Home / THƯỜNG TRỤ TAM BẢO / Tây Phương Cực Lạc / Tịnh Độ Kinh Pháp / A Di Đà Pháp Kinh / Kinh Kim Cương Đỉnh Pháp Tu Hành Du Già Quán Tự Tại Vương Như Lai

Kinh Kim Cương Đỉnh Pháp Tu Hành Du Già Quán Tự Tại Vương Như Lai

KINH KIM CƯƠNG ĐỈNH PHÁP TU HÀNH DU GIÀ QUÁN TỰ TẠI VƯƠNG NHƯ LAI
Hán dịch: Đời Đường, nước Thiên Trúc_ Tam Tạng KIM CƯƠNG TRÍ
Sưu tập Thủ Ấn, phục hồi Phạn Chú và Việt dịch: HUYỀN THANH

Nay Ta y theo Kinh Kim Cương Đỉnh (Vajra-śekhara-sūtra) diễn Pháp yếu của Kim Cương Liên Hoa Đạt Ma (Vajra-padma-dharma). Trước tiên nên vào nơi Quán Đỉnh Tam Muội Gia Mạn Trà La (Abhiṣeka-samaya-maṇḍala), phát Tâm Đại Bồ Đề (Mahā-bodhi-citta), buông bỏ thân mệnh tiền của; nhiêu ích tất cả, dũng mãnh tinh tiến, tùy niệm tương ứng Từ Bi Hỷ Xả không có gián đoạn. Người như vậy mới nên tu tập

Pháp của nhóm Mạn Trà La (Maṇḍala), vẽ Tượng… rộng như chỗ khác đã nói. Phàm vào Tịnh Xá, lúc muốn thuận niệm thời trước tiên cúi năm Luân sát đất đỉnh lễ Bản Tôn Quán Tự Tại Vương Như Lai (Avalokiteśvara-rāja). Tiếp lễ Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Như Lai (Amogha-siddhi) cho đến Vô Động (Akṣobhya), Bảo Sinh (Ratna-saṃbhava), Biến Chiếu Như Lai (Vairocana) thảy đều

y theo Pháp chí thành kính lễ. Quỳ 2 gối, chắp tay Liên Hoa Hợp Chưởng, sám hối tất cả lỗi lẫm của ba nghiệp.

“Con từ vô lượng Kiếp

Đắm chìm biển Sinh Tử
Nay dùng Tâm thanh tịnh
Tỏ bày xin hối lỗi
Như chư Phật đã Sám
Nay con cũng như vậy
Nguyện con với Chúng Sinh
Tất cả đều thanh tịnh”
Tụng Chân Ngôn này là:

“Án, tát-phộc bà phộc, truật đà. Tát phộc đạt ma tát-phộc bà phộc, truật độ hám”
湡 辱扣向 圩益 屹湱叻猣 辱扣向 圩湀 唊 曳

*) OṂ_ SVABHĀVA ŚUDDHA_ SARVA DHARMA SVABHĀVA ŚUDDHA-UHAṂ

Tiếp nên Tùy Hỷ Phước Trí đã gom tập của chư Phật Bồ Tát đời quá khứ, hiện tại, vị lai
“Xưa, nay ba đời Phật
Bồ Tát và Chúng Sinh
Gom chứa các căn lành
Chắp tay tùy hỷ hết”

246

Tiếp nên quỳ gối phải sát đất, chắp tay giữa rỗng (Hư Tâm Hợp Chưởng), đặt trên đỉnh đầu, tưởng lễ dưới chân của chư Phật và Bồ Tát.

Tụng Mật Ngôn là :

“Án, bát na-ma vi”
湡 扔痧 甩梫

* ) OṂ_ PADMA VID

Lễ chư Phật xong. Y theo Tọa Ấn mà ngồi,vào Định suy tư, quán Đức Vô Lượng Thọ Như Lai (Amitāyus) tràn đầy khắp Pháp Giới (Dharma-dhātu), tự thân Hành Giả đều ở trong Hội ấy. Sau đó kết Bí Mật Tam Muội Gia : đem 6 Độ (6 ngón tay) cùng dính đầu ngón, hơi co Tiến Lực (2 ngón trỏ) đè vạch bên cạnh trên Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa).

Chân Ngôn là:

“Án, đát đà nga đổ nột bà phộc gia, sa-phộc ha” 湡 冔卡丫北咼名伏 送婄

*)OṂ_ TATHĀGATA-UDBHAVĀYA SVĀHĀ

Tiếp kết Liên Hoa Bộ Tam Muội Gia Đà La Ni Ấn. Liền đem hai Vũ (2 tay) kết Liên Hoa Hợp Chưởng, Thiền Trí (2 ngón cái), Đàn Tuệ (2 ngón út) cùng dính đầu ngón, đầu ngón của sáu Độ (6 ngón tay còn lại) cùng cách nhau một thốn, đặt ở trên tai phải.

Tụng Chân Ngôn là:

“Án, bát đắc-ma nột bà phộc gia, sa-phộc ha” 湡 傔晨咼名伏 送婄

*)OṂ_ PADMA-UDBHAVĀYA SVĀHĀ

Tiếp kết Kim Cương Bộ Tam Ma Gia Đà La Ni với Ấn. Liền đem Đàn Trí (2 ngón út) và Thiền Tuệ (2 ngón cái) nghiêng che trợ móc nhau. Lần đầu kết ngay trái

247

tim, Diệu Ngôn đặt ở tai trái, tiến Mật Ngữ ba lần. Nói xong Đỉnh Luân Vương bung tán.

Chân Ngôn là:

“Án, phộc nhật-lỗ nạp bà phộc gia, sa-phộc ha” 湡 偣怵咼名伏 送婄

*)OṂ_ VAJRA-UDBHAVĀYA SVĀHĀ

Tiếp kết Kim Cương Hộ Thân Đà La Ni với Ấn. Liền đem Giới Phương (2 ngón vô danh), Đàn Tuệ (2 ngón út) cùng cài chéo nhau bên trong, dựng hai độ Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) như cây phướng, co Tiến Lực (2 ngón trỏ) ở lưng Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) sao cho cách lưng ngón ba phân như hình móc câu, dựng hai độ Thiền Trí (2 ngón cái) ngay trái tim.

Chân Ngôn là:

“Án, phộc nhật-la, nghĩ nễ, bát-la niệm bạt đá gia, sa ha” 湡 偣忠蚱 偓司拻伏 悿婄

*)OṂ_ VAJRA-AGNI PRADIPTĀYA SVĀHĀ

Tiếp kết Kim Cương Hỏa Diệm Tuệ Đại Giới Đà La Ni với Ấn. Liền đưa Nhẫn Độ (ngón giữa phải) vào bên trong Lực Nguyện Độ (ngón trỏ và ngón giữa trái), Giới Độ (ngón vô danh phải) vào bên trong Tuệ Phương Độ (ngón út và ngón vô danh trái). Đem Nguyện Độ (Ngón giữa trái) từ trên lưng nhập vào bên trong Tiến Nhẫn Độ (Ngón trỏ và ngón giữa phải), Phương Tiện (ngón vô danh trái) vào bên trong Đàn Giới Độ (ngón út và ngón vô danh phải), Đàn Tuệ (2 ngón út) Tiến Lực (2 ngón trỏ) Thiền Trí (2 ngón cái) đều dính đầu ngón, che úp hướng xuống dưới, Thiền Trí (2 ngón cái) trụ mặt đất như thế đóng cây cọc.

Tụng Chân Ngôn ba biến tưởng như hình cái chày Kim Cương rực lửa mạnh (Kim Cương Hỏa Diệm Xử) thông suốt bờ mé Kim Cương. Tụng Chân Ngôn là:
“Án_ Chỉ lý, chỉ lý, ma nhật-la, ma nhật-lê, bộ luật, mãn đà, mãn đà, hồng, phán tra”
湡 丁印 丁印 向忝 向忽 穴 楠神 向神 狫 民誆

*)OṂ_ KILI KILI_ VAJRA VAJRI BHŪR_ BANDHA BANDHA _ HŪṂ PHAṬ

248

Kim Cương Hỏa thành Phi Diệm Điện Diên Viện Giới Chân Ngôn Ấn. Dựa theo Địa Ấn trước, mở tung Thiền Trí (2 bàn tay) xoay theo bên phải khắp tám phương.

Tụng Chân Ngôn là:

“Án_ tát la tát la, ma nhật-la, bát-la ca la, hồng, phán tra” 湡 屹先 屹先 向忝 盲一先 狫 民誆

*)OṂ _ SARA SARA VAJRA PRAKARA HŪṂ PHAṬ

Kim Cương Hỏa Diệm Võng Giới Chân Ngôn Ấn. Cũng dựa theo Địa Ấn trước, mở tung ra dựng thẳng Thiền Trí (2 bàn tay) che trên đỉnh đầu, đưa qua đưa lại ba lần , tưởng cái lưới rực lửa Kim Cương (Kim Cương Hỏa Diệm Võng) lên cao đến Hữu Đỉnh (Sắc Cứu Cánh Thiên).

Mật Ngôn là:

“Án_ Vĩ tát -phổ la nại-lạc khất-sái, phộc nhật-la bán nhạ la, hồng phán tra” 湡 合卼先治朽 向忝 正介匡 狫 民誆

*)OṂ _ VISPHURAD RAKṢA VAJRA-PAṂJALA HŪṂ PHAṬ

Tiếp kết Kim Cương Diệm Hỏa Giới Ấn. Đem Định Tuệ (2 bàn tay) cùng dính cạnh bàn tay, dựng thẳng Thiền Trí (2 ngón cái) cách nhau ba thốn, xoay chuyển theo bên phải trên đỉnh đầu, tưởng cái lưới bức tường (Tường Võng).

Tụng Mật Ngôn là:

“Án_ A tam mang nghĩ-nễ, hồng phán tra” 湡 狣屹赩蚱 狫 民誆

*)OṂ_ ASAMĀṂGNI HŪṂ PHAṬ

Giới này thành xong, Ma La (Māra:loài Ma) trong 6 cõi Dục với tất cả Tỳ Na Dạ Ca (Vināyaka) sợ hãi chạy trốn, không có chỗ dung thân

Tiếp kết Quán Âm Bảo Xa Ấn. Ngửa hai Vũ (2 bàn tay) cùng cài chéo nhau chuyển, đem Thiền Trí (2 ngón cái) chiêu vời Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) hướng vào bên trong bật phát ba lần, tụng Chân Ngôn tưởng nhớ Bản Tôn tùy theo Nguyện đi đến.

249

Nên dùng vào niệm, chẳng dùng Tâm bọt nổi huyễn hóa trong Tâm kín đáo. Mật Ngôn là:

“Án_ Đổ lỗ, đổ lỗ, hồng”
湡 加冰 加冰 狫

*)OṂ_ TURU TURU HŪṂ

Tiếp kết Bát Đại Liên Hoa Ấn. Đem hai vũ (2 bàn tay) cùng cài chéo nhau sao cho đầu ngón của Tiến Lực (2 ngón trỏ) Đàn Tuệ (2 ngón út) cùng dính nhau, Thiền (Ngón cái phải) Nguyện (ngón giữa trái) Trí (ngón cái phải) Nhẫn (ngón giữa giữa phải) cùng trụ nhau. Ở khoảng giữa một khuỷu tay của hoa sen trắng tám cánh tưởng đặt ba Mật Ngữ trên cái xe. Chân Ngôn là:
“Án_ Kiếm mang la, sa-phộc ha”
湡 一亙匡 送扣

*)OṂ_ KAMALA_ SVĀHĀ

Tiếp kết Du Già Bí Mật Tam Muội Gia Ấn. Hai tay buộc các ngón bền chắc (Kiên Cố Phộc), Đàn Tuệ (2 ngón út), Thiền Trí (2 ngón cái) đều cùng hợp dựng dính nhau.

Dùng Ấn cảnh giác, tụng Mật Ngôn là:

“Ấn, phộc nhật-la bát na-ma, tam ma gia, tát-đát-phạm” 輆 向忝扔痧 屹亙伏 觠

*)OṂ– VAJRA-PADMA SAMAYA STVAṂ

Tiếp kết Nhất Thiết Như Lai An Lạc Hoan Hỷ Duyệt Ý Tam Muội Gia Ấn Mười Độ (10 ngón tay) buộc bền chắc

Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) giao hợp giữa Đàn Tuệ (2 ngón út) và Thiền Trí (2 ngón cái) Hợp đầu ngón cùng dựng

Chân Ngôn là:

“Án, tam ma gia, hộ, tô la đá, tát-đát-noan”

250

輆 屹亙伏 趌 鉏先凹 僬

*) OṂ– SAMAYA HOḤ SURATA STVAṂ

Tiếp kết Khai Tâm Hộ, nhập vào chữ Kim Cương Trí, quán ở trên hai vú, bên phải có chữ Đát La (泣- TRĀ), bên trái có chữ Tra (誆-Ṭ) như cánh cửa của cung thất, Kim Cương Phộc thù thắng, ba nghiệp đồng thời phát, chỉ trái tim mở hai chữ.

Chân Ngôn là:

“Án, phộc nhật-la mãn đà, đát-la tra (nửa âm)” 輆 向忝向神 泣誆

*) OṂ_ VAJRA-BANDHA TRĀṬ

Vô thủy ướp hạt giống

Gom chứa mọi trần lao
Nay dùng Ấn Triệu Tội
Gom lại muốn nghiền nát
Mười Độ (10 ngón tay) buộc bền chắc
Duỗi Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) như kim
Co Tiến Lực (2 ngón trỏ) như câu (móc câu)

Tâm tưởng triệu các tội Tưởng dạng mọi tội ấy Hình đen như rễ, tóc Ngược Ấn đâm ở tim Chạm xong tụng Mật Ngôn Vì ba nghiệp tương ứng Hay triệu tội đã chứa Tụng Triệu Tập này xong

Mới làm Pháp nghiền nát (Tồi Toái Pháp)
Mật Ngôn là:

“Án, tát phộc bà phộc, ca lý-sái noa, vĩ du đà na, tam ma gia, phộc nhật-la, hồng, nhạ”
輆 屹楠 扒扒一溶仕 合夸叻巧 向忝屹亙伏 嫟 切

*)OṂ_ SARVA PĀPA AKARṢAṆA VIŚODHANA VAJRA-SAMAYA – HŪṂ JAḤ

Triệu vào lòng tay xong

Mới làm Pháp nghiền nát
Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) cùng duỗi thẳng

251

Có chữ Đát La Tra (泣誆_ TRĀṬ)

Tưởng làm Chày Kim Cương

Cùng vỗ như phá núi

Phẫn Câu (Giận dữ câu móc) với Nộ hình (hình tức giận)

Hay hết các nẻo các
Tụng xong, Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) vỗ
Hăm mốt (21) tùy theo Nghi
“Án, bạt nhật-la bá ni, vĩ sa-phổ tra dã, tát đá bá gia, mãn đà na nễ, bát-la mẫu cật-sái dã, tát bà bá gia nga đế tỳ-dược, tát phộc sa đát-mạn, tát phộc đát tha nghiệt đá, bạt nhật-la, tam ma gia, hồng, đát-la tra”

輆 向忝扒仗 合厘巴伏 屹湱 扒扔 向神左市 盲伕朴伏 屹楠 扒伏 丫包言屹楠屹玆 屹湱 凹卡丫凹 向忝 屹亙伏 嫟 泣誆

*)OṂ_ VAJRA-PĀṆI VISPHOṬAYA SARVA PĀPA BANDHANĀNI PRAMOKṢĀYA SARVA PĀYAGATEBHYAH SARVA SATVA – SARVA TATHĀGATA-VAJRA-SAMAYA HŪṂ TRĀṬ

Từ Bi khắp thảy hội

Triệu vào các bụi dơ (trần cấu)
Cùng vỗ nát các Ma
Tất cả đều đã trừ
Trong sạch như trăng đầy
Nên quán sen tám cánh
Tưởng bên trong, ở tim
Hai khuỷu tay (Nhị vũ trửu) dính nhau
Ngửa dựng như sen báu
Mười Độ (10 ngón tay) lìa hẳn nhau
Hơi co tám cánh vận

Mật Ngôn là:

“Án, kiếm mang la, sa-phộc ha”
湡 一亙匡 送扣

*)OṂ_ KAMALA_ SVĀHĀ

Dùng Môn tương ứng này

Phương tiện của Phật trước
Ba nghiệp đã chứa tội
Vô lượng chướng cực nặng

252

Làm tồi diệt này xong

Như lửa đốt cỏ khô
Hữu Tình thường ngu mê
Chẳng biết Lý Thú này
Như Lai Đại Bi nên
Bày Môn bí diệu này

Tiếp nên kết Nhập Ấn

Ttrong chữ Như Lai Trí
Hai vũ (2 tay) buộc bền chắc
Thiền Trí (2 ngón giữa) vào ở trong
Dùng hai Độ Tiến Lực (2 ngón trỏ)
Trụ nhau như cái vòng

Quán sen tám cánh trước

Trên đó để chữ Sa (偡_ SA)
Hai điểm nghiêm sức nên

Diệu Tự (chữ màu nhiệm) mới triệu Ác (哸_AḤ)
Màu trắng như kha tuyết

Lưu tán ngàn ánh sáng
Tưởng dùng Tiến Lực Độ (2 ngón trỏ)
Vịn chữ an trong tim
Ba nghiệp cùng vận dụng
Tụng Mật Ngôn này là:
“Án, bạt nhật-la phệ xả, ác”
湡 偣忠偢娗 哸

*)OṂ_ VAJRA-AVIŚA AḤ

Đã tưởng vào trong tim

Chữ tưởng sáng rực hơn
Đây từc Thể Pháp Giới
Hành Giả nên quán đấy
Chẳng lâu ngộ thanh tịnh
Pháp vốn chẳng có sinh
Các Như Lai ba đời
Thân khẩu ý Kim Cương
Đều dùng Diệu Phương tiện (phương tiện màu nhiệm)

Dùng Môn đóng tâm này (Hạp Tâm Môn)
Chữ Trí được bền chắc
Liền co Tiến Lực Độ (2 ngón trỏ)
Trụ ở lưng Thiền Trí (2 ngón cái)

253

Dùng Ấn chạm ngực xong

Liền tụng Diệu Ngôn này
“Án, phộc nhật-la, mẫu sắt tri, noan”
湡 偣忝仿泏 圳

*)OṂ_ VAJRA-MUṢṬI VAṂ

Tiếp kết Nhất Thiết Chư Phật Kim Cương Bế Tâm Môn Ấn. Tức dùng tám Độ (8 ngón tay) cài chéo nhau bên trong, bắt đầu khởi từ bên phải lại chuyển bên trái, đưa qua lại ba lần chuyển cánh cửa, tưởng ba Mật Ngữ đóng của Tâm.

Mật Ngôn là:

“Án, bát na ma, độ bế, ác”
湡 扔痧 央本 珆

*)OṂ_ PADMA-DHŪPE _ AḤ

Tiếp kết Tịch Trừ Kết Giới Ấn. Liền dùng hai vũ (2 tay) hợp ngang trái tim, Giới (ngón vô danh) bên phải đè bên trái, cùng cài chéo nhau bên ngoài, dựng hai Độ Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) như cây phướng. Tiếp dùng Tiến Lực (2 ngón trỏ) câu móc Giới Phương (2 ngón vô danh), Thiền Trí (2 ngón cái), Đàn Tuệ (2 ngón út) cùng vịn đầu ngón.

Mật Ngôn là:

“Án, a mật-lật đổ nạp-bà phộc, hồng phán tra” 湡 狣猵北畬向 狫 民誆

*)OṂ_ AMṚTA-UDBHAVA HŪṂ PHAṬ

Pháp này là Đại Bi Quán Thế Âm hóa làm Mã Đầu Minh Vương (Hayagrīva-vidya-rāja) gia bị cho Hành Nhân mau thành Phật. Làm Kết Giới này chuyển bên trái ba lần tịch trừ sự chẳng lành, xoay bên phải ba lấn tùy ý xa gần thành Kết Giới

Tiếp kết gia trì xong

Bày chữ tưởng chân dung
Nơi Ấn để Quán Âm (Avalokiteśvara)
Chữ Hột Lý (猭- HRĪḤ) rõ ràng
Chữ này đều đợi hiện

Trong sạch trong vành trăng
Liền toa hào quang trắng
Quay lại khiến nhỏ dần
Hai vũ (2 tay) hợp ở tim

254

Mười Độ (10 ngón tay) chéo bên trong

Rút Thiền (ngón cái phải) dựng thẳng đè

Ấn đỉnh với trên trán

Hai mắt, trước từ phải (bên phải)
Hai bắp tay, tim, rốn
Trong gối (đầu gối) đến trái (bên trái) bung
Tụng nơi Mật Ngôn là:
“Án, a lỗ lực, sa phộc ha”
湡 唒刎印掤 渢婄

*)OṂ_ AROLIK SVĀHĀ

Kết Ấn này dùng bày chữ ở trên thân, tức tự thân giống như Đại Bi Quán Thế Âm

Như Lai với 32 tướng 80 loại tùy hình tốt đẹp, màu vàng tía, hào quang thân tròn đầy,

Như Lai gia bị
Tác tưởng đó xong, dùng Thủ Khế (tay ấn) chạm trên đỉnh đầu bày chữ Án (湡_ OṂ), chạm trên trán bày chữ A (唒_A), chạm con mắt bày chữ Lỗ (刎_RO), bên phải mỗi mỗi y theo thứ tự cho đến hai bàn chân đều dùng an bày.
Án (湡_ OṂ) tưởng an trên đầu
Màu trắng như mặt trăng

Phóng vô lượng ánh sáng
Trừ diệt tất cả Chướng
Liền đồng Phật Bồ Tát
Xoa trên đỉnh người đó

Chữ A (唒_ A) an trên trán

Màu sắc toàn vàng ròng

Soi chiếu các ngu ám
Hay phát Tuệ Minh sâu

Lỗ (刎_RO) an trên hai mắt

Màu lưu ly xanh biếc

Hay hiển các sắc tướng
Dần đủ Trí Như Lai

Lực (印掤_LIK) tưởng an hai vai

Màu sắc như tơ trắng

Do tâm thanh tịnh nên
Mau đạt nẻo Bồ Đề

Sa-phộc (渢_ SVĀ) an tim, rốn

Dạng ấy làm màu đỏ

Thường hay tưởng chữ đó

255

Mau được chuyển Pháp Luân (Dharma-cakra:bánh xe Pháp)

Chữ Ha (婄-HĀ) hai bàn chân

Màu sắc như trăng đầy

Hành Giả tác tưởng đó
Mau được đạt viên tịch

Như vậy tưởng nhớ màu chữ gốc (Bản Tự)

Liền thành Môn Đại Bi Thắng Pháp
Như tướng chân thật của Bản Tôn
Hay diệt các tội được cát tường
Giống như nhóm Kim Cương bền chắc
Gọi là Đại Bi Thắng Vương Pháp
Nếu thường tu hành Pháp như vậy
Nên biết người đó mau Tất Địa (Siddhi:thành tựu)

Tụng ba biến, tịnh Khế xong. Tự tâm tưởng trong miệng của Quán Âm Đại Bi Thiên Nhãn tuôn ra văn tự, lời màu nhiệm của Đại Bi phóng ánh sáng năm màu nhập vào trong miệng của Hành Giả, ngay trong vành trăng ở trái tim an bày xoay theo bên phải. Liền tụng Bản Tôn Chân Ngôn một biến, dùng ngón vô danh của tay phải vịn một hạt châu, vượt qua hạt châu rồi lại bắt đầu, chẳng gấp rút, chẳng chậm chạm, cũng chẳng cao giọng , rõ ràng xưng chữ khiến tự mình nghe. Nơi quán Bản Tôn với bày chữ trên thân , niệm tụng Ký Số. Ở trong một niệm nên cùng một lúc quán thấy, chẳng được thiếu khiến tâm tán loạn. Nếu quán niệm mệt mỏi thì tùy tâm lực , niệm tụng một trăm, hai trăm , ba trăm cho đến bảy trăm, một ngàn theo hạn số thường định. Nếu có duyên sự cũng phải niệm tụng chẳng được giảm thiếu.

Nếu cầu giải thoát ra khỏi sinh tử thì tác Tam Muội Du Già Quán Hạnh không có biến số. Người niệm tưởng trái tim của mình như một mặt trăng đầy sầu dầy trong sạch , trong ngoài rõ ràng. Dùng chữ Án (湡_ OṂ) an trong tâm mặt trăng . Dùng a lỗ lực sa phộc ha (唒刎印掤 渢婄_ AROLIK SVĀHĀ) từ phía trước chuyển bên phải theo thứ tự bao vòng khắp Luân Duyên, chân thật quán nghĩa của mỗi một chữ cùng tâm tương ứng chẳng được sai lầm

Chữ Án (湡_ OṂ) là nghĩa Lưu Chú, cũng là nghĩa chẳng sinh diệt, ở trong tất cả Pháp là nghĩa tối thắng

Chữ A (唒_ A) có nghĩa là không sinh, cũng là Trí Tịch Tĩnh trong tất cả Pháp của Như Lai

Chữ Lỗ (刎_RO) có nghĩa là tất cả các Pháp không có hành, cũng có nghĩa là không khởi trụ

Chữ Lực (印掤_ LIK) là nghĩa tất cả Như Lai không có Đẳng Giác, cũng có nghĩa là không lấy bỏ (vô thủ xả)

Chữ Sa-phộc (渢_ SVĀ) là tất cả Như Lai không có đẳng, cũng có nghĩa là không có lời nói

Chữ (婄-HĀ) có nghĩa là không có nhân, vắng lặng cũng có nghĩa là không Trụ Niết Bàn

Như trên đã nói nghĩa của chữ đều là nghĩa không có chỗ nói văn tự. Đã biết không có văn tự tức quán nghĩa lý thật không có chỗ nói, vòng quanh rồi lại bắt đầu,

256

không có ghi không có số cũng chẳng cắt đứt. Chẳng cắt đứt (bất đoạn tuyệt) tức là nghĩa lưu chú, chẳng sinh chẳng diệt. Do chẳng sinh chẳng diệt tức không có hành. Vì không có hành cho nên không có tướng (vô tướng). Vì không có tướng tức không khởi trụ. Vì không khởi trụ tức không có Đẳng Giác tức không lấy bỏ. Vì không lấy bỏ tức là bình đẳng không có lời nói. Vì lời nói bình đẳng tức là không có nhân vắng lặng, không trụ Niết Bàn . Vì không có nhân vắng lặng, không trụ Niết Bàn tức là chẳng sinh chẳng diệt, Pháp Môn Tối Thắng của tất cả Như Lai có tên gọi là Tam Ma Địa Niệm Tụng

Tiếp kết Tam Ma Địa Ấn : Hai Vũ (2 bàn tay) ngửa lên cài chéo nhau. Tiến Lực (2 ngón trỏ) cùng chung lưng rồi dựng đứng. Thiền Trí (2 ngón cái) vịn đầu Tiến Lực (2 ngón trỏ) đặt ở trên Già Phu.

Hành Giả tiếp tu A Sa Pha Na Già Tam Muội, thân ngay thẳng chính tọa, thân chẳng dao động, lưỡi trụ trên hàm ếch, ngưng hơi thở ra vào tức khiến cho hơi thở ấy thẫt nhỏ nhiệm, chân thật quán các Pháp đều do tâm của mình, tất cả phiền não như bóng nắng của ánh mặt trời (dương diệm) , như hóa, không có chân thật

Tác Quán đó xong, nguyện xin chư Phật chỉ bày cho Ta Hành Xứ . Tụng Chân Ngôn này là:

“Án, tam ma gia, bát ná-minh, hiệt-lý”
湡 屹交囚 扔榰 猭

*)OṂ_ SAMĀDHI PADME HRĪḤ

Lúc chính tọa thời mỗi mỗi thấu tỏ rõ, quán vô lượng chư Phật ở trong Hư Không

, một thời búng ngón tay cảnh giác Hành Giả rồi bảo rằng: “Lành thay! Hay làm Hạnh đó! Ngươi tưởng trong trái tim, nơi bày chữ ác (珆_ AḤ) trong suốt ở trái tim. Tụng Chân Ngôn này là:
“Án, chất đa bát-la để vị năng, ca lộ nhĩ”

湡 才柰 盲凸吒尼 一刎亦

*)OṂ_ CITTA PRATIVEDHAṂ KARA-UMI Nên niệm đợi thấy Tâm
Tròn đầy như trăng sạch (Tịnh Nguyệt)
Lại tác suy tư này
Tâm đó từ đâu sinh?
Phiền não gom hạt giống
Thiện Ac đều do Tâm
Tâm là A Lại Gia (Ālaya)
Tu Tịnh dùng làm Nhân (Hetu)
Vì Khách Trần ngăn che
Chẳng thể thành Bồ Đề
Liền tụng Chân Ngôn này
“Án, bồ đề chất đa, mẫu đát bà ná, gia nhĩ”
湡 回囚才柰觜瘑叨 仲亦

*)OṂ_ BODHICITTAM UTPĀDA YĀMI

257

Tụng Chân Ngôn này, chân thật quán tâm, khiến cho thật lắng trong thanh tịnh như ở Đại Hư Không mà không có chướng ngại. Từc ở trong tâm tưởng có một hoa sen hay khiến cho vành trăng tim tròn đầy sáng tỏ lợi ích, hiển trụ Bồ Đề bền chắc. Lại trao cho Tâm Chân Ngôn

“Án, để sắt-tra , bạt chiết-la, bát đầu-ma” 湡 凸沰 向忝 扔痧

*)OṂ_ TIṢṬA VAJRA-PADMA

Tưởng hoa sen ấy cùng vành trăng lớn dần dần dẫn vòng khắp Pháp Giới ngang bằng với hư không, không có ngại. Tức là Bình Đẳng Chân Như Môn. Ngươi ở vành trăng sạch, quán Ngũ Trí Kim Cương khiến vòng khắp Pháp Giới chỉ có một Đại Kim Cương, nên biết thân của mình tức là Kim Cương Giới (Vajra-dhātu). Mật Ngôn là:
“Án, tát-phả la, phộc nhật-la, bát ná-ma” 湡 剉先 向忝扔痧

*)OṂ_ SPHARA VAJRA-PADMA

Tụng Chân Ngôn này, tưởng trong hoa sen tuôn ra vô lượng ánh sáng, vô lượng ánh sáng tuôn ra vô lượng Thế Giới, mỗi một Thế Giới diệu bảo trang nghiêm đều có Quán Tự Tại Vương Như Lai cùng các Thánh Chúng trước sau vây quanh dùng chứng Tự Tâm tức được thanh tịnh. Nên biết thân của mình quay lại làm Đức Phật ấy có đầy đủ mọi tướng. Tức ở trong Định lễ khắp chư Phật, nguyện gia trì bền chắc. Liền nói Kim Cương Tâm Chân Ngôn là:

“Án, tăng ha la, bát ná-ma”
湡 戌成先 扔痧

*)OṂ_ SAṂHARA PADMA

Tụng Chân Ngôn này, tiếp tục đủ Tát Bà Nhược Trí (Sarvajña-jñāna: Nhất Thiết Trí Trí)

Tiếp tác Gia Trì Bí Ấn. Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) sáu Độ (6 ngón từ ngón giữa trở xuống) cùng cài chéo nhau bên ngoài, hai Độ Tiến Lực (2 ngón trỏ) trụ như sen, kèm dựng Thiền Trí (2 ngón cái) như cây phướng, ấn trái tim, vầng trán, cổ họng và đỉnh đầu.

Mật Ngôn là:

“Án, phộc nhật-la đạt ma hiệt-lý”
湡 向忝叻猣 猭

*)OṂ_ VAJRA-DHARMA _ HRĪḤ

Liền tưởng các Như Lai ở hư không cầm báu Hư Không rưới rót lên đỉnh đầu của ta. Định Tuệ (2 tay) hòa hợp Kim Cương Phộc, Tiến Lực (2 ngón trỏ), Thiền Trí (2 ngón cái) như hình báu.

258

Dùng ấn trên vầng trán gia trì xong tức thành mão Ngũ Phật tại đỉnh đầu. Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, la đát-na, a tỳ săn giả , tát phộc hàm, hiệt-lị, đát-lạc” 湡 扔痧 先富石趔弋 送伐 猭 猧

*)OṂ_ PADMA-RATNA ABHIṢIṂCA SVĀMAṂ_ HRĪḤ TRĀḤ

Tiếp kết Liên Hoa Man Ấn. Dựa theo Ấn trước, hai Vũ (2 tay) ngang trái tim, hợp Thiền Trí (2 ngón cái) co ở trong Bản Nguyệt (lòng bàn tay) Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) sáu Độ (6 ngón tay từ ngón giữa trở xuống) đều nắm quyền như thế cột buộc tràng hoa từ từ hạ xuống.

Tụng Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, la đát-na, ma lệ, hàm”
湡 扔痧先寒 交同 猲

*)OṂ_ PADMA-RATNA-MĀLE HŪṂ

Tiếp kết Nhất Thiết Từ Giáp Ấn

Hai Tuệ (2 tay) ở ngang tim
Dùng giao cạnh Tiến Lực (2 ngón trỏ).

Mặt Tiến (mặt ngón trỏ phải) tưởng chữ Án (湡_OṂ) Mặt Lực (mặt ngón trỏ trái) tưởng chữ Châm (趐_ṬUṂ) Phóng ánh sáng xanh lục
Mội ánh sáng chẳng dứt
Như rút tơ ngó sen
Ngang trái tim định xong

Trí Quyền (quyền phải) cột vòng hoa phía sau trán xong, liền lại ở phía trướng buông rũ Tiến Lực (2 ngón trỏ). Hai Độ Án Châm (湡趐_ OṂ ṬUṂ) cùng nhau quấn buộc quanh chẳng dứt ánh sáng xanh lục như cột áo Giáp trên trái tim, lưng, rốn, eo, hai đầu gối, ngực, lưng, cổ họng, đỉnh đầu, phía sau vầng trán… mỗi mỗi Tiến Lực (2 ngón trỏ) đều quấn quanh ba vòng. Buông chưởng từ phía trước hạ xuống như áo khoác ngoài (Thiên Y) tức hay hộ khắp các Chúng Sinh, tất cả Thiên Ma chẳng thể hoại. Mật Ngôn là:

259

“Án, a bá gia, bát ná-ma, ca phộc chế , mãn đà, la cật-sái hàm, hồng hám” 湡 狣矛伏 扔痧 一向中 向神 先朽 伐 嫟 曳

*)OṂ_ ABHAYA-PADMA-KAVACE BANDHA RAKṢA MAṂ_ HŪṂ HAṂ

Tiếp kết Như Lai Hoan Hỷ Ấn. Hai Vũ Định Tuệ (2 bàn tay) hợp ngang trái tim, hai Độ Tiến Lực (2 ngón trỏ) cùng cài chéo nhau bên ngoài, hai Độ Thiền Trí (2 ngón cái) dựng ngang trái tim hơi vỗ ba tiếng khải bạch các Thánh.
Chân Ngôn là:
“Án, bát ná-ma, đổ sử-dã, hộ”
湡 扔痧 加併 趌

*)OṂ_ PADMA TUṢYA HOḤ

Nên dùng Thành Sở Tác Trí Tam Ma Địa. Tưởng ở trước thân của mình , thấy vô lượng biển sữa sinh ra Đại Liên Hoa Vương (Hoa sen vua to lớn) với Kim Cương làm cọng, lớn vòng quanh Pháp Giới, bên trên có lầu gác báu, bên trong có tòa Sư Tử ở trong mặt trăng đầy hiện hoa sen trắng màu nhiệm. Quán trong biển có chữ Hiệt Lý (猭_ HRĪḤ) biến làm hoa sen hé nở, lại biến hoa làm Quán Tự Tại Vương Như Lai với vô số Bồ Tát trước sau vây quanh dùng thành quyến thuộc đều đến dự Hội ấy

Tiếp kết Kim Cương Vương Bồ Tát Triệu Tập Chư Thánh Ấn. Hai vũ Định Tuệ (2 bàn tay) nắm Kim Cương Quyền, Tiến Độ (ngón trỏ phải) như móc câu, riêng co ba lần.

Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma án cú xả , hồng nhạ”
湡 扔痧 珃乃在 猲 切

*)OṂ_ PADMA-AṂKUŚA HŪṂ JAḤ

Tụng Chân Ngôn này ba biến xong, tức dùng Tiến Độ (ngón trỏ phải) ba lần chiêu vời chân thân Bồ Tát tràn đầy hư không, ứng niệm từ mười phương đến một lúc.

Tiếp kết Kim Cương Sách Đại Ấn dẫn vào Tôn Thân ở Trí Thể. Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) sáu Độ (6 ngón tay từ ngón giữa trở xuống) cùng cài chéo nhau bên ngoài. Hai Độ Thiền (ngón cái phải) Tiến (ngón trỏ phải) cùng vịn đầu nhau.

Tụng Chân Ngôn này là:

“Án, bát ná-ma, a mẫu già bá xả, hồng”
湡 扔痧 狣千扒在 猲

*)OṂ_ PADMA-AMOGHA-PĀŚA HŪṂ

Liền tưởng Pháp Thân của Bồ Tát đến nhập vào tượng vẽ, tức làm Pháp Thân (Dharma-kāya)

260

Tiếp kết Kim Cương Câu Tỏa Ấn hay khiến cho Bản Tôn trụ bền chắc. Thiền Tiến (ngón cái và ngón trỏ phải) Lực Trí (ngón trỏ và ngón cái trái) móc kết nhau.

Đây gọi là Kim Cương Năng Chỉ Ấn. Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, tắc-phổ tra, hàm”
湡 扔痧厘巴猲

*)OṂ_ PADMA-SPHOṬA HŪṂ

Tụng Pháp này xong, Bản Thân của Thánh Giả gia trì chẳng tan.

Tiếp kết Kim Cương Diệu Khánh Ấn. Tác Ấn này xong hay khiến cho các Thánh vui vẻ. Co Thiền Trí (2 ngón cái) vào Kim Cương Phộc, co Tiến Lực (2 ngón trỏ) sao cho đầu ngón trụ nhau như cái vòng.

Đây gọi là Kim Cương Hỷ Ấn. Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, phệ xá, ác”
湡 扔痧 吒在 珆

*)OṂ_ PADMA-VEŚA AḤ

Do Chân Ngôn với Ấn này, tất cả chư Phật Bồ Tát với Bản Thánh Giả thảy đều vui vẻ

Tiếp kết Át Già Thủy Chân Ngôn với Ấn. Đem hai vũ (2 tay) để ngang trái tim, hợp Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) sáu Độ (6 ngón tay từ ngón giữa trở xuống), ngửa duỗi thẳng Tiến Lực (2 ngón trỏ) rồi co lại vịn móng ngón Thiền Trí (2 ngón cái).

Mật Ngôn:

“Án, đế lệ lệ, mẫu đà, sa-phộc ha”
湡 包先同 后益 送扣

*)OṂ_ TERALE BUDDHA SVĀHĀ

Dùng cúng dường này thì tất cả Như Lai Kim Cương (Tathāgata-vajra) đem Cam Lộ (Amṛta) rưới rót lên đỉnh đầu của tất cả chúng sinh, diệt trừ vô lượng Nghiệp

261

Chướng. Nhân cúng dường Át Già này cho nên tắm thân không dơ (vô cấu thân) của các Thánh Chúng. Dùng Phước Lợi khó thể lường này sẽ được quán đỉnh Pháp Vân Địa (Dharma-megha-bhūmi)

Tiếp kết Nhất Thiết Như Lai Bách Tự Mật Ngôn với Ấn

“Án, bát ná-ma tát đát-phộc tam ma gia, ma nỗ bá la gia. Bát ná-ma tát đát-phộc, để-vĩ nỗ ba , để sắt-xá, niết-lý trạc minh bá phộc. Tô đổ sái-dụ minh bà phộc. A nỗ la kết-đổ minh bá phộc. Tô báo sái-dụ minh bá phộc. Tát phộc tất địa minh bát-la dã xa. Tát bà yết ma tô giả minh, chất đa, thất-lợi dược, câu lô hồng. Ha ha ha ha hộ. Bạc già phạm, tát bà đát tha nga đa, bát ná-ma, mãng minh muộn già. Bát ná-mê bà phộc. Ma ha tam ma dã, tát đát-phộc, ác”

湡 扔痧屹玆 屹亙伏亙平扒匡伏 扔痧屹玆 珞弗扔凸沰 呠旭 伙成向 鉏北佺伙矛向 鉏末佺 伙矛向 狣平先鈲 伙矛向 屹楠帆鄑 伙 盲伏猌 屹楠 一廕鉏 弋 伙才柰 漈兇 乃冰 狫 成成成成旭 矛丫圳 屹楠 凹卡丫凹 扔痧 交 伙 彃弋 扔旌 矛向亙扣 屹亙伏 屹玆 猱

*)OṂ_ PADMA-SATVA SAMAYAM ANUPĀLAYA_ PADMA-SATVA TVENA UPATIṢṬA DṚḌHO ME BHAVA _ SUTOṢYO ME BHAVA _ SUPOṢYO ME BHAVA _ ANURAKTO ME BHAVA _ SARVA SIDDHIṂ ME PRAYACCHA _ SARVA KARMASU CA ME CITTAṂ ŚRĪYAṂ KURU HŪṂ_ HA HA HA HA HOḤ_ BHAGAVAṂ, SARVA TATHĀGATA-PADMA, MĀ ME MUṂCA _ PADMĪ BHAVA_ MAHĀ-SAMAYA-SATVA _ ĀḤ

Do Ma Ha Diễn Bách Tự Mật Ngôn gia trì cho nên giả sử có phạm tội Vô Gián với phỉ báng tất cả Kinh Điển Phương Đẳng của chư Phật thì tội của nhóm như vậy thảy khiến được tiêu diệt. Dùng Bản Tôn trụ chẳc nơi thân của ta nên mau được địa vị Kim Cương Tát Đỏa (Vajra-satva) với địa vị của Bồ Tát, chư Phật.

Tiếp kết Kim Cương Hy Hý Ấn (Nội Tứ Cúng Dường). Định Tuệ (2 tay) hòa hợp Kim Cương Quyền, hai Độ Thiền Trí (2 ngón cái) dựng ngang trái tim, tất cả Hỷ Hý (vui giỡn) dần chuyển xoay bay lên trên đỉnh rồi bung tán Thánh Ý của Khế.

Tác cúng dường này thì tất cả Như Lai cung dưỡng Trí Tuệ. Chư Phật dùng Pháp này làm sự dạo chơi, vui giỡn. Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, la tế, hô”
輆 扔痧匠刻 趌

*)OṂ_ PADMA-LĀSYE HOḤ

262

Tiếp kết Kim Cương Hoa Man Ấn. Chẳng sửa Ấn trước, nâng dẫn phía trước, tưởng dâng vòng hoa báu dùng trang nghiêm cái đầu.

Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma , ma lệ, đát-la tra”
湡 扔痧 交同 湥誆

*)OṂ_ PADMA-MĀLE TRAṬ

Do Ấn Chân Ngôn này cúng dường sẽ được quán đỉnh địa vị của Pháp Vương (Dharma-rāja)

Tiếp kết Kim Cương Ca Vịnh Ấn. Ấn trườc từ lỗ rốn dần đưa lên đến miệng mới bung, diễn âm thanh màu nhiệm giúp vui cho Thánh Hội.

Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, nghĩ đế, nghĩ”
湡 扔痧輀包輅

*)OṂ_ PADMA-GĪTE _ GĪḤ

Do cúng dường Kim Cương Ca này, chẳng lâu sẽ đủ việc làm của Như Lai

Tiếp kết Kim Cương Vũ Ấn. Quán mây Diệu Kỹ cúng dường khắp. Định Tuệ (2 tay) Tiến Lực (2 ngón trỏ) đều xoay múa, hông sườn bên trái, hông sườn bên phải, lại ngang trái tim, mỗi mội Tiến Lực (2 ngón trỏ) xoay quấn ba lần

Chân Ngôn chẳng dứt, rồi bung tán trên đỉnh đầu. “Án, bát ná-ma nễ-lý đế, cật-lý tra” 湡 扔痧坲抖邟誆

*)OṂ_ PADMA-NṚTYE _ KṚṬ

Do điệu múa màu nhiệm này sẽ được Thân do ý sinh của Như Lai (Như Lai Ý Sinh Thân)

Tiếp kết Phần Hương Ngoại Cúng Dường Ấn. Tác Pháp này xông ướp khắp Phật Hải Hội, hoà hợp Kim Cương, hạ xuống dưới bung chưởng, tưởng mây hương màu nhiệm vòng quanh Pháp Giới.

263

Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, độ bế, ác”
湡 扔痧 央本 珆

*)OṂ_ PADMA-DHŪPE _ AḤ

Do dùng hương thiêu đốt cúng dường, liền được Trí Vô Ngại của Như Lai vòng khắp Pháp Giới, hiến hương màu nhiệm đắc được các bậc trên, các Phật Trí.

Tiếp kết Kim Cương Tán Hoa Ấn. Dùng Pháp này trang nghiêm các Thế Giới.

Phộc Ấn bung tán lên trên như hoa, mây hoa thơm phức tràn khắp Pháp Giới.

Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, bổ sắt-bế”
湡 扔痧 觢廑 湡

*)OṂ_ PADMA-PUṢPE _ OṂ

Do kết Kim Cương Hoa cúng dường mau chứng 32 tướng của Như Lai, cũng nguyện cho Hữu Tình được thành tựu đồng với 32 tướng của chư Phật

Tiếp kết Kim Cương Đăng Minh Ấn. Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) sáu Độ (6 ngón tay từ ngón giữa trở xuống) cùng cài chéo nhau bên ngoài, co Tiến Lực (2 ngón trỏ) trụ như hình báu, hai Độ Thiền Trí (2 ngón cái) đều co song song. Ánh sáng của đèn Ma Ni chiếu Pháp Giới.

Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, nễ bế, nễ”
湡 扔痧 叵本 輇

*)OṂ_ PADMA-DĪPE _ DĪḤ

Người tác Pháp này dùng đèn Như Lai Trí mà làm cúng dường hay khiến cho Hữu Tình mau thành Trí Tuệ của Như Lai. Dùng cúng dường này được năm loại mắt thanh tịnh.

Tiếp kết Kim Cương Đồ Hương Ấn dùng để cúng dường các Phật Hội. Bung tán Kim Cương Phộc như xoa bôi hương, mùi thơm (hương khí) lan tỏa vòng quanh mười phương Giới, xông ướp khắp Thánh Chúng với Thanh Văn.

Mật Ngôn là:

“Án, bát ná-ma, ngạn đề, ngược”
湡 扔痧 丫秧 勺

*)OṂ_ PADMA-GANDHE _ GAḤ

264

Tác sự nhiễm dính của Pháp này, dùng các Như Lai Trí, hương của Thi La (Śīla:Thanh Lương Giới) mà làm cúng dường, hay khiến cho Hữu Tình mau được thanh tịnh. Do Phước này nên đầy đủ năm phần Pháp Thân

Tiếp kết Căn Bản Ấn. Tiếp nên chân thật tưởng thân của mình đồng với Bản Tôn, quyến thuộc vây quanh, trụ ở Đại Viên Kính Trí. Tức dùng hai vũ Định Tuệ (2 tay) kết Kim Cương Phộc, hai Độ Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) dựng như cây phướng.

Liền tụng Quán Âm Căn Bản Minh, thân ở trong vành trăng đồng với Tát Đỏa (Satva). Mật Ngôn là:
“Án, lộ kế thấp phộc la , la nhạ,hột-lý”
湡 吐了鄎先全介 猭

*)OṂ_ LOKEŚVARA-RĀJA_ HRĪḤ

Tiếp nên ca vịnh, mọi thứ tán thán. Nếu khi khen ngợi (tán thán) thời vào lúc sáng sớm, rửa vảy xoa bôi tay Luân Kết, dùng Diệu Âm thanh nhã mà ca tán. Mỗi ngày bốn thời là: Sáng sớm, giờ Ngọ, hoàng hôn, nửa đêm (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) niệm tụng tràng hạt (sổ châu) đều y theo Bản Bộ.

Tiếp hiến nước Át Già (Ārgha)

Dùng Giáng Tam Thế Ấn xoay theo bên trái giải Giới Ấn

Liền kết Kim Cương Giải Thoát Ấn phụng tống các Thánh.

T

iếp kết Phát Khiển Ấn. Dùng Căn Bản Ấn từ lỗ rốn đến miệng, xong đem bung tán. Chắp tay ở trên đỉnh đầu, tưởng Quán Tự Tại Vương Như Lai quay về Bản Cung. Tụng Mật Ngôn là:

265

“Án, bạt nhật-la, bát ná-ma, mục”

湡 向忝扔痧 鄖

*)OṂ_ VAJRA-PADMA _ MUḤ

Phát Khiển Bản Tôn xong, tùy ý phát Nguyện Lại dùng Giáp Ấn hộ thân

Dùng Mã Đầu Minh Vương Giới Ấn xoay theo bên trái giải Giới. Tùy ý Kinh Hành, nghiêm trì hương hoa, đọc tụng Đại Thừa, trong bốn uy nghi (đi, đứng, ngồi, nằm) thường niệm Bản Tôn không có gián đoạn

Nếu có chúng sinh tu Giáo này thì trong đời này chứng Hoan Hỷ Địa, trải qua 16 đời thành Đẳng Chính Giác.

KINH KIM CƯƠNG ĐỈNH

PHÁP TU HÀNH DU GIÀ QUÁN TỰ TẠI VƯƠNG NHƯ LAI
-Hết-



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *