi lấy củi, đốt lửa để làm than, rồi đến thưa với nhà tu, nói: “Nay con là thỏ rất nhỏ bé, xin được vào nướng trong lửa, đem mình dâng nhà tu, có thể dùng làm lương thực một ngày”. Thỏ liền tự nhảy vào trong lửa, lửa vì vậy không cháy, nhà tu thấy thỏ, cảm nó nhân nghĩa, thương xót, bèn dừng ở lại.

Đức Phật nói: “Phạm chí lúc ấy là Phật Đề Hòa Kiệt. Thỏ lúc ấy là thân ta, Khỉ là Xá Lợi Phất, Cáo là A Nan, Rái là Mục Kiền Liên ấy vậy”.

46

Xưa có năm nhà tu cùng đi đường, gặp mưa tuyết, đến qua đêm trong một đền thần, trong đền có tượng thần, mà quan dân trong nước phụng thờ. Bốn người nói: “Đêm nay lạnh quá, có thể lấy tượng gỗ kia đốt để sưởi ấm”. Người còn lại nói: “Đó là tượng người ta thờ, không thể đem phá”. Bèn để lại không chẻ. Trong đền quỉ thường ăn thịt người. Chúng đang tụ nói chuyện với nhau: “Chính nên ăn người ấy vì người ấy sợ ta, còn bốn người kia dữ, không thể phạm được”. Người kêu ngưng không dám chẻ tượng, đêm nghe quỉ nói, thức dậy kêu bạn mình: “Sao không lấy chẻ tượng đó dùng để sưởi ấm”. Họ lấy đốt đi. Quỉ ăn thịt người bèn bỏ chạy.

Phàm người học đạo thường nên vững lòng, không thể khiếp nhược, để cho quỉ thần được tự tiện đối với con người.

47

Xưa có quốc vương bỏ nước đi làm sa môn, ở trong núi tịnh tu, lấy tranh làm nhà, lách làm chiếu, tự bảo là đắc chí, cười lớn nói: “Khoái thay!” Nhà tu ở gần bên hỏi: “Ngài khoái lạc, nay một mình ngồi trong núi học đạo thì có khoái lạc gì?”. Sa môn đáp: “Lúc ta làm vua lo nghĩ nhiều việc, hoặc sợ vua láng giềng cướp mất nước ta, sợ người cướp của cải ta, hoặc sợ ta vì người mà tham lợi, thường sợ đám bề tôi lợi dụng của báu của ta mà làm phản nghịch bất cứ lúc nào. Nay ta làm sa môn, người không tham lợi ta, khoái không thể nói. Vì thế, nói là khoái”.

48

Xưa có quốc vương rất thích đạo đức, thường đi nhiễu tháp trăm vòng. Chưa xong thì vua nước láng giềng đến đánh, muốn cướp nước ông. Bề tôi hầu hạ rất sợ hãi, liền đi báo vua, nói: “Có quân đến đánh, xin đại vương bỏ việc nhiễu tháp này, trở về quyền biến suy nghĩ để ngăn giặc dữ”. Vua nói: “Cho quân nó đến, ta quyết không bỏ”. Tâm ý như cũ, nhiễu tháp chưa xong thì quân giặc tan bỏ. Phàm người định ý nhất tâm, thì không gì là không diệt được.

49

Xưa có quốc vương, thường đi qua Phật làm lễ, không kể bùn mưa. Tôi hầu ghét, đem nói với nhau: “Vua nghĩ sao mà làm phiền toái quá”. Vua nghe được, trở về cung, ra lệnh cho hạ thần đi tìm một trăm đầu thú và một chiếc đầu người đem đến. Hạ thần tâu vua: “Đã đủ”. Vua sai bán ngoài chợ. Đầu thú thì mua hết, còn đầu người thì không ai mua. Hạ thần trình vua: “Bán một trăm đầu thú thì mua hết. Còn đầu người này hôi thối không ai mua”. Vua bèn nói với các thị thần: “Các người không hiểu. Trước đây ta qua chỗ Phật làm lễ Phật, các người nói: ‘Ý vua phiền toái’. Bây giờ muốn biết thì đầu ta như đầu người chết kia dơ dáy, nên đem cầu phước có thể được sinh lên trời. Các người ngu si không biết trở lại nói phiền”. Thị thần tâu: “Thật đúng như đại vương nói”. Họ cúi đầu tạ lỗi: “Chúng thần ngu si không nghĩ tới”. Vua sau đó lại ra đi. Các bề tôi đều xuống ngựa làm lễ Phật, lấy vua làm khuôn mẫu.

50

Xưa có quốc vương đi chơi, mỗi khi thấy sa môn, bèn xuống xe làm lễ sa môn. Nhà tu nói: “Đại vương ngưng, đừng xuống xe nữa”. Vua nói: “Ta lên, chứ không xuống. Sở dĩ nói lên chứ không xuống, là vì nay ta làm lễ nhà tu thì sau khi chết rồi sẽ sinh lên trời, nên nói lên chứ không xuống”.

