KINH TĂNG NHẤT A-HÀM – TẬP III QUYỂN 6

Kinh Tăng Nhất A-Hàm

Việt dịch: Hòa thượng Thích Thanh Từ
Hiệu đính: Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
PL 2541 – TL 1997

 

LI. Phẩm Phi thường

1. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Thế nào, Tỳ-kheo các Thầy lưu chuyển sanh tử trải qua bao khổ não, trong đó buồn khóc nước mắt rơi là nhiều chăng? Hay nước sông Hằng nhiều?

Các Tỳ-kheo đến trước bạch Phật:

– Chúng con khi quan sát ý nghĩa câu nói của Như Lai, trải qua sanh tử, nước mắt rơi khi buồn khóc nhiều hơn nước sông Hằng.

Phật bảo Tỳ-kheo:

– Lành thay, lành thay! Các Tỳ-kheo! Như các thầy nói không khác. Các Thầy ở trong sanh tử, nước mắt nhiều hơn nước sông Hằng. Vì sao thế? Ở trong sanh tử, cũng vì phụ mẫu mạng chung, khi ấy khóc lóc không thể tính kể. Lâu dài cha con, chị em, vợ con, ngũ thân và các quyến thuộc ân ái thương nhớ khóc lóc không thể tính kể.

Cho nên, này các Tỳ-kheo, nên chán họa sanh tử, xa lìa pháp ấy. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!

Khi Phật nói pháp này, có sáu mươi Tỳ-kheo được lậu tận ý giải.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

2. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Thế nào, Tỳ-kheo các Thầy, ở trong sanh tử thân thể hủy hoại, máu chảy có nhiều chăng? Hay nước sông Hằng nhiều?

Các Tỳ-kheo bạch Phật :

– Như chúng con quan sát lời nói của Như Lai, máu chảy nhiều hơn nước sông Hằng.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Lành thay, lành thay, các Tỳ-kheo! Như các Thầy nói, máu chảy nhiều hơn nước sông Hằng. Vì sao như thế? Ở trong sanh tử, hoặc làm bò, dê, heo, chó, ngựa, chim thú và vô số các loài khác nhau, trải qua khổ não. Thật đáng chán họa hoạn, nên nghĩ xa lìa. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!

Khi đức Thế Tôn nói pháp này, có sáu mươi Tỳ-kheo được lậu tận ý giải.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

3. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Nên tư duy về tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường. Ðã tư duy tưởng vô thường, luu bố rộng tưởng vô thường thì sẽ đoạn sạch hết dục ái, sắc ái, vô sắc ái, vô minh, kiêu mạn thảy đều trừ hết. Cũng như đem lửa đốt cây cỏ cháy sạch không còn sót, Tỳ-kheo nên biết, nếu tư duy về tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường thì sẽ đoạn dứt hết ái trước trong ba cõi. Xưa có quốc vương tên Thanh Tịnh Âm Hưởng thống lãnh cõi Diêm-phù-đề, có tám vạn bốn ngàn thành ấp, có tám vạn tám đại thần, có tám vạn bốn ngàn cung nhơn thể nữ, mỗi thể nữ có bốn người hầu hạ. Ðại vương Âm Hưởng không có con nối dõi. Ðại vương bèn nghĩ: ‘Nay ta thống lãnh quốc gia này, dùng pháp cai trị không cong vạy. Nhưng nay ta không người kế tục, nếu ta chết, sau đó dòng tộc sẽ đoạn diệt’. Nhà vua do nhân duyên cầu con, nên tự quy y chư thiên long, Quỷ thần, nhật nguyệt tinh tú, tự quy y Thích Phạm, Tứ thiên vương, sơn thần, thọ thần, dưới đến các thần thảo mộc, hoa quả, xin cầu được phước khiến vua sanh con.

Bấy giờ, nơi cung trời Ba mươi ba có một Thiên tử tên Tu-bồ-đề, mạng sống sắp hết, có năm điềm ứng tự đến ép ngặt thân. Thế nào là năm? Hoa của chư Thiên trọn không héo, Thiên tử này hoa đội đầu cũng héo. Y phục chư Thiên không có bụi nhơ, y phục của Thiên tử này sanh bụi nhơ. Hơn nữa, thân thể của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thơm sạch, ánh sáng chói lòa, bấy giờ thân của Thiên tử này hôi dơ không thể đến gần. Lại chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thường có ngọc nữ vây quanh trước sau, ca hát đờn địch ngũ dục tự do vui thích, Thiên tử này mệnh sắp hết, các ngọc nữ ly tán. Lại, chư Thiên cõi trời Ba mươi ba có tòa ngồi tự nhiên ấn sâu vào đất bốn thước, khi chư Thiên đứng lên, tòa rời đất bốn thước, song Thiên tử này sắp mạng chung nên không thích tòa của mình. Ðó gọi là năm điềm ứng hiện tự nhiên bứt ngặt.

Khi thiên tử Tu-bồ-đề do những điềm ứng này, Thích-đề-hoàn-nhân bảo một Thiên tử:

– Ông hãy đến cõi Diêm-phù, bảo với vua Âm Hưởng rằng: ‘Thích-đề-hoàn-nhân hỏi thăm Ðại vương, ngồi nằm khinh an, đi đứng mạnh khỏe. Cõi Diêm-phù-đề không có người đức độ để làm con Ðại vương, nay cõi trời Ba mươi ba có một Thiên tử tên Tu-bồ-đề, có năm điều ứng hiện tự nhiên bức bách trên thân, chắc sẽ giáng thần làm con Ðại vương, tuy thế vào lúc tuổi thanh niên cường tráng, chắc sẽ xuất gia học đạo, tu Phạm hạnh vô thượng’

Vị Thiên tử ấy đáp:

– ‘Thưa vâng ! Ðại vương’.

Thiên tử ấy vâng lời dạy của Ðế Thích, trong khoảng lực sĩ duỗi tay, từ cõi Ba mươi ba ẩn, đến cõi Diêm-phù. Bấy giờ vua Âm Hưởng đang ở trên lầu cao, cùng với một người cầm lọng che. Khi ấy, Thiên tử kia ở trên lầu, nơi hư không bảo nhà vua:

– ‘Thích-đề-hoàn-nhân kính lời thăm Ðại vương, dạo đi mạnh khỏe, ngồi đứng khinh an. Cõi Diêm-phù không có người đức độ để làm con Ðại vương, nay cõi trời Ba mươi ba có vị Thiên tử tên Tu-bồ-đề, nay có năm điềm ứng bức ngặt nơi thân, sẽ giáng thần làm con Ðại vương. Nhưng vào tuổi thanh niên ắt sẽ xuất gia học đạo, tu Phạm hạnh vô thượng’.

Vua Âm Hưởng nghe lời ấy rồi, vui mừng phấn khởi không thể tự kềm, liền bảo vị Thiên tử kia:

– ‘Nay đến đây bảo cho như vậy, thật hạnh phúc vô cùng. Xin cứ giáng hạ làm con tôi, muốn cầu xuất gia thì tôi trọn không trái ý’.

Vị thiên tử kia trở về chỗ Thích-đề-hoàn-nhân, liền thưa rằng:

– ‘Vua Âm Hưởng rất vui mừng. Và thưa lại rằng: ‘Xin cứ giáng thần, nếu muốn xuất gia thì tôi trọn không trái ý’.

Thích-đề-hoàn-nhân bèn qua chỗ Thiên tử Tu-bồ-đề, bảo thiên tử Tu-bồ-đề:

– ‘Nay Ông nên phát nguyện sanh vào cung của vua Âm Hưởng. Vì sao thế ? Vua Âm Hưởng không có thái tử, thường dùng Chánh pháp trị dân. Xưa Ông có phước, tạo các công đức, nay nên giáng thần sanh vào cung vua ấy’.

Thiên tử Tu-bồ-đề thưa:

– ‘Thôi, thôi, Thiên vương! Tôi không thích nguyện sanh trong cung vua cõi Người, ý tôi muốn xuất gia học đạo, ở trong cung vua học đạo rất khó’.

Thích-đề-hoàn-nhân bảo:

– ‘Ông nên phát nguyện sanh trong cung vua ấy, Ta sẽ ủng hộ cho Ông được xuất gia học đạo’.

Tỳ-kheo nên biết! Khi ấy Thiên-tử Tu-bồ-đề liền phát thệ nguyện sanh trong cung vua. Vua Âm Hưởng cùng đệ nhất phu nhân giao tiếp nhau, phu nhân biết mình mang thai, bèn thưa cùng vua Âm Hưởng:

– ‘Ðại vương nên biết ! Nay tôi biết có mang thai’.

Vua nghe rồi, vui mừng hớn hở, liền đem nệm quý báu, trải tòa ngồi tốt đẹp, dùng món ăn ngon cho phu nhân như vua không khác. Trải qua tám chín tháng, phu nhân sanh một hoàng nam rất đoan chánh, dung mạo phi thường ít có trong đời. Vua Âm Hưởng cho mời các ngoại đạo Phạm chí, quần thần bảo xem tướng, vua đem đầu đuôi mọi việc trình bày hết cho các tướng sư.

Các Bà-la-môn tâu bày:

– ‘Xin thưa Ðại vương, theo lý lẽ này thì nay sanh Thái tử rất đặc biệt trong đời, xưa làm Thiên tử tên Tu-bồ-đề, nay y theo tên cũ cũng gọi là Tu-bồ-đề’.

Các tướng sư đặt tên hiệu rồi, liền rời chỗ ngồi lui ra.

Vương tử Tu-bồ-đề, được vua thương mến không hề rời mắt. Vua Âm Hưởng bèn khởi nghĩ: ‘Ta xưa nay không có con, vì muốn cầu con nên lễ bái chư Thiên, để được con. Trải qua bao lâu nay mới sanh thái tử. Song Thiên đế có dự báo, thái tử sẽ xuất gia học đạo. Nay ta phải tìm chước khéo để thái tử đừng xuất gia học đạo’.

Khi ấy, vua Âm Hưởng vì thái tử mà thiết lập cung điện ba mùa, mùa đông lập cung điện ấm, mùa hạ lập cung điện mát, mùa không lạnh không nóng lập cung điện thích hợp. Vua lại lập nên bốn cung cho cung nữ ở, cung thứ nhất có sáu vạn thể nữ, cung thứ hai có sáu vạn thể nữ, cung thứ ba có sáu vạn thể nữ, cung thứ tư có sáu vạn thể nữ. Có bốn thị tùng cung cấp ngoài tòa ngồi cho thái tử. Nếu thái tử Tu-bồ-đề muốn đạo chơi phía trước, các thể nữ liền đứng hầu ở trước, lúc ấy sàng tòa di chuyển theo thân mình, phía trước có sáu vạn thể nữ và bốn thị gia. Nếu ý Thái tử muốn dạo chơi phía sau, thì sàng tòa tùy theo thân di chuyển. Nếu thái tử muốn vui chơi cùng các thể nữ, lúc ấy sàng tòa cũng tùy thân di chuyển, khiến cho thái tử Tu-bồ-đề ý đắm trong ngũ dục không thích xuất gia.

Khi ấy Thích-đề hoàn-nhân vào lúc nửa đêm vắng người, liền đến chỗ vương tử Tu-bồ-đề, ở trên hư không bảo:

– ‘Vương tử! Ngày xưa Vương tử có khởi ý niệm này chăng? Rằng ‘nếu ta ở nhà, lúc tuổi tráng niên sẽ xuất gia học đạo’; ngày nay vì sao vui trong ngũ dục, ý lại không nguyện xuất gia học đạo? Ta cũng có lời rằng sẽ khuyến khích vương tử khiến xuất gia học đạo. Nay chính đúng lúc, nếu không xuất gia học đạo, sau hối hận vô ích’

Thích-đề-hoàn-nhân nói lời ấy rồi liền lui đi.

Vương tử Tu-bồ-đề ở trong cung bèn khởi nghĩ: ‘Vua cha đã vì ta làm lớp lưới ái dục, vì lưới ái dục này nên không xuất gia học đạo được. Nay ta phải đoạn dứt lưới này, không để cho uế trượt câu dắt, dùng lòng tin kiên cố xuất gia học đạo, ở chỗ vắng, siêng học kinh khiến cho ngày thêm tiến’.

Vương tử lại khởi ý này: ‘Phụ vương Âm Hưởng cho sáu vạn thể nữ vây quanh trước sau. Nay ta nên quan sát có lý nào tồn tại vĩnh viễn ở thế gian chăng? ‘Khi ấy Vương tử quan sát khắp trong cung, không có người nữ nào tồn tại lâu ở thế gian. Tu-bồ-đề lại khởi niệm này: ‘Nay cớ gì ta quan sát ngoại vật ? Nên quan sát trong thân, nhân duyên khởi lên. Nay trong thân này có những thứ thuộc về tóc, lông, răng, móng, xương, tủy được tồn tại lâu chăng?’ Vương tử quan sát từ đầu đến chân ba mươi sáu vật ô uế bất tịnh, do tự quan sát thấy rằng không một chút gì có thể tham đắm, cũng không có gì chân thật, toàn là huyễn ngụy, đều trở về không, không tồn tại lâu cả đời.

Vương tử Tu-bồ-đề bèn khởi ý niệm: ‘Nay ta sẽ cắt đứt lớp lưới này, xuất gia học đạo’. Khi đó Tu-bồ-đề quán thâm năm thọ ấm này: Ðây là sắc khổ, đây là sắc tập, đây là sắc diệt, đây là sắc xuất yếu. Thọ, tưởng, hành, thức đều khổ cho đến thức tập, thức diệt, thức xuất yếu. Quán thân năm thọ ấm này rồi, những pháp tập đều là pháp tận. Tu-bồ-đề liền ở chỗ ngồi được thành Bích chi Phật. Lúc đó, đức Bích-chi Phật Tu-bồ-đề do giác thành Phật, bèn nói kệ:

Ta biết cội gốc dục,
Ý do tư tưởng sanh
Ta không nhớ nghĩ dục,
Ắt dục không có mặt.

Ðức Bích-chi Phật nói kệ này rồi, bay trên hư không mà đi, đến một ngọn núi ngồi dưới cội cây, nơi vô dư Niết-bàn mà nhập Niết-bàn.

Bấy giờ vua Âm hưởng bảo các cận thần:

– ‘Ông đến nội cung của vương tử Tu-bồ-đề xem vương tử có vui chơi an ổn chăng!’

Ðại thần vâng lệnh vua, liền đi qua nội cung của vương tử, song nội thất đóng chắc chắn. Ðại thần bèn trở về, tâu vua:

– ‘Vương tử ngủ say an ổn, cửa cung đóng chắc chắn’.

Nhà vua lại ba phen bảo:

– ‘Ông hãy qua xem vương tử có ngủ ngon chăng!’

Ðại thần lại đi đến cửa cung, song cửa cài chắc, lại trở về tâu vua:

– ‘Vương tử ở trong cung ngủ say không hay biết, cửa đóng kín đến giờ chưa mở’.

Khi ấy vua Âm Hưởng lại khởi niệm: ‘Vương tử con ta khi nhỏ còn chẳng ngủ say, huống gì ngày nay tráng niên sung thạnh lại ngủ say ư ? Nên tự sang xem biết con lành dữ, con ta có tật bệnh gì chăng!’ Nhà vua liền sang đến nội cung của Tu-bồ-đề, đến ngoài cửa bảo một người:

– ‘Ông thử trèo tường vào cung mở cửa cho ta’.

Người ấy vâng lệnh vua bèn trèo qua tường, vào cung mở cửa cho nhà vua. Vua vào xem xét trong cung, thấy giường nằm trống không chẳng có vương tử, bèn hỏi thể nữ:

– ‘Vương tử Tu-bồ-đề, hiện giờ ở đâu?’

Các thể nữ tâu:

– ‘Chúng tôi cũng không biết vương tử ở đâu’.

Vua Âm Hưởng nghe lời ấy, ngã xuống đất giây lâu mới tỉnh. Vua bèn bảo quần thần:

– ‘Con ta khi còn nhỏ sang ý niệm rằng: ‘Khi lớn lên sẽ cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, do lòng tin kiên cố xuất gia học đạo’. Nay chắc vương tử đã bỏ ta, xuất gia học đạo. Các ông nên đi bốn phía tìm kiếm vương tử xem ở đâu’.

Tức thời quần thần cỡi xa mã rong ruổi nơi nơi tìm kiếm . Bấy giờ có một đạo thần đi đến núi đó, giữa đường bèn khởi nghĩ: ‘Nếu vương tử Tu-bồ-đề xuất gia học đạo, chắc sẽ ở đây học đạo’. Ðại thần xa thấy vương tử Tu-bồ-đề ngồi kiết-già dưới một cội cây. Ðại thần ấy bèn nghĩ : ‘Ðây chính là vương tử Tu-bồ-đề’. Ðại thần nhìn kỹ, quan sát rồi trở về chỗ vua tâu rằng :

– ‘Vương tử Tu-bồ-đề ở gần đây, ngồi kiết-già dưới gốc cây trong núi’.

Vua Âm Hưởng nghe nói, liền đi đến núi đó, xa thấy Tu-bồ-đề ngồi kiết-già dưới gốc cây trong núi, vua lại ngã xuống đất: ‘Con ta khi xưa tự thệ nguyện đến năm hai mươi tuổi sẽ xuất gia học đạo; nay đã không lầm. Lại Thiên đế có bảo: ‘Con Ðại vương chắc sẽ học đạo’.

Khi ấy vua Âm Hưởng đến thẳng trước mặt Tu-bồ-đề bảo:

– ‘Nay Con vì cớ gì bỏ ta mà xuất gia học đạo?’

Bích-chi Phật im lặng không đáp.

Vua lại bảo:

– ‘Mẹ con rất lo buồn, đợi gặp con mới ăn, nên đứng lên đi về cung’.

Bích-chi Phật cũng không nói không rằng, ngồi im lặng. Vua Âm Hưởng bước tới nắm tay cũng không lay động. Vua liền bảo quần thần:

– ‘Vương tử đã chết. Trước đây Thích-đề-hoàn-nhân có đến bảo ta rằng: ‘Ðại vương được con, nhưng sẽ xuất gia học đạo’. Nay vương tử xuất gia học đạo, nay nên đem xá-lợi này về cõi nước hoát mình’.

Ðang lúc chuẩn bị thiêu, các thần trong núi hiện nửa thân hình tâu nhà vua:

– ‘Ðây là Phật Bích-chi, không phải là vương tử, pháp thiêu xá-lợi không phải như pháp thiêu vương tử. Vì sao thế? Tôi là đệ tử cửa chư Phật quá khứ, chư Phật có dạy thế này: Ở đời có bốn hạng người nên xây tháp. Thế nào là bốn? Bậc Như Lai chí Chơn Ðăng Chánh Giác nên xây tháp; Bích-chi Phật nên xây tháp, bậc A-la-hán lậu tận, đệ tử của Như Lai nên xây tháp, hàng Chuyển luân Thánh Vương nên xây tháp. Khi hỏa thiêu thân Chuyển luân Thánh vương cũng như hỏa thiêu thân Phật và thân Bích-chi Phật không khác’.

Vua Âm Hưởng hỏi Thiên:

– ‘Nên cúng dường và hỏa thiêu thân Chuyển luân Thánh vương thế nào?’

Thọ thần bảo:

– ‘Thân Chuyển luân Thánh vương nên làm kim quan bằng sát, dùng dầu thơm rửa thân Chuyển luân Thánh vương, rồi dùng vải trắng quấn quanh thân, vải gấm thêu bọc bên ngoài, đặt vào kim quan, đậy nắp quan bằng sắt, đóng đinh cẩn thận. Lại dùng một trăm lớp vải trắng bao quanh kim quan, rưới các thứ nước thơm trên chỗ đất ấy kim quan đặt vào giữa, cúng dường hương hoa bảy ngày bảy đêm, treo phan lọng, đánh kỹ nhạc. Sau bảy ngày mới đem thiêu, nhặt xá-lợi rồi trải qua bảy ngày bảy đêm cúng dường không ngớt. Xây tháp tại ngã tư đường, dùng các thứ hương hoa, phan lọng cúng dường.

Ðại vương nên biết! Cúng dường xá-lợi của Chuyển luân Thánh vương, việc ấy như thế. Ðối với các đức Phật, các vị Bích-chi Phật và A-la hán cũng lại như thế’.

Vua Âm Hưởng bảo Thiên thần:

– ‘Do nhân duyên gì cúng dường thân Chuyển luân Thánh vương? Do nhân duyên gì cúng dường thân Phật, thân Bích-chi Phật, thân A-la hán?’.

Thiên thần bảo:

-Chuyển luân Thánh vương dùng cai trị, tự mình không sát sanh, lại dạy người khác không sát sanh; tự chẳng lấy trộm, lại dạy người khác không lấy trộm; tự mình không dâm dục, lại dạy người khác không xâm phạm vợ người; tự mình không nói dối, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt khiến đôi bên đấu tranh, ganh ghét, sân, si; ý mình chuyên chánh, thường hánh chánh kiến, cũng khiến người khác tập theo chánh kiến. Ðại vương! Do nhân duyên này nên xây tháp thờ Chuyển luân Thánh vương’.

Vua lại hỏi Thiên thần.

– ‘Do nhân duyên gì nên xây tháp đối với bậc A-la hán lậu tận?’

Thiên thần bảo:

– ‘Hàng Tỳ-kheo lậu tận A-la hán, dục ái đã dứt, sân nhuế ngu si đã trừ, đã vượt qua hữu lậu đến chỗ vô vi, là ruộng tốt, bạn lành của thế gian. Do nhân duyên ấy nên xây tháp đối với bậc A-la hán lậu tận’.

Vua lại hỏi:

– ‘Do nhân duyên gì nên xây tháp đối với đức Phật Bích-chi?’.

Thiên thần bảo:

– ‘Ðức Bích-chi Phật không thầy tự ngộ, ra đời rất hiếm; được pháp báo hiện tại ra khỏi đường ác, khiến người sanh cõi Trời. Do nhân duyên ấy, nên xây tháp đối với Bích- chi Phật’.

Vua lại hỏi:

– ‘Do nhân duyên gì nên xây tháp cho Như Lai?’

Thiên thần bảo:

– ‘Như Lai đầy đủ mười lực. Mười lực này chẳng phải Bích-chi, Thanh văn sánh kịp, Chuyển luân Thánh vương không sánh kịp, hạng ngu si ở thế gian không sánh kịp. Như Lai với người không được độ khiến cho được độ, người không giải thoát khiến cho giải thoát, người chưa nhập Niết-bàn khiến cho được Niết-bàn, che chở con người không ai cứu hộ, làm mắt cho người mù, làm bậc đại y vương cho người đau. Trời, Người, Ma và Thiên ma đều sùng phụng, rất đáng kính đánh quý. Xoay nẻo ác thành đường lành. Ðại vương! Do nhân duyên ấy nên xây tháp đối với Như Lai. Ðại vương! Do nhân duyên gốc ngọn này, mà đối với bốn hạng người nên xây tháp’.

Vua Âm Hưởng bảo vị thần:

– ‘Lành thay, lành thay, Thiên thần! Nay tôi vâng lời dạy khiến cúng dường xá-lợi này như cúng dường Bích-chi Phật.

Bấy giờ vua Âm Hưởng bảo mọi người:

– ‘Các ông nên đưa xá-lợi của đức Bích-chi phật Tu-bồ-đề về nước’.

Quần thần nghe lệnh vua rồi, đưa thân Phật lên giường vàng trở về nước.

Khi ấy, vua Âm Hưởng ra lệnh làm kim quan, dùng dầu thơm tắm gội thân Bích-chi Phật, dùng vải trắng quấn quanh thân Phật, lại dùng gấm thêu tốt đẹp phủ bên ngoài; đặt thân vào kim quan, đậy nắp sắt, đóng đinh thật chắc chắn, dùng trăm lớp vải trắng bao quanh kim quan, rưới các hương thơm, đặt kim quan vào giữa; bảy ngày bảy đêm cúng dường hương hoa, sau bảy ngày đêm bén hỏa thiêu và nhặt xá-lợi của ngài; lại đánh kỹ nhạc cúng dường thêm bảy đêm; nơi ngã tư đường xây tháp, đem hoa hương, tràng phan, lọng dù, đánh kỹ nhạc để cúng dường tháp.

Tỳ-kheo nên biết! Nếu có chúng sanh nào cung kính cúng dường xá-lợi của Bích-chi Phật, sau khi mạng chng bèn sanh lên cõi trời Ba mươi ba. Có chúng sanh suy nghĩ về tưởng vô thường, sẽ vượt khỏi ba đường ác, sanh trong cõi Trời, Người.

Này các Tỳ-kheo! Các Thầy chớ thấy thế. Vua Âm Hưởng lúc ấy đâu phải ai lạ, chính là thân Ta.

Người tư duy về tưởng vô thường được nhiều lợi ích. Nay Ta quán sát nghĩa này rồi, bảo các Tỳ-kheo nên suy nghĩ về tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường. Do suy nghĩ tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường, liền được đoạn tận dục ái, sắc ái, vô sắc ái, vô minh kiêu mạn vĩnh viễn không thừa sót; cũng như dùng lửa đốt vỏ cây. Như trong giảng đường cao rộng tốt đẹp cửa nẻo mở rộng, không có vật gì. Tỳ-kheo tư duy về tưởng vô thường cũng lại như thế, đoạn dứt dục ái, sắc ái, vô sắc ái, vĩnh viễn không thừa sót. Cho nên, các Tỳ-kheo nên đem hết tâm ý đừng để trái mất.

Khi Phật nói pháp này, có sáu mươi Tỳ-kheo ngay tại chỗ được lậu tận ý giải.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

4. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Nếu các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không đoạn dứt năm điều ngăn che trong tâm, không trừ năm kết trong tâm thì Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy trong đêm ngày, với pháp lành diệt mà không tăng thêm lợi ích.

Thế nào là Tỳ-kheo không đoạn dứt năm điều ngăn che? Ở đây, Tỳ-kheo có tâm hồ nghi đối với Như Lai, không được giải thoát, không vào Chánh pháp, tâm người ấy không ở nơi tụng đọc. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt tâm ngăn che.

Lại, Tỳ-kheo có tâm nghi đối với Chánh pháp, cũng không giải thoát, không thâm nhập Chánh pháp, người ấy không đọc tụng. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt tâm ngăn che.

Lại, Tỳ-kheo có tâm nghi đối với Thánh chúng, cũng không giàả thoát, không có ý hướng hòa hợp với chúng, cũng không ở trong pháp đạo phẩm. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt tâm ngăn che.

Lại nữa, Tỳ-kheo phạm cấm giới không tự hối quá, đã phạm cấm giới không tự sửa đổi, cũng không để tâm vào trong đạo phẩm. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt tâm ngăn che.

Lại nữa, Tỳ-kheo tâm ý không định mà tu Phạm hạnh, nghĩ: ‘Ta do đức của Phạm hạnh được sanh cõi Trời như các thần tiên’. Vì Tỳ-kheo ấy do tâm hạnh này tu Phạm hạnh nên tâm không chuyên chánh trong đạo phẩm, tâm đã không ở trong đạo phẩm. Ðó gọi là không đoạn dứt điều ngăn che trong tâm.

Như thế gọi là Tỳ-kheo không đoạn năm điều ngăn che trong tâm.

Thế nào gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt trừ năm kết? Ở đây, Tỳ-kheo tâm giải đãi không tìm cầu phương tiện. Tỳ Kheo ấy đã có giải đãi không tìm cầu phương tiện nên đó gọi là Tỳ-kheo không đoạn trừ tâm kết.

Lại nữa, Tỳ-kheo thường quên nhiều, tham ngủ nghỉ. Tỳ-kheo ấy do ưa quên nhiều, tham ngủ nghỉ nên gọi là Tỳ-kheo không đoạn tâm kết thứ hai.

Lại nữa, Tỳ-kheo ý không định, thường có nhiều rối loạn. Tâm Tỳ-kheo ấy đã loạn, không định nên gọi là Tỳ-kheo không đoạn trừ tâm kết thứ ba.

Lại nữa, Tỳ-kheo căn không định. Tỳ kheo ấy đã căn không định nên gọi là Tỳ-kheo không đoạn trừ tâm kết thứ tư.

Lại nữa, Tỳ-kheo thường thích chỗ chợ búa, không ở chỗ vắng vẻ. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn trừ tâm kết thứ năm.

Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni có năm điều ngăn che trong tâm không dứt, năm kết trong tâm không trừ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy trong đêm ngày pháp lành đoạn tuyệt, không được tăng ích. Cũng như gà mẹ có tám hoặc mười hai trứng, không tùy thời ấp ủ, săn sóc, không tùy thời giữ gìn. Gà mẹ ấy tuy nghĩ rằng: ‘Muốn các con được an toàn, không hư hại’. Song các gà con rốt cuộc không an ổn. Vì sao thế? Ðều do không tùy thời giữ gìn nên như vậy, sau trứng ấy bị hỏng không thành gà con. Ðây cũng như thế, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-khèo-ni, năm tâm kết không đoạn, năm tâm ngăn che không trừ, trong đêm ngày thiện pháp bị diệt không tăng ích. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, tâm năm kết đoạn, tâm năm ngăn che trừ, trong đêm ngày pháp lành tăng ích không bị tổn giảm. Cũng như gà có tám hoặc mười hai trứng, tùy thời giữ gìn, tùy thời săn sóc, tùy thời ấp ủ. Dù cho gà mẹ có ý niệm: ‘Muốn con ta hoàn toàn không thành tựu’, các gà con tự nhiên thành tựu an ổn. Vì sao thế ? Vì tùy thời săn sóc khiến được vô sự, khi ấy các gà con đúng lúc ra khỏi vỏ. Ðây cũng như thế, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni năm điều ngăn che trong tâm đoạn dứt, tâm năm kết trừ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy ở trong đêm ngày pháp lành tăng ích, không tổn giảm.

Cho nên Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nên phát sanh tâm không do dự hồ nghi đối với Phật, không do dự hồ nghi với Pháp, với chúng Tăng, đầy đủ giới luật, tâm ý chuyên chánh không tán loạn, cũng không khởi ý trông mong pháp khác, cũng không cầu may mà tu Phạm hạnh, nghĩ rằng : ‘Ta sẽ dùng pháp này được thân Trời thần diệu tôn quý’.

Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không hồ nghi do dự đối với Phật, Pháp, Thánh chúng, cũng không phạm giới, không để lọt mất; nay Ta bảo các Thấy, căn dặn phó chúc các Thầy rằng Tỳ-kheo ấy sẽ hướng đến hai đường hoạc sanh cõi Trời hoặc trong loài Người. Cũng như người ở trong chỗ rất nóng, lại thêm đói khát, gặp được chỗ mát mẻ, được suối mát, nước uống, người ấy tuy nghĩ rằng : ‘Ta gặp nước trong mát để uống cũng không hết khát’. Nhưng người ấy đã dứt hết nóng bức, trừ được đói khát. Ðây cũng như thế, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không do dự hồ nghi đối với Như Lai, Tỳ-kheo ấy liền hướng đến hai nơi, hoặc sanh cõi Trời hoặc trong loài Người.

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nên tìm phương tiện đoạn trừ năm điều ngăn che, dứt năm kết trong tâm. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

5. Tôi nghe như vầy :

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Có lúc uy thế của nhà vua không trùm khắp, đạo tặc nổi lên. Ðạo tặc đã dấy thì thôn xóm, gia đình, thành ấp, nhân dân đều bại vong, hoặc gặp đói khát mà chết. Nếu chúng sanh nào chết trong lúc đói khát, thì sẽ rơi vào ba đường ác.

Nay Tỳ-kheo tinh tấn cũng lại như thế. Nếu người trì giới giảm thiểu, bấy giờ Tỳ-kheo ác nổi dậy. Tỳ-kheo ấy đã dấy lên thì Chánh pháp dần dần suy, phi pháp đã tăng, chúng sanh trong ấy đều rơi trong ba đường ác.

Nếu khi ấy uy thế nhà vua lại lan xa thì đạo tặc đều ẩn núp. Uy thế nhà vua đã vang xa thì làng xóm, thành ấp, nhân dân đông đúc. Nay Tỳ-kheo tinh tấn cũng lại như thế. Nếu người trì giới đầy đủ thì bấy giờ Tỳ-kheo phạm giới giảm thiểu, Chánh pháp hưng thạnh, phi pháp suy giảm. Trong đó, chúng sanh sau khi mạng chung đều sanh lên cõi Trời, cõi Người.

Cho nên, này các Tỳ-kheo, nên nhớ đầy đủ giới luật, oai nghi lễ độ, đừng để khuyết giảm. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

6. Tôi nghe như vầy :

Một thời đức Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Chẳng thà thường ngủ nghỉ chứ không ở trong lúc tỉnh táo tư duy loạn tưởng, thân hoại mạng chung rơi vào đường ác. Chẳng thà dùng dùi sắt nóng nung vào mắt chứ không do nhìn màu sắc mà khởi loạn tưởng. Tỳ-kheo khởi tưởng bị thức đánh bại, Tỳ-kheo đã bị thức đánh bại, ắt sẽ rơi vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì vậy nay Ta nói như thế.

Người ấy thà ngủ nghỉ chứ không ở trong lúc tỉnh táo mà tư duy loạn tưởng. Thà dùng dùi bén đâm lủng lỗ tai chứ không vì nghe tiếng mà khởi loạn tưởng. Tỳ-kheo khởi tưởng bị thức đánh bại.

Thà thường ngủ nghỉ chứ không ở trong lúc tỉnh táo mà khởi loạn tưởng. Thà dùng kềm nóng làm đứt lỗ mũi chứ không do ngửi mùi, mà khởi loạn tưởng. Tỳ-kheo khởi tưởng bị thức đánh bại. Ðã bị thức đánh bại sẽ rơi trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ðiều Ta nói chính là điều này.

Thà dùng kiếm bén cắt đứt lưỡi chứ không nói lời ác, mắng chửi để rơi trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Thà thường ngủ nghỉ chứ không ở lúc tỉnh táo mà khởi loạn tưởng. Thà dùng lá đồng nóng quấn thân chứ không giao tiếp với các người nữ, trưởng giả, cư sĩ, Bà-la-môn. Nếu cùng họ giao tiếp nói năng qua lại, ắt sẽ rơi trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ðiều Ta nói chính là điều này

Thà thường ngủ nghỉ chứ không ở lúc tỉnh táo mà có ý tưởng muốn phá hoại Thánh chúng. Ðã phá hoại Thánh chúng sẽ phạm vào tội năm nghịch, dù ngàn ức chư Phật cũng không thể cứu. Phàm người gây rối loạn trong chúng, ắt sẽ bị tội không thể cứu. Cho nên nay Ta nói, chẳng thà hay ngủ nghỉ chứ không nên khi tỉnh táo, ý khởi niệm muốn phá hoại Thánh chúng, chịu tội không thể cứu.

Cho nên, này Tỳ-kheo, nên giữ gìn sáu tình, đừng để rơi mất. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

7. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, trưởng giả A-na-bân-để có bốn con trai không thừa sự Phật, Pháp, Thánh chúng, cũng chẳng tự quy mạng Phật, Pháp, Thánh chúng. Lúc ấy trưởng giả A-na-bân-để bảo bốn con trai:

– Các con nên tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng, sẽ được phước vô lượng lâu dài.

Các con thưa cha:

– Chúng con không kham quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.

Trưởng giả A-nê-bân-để nói:

– Nay ta sẽ tặng mỗi con ngàn lượng vàng, nếu theo lời ta dạy quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.

Các con thưa:

– Con không kham quy y Pháp, Phật, Thánh chúng.

Cha lại bảo:

– Cha tặng thêm mỗi con hai ngàn, ba ngàn, bốn ngàn, năm ngàn lượng vàng. Các con nên tự quy y hật, Pháp, Thánh chúng, được phước vô lượng lâu dài.

Các con nghe lời, im lặng nhận chịu. Các người con nói với trưởng giả A-na-bân-để:

– Chúng con làm thế nào để tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng?

Trưởng giả A-na-bân-để nói:

– Các con nên theo ta đến chỗ đức Thế Tôn. Nếu Thế Tôn có dạy bảo, các con nên ghi nhớ vâng theo.

Các con thưa cha:

– Ðức Như Lai hiện nay ở đâu? Gần hay xa?

Người cha bảo:

– Nay đấng Như Lai Chí Chơn Ðăng Chánh Giác hiện tại ở nước Xá-vệ, nghỉ trong vườn của ta.

Khi ấy, Trưởng giả A-na-bân-để dẫn bốn người con đến chỗ đức Thế Tôn, đến nơi cúi đầu lễ chân Phật, lui ngồi một bên. Trưởng giả bạch Phật:

– Nay bốn người con của con không tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng. Hôm nay con tặng mỗi đứa năm ngàn lượng vàng, khuyến khích chúng vâng theo Phật, Pháp, Thánh chúng. Cúi xin Thế Tôn vì chúng thuyết pháp, khiến được phước vô lượng lâu dài.

Bấy giờ, Thế Tôn vì bốn người con của trưởng giả, dần dần thuyết pháp khuyến khích cho hoan hỷ. Các con của trưởng giả nghe Phật thuyết pháp vui mừng phấn khởi không thể tự kềm, tự quỳ trước Phật, bạch rằng:

– Chúng con tự quy y với Thế Tôn, Chánh pháp, Thánh chúng. Từ nay về sau chúng con không còn sát sanh,… không uống rượu.

Bạch như thế ba lần. Trưởng giả A-na-bân-để bạch Thế Tôn:

– Nếu có người đem tài vật cho người, khiến thừa sự Phật. Phước ấy thế nào?

Thế Tôn bảo:

– Lành thay, lành thay! Trưởng giả hỏi như thế khiến người, Trời được an lạc, mới có thể hỏi Như Lai nghĩa này. Nên khéo suy nghĩ đó, Ta sẽ vì Ông nói:

Trưởng giả nghe lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:

– Có bốn kho tàng lớn. Thế nào là bốn? Kho Thi-la-bát-long tại nước Càn-đà-vệ, đây là một kho tàng, vô số trân bảo chất đầy trong cung. Lại có kho tàng lớn ban-trù tại nước Mật-để-la, chứa chất trân bảo không thể tính kể. Lại có kho lớn Tần-già-la tại nước Tu-lại-sát, trân bảo tích tụ không thể tính kể. Lại có kho lớn Nhượng-khư tại nước Ba-la-nại, trân bảo tích tụ không thể tính kể.

Giả sử tất cả các nam nữ lớn nhỏ trong cõi Diêm-phù-đề mỗi người đều đến nhặt châu báu trong bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, kho Thi-la-bát trọn không giảm sút. Kho Ban-trù có người cũng đến lấy trong bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, không hao giảm. Kho Tần-già-la bốn năm, bốn tháng, bốn ngày mọi người đến lấy cũng không hao giảm. Kho lớn Nhượng-khư tại nước ba-la-nại, mọi người đến lấy trong bốn năm, bốn tháng, bốn ngày không hề sút giảm. Trưởng giả! Ðó là bốn kho tàng lớn, nếu tất cả mọi nam nữ lão ấu của Diêm-phù-đề đều đến lấy châu báu, trải qua bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, không hề giảm thiểu.

Về đời tương lai có đức Phật tên Di-lặc xuất hiện. Bấy giờ cõi nước tên Kê Ðầu do vua cai trị, chiều Ðông Tây mười hai do-tuần, chiều Nam Bắc mười hai do-tuần, nhân dân đông đảo, lúa thóc phì nhiêu. Cõi nước Kê-Ðầu, chung quanh thành bảy lớp ao nước, mỗi ao rộng một do-tuần, cát vàng dưới đáy, các loài hoa bát-đấu-na, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lợi đều mọc trong ao ấy. Nước ao màu vàng, màu bạc, màu thủy tinh, màu lưu ly. Nếu nước màu bạc thì ngưng đọng hóa thành bạc, nước màu vàng thì ngưng đọng hóa thành vàng, nước màu lưu ly thì ngưng đọng hóa thành lưu ly, nước màu thủy tinh thì ngưng đọng hóa thành thủy tinh.

Trưởng giả nên biết! Bấy giờ có bốn thành lớn, trong ao nước bạc làm cửa vàng, trong ao nước vàng làm cửa bạc, trong ao lưu ly làm cửa thủy tinh, trong ao thủy tinh làm cửa lưu ly.

Trưởng giả nên biết! Bấy giờ chung quanh thành Ke-Ðầu treo linh, tiếng linh phát ra nghe như tiếng ngũ nhạc. Trong thành ấy thường có bảy thứ tiếng. Thế nào là bảy? Tiếng loa, tiếng trống, tiếng đờn cầm, tiếng trống nhỏ, tiếng trống tròn, tiếng trống da, tiếng ca múa là bảy.

Trong thành Kê-Ðầu tự nhiên sanh một loại lúa dài ba tấc, rất thơm ngon có vị thù thắng hơn hết, vừa gặt liền sanh, không thấy dấu gặt. Bấy giờ có vua Nhượng-khư, dùng pháp cai trị, bảy báu đầy đủ.

Trưởng giả nên biết! Bấy giờ đại thần chủ tạng tên là Thiện Bảo, cao đức trí tuệ thiên nhãn thứ nhứt, biết hết thảy tất cả kho tàng báu, kho tàng có chủ thì tự nhiên giữ gìn, kho tàng vô chủ liền đem dâng vua. Khi ấy vua rồng Thi-la-bát, vua rồng Ban-trù, vua rồng Tần-già-la, vua rồng Nhượng-khư. Bốn quan chủ báu của các vua rồng trên đều đi đến chỗ quan chủ tạng Thiện Bảo, mà nói rằng:

– ‘Nếu cần gì, chúng tôi sẽ cung cấp’

Khi ấy, bốn vua rồng nguyện dâng bốn kho tàng báu để cho đầy kho, quan chủ tạng Thiên Bảo liền lấy bốn kho báu dâng lên vua Nhượng-khư, châu báu, xe báu, vàng bạc tầng tầng.

Bấy giờ, Thế Tôn bèn nói kệ:

Thi-la, tại Càn-đà
Ban-trù, tại Mật-để
Tần-già nước Tu-lại.
Nhượng-khư, nước Ba-nại.
Ðây là bốn kho báu,
Các kho tàng đầy dẫy,
Lúc ấy liền xuất hiện,
Do công đức cảm nên.
Dâng lên bậc Thánh vương,
Vàng, bạc, báu, xe báu
Các thần đều ủng hộ
Trưởng giả thọ phước ấy.

Bấy giờ có Phật xuất thế hiệu Di-lặc, Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải, Vô Thượng sĩ, Ðiều Ngự Trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Trưởng giả nên biết! Quan chủ tạng Thiện Bảo khi đó đâu phải người nào lạ. Chớ nghĩ thế ấy, Vì xao? Quan chủ tạng ấy là trưởng giả hiện nay.

Thuở ấy, vua Nhượng-khư dùng vàng bạc làm việc phước đức rộng rãi, cùng tám vạn bốn ngàn đại thần vây quanh trước sau, đến chỗ đức Phật Di-lặc xuất gia học đạo. Khi đó quan chủ tạng cũng làm việc phước đức rộng lớn, cũng sẽ xuất gia học đạo chấm dứt mé khổ. Ðấy là do trưởng giả hướng dẫn bốn người con khiến tự quy Phật, Pháp, Tỳ-kheo Tăng; do công đức này mà không rơi trong ba đường ác, cũng duyên nơi đức này được bốn kho tàng lớn; cũng do duyên này mà làm quan chủ tạng cho vua Nhượng-khư, ngay nơi đời ấy chấm dứt mé khổ. Vì sao thế? Quy y Phật, Pháp, Tăng công đức không thể lường. Người tự quy y phật, Pháp, Tăng được phước ấy như thế.

Cho nên, này trưởng giả, nên thương xót loài hữu tình, tìm phương tiện hướng về Phật, Pháp, Tăng . Như thế, Trưởng giả, nên học điều này.

Bấy giờ, trưởng giả A-na-bân-để hoan hỷ vui mừng không thể tự kềm, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba vòng làm lễ rồi lui ra. Bốn người con cũng lại như thế .

Bấy giờ, trưởng giả A-na-bân-để và bốn người con nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

8. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, trưởng giả A-na-bân-để thân có bệnh nặng. Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất dùng thiên nhãn thanh tịnh trong suốt, thấy trưởng giả A-na-bân-để đau nặng, liền bảo Tôn giả A-nan:

– Thầy đi với tôi đến chỗ trưởng giả A-na-bân-để thăm hỏi.

A-nan đáp:

– Nên biết đúng thời.

Bấy giờ, A-nan đến thời đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực, lần lượt đến nhà trưởng giả A-na-bân-để và vào tòa ngồi. Xá-lợi-phất ngồi trên tòa, hỏi trưởng giả A-na-bân-để:

Hôm nay bệnh của ông tăng hay giảm? Sự đau đớn có giảm bớt dần không? Tăng thêm không?

Trưởng giả thưa:

Nay bệnh của con có giảm rất ít, chỉ tăng chứ không giảm.

Xá-lợi-phất bảo:

– Như vậy, nay Trưởng giả nên nhớ đến Phật, là bậc Như Lai Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn; cũng nên nghĩ nhớ Pháp, Pháp của Như Lai rất là thâm sâu, đáng tôn đáng quý, không gì sánh bằng, là chỗ tu hành của Thánh chúng, cũng nên nhớ nghĩ đến Tăng chúng, chúng của Như Lai trên dưới thuận hòa, không tranh cãi, thành tựu các pháp. Thánh chúng giới thành tựu, tam muội thành tựu, trí tuệ thành tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát tri kiến thành tựu. Tăng là các vị bốn đôi tám bậc. Ðây gọi là Thánh chúng của Như Lai đáng tôn đáng quý, là phước điền vô thượng của thế gian. Trưởng giả! Nếu tu hành niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tang, đức ấy không thể tính kể, được vị cam lồ diệt tận. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nghĩ nhớ ba ngôi báu Phật, Pháp, Thánh chúng rồi mà rơi vào ba đường ác thì trọn không có lý ấy. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn tu niệm ba ngôi báu, ắt sẽ đến chỗ lành trong cõi Trời, cõi Người.

Lại nữa, Trưởng giả! Chớ khởi tưởng về sắc, cũng đừng y cứ sắc mà khởi thức. Chớ khởi về thanh, đừng y cứ vào thanh mà khởi thức. Chớ khởi về hương, đừng y cứ vào hương mà khởi thức. Chớ khởi về vị, đừng y cứ vào vị mà khởi thức. Chớ khởi xúc giác, đừng y cứ vào xúc mà khởi thức. Chớ khởi ái, đừng y cứ vào ái mà khởi thức. Vì sao thế? Vì duyên ái có thọ, duyên thọ có thủ, duyên thủ có hữu, duyên hữu có sanh tử, ưu bi khỗ não không thể tính kể. Ðây là, có năm thạnh ấm khổ này, không có ngã, nhơn, thọ mạng, sĩ phu, mầm móng của loài hữu tình.

Nếu khi mắt khởi, thời không biết chỗ đến, nếu mắt diệt thời diệt, không biết chỗ đi. Từ không mắt sinh, mắt có rồi mắt diệt, đều do các pháp nhân duyên hội họp. Pháp nhân duyên nghĩa là duyên đây mà có đây, không đây thì ắt không. Ðó là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên tử, tử duyên ưu bi khổ não không tính kể. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Không có mà sanh, có rồi thì diệt; cũng không biết chỗ đến, cũng không biết chỗ đi; đều do các pháp nhân duyên hội họp. Này Trưởng giả! Ðây gọi là hành không, pháp đệ nhất.

Bấy giờ Trưởng giả A-na-bân-để buồn khóc rơi lệ không ngừng. Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi:

– Vì sao buồn khóc như thế?

Trưởng giả thưa:

– Con bị cảm vì từ xưa đến nay, con thừa sự đức Phật, và tôn kính chư Tỳ-kheo trưởng lão, cũng chưa được nghe pháp tôn trọng như thế, như lời chỉ dạy của Tôn giả Xá-lợi-phất.

Khi ấy, tôn giả A-nan bảo A-na-bân-để:

– Trưởng giả nên biết! Như Lai có dạy, thế gian có hai hạng người. Thế nào là hai? Một là biết vui, hai là biết khổ. Người tập vui là Tôn giả Da-du-đề (Tu-bồ-đề) con nhà hào tộc. Người tập khổ là Tỳ-kheo Bà-già-lê.

Lại này Trưởng giả! Tỳ-kheo Tu-bồ-đề giải không đệ nhất. Người được tín giải thoát là Tỳ-kheo Bà-già-lê. Này Trưởng giả! Người biết khổ, người biết vui, cả hai người tâm đều giải thoát, cả hai đều là đệ tử của Như Lai, không ai bằng. Do hai vị ấy không chết, không sanh, hai người siêng năng vâng lời Phật dạy không lười nhác bỏ qua. Chỉ vì tâm có tăng giảm, nên có người biết, người không biết. Như lời Trưởng giả nói: ‘Con từ xưa đến nay thừa sự Phật, cung kính chư Tỳ-kheo trưởng lão, ban đầu chưa nghe được pháp tôn trọng như thế, như lời Tôn giả Xá-lợi-phất nói’. Tỳ-kheo Tu-bồ-đề quán sát nơi đất mà tâm được giải thoát. Tỳ-kheo Bà-già-lê quán sát nơi đạo tức thời tâm được giải thoát. Cho nên, này Trưởng giả, nên làm như Tỳ-kheo Bà-già-lê.

Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp rộng cho Trưởng giả, khuyến khích khiến ông hoan hỷ, khiến phát tâm vô thượng. Xong rồi Tôn giả rời tòa đi.

Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả A-nan đi chưa bao lâu, giây lát trưởng giả A-na-bân- để mạng chung, liền sanh lên cõi trời Ba mươi ba. Khi ấy, Thiên tử A-na-bân-để có được năm công đức hơn các chư Thiên. Thế nào là năm? Là tuổi thọ trời, sắc đẹp trời, niềm vui trời, oai thần trời, ánh sáng trời. Thiên tử A-na-bân-để bèn khởi niệm: ‘Nay ta được thân trời này đều do ân đức của Như Lai. Nay ta không nên vui chơi trong ngũ dục, trước hết nên đến chỗ Thế Tôn quỳ lạy hỏi thăm’.

Thiên tử A-na-bân-để dẫn chư Thiên vây quanh trước sau, đem các hoa trời rải trên thân Phật. Khi ấy đức Phật đang ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp cô Ðộc, thiên tử ấy ở trên hư không chấp tay hướng về đức Phật, và nói kệ:

Ðây là vườn Kỳ-hoàn,
Chúng tiên nhơn vui chơi,
Chỗ Pháp vương ngự trị,
Nên phát tâm vui mừng.

Thiên tử A-na-bân-để nói kệ xong, đức Như Lai im lặng hứa khả, Thiên tử ấy bèn nghĩ: ‘Như Lai đã mặc nhiên hứa khả, ta nên cả thần túc, ngồi một bên’. Thiên tử A-na-bân-để bạch Phật:

– Con là Tu-đạt, cũng có tên là A-na-bân-để mọi người biết rõ, là đệ tử của Như Lai, vâng lời dạy tôn thánh, nay mạng chung sanh lên trời Ba mươi ba.

Thế Tôn bảo:

– Ông do ân đức gì nay được thân Trời này?

Thiên tử bạch Phật:

– Nhờ oai lực của Thế Tôn, được thọ thân Trời.

Thiên tử A-na-bân-để lại dùng hoa trời rải trên thân Như Lai, cũng rải trên A-nan và Xá-lợi-phất, đi nhiễu quanh tinh xá Kỳ-hoàn bảy vòng, rồi ẩn không hiện.

Sáng ngày, Thế Tôn bảo A-nan:

– Ðêm qua, có Thiên tử đến chỗ Ta, nói kệ:

Ðây là vườn Kỳ hoàn,
Chúng tiên nhơn vui chơi,
Chỗ Pháp vương ngự trị,
Nên phát tâm vui mừng.

Thiên tử ấy đi nhiễu quanh vườn Kỳ-hoàn bảy vòng rồi đi. A-nan! Thầy biết Thiên tử ấy chăng?

A-nan bạch Phật:

– Chắc là Trưởng giả A-na-bân-để.

Phật bảo:

– Như lời Thầy nói. Lành thay! Thầy có thể dùng trí vi tri mà biết được thiên tử ấy. Vì sao? Ðó là Thiên tử A-nan-bân-để.

A-nan bạch Phật:

– A-na-bân-để nay sanh cõi trời tên là gì?

Phật bảo:

– Cũng tên A-na-bân-để. Vì sao thế? Ngay hôm Thiên tử ấy sanh, chư thiên ai cũng nói: ‘Thiên tử này khi ở cõi Người là đệ tử của Như Lai, thường đem tâm bình đẳng bố thí tất cả, cứu giúp kẻ cùng khổ thiếu thốn; làm công đức ấy rồi, nay là vị Trời ở cõi Ba mươi ba’. Vì thế này theo đó, tặng cho tên A-na-bân-để.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Tỳ-kheo A-nan có công đức lớn, thành tựu trí tuệ. Tỳ-kheo A-nan hiện ở địa vị hữu học mà trí tuệ không ai bằng. Vì sao thế? Ðiều mà trí tuệ của A-la-hán biết, A-nan cũng biết. Những điều nên học từ chư Phật quá khứ, A-nan đều biết rõ. Thời quá khứ có người vừa nghe liền biết rõ, như Tỳ-kheo A-nan của Ta hiện nay nhìn qua liền biết Như Lai cần điều này, không cần điều này. Ðệ tử của chư Phật quá khứ nhập định mới biết được việc chưa rõ; ngày nay, Tỳ-kheo A-nan của Ta, vừa quán sát liền biết rõ.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Trong hàng Thanh văn của Ta, người học rộng biết nhiều, có sức dõng mãnh, tinh tấn, ý niệm không tán loạn, đa văn đệ nhất, kham nhậm làm việc là Tỳ-kheo A-nan.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

9. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Khi ấy, trưởng giả A-na-bân-để có con dâu tên Thiện Sanh, dung mạo đoan chánh, mặt như sắc hoa đào, là con gái quan đại thần của vua Ba-tư-nặc. Nàng ấy ỷ vào dòng họ, cậy gia thế vọng tộc, không cung kính mẹ chồng và chồng, cũng không thừa sự Phật, Pháp, Tỳ-kheo Tăng, cũng không kính phụng Ba ngôi báu.

Bấy giờ, trưởng giả A-na-bân-để đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ chân Phật lui ngồi một bên. Trưởng giả bạch Phật:

– Con vừa cưới vợ cho con trai của con, cô ấy là con gái quan đại thần đệ nhất của vua Ba-tư-nặc, tự ỷ thị dòng họ vọng tộc mà không thừa tự Ba ngôi báu, trưởng lão tôn ti. Cúi xin Thế Tôn thuyết pháp cho con dâu ấy, khiến phát tâm hoan hỷ, mở rộng tâm ý.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Trưởng giả lại bạch Phật:

– Cúi xin Thế Tôn nhận lời con thỉnh cùng chúng Tỳ-kheo Tăng.

Trưởng giả thấy Như Lai đã im lặng thọ thỉnh, liền rời chỗ ngồi lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi đi. Trở về nhà, trưởng giả sắp đặt các thức ăn uống; trải nệm ngồi tốt đẹp và đến bạch Phật.

– Ðúng thời, cúi xin Thế Tôn nhận lời con thỉnh. Thức ăn uống đã đủ.

Thế Tôn dẫn chúng Tỳ-kheo vây quanh trước sau đến nhà trưởng giả, vào chỗ ngồi. Trưởng giả lại đem ghế nhỏ ngồi trước Như Lai. Thế Tôn bảo nàng Thiện Sanh:

– Này Trưởng giả nữ! Nên biết làm vợ có bốn cách. Thế nào là bốn? Có người vợ như mẹ, có người vợ như bạn thân, có người vợ như giặc, có người vợ như nô tỳ.

Nay Cô nên biết! Vợ như mẹ là tùy thời chăm sóc chồng, không để cho thiếu thốn, thừa sự cúng dường. Người ấy được sự ủng hộ của chư Thiên, dù Nhân hay Phi nhân không hại được, chết được sanh cõi trời. Ðây gọi là người vợ như mẹ.

Thế nào là vợ như bạn thân? Này Trưởng giả nữ! Thấy chồng mà không có tâm tăng giảm, cùng chung khổ vui. Đó là người vợ như bạn thân.

Thế nào là vợ như giặc? Này Trưởng giả nữ! Nếu thấy chồng bèn ôm lòng sân giận, ghét chồng, không thừa sự cung kính lễ bái, thấy chồng mà muốn hại, tâm để nơi người khác, chồng không thân với vợ, vợ không thân với chồng, không được người ái kính, chư Thiên không ủng hộ, ác quỷ xâm hại, thân hoại mạng chung rơi vào địa ngục; đó gọi là người vợ như giặc.

Thế nào gọi là vợ như nô tỳ? Ở đây, người vợ trinh lương, thấy chồng bèn tùy thời săn sóc, nhẫn nhịn lời nói không trả lời lại, nhẫn nại sự lạnh khổ, thường có lòng từ; đối với Ba ngôi báu cũng sanh ý niệm rằng: ‘Ba ngôi báu còn, ta còn, Ba ngôi báu mất, ta mất’. Do việc này người ấy được chư Thiên ủng hộ, dù Người hay Phi nhân đều thương tưởng nghĩ nhớ, khi chết sanh cõi lành, trên trời.

Này Trưởng giả nữ! Ðó là bốn hạng vợ, nay Cô ở vào hạng vợ nào?

Nàng ấy nghe lời Phật dạy, liền đến trước lễ Phật, bạch rằng:

– Cúi xin Thế Tôn! Nay con sửa đổi lỗi cũ, không dám phạm. Từ nay về sau con thường làm pháp lễ độ như nô tỳ.

Khi ấy, nàng Thiện Sanh trở lại chỗ chồng, cúi đầu lễ, nguyện săn sóc chồng như nô tỳ đối với chủ. Nàng Thiện Sanh lại đến chỗ Phật, cúi lạy lui ngồi một bên.

Ðức Thế Tôn dần dần thuyết pháp cho nàng, nói về luận bố thí, luận giới, luận sanh thiên, ái dục là tưởng bất tịnh, dâm dục là nhơ uế lớn. Thế Tôn biết nàng đã mở rộng tâm , bèn nói về pháp mà các đức Phật thường nói: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo, đức Phật nói hết cho nàng. Nàng ấy liền tại chỗ ngồi được pháp nhãn tịnh. Cũng như chiếc áo mới dễ nhuộm màu, đây cũng vậy, nàng ấy phân biệt các pháp khéo hiểu nghĩa thâm diệu, tự quy y Ba ngôi báu, thọ ngũ giới.

Bấy giờ nàng Thiện Sanh nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

10. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy lui ngồi một bên, giây lát sau rời chỗ ngồi, bạch Phật:

– Thế Tôn thường khen hào tộc cao quý, không nói đến thấp hèn. Song, bạch Thế Tôn, con không khen tôn quý không nói thấp hèn, chỉ nói với hàng trung lưu khiến được xuất gia học đạo.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

– Thầy tự nói rằng không khen hàng tôn quý, không nói thấp hèn, chỉ nói hàng trung lưu được xuất gia học đạo. Nhưng nay Ta không nói về nơi thọ sanh thượng, trung, hạ. Vì sao thế? Phàm thọ sanh là rất khổ, không đủ mong muốn. Như đống phân kia kia chút ít còn rất hôi huống gì nhiều; nay sự thọ sanh cũng lại như vậy, một đời hai đời còn khổ nạn, huống gì lưu chuyển mãi mãi mà có thể cam chịu. Do hữu có sanh, do sanh có lão, do lão có bệnh có tử, lo buồn khổ não, có gì đáng tham ưa, bèn thành thân ngũ thạnh ấm. Nay Ta quán sát nghĩa này mà nói như thế. Một đời hai đời còn khổ nạn, huống gì lưu chuyển mãi mãi mà có thể cam chịu.

Này Xá-lợi-phất! Nếu có ý muốn thọ sanh, nên phát nguyện sanh trong gia đình hào quý, không sanh nơi ty tiện. Vì sao thế? Chúng sanh bị tâm ràng buộc lâu dài, chứ không bị hào tộc ràng buộc. Này Xá-lợi-phất! Như Ta ở trong gia đình hào quý, là dòng Sát-lợi Chuyển luân Thánh vương, nếu như Ta không xuất gia học đạo thì sẽ làm vua Chuyển luân. Nay Ta bỏ địa vị Chuyển quân Thánh vương, xuất gia học đạo thành đạo Vô Thượng. Còn nếu sanh trong nhà thấp hèn, không được xuất gia học đạo thì trở lại bị rơi trong đường ác.

Cho nên, Xá-lợi-phất! Nên tìm phương tiện hàng phục tâm. Như thế, Xá-lợi-phất, nên học điều này!

Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.


LII. Phẩm Đại Ái Đạo nhập Niết Bàn

1. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Tỳ-xá-ly, giảng đường Phổ Hội, cùng với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người câu hội.

Bấy giờ, bà Ðại Ái Ðạo đang ở trong thành Tỳ-xá-ly, chùa Cao Ðài, cùng với chúng đại Tỳ-kheo-ni năm trăm người câu hội, đều là bậc A-la-hán, các lậu đã hết. Bà Ðại Ái Ðạo nghe các Tỳ-kheo nói: ‘Như Lai không bao lâu sẽ diệt độ, không quá ba tháng sẽ Niết-bàn tại Sa-la song thọ, xứ Câu-thi-na-kiệt’. Bà liền nghĩ: ‘Ta không kham nhìn thấy Như Lai diệt độ. Nay ta nên diệt độ trước’. Bà Ðại Ái Ðạo đi đến chỗ Thế Tôn, cúi dạy lui ngồi một bên. Bà đến trước bạch Phật:

– Con nghe Thế Tôn không bao lâu sẽ diệt độ, không quá ba tháng sau, tại xứ Câu-thi-na-kiệt, khoảng rừng Sa-la song thọ. Nay con không kham thấy Thế Tôn và A-nan diệt độ. Cúi xin Thế Tôn cho phép con diệt độ trước.

Khi ấy Thế Tôn im lặng hứa khả.

Bà Ðại Ái Ðạo lại bạch Phật:

– Từ nay về sau cúi xin Thế Tôn cho các Tỳ-kheo-ni thuyết giới.

Phật bảo:

– Nay Ta có phép Tỳ-kheo-ni cùng với Tỳ-kheo-ni thuyết giới. Những giới cấm do Như Lai chế ra đừng để sai phạm.

Khi ấy, bà Ðại Ái Ðạo làm lễ dưới chân Phật, và đứng trước Phật, bà lại bạch Phật:

– Hôm nay con không còn thấy lại tôn nhan của Như Lai, cũng không thấy chư Phật tương lai, không còn tái sanh, vĩnh viễn ở chỗ vô vi. Ngày nay con xa lìa thánh nhan, vĩnh viễn không thấy lại.

Bà Ðại Ái Ðạo đi nhiễu quanh Phật bảy vòng, cũng đi nhiễu quanh Tôn giả A-nan bảy vòng, đi nhiễu quanh hết chúng Tỳ-kheo rồi lui đi. Bà trở về trong chúng Tỳ-kheo-ni bảo các Tỳ-kheo-ni:

– Nay ta muốn vào Niết-bàn vô vi. Vì sao thế? Như Lai chẳng bao lâu sẽ diệt độ, các vị nên tùy nghi mà hành động.

Khi ấy Tỳ-kheo-ni Sai-ma, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-sắc, Tỳ-kheo-ni Cơ-lợi-thi, Tỳ-kheo-ni Xá-cừu-lê, Tỳ-kheo-ni Xà-ma, Tỳ-kheo-ni Bát-đà-lan-giá, Tỳ-kheo-ni Bà-la-giá-la, Tỳ-kheo-ni Ca-chiên-diên, Tỳ-kheo-ni Xà-da cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đi đến chỗ Thế Tôn, đứng một bên. Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Sai-ma làm thượng thủ, bạch Phật:

– Chúng con nghe Như Lai không bao lâu diệt độ, chúng con không kham thấy Thế Tôn và Tôn giả A-nan diệt độ trước. Cúi xin Thế Tôn cho phép chúng con diệt độ trước. Nay chúng con vào Niết-bàn chính là phải thời.

Khi ấy Thế Tôn im lặng hứa khả. Tỳ-kheo-ni Sai-ma và năm trăm Tỳ-kheo-ni thấy đức Thế Tôn im lặng hứa khả, liền lễ dưới chân Phật, đi nhiễu quanh ba vòng rồi lui đi, trở về phòng của mình. Khi ấy bà Ðại Ái Ðại đóng cửa giảng đường, đánh kiền chùy, trải tọa cụ nơi đất trống, bay lên hư không. Ở trong hư không, bà ngồi, nằm, đi kinh hành hoặc phát ra ánh lửa, nửa thân dưới phun khói, nửa thân trên phun lửa, nửa thân dưới phun nước, nửa thân trên phun khói, toàn thân phóng lửa, toàn thân phóng khói, hông bên trái tuôn nước, hông bên mặt tuôn lửa, hông bên mặt tuôn nước, hông bên trái tuôn khói, phía trước tuôn lửa, phía sau tuôn nước, phía trước tuôn nước, phía sau tuôn lửa, toàn thân tuôn lửa, toàn thân tuôn nước.

Bà Ðại Ái Ðạo làm bao nhiêu biến hóa ấy, trở về tòa mình ngồi kiết-già, chánh thân chánh ý buộc niệm ở trước rồi nhập Sơ thiền; từ Sơ thiền xuất, nhập Nhị thiền; từ Nhị thiền xuất, nhập Tam thiền; từ Tam thiền xuất, nhập Tứ thiền; từ Tứ thiền xuất, nhập Không xứ; từ Không xứ xuất, nhập Thức xứ; từ Thức xứ xuất, nhập Vô sở hữu xứ; từ Vô Sở hữu xứ xuất, nhập Hữu tưởng vô tưởng xứ; từ Hữu tưởng vô tưởng xứ xuất, nhập Tưởng tri diệt; từ Tưởng tri diệt xuất, nhập lại Hữu tưởng vô tưởng xứ; từ Hữu tưởng vô tưởng xứ xuất, nhập lại Thức xứ; từ Thức xứ xuất, nhập Không xứ; từ Không xứ xuất, nhập Tứ thiền; từ Tứ thiền xuất, nhập Tam thiền; từ Tam thiền xuất, nhập Nhị thiền; từ Nhị thiền xuất, nhập Sơ thiền; từ Sơ thiền xuất, nhập lại Nhị thiền; từ Nhị thiền xuất, nhập Tam thiền; từ Tam thiền xuất, nhập Tứ thiền; đã nhập Tứ thiền liền diệt độ.

Khi ấy, trời đất chấn động, bên Ðông nổi, bên Tây chìm, bên Tây nổi, bên Ðông chìm, bốn bên nổi, chính giữa chìm, lại bốn bề gió mát trỗi lên, chư Thiên ở trên không trung đánh nhạc, chư Thiên cõi dục buồn khóc rơi lệ cũng như vào tháng mùa Xuân trời mưa cam lồ cõi trời thần diệu tung rải hoa ưu-bát, lại rải bột chiên-đàn trên thân bà.

Khi ấy Tỳ-kheo-ni Sai-ma, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-sắc, Tỳ-kheo-ni Cơ-lợi-thi-cù-đàm-di, Tỳ-kheo-ni Xá-cù-ly, Tỳ-kheo-ni Xà-ma, Tỳ-kheo-ni Bà-đà-lan-giá-da, các vị Tỳ-kheo-ni thượng chủ như thế năm trăm vị, mỗi vị đều trải tòa nơi đất trống, bay lên hư không, ở trên hư không nằm ngồi, đi kinh hành làm mười tám phép thần biến, cho đến nhập tưởng tri diệt và đến diệt độ.

Khi ấy, trong thành Tỳ-xá-ly có đại tướng tên Da-du-đề dẫn năm trăm đồng tử nhóm họp tại giảng đường Phổ Hội lúc đó đang giảng thuyết. Da-du-đề và năm trăm đồng tử xa thấy năm trăm vị Tỳ-kheo-ni làm mười tám phép thần biến, thấy rồi vui mừng phấn khởi vô lượng, đều chấp tay hướng về các vị ấy.

Khi ấy, Thế Tôn bảo A-nan:

– Thầy đến chỗ đại tướng Da-du-đề bảo rằng: ‘Hãy mau sắm năm trăm giường, năm trăm tọa cụ, năm trăm bình tô lạc, năm trăm bình dầu, năm trăm xe hoa, năm trăm xe hương, năm trăm xe củi’.

A-nan bạch Phật:

– Chẳng biết Thế Tôn muốn làm gì?

Phật bảo:

– Bà Ðại Ái Ðạo đã diệt độ, và năm trăm Tỳ-kheo-ni nhập Niết-bàn, Ta muốn cúng dường xá-lợi.

Khi ấy A-nan buồn khóc xen lẫn không thể tự kềm, than: ‘Bà Ðại Ái diệt độ sao nhanh chóng thay!’ A-nan đưa tay gạt lệ, liền đến chỗ đại tướng Da-du-đề. Da-du-đề xa thấy Tôn giả A-nan đi đến, đứng dậy đón tiếp, nói:

– Tôn giả A-nan đến đây rất quý! Tôn giả muốn dạy bảo gì mà đến bất ngờ?

Tôn giả A-nan:

– Tôi do Phật sai đến, muốn có việc bảo Ông.

Ðại tướng hỏi:

– Có điều gì dạy bảo?

A-nan đáp:

Thế Tôn bảo Ðại tướng rằng: Nên sắm sửa năm trăm giường, năm trăm tọa cụ, năm trăm bình tô, năm trăm bình dầu, năm trăm xe hoa, năm trăm xe hương, năm trăm xe củi. Bà Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo-ni đều diệt độ, chúng ta đến đó cúng dường Xá-lợi.

Ðại tướng buồn khóc lẫn lộn, nói rằng:

– Bà Ðại Ái Ðạo diệt độ sao mà nhanh chóng thay! Năm trăm Tỳ-kheo-ni diệt độ nhanh chóng thay! Ai sẽ giáo hóa chúng ta và chỉ dạy về bố thí?

Ðại tướng Da-du-đề liền sắm sửa năm trăm giường, năm trăm tọa cụ, năm trăm bình tô, năm trăm bình dầu, năm trăm xe hoa, năm trăm xe hương, năm trăm xe củi. Bà Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo-ni đều diệt độ, chúng ta đến đó cúng dường Xá-lợi.

Ðại tướng buồn khóc lẫn lộn, nói rằng:

– Bà Ðại Ái Ðạo diệt độ sao mà nhanh chóng thay! Năm trăm Tỳ-kheo-ni diệt độ nhanh chóng thay! Ai sẽ giáo hóa chúng ta và chỉ dạy về bố thí?

Ðại tướng Da-du-đề liền sắm sửa năm trăm giường, năm trăm tọa cụ, năm trăm bình tô, dầu, năm trăm xe hoa, hương, củi và các dụng cụ hỏa thiêu, đi đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi đứng một bên.

Ðại tướng Da-du-đề bạch Phật:

– Như Lai chỉ dạy con sắm sửa đồ cúng dường, nay đã xong.

Phật bảo:

– Nay Ông đưa thân của bà Ðại Ái Ðạo và năm trăm Tỳ-kheo-ni, ra khỏi thành Tỳ-xá-ly đến chỗ đất trống, Ta muốn cúng dường Xá-lợi ở đó.

Ðại tướng Da-du-đề bạch Phật:

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Khi ấy Ðại tướng đến tinh xá của bà Ðại Ái Ðạo, bảo một người:

– Nay Người thử leo tường vào trong từ từ mở cửa đừng gây tiếng động.

Người kia theo lời dạy liền vào mở cửa. Ðại tướng lại bảo năm trăm người, mỗi người đưa thân các vị lên giường. Bấy giờ có hai Sa-di-ni tại đó, một là Nan-đà, hai là Ưu-ban-nan-đà, hai Sa-di-ni bảo Ðại tướng:

– Thôi, thôi, Ðại tướng! Chớ xúc nhiễu các Thầy.

Ðại tướng Da-du-đề bảo:

– Thầy các Cô không phải ngủ, mà đều đã diệt độ.

Hai Sa-di-ni nghe các Thầy đều diệt độ, ôm lòng lo sợ, tự suy nghĩ, quan sát các pháp có nhóm họp đều là pháp diệt tận, liền tại chỗ ngồi được tam minh, lục thông. Khi ấy hai Sa-di-ni liền bay lên hư không, bay trước đến chỗ đất trống làm mười tám pháp thần biến, nằm, ngồi, đi kinh hành, thân phóng ra nước lửa, biến hóa vô lượng, liền ở Vô dư Niết-bàn mà nhập Niết-bàn.

Bấy giờ, Thế Tôn dẫn chúng Tỳ-kheo Tăng vây quanh trước sau, đi đến tinh xá của Tỳ-kheo-ni Ðại Ái Ðạo.

Thế Tôn bảo A-nan, Nan-đà, La-vân:

– Các Thầy khiêng thân của bà Ðại Ái Ðạo. Ta sẽ đích thân cúng dường.

Khi ấy, Thích-đề-hoàn-nhân biết ý nghĩ trong tâm Thế Tôn, liền từ cõi trời Ba mươi ba trong khoảng lực sĩ duỗi cánh tay ẩn và đi đến thành Tỳ-xá-ly, đến chỗ Thế Tôn cúi lạy rồi đứng một bên. Trong chúng, những vị Tỳ-kheo lậu tận đều thấy Thích-đề-hoàn-nhân và chư Thiên trời Ba mươi ba, còn những Tỳ-kheo hữu dục không lậu tận, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bát-tắc, Ưu-bà-di chưa lậu tận đều không thấy Thích-đề-hoàn-nhân và chư thiên cõi trời Ba mươi ba.

Vua trời Phạm thiên xa biết ý nghĩ trong tâm Như Lai, đem các Phạm thiên từ cõi Phạm thiên ẩn đến chỗ đức Thế Tôn, cúi lạy lui qua một bên.

Tỳ-sa-môn Thiên vương biết ý nghĩ trong tâm đức Thế Tôn, đem các quỷ thần Dược Xoa đến chỗ Như Lai, cúi lạy đứng qua một bên.

Ðề-địa-lại-tra Thiên vương đem các thần Càn-thát-bà, từ phương Ðông đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy đứng qua một bên.

Tỳ-lâu-lặc-xoa Thiên vương đem vô số thần Cưu-bàn-trà, từ phương Nam đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy đứng qua một bên.

Tỳ-lâu-ba-xoa Thiên vương đem các Long thần đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy đứng qua một bên.

Và chư thiên cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, mỗi mỗi đếu biết ý niệm trong tâm thế Tôn, đều đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy đứng qua một bên.

Khi ấy, Thích-đề-hoàn-nhân, Tỳ-sa-môn Thiên vương đến trước bạch Phật:

– Cúi xin Thế Tôn! Chớ tự nhọc thân, chúng con tự sẽ cúng dường Xá-lợi.

Phật bảo chư Thiên:

– Thôi, thôi, Thiên vương! Như Lai tự biết thời. Ðây là việc Như Lai cần phải làm, chẳng phải hàng Trời, Rồng, Quỷ thần làm được. Vì sao thế? Cha mẹ sanh con nhiều lợi ích cho con, ân trọng dưỡng nuôi, bú mớm ẵm bồng, cần phải báo ân, không được không báo ân. Chư Thiên nên biết! Chư Phật quá khứ, thân mẫu sinh thành đều diệt độ trước, sau đó chư Phật Thế Tôn đều tự cúng dường trà tỳ xá-lợi. Giả sử chư Phật Thế Tôn ở tương lai, thân mẫu sinh thành cũng diệt độ trước, sau đó chư Phật đều tự cúng dường. Do phương tiện này biết Như Lai nên tự cúng dường, chẳng phải Trời, Rồng, Quỷ thần làm được.

Bấy giờ, Tỳ-sa-môn Thiên vương nói xong, liền đến rừng Chiên-đàn lấy củi chiên-đàn, đem đến chỗ đất trống.

Khi ấy, Thế Tôn đích thân khiêng một chân giường; Nan-đà khiên một chân, La-vân khiêng một chân, A-nan khiêng một chân, bay lên hư không đến chỗ hỏa thiêu. Bốn bộ chúng trong ấy, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, đưa thân thể của năm trăm Tỳ-kheo-ni đến chỗ hỏa thiêu.

Phật bảo đại tướng Da-du-đề:

– Nay Ông sắm sửa thêm hai giường, hai tọa cụ, hai xe củi, hương hoa để cúng dường thân hai Sa-di-ni.

Ðại tướng Da-du-đề thưa:

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Ðại tướng liền sắm sửa đồ cúng dường.

Thế Tôn lấy củi chiên-đàn chuyển đến chư Thiên. Thế Tôn lại bảo đại tướng:

– Nay Ông nhặt lấy năm trăm Xá-lợi, mỗi mỗi phân biệt mà cúng dường. Ðối với hai Sa-di-ni cũng làm như vậy.

Ðại tướng vâng lời Phật dạy, mỗi mỗi phân biệt mà cúng dường, liền chuẩn bị hỏa thiêu.

Thế Tôn lại dùng gỗ chiên-đàn chất trên thân bà Ðại Ái Ðạo.

Bấy giờ, thế Tôn liền nói kệ:

Tất cả hành vô thường,
Có sanh ắt có diệt,
Không sanh, thời không diệt,
Diệt này và vui tột.

Chư Thiên và nhân dân đều vân tập tại chỗ trà-tỳ, Trời Người đại chúng lên đến số mười ức cai-na-thuật. Ðại tướng đợi lửa tắt rồi bèn nhặt xá-lợi và xây tháp.

Phật bảo đại tướng:

– Nay Ông đem Xá-lợi của năm trăm Tỳ-kheo-ni xây tháp, được phước vô lượng lâu dài. Vì sao thế? Thế gian có bốn hạng người nên xây tháp. Thế nào là bốn? Nếu có người vì Như Lai Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác xây tháp, vì Chuyển luân Thánh vương, vì hàng Thanh văn, Bích-chi Phật xây tháp được phước vô lượng.

Khi ấy Thế Tôn vì hàng chư Thiên và nhân dân, nói pháp vi diệu, khuyến khích khiến cho hoan hỷ. Có một ức Trời và Người được trần cấu dứt sạch, đắc pháp nhãn thanh tịnh.

Bấy giờ, Trời, Người, Cà-thát-bà, A-tu-la bốn bộ chúng; nghe dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

2. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc, cùng với chúng đại Tỳ-kheo, năm trăm người câu hội.

Bấy giờ trong thành Xá-vệ, có Tỳ-kheo-ni Bà-đà ở chỗ vắng ngồi kiết-già tự suy nghĩ, buộc niệm ở trước, tự nhớ lại việc của vô số kiếp về trước, liền tự mỉm cười. Có Tỳ-kheo-ni xa thấy Tỳ-kheo-ni Bà-đà mỉm cười, thấy rồi liền đến chỗ Tỳ-kheo-ni nói:

– Nay Tỳ-kheo-ni Bà-đà ngồi một mình dưới cội cây mà mỉm cười là có nhân duyên gì? Năm trăm tỳ-kheo-ni liền cùng nhau đến chỗ Tỳ-kheo-ni Bà-đà cúi lạy và thưa với Tỳ-kheo-ni Bà-đà:

– Có nhân duyên gì ngồi một mình dưới cội cây mà mỉm cười?

Tỳ-kheo-ni Bà-đà bảo năm trăm Tỳ-kheo-ni:

– Vừa rồi ta ngồi dưới gốc cây nầy, tự nhớ việc trong vô số đời đã qua, lại thấy những thân đã trải qua ngày trước, chết đây sanh kia thảy đều xem thấy.

Năm trăm tỳ-kheo-ni lại thưa:

– Cúi xin nói những nhân duyên quá khứ

Tỳ-kheo-ni Bà-đà bảo năm trăm Tỳ-kheo-ni:

– Quá khứ lâu xa cách đây chín mươi mốt kiếp, có Phật xuất thế hiệu Tỳ-bà-thi Như Lai Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, xuất hiện ở đời. Bấy giờ thế giới tên Bàn-đầu-ma, nhân dân đông đảo không thể tính kể. Như Lai Tỳ-bà-thi du hóa nơi thế giới ấy đem theo mười sáu vạn tám ngàn Tỳ-kheo, vây quanh trước sau và vì họ thuyết pháp. Khi ấy danh hiệu Phật lưu truyền bốn phương, xưng tụng rằng: ‘Phật Tỳ-bà-thi đầy đủ các tướng tốt, là bạn lành, ruộng phước cho tất cả người’.

Trong nước ấy có một đồng tử tên Phạm Thiên, dung mạo đoan chánh ít có trong đời. Ðồng tử ấy tay cầm dù báu đi trên đường. Bấy giờ có vợ của một cư sĩ, cũng rất đoan chánh, cũng đi trên đường ấy, mọi người đều nhìn theo. Ðồng tử liền khởi niệm: ‘Nay ta cũng có dung mạo đoan chánh, cầm dù báu mà mọi người không nhìn mà nhìn nữ nhơn kia. Nay ta cần tìm cách khiến mọi người nhìn ta’.

Ðồng tử ấy liền ra khỏi thành, đến chỗ đức Phật Tỳ-bà-thi, tay cầm hoa báu cúng dường bảy ngày đêm, và phát thệ nguyện rằng: ‘Nếu đức Phật Tỳ-ba-thi có thần túc, có thần lực, là ruộng phước cho cõi Người cõi Trời, nguyện đem công sức này khiến đời tương lai, tôi làm thân người nữ, mọi người thấy đều vui mừng’.

Ðồng tử trải bảy ngày bảy đêm cúng dường Phật rồi, tùy tuổi thọ ngắn dài liền sanh lên cõi trời Ba mươi ba, nơi ấy làm thân thiên nữ, rất đoan chánh bậc nhất trong các ngọc nữ, có năm công đức hơn các thiên nữ kia. Thế nào là năm? Là tuổi thọ trời, sắc đẹp trời, sự vui trời, oai phước trời và tự tại trời. Chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thấy rồi, ai cũng tự nhủ ‘Thiên nữ này rất thù diệu không ai bằng’. Hoặc có vị Trời nói: ‘Ta phải được Thiên nữ này để làm vợ’. Họ cùng tranh giành với nhau. Khi ấy vua trời nói:

– ‘Các Ông chớ tranh cãi nhau, trong đây ai có thể nói kệ rất hay, ta sẽ cho Thiên nữ này làm vợ’.

Một Thiên tử nói kệ:

Hoặc khi đứng, hoặc ngồi,
Thức giấc đều không vui,
Chỉ khi tôi ngủ say,
Mới không lòng mơ ước.
Một Thiên tử nói kệ:
Nay ông cũng còn vui,
Khi ngủ không mơ tưởng,
Nay tôi khởi dục niệm,
Tợ như đánh trống trận.
Một Thiên tử nói kệ:
Giả sử đánh trống trận,
Còn có lúc nghỉ tay,
Niệm dục tôi chảy mau,
Như nước cuốn không ngừng.
Lại một Thiên tử nói kệ:
Như cuốn cuốn cây to,
Còn có khi dừng nghỉ,
Tôi thường tư tưởng dục,
Như giết voi không thuần
.

Bấy giờ, vị Thiên tử hơn hết trong các chư Thiên, nói kệ:

Các Ông còn nhàn hạ,
Ðều có thể nói kệ,
Nay tôi không tự biết,
Là mình còn hay mất.

Chư Thiên bèn thưa với vị Thiên tử ấy:

– ‘Lành thay! Thiên tử đã nói kệ rất thanh diệu. Nay dâng Thiên nữ này cho Thiên vương’.

Thiên nữ liền vào cung điện Thiên vương.

Các em chớ hồ nghi. Vì sao thế? Ðồng tử cúng dường bảo cái lên đức Phật, đâu phải người nào lạ. Chớ nghĩ thế ấy. Ðồng tử khi ấy tức là thân ta.

Về quá khứ ba mươi mốt kiếp, có đức Phật Thi-khí xuất hiện nơi đời, du hóa nơi thế giới Dã-nã, cùng với chúng Tỳ-kheo mười sáu vạn người câu hội. Bấy giờ Thiên nữ ấy sau lại mạng chung sanh trong cõi Người, làm thân người nữ rất đoan chánh, ít có trong đời.

Ðức Như Lai Thi-khí đúng thời đắp y ôm bát vào thành Dã-nã khất thực. Khi ấy Thiên nữ lại làm vợ trưởng giả, đem thức ăn uống ngon cúng dường đức Phật thi-khí, cũng thệ nguyện rằng: ‘Ðem công đức này sanh nơi nào không rơi trong ba đường ác, dung mạo đoan chánh đặc biệt hơn người’. Nữ nhơn ấy sau lại mệnh chung sanh lên cõi trời Ba mươi ba, ở đó làm thân thiện nữ rất đoan chánh, có năm công đức hơn chư Thiên. Thiên nữ khi ấy đâu phải người nào lạ, chớ nghĩ thế ấy. Vì sao thế? thiên nữ ấy chính là thân ta.

Vào kiếp đó, đức Như Lai Tỳ-xá-la-bà xuất hiện nơi đời, bấy giờ Thiên nữ tùy theo thọ mạng dài ngắn, sau khi mạng chung lại cõi người, làm thân người nữ dung mạo đoan chánh, ít có trong đời, lại làm vợ trưởng giả cư sĩ. Bấy giờ phu nhân lại đem y phục đẹp dâng lên đức Như Lai, phát thệ nguyện rằng: ‘Khiến cho đời sau, tôi lại làm thân người nữ’. Phu nhân ấy sau mệnh chung, sanh lên cõi trời Ba mươi ba, dung mạo đoan chánh hơn các Thiên nữ cõi trời ấy. Nữ nhân khi ấy đâu phải người nào lạ. Chớ nghĩ thế ấy. Vì sao thế? Nữ nhân khi ấy chính là thân ta.

Thiên nữ ấy tùy theo thọ mệnh dài ngắn, sau khi mệnh chung sanh lại cõi người, làm nô tỳ cho phu nhân của trưởng giả Nguyệt Quang trong thành Ba-la-nại, dung mạo thô xấu, mọi người không ưa. Từ khi đức Phật Tỳ-xá-la-bà diệt độ, lại không có Phật. Bấy giờ các đức Bích-chi Phật đi du hóa. Phu nhân của trưởng giả Nguyệt Quang tỳ nữ:

– ‘Ngươi đi ngoài đường, tìm vị Sa-môn dung mạo đoan chánh vừa ý ta, đưa về nhà, ta muốn cúng dường’.

Tỳ nữ liền ra khỏi nhà tìm Sa-môn, thấy vị Bích-chi Phật đi khất thực trong thành, song dung mạo xấu xí, dung sắc thô tệ.

Tỳ nữ thưa vị Bích-chi Phật:

– ‘Trưởng giả muốn gặp, xin quang lâm đến nhà’.

Liền về thưa chủ nhân:

– ‘Sa-môn đã đến, có thể đến gặp’.

Khi ấy, phu nhân của trưởng giả thấy Sa-môn rồi, tâm không vui liền bảo tỳ nữ:

– ‘Ðuổi Thầy ấy đi, ta không bố thí. Vì sao? Vì dung mạo Thầy ấy thô xấu’.

Tỳ nữ thưa phu nhân:

– ‘Nếu Phu nhân không bố thí cho Sa-môn, phần ăn của tôi hôm nay sẽ đem cúng hết’.

Phu nhân liền phát ăn cho tỳ nữ một đấu gạo tấm, tỳ nữ nhận lấy và đem cúng Sa-môn. Ðức Bích-chi Phật nhận thức ăn xong, bay lên hư không làm mười tám phép thần biến, tỳ nữ của trưởng giả liền phát nguyện: ‘Ðem công đức này, sanh vào chỗ không rơi trong đường ác. Khiến con đời sau làm thân nữ rất đoan chánh’. Ðức Phật ấy tay ôm bát thức ăn, bay quanh thành ba vòng. Khi ấy trưởng giả Nguyệt Quang cùng năm trăm khách buôn nhóm tại giảng đường Phổ Hội. Nam nữ lớn nhỏ trong thành thấy đức Phật cầm bát thức ăn bay trong hư không, thấy rồi cùng nói với nhau:

– ‘Người nào có đông đức như thế? Ai được gặp vị Bích-chi Phật này mà cúng dường thức ăn?’

Khi ấy, tỳ nữ thưa phu nhân:

– ‘Xin ra xem thần đức của Sa-môn, bay trên hư không làm mười tám pháp biến, thần đức vô lượng’.

Phu nhân bảo tỳ nữ:

– ‘Nay Ngươi bố thí thức ăn cho Sa-môn, nếu được phước cho hết về ta, ta sẽ cho người bằng giá hai ngày công’.

Tỳ nữ thưa:

– ‘Không thể đem phước cho được’.

Phu nhân bảo:

– ‘Cho Ngươi bằng giá bốn ngày cho đến mười ngày’.

Tỳ nữ thưa:

– ‘Tôi không thể đem phước cho được’.

Phu nhân bảo:

– ‘Nay ta cho Người trăm đồng tiền vàng’.

Tỳ nữ thưa:

– ‘Tôi không cần’.

Phu nhân lại bảo:

– ‘Cho Người hai trăm … cho đến ngàn đồng tiền vàng’.

Tỳ nữ thưa:

– ‘Tôi cũng không cần’.

Phu nhân bảo:

– ‘Ta miễn cho Người khỏi làm nô lệ’.

Tỳ-nữ thưa:

– ‘Tôi cũng không cần làm người thường’.

Phu nhân lại bảo:

– ‘Ngươi làm phu nhân, ta làm tỳ nữ’.

Tỳ nữ thưa:

– ‘Tôi cũng không cần làm phu nhân’.

Phu nhân bảo:

– ‘Ta sẽ đem Ngươi ra đánh đập, xẻo mũi tai, chặt tay chân Ngươi, sẽ chặt đầu Ngươi’.

Tỳ nữ thưa:

– ‘Tôi cam nhận hết mọi thống khổ, trọn không đem phước cho đi, thân này thuộc về Phu nhân, tâm lành có khác’.

Bấy giờ phu nhân liền đánh tỳ nữ.

Khi ấy, năm trăm khách buôn mỗi người bán tán rằng:

– ‘Vị thần nhân này hôm nay đến khất thực, ắt phải là nhà ta bố thí’.

Trưởng giả Nguyệt Quang giải tán các người ấy rồi trở về nhà, thấy phu nhân đánh đập tỳ nữ, liền hỏi:

– ‘Do nhân duyên gì mà đánh tỳ nữ?’

Khi đó, tỳ nữ đem hết mọi sự thuật lại. Trưởng giả Nguyệt Quang vui mừng phấn khởi không thể tự kềm, liền đày phu nhân xuống làm tỳ nữ, đưa tỳ nữ thay chỗ phu nhân.

Thành Ba-la-nại có vua tên Phạm-ma-đạt cai trị, vua nghe trưởng giả Nguyệt Quang dâng cơm cho Bích-chi Phật rất là vui mừng, đã gặp bậc chân nhân tùy thời bố thí. Vua Phạm-ma-đạt liền sai người gọi trưởng giả Nguyệt Quang hỏi:

– Có thật Ngươi cúng dường cơm cho bậc chân nhân thần tiên chăng?’

Trưởng giả tâu:

– ‘Thật gặp bậc chân nhân, đem cơm cúng dường’.

Vua Phạm-ma-đạt liền tặng thưởng cho trưởng giả và tặng thêm chức vị.

Tỳ nữ ấy theo mệnh dài ngắn sau khi mệnh chung sanh lên cõi trời Ba mươi ba, nhan sắc thù diệu, ít có trong đời, có năm công đức hơn các vị trời khác.

Các em chớ nghi gì, tỳ nữ của trưởng giả khi ấy tức là thân ta.

Trong Hiền kiếp này có Phật xuất hiện ở đời hiệu là Câu-lưu-tôn. Khi ấy, Thiên nữ kia tùy theo thọ mệnh dài ngắn, sau khi mệnh chung sanh trong cõi người, làm con gái Phạm chí Da-nhã-đạt. Khi ấy, cô lại dâng cơm cho Như Lai và phát thệ nguyện xin làm thân người nữ, sau khi mệnh chung sanh lên trời Ba mươi ba, dung mạo đoan chánh hơn các Thiên nữ.

Lại từ cõi trời mệnh chung sanh trong cõi người. Bấy giờ đức Phật Câu-na-hàm-mâu-ni xuất hiện ở đời, Thiên nữ ấy làm con gái trưởng giả, lại đem hoa vàng cúng dường đức Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, nguyện: ‘Ðem công đức này sanh ra chỗ nào không rơi trong ba đường ác, khiến cho thân con sau được làm người nữ’. Cô gái ấy tùy theo thọ mệnh dài ngắn, sau khi mệnh chung sanh lên trời Ba mươi ba, dung mạo đoan chánh hơn tất cả Thiên nữ, có năm công đức không bì kịp.

Con gái trưởng giả cúng dường đức Phật Câu-na-hàm-mâu-ni khi ấy đâu phải ai lạ, chớ nghĩ gì, con gái trưởng giả tức là thân ta.

Thiên nữ ấy tùy theo thọ mệnh dài ngắn, sanh trở lại cõi Người làm vợ trưởng giả, dung mạo thù đặc ít có trong đời. Khi ấy, đức Phật Ca-diếp xuất hiện ở đời, phu nhân của trưởng giả cúng dường đức Phật ca-diếp trong bảy ngày bảy đêm, phát thệ nguyện rằng: ‘Khiến con đời tương lai làm thân người nữ’. Phu nhân của trưởng giả tùy tuổi thọ dài ngắn, sau khi mệnh chung sanh lên trời Ba mươi ba, có năm công đức hơn các Thiên nữ trên ấy.

Phu nhân của trưởng giả cúng dường Phật Ca-diếp thuở ấy đâu phải người nào lạ, chớ nghĩ thế ấy, phu nhân Trưởng giả khi ấy chính là thân ta.

Vào Hiền kiếp này có đức Phật Thích-ca xuất hiện ở đời, Thiên nữ ấy sau khi mệnh chung lại sanh vào thành La-duyệt, làm con gái Bà-la-môn Kiếp-tỷ-la, dung mạo đoan chánh hơn các thiếu nữ khác. Con gái của Bà-la-môn Kiếp-tỷ-la đẹp như tượng vàng tử ma, ai đứng gần nàng đều bị lu mờ đen tối. Ý của nàng ấy không tham ngũ dục.

Các em chớ nghĩ gì, cô gái ấy đâu phải người nào lạ, con gái của Bà-la-môn bấy giờ chính là thân ta.

Các em nên biết! Do nhân duyên công đức nhiều kiếp nên ta làm vợ của Tỷ-bát-la-ma-nạp là Ma-ha Ca-diếp. Tôn giả Ðại Ca-diếp tự xuất gia trước, sau ta mới xuất gia. Ta tự nhớ trải qua vô số kiếp làm thân người nữ, do đó nên nay tự cười. Ta do ngu si che mờ, nên cúng dường trải qua sáu đức Phật, cầu làm thân nữ. Do nhân duyên này nên ta cười những kiếp đã qua.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni nghe Tỳ-kheo-ni Bà-đà, tự nhớ túc mạng những việc đã qua trong vô số đời, liền đi đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy ngồi một bên, đem hết mọi việc bạch lên đức Phật.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo-ni.

– Các vị có thấy trong hàng Tỳ-kheo-ni Thanh văn có ai tự nhớ việc trong vô số đời như Tỳ-kheo-ni ấy chăng?

Các Tỳ-kheo-ni bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn, không thấy.

Phật bảo các Tỳ-kheo-ni:

– Ðệ tử bậc nhất trong hàng Thanh văn của Ta, tự nhớ lúc mạng trong vô số đời, chính là Tỳ-kheo-ni Kiếp-tỷ-la.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

3. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, có một Tỳ-kheo đi đến chỗ đức Thế Tôn, cúi lạy lui ngồi một bên, giây lát sau rời chỗ ngồi bên trước bạch Phật:

– Kiếp có dài ngắn, có giới hạn chăng?

Phật bảo Tỳ-kheo:

Kiếp rất dài xa, hay Ta dẫn dụ cho Thầy. Hãy một lòng lắng nghe, nay Ta sẽ nói:

Tỳ-kheo nên biết, như một cái thành bằng sắt cao rộng một do-tuần, chứa đầy hạt cải trong ấy không có chỗ trống. Giả sử có người trăm năm đến lấy đi một hạt cải, mà số hạt cải trong thành sắt ấy còn có thể giảm hết, nhưng một kiếp còn không thể tính kể. Vì sao thế? Sanh tử dài xa không có giới hạn, chúng sanh ân ái trói buộc, đắm trước trôi nổi trong sanh tử, chết đây sanh kia không có cùng tận. Ta ở trong đó chán ghét sanh tử. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên tìm phương tiện khéo léo, thoát khỏi tưởng ái trước này!

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

4. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, có một Tỳ-kheo, đến chỗ đức Thế Tôn, cúi lạy xin lui ngồi một bên. Tỳ-kheo ấy bạch Phật:

– Thưa Thế Tôn! Kiếp là lâu dài chăng?

Phật bảo Tỳ-kheo:

– Kiếp rất lâu dài, không thể dùng toán mà tính được. Nay Ta sẽ thí dụ cho Thầy. Hãy khéo suy nghĩ, nay Ta sẽ vì Thầy nói.

Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:

– Cũng như núi đá rộng lớn một do-tuần, cao một do-tuần. Giả sử có người đến đó, cầm thiên y trăm năm quét một lần, đá còn có thể mòn, kiếp số khó hạn lượng. Vì sao thế? Kiếp số lâu dài không có bờ mé. Như thế chẳng phải một kiếp trăm kiếp. Vì sao thế? Sanh tử lâu dài, không thể hạn lượng không có bờ mé. Các loài chúng sanh bị vô minh che lấp, trôi lăn trong sanh tử không có thời hạn ra khỏi, chết đây sanh kia không cùng tận. Ta ở trong ấy chán ghét sanh tử. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên tìm phương tiện khéo thoát khỏi tưởng ái trước này!

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

5. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Tùy thời nghe pháp có năm công đức, thường không mất thời. Thế nào là năm? Pháp chưa từng nghe liền được nghe; nghe rồi liền thọ trì; trừ bỏ hồ nghi; không có tà kiến; hiểu pháp sâu xa. Ðó gọi là Tỳ-kheo tùy thời nghe pháp có năm công đức này.

Cho nên các Tỳ-kheo nên ghi nhớ thường nghe pháp sâu xa. Ðây là lời dạy của Ta. Như thế, này các Tỳ-kheo nên học điều này!

Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

6. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Tỳ-xá-ly, vườn Ma-ha-Bà-na, cũng với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người câu nội.

Bấy giờ, đại tướng Sư Tử đi đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy, ngồi một bên. Bấy giờ Phật bảo đại tướng:

– Ðàn-việt thí chủ có năm công đức. Thế nào là năm? Ở đây, danh tiếng của Thí chủ vang xa, trong làng đó có người như thế ưa bố thí, chu cấp cho người nghèo, giúp đỡ người thiếu, không có yêu ghét. Này Ðại tướng Sư Tử! Ðó là công đức thứ nhất, Thí chủ đạt được.

Lại nữa, này Ðại tướng Sư Tử! Ðàn-việt thí chủ nếu đến trong chúng dòng Sát-lợi, dòng Bà-la-môn, chúng Sa-môn, đều không sợ hãi cũng không nghi nan. Này đại tướng Sư Tử! Ðó là công đức thứ hai.

Lại nữa, Ðàn-việt thí chủ được nhiều người thương mến nhớ nghĩ, khắp đến kính ngưỡng như con yêu mẹ, tâm không rời xa. Thí chủ cũng như thế, được nhiều người yêu mến.

Lại nữa, Ðại tướng Sư Tử! Ðàn-việt thí chủ khi bố thí phát tâm vui vẻ, do có tâm vui vẻ liền mừng rỡ, tánh ý chắc chắn, khi ấy liền tự biết có vui có khổ cũng không biến đổi, tự biết như thật. Thế nào là tự biết? Biết có Khổ đế, Khổ tập, Khổ tận, Khổ xuất yếu, như thật mà biết.

Bấy giờ, Thế Tôn bèn nói kệ:

Thí đầy đủ các phước,
Mà được đệ nhất nghĩa,
Ai hay nhớ bố thí,
Bèn phát tâm hoan hỉ.

Lại nữa, Ðại tướng Sư Tử! Khi Ðàn-việt thí chủ bố thí, thân hoại mạng chung sanh lên trời Ba mươi ba, lại có năm việc hơn chư thiên cõi ấy. Thế nào là năm? Một là dung mạo hào quý oai thần sáng rỡ. Hai là điều mong ước tự tại, việc gì cũng thành. Ba là nếu Ðàn việt thí chủ sanh trong loài người gặp nhà hào quý. Bốn là nhiều tài lợi châu bảo. Năm là nói ra nhiều người nghe.

Này Ðại tướng Sư Tử! Ðó là Ðàn-việt có năm công đức như thế dẫn vào đường lành.

Ðại tướng Sư Tử nghe lời Phật dạy, vui mừng hớn hở không thể tự kềm, đến trước bạch Phật:

– Cúi xin Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo nhận lời thỉnh của con.

Thế Tôn im lặng nhận lời.

Khi ấy, đại tướng Sư Tử thấy Thế Tôn đã im lặng nhận lời, liền đứng dậy cúi đầu lễ Phật rồi lui ra. Về đến nhà, đại tướng sắm sửa đầy đủ các thức ăn uống, trải tòa ngồi tốt đẹp, rồi đến bạch Phật:

– Thời đã đến, nay chính phải thời, cúi xin bạch Ðại thánh rũ lòng từ, hạ cố đến nhà.

Thế Tôn đúng thời đắp y mang bát, dẫn chúng Tỳ-kheo vây quanh trước sau, đến nhà đại tướng theo thứ tự lớp ngồi.

Bấy giờ, đại tướng Sư Tử thấy Phật và chúng Tỳ-kheo đã ngồi theo thứ tự, tự tay san sớt các thức ăn uống. Khi đại tướng dâng thức ăn, chư Thiên ở trên hư không bảo:

– Ðây là A-la-hán, người này là hướng A-la-hán. Cúng người này được phước nhiều, cúng người này được phước ít. Ðây là a-na-hàm, người này hướng A-na-hàm. Người này là Tư-đà-hàm, người này hướng Tư-đà-hàm. Người này là Tu-đà-hoàn, người này hướng Tu-đà-hoàn. Người này còn bảy phen qua lại, người này còn trở lại một đời. Người này giữ lòng tin, người này vâng theo Pháp. Ðây là người lợi căn, đây là độn căn. Người này hạ liệt, người này tinh tấn trì giới, người này phạm giới. Cúng người này được phước nhiều, cúng người này được phước ít.

Bấy giờ, đại tướng Sư Tử nghe chư Thiên nói rồi cũng không để tâm. Thấy Như Lai thọ trai xong, rửa bát sạch, rồi lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước Như Lai. Ðại tướng Sư Tử bạch Thế Tôn:

– Trước đây có chư Thiên đến chỗ con nói từ vị A-la-hán đến người phạm giới, đều đem thưa hết với Phật. Tuy con nghe lời như thế cũng chẳng để tâm, cũng chẳng sanh ý tưởng: ‘Ta sẽ bỏ người này cúng người kia, bỏ người kia cúng người này’. Con lại sanh ý tưởng này: ‘Nên cúng dường tất cả loài chúng sanh có hình dáng, vì có ăn mới sống, không ăn ắt chết’. Con đích thân được nghe từ Như Lai nói bài kệ ấy, thường ghi nhớ trong lòng không quên mất. Kệ như thế nào?

Bố thí khắp bình đẳng,
Trọn không chỗ trái nghịch,
Ắt sẽ gặp Hiền Thánh,
Duyên đây mà được độ.

Bạch Thế Tôn! Bài kệ này được nói ra, con đích thân nghe từ đức Thế Tôn, thường ghi nhớ vâng làm.

Phật bảo đại tướng:

– Lành thay! Ðây gọi là tâm Bồ-tát, bố thí bình đẳng. Khi Bồ-tát bố thí thì cũng chẳng sanh ý niệm như vầy: ‘Ta sẽ cho người nầy, bỏ người nầy’, thường đem lòng bình đẳng mà bố thí, cũng lại khởi ý niệm này: ‘Tất cả chúng sanh có ăn mới tồn tại, không ăn ắt chết’. Khi Bồ-tát làm việc bố thí, cũng suy nghĩ nghĩa này.

Phật bèn nói kệ:

Phàm người tu hạnh này,
Làm ác và làm lành,
Mỗi mỗi tự thọ báo,
Việc làm trọn không hao.
Như người làm hạnh này,
Liền chịu quả báo này,
Làm lành được quả lành,
Làm ác chịu báo ác.
Là ác hay là lành.
Tùy theo người tập quen,
Như gieo năm thứ lúa,
Ðều gặt được kết quả.

Này Ðại tướng Sư Tử! Do phương tiện này nên biết lành, ác mỗi việc có hạnh của nó. Vì sao thế? Từ khi mói phát tâm đến khi thành đạo tâm không tăng giảm, không chọn lựa người cũng không quán sát chỗ nơi. Cho nên Ðại tướng Sư Tử! Khi muốn bố thí, hãy thường nghĩ nhớ bình đẳng, chớ khởi tâm thị phi. Như thế, Sư Tử, nên học điều này.

Khi ấy, Thế Tôn lại nói kệ:

Thí làm vui người nhận,
Mọi người đều khen ngợi,
Ðến đâu không nghi nan,
Cũng không tâm tật đố.
Cho nên người trí thí,
Trừ bỏ các tưởng ác,
Ðến chỗ lành lâu dài.
Nơi chư Thiên hoan hỷ.

Thế Tôn nói kệ xong, liền đứng dậy đi.

Ðại tướng Sư Tử nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

7. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, vua Ba-tu-nặc đi đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy, ngồi một bên. Nhà vua bạch Phật:

– Phàm bố thí, nên bố thí nơi nào?

Phật bảo nhà vua:

– Tùy theo tâm hoan hỉ nơi nào thì bố thí nơi ấy.

Vua lại bạch Phật:

– Bố thí nơi nào được công đức lớn?

Phật bảo:

– Trước Ðại vương hỏi nên bố thí nơi nào, nay lại hỏi về phước công đức.

Vua bạch Phật:

– Nay con hỏi Như Lai bố thí nơi nào được công đức?

Phật bảo:

– Nay Ta hỏi lại, Ðại vương tùy sở thích trả lời Ta. Thế nào, Ðại vương, nếu có người dòng Sát-lợi đến, dòng Bà-la-môn đến, nhưng ngu si không biết chi, tâm ý tán loạn, thường không nhất định, đến chỗ nhà vua tâu rằng: ‘Chúng tôi sẽ cung phụng Ðại vương, tùy thời cần dùng’. Thế nào, Ðại vương có cần người ấy làm tả hữu chăng?

Vua bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn không cần. Vì sao thế? Do người ấy không có trí tuệ, tâm thức không định, không kham đối phó với kẻ địch từ ngoài đến.

Phật bảo nhà vua:

– Này Ðại vương, nếu hàng Sát-lợi, bà-la-môn có nhiều phương tiện không sợ khó, cũng không sợ hãi, có thể trừ được kẻ địch bên ngoài, đến chỗ Ðại vương và tâu rằng: ‘Chúng tôi tùy thời cung phụng Ðại vương, cúi xin rũ lòng ân tứ nạp thọ.’ Thế nào, Ðại vương có nhận người ấy chăng?

Vua bạch Phật:

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Con sẽ nạp thọ người ấy. Vì sao? Vì người ấy có thể đối phó với kẻ địch bên ngoài, không sợ khó cũng chẳng khủng khiếp.

Phật bảo:

– Nay Tỳ-kheo cũng lại như thế, các căn đầy đủ, bỏ năm, thành tựu sáu, hộ trì một, hàng phục bốn. Bố thí cho người như thế thì được phước rất nhiều.

Vua bạch Phật:

– Thế nào là Tỳ-kheo bỏ năm, thành tựu sáu, hộ trì một, hàng phục bốn?

Phật bảo nhà vua:

– Là vị Tỳ-kheo bỏ năm điều ngăn che: tham dục, sân nhuế, thùy miên, trạo cử, nghi. Tỳ-kheo như thế gọi là bỏ năm.

Thế nào là Tỳ-kheo thành tựu sáu? Ðại vương nên biết, nếu Tỳ-kheo thấy sắc rồi không khởi tưởng sắc, duyên nơi đây giữ gìn căn, trừ bỏ niệm ác không lành, mà giữ gìn nhãn căn, hoặc tai, mũi, miệng, thân, ý, không khởi ý thức, mà giữ gìn ý căn. Tỳ-kheo như thế gọi là thành tựu sáu.

Thế nào là Tỳ-kheo hộ trì một? Là khi Tỳ-kheo buộc niệm ở trước. Tỳ-kheo như thế gọi là hộ trì một.

Thế nào là Tỳ-kheo hàng phục bốn? Là khi Tỳ-kheo hàng phục thân ma, dục ma, tử ma, thiên ma, thảy đều hàng phục. Tỳ-kheo như thế là hàng phục bốn.

Ðại vương! Như thế là Tỳ-kheo bỏ năm, thành tựu sáu, hộ trì một, hàng phục bốn. Bố thí cho người như thế được phước khó lường. Này Ðại vương! Những người thích hợp với tà kiến và biên kiến, bố thí cho những người như thế là vô ích.

Khi ấy, vua bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn! Ðúng thế, bố thí cho người như thế được phước khó lường. Nếu Tỳ-kheo thành tựu một pháp phước còn khó lường, huống gì những pháp khác. Thế nào là một pháp? Là thân niệm vậy. Vì sao? Ni-kiền Tử thường chấp thân hành, ý hành, không kể khẩu hành.

Phật bảo nhà vua:

– Ni-kiền Tử ngu si, ý thường tán loạn, tâm thức không định. Ðây là pháp của thầy họ nên nói như thế. Họ chịu quả báo về thân hành, khẩu hành không đáng kể, ý hành vô hình không thể thấy.

Vua bạch Phật:

– Trong ba hành này, cái nào quan trọng nhất, thân hành ư, khẩu hành ư, ý hành ư?

Phật bảo:

– Trong ba hành này, ý hành rất quan trọng. Khẩu hành, thân hành không đáng kể.

Vua bạch Phật:

– Do nhân duyên gì nói ý suy nghĩ là thứ nhứt?

Phật bảo:

– Phàm người hành động, trước ý suy nghĩ sau mới phát ra miệng, miệng đã phát khởi, thân mới làm sát, đạo, dâm. Lưỡi không nhất định cũng không phải đầu mối. Nếu người ấy mệnh chung, thân và lưỡi vẫn còn. Ðại vương, vì sao người ấy thân và lưỡi không làm, không nói?

Vua bạch Phật:

– Do người ấy không có ý căn nên như thế.

Phật bảo nhà vua:

– Do phương tiện này nên biết ý căn rất quan trọng, hai cái kia nhẹ hơn.

Thế Tôn liền nói kệ:

Tâm là gốc pháp,
Tâm tôn, tâm sử,
Tâm khởi nghĩ ác,
Liền làm liền tạo.
Nơi ấy chịu khổ,
Vết xe theo xe.

Tâm là gốc pháp,
Tâm tôn, tâm sử.
Trong tâm nghĩ thiện,
Liền làm liền tạo,
Nhận quả báo lành,
Như bóng theo hình.

Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:

– Ðúng thế, bạch Thế Tôn! Người làm ác, thân hành ác, tùy hành động rơi vào đường ác.

Phật hỏi nhà vua:

– Ðại vương quán sát nghĩa gì mà đến hỏi Ta rằng bố thí cho người nào được phước tăng nhiều?

Vua bạch Phật:

– Xưa con đến chỗ Ni-kiền Tử hỏi Ni-kiền Tử rằng: ‘Nên bố thí nơi nào?’. Ni-kiền Tử nghe con hỏi, lại luận bàn việc khác, cũng không trả lời. Ni-kiền Tử bảo con rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm nói thế này: Bố thí cho Ta được phước nhiều, người khác không phước. Nên bố thí cho đệ tử Ta, không nên bố thí cho người khác. Có ai bố thí cho đệ tử Ta, phước ấy khó lường’.

Phật bảo:

– Bấy giờ Ðại vương trả lời ra sao?

Vua bạch Phật:

– Khi ấy con liền nghĩ: ‘Có lý này, bố thí cho Như Lai phước ấy khó lường’ chăng? Nên nay con đến hỏi Phật là bố thí nơi nào được phước khó lường. Song nay Thế Tôn không tự khen mình cũng chẳng chê người.

Phật bảo nhà vua:

– Ta không nói lời rằng: ‘Bố thí cho Ta được phước nhiều, cho người khác không được phước’. Nay Ta chỉ nói rằng: ‘Thức ăn trong bát còn dư đem cho người, phước ấy khó lường’. Dùng tâm thanh tịnh chuyên chú vào trong nước sạch, luôn sanh ý niệm này: ‘Mong những loài hữu tình trong đây được nhờ cậy vô lượng, huống gì loài Người’.

Nhưng này Ðại vương! Nay Ta nói bố thí cho người trì giới, phước ấy khó lường, cho người phạm giới không đáng kể. Ðại vương nên biết! Như nông dân khéo săn sóc ruộng đất, dọn bỏ rác dơ, đem giống lúa tốt gieo vào ruộng tốt, trong đó thu hoạch không hạn lượng. Và như nông dân kia không chăm sóc đất, không dọn bỏ rác dơ mà gieo giống, sau thu hoạch không đáng kể.

Nay Tỳ-kheo cũng lại như thế, Tỳ-kheo bỏ năm, thành tựu sáu, giữ một, hàng phục bốn. Những người như thế được phước vô lượng, cho người tà kiến phước không đáng kể. Cũng như Ðại vương, người dòng Sát-lợi, dòng Bà-la-môn, ý không nghi nan, có thể hàng phục giặc ngoài nên xem như bậc La-hán, còn người Bà-la-môn kia, ý không chuyên định nên xem như người tà kiến.

Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:

– Bố thí cho người trì giới phước ấy khó lường ấy khó lường, từ nay về sau có ai đến xin, con trọn không trái ý. Nếu bốn bộ chúng có điều mong cầu cũng không trái thì con tùy thời cấp y phục, thức ăn, sàng nằm, tọa cụ. Con cũng lại bố thí cho người Phạm hạnh.

Phật bảo:

– Chớ nói thế ấy, Vì sao? Bố thí cho loài súc sanh phước còn khó lường, huống gì bố thí cho người. Song nay Ta nói bố thí cho người trì giới, phước khó tính kể, hơn cho người phạm giới.

Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:

– Nay con lại tự quy y. Ðức Thế Tôn ân cần đến thế, ngoại đạo dị học phỉ báng Thế Tôn, song Thế Tôn thường khen ngợi hơn. Ngoại đạo dị học tham trước lợi dưỡng, Như Lai không tham lợi dưỡng. Việc nước nhiều, con muốn lui về.

Phật bảo:

– Nên biết đúng thời.

Bấy giờ, vua Ba-tự-nặc nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

8. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc giết trăm người em khác mẹ, bèn ôm lòng hối hận: ‘Ta làm việc rất ác, lại hành động thế này, do vương vị nên giết trăm người. Ai có thể trừ mối lo buồn cho ta?’. Vua Ba-tu-nặc lại khởi nghĩ: ‘Chỉ có Thế Tôn hay trừ bỏ mối lo của ta’. Vua lại nghĩ: ‘Nay ta không nên ôm mối lo buồn này, im lặng đến chỗ Thế Tôn, nên chuẩn bị nghi thức vua đến chỗ Thế Tôn’.

Vua Ba-tư-nặc bảo quần thần:

– Các Ông sửa soạn xa giá, xe vũ bảo, như pháp các vua thuở trước, ta muốn ra khỏi thành Xá-vệ, đến thăm đức Thế Tôn.

Quần thần nghe vua ra lệnh, liền trang nghiêm xa giá, xe vũ bảo, đến tâu vua:

– Xa giá đã xong, xin Bệ hạ biết đúng thời.

Vua Ba-tư-nặc liền ngự trên xe báu, đánh chuông đánh trống, treo phan lọng, tùy tùng đều mặc giáp khí, quần thần vây quanh ra khỏi thành Xá-vệ; đến vườn Kỳ Hoàn đi bộ vào tinh xá. Theo phép các vua trước, dẹp năm nghi vệ như dù, mũ, quạt, kiếm, giày. Vua đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu sát đất, lại lấy tay sờ bàn chân Thế Tôn, rồi tự bạch rằng:

– Nay con hối quá, sửa lỗi cũ, do ngu si không biết chân ngụy, giết trăm người em khác mẹ vì tranh thế lực ngôi vua. Từ nay trở đi, con tự cải hối, cúi xin nạp thọ.

Phật bảo nhà vua:

– Lành thay, Ðại vương! Hãy trở về chỗ ngồi, nay Ta sẽ thuyết pháp.

Vua Ba-tư-nặc bèn đứng dậy lễ Phật, trở về chỗ ngồi.

Phật bảo nhà vua:

– Mạng người ất nguy ách, tuổi thọ tột cùng không quá trăm năm, tính ra không bao nhiêu người thọ đến trăm tuổi. Một ngày một đêm ở cõi trời Ba mươi ba, tính theo ngày đêm cõi ấy, ba mươi ngày là một tháng, mười hai tháng là một năm, tuổi thọ cõi trời Ba mươi ba là một ngàn năm, tính ra thọ mạng cõi người là mười vạn năm.

Lại tính một ngày một đêm ở địa ngục Hoàn Hoạt, tính theo ngày đêm ở đó, ba mươi ngày là một tháng, mười hai tháng là một năm, địa ngục Hoàn Hoạt sống năm ngàn năm, hoặc thọ nửa kiếp hoặc thọ một kiếp tùy theo hành động của người, hoặc có khi chết nửa chừng tính theo thọ mạng cõi người là trăm ức năm.

Người trí thường nhớ nghĩ tu hạnh này, lại làm ác để chỉ vui ít khổ nhiều tai ương khó kể. Thế nên Ðại vương đừng vì thân mình cùng phụ mẫu, thê tử, quốc độ, nhân dân mà làm nghiệp tội, cũng chớ vì thân vua mà làm gốc tội. Cũng như chút mật dính dao, trước ngọt sau khổ; đây cũng lại như thế, ở trong thọ mạng căn, tạo ác làm gì?

Ðại vương nên biết! Có bốn điều sợ hãi lớn hằng bức ngặt thân người, trọn không thể chế phục, cũng chẳng thể dùng chú thuật chiến đấu, thuốc men có thể trừ. Sanh, lão, bịnh, tử cũng như bốn núi lớn từ bốn phía đến cùng ép vào, xô dẹp cây cối thảy đều hủy diệt. Bốn việc này cũng lại như thế. Ðại vương nên biết! Khi sanh đến, khiến cha mẹ lo sợ không thể tính kể. Nếu già đến, không còn trẻ mạnh, hình thể bại hoại gân cốt chậm chạp. Khi bệnh đến vào lúc tráng niên, không có khí lực mạng dần rút ngắn. Nếu chết đến, chấm dứt mạng căn, ân ái biệt ly năm ấm phân tán. Ðại vương! Ðó gọi là có bốn điều lớn không được tự tại.

Nếu có người gần gũi sát sanh thì sẽ chịu các khổ não, nếu sanh trong loài người thọ mệnh rất ngắn. Nếu người trộm cắp thì sau sinh ra bần khốn, áo không kín thân, thức ăn không đủ. Vì sao thế? Ðều do lấy tài vật của người khác, nên bị sự thay đổi như thế, hoặc sanh làm người, chịu khổ vô lượng. Nếu người tà dâm vợ người thì sau sanh làm người, vợ không trinh lương. Nếu người vọng ngữ thì sau sanh làm người lời nói không đủ tin, bị người khinh mạn; đó là do đời trước nói dối trá hư ngụy. Nếu người nói lời ác thì sẽ chịu tội báo ở địa ngục, hoặc sanh loài người nhan sắc xấu tệ; đó là do đời trước nói lời ác nên chịu báo ấy. Nếu người ỷ ngữ chịu tội báo địa ngục, nếu sanh cõi người trong gia đình không hòa, thường bị gây gổ. Vì sao thế? Do đời trước tạo ra báo ấy. Nếu người nói hai lưỡi gây rối đôi bên thì sẽ chịu tội địa ngục, hoặc sanh cõi người gia đình bất hòa thường có tranh tụng. Vì sao thế? Do đời trước gây chia rẽ đôi bên mà ra. Nếu người ưa tật đố thì sẽ chịu tội địa ngục, nếu sanh cõi người thì bị người ghét; đó là việc làm đời trước mà bị như thế. Nếu người sanh tâm mưu hại thì sẽ chịu tội địa ngục, nếu sanh làm người ý không chuyên định. Vì sao thế? Ðó là do đời trước khởi tâm như thế. Nếu người tập tà kiến thì sẽ chịu tội địa ngục, nếu sanh làm người thì bị đui, điếc, câm ngọng, người không ưa thấy. Nguyên do này đều nhân việc làm đời trước mà ra.

Thế nên, này Ðại vương! Do mười ác báo này gây nên ương lụy, chịu khổ vô lượng, huống lại ngoài những điều này!

Cho nên Ðại vương, nên dùng pháp cai trị chớ dùng phi pháp, dùng lý trị dân chớ dùng phi lý. Ðại vương! Các bậc dùng Chánh pháp trị dân, sau khi mệnh chung đều sanh lên trời. Giả sử Ðại vương sau khi mệnh chung, nhân dân nghĩ nhớ, trọn không quên, danh tiếng vang xa. Ðại vương nên biết, những người dùng phi pháp trị dân, sau khi chết đều sanh địa ngục, khi ấy ngục tốt trói thân thể, ở trong đó chịu khổ không thể tính kể; hoặc bị đánh, hoặc bị trói, hoặc bị giã nát, hoặc bị cắt xẻo từng phần, hoặc bị lấy lửa đốt, hoặc bị rót nước đồng sôi vào mình, hoặc bị lột da, hoặc bị mổ bụng, hoặc bị rút lưỡi, hoặc bị móc mắt, hoặc bị chọc thủng tai, bị cắt đứt tay chân, tai, mũi, đã đứt rồi sanh lại; hoặc ném thân hình vào trong chảo lớn, bị dùng chìa sắt xóc vào thân không ngừng; hoặc từ chảo ra, vị rút sống lưng làm roi đánh xe; hoặc bắt vào trong địa ngục lửa nóng, hoặc vào địa ngục phẩn nóng, lại vào địa ngục đâm chém, lại vào địa ngục tro than, lại vào địa ngục cây dao, lại bị bắt nằm ngửa lấy hoàn sắt nóng bắt ăn, ruột gan ngũ tạng thảy đều cháy tiêu, hoàn sắt rơi xuống; lại bị đem nước đồng rót vào miệng tuột từ trên xuống, trong ấy chịu khổ, hết tội sau mới được ra.

Như thế, Ðại vương, chúng sanh vào địa ngục việc ấy như thế, đều do đời trước cai trị bất chánh mà ra.

Thế Tôn liền nói kệ:

Trăm năm làm phóng dật,
Nên sau vào địa ngục,
Phóng túng tham nào đủ,
Chịu tội không tính kể.

Ðại vương! Dùng pháp cai trị tự cứu thân mình, cha mẹ, vợ con, nô tỳ, thân tộc cùng giúp việc nước. Cho nên, Ðại vương, thường nên dùng pháp cai trị chớ dùng phi pháp. Mạng người rất ngắn, ở đời chỉ chốc lát, sanh tử dài xa rất nhiều nạn đáng sợ. Khi chết tới, kêu thóc, gân cốt phân tán, thân thể đau đớn. Bấy giờ không ai cứu, chẳng phải cha mẹ, vợ con, nô tỳ, hầu cận, quốc độ, nhân dân có thể cứu hộ. Có những nạn này ai có thể thay thế? Chỉ có bố thí, trì giới, lời nói thường hòa vui, không tổn thương người, làm các công đức, làm các cội lành.

Thế Tôn liền nói kệ:

Người trí thường bố thí,
Ðiều chư Phật khen ngợi,
Cho nên tâm thanh tịnh,
Chớ có ý giải đãi.
Bị chết làm bức ngặt,
Chịu khổ não rất lớn,
Vào con đường ác thú,
Không có lúc ngừng nghỉ.
Nếu khi tham dục đến,
Chịu khổ não rất nhiều,
Các căn tự nhiên hoại,
Do ác không ngừng nghỉ.
Nếu khi thầy thuốc đến,
Gom góp các cỏ thuốc,
Không đủ thấm khắp thân,
Do ác không ngừng nghỉ.
Nếu thân tộc lại đến,
Hỏi thăm việc tiền của,
Tai cũng chẳng nghe tiếng,
Do ác không ngừng nghỉ.
Nếu lại dời đổi đất,
Bệnh nhân nằm trên ấy,
Thân như gốc cây khô,
Do ác không ngừng nghỉ.
Nếu lại đã mệnh chung,
Thân mạng thức đã lìa,
Thân như đất tường vách,
Do ác không ngừng nghỉ.
Nếu lại tử thi ấy,
Thân quyến đưa ra mộ,
Cũng chẳng thể níu kéo,
Chỉ phước có thể cậy.

Cho nên, Ðại vương nên tìm phương tiện làm việc phước nghiệp, đời nay không làm, sau hối vô ích.

Thế Tôn liền nói kệ:

Như Lai do phước lực,
Hàng phục quyến thuộc ma,
Nay đã được Phật lực.
Phàm người làm phước nghiệp,
Thường được lìa khổ hoạn,
Làm phước được phước báo,
Ðời này và đời sau.

Cho nên, Ðại vương, nên nghĩ nhớ làm việc phước, làm ác đã hối hận, chớ phạm lại.

Thế Tôn liền nói kệ:

Tuy làm ác tột cùng,
Hối quá dần mỏng nhẹ,
Bấy giờ ở thế gian,
Cội gốc đều tiêu diệt.

Cho nên, Ðại vương, đừng vì thân mình làm các việc ác. Chớ vì cha mẹ, vợ con, Sa-môn, Ba-la-môn mà làm việc ác tập theo hạnh ác. Như thế, Ðại vương, nên học điều này.

Thế Tôn liền nói kệ:

Chẳng cha mẹ anh em,
Cũng chẳng phải thân tộc,
Hay miễn điều ác này,
Ðều bỏ, trở về chết.

Cho nên, Ðại vương, từ nay về sau dùng pháp trị dân, chớ dùng phi pháp. Như thế, Ðại vương, nên học điều này.

Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

*

9. Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc đêm nằm mộng thấy mười việc, vua liền tỉnh giấc rất lo sợ, e sợ mất nước, thân mình và vợ con. Sáng mai vua liền triệu tập các công khanh đại thần, các Bà-la-môn đạo sĩ sáng suốt có thể giải điềm mộng, thảy đều câu hội. Vua liền đem mười điều mộng trong đêm nói lại, hỏi ai có thể giải được. Bà-la-môn thưa:

– Hạ thần có thể giải được, chỉ sợ vua nghe rồi sẽ không vui.

Vua bảo:

– Cứ nói.

Ba-la-môn tâu:

– Vua sẽ mất nước, mất thái tử và hoàng hậu.

Vua hỏi:

– Này các Khanh, có thể tế lễ cầu giải trừ chăng?

Bà-la-môn tâu:

– Việc ấy có thể tế lễ được. Phải giết thái tử và vị đại phu nhân vua yêu quý nhất, những kẻ hầu cận, thị tùng, nô bộc và đại thần quý nhất để dâng tế Thiên vương. Có bao nhiêu bảo vật trân kỳ quý báu đều phải đốt hết để tế Trời. Như thế vua và nước có thể hết nạn không lo.

Vua nghe lời Bà-la-môn tâu, rất lo buồn không vui, đi về phòng riêng suy nghĩ việc này. Phu nhơn vua tên Mạt-lợi, đến chỗ vua hỏi thăm:

– Vua vì sao lo buồn không vui? Thần thiếp có lỗi gì với bệ hạ chăng?

Vua đáp:

– Khanh không có lỗi với ta, nhưng đừng hỏi điều này, Khanh có nghe sẽ lo sợ.

Phu nhơn đáp:

– Chẳng lo sợ.

Vua bảo:

– Ðừng hỏi, nghe rồi lo sợ.

Phu nhân nói:

– Thiếp là người bên cạnh Ðại vương, có việc gì gấp nên bảo cho thiếp biết rồi sẽ giết một mình thiếp, vua an ổn không có gì lo sợ, xin Ðại vương nói.

Vua liền đem điềm mộng đêm qua nói với phu nhơn, thấy mười việc: một, thấy ba cái vạc, hai vạc bên đầy, vạc ở giữa trống, hai vạc bên hơi nước sôi giao nhau, không bay vào vạc trống ở giữa. Hai, thấy con ngựa miệng ăn mà hậu môn cũng ăn. Ba, mộng thấy cây lớn trổ bông. Bốn, mộng thấy cây nhỏ ra trái. Năm, mộng thấy người cầm dây, đằng sau có con dê, chủ dê ăn sợi dây. Sáu, thấy con chồn ngồi trên ghế vàng ăn bát vàng. Bảy, thấy trâu già lại bú nghé con. Tám, mộng thấy bầy trâu đen, từ bốn phía kêu rống chạy đến muốn đánh nhau, đang họp chưa họp, không biết chỗ trâu. Chín, mộng thấy một ao nước lớn, ở giữa đục bốn bên trong. Mười, mộng thấy khe suối lớn nước dậy sóng màu đỏ.

Mộng rồi tỉnh dậy rất sợ hãi, e sợ mất nước và thân mình, thê tử và nhân dân. Nay triệu tập hàng công khanh đại thần, đạo sĩ Bà-la-môn có thể giải mộng. Thời có một Ba-la-môn nói rằng: ‘Phải giết thái tử của vua, giết phu nhân quý trọng, và đại thần, tôi tớ để tế Trời’. Do đó nên lo buồn.

Phu nhân thưa:

– Ðại vương chớ lo việc mộng. Như người mua vàng, lấy lửa đốt thử và mài vào đá, xấu tốt tự hiện. Nay đức Thế Tôn ở gần, tại tinh xá Kỳ-hoàn, có thể đến đó hỏi Phật. Phật giải thích, nên nghe lời Phật dạy. Tại sao nghe lời Bà-la-môn cuồng si ấy, mà tự lo khổ đến như vậy?

Vua bèn vui vẻ tỉnh ngộ, liền triệu tập quần thần tả hữu, gấp rút chuẩn bị xa giá. Vua ngự trên xe che lọng cao, thị tùng cỡi ngựa theo có ngàn vạn người, ra khỏi thành Xá-vệ, đến tinh xá Kỳ-hoàn. Ðến nơi vua đi bộ đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật, quý gối chấp tay bạch Phật:

– Ðêm qua con mộng thấy mười việc, xin đức Thế Tôn thương xót con, vì con giải nói từng việc.

Phật bảo:

– Lành thay, Ðại vương! Ðiềm mộng của nhà vua sẽ ứng cho đời tương lai sau này. Ðời sau nhân dân không sợ phép cấm, sẽ làm nhiều việc dâm thất tham đắm vợ con, buông lung việc dâm không chán đủ, đố kỵ ngu si không biết hổ thẹn, bỏ điều trinh khiết, siềm ngụy loạn quốc.

Vua mộng thấy ba cái vạc, vạc hai bên đầy, vạc chính giữa trống, hai vạc bên hơi nước sôi bốc lên giao nhau, không bay vào vạc trống ở giữa. Ðó là đời sau nhân dân không cấp dưỡng thân thuộc, nghèo cùng, không gần gũi bà con mà kết bạn với người dưng phú quý cùng qua lại biếu tặng. Vua thấy mộng thứ nhất, chính là đây vậy.

Thấy ngựa, miệng ăn và hậu môn cũng ăn, là đời sau nhân dân đại thần bá quan, sứ giả công khanh, ăn lộc vua lại ăn của dân, giặc giã không ngừng, kẻ sứ làm kẻ gian, dân mất an ninh không ở quê nhà. Vua mộng điều thứ hai, chính là đây vậy.

Vua thấy cây lớn trổ hoa, là đời sau nhân dân phần nhiều bị xua đuổi, tâm phiền ý não thường lo sợ, tuổi mới ba mươi đầu bạc. Vua mộng thấy việc thứ ba, chính là đây vậy.

Vua mộng thấy cây nhỏ trổ trái, đời sau, người nữ chưa đến mười lăm tuổi có chồng, ẵm con trở về không biết hổ thẹn. Vua mộng thấy việc thứ tư, chính là đây vậy.

Vua mộng thấy người cầm dây, sau đó có con dê, người chủ dê ăn sợi dây, là đời sau, người chồng đi buôn bán hoặc vào quân đội, dạo chơi các nơi kết bạn giao du, không biết đến vợ nhà tư thông với nam tử, ngủ nghỉ ăn uống trên tài sản của chồng, buông lung tình ý không biết hổ thẹn. Người chồng cũng biết, bắt chước bạn ngủ. Vua mộng thấy việc thứ năm, chính là đây vậy.

Vua mộng thấy chồn ngồi trên ghế vàng, ăn dùng bát vàng, là đời sau kẻ hạ tiện sẽ được quý trọng, ngồi ghế vàng ăn thức ăn ngon, hàng quý tộc danh giá sẽ là tôi tớ, ông chủ làm nô tỳ, nô tỳ làm chủ nhân. Vua mộng thấy điều thứ sau, chính là đây vậy.

Vua thấy trâu già lại bú nghé con, người đời sau, mẹ sẽ vì con gái làm mai mối, đem người nam vào phòng, mẹ đứng canh cửa, do đó được tài vật dùng tự sinh sống, cha cũng đồng tình ngu ngơ không biết. Vua mộng thấy điều thứ bảy, chính là đây vậy.

Vua mộng thấy bầy trâu đen từ bốn phía kéo đến, cùng kêu rống muốn đánh nhau, đang hợp mà không thấy chỗ trâu, đời sau, quốc vương, đại thần, trưởng giả, nhân dân đều không sợ pháp luật, tham dâm dục, tích chứa tài sản, vợ con lớn nhỏ đều không liêm khiết, dâm thất, tham ăn uống không chán, tật đố ngu si không xấu hổ, không làm người trung hiếu, siểm khúc hại nước, không sợ trên dưới, mưa không đúng thời, khí không điều hòa, gió bụi nổi dậy, cát bay gãy đổ cây cối, sâu rầy ăn lúa khiến bông không chín. Vua chúa nhân dân đều làm như thế, nên Trời khiến như vậy, lại bốn bên kéo mây, vua và nhân dân đều mừng bảo rằng: ‘Mây che bốn phía, nay chắc sẽ mưa’. Trong chốc lát mây tự tan, nên hiện điềm gỡ, muốn cho dân chúng sửa đổi hành vi, giữ việc lành, trì giới, kinh sợ trời đất không vào đường ác, tự giữ trinh lương một chồng một vợ, tâm lành không sân. Vua mộng điều thứ tám, chính là đây vậy.

Vua mộng thấy ao nước lớn, chính giữa đục bốn bên trong, đời sau nhân dân trong Diêm-phù-đề, thần trong không trung, con không hiếu, không kính trọng người già, không tin Phật đạo, không kính bậc Ðạo sĩ thông suốt kinh điển, kẻ bề tôi tham của vua ban, con tham tài vật của cha, không biết ơn nghĩa, không đoái hoài nghĩa lý. Cõi biên giới thì trung hiếu tôn kính người già, ưa tin Phật đạo, cấp dưỡng cho bậc đạo sĩ thông kinh, nhớ nghĩ đền ơn. Vua mộng thấy điềm thứ chín, chính là đây vậy.

Vua mộng thấy nước khe lớn dậy sóng màu đỏ, là đời sau, các vua chúa không chán có thêm nhiều nước, khởi binh cùng đánh nhau, sẽ làm các thứ chiến xa, binh mã cùng công phạt nhau, giết hại nhau, máu chảy đỏ tràn. Vua mộng thấy điều thứ mười, chính là đây. Thảy đều là việc của người đời sau.

Người đời sau nếu ai để tâm vào Phật đạo, phụng sự bậc Ðạo nhơn thông suốt kinh, khi chết đều sanh lên Trời. Nếu làm hạnh ngu si, lại tàn hại nhau thì chết rồi sanh vào trong ba đường ác không thể kể hết.

Vua liền quỳ gối chấp tay nghe lời Phật dạy, trong tâm vui vẻ, được định tuệ, không còn sợ hãi. Vua lạy Phật rồi trở về cung, trọng thưởng cho phu nhân và phong làm chánh hậu, cấp cho nhiều tài bảo để bố thí cho người, khiến trong nước giàu vui. Vua lấy hết bổng lộc của công khanh, đại thần, Bà-la-môn, đuổi ta khỏi nước không còn tin dùng. Tất cả nhân dân đều phát tâm vô thượng chánh chân. Vua và phu nhân lễ Phật mà đi.

Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

HẾT
(TĂNG NHẤT A-HÀM TRỌN BỘ)

-ooOoo-



  • Leave a Comment