51

Xưa có người sau khi chết rồi, thần hồn trở về tự vuốt ve bộ xương cũ của nó. Người ở bên hỏi: “Người đã chết, sao lại còn vuốt ve bộ xương khô?” Thần hồn đáp: “Đó là thân xưa của tôi, thân không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, không tật đố, không sân hận, không si mê, sau khi chết được sinh lên trời, ước gì tự nhiên có, khoái lạc vô cùng. Cho nên yêu chuộng nó”.

52

Xưa nước ngoài có sa môn ở trong núi hành đạo. Có quỉ hóa ra làm người không đầu, đi đến trước mặt sa môn. Sa môn kêu nói: “Không có nỗi khổ của đau đầu. Mắt nhờ đầu thấy sắc, tai nhờ nghe tiếng, mũi nhờ biết thơm, miệng nhờ nhận mùi. Bây giờ hoàn toàn không đầu, một nỗi vui sao!” Quỉ lại đi mất, lại hóa người không mình, chỉ có tay chân. Sa môn nói: “Không mình, không biết đau ngứa, không ngũ tạng, không biết bệnh hoạn. Một nỗi vui sao!” Quỉ lại đi mất. Lại hóa làm người không tay chân, từ một mặt bánh xe đang chạy đến sa môn. Nhà tu nói: “Rất vui là không có tay chân thì không thể lấy của cải người khác. Vui xiết bao!” Quỉ nói: “Sa môn giữ tâm không động”. Quỉ bèn hóa là một thanh niên đẹp đẽ đến cúi đầu đảnh lễ nhà tu, nói: “Nhà tu giữ lòng vững nên mới như vậy. Nay nhà tu học đạo, không lâu nữa thì thành công”. Bèn cung kính cúi đầu đảnh lễ mà đi.

53

Xưa sa môn hành đạo trong núi, cởi áo lót rớt đất, bèn ngó phải trái, rồi từ từ lấy áo mặc lại. Thần núi hiện ra bảo nhà tu: “Ở đây không có người dân nào. Áo rớt đất, sao lại vội vàng mặc lại?” Sa môn nói: “Thần núi thấy ta, ta cũng tự thấy mình. Trên có mặt trời, mặt trăng, chư thiên thấy ta. Theo lẽ thì không thể để mình trần, mà không xấu hổ, là không phải đệ tử Phật”.

54

Xưa có sáu người làm bạn nhau đều đọa địa ngục, cùng ở trong một vạc, đều muốn kể tội mình. Một người nói sa. Người thứ hai nói na. Người thứ ba nói đặc. Người thứ tư nói thiệp. Người thứ năm nói cô. Người thứ sáu nói đà la. Phật thấy vậy, cười. Mục Kiền Liên hỏi Phật: “Vì sao vậy?” Phật nói: “Có sáu người làm bạn đều đoạ địa ngục cùng ở trong một vạc, mỗi người muốn kể lại tội mình, nhưng nước sôi sùng sục, không thể nói tiếp, mỗi người chỉ nói một chữ, rồi bị nhận chìm xuống lại. Người nói sa là sáu mươi ức vạn năm ở thế gian là một ngày ở địa ngục thì bao giờ mới hết được. Người thứ hai nói na là không có hạn, cũng không biết bao giờ mới được thoát. Người thứ ba nói đặc là khốn khốn, buôn bán để làm gì như vậy mà không thể ngăn lòng, cướp mất phần năm của nhà cúng dường Tam bảo, ngu tham không biết đủ, nay hối ích gì? Người thứ tư nói thiệp là nói buôn bán không chí thành, tài sản ta thuộc người khác, thành ra bị đau đớn. Người thứ năm nói cô là ai sẽ bảo lãnh ta ra khỏi địa ngục thì không còn phạm giới cấm, được sinh làm trời người sung sướng. Người thứ sáu nói đà la là việc đó gốc gác không được lòng tính toán, ví như người đánh xe lạc đường, đi vào đường tà, gãy trục xe, hối không còn kịp nữa”.

SAO BẢY TRUYỆN THÍ DỤ BẺ GÃY LA HÁN

55

Xưa đức Phật sai Xá Lợi Phất đi về phía Tây nước Trang Nghiêm của Phật Duy Vệ, hỏi đức Phật kia ba việc: “Thân thể Phật an ổn không? Thuyết pháp như thường không? Người nghe có tăng lên không?”

Xá Lợi Phất liền nhờ oai thần của Phật đi đến nước kia, nói lời như vậy. Đức Phật kia trả lời: “Tất cả đều an ổn”. Bấy giờ, đức Phật kia quay bánh xe Bất thối chuyển, để thuyết pháp cho Bồ tát của trụ thứ bảy. Xá Lợi Phất nghe, rồi từ nước ấy trở về, mặt mày rạng rỡ, đi đứng khác thường.

Đức Phật hỏi Xá Lợi Phất: “Con đến cõi kia về, sao đi đứng vui vẻ thế?” Xá Lợi Phất bạch Phật: “Ví như người nhà nghèo đói rét được trân báu như núi Tu Di, há không vui mừng sao?” Đức Phật nói: “Rất hay!” Xá Lợi Phất thưa: “Con đến cõi kia, được nghe đức Phật kia giảng điều bất thối chuyển sâu xa, nên con hớn hở không thể kìm chế”. Đức Phật nói: “Lành thay như lời con nói!” Đức Phật bèn bảo Xá Lợi Phất: “Ví như trưởng giả Đại Ca La Việt rặt lấy vàng tử ma và châu ma ni làm của báu, trong cho quét dọn đồng sắt chì thiếc quăng vào sọt phân ở ngoài. Có người nghèo kiết xác vui được mang về, nói: Ta được của báu của Đại Ca La Việt, thì đó há có phải là của báu trân diệu của trưởng giả chăng? Đáp: Chẳng phải”. Đức Phật bảo Xá Lợi Phất: “Điều con nghe cũng giống như người nghèo ấy. Đức Phật kia chỉ dạy lẽ mười trụ và thanh tịnh trong hành động. Nên điều con nghe không đáng nói”. Xá Lợi Phất liền buồn bã, nói: “Ta tưởng được báu, ngược lại là chì thiếc”. Khi Xá Lợi Phất nói điều ấy, vô số người phát lòng giác ngộ vô thượng, vô số người đạt được trụ A duy nhan.

56

Xưa Ma Ha Mục Kiền Liên ngồi dưới gốc cây tự thử mắt đạo, thấy được 8000 cõi Phật. Lòng tự nghĩ nói: “Chỗ đức Như Lai thấy, còn không bằng ta”. Bèn làm dáng đi sư tử đến chỗ Phật. Đức Phật bảo Mục Liên: “Con là giống thanh văn, nay sao lại làm dáng đi sư tử?” Mục Liên bạch Phật: “Con tự thấy tám phương tám ngàn cõi Phật, nghĩ chỗ Phật thấy chắc không bằng con, nên làm dáng đi sư tử”. Đức Phật nói: “Lành thay Mục Liên! Chỗ thấy rộng lớn nên mới như vậy”. Đức Phật bèn bảo Mục Liên: “Chỗ thấy của ông giống như ánh sáng cây đèn so với viên ma ni vuông, cách nhau nhiều lắm”. Đức Phật nói tiếp: “Chỗ mắt ta thấy là mười phương, mỗi phương có cõi Phật như cát mười sông Hằng. Mỗi hạt cát là một cõi Phật, ta thấy hết tất cả những gì có trong đó, từ chuyện từ trời Đâu Suất xuống vào trong bụng mẹ, rồi sinh ra, chuyện xuất gia học đạo, chuyện hàng phục ma vương, chuyện trời Đế Thích và Phạm Vương đến khuyến trợ, chuyện chuyển pháp luân thuyết pháp cho hết thảy, chuyện muốn nhập Niết bàn, chuyện Niết bàn rồi đốt Xá lợi. Những chuyện như vậy không thể kể xiết. Ta mang con mắt đó thì là thấy hết cả”.

Đức Phật phóng hào quang giữa hai mi mắt chiếu suốt phương trên, phóng thân quang chiếu khắp tám phương, phóng túc quang chiếu thông phương dưới, mỗi phương một trăm ngàn cõi. Lúc ấy mười phương các cõi sáu lần rung chuyển. Ánh sáng vĩ đại không gì ngăn cản. Bấy giờ Mục Liên liền ở trước Phật, thấy vô số hằng sa vô biên cõi, trong đó có những gì Phật đã nói trên, bèn bạch Phật: “Phật ban nãy nói ra mười hằng sa cõi, nay Phật hiện ra có phải thế không?” Đức Phật bảo Mục Liên: “Sợ con không tin, nên nói ít. Nay ta hiện ra như vậy, so lại thì không thể kể hết”.

Ma Ha Mục Kiền Liên nghe nói việc ấy rồi, mình xỉu xuống đất như núi lớn vỡ, lên tiếng khóc lớn: “Ta nhờ biết Phật có công đức ấy, nay mới thấy như vậy, há khiến thân ta đọa địa ngục lớn”. Người thấy bên hông phải thì qua trăm kiếp không nhận quả la hán. Mục Liên bèn nói: “Những ai ở hội này, đức Thế Tôn đều nói ta là thần thông số một. Điều ấy không còn đáng nói nữa. Công đức làm được, không bì kịp (đức Phật về sự) biết điều đó, huống nữa là chưa được gì cả sao? Phát tâm làm gì, nên có chí như Phật, chứ đừng bắt chước ta thành ra giống hư”. Tất cả những người dự hội, rồng thần nhân dân, số ngàn không thể kể, đều phát lòng vô thượng chánh đẳng chiùnh giác. Những ai phát lòng đạo lớn liền được bất thối chuyển. Những ai đã được bất thối chuyển thì thảy đạt được trụ A duy nhan.

57

Xưa có vua rồng, tên là Bạt Để, oai thần rộng xa, nhiều người cảm phục. Nhưng tính tình nóng nảy, làm nhiều điều bạo ngược, nhiều lần họp rồng, cùng làm chuyện phi pháp, mưa gió sấm sét đánh chết nhân dân chim thú côn trùng, nhiều không số kể. Có một la hán đáng kính, cùng tự bàn luận: “Nếu giết một người thì đọa địa ngục một kiếp, chết đến trăm lần, tội còn không hết. Nay rồng này tàn hại chúng sinh, trước sau khôn kể, thế mà không ngưng, sợ thành khó độ, mong nên cùng đến can ngăn”. Bấy giờ, đức Phật biết vậy, có lời khen: “Lành thay! Các con xuất gia cầu đạo vô vi, muốn cứu hết thảy chúng sinh nguy ách, độ cho người có tội, rất tốt, nên thế, đó là báo ơn”.

Bấy giờ, các la hán bảo nhau: “Không cần phải khiến cả vạn người cùng đi”. Do đó, mỗi một người tự đi, đều bị ách lại, không thể tự tiến lên, về nói nhau: “Nếu đi riêng thì không thể hàng phục khuất chiết con rồng này, khiến nó cải làm lành. Nên thử tập hợp công đức của muôn người, đồng lúc cùng đi”. Họ lại đến. Rồng phóng gió mưa bão sấm sét. Muôn người kinh sợ, không biết đi đâu, lại bị làm nhục, cúi đầu trở về.

A Nan bạch Phật: “Rồng này tàn sát người và các súc thú đến thế, tội nó rất nhiều, đã không kể hết. Nay lại làm thêm bão tố kinh sợ muôn la hán, làm ướt áo họ giống như người chết trôi, thì tội lại sâu nặng, không thể kể xiết!”. Bấy giờ đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật cùng với muôn Bồ tát và vạn la hán, đi đến núi kia, tới chỗ rồng ở.

Rồng bèn giận dữ, gây mưa lớn sấm vang, sét xẹt. Bèn làm mưa đá, khiến mỗi viên vuông vức bốn mươi dặm, nếu xuống đất thì vào sâu bốn thước, ý muốn hại Phật và chúng Bồ tát. Bấy giờ mưa đá vừa xuống, thì dừng lại giữa không trung, hóa thành hoa trời. Đức Phật phóng hào quang chiếu khắp những gì đang có. Những người thợ săn, đi đường trong núi, gặp mây mưa tối tăm, bị lạc đường không biết đông tây, gom hơn vạn người, đều nhắm theo ánh hào quang mà đến chỗ Phật ở. Rồng lại sấm sét, phóng xuống đá lớn vuông bốn mươi trượng. Nếu đá rơi xuống đất, lún sâu vào đất phải bốn mươi trượng. Đá rớt đến trên đầu Phật lại hợp với hoa trước hóa thành lọng hoa. Rồng nhỏ phóng đá, mỗi viên một trượng, cũng đều như vậy. Các vị la hán trước thấy rồng gây tai biến, mỗi người đều cảm thấy sợ hãi, đi đến trước để dựa gần Phật.

Rồng ở trong mây tự thấy mưa đá và đá hóa thành lọng hoa, lửng lơ giữa hư không mà không rơi xuống, lại tự nghĩ nói: “Ta phải đem thân mình, tự cuốn chắc lại tới bốn mươi trượng để phủ lên trên Phật và chúng tăng”. Bèn tức khắc tự quăng mình, nhưng không thể trúng gì hết, cả mình đau đớn, rớt xuống đất rất lâu, ngẩng đầu, mở mắt, ngó lên thì thấy Phật, (tự nghĩ): “Việc ta làm đều không như ý, nghi đó là người thần vô thượng tôn diệu”. Nhân đó, các rồng nhỏ cũng đến quăng mình, nhưng không động đậy được một chút gì. Lúc ấy, vua rồng hết số, sinh lên làm trời. Các rồng nhỏ cũng chết theo, được làm con trời, đều hạ xuống đứng bên Phật.

Đức Phật hỏi A Nan: “Con biết vị trời này từ đâu đến không?” Đáp: “Không biết kịp”. Đức Phật dạy: “Các rồng ban nãy nổi ác ý, con có nói tội lớn không thể kể xiết. Tự quăng mình xuống đất, phát được một lòng thiện, biết Phật là đáng kính, thì khi chết làm trời. Chuyện đó chính là đây”. Vị trời nghe Phật nói, bèn cùng với các con trời đều phát lòng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bấy giờ thợ săn và những người ở trong núi đến chỗ Phật, đều tự nghĩ nói: “Tội của con rồng đó còn được giải thoát. Chỗ ta làm hại so với rồng đó cũng không bao nhiêu”. Họ định phát tâm đạo, nhưng còn do dự.

Đức Phật bảo A Nan: “Một vạn la hán ấy muốn độ các tội của rồng, nhưng sức không thể gánh nổi. Nếu không có ta thì đã bị rồng chế ngự. Đã không thể độ được cái ác của nó, mà trở lại làm tội nó thêm lên. Muốn độ hết thảy, nên trước phải thiền định suy nghĩ có thể độ được hay không, sau đó mới làm. Người các con không thể độ, đức Như Lai có thể độ, độ mà không độ”. Bấy giờ những người thợ săn nghe nói như vậy, đều phát lòng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Trời rồng nhân dân những ai ở tại hội này được Phật giảng kinh, đều được bất thối chuyển.

Xưa vua rồng Bạt Để với Phật Thích Ca Văn đều là Bà la môn. Lúc ấy, đệ tử của Bạt Để có tới vạn người, thấy đức Thích Ca Văn là nhân tài, họ mạnh mẽ bỏ thầy mình đến thờ đức Thích Ca Văn. Bạt Để lòng giận, mang tội đến làm rồng. Đức Phật đã thành đạo, phần lớn độ hết thảy. Đệ tử muôn người đều chứng la hán. Lòng ác của rồng càng lớn rộng, muốn làm hại. Muôn người kia xót thương, muốn đến độ. Rồng từng làm thầy, nên bốn đạo tuy đủ, họ vẫn bị nhục. Nếu là Bồ tát, rồng muốn gia ác, rốt cuộc cũng không dám.

58

Xưa có một nước, nhân dân thịnh vượng, trai gái lớn nhỏ, rộng làm việc ác, tính hạnh ngang ngược, hung bạo khó dạy. Phật đem đệ tử đến nước láng giềng. Năm trăm la hán, lòng tự cống cao. Ma Ha Mục Kiền Liên đến trước bạch Phật nói: “Con muốn đi độ các nhân dân”. Đức Phật liền đồng ý. Mục Kiền Liên bèn đến giảng kinh đạo, nói nên làm điều lành, nếu làm các điều ác thì tội khó lường. Người cả một nước đều cùng đánh chửi, không theo lời dạy. Do đó, bèn trở về.

Xá Lợi Phất bảo Mục Kiền Liên: “Muốn dạy các người đó, phải dùng trí tuệ, không thì sao bị hủy báng?” Xá Lợi Phất bèn bạch Phật: “Con muốn đến kia khuyên độ nhân dân”. Đức Phật lại đồng ý. Bèn đến giảng dạy kinh giới, lại không được nghe theo, mà còn bị nhục mạ.

Ma Ha Ca Diếp với các đệ tử đáng kính hợp lại năm trăm người tuần tự đi đến, cũng không thể độ được, mà lại bị khinh hủy.

A Nan bạch Phật: “Người nước kia hung dữ, không nhận lời dạy lành, phần lớn bị họ bẻ gãy làm nhục. Làm nhục một la hán, tội nó khôn tả, huống nữa là làm trái lời dạy của chừng ấy người thì mắc tội nặng hư không cũng không thể chứa”. Đức Phật dạy: “Tội ấy tuy là sâu nặng, Bồ tát xem đó vắng lặng, không có tội”.

Đức Phật sai Văn Thù Sư Lợi đến độ thoát họ. Văn Thù liền đến nước đó. Ai nấy đều ca ngợi, nói: “Việc làm của hiền giả, sao mà nhanh thế!” Bèn đến chỗ vua, vua khen ngợi trước mặt, mỗi khiến mọi người lớn nhỏ đều nghe biết, nói: “Tôi dũng kiện, tôi lại nhân hiếu, tôi có can đảm và trí tuệ”. Tùy mỗi chỗ họ ở, ưng ý ca ngợi, đều vui mừng khôn xiết, nói: “Điều con người vĩ đại này nói rất thần diệu, biết chí tháo của ta, sao thích thú thế!” Họ mỗi người mang vàng báu hương hoa, tung lên trên Bồ tát, đem áo gấm đẹp đôi có thêu hoa và những thức ăn uống ngon lành, ngọt ngào đến cúng dường Bồ tát, phát lòng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Văn Thù Sư Lợi bảo nhân dân: “Ngươi cúng dường ta không bằng cúng dường thầy ta, thầy ta gọi là Phật, có thể đến cùng cúng, phước gấp vô lượng”. Hết thảy họ rất vui lòng theo Văn Thù Sư Lợi đi đến chỗ Phật. Phật giảng kinh cho họ thì đều được bất thối chuyển. Ba ngàn quốc độ vì thế rung chuyển lớn. Núi rừng cây cối đều ca ngợi nói: “Hoan hô Văn Thù Sư Lợi khéo độ người như vậy”.

Đức Phật bảo A Nan: “Tội sâu lớn nay đang còn đấy”. Năm trăm la hán xỉu xuống đất, rơi lệ nói: “Oai thần của Bồ tát dạy dỗ như vậy, huống nữa là đức Như Lai có thể kể tả hết sao? Chúng ta là giống hư, vô ích đối với hết thảy”.

59

Xưa lúc đức Phật ngồi dưới gốc cây, đức Phật đã thuyết pháp cho vô số người, trong đó có người chứng Tu đà hoàn, có người chứng Tư đà hàm, có người chứng A na hàm, có người chứng A la hán. Những người như vậy, số không thể kể hết. Bấy giờ sắc mặt Phật không có rạng rỡ, dáng vẻ như buồn. A Nan sâu biết ý Phật, quỳ xuống bạch Phật: “Lễ hầu Phật tám năm, con chưa từng thấy tôn nhan Phật không có rạng rỡ như hôm nay. Có thay đổi gì khiến Phật như vậy? Hôm nay có ai mất đại hạnh? Có ai làm ác đọa địa ngục? Có ai rời xa bờ gốc của mình?”

Đức Phật bảo A Nan: “Ví như khách buôn phần nhiều mang trân báu đến số ngàn muôn, đi xa cầu lời. Giữa đường gặp cướp, mất sạch của báu, thân thể trần truồng, không có gì để tự sống. Thế có buồn lo không?” A Nan bạch Phật: “Họ buồn ghê lắm”. Đức Phật bảo A Nan: “Ta từ vô số kiếp đến nay, thương khó hành đạo, là muốn cứu độ hết thảy nhân dân, đều khiến thành Phật. Ta nay đã tự mình được thành Phật, mà không có một người nào làm công đức, nên không vui, sắc mặt thay đổi”. A Nan bạch Phật: “Nay đệ tử Phật chứng được la hán trong quá khứ, hiện tại và tương lai, số không thể kể xiết. Số người chứng A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn cũng vậy, không thể kể. Sao nói không có người nhờ công đức để được độ?” Đức Phật bảo A Nan: “Ví như hai ông bà già sinh mười đứa con gái thì có đứa nào nắm giữ việc cửa nhà không?” A Nan đáp: “Không thể có”. Đức Phật dạy: “Tuy có la hán vô số ngàn nhờ giác pháp của ta mà sinh ra, thì cũng chẳng phải con ta, rồi cũng không thể ngồi dưới gốc cây của Phật, giống như sinh con gái tuy đông nhiều, đi lấy chồng đến nhà người, thì cha mẹ cô độc. Ta cũng vậy”.

Bấy giờ đức Phật khóc, rơi xuống ba giọt nước mắt. Ba ngàn thế giới vì thế rung chuyển lớn. Vô số trời, rồng, thần, nhân dân phát lòng giác ngộ vô thượng. Lúc ấy mặt mày Phật đẹp đẽ vui vẻ, vô số ánh sáng ngàn ức muôn lần chiếu suốt mười phương, khác hơn lệ thường. Những ai thấy ánh sáng đều được độ. A Nan bạch Phật: “Vì sao lại phát ra ánh sáng thần biến đẹp đẽ tuyệt vời như thế?”. Đức Phật bảo A Nan: “Ví như hai ông bà già, cầu trời khẩn đất cầu xin sinh con, cuối cùng sinh được một đứa con trai gầy dựng cửa nhà, há không vui vẻ mà tự khen mình sao? Nay hết thảy phát lòng Đại thừa, nên ta hớn hở vì giống Phật không mất”.

Đức Phật sai Bồ tát Tu Ma Đề lên kinh đô qua sáu muôn ức hằng sa cõi, khiến đến nước kia lấy tòa sư tử và các đồ ăn uống. Như duỗi cánh tay, trong khoảnh khắc đã trở về lại đây. Bèn trang hoàng tòa sư tử rộng lớn, mời tất cả những ai dự hội đã phát lòng giác ngộ vô thượng đều ngồi tự nhiên lên tòa sư tử ngàn cánh sen vàng. Có những người ngồi trong trướng bảy báu kết hở và dưới gốc cây bảy báu, thì đựng tràng phan bảy báu làm cột, gấm trời làm phan, lụa trời làm lọng hoa. Đức Phật bấy giờ khiến đại thiên cõi nước thành hồ tắm, hoa sen bảy báu mọc bên trong. Đức Phật tự biến thân, hiện làm Bồ tát, hoặc lại hiện hình như Đế Thích, Phạm Vương, Tứ Thiên Vương, cúng dường rộng rãi cho đại đàn hết thảy muôn thức ăn uống thơm ngon nghe khắp hết thảy mười phương. Những ai nghe mùi thơm ấy đều phát lòng giác ngộ vô thượng. Các cõi mỗi sai Bồ tát tả hữu đáng kính đến chúc mừng đức Thích Ca Văn, vì tất cả nhân dân phần lớn đã phát tâm Bồ tát. Trong đó có vị cầm hoa sen vàng ròng đến, có vị cầm hoa sen báu ma ni đến, có vị cầm hoa sen châu minh nguyệt đến, mỗi mỗi hoa sen nhiều màu quí báu, cùng tung rải lên đức Phật. Oai thần của Phật khiến các hoa tung lên hợp thành lọng hoa che khắp mười phương cùng chiếu các cõi, những chỗ tối tăm trở nên sáng sủa. Địa ngục, quỉ đói, cầm thú, lục súc đều phát lòng lớn, muốn cầu làm Phật.

Đức Phật vì tất cả những người dự hội giảng kinh. Vô số Bồ tát chứng trụ A duy nhan. Vô số trời người đều được phép nhẫn vô sinh. Lại vô số rồng, thần, nhân dân đều được bất thối chuyển. Tất cả Bồ tát, người vĩ đại đều phát tâm giác ngộ vô thượng.

60

Xưa có một người, tuổi nhỏ nghèo khổ, đi đến nước khác, được một trái ngọt, thơm ngon lại to, ở đời hiếm có. Bèn thương tiếc, không dám ăn. Lòng nghĩ đến cha mẹ, muốn đem trái dâng, liền mang trái trở về thành Tỳ Da Ly.

Bấy giờ đức Phật vào thành với các Bồ tát đại đệ tử, cùng đến nhà trưởng giả, theo lời mời đàn việt. Đức Phật vừa đi qua, người ấy chưa đến nhà, tay đem quả đến để ở chỗ Phật. Từ nhỏ tới lớn chưa từng nghe Phật, thấy vết chân Phật, dấu chân như lọng, rực rỡ long lanh không chút suy giảm, bèn đứng bên vết chân, nhìn mãi không chán, lòng tự hớn hở, hết buồn biết vui, nghĩ: “Vết chân đi đất còn như thế, huống nữa thân người này thì thật chẳng phải đời có được. Chắc thế nào người này tất phải trở về, ta sẽ cắt để phần cha mẹ lại, rồi đợi người ấy đến, đem trái dâng lên”.

Đức Phật chưa trở về. Người ngồi bên vết chân, buồn nghĩ lệ rơi. Người đi đường đến hỏi người ấy: “Vì sao ôm trái ngồi buồn ở đây?” Đáp: “Giữ vết chân vô cùng đáng kính này, đợi chờ thần nhân, mong ngài trở lại, muốn đem trái đó tự dâng lên, trễ thấy quang nhan, chưa được như nguyện, tự nghĩ bạc phước, nên buồn”. Kẻ đi đường hỏi, tụ lại xem như mây, lấy làm lạ người đó, cho là cuồng si, nói: “Biết người đi trở về chỗ nào mà định ngồi đợi?”

Đức Phật đến nhà trưởng giả đàn việt ngồi. Chúng tăng rửa xong, tuần tự đến ngồi. Trưởng giả và thủ hạ lớn nhỏ đem bày chén dĩa với các thức ăn, tất cả đầy đủ. Phật xa “đạt thẩn” kẻ đang mang trái cây giữ chân Phật ở giữa đường tha thiết mong muốn dâng Phật. Do thế, ăn xong, đàn việt tự nghĩ: “Đức Thế Tôn ‘đạt thẩn’, ban nãy không thấy kịp. Liền xa chú nguyện người mang quả ở ngoài đem đồ cúng đến, có gì không được ư?”

Đức Phật bảo A Nan: “Trưởng giả cúng dường đầy đủ, nhưng phước ra đi. Việc làm tuy rộng lớn, nhưng ý có chỗ mong cầu. Lòng mang bốn sợ, chí tại diệt độ. Bên ngoài có người trẻ tuổi, tay cầm trái ngọt, một lòng không gì khác, giữ vết chân ta, từ bi đợi ta, nghĩ muốn dâng trái dùng cho tất cả, nên phát lòng đạo lớn. Do thế, ngồi đây mà xa nhận “đạt thẩn”. Trưởng giả tự nghĩ, nói: “Người ấy cúng trái cây chứ không có món gì khác, Phật ca ngợi công đức rất là cao diệu. Ta tuy giàu có, đồ cúng phong phú, vì tính toán nặng nhẹ nên phước không bằng. Nguyện xin hầu Phật đến gặp người kia”.

Đức Phật liền đứng dậy, đến chỗ người giữ vết chân. Bồ tát, đệ tử, trưởng giả cùng những người khác lúc ấy cùng theo. Người mang trái cây xa thấy Phật đến, tướng thân đẹp đẽ, rực rỡ hơn trời trăng, liền đi đến đón Phật, cúi đầu làm lễ, nhân đó đem trái ấy quì xuống dâng Phật, phát lòng giác ngộ vô thượng.

Đức Phật phóng hào quang chiếu suốt vô cùng. Ba ngàn thế giới vì thế rung chuyển. Chư Phật và chư Bồ tát mười phương lúc ấy hiện ra như bóng trong gương, gần xa ai ai cũng thấy. Đức Phật nhận trái ấy, lại đem cúng lại cho các đức Phật, khiến một trái cây biến khắp vô cùng không hết.

Chư Phật và các Bồ tát mười phương mỗi mỗi từ nơi cà sa duỗi cánh tay vàng rực rỡ phóng ra ngàn ức tia sáng. Mỗi một đầu tia sáng tự nhiên có tòa sư tử có màn kết hở châu hoa sen báu. Trên tòa có đức Phật và các Bồ tát ngồi, đều cầm bát báu, nhận lấy trái ấy. Mỗi vị cầm một quả “đạt thẩn” một cách thần biến. Đức Phật Thích Ca Văn cũng thế, ở thế giới này chiếu sáng mười phương, hư không thần trời tất cả đầy đủ, tám phương trên dưới không có chỗ trống khuyết, đều giúp vui, khen lành, ca ngợi. Chư Bồ tát trong ba cõi đều được theo nhờ.

Bấy giờ, người dâng trái cây chứng được pháp nhẫn vô sinh. Đức Phật trao lời quyết là về sau sẽ thành Phật, hiệu là Quả Tôn Vương vô thượng chính giác, có cõi nước như cõi của Phật A Di Đà. Người ấy theo nghe đức Thế Tôn nói về cõi nước đó, tự nhiên thanh tịnh, chứng được A duy nhan. Trưởng giả cư sĩ hướng theo dấu đạo, vô số ngàn người được độ bậc bất thối chuyển. Đức của Ngài như vậy.

61

Xưa đức Phật đi lên cõi trời Đao Lợi thứ hai để giảng kinh cho mẹ. Bấy giờ có một vị trời mạng sống sắp hết, có bảy việc chứng điềm: “Một là ánh sáng quanh cổ tắt; Hai là hoa trang sức trên đầu héo; Ba là sắc mặt thay đổi; Bốn là trên áo có bụi; Năm là dưới nách ra mồ hôi. Sáu là thân hình gầy ốm; Bảy là rời chỗ ngồi. Liền tự nghĩ: Sau khi thọ chung, phải bỏ thiên tòa, cung điện bảy báu, ao hồ vườn quả, ăn uống tự nhiên, mọi thứ ca kỹ nữ nhạc, lại phải hạ sinh làm con trong bụng heo nái phung hủi ở nước Câu Di Na Kiệt. Bèn rất lo, không biết phải làm cách gì để thoát được tội đó”.

Có một vị trời nói: “Nay đức Phật ở đây giảng kinh cho mẹ Đức Phật, cứu hết thảy trong ba đời. Chỉ đức Phật mới cứu được tội ông”. Bèn đến chỗ Phật cúi đầu làm lễ. Chưa kịp hỏi, đức Phật đã bảo vị con trời: “Tất cả vạn vật đều vô thường, ông vốn biết điều đó, sao còn lo sầu?” Vị trời bạch Phật: “Tuy biết phước trời không thể được lâu, giận là phải rời ngôi trời này mà làm heo con của con nái phung hủi, cho đó là hại, chứ đi nhận thân khác thì không dám e sợ”. Đức Phật dạy: “Muốn thoát thân heo con, thì nên đọc ba trợ qui: Nam mô Pháp, nam mô Tỳ kheo tăng, Quy mạng Phật, quy mạng Pháp, quy mạng Tỳ kheo tăng, như vậy mỗi ngày ba lần”.

Vị trời theo lời Phật dạy, ngày đêm đọc ba qui y. Sau đó bảy ngày vị trời thọ chung, xuống sinh làm con nhà trưởng giả nước Tỳ Da Ly. Khi còn trong thai mẹ hằng ngày đọc ba qui y. Mới sinh rớt xuống đất cũng quì đọc ba qui y. Người mẹ khi sinh không có đồ dơ. Người hầu cạnh mẹ sợ hãi bỏ chạy. Bà mẹ cũng rất lấy làm lạ việc con rớt đất đã nói, cho là huyền hoặc, ý muốn giết đi.

Lúc về bà tự nghĩ: “Con nhỏ ta lạ lùng. Nếu giết bé này cha nó sẽ làm tội ta. Từ từ nói với trưởng giả, rồi giết cũng chẳng muộn”. Người mẹ liền ôm đứa bé, đến nói với trưởng giả: “Sinh được một trai, mới vừa rớt đất, đã chắp tay quì xuống qui y Tam Bảo”. Cả nhà lấy làm lạ, cho đó huyễn hoặc. Người cha nói: “Đừng, đừng! Đó là đứa bé phi phàm. Người ta ở đời sống tới trăm tuổi hoặc tám chín muơi, mà còn không biết qui y Tam Bảo. Huống nữa đứa bé mới sinh ra là có thể niệm Nam mô Phật. Hãy khéo chăm nuôi nó, cẩn thận đừng khinh nhờn”.

Đứa bé lớn lên, năm vừa bảy tuổi cùng bọn trẻ chơi bên vệ đường. Bấy giờ đệ tử Phật là Xá Lợi Phất và Ma Ha Mục Kiền Liên vừa đi qua bên bé, nó liền đến trước mặt làm lễ nói: “Kính lễ đức Xá Lợi Phất và đức Ma Ha Mục Kiền Liên”. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên kinh ngạc lấy làm lạ về việc đứa bé có thể kính lễ Tỳ kheo. Đứa bé nói: “Thầy không biết con sao? Đức Phật ở trên trời giảng kinh cho mẹ. Con bấy giờ là một vị trời sắp xuống làm heo, theo lời Phật dạy, đọc ba qui y, mà được làm người”. Hai thầy Tỳ kheo liền thiền định, tìm biết, bèn chú nguyện nói “Hoan hỷ”.

Đứa bé thưa với Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên: “Xin nhân danh tiếng con, mời đức Thế Tôn, chư Bồ tát tăng và hai nhân giả”. Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất đồng ý nhận lời. Đứa bé trở về nhà thưa với cha mẹ: “Ban nãy con đi chơi gặp hai đệ tử Phật đi qua, nhân đó con mời Phật và bốn chúng đệ tử Phật dâng cơm. Xin cha mẹ sửa soạn đồ ngon ngọt”. Cha mẹ thương yêu, làm theo lời xin, lấy làm lạ việc nó nhỏ tuổi, mà khai mở được lòng lớn, lại lấy làm lạ việc nói biết đời trước, nên làm những món ăn cực kỳ trân diệu, tìm chén dĩa tinh tế, vượt quá ý của đứa bé.

Đức Phật và chúng tăng, mỗi vị dùng công đức làm thần túc, đi đến nhà đứa bé ăn cơm. Cha mẹ và những người lớn nhỏ cúng dường xong, dâng nước rửa thơm, đúng pháp làm xong, đức Phật vì họ giảng kinh. Cha mẹ và đứa bé cùng thân thuộc trong ngoài lúc ấy đều được bất thối chuyển.

Phước đức của việc qui y độ được như vậy. Huống nữa là suốt đời tu đạo sao!



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *