Luật Di Sa Tắc Bộ Hòa Hê Ngũ Phần: 1. Giới Tỳ Kheo – 30 Pháp Xả Đọa

LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN

Hán dịch: Đời Lưu Tống, Tam tạng Phật Đà Thập người nước Kế Tân, cùng Trúc Đạo Sinh
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

Phần 1: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Đoạn 4: NÓI VỀ 30 PHÁP XẢ ĐỌA

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn dạy các Tỳkheo chỉ được cất chứa ba y, vậy mà các Tỳ-kheo Lục quần trước bữa ăn, buổi xế chiều, mỗi thời gian mặc một loại y khác nhau. Các Tỳkheo thấy thế hỏi: Đức Thế Tôn không cho phép chứa y dư, các thầy không nghe hay sao? Lục quần trả lời: Chúng tôi có nghe chứ, nhưng những y này của chúng tôi là nhận được từ Tăng, hoặc từ Cư sĩ hay từ đồ vất bỏ. Vì nhu cầu đắp mặc nên họ cho tôi, vốn không khiến tôi vì năm nhà mà cất chứa. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi cùng đưa đến chỗ Đức Phật để trình bày vấn đề. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các thầy có như vậy không? Lục quần Tỳ-kheo thưa: Sự thật có như vậy, bạch Thế Tôn. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách: Trước đây các thầy không nghe Ta khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc: Áo cắt rọc đủ để che thân, cơm ăn đủ để nuôi sống hay sao?! Ví như các loài chim chỉ có đôi lông cánh, Tỳkheo cũng như vậy, chỉ mang theo ba y mà thôi. Tại sao nay các thầy lại tích giữ cất chứa phi pháp. Bằng mọi cách quở trách rồi, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay, giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào chứa y dư, quá một đêm phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Kể từ ấy, các Tỳ-kheo lúc cần mỗi một y nào, chúng Tăng Yếtma, đem số vật nên phân mà phân cho. Vào một dịp nọ, y của A-na-luật cũ rách hư hoại, các Tỳ-kheo nói: Y của thầy cũ rách sao không đến Tăng xin sai người may một ngày cho xong? A-na-luật nói: Tôi không dám xin, sợ một ngày may không xong, phạm tội Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo ở ấp Ba-lợi với ý muốn đến thành Xá-vệ để hậu an cư, song không còn thời gian nữa, nên hợp ý nhau an cư tại ấp Ta-bệ-đà và đã hoàn tất. Ngày mười sáu cùng nhau đến chỗ Phật ở. Vì mưa nên suốt lộ trình lầy lội ướt át, ba y đã thô nặng, bị ướt càng thêm nặng, các Tỳ-kheo rất nhọc mệt với gánh nặng này. Các Tỳ-kheo đến nơi, kính lễ sát chân Phật rồi ngồi lui qua một bên. Phật thăm hỏi các Tỳ-kheo: An cư có vui hòa không? Trên đường đi có nhọc mệt lắm không? Các Tỳ-kheo thưa: Chúng con an cư được vui hòa, khất thực không bị thiếu thốn. Chúng con trước ở ấp Ba-lợi ý muốn về nơi đây an cư, nhưng trong đoàn có nhiều bạn quen nên không khởi hành sớm được. Chúng con tưởng đến kịp hậu an cư song cũng vẫn không kịp bèn tới an cư tại Ta-bệ-đà và đã hoàn tất. Ngày mười sáu lên đường về đây, trên đường đi bị mưa, đường lầy lội ướt át, ba y đã thô nặng bị ướt càng nặng nên rất vất vả suốt lộ trình. Các Tỳ-kheo nhân việc này trình bày lên Phật vấn đề không dám xin may y của A-na-luật. Đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng. Sau khi khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, Ngài bảo các Tỳ-kheo: Từ nay cho phép thọ y Cahi-na, để khỏi phạm năm việc:

Ăn riêng chúng.
Có thể ăn nhiều lần.
Trước bữa ăn, sau bữa ăn đi đến gia đình nào đó khỏi phải dặn Tỳ-kheo khác.
Chứa y dư.
Ngủ riêng không mất ba y.

Khi ấy, các Tỳ-kheo lại có ý nghĩ: Đức Phật cho thọ Y Ca-hi-na, cho phép chứa y dư, không biết được phép ấy vào lúc nào. Với suy nghĩ này lại bạch Phật. Phật dạy: Khi đã thọ Ca-hi-na thì được phép chứa. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ba y đã xong, y Ca-hi-na đã xả, chứa y dư quá một đêm, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Lúc ấy, Tôn giả A-nan vì Trưởng lão Xá-lợi-phất mà nhận hai trương vải kíp bối. Vào lúc ấy Trưởng lão Xá-lợi-phất lại đi vắng. Tôn giả A-nan áy náy nghĩ ngợi: Đức Thế Tôn không cho phép chứa y dư quá một đêm, nay Trưởng lão Xá-lợi-phất lại không có mặt ở trú xứ phải giải quyết việc này thế nào đây?! Đem nghi vấn này bạch Phật, Đức Phật hỏi A-nan: Bao nhiêu ngày nữa Xá-lợi-phất trở về? A-nan thưa: Khoảng mười ngày, hoặc không đến mười ngày. Do đó Đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng và Ngài đã hết lời khen ngợi sự thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ba y đã xong, y Ca-hi-na đã xả, chứa y cho đến mười ngày, nếu quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Ba y đã xong: Tức là giặt, nhuộm, may đã xong.

Y Ca-hi-na đã xả: Tức bạch nhị yết-ma xả.

Y dư: Ngoài ba y đều gọi là dư.

Y: Là y kíp bối, y Khâm-ba-la, y bằng tơ tằm, y độn, y vải thô.

Mười ngày: Nếu ngày thứ nhất được y nên xả ngay trong ngày, hoặc thọ trì, hoặc cho người, hoặc tịnh thí. Nếu không xả liền trong ngày, ngày thứ hai lại được y, nên xả cả hai trong ngày này. Nếu ngày ấy không xả, ngày thứ ba cho đến ngày thứ mười lại được y, cũng nên xả hết trong ngày ấy. Nếu ngày này không xả, đến ngày thứ mười một, khi tướng mặt trời xuất hiện, y nhận được trong mười ngày đều phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Nếu có y quá mười ngày nên xả cho Tỳ-kheo Tăng, hoặc xả cho một, hai, ba Tỳ-kheo, không được xả cho người khác và phi nhân. Xả rồi tiếp theo sau là sám hối: Nếu không xả mà sám hối thì tội kia càng sâu. Trừ trường hợp ba y dư, nếu các y khác dư, cho đến khăn lau tay quá mười ngày đều phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni phạm cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiếtla. Nếu tịnh thí thì không phạm.

Xong giới thứ nhất

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc này nhóm Tỳ-kheo mười bảy người an cư xong muốn du hành, lại có ý nghĩ: Chúng ta sẽ trở về lại đây, đem theo một y là đủ, phiền gì phải đem nhiều. Nghĩ sao làm vậy, các Tỳ-kheo lấy khăn gói các y còn lại đem để trên giá, gởi cho các Tỳ-kheo tại trú xứ, rồi ra đi. Cũng vào lúc đó nhóm sáu Tỳ-kheo từ nơi khác trở về, nói với Tỳ-kheo ở trú xứ: Cung cấp phòng cho tôi. Tỳ-kheo tại trú xứ chỉ ngay phòng của nhóm mười bảy người để y. Nhóm sáu Tỳ-kheo thấy y để trên giá hỏi: Tại sao các thầy cất chứa các y dư này? Tỳ-kheo trú xứ nói: Đây là y của nhóm mười bảy Tỳ-kheo, an cư xong du hành trong nhân gian không thể mang theo được nên lưu lại gởi cho tôi đó. Được cớ, nhóm sáu Tỳ-kheo tha hồ quở trách rồi đem vấn đề trình lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm mười bảy Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn đúng như vậy. Đức Phật bằng mọi cách khéo léo quở trách: Các ông ngu si, không nghe Ta dạy: Vật bất ly thân của một Tỳ-kheo là ba y và bình bát giống như con chim bay được là tự nhờ đôi cánh lông của nó đó sao? Quở trách rồi, Phật bảo cácTỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay, giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ba y đã xong, y Ca-hi-na đã xả, trong ba y, nếu lìa mỗi một y nào, ngủ quá một đêm phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Bấy giờ, một Tỳ-kheo nọ có một y phấn tảo muốn đến ấp Sa-kiệtđà, nhưng y nặng không thể mang theo, muốn xả, không biết nên như thế nào, bạch các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo cùng đưa đến chỗ Phật để trình lên Ngài sự việc. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Nếu các Tỳ-kheo thọ trì y phấn tảo nặng, muốn du hành nơi khác, không thể mang theo được, Tỳ-kheo ấy nên đến xin Tăng Yết-ma không mất y với nghi thức như sau: Đương sự cởi giày dép, đầu mặt đảnh lễ sát chân Tăng, quỳ gối, chấp tay bạch: Đại đức Tăng xin lắng nghe, tôi Tỳ-kheo tên là ___ muốn du hành đến xứ ___ y phấn tảo nặng không thể mang theo được, muốn để lại. Nay đến xin Tăng Yếtma pháp không mất y. Lần thứ hai, lần thứ ba cũng bạch xin như vậy. Sau đó, một Tỳ-kheo trong Tăng xướng: Đại đức Tăng xin lắng nghe, Tỳ-kheo tên là ___ muốn du hành đến xứ ___ y phấn tảo nặng không thể mang theo được, muốn để lại. Nay đến Tăng xin Yết-ma không mất y. Nay Tăng trao cho Yết-ma không mất y. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đây là lời tác bạch.

Đại đức Tăng xin lắng nghe, Tỳ-kheo tên là ___ muốn du hành đến xứ ___ y phấn tảo nặng không thể mang theo, muốn lưu lại, đến xin Tăng Yết-ma không mất y. Nay Tăng trao cho Yết-ma không mất y. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng, ai không đồng ý xin nói.

Tăng đã trao cho Tỳ-kheo tên là ___ Yết-ma không mất y rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo thấy Đức Thế Tôn cho phép Yết-ma ly y, bèn thường tác Yết-ma ly y để ngủ đêm, thậm chí Yết-ma ly hết cả ba y, chỉ mặc y cũ rách để đi. Tỳ-kheo Trưởng lão thấy hỏi: Tại sao các thầy mặc y cũ rách đi như thế? Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật cho phép Yết-ma ly y, cho nên chúng tôi thường Yết-ma ly y để ngủ đêm, cũng Yết-ma ly ba y luôn. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi cùng đưa đến Đức Phật trình bày sự việc. Đức Phật dạy: Các thầy không được phép nhiều lần Yết-ma ly y để ngủ đêm và Yết-ma ly cả ba y. Đây là hai Yết-ma phi pháp, Tỳ-kheo Tăng phạm hai tội Đột-kiết-la. Đối với Yết-ma ly y để ngủ đêm này, mỗi y, một đêm đều phạm tội mất y. Nay cho phép Tỳ-kheo Yết-ma lưu y lại, tiền an cư được chín tháng, hậu an cư được tám tháng, không được Yết-ma lưu y Tăng-già-lê, An-đà-hội, cho phép Yết-ma Ưu-đa-la-tăng. Chỗ có nạn giặc cướp, trong ba y, y cắt rọc nào hơn hết, cho phép tùy theo đó mà lưu (gởi). Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, ba y đã xong, y Ca-hi-na đã xả, trong ba y, nếu lìa mỗi một y nào, ngủ quá một đêm, trừ Tăng yết-ma, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Ly y: Vườn, đồng giới khác giới; nhà, đồng giới khác giới; Tinh xá của Tỳ-kheo-ni, đồng giới khác giới; xóm làng, đồng giới khác giới; nhà lầu, đồng giới khác giới; xe, đồng giới khác giới; thuyền, đồng giới khác giới; khoảng đất rộng, đồng giới khác giới; nơi gốc cây, đồng giới khác giới; đất trống, đồng giới khác giới; trên đường đi, đồng giới khác giới.

Vườn đồng giới: Tăng Yết-ma quy định ranh giới không mất y, trong đó tự do tới lui. Khác giới: Tăng không Yết-ma quy định ranh giới không mất y, tuy là cùng một vườn mà không được tự do tới lui trong đó. Nhà, Tinh xá Tỳ-kheo-ni, xóm làng, nhà lầu cũng như vậy.

Xe đồng giới: Trong đó được tự ý lấy hay di chuyển. Khác giới:

Trong đó không được tự ý lấy hay di chuyển.

Thuyền cũng như vậy.

Khoảng đất rộng đồng giới: Là chỗ sân phơi lúa, được tự ý lấy. Khác giới là không được tự ý lấy.

Nơi gốc cây đồng giới: Chỗ có bóng mát che. Khác giới là chỗ không có bóng mát che.

Đất trống đồng giới: Là chỗ ngồi kiết già cách trước mặt bảy thước. Khác giới là ngoài bảy thước.

Trên đường đi đồng giới: Là cách thân hình bảy cung. Khác giới là ngoài bảy cung, cho đến tướng mặt trời có mặt, khi ấy Tỳ-kheo trở về tới giới, cho đến một chân vào trong giới cũng không mất y. Hoặc là miệng tự nói: Tôi xả y đó, cũng không mất y. Nếu không nói xả, khi tướng mặt trời có mặt thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Ngoài ba y của Tỳ-kheo, những thứ y thọ dụng khác, mà xa lìa để ngủ ban đêm thì phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thứcxoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ hai

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo y đã đủ, y Cahi-na đã xả, lại được y phi thời, các Tỳ-kheo tự thấy xấu hổ nói: Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận y phi thời. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các thầy có nhận được y phi thời mà tự xấu hổ nói: Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận y phi thời, phải vậy không? Các Tỳ-kheo trả lời: Bạch Thế Tôn thật vậy. Đức Phật bằng nhiều cách khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay cho phép nhận y phi thời. Khi ấy Lục quần Tỳ-kheo nảy sinh ý nghĩ: Đức Thế Tôn đã cho phép nhận y phi thời, chúng ta có thể tha hồ thọ nhận. Nhận nhiều song họ không thọ trì, không cho người, cũng không tịnh thí. Các Tỳ-kheo thấy vậy hỏi: Các thầy không nghe Đức Thế Tôn chế cấm không được chứa y dư hay sao? Họ trả lời: Tuy Đức Phật chế cấm chứa y dư, nhưng cho phép nhận y phi thời. Các Tỳ-kheo hỏi: Có phải bất cứ lúc nào các thầy cũng chứa y phi thời, lại không thọ trì, không cho người, không tịnh ví như thế hay sao? Họ trả lời: Đúng như vậy. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi hình thức quở trách, trình lên Đức

Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn có thật như vậy, Lục quần thưa. Đức Phật bằng lời lẽ nghiêm khắc quở trách: Các ông là kẻ ngu si. Không nên ham cầu xin quá nhiều như thế. Đối với pháp của ngoại đạo, người nhận, nhận mấy cũng không chán, kẻ cho lại so lường tính toán. Trong chánh pháp của Ta thì thiểu dục, tri túc, người thí tuy tích cực rộng rãi, nhưng kẻ nhận chỉ nhận ít mà thôi. Quở trách rồi, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Nếu Tỳ-kheo nào nhận được y phi thời, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, cho đến một đêm phạm Đột-kiết-la”.

Khi ấy, có một trú xứ nọ, các Tỳ-kheo nhận được nhiều y, thọ trì, cho người, tịnh thí, còn dư một khúc vải, cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không nhận, nói: Đức Phật không cho phép chúng tôi nhận vải không đủ may y. Tỳ-kheo cho vải lại nói: Cứ nhận đi, cần đủ vải thì sẽ đủ ngay. Có Trưởng lão Già-tỳ nhận được miếng vải vừa hẹp vừa ngắn, hằng ngày cứ kéo ra, hy vọng miếng vải dài rộng hơn trước. Thường lệ, cứ mỗi năm ngày, Đức Phật đi xem xét các phòng, thấy Già-tỳ kéo vải, hỏi: Thầy làm gì vậy? Già-tỳ thưa: Con nhận được miếng vải nhỏ này, không thọ trì được. Đức Phật hỏi: Thầy có hy vọng nhận được chỗ nào nữa không? Thưa có, Già-tỳ đáp. Đức Phật lại hỏi: Thời gian lâu mau nữa sẽ nhận được? Già-tỳ đáp: Trong vòng một tháng. Nhân việc này, Đức Phật bằng nhiều cách khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép chứa y phi thời, nếu không đủ, chờ cho đủ trong vòng một tháng”.

Đức Phật đã cho phép chứa vải phi thời mà không đủ may y, các Tỳ-kheo lại mang vải này du hành quá một tháng. Các Tỳ-kheo thấy vậy hỏi: Đức Phật không cho phép chứa vải phi thời, không đủ may y quá một tháng, tại sao các thầy lại mang nó du hành quá một tháng? Sau khi bằng mọi cách quở trách, các Tỳ-kheo cũng đưa đến chỗ Đức Phật, trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳkheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ba y đã đủ, y Cahi-na đã xả, lại được vải phi thời, cần thì nhận, nhận rồi phải sớm thọ trì, đủ thì tốt, nếu không đủ thì chờ đợi có chỗ cho thêm đủ để may, cho đến một tháng, nếu quá phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Y phi thời: Y nhận được sau khi xả y Ca-hi-na, đều gọi là y phi thời.

Cần: Trong ba y có cái cũ rách cần để bổ sung.

Hy vọng có chỗ nhận được: Có nơi nào đó, hy vọng họ sẽ cho.

Nhận được từ một ngày cho đến một tháng: Nếu Tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được vải mà không đủ may y, ngay trong ngày lại nhận được đủ vải như ước muốn phải may thành y để thọ trì, hoặc cho người hay tịnh thí, nếu không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, đến ngày mười một khi tướng mặt trời xuất hiện, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dậtđề. Ngày thứ hai cho đến mười ngày cũng vậy. Ngày thứ mười một có hy vọng, nếu nhận được thì nội nhật nên may thành y, để thọ trì, hoặc cho người hay tịnh thí, đến ngày mười hai, khi tướng mặt trời xuất hiện phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Cho đến ngày ba mươi cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ ba

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc này, nơi ấp Ưu-thiện-na có một thiếu niên cư sĩ trên đường du lịch vui chơi gặp một người con gái tên là Liên Hoa-sắc, sắc đẹp như hoa đào, tướng nữ trọn vẹn. Đã nặng tình kính yêu tương hợp, người thiếu niên ấy cưới cô ta làm vợ. Sau một thời gian ngắn người vợ có thai. Gần đến ngày sinh, cô ta về lại nhà cha mẹ, và sinh được một đứa con gái. Vì người vợ ở cữ nên người chồng không thể gần gũi được. Anh ta lại vụng trộm tư thông với mẹ của cô. Liên Hoa-sắc biết được muốn vất bỏ tất cả, cắt đứt đạo vợ chồng nhưng lại sợ liên lụy đến cha mẹ, hơn nữa vì thương con nên phải ôm sầu, nuốt hận chịu tủi nhục để nuôi con. Liên Hoa-sắc về lại nhà chồng nuôi đứa con gái của mình lên tám tuổi, sau đó mới bỏ nhà ra đi, đến thành Bala-nại, đói khát mệt lả người, cô ta ngồi nghỉ bên mé nước. Trong khi ấy, có ông Trưởng giả nọ đi du ngoạn vừa thấy cô ta đã đem lòng yêu mến sâu nặng liền ngỏ lời hỏi han: Cha mẹ, dòng họ của cô ở đâu? Hiện nay cô có bị ai ràng buộc không, hay còn độc thân? Liên Hoa-sắc trả lời: Tôi là đứa con gái thuộc dòng họ ___ nay tôi không thuộc sở hữu của ai. Ông Trưởng giả lại ngỏ lời: Nếu không thuộc sở hữu của ai thì có thể vì tôi làm chánh thất được không? Liên Hoa-sắc nói: Người con gái lấy chồng tại sao không được! Ông Trưởng giả liền đưa cô ta lên xe trở về nhà rồi phong làm vợ cả. Liên Hoa-sắc giải quyết sắp đặt chu toàn mọi việc trong nhà. Từ lớn đến nhỏ, hòa thuận sung túc, vợ chồng tương kính nặng nghĩa lẫn nhau. Sau tám năm, bấy giờ ông Trưởng giả nói với người vợ: Tôi có đầu tư vốn tại ấp Ưu-thiện-na, kiểm tra số nợ lãi tám năm qua theo sổ sách, kế toán cho đến nay lãi sinh từ số vốn ấy, lên đến số cả ức. Hôm nay tôi muốn đến đó thu nợ lãi về, chúng ta tạm thời xa nhau. Người vợ nói: Phong tục tại ấp đó người nữ thích phóng dật, anh đến đó coi chừng sẽ bị mất tiết tháo của người trượng phu. Của cải như phấn thổ sao lại quá bận lòng tính toán làm chi! Người chồng trả lời: Tôi tuy biết rõ nhược điểm của mình nhưng không đến nỗi bị điều đó mê loạn. Người vợ lại nói: Nếu anh tự quyết định cần phải đi thì nên suy nghĩ và cho em nghe được một lời thề. Người chồng nói: Tốt lắm, anh thề: “Nếu anh có khởi tâm làm điều đó, thì khi anh trở về, lúc về cửa ngõ anh sẽ chết với tâm tà ấy”.

Với lời thề như thế, người chồng đến ấp Ưu-thiện-na. Anh ta thu tiền lãi nhiều nơi nên trải qua thời gian cả năm. Xa nhà càng lâu ngày, nhớ nhà càng gấp bội, lòng sinh nọ kia, nảy ra ý nghĩ: Ta nên giải quyết thế nào để khỏi trái với lời thề trước mà vẫn thỏa tình hiện nay! Trưởng giả lại nghĩ: Nếu ta tà dâm thì trái với lời thề trước vợ, thôi thì tạo một nhà riêng là xong chuyện, khỏi trái với lời thề. Trong khi trao đổi, dò la, ông Trưởng giả gặp một người con gái dung nhan tao nhã, dịu dàng, toát lên một vẻ đoan chính. Ông yêu thương cô ta một cách say đắm, liền tìm đến cầu hôn. Cha người con gái thấy ông Trưởng giả tiền tài sung túc, giàu có vô cùng, nên hoan hỷ nhận lời gả con. Thu nợ xong, ông Trưởng giả cùng với người vợ mới cưới trở về bổn xứ, đến ở yên nơi một tổ ấm riêng, sau đấy ông mới trở về nhà cũ. Từ đó, ông Trưởng giả sáng đi chiều về, khác hẳn với ngày trước. Liên Hoa-sắc ngạc nhiên, âm thầm hỏi người tùy tùng, người ấy nói: Ngoài ấy có một thiếu phụ nên mới đi như vậy. Chiều hôm đó, người chồng về, Liên Hoa-sắc hỏi: Anh có người hầu tại sao giấu em, không cho em thấy? Ông Trưởng giả nói: Sợ em biết sẽ hận anh, nên phải giấu ngoài ấy. Người vợ nói: Em không ghen ghét, hiềm khích đâu, thần minh chứng giám cho em điều đó, anh nên gọi cô ấy về để cùng em lo liệu việc nhà. Ông Trưởng giả bèn đưa người ấy về và người đó chính là con gái của Liên Hoa-sắc. Mẹ con gặp nhau mà không hề hay biết. Thời gian sau, nhân lúc gội đầu, để ý nhìn kỹ tướng mạo, Liên Hoa-sắc mới nghi là con gái của mình, bà ta khéo léo hỏi rõ về làng xã, cha mẹ, tộc tánh của thiếu phụ và thiếu phụ đã trả lời cặn kẽ. Thế là vỡ lẽ! Liên Hoa-sắc kinh hoàng nói: Xưa kia mẹ và con đồng một chồng! Nay con và mẹ cùng một chàng rể! Sinh tử mê loạn cho đến nỗi này ư?! Nếu không đoạn ái dục, xuất gia học đạo thì sự điên đảo mê hoặc này làm sao chấm dứt được?! Liên Hoa-sắc liền vất bỏ tất cả ra đi và đến được cửa Kỳ-hoàn, đói khát mệt lả, ngồi tựa vào gốc cây.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ngồi giữa một rừng người vây quanh để nghe Ngài thuyết pháp. Liên Hoa-sắc thấy hàng hàng lớp lớp người tấp nập ra vào tới lui, nghĩ là tiết hội chắc có thức ăn, bèn vào trong Tinh xá, thấy Đức Thế Tôn đang vì mọi hạng người giảng nói pháp. Liên Hoa-sắc nghe pháp, lãnh hội được vấn đề, sự đói khát từ đó được xua tan. Ngay lúc ấy, Đức Thế Tôn quan sát khắp chúng hội xem ai có thể độ được. Ngài thấy rõ chỉ có Liên Hoa-sắc là người sẽ đắc được đạo quả, nên liền nói pháp bốn chân đế: Khổ, tập, tận, đạo. Từ nơi chỗ ngồi Liên Hoa-sắc liền rũ sạch mọi trần cấu, đạt được mắt pháp trong sạch. Khi đắc quả rồi, Liên Hoa-sắc một lòng chấp tay hướng đến Đức Phật. Đức Phật giảng nói pháp xong, chúng hội đều ra về. Liên Hoa-sắc đến trước Đức Phật, kính lễ sát chân, quỳ gối, chấp tay bạch Phật: Con nguyện xin được xuất gia trong chánh pháp của Đức Phật. Đức Phật liền chấp thuận, rồi bảo Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề: Này Tỳ-kheo-ni nên độ người nữ ấy thực hành đạo. Ma-ha-ba-xà-ba-đề thọ giáo, liền độ cho xuất gia thọ giới. Liên Hoa-sắc siêng năng tinh tấn hành đạo, nên dẫn đến thành bậc A-la-hán, nhờ vui thú trong các cảnh thiền giải thoát, nên dung nhan, tướng mạo càng sáng rực bội phần so với trước.

Đến giờ, Liên Hoa-sắc mang bát vào thành khất thực. Một người Bà-la-môn trông thấy liền mê đắm sắc đẹp của Liên Hoa-sắc nên nảy sinh ý nghĩ: Đây là Tỳ-kheo-ni, ta không thể chiếm đoạt, chỉ có một cách là tìm đến chỗ ở rồi tạo phương tiện để hành sự. Liên Hoa-sắc khất thực xong trở về nơi vườn An-đà, rồi đi vào trú phòng. Người Bà-lamôn kia theo quan sát, biết được chỗ ở của Liên Hoa-sắc. Hôm sau, khi đến giờ khất thực, vắng người, từ phía sau ông ta đột nhập vào phòng Tỳ-kheo-ni Liên Hoa-sắc nằm dưới gầm giường. Suốt ngày ấy, các Tỳkheo-ni nghe xong thời thuyết pháp thì trời đã tối. Về đến phòng, vì mệt mỏi nên nằm xuống ngủ say. Ngay lúc ấy, người Bà-la-môn từ dưới gầm giường bò ra làm hạnh bất tịnh. Tỳ-kheo-ni liền thức dậy rồi vụt bay lên hư không. Lúc đó, người Bà-la-môn từ ngay trên giường đọa thẳng vào địa ngục. Liên Hoa-sắc nhân đó bay đến chỗ Đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân rồi bạch Phật vấn đề vừa xảy ra. Đức Phật hỏi: Ngay lúc ấy tâm con thế nào? Liên Hoa-sắc thưa: Lúc ấy như lưới sắt đốt nóng đỏ rực áp vào thân con. Đức Phật dạy: Như thế là vô tội. Liên Hoa-sắc lại bạch Phật: Ngủ một mình có phạm tội hay không? Đức Phật dạy: Người đắc đạo thì không phạm.

Bấy giờ, có đám giặc tập trung lại cùng nhau bàn luận: Vật dụng chúng ta thu được nên phân chia nơi nào đó để dễ dàng có thức ăn ngon lại được gái đẹp. Chúng đều nói: Nơi vườn An-đà này là trú xứ của Tỳkheo-ni, chắc chắn có sắc đẹp và cũng sẽ có nhiều thức ăn ngon cung cấp, ta đến đó phân chia vật dụng đương nhiên sẽ được như ý muốn. Trong khi ấy, tên cầm đầu đám giặc lại có lòng tin kính Phật pháp, nghe nói như vậy, lấy làm lo lắng, ông ta trong ý nghĩ hình dung mọi việc: Người này chắc sẽ đến gây náo loạn các Tỳ-kheo-ni. Ta nên âm thầm cho người đến báo trước. Ông ấy liền sai người đến nói với Tỳ-kheo-ni: Tối nay sẽ có đám người ác đến đấy khủng bố ắt sẽ xảy ra não loạn, để được an lành chư ni nên đi tránh. Các Tỳ-kheo-ni nghe vậy vội vã vào trong thành Xá-vệ. Vị Đại thần coi thành này trước đây có dành riêng một ngôi nhà cho Tỳ-kheo Tăng, nhưng hôm đó không có Tăng ở, các Tỳ-kheo-ni xế chiều đến đấy, và đêm trú ngụ tại ngôi nhà ấy. Tối lại đám giặc đến vườn An-đà tuyệt nhiên không tìm thấy một ai. Vị chủ tướng của đám giặc với ý nghĩ vui mừng: Chư Tỳ-kheo-ni đã thoát được cảnh hoạn nạn sỉ nhục, không gì vui bằng! Ông ta lấy một tấm vải rất tốt, gói đầy đủ đồ ăn thức uống thơm ngon rồi treo trên nhánh cây với tâm niệm: Nếu Tỳ-kheo-ni nào đắc đạo thần thông thì đến lấy thức ăn nơi gói này. Cảm ứng được, Tỳ-kheo-ni Liên Hoa-sắc nhanh như cánh tay co duỗi của một lực sĩ, từ thành Xá-vệ đến vườn An-đà lấy thức ăn trên nhánh cây. Sáng hôm sau tới giờ ăn, thay vì đem ăn, Liên Hoa-sắc thiết dọn sẵn sàng để cúng dường Trưởng lão Ưu-ba-tư-na và Bạt-nanđà. Đến giờ thọ thực, hai vị tới và thọ dụng từng món ăn ấy. Ăn xong hai vị rửa tay rồi tiếp nhận nước uống. Liên Hoa-sắc, trước chúng ngồi trên chiếc ghế nhỏ thỉnh cầu hai vị nói pháp diệu. Sau khi Ưu-ba-tư-na vì họ thuyết pháp xong liền đứng dậy cáo từ ra về. Bạt-nan-đà ở lại, hỏi Liên Hoa-sắc: Sư cô được thức ăn ngon ấy từ đâu? Liên Hoa-sắc trình bày đầy đủ sự việc. Bạt-nan-đà nói: Có thể cho tôi xem tấm vải ấy được không? Cô vội đem vải cho Bạt-nan-đà xem. Bạt-nan-đà thấy tấm vải đẹp lòng tham nổi dậy, muốn chiếm giữ nên nài nỉ theo xin. Liên Hoa-sắc nói: Điều này không thể được. Tại sao? Người nữ phước mỏng nên phải cất năm y. Bạt-nan-đà nói: Như người đem voi ngựa bố thí mà lại không cho dây cương, sư cô cũng như vậy. Tại sao cúng dường thức ăn ngon được mà lại tiếc tấm vải không cho? Bạt-nan-đà bằng tài ăn nói tìm mọi cách nài nỉ thuyết phục xin cho kỳ được. Bất đắc dĩ Liên Hoa-sắc phải trao cho. Bạt-nan-đà được tấm vải rồi về lại trú xứ. Các Tỳ-kheo thấy tấm vải đẹp nói: Thầy là người phước đức nên mới được tấm vải tốt ấy. Bạt-nan-đà nói: Tôi đâu có phước đức gì, tôi năn nỉ Tỳkheo-ni muốn gãy lưỡi mới được đấy. Các Tỳ-kheo nghe thế bằng mọi cách mọi cách quở trách: Tại sao thầy lại cưỡng bức bằng lời nói để đoạt vải của Tỳ-kheo-ni!

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lo ngại bốn chúng tới lui ồn ào nên bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta muốn vào tĩnh thất ba tháng, không cho ai đến chỗ ta đang trú, chỉ trừ Tỳ-kheo đem cơm. Các thầy nên lập quy chế. Vâng lời Phật dạy các Tỳ-kheo lập định chế: Từ nay không ai được đến chỗ Phật ở, chỉ trừ Tỳ-kheo đem cơm. Nếu người nào vi phạm, phạm Badật-đề. Trong khi ấy, Trưởng lão Ưu-ba-tư-na không nghe quy chế của Tăng, sau khi đến thành Xá-vệ hỏi Tỳ-kheo khác để biết Đức Phật ở phòng nào. Theo chỉ dẫn của Tỳ-kheo này, Ưu-ba-tư-na đến trước cửa phòng Phật đưa tay gõ cửa. Đức Phật mở cửa. Ưu-ba-tư-na kính lễ sát chân Phật rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật hỏi Ưu-ba-tư-na: Chúng của thầy rất mực oai nghi thanh tịnh, thầy giáo hóa cách nào mà được như vậy? Trưởng lão thưa: Nếu có người nào đến con cầu xin xuất gia, con dạy họ mười hai hạnh Đầu đà. Con bảo: Phải trọn đời làm Tỳ-kheo ở A-lan-nhã, khất thực, nhất tọa thực, nhất chủng thực, nhất thọ thực, tuần tự khất thực, ở nơi gò mả, mặc y phấn tảo, ba y, phu tọa tùy thân, ngồi bên gốc cây, ngồi chỗ đất trống. Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu người nào nói trọn đời có thể phụng hành pháp này thì được nhập vào chúng của con, con làm thầy họ. Đức Phật khen: Hay lắm! Hay lắm! Như vậy thầy có thể gọi là hạng người khéo giáo dục đồ chúng. Đức Phật lại hỏi: Thầy biết chúng Tăng này có quy chế hay không? Vị ấy thưa: Con không biết. Tại sao vậy? Con từng nghe Phật dạy: Những gì Phật chưa chế không được tự ý chế, những gì Phật đã chế nên phụng hành. Đức Phật thuật lại đầy đủ quy chế trên. Vị ấy thưa: Con không tùy theo quy chế của Tăng mà sám hối tội Ba-dật-đề được. Đức Phật dạy: Hay lắm, thầy nhận xét như thế là đúng! Khi đó, Tỳ-kheo cựu trú đứng ở trước phòng, chờ Ưu-ba-tư-na đi ra để nói: Thầy phạm quy chế của Tăng, nên tác pháp sám Ba-dật-đề. Vị ấy trả lời: Tôi phạm Ba-dật-đề nào? Các Tỳ-kheo trình bày đầy đủ các quy chế trên. Vị ấy trả lời: Tôi không thể dựa theo quy chế của Tăng để sám hối được. Tại sao? Chính tôi nghe Phật dạy: Nếu Phật không chế thì Tăng không được chế. Nếu Phật chế rồi thì Tăng không được trái phạm. Lúc ấy, Đức Phật đích thân ra nói với các Tỳ-kheo: Từ nay nếu có Tỳ-kheo A-lan-nhã nào như Ưuba-tư-na thì cho phép đến chỗ ta. Các Tỳ-kheo nghe rồi lại có ý nghĩ: Chúng ta nên phụng hành hạnh Đầu đà để được đến chỗ Đức Thế Tôn.

Quý vị đều đua nhau tu khổ hạnh. Bấy giờ, các Cư sĩ lập nên các phòng xá cúng dường, không có vị nào nhận. Tỳ-kheo đem vấn đề ấy bạch Phật, Đức Phật dạy các Tỳ-kheo: Nay cho phép bốn chúng được tự do đến thăm ta. Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề nghe Đức Phật dạy như vậy, liền cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni lên đường đến thăm Đức Phật, trên đường đi gặp Ưu-ba-tư-na. Trong chúng của Ưu-ba-tư-na có một Tỳ-kheo mặc y thô rách, Ba-xà-ba-đề hỏi: Tại sao Trưởng lão mặc chiếc y như vậy? Vị ấy trả lời: Vì không có chiếc nào khác! Tỳ-kheo-ni lại chỉ vào chiếc y của mình mà nói: Thầy có thể mặc y này không? Trưởng lão đáp: Có thể. Lại hỏi: Trưởng lão có thể cho con chiếc y đang mặc không? Có thể. Hai bên liền trao đổi y. Khi đến trước Đức Phật, Tỳ-kheo-ni đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật hỏi Cù-đàm-di: Tại sao cô mặc chiếc y rách rưới như thế? Cù-đàm-di trình bày sự việc vừa xảy ra. Đức Phật giảng nói pháp cho Cù-đàm-di nghe rồi, bảo về lại trú xứ. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự ông có đổi chiếc y thô xấu rách rưới của ông để lấy chiếc y tốt của Tỳ-kheo-ni không? Bạch Đức Thế Tôn! Có thật như vậy. Đức Phật nghiêm khắc quở trách: Ông là người ngu si, nhiều ham muốn. Các Tỳkheo nhân việc này, đem việc của Bạt-nan-đà ra bạch Phật. Đức Phật hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có thật như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào nhận lấy y từ Tỳ-kheo-ni, phạm Ni-tát-kỳ-badật-đề”.

Một số Tỳ-kheo có bà con là Tỳ-kheo-ni và nhiều người quen biết, có thể từ các người này nhận được y vật. Thấy các Tỳ-kheo mặc y xấu rách, các Tỳ-kheo-ni bà con hỏi: Tại sao thầy mặc y xấu rách thế? Tỳ-kheo nói: Không có người nào để xin. Các Tỳ-kheo-ni nói: Sao không đến để nhận! Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật cấm không cho đến các Tỳ-kheo-ni nhận y. Các Tỳ-kheo-ni nói: Trong phạm vi bà con thì biết điều nên cho và nên nhận, xin thầy bạch Phật việc này. Các Tỳ-kheo liền bạch Phật, nhân việc ấy Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng nhiều cách khen ngợi người thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến Tỳ-kheo-ni không phải bà con nhận y, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dậtđề”.

Bấy giờ, tại thành Xá-vệ, Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni nhận được y cúng dường, cùng nhau phân chia. Vì có Tỳ-kheo nhận lầm y của Tỳ-kheo-ni, hay ngược lại. Các Tỳ-kheo-ni thưa với các Tỳ-kheo: Cho chúng con đổi y. Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật không cho chúng tôi nhận y từ Tỳ-kheo-ni không phải bà con. Các Tỳ-kheo-ni thưa: Dùng y đổi y tại sao nói là nhận y? Quý vị bèn đến bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng nhiều cách khen ngợi người ít ham muốn, biết vừa đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào nhận y từ Tỳ-kheo-ni không phải bà con, trừ trao đổi, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Chẳng phải bà con: Không liên hệ bên cha hay bên mẹ trong phạm vi bảy đời. Trao đổi: Hai bên đều có ích, lại tùy theo sở thích của mỗi người. Nhận y từ Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiếtla. Nếu người bà con phạm giới, có tà kiến mà nhận y nơi họ, phạm Đột-kiết-la. Sa-di nhận y của Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, nhận y phạm Đột-kiết-la. Nếu không có tâm tìm cầu, họ tự bố thí, hay biết người kia dư mà nhận thì không phạm.

Xong giới thứ tư

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà, trời vừa sáng đã mặc y bưng bát đến nơi chỗ ở của Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà. Cách ngồi xuống hớ hênh của cô ni đã để lộ hình. Bạt-nan-đà nhìn thấy không kìm chế nổi, xuất bất tịnh. Tỳ-kheo-ni biết, nói: Trưởng lão thay y cho tôi giặt. Bạt-nan-đà trao y đã thay cho cô ni. Cô ta nhận y dính nhớp bất tịnh, cô lấy thứ bất tịnh ấy đặt vào âm hộ của mình.

Lại có các Tỳ-kheo khác cũng đưa y cho các Tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, đập. Một khi các Tỳ-kheo-ni phải bận rộn với công việc như thế nên việc đọc tụng, tọa thiền, hành đạo… bị xao lãng, bỏ phế. Các bạch y thấy thế, lại lắm lời chê trách, mỉa mai: Các Tỳ-kheo-ni lấy việc giặt, nhuộm, đập y làm sự nghiệp, người tu hành với kẻ tại gia đâu có khác gì?! Vào dịp ấy, Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đến chỗ ở Đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Ngài, rồi ngồi qua một bên. Đức Phật hỏi Cù-đàm-di: Tại sao tay chân của các Tỳ-kheo-ni lại dính đầy sắc màu nhuộm? Chư ni bạch Phật đầy đủ vấn đề các Tỳ-kheo sai giặt, nhuộm. Đức Phật vì họ giảng nói pháp diệu xong, họ về lại trú xứ. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các thầy có sai các Tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, đập y hay không? Bạch Đức Thế Tôn! có thật như vậy. Nhân việc ấy, các Tỳ-kheo đem việc của Bạt-nan-đà bạch Phật. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào sai Tỳ-kheo-ni giặt y cũ hoặc nhuộm, hoặc đập, phạm Ni kỳ Ba-dật-đề”.

Nhân có các Tỳ-kheo già, bệnh, không thể tự giặt, nhuộm hay đập y của mình được, các Tỳ-kheo-ni bà con có khả năng làm được công việc này, với ý muốn giúp đỡ đến xin nhận làm thay. Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật không cho phép chúng tôi sai Tỳ-kheo-ni giặt nhuộm hay đập y. Các Tỳ-kheo-ni nói: Trong phạm vi bà con mới biết được việc làm nên hay không nên, xin thầy bạch Phật cho điều đó. Các Tỳ-kheo liền bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen hạnh thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào sai Tỳ-kheo-ni không phải bà con giặt y cũ hoặc nhuộm, hoặc đập, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Y cũ: Là y đã mặc, có nhơ nhớp, bảo giặt giũ mà không nhuộm, không đập; hoặc bảo nhuộm mà không giặt, không đập; hoặc bảo đập mà không giặt, không nhuộm; hoặc bảo giặt nhuộm mà không đập; hoặc bảo giặt đập mà không nhuộm; hoặc khiến nhuộm mà không giặt; hoặc khiến giặt nhuộm, đập đều phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Nếu bảo giặt, không giặt mà nhuộm; hoặc khiến giặt, không giặt mà đập; hoặc bảo giặt, không giặt mà nhuộm đập, đều phạm Đột-kiết-la. Khiến nhuộm không nhuộm mà giặt, mà đập, mà giặt đập. Khiến đập không đập mà giặt mà nhuộm. Khiến giặt nhuộm, không giặt nhuộm mà đập. Khiến giặt đập không giặt đập mà nhuộm. Khiến nhuộm đập không nhuộm đập mà giặt, cũng như vậy. Nếu khiến chẳng phải bà con giặt, nhuộm, đập, mà bà con giặt, nhuộm, đập. Nếu khiến chẳng phải bà con giặt, nhuộm, đập mà bà con, chẳng phải bà con cùng giặt, nhuộm, đập. Nếu khiến bà con, chẳng phải bà con cùng giặt, nhuộm, đập mà bà con giặt, nhuộm, đập. Nếu khiến bà con, chẳng phải bà con cùng giặt, nhuộm, đập, mà chẳng phải bà con giặt, nhuộm, đập. Nếu khiến bà con, chẳng phải bà con cùng giặt, nhuộm, đập mà bà con, chẳng phải bà con cùng giặt, nhuộm, đập, đều phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Nếu y chưa có thể giặt, nhuộm, đập, mà khiến chẳng phải bà con giặt, nhuộm, đập, phạm Đột-kiết-la. Nếu khiến bà con giặt nhuộm đập mà chẳng phải bà con giặt, nhuộm, đập thì không phạm. Ngoài ra như trong giới nhận y đã nói.

Xong giới thứ năm

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, trong thành có ông Trưởng giả thích mặc loại áo sang trọng. Ông ta rất mực tin yêu Phật pháp, thường đến chỗ Phật nghe pháp. Hôm nọ, ông Trưởng giả mặc trong, ngoài hai sắc áo tốt cùng với các vị khách và tùy tùng ra khỏi thành, đến viếng thăm Đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo. Đức Phật vì họ giảng nói pháp. Họ rất vui mừng vì đã nghe Phật chỉ dạy những điều lợi ích. Họ đảnh lễ ra về, ngay lúc ấy gặp Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà lại vì họ nói pháp. Trước khi ra về, họ nói: Mời Trưởng lão ngày mai đến thọ bữa cơm đạm bạc. Bạt-nan-đà nói: Tôi không thiếu ăn, mà lại bị khổ vì thiếu mặc. Trưởng giả có thể cho bớt tôi chiếc áo hiện ông đang mặc hay không? Ông Trưởng giả nói: Sẽ cho nhưng không thể cho liền được, về nhà tôi sẽ tính sau. Bạt-nan-đà nói: Tôi nghe Trưởng giả ưa làm việc bố thí, tại sao đối với riêng tôi lại hờ hững như thế? Bạt-nan-đà nói tiếp: Tôi nói pháp khiến ông có thể xa lìa sinh, lão, bệnh, tử, ưu bi khổ não, để làm công việc cứu độ nên xả bỏ tất cả không mưu cầu gì cho chính bản thân. Tại sao nay ông lại keo kiệt đối với chiếc áo này? Nghe phải, ông Trưởng giả liền cởi áo cho. Khi về đến cửa thành, người giữ cửa hỏi: Ra đi ông mặc hai lớp áo, khi trở về thì nhẹ nhàng, vì người đẹp mà cởi áo cho hay bị ai đó tước đoạt? Ông Trưởng giả nói: Tôi không cho người nữ, cũng không bị ai cướp, mà lại bị Sa-môn Thích tử cưỡng bức xin, nên tôi phải cho. Người giữ cửa nói: Ông đừng nói như vậy! Tôi nghe Sa-môn Thích tử ít ham muốn, biết vừa đủ, có người cho còn không nhận huống là nay lại cưỡng bức xin vật của người? Ông trưởng giả kể lại việc đã xảy ra cho người giữ cửa nghe. Đối với những người không có lòng tin ưa Phật pháp, nghe thế, lớn tiếng miệt thị: Đây chính là cướp đoạt. Những ai gần gũi họ cũng sẽ bị trấn lột như thế. Đích thị Sa-môn Thích tử thường khen việc bố thí, chê việc không cho mà lấy, nay cưỡng đoạt y vật của người thì đâu khác gì đám cướp? Ông Trưởng giả về đến nhà, người trong nhà hỏi, ông Trưởng giả cũng phân trần như trên.

Sự việc này lọt đến tai các Tỳ-kheo Trưởng lão. Bằng mọi cách, các vị quở trách xong cùng đưa đến chỗ Đức Phật và bạch lên Ngài sự việc trên. Nhân việc ấy Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nanđà: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật nghiêm khắc quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ xin y, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dậtđề”.

Lúc này, có các Tỳ-kheo mặc y thô xấu rách rưới, các người bà con thấy vậy hỏi: Tại sao thầy lại mặc y vứt đi như thế? Hãy đến nơi con lấy y khác. Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật không cho chúng tôi đến chỗ cư sĩ hay vợ Cư sĩ xin y. Nếu đem y cúng cho Tăng, tôi sẽ nhận từ Tăng thì được. Các người bà con nói: Con chỉ muốn cúng cho thầy, chứ không muốn cúng cho Tăng, vì sợ vị khác nhận được. Các Tỳ-kheo nói: Nếu Đức Phật cho phép chúng tôi đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ bà con xin y thì chúng tôi đâu có mặc y xấu rách thế này! Các người bà con thưa: Trong chỗ bà con với nhau thì biết lúc nào nên nhận và không nên nhận, xin thầy bạch lên Đức Phật điều ấy. Các Tỳ-kheo liền bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải bà con xin y, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Bấy giờ, có nhiều chúng Tỳ-kheo đi theo đoàn khách buôn, lạc đường, bị đám cướp cướp đoạt sạch, cứ để mình trần thân trụi đến thành Xá-vệ. Người đi đường thấy hỏi: Ông là người nào? Trả lời: Tôi là Samôn Thích tử. Lại hỏi: Y bát của ông đâu? Lại trả lời: Bị đám cướp cướp sạch cả rồi. Khi đến Kỳ-hoàn, các Tỳ-kheo hỏi đáp với nhau cũng như vậy. Lại hỏi: Nếu ông là Tỳ-kheo thì thọ giới, Bố-tát, Tự tứ phải như thế nào? Lại trả lời: Thọ giới như vậy! Bố-tát như vậy! Tự tứ như vậy! Các Tỳ-kheo hỏi rồi vẫn không đưa y cho mặc. Quý vị đến chỗ Phật ở. Đức Phật quở trách: Tại sao các ông lõa hình đến thăm Như Lai! Các ông đâu không thể lấy lá cây hay cỏ che thân lại được hay sao! Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Từ nay lõa hình đến trước Như Lai, phạm Độtkiết-la. Các Tỳ-kheo bạch Phật: Ngài không cho phép chúng con đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ chẳng phải bà con xin y, trong khi đó, bà con của chúng con ở cách đây rất xa thì làm sao có y được! Đức Phật hỏi: Các thầy đã đến nơi ở của Tỳ-kheo cựu trú chưa? Thưa, chúng con đã đến rồi. Tại sao họ không đưa y cho các thầy? Thưa, các thầy ấy vừa thấy chúng con, liền hỏi: Thọ giới thế nào? Bố-tát thế nào? Tự tứ thế nào? Tuy chúng con trả lời như pháp mà vẫn không thấy các thầy ấy đưa cho y để mặc. Đức Phật chuyển lời quở trách các Tỳ-kheo cựu trú: Tại sao chính mắt trông thấy Tỳ-kheo lõa hình mà không trợ cấp gấp! Đối với Tỳ-kheo mất y, Ngài khen hạnh ít ham muốn, biết vừa đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải bà con xin y, trừ có nhân duyên, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Có nhân duyên là: Y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi, y bị rách. Như vậy gọi là có nhân duyên.

Nếu y bị đoạt cho đến y bị hư hoại nhưng vốn có y khác và có y để chỗ khác thì không được xin. Tỳ-kheo-ni cũng y theo như vậy. Thứcxoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ sáu

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, nhiều chúng Tỳ-kheo từ nơi ấp Ba-lợi đi đến chỗ Đức Phật, gặp đám cướp cướp mất y, cùng nhau nói: Có tới năm nhân duyên được Đức Phật cho phép đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải bà con xin y. Tuy vậy, ta cũng không biết đến ai để xin bây giờ! Được cơ hội, Lục quần Tỳ-kheo lại nảy xin ra ý nghĩ: Các Tỳ-kheo bị mất y này không biết đến ai xin y, ta nên đi xin hộ cho họ, nếu có dư thì ta sẽ lấy. Với ý nghĩ đó, Lục quần liền đến đề nghị với các Tỳ-kheo mất y. Các Tỳ-kheo mất y nói: Hay lắm! Tốt lắm! Được thỏa thuận như vậy, Lục quần Tỳ-kheo đi khắp trong thành, đến các Cư sĩ hay vợ Cư sĩ nói: Các Tỳ-kheo từ ấp Ba-lợi về hầu thăm Đức Thế Tôn, không may bị đám giặc cướp mất y, quý vị có thể giảm bớt chỗ cắt may cùng nhau đem y đến cúng. Các Cư sĩ, vợ Cư sĩ mỗi người tích thiểu thành đa, được một số y phục khá lớn đem đến cúng. Mỗi vị đều đầy đủ. Các Tỳ-kheo mất y nói: Chúng tôi đủ rồi, không phiền phải xin nữa. Lục quần Tỳ-kheo nói: Các thầy có nhân duyên xin y, còn chúng tôi thì không được phép. Chúng tôi dựa vào nhân duyên của thầy mới có lý do để xin. Các Tỳ-kheo mất y nói: Điều đó tùy ý các Trưởng lão. Như thế là Lục quần Tỳ-kheo lại đi đến các nơi xin nữa, thu được số y rất nhiều. Khi ấy, các Cư sĩ họp lại cùng nêu ra ý kiến: Tỳ-kheo mất y không có bao nhiều người, trong thành chúng ta, nam nữ, lớn nhỏ đều đem y đến cúng, như vậy là quá đủ rồi, tại sao còn đến xin nữa! Phải chăng mấy ông này muốn tích trữ để mua bán trao đổi, không tu phạm hạnh? Khi các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe được, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc ấy bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? – Bạch Thế Tôn, thật sự đúng như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay, giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, bị hư hoại, đến chỗ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải bà con xin y, nếu Cư sĩ hay vợ Cư sĩ muốn đem nhiều y để cúng, Tỳ-kheo nên thọ hai y, nếu thọ quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới thì phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ bảy

Đức Phạt ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà thường tới lui một nhà Cư sĩ để nói pháp, trường hợp họ bệnh hoạn hay có việc gì, Bạt-nan-đà cũng lo liệu luôn. Có một Tỳ-kheo vào buổi sáng sớm nọ đắp y bưng bát vào thành khất thực, khi đến gia đình này, gặp lúc hai vợ chồng đang cùng nhau bàn nói: Bạt-nan-đà đối với ta là ân nhân, nên sử dụng giá tiền may y như vậy để may y cúng cho Tôn giả. Tỳ-kheo khất thực nghe như vậy rồi khi trở về nói với Bạt-nan-đà: Thầy có phước đức. Bạt-nan-đà hỏi: Có phước đức gì? Tỳ-kheo ấy đáp: Tôi vừa khất thực, đến nhà Cư sĩ đó, nghe vợ chồng họ bàn nói: Bạt-nan-đà đối với ta là ân nhân, nên dùng giá tiền như thế may y như thế để cúng cho Tôn giả. Nay thầy đến đó, chắc chắn được y không có gì trở ngại. Sáng sớm hôm sau, tới giờ khất thực, Bạt-nan-đà mặc y, bưng bát đến nhà kia. Cư sĩ vội vàng ra đón chào. Bạt-nan-đà hỏi: Phật tử dùng số tiền như thế để may y như thế cho tôi phải không? Bạch thầy đúng như vậy. Bạt-nanđà nói: Phật tử dư biết tôi không mặc y xấu chứ? Nếu may tốt thì tôi sẽ mặc. Hãy nhớ cho, lúc Phật tử có bệnh hoạn hay có việc chi tôi đều liệu lý. Nếu y không tốt thì tôi cho đệ tử hay đem cất mà thôi, như vậy vật này coi như vất đi, việc cho không có tác dụng phước đức. Bất bình, Cư sĩ kia nói với người xung quanh: Thầy này tham lam quá, ai cung cấp nổi, làm sao thỏa mãn được. Đã gấp năm, sáu lần hơn, so với chỗ phát tâm của tôi mà vẫn không thỏa lòng. Trước đây tôi có lòng tốt như vậy, nhưng nay thì không còn nữa. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe như thế, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Thật đúng như vậy, bạch Đức Thế Tôn. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, Cư sĩ hay vợ Cư sĩ chẳng phải bà con bàn luận: Nên dùng số tiền như vậy may y như vậy để cúng cho Tỳ-kheo có tên như vậy. Tỳ-kheo ấy, trước không được mời như ý muốn, bèn đến nhà Cư sĩ, vợ Cư sĩ nói: Người vì tôi dùng số tiền như vậy, may y như vậy phải không? Người ấy trả lời: Đúng như vậy. Tỳ-kheo bèn nói: Lành thay Cư sĩ, vợ Cư sĩ có thể may y như vậy cho tôi, vì muốn đẹp, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Trước không được mời như ý muốn: Nghĩa là trước không hỏi Tỳkheo muốn thứ y nào. Vì muốn đẹp: Tức là yêu cầu khiến may rất đẹp, rất tốt so với trước. Nếu đến người bà con xin y tốt, phạm Đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ tám

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bạt-nan-đà thường lui tới các gia đình. Có hai gia đình, vợ chồng cùng nhau bàn nói: Chúng ta mỗi người nên vì Tôn giả Bạt-nan-đà sử dụng số tiền may y như vậy để may y cho Tôn giả Bạt-nan-đà. Tỳ-kheo khất thực nghe, cũng lại về nói. Bạt-nanđà liền đến hỏi Cư sĩ, vợ Cư sĩ: Tôi nghe quý vị mỗi người đều vì tôi dùng số tiền như vậy để may y cho tôi phải không? Họ thưa: Thật như thế. Bạt-nan-đà nói: Quý vị có thể hiệp lại để may một y cho hết sức tốt. Nếu thật tốt thì tôi sẽ mặc, để luôn nhớ đến quý vị. Nếu không tốt thì tôi xếp bỏ vào một chỗ. Như vậy là coi như vứt đi, vật thí này không có tác dụng phước đức nữa. Khi ấy, Cư sĩ, vợ Cư sĩ đùng đùng nổi giận nói: Ông này tham lam quá, làm sao cung cấp nổi, làm sao thỏa mãn nổi. Tuy yêu cầu hiệp lại thành một cái, song so với chỗ phát tâm của chúng tôi đã nhiều gấp năm, sáu lần hơn, ấy thế cũng không thỏa lòng. Kẻ ác thế này, không đủ để tồn tại, từ nay không cho đến đây nữa. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe như thế, bằng mọi cách quở trách, rồi cùng đến chỗ Đức Phật trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Bạt-nan-đà thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật con có như vậy. Đức Phật hết sức nghiêm khắc quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Nếu không phải Cư sĩ, vợ Cư sĩ bà con cùng nhau nghị bàn: Ta sẽ cùng dùng số tiền may y như vậy, may y cho Tỳ-kheo có tên như vậy. Tỳ-kheo ấy trước không được mời, tùy ý đến nói với Cư sĩ hay vợ Cư sĩ: Quý vị dùng số tiền may y như vậy cho tôi phải không? Thí chủ nói: Đúng như thế. Tỳ-kheo bèn nói: Lành thay! Cư sĩ, vợ Cư sĩ có thể chung lại may thành một y cho tôi, vì muốn đẹp, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Tỳ-kheoni cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ chín

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, Đại thần Vương-xá nói với người dưới quyền: Ngươi đến chỗ Bạt-nan-đà, nhân danh ta đảnh lễ thăm hỏi, và đem số tiền may y này cúng cho Tôn giả. Sứ giả thừa lệnh đến chỗ Bạt-nan-đà nói: Đại thần Vương-xá thăm hỏi sức khỏe và cho tôi đem số tiền may y này cúng Đại đức, xin Đại đức nhận cho.

Bạt-nan-đà nói: Tôi không được phép nhận tiền may y này, nếu được tịnh y thì sẽ thọ trì. Sứ giả hỏi: Đại đức có người chấp sự hay không? Bạt-nan-đà liền chỉ chỗ người chấp sự. Sứ giả bèn đến chỗ người chấp sự nói: Đại thần Vương-xá cho tôi đem số tiền may y cúng cho Tôn giả Bạt-nan-đà, ông hãy vì Tôn giả mà nhận cất cho, khi nào Bạt-nan-đà đến lấy thì đưa. Sứ giả đưa tiền rồi trở lại chỗ Bạt-nan-đà nói: Đại đức chỉ chỗ người chấp sự, tôi đã đưa tiền rồi, khi nào Đại đức cần y thì đến đó lấy. Sứ giả thưa như vậy rồi trở về. Sau một thời gian, Đại thần lại sai người đến hỏi Bạt-nan-đà: Gần đây tôi có sai sứ đem tiền may y đến gởi nơi người chấp sự, Đại đức đã may mặc chiếc y đó chưa? Bạt-nan-đà nói: Tôi chưa lấy để mặc. Người kia trở về thưa lại như vậy, Đại thần đâm ra suy nghĩ: Ta thực hiện đúng cách cho y. Đã lâu rồi sao chưa lấy mặc, chắc y của ta không đáng giá, cho nên Tôn giả không đến lấy để mặc. Đại thần lại bảo người tin cậy đến nói với Bạtnan-đà: Đại thần cúng y lâu rồi, vì sao không mặc, nếu không cần thì trả lại cho Đại thần. Bạt-nan-đà trả lời: Tôi rất cần. Bạt-nan-đà liền đến chỗ của người chấp sự vào lúc phi thời, nói: Nay tôi cần y, có thể cho tôi nhận. Người chấp sự thưa: Xin Đại đức chờ một chút, nay mọi người nhóm họp, tôi phải đến tham dự, nếu không đến kịp sẽ bị phạt năm trăm kim tiền. Bạt-nan-đà nói: Đối với pháp duyên ông thường vui vẻ hết lòng, tại sao nay lại coi trọng việc thế tục. Người chấp sự nghe câu nói này đâm ra suy nghĩ: Dù có bị phạt cũng vẫn giao y cho xong sau rồi mới đến họp. Người chấp sự tất bật lo liệu có y để giao. Quá mất nhiều thời gian mới xong việc nên đến trễ. Mọi người hỏi: Tại sao anh đến trễ? Đương sự trả lời: Bạt-nan-đà đòi y, phải lo liệu để giao, nên mới đến trễ. Mọi người đều nói: Coi trọng một Tỳ-kheo mà xem nhẹ quy chế của nhiều người, theo lý, không thể tha thứ, phải nộp phạt. Đương sự bị phạt rồi, nổi giận nói: Sa-môn Thích tử tự nói có đạo lý, làm lợi ích cho mọi người mà nay ngược lại khiến cho ta bị phạt. Người không có lòng ưa Phật pháp, đồng tình nói: Ông tin kính Sa-môn để rồi đền nổi bị phạt nặng như vậy, nếu lại cứ gần gũi sẽ bị nặng hơn. Tiếng xấu ác đồn khắp cả thành Xá-vệ, lọt đến tai các Tỳ-kheo Trưởng lão, bằng mọi cách các vị ấy quở trách, rồi cùng đưa đến chỗ Đức Phật trình bày lên Ngài vấn đề. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Bạt-nan-đà thưa: Bạch Thế Tôn, có thật như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Nếu Vua hay Đại thần, Bà-la-môn, Cư sĩ vì Tỳkheo nên sai sứ giả đem tiền may y đến. Sứ giả tới chỗ Tỳ-kheo nói: Đại đức, Đại thần của Vua, Bà-la-môn, Cư sĩ đưa số tiền may y này đến đây, Đại đức nhận cho. Tỳ-kheo này nói: Tôi không được phép nhận tiền may y, nếu được y thanh tịnh thì sẽ nhận thọ trì. Sứ giả hỏi: Đại đức có người chấp sự hay không? Tỳ-kheo liền chỉ chỗ người chấp sự. Sứ giả đến chỗ người chấp sự nói: Đại thần của Vua tên đó, đưa tiền may y này đến cho Tỳ-kheo tên đó, ông vì Tỳ-kheo nên cất cho, khi Tỳ-kheo cần lấy thì đưa. Sứ giả đưa rồi trở lại chỗ Tỳ-kheo nói: Đại đức chỉ người chấp sự, tôi đã đưa tiền cho họ rồi, khi nào Đại đức cần y cứ đến đó lấy. Tỳ-kheo ấy hai lần, Ba lần đến chỗ người chấp sự nói: Tôi cần y! Tôi cần y! Nếu nhận được y thì tốt, nếu không nhận được bốn lần, năm lần, sáu lần đến trước người chấp sự đứng im lặng. Nhận được y thì tốt, nếu đến quá mức đó để cầu cho được, thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Nếu không được y, tới chỗ người sứ giả đưa tiền đến, hoặc chính mình, hoặc sai người tin cậy đến nói: Trước đây ông vì Tỳ-kheo có tên ___ sai người đưa tiền may y tới, cuối cùng Tỳ-kheo đó không nhận được y, ông nên đến lấy lại đừng để mất. Việc như vậy nên làm như vậy. Tỳ-kheoni cũng như thế. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, chúng Tăng nhận được nhiều tơ sợi, cùng nhau phân chia. Các Tỳ-kheo dùng tơ để may Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, và tất cả các loại y khác, lại làm dây lưng, dây ngồi thiền, cho đến dây cột cửa, mà vẫn không hết. Khi ấy, Lục quần Tỳ-kheo lại thuê thợ dệt, dệt làm một y, tơ sợi vẫn con dư. Chỗ sợi dư dệt thêm một tấm lót thì lại không đủ, bèn đi xin thêm, Trưởng giả, Cư sĩ đều cho. Được dễ dàng như vậy, Lục quần Tỳ-kheo, “Nhất dạ sinh bá kế” nói: Ta đạt được thiện lợi, từ nay ta chỉ nên làm theo nghề này. Lục quần đi xin nhiều tơ sợi rồi thuê tất cả thợ dệt đến dệt. Khi ấy có một Cư sĩ đến thuê thợ dệt, dệt y. Thợ dệt nói: Tôi đã hứa dệt cho Tỳ-kheo rồi, nên không thể nhận dệt được. Đi khắp các nơi, người Cư sĩ đó cũng chỉ nhận câu trả lời như thế của thợ dệt. Nổi giận, Cư sĩ nói: Samôn Thích tử ít ham muốn, biết vừa đủ, nay lại đi khắp thuê tất cả các thợ dệt, ham hố, bao nhiêu cũng không vừa, lòng tham của họ đâu có khác gì của người đời?! Họ không có hạnh của Sa-môn, phá pháp của Sa-môn! Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe thế bằng mọi cách quở trách rồi bạch sự việc lên Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Các ông có như vậy không? Lục quần thưa: Thật sự như vậy, bạch Thế Tôn. Đức Phật nghiêm khắc quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay, giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào tự mình đi xin tơ sợi, rồi thuê thợ dệt, dệt thành y, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.

Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười một

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, Bạt-nan-đà thường tới lui một nhà khách buôn nói pháp, chữa bệnh. Người khách buôn nói với vợ: Bạt-nan-đà là ân nhân của ta, có thể dùng số tơ sợi này thuê thợ dệt thành y, khi ta trở về sẽ đem cúng. Sau khi người chồng đi, bà vợ đem tơ sợi đến chỗ thợ dệt thuê dệt thành y. Bà ta nói: Ông tính cho đủ, đừng để dư, đừng để thiếu. Bạt-nan-đà biết được việc này, liền đến gia đình khách buôn, người vợ ra đón chào thăm hỏi và thưa: Chồng của con bảo con vì Đại đức dệt y, con đã nhờ thợ dệt đang dệt. Bạt-nan-đà hỏi: Thuê thợ nào dệt? Người vợ đáp: Con thuê thợ tên đó. Bạt-nan-đà bèn đến nhà thợ dệt nói: Ông có biết chăng? Y này họ dệt để cúng cho tôi, ông dệt cho tốt, cho dài, cho rộng, riêng phần tôi ít nhiều sẽ trả ơn ông. Người thợ dệt nói: Bà ấy bảo tôi tính toán vừa đủ đâu vào đó rồi, nay làm sao tôi theo đề nghị của thầy được. Bạt-nan-đà nói: Cứ dệt cho tốt, nếu chỉ sợi không đủ, ông cứ đến bảo bà ta cho tôi xin thêm sợi, đảm bảo bà ấy sẽ đưa cho thôi. Người thợ dệt nghe theo lời, dệt hết chỉ đến xin thêm. Bà vợ của người khách buôn nói: Trước đây tôi đã bảo ông tính cho đủ kia mà, tại sao nay lại đến lấy thêm? Ông thợ dệt kể lại đầu đuôi câu chuyện để trả lời. Người vợ bèn đưa thêm chỉ. Khi người khách buôn trở về, hỏi bà vợ: Trước đây tôi bảo bà vì Bạt-nan-đà dệt y, nay đã dệt xong chưa? Xong rồi, người vợ trả lời. Đâu, bà lấy đem cho tôi xem với. Người vợ mang đến cho chồng xem. Thấy y quá tốt, quá dày, người chồng hỏi: Với số tơ mình dự trù ít sao dệt được y dày tốt thế này? Bà vợ nói: Bạt-nan-đà lại đến lấy thêm, cho nên được thế này. Người khách buôn nổi giận mắng càn: Bạt-nan-đà, túi tham không đáy, không ai cung cấp, thỏa mãn nổi cho ông ta đâu! Với y như thế này là gấp hai lần số tơ ta dự định ban đầu. Tuy trước kia là ân nhân nhưng bây giờ thì xin tuyệt giao, bèn không cúng y cho Bạt-nan-đà nữa. Như vậy là tiếng xấu lan khắp gần xa, và lọt đến tai các Tỳ-kheo Trưởng lão, bằng mọi cách các vị quở trách rồi cùng đưa đến chỗ Đức Phật, trình bày lên Ngài sự việc. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nanđà: Thật sự ông có như vậy không? Bạt-nan-đà thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Nếu Cư sĩ, vợ Cư sĩ vì Tỳ-kheo bảo thợ dệt, dệt y. Tỳ-kheo ấy trước không được nhận lời mời tùy ý, bèn đến chỗ thợ dệt bảo: Ông biết không? Y này họ may để cho tôi, ông dệt y cho tốt, phải cho thật dày rộng, tôi sẽ đền ơn riêng cho ông. Sau đó dù trả thêm bằng một bữa ăn hay giá trị bằng một bữa ăn, nhận được y, phạm Ni-tát-kỳba-dật-đề”. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười hai

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy, Bạt-nan-đà nói với người đệ tử tên là Đạt-ma: Nay tôi muốn cùng ông đi du hành đến nước Câutát-la. Đạt-ma thưa: Nước đó lạnh, không có y con không thể đi được. Bạt-nan-đà nói: Nếu ông có thể đi thì tôi sẽ cho ông y. Đạt-ma nói: Phải cho y con trước rồi sau mới đi. Bạt-nan-đà đem y cho ngay. Được y rồi, Đạt-ma lại không chịu đi. Bạt-nan-đà nói: Ông nói có được y sẽ đi, tại sao nhận y rồi lại không chịu đi? Nếu không chấp nhận đi thì trả y lại cho tôi. Đạt-ma thưa: Thầy đã cho rồi, tại sao đòi lại! Bạt-nan-đà nói: Chẳng phải tôi cho ông, mà tôi muốn ông cùng du hành nên mới cho. Nay ông không đi, không có lý do gì mà ông không trả y lại cho tôi. Bạt-nan-đà cưỡng bức lấy lại y. Đạt-ma lớn tiếng khóc la, Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, hỏi: Tại sao khóc? Đạt-ma đáp: Thầy tôi đoạt y tôi. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách Bạt-nan-đà: Tại sao gọi là Tỳkheo mà lại đoạt y của người ta? Bạt-nan-đà nói: Tôi muốn Đạt-ma cùng đi với tôi đến nước Câu-tát-la nên mới dùng y để thuê ông ấy. Ông ta nhận được y rồi, không chịu đi, nên tôi lấy lại, chứ không phải cưỡng đoạt. Các Tỳ-kheo lại bằng mọi cách quở trách Đạt-ma: Tại sao ông dối trá đối với thầy, đòi cho y để đi, được y rồi lại không đi?! Các Tỳ-kheo đưa cả hai đến chỗ Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có đem y cho đệ tử rồi đoạt lại hay không? Bạch Thế Tôn, con có cho y. Đức Phật lại hỏi Đạt-ma: Thật sự ông có dối trá đối với thầy ông hay không? Bạch Thế Tôn, con có dối trá. Đức Phật bằng mọi cách quở trách hai Tỳ-kheo rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay, giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đem y cho Tỳ-kheo rồi đoạt lấy lại, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Bấy giờ, Lục quần Tỳ-kheo đem y cho các Tỳ-kheo rồi bảo Sa-di hay người giữ vườn đoạt lấy lại. Các Tỳ-kheo hỏi: Thầy không nghe Đức Phật cấm, đã đem y cho Tỳ-kheo rồi không được lấy lại hay sao? Lục quần nói: Có nghe chứ! Nhưng nay tôi bảo Sa-di hay người giữ vườn đoạt lại nên không trái với lời Phật cấm. Các Tỳ-kheo nói: Tự mình đoạt lại, dạy người đoạt đâu có khác gì?! Bằng mọi cách quở trách rồi, các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đã đem y cho Tỳ-kheo khác, rồi tự mình đoạt lại hay sai người đoạt lại, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Có các Tỳ-kheo khác gởi y cho Tỳ-kheo cựu trú rồi đi bặt, lâu lắm mới trở về, sợ phạm giới này nên không dám đòi lại. Lại có các Tỳ-kheo trên lộ trình đi, đem y gởi cho Tỳ-kheo. Sau một hành trình dài trở về, sợ phạm giới này cũng không dám đòi y lại, hoặc là đã đòi rồi lòng lại thấy xấu hổ vì nghĩ là phạm giới ấy nên tác pháp hối Xả đọa. Các Tỳ-kheo đem các vấn đề ấy bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Thật có như vậy. Đức Phật khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Nếu xin nhận lại y đã gởi mà phạm Xả đọa, điều này không thể có. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào đã đem y cho Tỳ-kheo khác, sau vì giận, bất hòa tự mình đoạt lại hay sai người khác đoạt lại, nói như vầy: Trả y lại cho tôi, tôi không cho thầy, phạm Ni-tát-kỳ-badật-đề”. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười ba

Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ có số đông Cư sĩ đồng tình trong việc thỉnh Phật và chúng Tăng. Trong số họ, có người bửa củi, có người xách nước, có người rưới nước để quét dọn, có người trải tọa cụ, có người rải hoa, có người trải phu cụ ở tòa cao, có người lo trai soạn. Sáng sớm hôm đó, Bạt-nan-đà đắp y, bưng bát đến trước ngôi nhà có mọi người đang chuẩn bị cung thỉnh Phật và Tăng. Tùy theo công việc của mỗi người, Bạt-nan-đà nồng nhiệt tán dương. Bạt-nan-đà lại nói tiếp: Việc làm của quý vị hôm nay là rất thiện, rất tốt, niềm vui này thật xứng đáng.

Mọi người nói: Chúng con thật sự vui mừng với các việc làm để cúng dường này. Ngoài việc cúng dường đồ ăn thức uống, mỗi thứ đầy hương vị thơm ngon, chúng con còn cúng dường y vật cho chúng Tăng nữa.

Bạt-nan-đà nói: Đã được nhiều người cúng dường rồi nên y vật của chúng Tăng quá thừa thãi. Nếu quý vị tiếp tục cúng nữa thì hóa ra chỉ xếp dồn lại thành vật vô dụng, làm sao có được tác dụng của phước đức. Ừ nhỉ! Sao lại không cho tôi, nếu cho tôi, tôi luôn mặc bên mình để gắn liền sự nhớ nghĩ lên nhau,các sự việc như ốm đau, bệnh tật v.v… lại được cùng nhau lo liệu, giải quyết.

Mọi người nghe rồi, cùng họp lại lấy ý kiến, có người nói: Nếu Tăng không cần thì nên cho vị này để sự cúng dường của chúng ta có tác dụng của phước đức. Hoặc có người nói: Với bản nguyện của chúng ta cúng cho Tăng, tại sao lại tập trung cúng cho một người? Ý kiến cho đông hơn, nên toàn y vật được cúng cho Bạt-nan-đà.

Bấy giờ, Bạt-nan-đà vác cả một vác nặng y vật trở về trú xứ của Tăng, các Tỳ-kheo khen: Thầy là người có phước đức, làm thế nào mới đi ra một lát mà có được số y như vậy! Bạt-nan-đà nói: Khéo miệng nên được chứ chẳng do phước đức gì cả. Bạt-nan-đà liền kể lại lý do câu chuyện được y. Thế là việc này lọt đến tai các Tỳ-kheo Trưởng lão, bằng nhiều cách các vị quở trách: Thầy là người ngu si, tại sao xoay xở vật cúng cho Tăng về riêng cho mình?

Sao khi thiết dọn thức ăn đầy đủ đâu vào đấy, các Cư sĩ ấy sai người đến thỉnh Phật. Đức Thế Tôn mặc y, mang bát đi giữa Tỳ-kheo Tăng tới gia đình được chọn làm nơi chốn cúng dường… Ngài và Tăng ngồi uy nghiêm vào tòa. Các Cư sĩ đích thân hầu hạ từng thức ăn. Ăn xong, họ dâng nước song chẳng có phẩm vật nào cúng dường. Số người trước kia không đồng ý cho Bạt-nan-đà, thầm thì với nhau: Buổi cơm cúng dường hôm nay, đâu phải chúng ta không chuẩn bị đầy đủ, tại các người ấy không xét kỹ đem y vật cúng cho Tăng, cúng riêng cho một người nên mới thiếu đầu, thiếu đuôi như thế này, làm sao không hổ thẹn được.

Các Tỳ-kheo nghe hỏi: Các vị nói nhỏ to gì đó? Các Cư sĩ trả lời bằng cách kể lại câu chuyện. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách Bạt-nan-đà: Thầy là người ngu si, tại sao xoay vật cúng cho Tăng về riêng cho mình? Bấy giờ, Đức Thế Tôn vì các Cư sĩ giảng nói pháp diệu rồi, Ngài rời chỗ ngồi ra về. Các Tỳ-kheo Trưởng lão đem vấn đề bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào xoay vật cúng cho Tăng về riêng cho mình, phạm Ni-tátkỳ-ba-dật-đề”.

Biết: Hoặc tự mình biết hoặc nghe từ người khác. Vật nhằm cúng cho Tăng: Hoặc người phát tâm, nói: Tôi sẽ đem phẩm vật này cúng cho chúng Tăng kia. Nếu muốn xoay vật cúng cho Tăng về cho người khác, phạm Ba-dật-đề. Cho Tăng khác, Tỳ-kheo-ni Tăng, hai bộ Tăng, Tăng bốn phương, hay cho tháp đều phạm Đột-kiết-la. Nếu xoay phẩm vật dành cúng cho Tỳ-kheo-ni Tăng, hai bộ Tăng, Tăng bốn phương cũng như vậy. Nếu xoay phẩm vật dành cúng cho pháp về mình, cho Tỳ-kheo Tăng, Tỳ-kheo-ni Tăng, hai bộ Tăng, Tăng bốn phương, người khác, tháp khác cũng đều phạm Đột-kiết-la. Nếu xoay phẩm vật muốn cho người cũng như vậy. Cho đến xoay một miếng ăn định cho súc sinh này đem cho súc sinh khác cũng phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni phạm

cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la. Nếu bạch Tăng, Tăng cho, hoặc thí chủ tự ý xoay vật dành cúng cho Tăng đem cho mình thì không phạm.

Xong giới thứ mười bốn

Đức Thế Tôn ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, Tất-lăng-già-bàta trú tại núi Lăng-cầu-la, bay lên không trung để rưới nước dội sạch nơi phòng ở. Trong khi ấy Vua Bình-sa dạo đến núi này. Tất-lăng-già trông thấy Vua, lập tức trở về lại mặt đất trước Vua, ngỏ lời chào: Lành thay Đại vương mới đến! Xin mời Vua ngồi nơi này. Nhà Vua ngồi, rồi hỏi: Tại sao thầy phải tự làm lụng như vậy? Không có người giúp việc chăng? Tất-lăng-già nói: Không ai cả. Nhà Vua liền ra lệnh cho một vị cận thần: Nên cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo này. Tất-lănggià-bà-ta nói: Đức Phật không cho phép chúng tôi nuôi người giúp việc. Nhà Vua nói: Nên bạch Đức Phật về điều này. Sau khi ra về, nhà Vua đến bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng khen sự thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới xong, bảo các Tỳ-kheo: Từ nay ta cho phép các Tỳ-kheo nuôi người giữ vườn (giúp việc).

Vì Đại thần đã nhận lệnh của Vua, nhưng vì ông không có lòng tin ưa Phật pháp nên không cung cấp người. Tất-lăng-già-bà-ta trước sau gì cũng chỉ có mỗi Tất-lăng-già-bà-ta. Bẳng đi một thời gian, Tất-lănggià-bà-ta đắp y mang bát vào thành khất thực, nhà Vua cùng quần thần từ trên lầu cao nhìn thấy, liền sực nhớ lại tự hỏi: Trước đây ta có hứa cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo, không biết đã cấp chưa? Nhà Vua liền hỏi lại vị Đại thần lúc trước nhận lệnh. Vị quan tâu: Chưa cấp. Nhà Vua lại hỏi: Lệnh của ta đến nay được bao nhiêu ngày? Vị quan ấy tâu: Đã năm trăm ngày. Nhà Vua bảo tùy theo số ngày này mà cung cấp. Vị Đại thần vâng lệnh liền lấy người giúp việc từ năm trăm nhà, mỗi nhà một người để cấp. Khi nhận lệnh ấy, năm trăm nhà mỗi ngày sai một người đến trú xứ của Tất-lăng-già-bà-ta để lau quét phòng ốc, nhà cửa, ngoài ra còn làm mọi việc khác.

Bấy giờ, người trong thôn nọ đến ngày tiết hội, nam nữ trang sức y phục sặc sỡ dạo chơi vui đùa. Có một người con gái nhà nghèo vừa đi vừa khóc lớn. Thời điểm ấy, Tất-lăng-già-bà-ta vào xóm khất thực, thấy người con gái kêu khóc, hỏi bà mẹ cô gái: Con gái của bà tại sao khóc lóc như vậy? Bà ta đáp lời: Hôm nay, mọi người đều ăn mặc đẹp đẽ để đi chơi, nhà tôi nghèo khổ không lấy chi chưng diện như người ta, cho nên nó buồn, nó khóc. Ngay lúc ấy, Tất-lăng-già-bà-ta thấy con bò đang gặm cỏ, thầy nói với bà mẹ cô gái: Lấy ít cộng cỏ đem đến đây! Bà ta liền nhặt cỏ đưa cho thầy. Tất-lăng-già-bà-ta kết cỏ lại, biến hóa thành hai tràng hoa bằng vàng, đưa cho mẹ cô gái, nói: Trong thiên hạ có hai loại vàng tốt hơn hết là vàng Diêm-phù-đàn và loại vàng do thần túc biến hóa. Bà cầm lấy hai tràng hoa này đưa cho con gái bà mang vào. Người con gái ấy nhận được hai tràng hoa, rất vui mừng, thong dong mang vào dạo chơi. Trông thấy, mọi người đều ham muốn. Một khi điều lạ này đập vào mắt người ta thì ắt phải sinh lòng ghen tỵ. Có một người đến tâu với Vua Bình-sa: Thôn đó, gia đình đó, phát hiện được một kho chứa vật báu, nên người con gái của gia đình này mang tràng hoa bằng loại vàng trong thiên hạ không ai sánh kịp, hậu cung của Đại vương cũng chưa hề có được như thế. Nhà Vua lệnh cho gọi người ấy đến hỏi: Ngươi được kho tàng chỗ nào, có thể chỉ cho ta? Người đàn bà thưa: Tâu Đại vương! Thật sự tôi không được kho tàng. Nhà Vua lại hỏi: Vật trang sức con gái ngươi mang đó, từ đâu có? Người ấy đáp: Vật ấy là do Tất-lăng-già-bà-ta kết cỏ biến hóa thành. Nhà Vua nghe nói như vậy hết sức kinh ngạc và giận dữ: Tại sao cỏ mà biến hóa thành tràng hoa bằng vàng! Nhà Vua liền ra lệnh cho các quan bắt trói và hạ ngục người mẹ đó.

Sau một thời gian, Tất-lăng-già-bà-ta lại đến nơi thôn ấy. Vừa gặp Tất-lăng-già-bà-ta, người con gái bật khóc nức nở… Tỳ-kheo hỏi: Vì lý do gì nhà ngươi lại khóc nức nở như thế? Người con gái thưa: Mẹ của con bị ngồi tù. Tất-lăng-già-bà-ta hỏi: Phạm phải những tội gì vậy? Dạ thưa: Do Đại đức cho hai tràng hoa bằng vàng. Lại nói: Thôi đừng khóc nữa, ta sẽ làm cho mẹ cô được thả ra. Tất-lăng-già-bà-ta lập tức đến trước quan giữ ngục, quan giữ ngục cung kính chào hỏi: Đại đức có việc gì phải hạ cố đến đây? Tất-lăng-già-bà-ta đáp: Người giúp việc của ta bị nhốt nơi ngục tù này, nên ta mới đến đây. Nay ông có thể thả nó ra được không? Quan coi ngục nói: Người này được kho tàng quý báu mà không chỉ cho nhà Vua, nếu chỉ cho nhà Vua thì mới có thể được thả. Tất-lăng-già-bà-ta nói: Ta kết cỏ làm thành chứ chẳng phải là của kho tàng đâu. Quan giữ ngục nói: Kết cỏ làm thành vàng là điều không thể có.

Tất-lăng-già-bà-ta liền biến chỗ ngồi của ông cai ngục thành cái giường bằng vàng và hỏi: Nay ông tự thấy mình ngồi trên tòa nào? Rõ ràng tận mắt nhìn thấy mình đang ngồi trên chiếc giường bằng vàng, người giữ ngục hoảng hồn, liền xuống giường cúi đầu: Lạy Đại đức giải tha cho con nhờ, nếu nhà Vua nghe con ngồi trên giường bằng vàng thì chắc chắn bị trọng tội! Tất-lăng-già-bà-ta nói: Thả người giúp việc của ta ra, rồi ta mới giải phép cho ngươi. Quan giữ ngục nói: Việc này không phải quyền của con. Lại hỏi: Vậy thì quyền của ai? Dạ thưa: Quyền của Vua. Tất-lăng-già-bà-ta liền làm phép xóa mất giường vàng, rồi bay đến chỗ nhà Vua, đứng trong hư không. Khi ấy, nhà Vua từ trên lầu cao thấy, liền đảnh lễ, thưa: Đại đức có việc gì đến đây? Tất-lăng-già-bàta nói: Người giúp việc của tôi bị ngồi tù nên tôi đến đây, xin nhà Vua thả ra cho. Nhà Vua nói: Người kia được kho tàng bảo vật, nếu chỉ cho tôi thì mới được thả. Tất-lăng-già-bà-ta nói: Tôi kết cỏ làm thành, chứ không phải của báu trong kho tàng đâu. Nhà Vua nói: Kết cỏ làm thành vàng là điều không thể có. Ngay khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta lấy cây gậy gõ vào trụ cột lầu, cả tòa lầu cao liền biến thành lầu vàng, và nói: Xin hỏi lầu cao của Vua đây xây cất bằng vật liệu gì? Chứng kiến việc ấy, nhà Vua rất hoan hỷ ra lệnh thả ngay người đàn bà kia. Tất-lăng-giàbà-ta cứ như vậy biến hiện bốn thần túc từ nơi này sang nơi khác. Một khi toàn dân đều nghe biết sự biến hóa nhiệm mầu này, lòng tin kính Phật pháp đối với họ lớn lắm. Họ cúng dường Tăng đầy đủ: bát na, bữa ăn trước, bữa ăn sau, các loại nước uống phi thời, dụng cụ dùng để tắm rửa, dầu thoa mình, dầu thoa chân, dầu thắp đèn… Bấy giờ, chúng Tăng nhận được nhiều sữa sống, sữa chín, dầu, đường, đường phèn, ăn không hết. Các thực phẩm dư này được dồn chứa, cất giữ trên sàn đất, từ đó bị rỉ chảy tràn lan làm dính nhớp y phục, giường chiếu, ngọa cụ. Các Cư sĩ thấy vậy, hỏi: Vật này của ai? có người nói: Đây là của Sa-môn Thích tử tích lũy chứa cất. Các Cư sĩ nói: Sa-môn Thích tử tự nói tiết chế sự ăn uống, mà dồn chứa như thế này thì tha hồ ăn uống. Những người này vì cầu giải thoát, xa lìa sinh, lão, tử mà nay lại cầu thức ăn mỹ vị thế này, là không có hạnh của Sa-môn, phá pháp của Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe vậy, bằng mọi cách quở trách rồi trình việc này lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Các ông thật sự có như vậy không? Các Tỳ-kheo thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Từ nay không cho phép ăn đồ ăn cách đêm, như sữa, dầu, đường, đường phèn. Người nào vi phạm, phạm tội Đột-kiết-la.

Khi ấy, có nhiều Tỳ-kheo bị bệnh, không thể có được tịnh nhân để thọ nhận hàng ngày, cũng không có tiền để mua, cũng không có chỗ bán, các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, đem vấn đề bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen hạnh ít ham muốn, biết đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay cho phép các Tỳ-kheo bệnh nhận sữa, dầu, đường, đường phèn để ăn cách đêm, cho đến đêm thứ sáu. Lúc ấy, các Tỳ-kheo lại để các thực phẩm đó quá sáu đêm, Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách rồi, đem vấn đề bạch lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Các ông thật sự có như vậy không? Các Tỳ-kheo thưa: Bạch Đức Thế Tôn có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào bệnh được uống bốn thứ thuốc hàm tiêu, như sữa, dầu, đường và đường phèn, một lần nhận được để đến bảy ngày, nếu để quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Nếu ngày thứ nhất nhận được, ngày thứ hai lại nhận được cho đến ngày thứ bảy cũng lại nhận được, lưu lại đến ngày thứ tám, khi tướng mặt trời xuất hiện, đều phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Vật cất giữ ấy nên thưa và xả cho Tăng, Tăng cho bạch y hay Sa-di, hoặc dùng để thắp đèn, hoặc dùng thoa chân. Thuốc đã bị xả Tỳ-kheo không được dùng và tất cả Tỳ-kheo không được để vào miệng. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.

Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười lăm

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Khi ấy có đám giặc Tháng tám, thường rình rập bắt người giết để tế trời, tất cả dân chúng và các Tỳ-kheo, không ai là không hoảng sợ. Ngày tế sắp đến mà chưa bắt được người, lũ giặc cùng nhau họp lại bàn bạc: Nơi A-lan-nhã chắc có Tỳ-kheo, bắt họ không khó. Ngay lúc ấy, đám giặc tiến về nơi A-lan-nhã nọ. Nghe được tin này, các Tỳ-kheo, ai nấy tìm cách lẫn tránh. Đám giặc bị thất bại, lại bàn với nhau: Ta sẽ tới chỗ khác, ngày tế sắp đến rồi, không được phép biếng trễ. Trong đám giặc ấy có một người tu xuất, nói với chúng: Tôi được biết Đức Phật dạy không cho phép Tỳ-kheo lìa y một đêm, chúng ta phải phục sẵn tại đây, vào lúc mờ mờ sáng chắc chắn họ sẽ về. Chúng nói: Nếu họ không về thì sẽ giết ngươi. Nếu ngươi không ân hận hối tiếc, thì chúng ta sẽ ở lại đây. Người ấy trả lời: Tốt lắm! Đã được cam kết như vậy, đám giặc bố trí phục sẵn. Một khi đã sợ phạm tội lìa y ngủ nên lúc trời vừa gà gáy sáng, các Tỳ-kheo đều quay trở về trú xứ. Đám giặc hỏi: Các ông tưởng chúng tôi đã đi rồi phải không? Các Tỳ-kheo trả lời: Chúng tôi biết các ông còn ở lại, nhưng Đức Phật không cho phép chúng tôi lìa y ngủ, cho nên chúng tôi phải trở về. Đám giặc liền bắt giết, cần máu thì lấy máu, cần thịt thì lấy thịt. Các Tỳ-kheo tránh được cuộc tàn sát này đã có sự suy nghĩ: Nếu Đức Thế Tôn cho phép chúng ta khi chưa hết các ngày tháng tám được gởi một loại y nào nơi nhà bạch y trong giới nội thì đâu gặp phải tai nạn như thế. Các Tỳkheo trình lên Đức Phật sự suy nghĩ ấy. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay cho phép Tỳ-kheo ở nơi Alan-nhã an cư ba tháng, chưa hết tháng tám được gởi một loại y nào nơi nhà bạch y trong giới nội, và lìa y đó ngủ đêm không phạm tội.

Có các Tỳ-kheo ở gần xóm làng cũng gởi y nơi nhà bạch y thuộc giới nội để ngủ đêm. Các Tỳ-kheo đem vấn đề này bạch Phật, Đức Phật dạy: Không cho phép Tỳ-kheo ở gần xóm làng mà lìa y ngủ. Lại có Tỳ-kheo ở A-lan-nhã, chỗ không có sự khủng bố mà lìa y ngủ. Các Tỳkheo đem việc này bạch lên Đức Phật, Đức Phật dạy: Cũng không cho phép Tỳ-kheo ở nơi A-lan-nhã không có sự sợ hãi lại lìa y ngủ. Nếu nơi nào có sự nghi ngờ sẽ bị khủng bố mới cho phép. Trong thời điểm khác, các Tỳ-kheo gởi y nơi nhà người khác rồi không trở lại thăm chừng, lâu ngày bị ẩm ướt, bẩn nhớp, trùng cắn, mục nát. Các Tỳ-kheo đem việc này bạch Phật, Đức Phật dạy: Nên đến xem chừng, hong phơi. Khi được Phật dạy như thế, các Tỳ-kheo lại thường xuyên đến thăm chừng, Cư sĩ chán ngấy việc làm ấy của Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đem việc này bạch Phật, Đức Phật dạy: Cho phép mười ngày đến thăm chừng một lần. Khi ấy, các Tỳ-kheo có việc Tăng, việc tháp, việc nơi các Hòa thượng, Axà-lê và việc riêng của mình, hay việc của người cần ra đi ngoài phạm vi giới, vì sợ lìa y nên không dám đi, bạch Phật. Phật dạy: Nếu có việc cần thiết đích thân phải đi ra ngoài phạm vi giới, cho phép lìa y một đêm. Công việc chưa xong, trở lại bạch Phật. Phật dạy: Cho phép sáu đêm. Đã cho phép sáu đêm rồi, các Tỳ-kheo lại mặc y cũ rách đi quá sáu đêm, Tỳ-kheo Trưởng lão đem việc ấy bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Các ông có thật sự như vậy không? Các Tỳ-kheo thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào ở chỗ A-lan-nhã, an cư ba tháng, chưa hết tháng tám, nếu chỗ có sự khủng bố, cho phép gởi một loại y nào nơi nhà bạch y trong giới nội, nếu có nhân duyên ra ngoài phạm vi giới, lìa y ngủ cho đến sáu đêm, nếu quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

An cư ba tháng: Là tiền an cư. Chưa hết tháng tám: Là hậu an cư. Một loại y nào: Hoặc Tăng-già-lê hoặc Ưu-đa-la-tăng, tùy theo chỗ nhận mà nhiều lần gởi một y. không được gởi y An-đà-hội vì là y đang mặc che thân. Lễ bái, nhập Tăng, khất thực không đơn thuần mặc mỗi một y, không được gởi hai y. Có nhân duyên ra ngoài phạm vi giới sáu đêm: Hoặc có việc của tháp, việc của Hòa thượng, A-xà-lê và việc riêng của mình hay việc của người, lưu lại một loại y nào nơi nhà bạch y để ra ngoài phạm vi giới tối Đa-là sáu đêm. Nếu một đêm, hai đêm cho đến năm đêm việc xong mà không trở về, phạm Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười sáu

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, mẹ Lộc-tử Tỳ-xá-khư, định vào một buổi sáng ngày nọ, thiết lễ trai phạn, thỉnh Phật và Tăng để cúng dường. Chính vào ngày ấy, trời nổi giông tố, mưa xối xả, như thời gian co duỗi cánh tay của một lực sĩ, nước mưa đầy cả bát nước này rút ngay vào lòng đất như những giọt dầu rơi thấm vào đống cát nóng, bằng không thì đã trở thành biển nước mênh mông. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Xem trận mưa trong Kỳ-hoàn hôm nay, thì rõ sức mưa cả cõi Diêm-phù-đề cũng như vậy. Các ông có thể ra tắm. Đây là trận mưa cuối mùa đều khắp như nhau. Các Tỳ-kheo mình trần trùng trục ùa ra tắm mưa. Trong khi ấy, người nô tỳ được bà Tỳ-xá-khư sai đến bạch Phật: “Thiết lễ cúng dường đã sửa soạn xong”. Người nô tỳ đến Kỳ-hoàn trông thấy các Tỳ-kheo, ai nấy đều lõa hình tắm mưa, lòng ái ngại, nghi: Đây là ngoại đạo chứ chẳng phải Tỳ-kheo. Cô ta quay trở về báo lại như vậy. Tỳ-xá-khư có ý nghĩ: Chắc là Tỳ-kheo tắm giữa đất trống nhưng đứa tớ gái không biết cho đó là ngoại đạo. Bà ta lại bảo: Mi tới cửa Kỳ-hoàn thưa lớn như sau: “Thức ăn đã sửa soạn xong, kính mời quý vị đến thọ trai”. Lúc nô tỳ đến trước cửa Kỳ-hoàn, các Tỳ-kheo đã tắm xong, về phòng không còn một vị nào bên ngoài, nô tỳ muốn thưa lớn lời dạy của bà chủ nhưng lại ngớ ngẩn nghĩ: Vừa rồi, trong sân thấy đầy cả ngoại đạo, bây giờ lại chẳng còn mống nào thôi thì trở về thưa lại vậy. Nghe nô tỳ báo, Tỳ-xá-khư nghĩ: Chắc các Tỳ-kheo tắm xong vào an nghỉ. Bà ta lại sai: Mi có thể vào trong cửa, đứng giữa sân thưa… Nô tỳ vâng lời, vào trong cửa ngõ Kỳ-hoàn, đứng giữa sân thưa. Đức Phật nghe thưa, bảo các Tỳ-kheo: Tỳ-xá-khư mời thọ trai. Các ông nên mặc y bưng bát đến phó trai. Các Tỳ-kheo vâng

120 lời tập hợp nơi giảng đường. Nô tỳ đến trước giảng đường bạch Phật: Trai bàn đã thiết cúng xong, xin cung thỉnh quý Ngài đến dự. Đức Phật bảo người tớ gái: Ngươi có thể về trước, chư Tăng sẽ đến sau. Bấy giờ, Đức Thế Tôn cùng các Tỳ-kheo, chớp nhoáng như lực sĩ co duỗi cánh tay, biến mất khỏi giảng đường, rồi xuất hiện tại nhà bà Tỳ-xá-khư, an tọa nơi tòa, y phục lại không ướt. Tỳ-xá-khư thấy Đức Phật và Tăng hốt nhiên ngồi nơi tòa, y phục không ướt, lòng cảm phục, thầm nghĩ: Ta được thiện lợi, cúng dường đầy đủ cho bậc Thánh sư. Các Ngài đi trong mưa lũ mà không hề ướt y phục. Bà vui mừng hớn hở tự tay san sẻ các thức ăn ngon bổ. Ăn xong, bà dâng nước, rồi kính cẩn chấp tay ngồi qua một bên, bạch Phật: Cúi xin Đức Thế Tôn cho con lời ước nguyện! Đức Phật bảo Tỳ-xá-khư: Phật đã vĩnh viễn lìa các ước nguyện của thế gian. Tỳ-xá-khư lại thưa: Cúi xin Đức Phật cho con phát những lời nguyện thanh tịnh. Đức Phật dạy: Lành thay! Tỳ-xá-khư bạch Phật: Sáng nay con sai đứa tớ gái tới thưa thỉnh Phật và Tăng đến thọ trai, lúc ấy các Tỳ-kheo đang lõa hình tắm, nhìn thấy, nó chạy về báo với con là: Trong Kỳ-hoàn đều là ngoại đạo, không có Tỳ-kheo. Bạch Đức Thế Tôn: Tại sao các Tỳ-kheo lõa hình tắm trước Hòa thượng, A-xà-lê! Cúi xin Đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo sử dụng y tắm mưa. Con nguyện trọn đời cung cấp y tắm mưa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này. Bà lại thưa: Thời gian gần đây, con có chút việc, đến nơi sông A-di-la, thấy các Tỳ-kheo-ni lõa hình tắm rửa trong dòng sông. Khi ấy, có người thấy hình ảnh này đều chê cười: Người nữ mặc áo che thân còn coi không được, huống là người nữ xuất gia mà lại lõa thể. Cúi xin Phật cũng cho Tỳ-kheo-ni được sử dụng y tắm. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp y tắm cho các Tỳ-kheo-ni trong thành Xá-vệ này. Bà lại thưa: Đức Phật dạy có ba loại bệnh, một loại uống thuốc hay không uống thuốc cũng chết. Loại thứ hai uống thuốc hay không uống thuốc đều qua khỏi bệnh. Loại thứ ba, uống thuốc thì mạnh, không uống thuốc thì chết. Cúi xin Phật cho phép các Tỳ-kheo được uống các thứ thuốc. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thuốc cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ. Bà lại thưa: Đức Phật dạy có ba loại bệnh, một loại tùy theo bệnh được ăn thức ăn, không được ăn thức ăn, tùy theo bệnh đều chết. Loại thứ hai: Tùy theo bệnh được ăn thức ăn, không được ăn thức ăn, tùy theo bệnh đều sống. Loại thứ ba: Tùy theo bệnh được ăn thức ăn thì lành, không được ăn thức ăn thì theo bệnh mà chết. Cúi xin Phật cho phép các Tỳkheo được ăn thức ăn tùy theo bệnh. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thức ăn tùy theo bệnh cho các Tỳ-kheo ở tại thành Xá-vệ này. Bà lại thưa: Người nuôi bệnh, nếu phải đi khất thực thì lại không chu toàn việc chăm sóc. Cúi xin Phật cho phép các Tỳ-kheo nuôi người bệnh được nhận thức ăn để nuôi bệnh. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thức ăn cho các vị nuôi người bệnh trong thành Xá-vệ này. Bà lại thưa: Tỳ-kheo khách từ xa mới đến quá mệt mỏi, hơn nữa không biết chỗ nào để khất thực. Cúi xin Phật cho phép các Tỳ-kheo nhận thức ăn từ nơi con để Tỳ-kheo khách dùng trong thời gian nghỉ ngơi vì mệt mỏi và chưa biết chỗ khất thực. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thức ăn cho quý Tỳ-kheo khách trong thành Xá-vệ này. Bà lại thưa: Nếu có Tỳ-kheo nào đi xa, phải vào thôn khất thực nên đi không kịp bạn đồng hành, hoặc gặp phải đám giặc tháng tám, hay bị lạc đường, cúi xin Phật cho phép các Tỳ-kheo đi xa nhận thức ăn đi xa của con. Con xin nguyện trọn đời cúng dường lương thực đi đường xa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này. Bà lại thưa: Con nghe Đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo ở nước A-na-tần-đầu ăn cháo. Cúi xin Ngài cho phép các Tỳ-kheo được thọ nhận cháo nơi con cúng dường. Con cũng xin nguyện trọn đời cúng dường cháo cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này. Bà lại bạch Đức Phật: Nguyện Đức Thế Tôn, tron đời nhận y phục, ẩm thực, thuốc thang của con. Đức Phật hỏi bà Tỳ-xá-khư: Với sự hiểu biết về ý nghĩa của sự lợi lạc như thế nào mà bà phát chín lời nguyện như trên? Tỳ-xá-khư thưa: Với đất nước này luôn luôn có các Tỳ-kheo ở khắp nơi về vấn an thăm hỏi Đức Thế Tôn, hoặc có trường hợp Tỳ-kheo nào đó ở địa phương nào đó qua đời, đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A na hàm, A-la-hán, con sẽ tìm hiểu, hỏi xem Tỳ-kheo ấy đã từng về thành Xá-vệ này hay không? Nếu được trả lời vị ấy đã từng đến đây, trong lòng con sẽ có được suy nghĩ này: Vị Tỳ-kheo ấy chắc chắn đã từng nhận nơi con, ít nhất là một món cúng dường, chừng ấy thôi cũng đủ để con vui mừng với căn lành được đơm hoa kết trái. Với tâm thiện như vậy, Đức Thế Tôn nói với Tỳ-xá-khư: Cho phép bà thực hiện tám lời nguyện, còn một lời nguyện chót không thể chấp thuận được. Ngay khi ấy, bà Tỳ-xá-khư lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước Đức Phật, Đức Phật vì bà nói kệ tùy hỷ:

Lòng vui cúng ẩm thực
Cúng dường Phật, Thánh Tăng
Phước lập, xan tham diệt
Thọ báo luôn an lạc
Sinh cõi trời sống lâu
Sinh cõi trần lìa cấu
Pháp cúng dường, quả lớn
Ở đâu cũng mãi vui.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn lại giảng nói các pháp vi diệu, Tỳ-xákhư lại rất vui mừng vì các điều lợi lạc đã được chỉ bày. Đức Thế Tôn và Thánh đệ tử trở về lại Kỳ-hoàn, tập hợp các Tỳ-kheo, khen sự thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay cho phép các Tỳ-kheo nhận y tắm mưa, các Tỳ-kheo-ni nhận y tắm, nhận thuốc tùy theo bệnh, nhận thức ăn tùy theo bệnh, người nuôi bệnh được nhận thức ăn, Tỳ-kheo khách được nhận thức ăn, Tỳ-kheo đi xa được nhận thức ăn đi đường, và Tỳ-kheo được ăn cháo. Sau khi được Phật cho phép, các Tỳ-kheo nảy sinh ý nghĩ: Đức Phật cho phép ta chứa y tắm mưa, vậy đi tìm xin để cất giữ. Đã không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, ôm đòm cả gánh nặng đi đường. Các Tỳ-kheo khác thấy hỏi: Thầy không nghe Đức Phật cấm chứa y dư hay sao? Tỳkheo trả lời: Tuy Phật có cấm nhưng lại cho phép chứa y tắm mưa. Các Tỳ-kheo lại hỏi: Các thầy thường chứa y tắm mưa, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí phải không? Các vị trả lời: Đúng như vậy. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi bạch lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Thật sự có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào, mùa Xuân còn một tháng, nên tìm y tắm mưa, còn nửa tháng nên dùng. Nếu chưa đến một tháng mà tìm, trước nửa tháng mà dùng, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Y tắm mưa: Là y sử dụng để tắm khi trời mưa, khi tắm vào mùa hạ cũng dùng y này. Nếu mùa Xuân còn một tháng, trước đó có người hứa cho y tắm mưa, Tỳ-kheo quen biết nên đến nói: Nay là lúc may, nhuộm y tắm mưa. Nếu nhận được thì tốt, bằng không nên nói lại: Các nơi đều đã may, nhuộm y tắm mưa. Nếu nhận được thì tốt, bằng không lại nên nói: Trước đây người hứa cho Tỳ-kheo đó y tắm mưa, nay chính là lúc cần nhận. Nếu nhận được thì tốt, bằng không, Tỳ-kheo ấy nên đến chỗ khác xin để chứa dùng, cho đến nữa tháng tám, tức một trăm ba mươi lăm ngày. Nếu quá thời hạn ấy, không làm y khác, không thọ trì, không cho người khác, không tịnh thí, phạm Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười bảy

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, Lục quần Tỳ-kheo đến thôn nhà buôn. Khách buôn nói: Trưởng lão an cư nơi đây đi. Sau chuyến đi, chúng tôi về sẽ cúng dường phẩm vật an cư. Lục quần Tỳ-kheo nói: Muốn chúng tôi ở lại đây an cư thì phải cúng cho chúng tôi, trong khi an cư chúng tôi may y, an cư xong chúng mặc đến thăm viếng Đức Phật. Khách buôn cùng nhau bàn bạc: Chúng ta nên cúng trước phẩm vật an cư để các Tỳ-kheo ở lại, như vậy là gia đình chúng ta kẻ lớn người nhỏ đều được nghe pháp, thọ tám phần giới, giữ gìn trong sạch thân, khẩu, ý. Họ thống nhất việc quyên góp vật phẩm cúng dường sau đó mới lên đường. Nhận được phẩm vật an cư rồi và sau khi các nhà buôn ra đi, Lục quần Tỳ-kheo cũng đi nơi khác. Một thời gian sau, các nhà buôn thu được lợi nhuận và trở về, nói với người trong nhà: Tuy trước đây ta đã cúng phẩm vật an cư cho các Tỳ-kheo rồi, nay ta buôn có lời, an ổn trở về, phải cúng dường thêm, các người cứ an tâm nghe pháp. Người nhà trả lời: Các Tỳ-kheo, sau đó, họ cũng đi. Các nhà buôn lại đến trú xứ gần đó để mời các Tỳ-kheo khác. Các Tỳ-kheo ấy nói: Các người nên cúng dường cho các Tỳ-kheo đã thỉnh trước đây, chúng tôi không được phép nhận phẩm vật cúng dường của các vị.

Khi đó, các nhà buôn nổi giận nói: Bổn ý của chúng tôi cúng dường là để ở lại thôn an cư, nhận phẩm vật rồi lại đi, cùng với kẻ trộm đâu khác gì? Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe được bằng mọi cách quở trách, rồi bạch với Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo: Các ông thật sự có như vậy không? Bạch Thế Tôn! Có. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách, rồi bảo các Tỳkheo: Từ nay không được phép trong khi an cư nhận vật phẩm an cư, phạm điều này là tội Đột-kiết-la.

Bấy giờ, nơi biên giới có giặc, Vua Ba-tư-nặc sai Ất-sư-đạt-đa và Phú-lan-na đến dẹp giặc. Hai vị cùng nhau thảo bàn: Nay chúng ta đi hành quân có thể bị bỏ mạng, chúng ta nên đem phẩm vật cúng dường cho Tỳ-kheo. Hai người cùng mang phẩm vật đến chỗ Tỳ-kheo thưa: Nay chúng tôi đi dẹp giặc, sợ không trở về được, xin cúng dường các phẩm vật, mong quý thầy nhận cho. Các Tỳ-kheo nhớ lại điều này: Đức Thế Tôn không cho phép chúng ta trong khi an cư nhận phẩm vật an cư, biết làm thế nào đây! Trình việc ấy lên Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tôn giả A-nan: Còn bao nhiêu ngày nữa đến ngày Tự tứ? A-nan thưa: Còn mười ngày. Đức Phật bằng mọi cách khen hạnh ít ham muốn, biết đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay cho phép các Tỳ-kheo, tiền an cư hay hậu an cư,

còn mười ngày nữa đến ngày Tự tứ, được nhận y cấp thí. Các Tỳ-kheo lại thường cất chứa, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, ôm đòm cả gánh nặng đi du hành khắp nơi. Các Tỳ-kheo Trưởng lão thấy vậy, hỏi: Thầy không nghe Đức Phật cấm chứa y dư hay sao? Vâng, tuy Phật có cấm nhưng lại cho nhận y cấp thí. Các Tỳ-kheo lại hỏi: Các thầy thường chứa y cấp thí, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí phải không? Vâng, đúng như thế. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi bạch với Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay không cho phép thường chứa y cấp thí, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, cho đến thời của y. Vì đã được cho phép đến thời của y, nên các Tỳ-kheo còn chứa quá thời của y. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật. Nhân việc ấy Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, có thật như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào tiền an cư còn mười ngày nữa mới đến ngày Tự tứ được y cấp thí, cần thì nhận cất cho đến thời của y, nếu quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Y cấp thí: Hoặc hành quân, hoặc sản phụ gần sinh, đó là trường hợp được thí cấp thời, qua thời gian ấy không thí được.

Thời của y: Thọ y Ca-hi-na. Xả y Ca-hi-na rồi, gọi là y phi thời. Tỳ-kheo-ni phạm cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười tám

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc này, không phải thời xin bát, Bạt-nan-đà vẫn đến một nhà buôn, nói: Nay tôi cần bình bát, cho tôi đi! Nhà buôn nói: Đại đức đợi một thời gian ngắn. Nay các nhà có phiên họp, nếu ai đến không đúng giờ phải bị phạt năm trăm tiền. Bạt-nan-đà nói: Tôi được nghe người rất tinh tấn trong việc cung cấp phương tiện hành đạo, tại sao nay lại bỏ việc làm công đức này mà lại ưu tiên coi trọng việc đời. Nghe những lời như vậy, người nhà buôn thức tỉnh nghĩ ngợi: Dù có bị phạt, việc quan trọng này ta cũng phải thực hiện trước. Người nhà buôn liền đi mua bát cúng cho Bạt-nan-đà, sau đó mới đi họp. Rõ ràng phải đến trễ giờ, thấy ông ta đến mọi người đều nói: Phải phạt tội đi trễ giờ. Người nhà buôn nói: Tôi không phải vì việc riêng mà vi phạm quy chế của quý vị. Có một Sa-môn đến tôi xin bình bát, không thể không cho, phải lo cho xong, cho nên đến trễ.

Người không có lòng vui tin theo Phật pháp nói: Vì một Sa-môn mà ông vi phạm quy chế của nhiều người, phải phạt thật nặng là xứng đáng. Họ thi hành ngay. Bị phạt quá nặng, người nhà buôn bực tức, giận dữ nói: Sa-môn Thích tử chẳng biết điều chút nào, bảo chờ không chịu, để đến nỗi tôi bị phạt nặng như thế này. Mọi người nặng lời, nặng tiếng chê trách: Các Sa-môn Thích tử này thường nói biết điều, nào là ít ham muốn, biết vừa đủ, mà phi thời đến người cưỡng bức xin cho được, họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi bạch với Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Thế Tôn bằng mọi lời lẽ quở trách nặng nề rồi hỏi các Tỳ-kheo: Ý các ông thế nào? Bát không tỳ vết hàn gắn ấy phải là bát không? Đáp: Là bát. Bát bị hàn gắn từ một đường cho đến năm đường ấy là bát phải không? Vâng là bát. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: Bát lành lặn, bát có dấu hàn gắn từ một đường cho đến bốn đường là bát, bát hàn gắn năm đường không phải là bát. Do mười điều lợi nên vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào bát chưa đủ năm đường hàn gắn, lại xin bát mới, vì muốn đẹp, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Bát ấy nên xả giữa Tăng, Tăng nên lấy cái bát chót (bát không vị nào lấy) đưa cho và nói: Thầy nên thọ trì cái bát này cho đến vỡ. Pháp xả bát là như vậy.

Bát có ba loại: Bát sắt, Bát-tô ma, bát sành. Lại có ba cỡ: Lớn, nhỏ và vừa. Lớn là đựng được ba bát cơm của tín thí, trừ canh và rau. Nhỏ là đựng được một bát cơm của tín thí, trừ canh và rau. Vừa là chặng giữa của cỡ lớn và cỡ nhỏ. Vì muốn đẹp: Mong cầu bền chắc và tốt. Nếu đã có bát không hàn gắn bốn đường lại xin bát lành lặn cho đến hàn gắn bốn đường, nhận được, đều phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Nếu đã có bát lành lặn, cho đến bát hàn gắn bốn đường, lại xin bát ràng rịt năm đường, nhận được, đều phạm Đột-kiết-la.

Nên xả giữa Tăng: Bát mới nhận được nên xả cho chúng Tăng, không được xả cho một, hai, ba người. Pháp xả: Đương sự phải đến giữa Tăng thưa: Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là ___ có bát chưa đủ năm đường hàn gắn, lại xin bát mới, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Đây là lời tác bạch. Tăng nên bạch nhị Yết-ma sai Tỳ-kheo biết pháp, đến giữa Tăng thực hành pháp xả, một Tỳ-kheo xướng:

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là ___ có bát chưa đủ năm đường ràng, lại xin bát mới, nay xả cho Tăng. Nay Tăng sai Tỳ-kheo này tên là ___ làm người hành bát. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch. Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là ___ có bát chưa đủ năm đường hàn, lại xin bát mới, nay xả cho Tăng. Tăng nay sai Tỳ-kheo tên là ___ làm người hành bát. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. Tăng đã sai Tỳ-kheo tên là ___ làm người hành bát rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như vậy, Tỳ-kheo này nên công bố và tất cả Tỳkheo đều mang bát của mình đến. Sau đó người hành bát đem bát xả đó tới trước Thượng tọa, hỏi: Thầy cần cái bát này không? Nếu vị Thượng tọa nói cần thì người hành bát lấy bát của Thượng tọa xem xét. Nếu Thượng tọa không có bát, hay bát quá lớn, hoặc quá nhỏ, hoặc lủng lỗ, méo mó thì không nên đổi. Nếu không có năm trường hợp trên thì nên trao cho (tức đổi). Đưa rồi, lấy bát của Thượng tọa đem đến vị Thượng tọa thứ hai, cho đến vị mới thọ giới Cụ túc cũng làm y như vậy. Tăng nên lấy bát tối hậu này (tức cái bát sau cùng không ai lấy) trao cho vị Tỳ-kheo xả bát. Trường hợp hành bát, không có vị nào lấy thì cho phép hoàn bát đó lại cho đương sự. Tăng nên có lời dạy: Đây là bát của thầy. Thầy phải hết lòng trân trọng hộ trì, đừng đặt bừa lên đất, đừng đựng những đồ thừa thãi, đừng đựng thức ăn cách đêm, đừng đựng nước nóng, đừng đựng hương, đừng đựng thuốc, cần trân trọng gìn giữ như thế. Nếu bát bị bể thì cho phép thầy xin cái khác. Tỳ-kheo-ni cũng thi hành như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ mười chín

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà nhận được nhiều bát, mỗi cái dùng năm, sáu ngày lại đem để dồn xếp xó. Như vậy số bát cũ chỗ nào cũng có để. Các Trưởng giả thấy vậy hỏi: Bát của ai chất đống đây? Có ai đó nói: Của Bạt-nan-đà. Các Trưởng giả nói: Sa-môn Thích tử thường nói thiểu dục, tri túc, mà nay không hề nhàm chán, thu gom chất chứa như người buôn bán bát, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi cùng đưa đến chỗ Đức Phật, bạch lên Ngài sự việc ấy. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật quở trách nghiêm khắc rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào chứa bát dư cho đến một đêm, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Bấy giờ, có một Tỳ-kheo ở riêng một mình, nhận được hai cái bát, lại khơi dậy ý nghĩ: Đức Phật không cho phép ta chứa bát dư quá một đêm. Với ý nghĩ này, vị Tỳ-kheo liền đem một bát cho Tỳ-kheo khác. Sau khi cho, chiếc bát của Tỳ-kheo lại bị bể, không có bát để du hành. Các Tỳ-kheo hỏi: Trước đây thầy có hai cái bát, nay tại sao không còn cái nào? Tỳ-kheo trả lời bằng cách kể lại vấn đề. Các Tỳ-kheo đem sự việc ấy bạch Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Ông đem bát cho một thầy khác, sau đó được mấy ngày thì bát của ông bị bể? Bạch Thế Tôn, mười ngày. Đức Phật khen hạnh ít ham muốn, biết đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này nên nói như sau: “Tỳ-kheo nào chứa bát dư cho đến mười ngày, nếu quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Khi nhận được hai bát thì nên hỏi Hòa thượng, A-xà-lê: Trong hai chiếc bát này cái nào tốt hơn? Nếu Hòa thượng, A-xà-lê không khéo phân biệt được thì nên dùng mỗi cái năm ngày, qua đó tự biết cái nào tốt hơn thì gìn giữ thọ trì, cái không như ý thì cho người. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ hai mươi

Đức Phật ở tại ấp A-đồ-tỳ. Lúc này, các Tỳ-kheo đích thân làm ngọa cụ bằng kiều-xa-da (tơ tằm), tự mình làm lại khiến người làm, tự mình gánh kén cũng khiến người gánh kén, tự mình nấu cũng khiến người nấu. Các Cư sĩ thấy, nói: Chúng ta ươm (nấu) kén Tỳ-kheo cũng ươm kén. Sa-môn Thích tử với ta đâu có khác gì? Những người này thường nói thương xót chúng sinh, nay lại chính mình ươm kén, thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.

Có một Tỳ-kheo tự mình quay tơ tằm rồi nhờ các Tỳ-kheo khác may ngọa cụ, bị thiếu tơ, đến nhà người làm tơ nói: Tôi đang may ngọa cụ mà lại thiếu tơ, ít nhiều cho tôi được chứ? Người ấy nói: Có thể vì tôi mà ươm cho vậy. Người ấy liền nấu kén trước mặt Tỳ-kheo. Tiếng nhộng khua động trong kén, Tỳ-kheo bảo nhận nó xuống nước sôi. Người ươm tơ tỏ vẻ bực mình mắng ngay: Thầy thường nói không sát sinh mà nay lại bảo người sát sinh, thật không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch với Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới bằng Kiềuxa-da, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Kiều-xa-da: Tức tơ làm bằng kén.

Ngọa cụ: Nệm nằm cho đến mới thành ba nấc không hư hoại gọi là ngọa cụ. Nên xả cho Tăng không nên xả cho người khác. Tăng nên dùng trải trên đất, hay trên giường dây, giường nằm. Trừ Tỳ-kheo xả ngọa cụ. Ngoài ra tất cả Tăng tùy theo thứ tự mà nằm ngồi. Khởi tâm muốn làm hay chuẩn bị làm đều phạm Đột-kiết-la. Làm thành phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Tuy không tự mình làm, người khác cho mà nhận cũng phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ hai mươi mốt.

Đức Phật ở tại thành Câu-xá-di. Khi ấy phần đông người Bạt-kỳ dùng lông dê đen tuyền màu lấp lánh mượt mà rất quyến rũ làm đồ phục sức, ngọa cụ. Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ cũng bắt chước làm như vậy. Bất chợt các Cư sĩ vào phòng xem chơi thấy vậy đâm hoảng, e sợ các hào tộc Bạt-kỳ tập hợp để vui chơi. Tiện lúc có người đi qua, các Cư sĩ hỏi: Đây là phục sức của quý nhân nào? Người ấy trả lời: Không phải vật dụng của quý nhân, mà là kiểu học đòi của Tỳ-kheo Bạt-kỳ! Các Cư sĩ dị nghị chê trách: Các Tỳ-kheo mà ăn mặc như nhà Vua, như Đại thần, như hào tộc lúc họ cần chưng diện để lên xe, xuống ngựa. Tôi nghe Tỳ-kheo mặc y cắt rọc, cầu đạo vô vi, nay lo cái mặc sang trọng như thế này chăng! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe thế bằng mọi cách quở trách rồi bạch lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự ông có như vậy không? Dạ thưa: Thật có như vậy, bạch Thế Tôn. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới bằng lông dê hoàn toàn màu đen, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Hoàn toàn đen: Lông dê đen hay nhuộm đen. Nên xả cho Tăng, Tăng dùng trải trên giường dây hay ghế ngồi, không được trải trên đất.

Ngoài ra như trong giới ngọa cụ bằng Kiều-xa-da đã nói. Xong giới thứ hai mươi hai

Đức Phật ở tại thành Câu-xá-di. Bấy giờ, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ làm ngọa cụ bằng lông dê màu đen trộn thêm một ít lông trắng và lông sắc kém, và cho như thế là tịnh. Các Tỳ-kheo Trưởng lão thấy vậy hỏi: Thầy không nghe Đức Phật cấm làm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen hay sao? Tỳ-kheo Bạt-kỳ trả lời: Có nghe, nhưng tôi đã trộn màu trắng và màu sắc kém, đâu phải là toàn đen. Các Tỳ-kheo nói: Toàn đen với đem pha một ít màu tạp thì đâu đủ để khác nhau? Bằng mọi cách quở trách rồi, các Tỳ-kheo bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳkheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Thật có như vậy. Phật bảo các Tỳ-kheo: Từ nay cho phép các Tỳ-kheo làm ngọa cụ với hai phần lông dê màu toàn đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu sắc kém. Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳkheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới nên dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu hạ (xám). Nếu làm quá mức lượng này, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Nếu Tỳ-kheo làm ngọa cụ bốn mươi Ba-la thì nên dùng hai mươi Ba-la lông màu đen, mười Ba-la màu trắng. mười Ba-la màu hạ. Nếu màu đen dư một Ba-la, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Ngoài ra như trong giới làm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen đã nói.

Xong giới thứ hai mươi ba

Đức Phật tại thành Câu-xá-di. Lúc ấy, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ nảy ra ý nghĩ: Đức Phật đã cho phép chúng ta dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu hạ để làm ngọa cụ. Vì thế, họ tìm xin được nhiều ba loại lông dê ấy rồi tự làm và khiến người làm ngọa cụ. Trong các trú xứ không chỗ nào là không có việc làm này. Các Cư sĩ đến thăm chơi, thấy thế bèn hỏi: Vật này của ai? Được trả lời: Của Tỳ-kheo Bạt-kỳ. Các Cư sĩ dị nghị chê trách, như trong giới chứa bát dư đã nói. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe được việc ấy, bằng mọi các quở trách rồi bạch lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Có thật như vậy. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này nên nói như sau: “Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới, nên cất để dùng sáu năm, chưa đủ sáu năm, hoặc xả hay không xả lại làm ngọa cụ mới, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Bấy giờ, có một Tỳ-kheo nhận ra trong ngọa cụ phấn tảo có được nhiều tiện lợi nên cất giữ cẩn thận. Vì ngọa cụ này khá nặng nên không thể mang theo lúc đi xa. Vị Tỳ-kheo ấy muốn đi từ thành Xá-vệ về ấp Ta-kiệt-đà, không biết làm thế nào để đem theo ngọa cụ ấy, nên bạch với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cùng đến chỗ Đức Phật bạch lên Ngài. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Tỳkheo này muốn đến ấp Ta-kiệt-đà, vì tấm ngọa cụ nặng, nhưng nhận thấy có điều lợi trong đó, nên không thể xả, lại không thể mang theo được. Tăng nên bạch nhị Yết-ma cho đổi cái nhẹ hơn. Tỳ-kheo nên đến giữa Tăng nói lên lời xin: Tôi Tỳ-kheo tên là ___ đã gìn giữ ngọa cụ phấn tảo bên mình vì thấy trong ấy có điều lợi. Nay tôi muốn du hành đến chỗ đó, mà ngọa cụ nặng nên không thể mang theo được, xin Tăng cho tôi đổi cái ngọa cụ nhẹ của Tăng. Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy. Trong Tăng nên sai một Tỳ-kheo bạch: Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là ___ tự mình chứa ngọa cụ, thấy trong đó có điều lợi, nay muốn du hành đến chỗ kia, nhưng ngọa cụ nặng không thể mang theo được, đến trước Tăng xin đổi cái nhẹ hơn. Nay Tăng cho đổi. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.

Đại đức Tăng xin lắng nghe, Tỳ-kheo này tên là ___ tự chứa ngọa cụ, thấy trong đó có điều lợi, muốn du hành đến chỗ đó, mà ngọa cụ nặng không thể mang theo được, nên đến xin Tăng đổi cái nhẹ. Nay Tăng cho đổi. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói.

Tăng đã đồng ý cho Tỳ-kheo tên là ___ đổi lấy ngọa cụ nhẹ hơn của Tăng rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.

Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới, phải thọ trì (chứa sáu năm), chưa đủ sáu năm, hoặc xả hoặc không xả, lại sắm ngọa cụ mới, trừ Tăng Yết-ma, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Sáu năm: Là tính đủ ngày trong sáu năm. Ngoài ra, như trong giới làm ngọa cụ bằng lông dê đen đã nói.

Xong giới thứ hai mươi bốn.

Đức Phật ở tại thành Câu-xá-di. Bấy giờ, các người Bạt-kỳ làm Ni-sư-đàn bằng lông dê toàn màu đen, Tỳ-kheo ở Bạt-kỳ cũng xin lông dê để làm. Việc tìm tòi hỏi xin này làm cho các Cư sĩ rất phiền hà, chán nản. Sau đó họ đến trong phòng của Tăng xem, thấy các Tỳ-kheo cất chứa nhiều nệm ngồi bằng lông dê toàn màu đen, nên lắm lời chê trách, như trong giới làm ngọa cụ toàn đen đã nói. Các Tỳ-kheo Trưởng lão đem những điều đã nghe được, bạch lên Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự các ông có như vậy không? Dạ thưa, có như vậy, bạch Thế Tôn. Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào làm Ni-sư-đàn mới nên dùng một miếng bằng một gang tay Đức Thiện Thệ để làm nhằm hoại đi sắc tốt. Nếu không làm hoại sắc, phạm Ni-tát-kỳba-dật-đề”.

Một gang tay Đức Thiện Thệ vuông vức hai thước.

Làm hoại sắc: Là tùy ý phủ lên trên cái mới. Ngoài ra, như trong giới làm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen đã nói.

Xong giới thứ hai mươi lăm

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, các Tỳ-kheo người gánh, kẻ vác lông dê đi theo đường. Người đi đường thấy thế đều chê trách nói: Chúng ta vì gia đình, vì miếng cơm manh áo nên phải còng lưng gánh lông dê, các Tỳ-kheo cũng làm như vậy, thì hạng người mặc y hoại sắc cắt rọc, cạo đầu, khất thực cùng ta đâu có khác gì? Họ không làm theo hạnh của Sa-môn, phá pháp Sa-môn. Có một Tỳ-kheo ở trên núi thường theo thói quen gánh lông dê đi đường, hôm đó quá mệt, lả người, khi về đến trước sân của Tăng phường thì té xỉu xuống đất. Các Tỳ-kheo thấy tưởng là bị ma quỷ nhập vào, liền lấy nước tiểu rưới lên mặt. Tỳ-kheo kia hỏi: Tại sao Trưởng lão lại rưới nước nơi mặt tôi? Trưởng lão đáp: Tôi sợ ma quỷ nhập nơi thầy nên mới xối chứ! Vị Tỳ-kheo tiếp lời: Đâu phải ma quỷ nhập, tại tôi gánh lông dê quá nặng đi đường mỏi mệt nên sốt nóng ngất xỉu thôi. Các Tỳ-kheo nói: Đức Phật chế Tỳ-kheo chỉ thọ trì ba y và bình bát, ví như chim bay được nhờ đôi lông cánh, thầy đâu không nghe mà lại còn gánh thứ ấy? Bằng mọi cách quở trách rồi, các Tỳ-kheo bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Thật sự ông có như vậy không? Bạch Thế Tôn, thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào gánh lông dê đi đường, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Vào một dịp khác, có Cư sĩ vì Tỳ-kheo làm một cái phòng, nghĩ: Tỳ-kheo nào đến ở phòng này thì tôi cúng dường và cung cấp y. Sau đó, có một Tỳ-kheo đến ở, Cư sĩ bèn cúng lông dê, Tỳ-kheo không nhận, Cư sĩ nói: Con để dồn lông dê với bổn ý là vì Tỳ-kheo chứ không phải vì bản thân. Tỳ-kheo nói: Đức Phật không cho phép tôi tự gánh lông dê thì làm sao nhận được.

Lại có trường hợp Tỳ-kheo cần lông dê làm ngọa cụ, tự mình không biết làm, muốn nhờ Tỳ-kheo khác, nên không dám nhận, đem vấn đề bạch Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia: Người mà ông muốn nhờ ở cách ông xa gần? Đáp: Bạch Đức Thế Tôn! Ở cách con ba do-tuần. Nghe thế, Đức Thế Tôn liền khen hạnh thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào nhận được lông dê, nếu cần mang đến địa chỉ nào đó, thì tự mình mang đi và chỉ mang trong phạm vi ba do-tuần, mang đi quá mức định, phạm Ni-tátkỳ-ba-dật-đề”.

Tỳ-kheo nhận được lông dê, cần mang đến địa chỉ nào đó, nên khiến tịnh nhân mang hộ, nếu không có tịnh nhân mới cho phép mình mang, nhưng không được đội trên đầu hay vác nơi lưng, nếu độpi, vác phạm Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

Không phạm: Trong phạm vi ba do-tuần, hay lần lượt thay nhau mang, hoặc có người mang thế, hoặc mang trở lại ba do-tuần lần thứ hai, hoặc chỉ mang năm, sáu Ba-la đủ để làm dây lưng hay cái mão…

Xong giới thứ hai mươi sáu

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo sai Tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, đập lông dê. Các Tỳ-kheo-ni vì vấn đề cúng dường, không dám từ nan, do vậy công việc càng thêm bề bộn nên phế bỏ việc đọc tụng, tọa thiền, hành đạo. Các Cư sĩ nghe thấy điều này rất bất bình chê bai. Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đến chỗ Đức Phật, như trong giới giặt y cũ đã nói. Nhân việc này, Đức Thế Tôn tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Thật sự có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳkheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào sai Tỳkheo-ni giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo có Tỳ-kheo-ni bà con, cũng như trong giới giặt y cũ đã nói. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen hạnh ít ham muốn, biết đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ- kheo nào sai Tỳ-kheo-ni không phải bà con giặt lông dê, hoặc nhuộm, hoặc chải, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Ngoài ra, như trong giới giặt y cũ đã nói.

Xong giới thứ hai mươi bảy

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà trao đổi mọi thứ, phần lợi thuộc về mình, người khác không bao giờ được lợi từ sự trao đổi đó. Có một ngoại đạo nhận được một tấm vải chưa may thành, mang đến nhà ngoại đạo nói: May thành y cho tôi. Các người nói: Nhà tôi nhiều việc không thể may được. Sa-môn Thích tử nhàn rỗi không có việc gì, lại nhận được nhiều y bố thí, có thể đến đó nhờ may, cũng có thể trao đổi, nhưng Sa-môn kia rất dẻo mồm nổi tiếng là một nhà buôn, ông đến đó nên cẩn thận. Theo lời hướng dẫn, ngoại đạo mang tới nơi Tăng đang cư ngụ dò hỏi: Ai có thể vì tôi may chiếc y này? Quý vị đều nói không thể may được. Đương sự lại hỏi Bạt-nan-đà: Tôi nghe Đại đức có nhiều y đã may xong, có thể đổi cho tôi một cái được không?

Bạt-nan-đà nói: Các ngoại đạo của ông, tâm không dứt khoát, hay thay đổi bất thường, đổi được rồi lại nói tốt, xấu lôi thôi. Nếu sau khi đổi rồi không được nói gì thì tôi đổi cho.

Ngoại đạo nói: Người khác thì có thể đổi ý, chứ tôi thì không bao giờ nói tới, nói lui. Như đắc ý, Bạt-nan-đà lấy một cái y cũ được nhuộm lại bằng nước hồ Kiếp bối, nén ép thật láng để đổi. Ngoại đạo đổi được y rồi, đem về trong chúng của mình. Đồng bạn hỏi: Đã may thành y chưa? Đương sự nói: Đã đổi được y rồi. Đâu đưa chúng tôi xem với! Đương sự liền đem ra trình xem. Các người ngoại đạo xem qua đều lên giọng trách: Ối cha! Đem tấm vải quý giá đổi lấy cái y xấu tệ thế này, khờ thật, chênh lệch gấp năm, sáu lần, phải lấy vải lại thôi. Chúng tôi sẽ cùng nhau bỏ công may cho. Người ngoại đạo liền mang y trả lại, nói với Bạt-nan-đà: Ông là Thích tử, tại sao dối tôi, dùng y xấu tệ thế này đánh tráo cho tôi. Đổi lại cho tôi đi! Nếu không tôi rao truyền tiếng xấu của ông đó. Bạt-nan-đà nói: Tôi biết tâm ngoại đạo không dứt khoát, hay nói tới, nói lui, tôi không muốn đổi kia mà. Vì ông đã một lời dứt khoát nên tôi mới theo ý ông mà đổi, sao bây giờ lại nói như vậy? Tôi không đổi lại đâu! Ngoại đạo bèn la lớn. Các Cư sĩ hỏi: Tại sao ông la lớn thế? Ngoại đạo trả lời bằng cách kể lại chuyện đã xảy ra. Các Cư sĩ chê trách nói: Người đời mua bán sau bảy ngày còn đổi lại được, tại sao Sa-môn mới trong chốc lát lại không đổi được? Hình thức ăn mặc

có khác với người đời, song mua bán thì quá hơn họ! Tiếng xấu ấy lan khắp các nơi. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe được, bằng mọi cách quở trách rồi bạch lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: Thật sự ông có như vậy không? Dạ thưa có thật như thế, bạch Thế Tôn. Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào mua bán các thứ để cầu lợi, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”.

Dùng cái đã làm đổi cái đã làm, dùng cái đã làm đổi cái chưa làm, dùng cái đã làm đổi cái làm chưa xong, dùng cái chưa làm đổi cái chưa làm, dùng cái chưa làm đổi cái đã làm, dùng cái chưa làm đổi cái làm chưa xong, dùng cái làm chưa xong đổi cái làm chưa xong, dùng cái chưa xong đổi cái đã làm, dùng cái làm chưa xong đổi cái chưa làm, đều phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Nếu Tỳ-kheo muốn trao đổi nên bảo tịnh nhân nói: Vì tôi lấy vật này đổi vật kia. Hơn nữa, phải với tâm niệm: Phải làm sao cho người kia được lợi hơn ta, ta không nên được lợi hơn người kia. Nếu tự trao đổi thì nên trao đổi với năm chúng xuất gia. Nếu cùng bạch y trao đổi phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni phạm cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

Xong giới thứ hai mươi tám

Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, Nan-đà, Bạt-nan-đà dùng vàng, bạc, tiền bằng vàng, tiền bằng bạc, tiền bằng tạp vật để mua vật dụng hay bán vật dụng, thu vào các loại tiền. Khi ấy có đám cướp đến thành Vương-xá, dò tìm, rình rập các nhà giàu, thấy hai Tỳ-kheo dùng nhiều vàng bạc và tiền mua vào bán ra các vật dụng để thu vàng, tiền vào. Chúng cùng nhau bàn nói: Quan sát nơi thôn ấp này không ai giàu hơn Sa-môn Thích tử. Như vậy nơi A-lan-nhã cướp đoạt của cải Thích tử chắc dễ thôi. Vào ngay hôm sau, chúng đến nơi A-lan-nhã, bắt các Tỳkheo ở đấy tra khảo để lấy vàng bạc và các loại tiền. Các Tỳ-kheo nói: Chúng tôi đã xa lìa vàng bạc và tiền, không thọ nhận cất giữ các thứ bất tịnh ấy. Đám cướp nói: Các ông nói dối. Chính tôi thấy Tỳ-kheo dùng nó để mua bán. Họ tra khảo Tỳ-kheo gần chết, rồi lấy hết y, bát đi. Các Tỳ-kheo này chuyển lời quở trách Nan-đà, Bạt-nan-đà: Tại sao xuất gia lại cất chứa vật báu để đến nỗi gây tai họa đến chúng ta. Quý vị bạch Phật, nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Nan-đà, Bạtnan-đà: Thật sự các ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật nghiêm khắc quở trách: Các ông là người ngu si, nếu các ông không làm vậy thì các Tỳ-kheo kia đâu có bị tai họa như thế. Bằng mọi cách quở trách xong rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào dùng vàng bạc và các loại tiền mua bán, phạm Ni-tátkỳ-ba-dật-đề”.

Phạm vật nên xả giữa Tăng, không nên dùng một, hai, ba người xả vật. Tỳ-kheo ấy nên bạch Tăng: Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là ___ dùng vàng bạc và tiền mua bán phạm Xả đọa, nay xin đối trước Tăng xả. Đây là lời tác bạch. Tăng nên bạch nhị Yết-ma, sai một Tỳ-kheo làm người vất bỏ vàng bạc và tiền. Một Tỳ-kheo bạch: Đại đức Tăng xin lắng nghe: Tỳ-kheo này tên… dùng vàng bạc và tiền mua bán, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Tăng nên sai Tỳ-kheo tên là ___ làm người vất bỏ vàng bạc và tiền. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch. Đại đức Tăng xin lắng nghe: Tỳ-kheo ấy tên… dùng vàng bạc và tiền mua bán, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Tăng sai Tỳ-kheo tên ___ làm người vất bỏ vàng bạc và tiền. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. Tăng đã sai Tỳ-kheo tên ___ làm người vất bỏ vàng bạc và tiền rồi, Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy. Tỳkheo kia nên vất bỏ vật này trong hầm, trong lửa, trong dòng nước, trong đồng hoang, vất bỏ rồi, không nên ghi nhớ chỗ vất bỏ. Hoặc cầm đem bỏ chỗ khác thì không được lấy lại. Tỳ-kheo kia không nên hỏi Tăng: Vật này nên làm thế nào? Tăng cũng không nên bảo phải làm thế này, thế này. Nếu không đem vất bỏ, không hỏi Tăng, bảo tịnh nhân đem đổi lấy thức ăn hay y phục đem đến cho Tăng, Tăng có thể nhận. Nếu đem phân chia thì chỉ có người phạm tội không được nhận phần. Tỳ-kheo-ni phạm cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

Không phạm: Tuy đã cho Tỳ-kheo mà Tỳ-kheo không hề biết, tịnh nhân nhận rồi mua tịnh vật.

Xong giới thứ hai mươi chín

Đức Phật ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ, Nan-đà, Bạt-nan-đà tự tay cầm vàng bạc và tiền, bảo người cầm, người cho cũng nhận. Các Cư sĩ thấy, chê trách, như trong giới gánh lông dê đã nói. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi các quở trách, rồi bạch lên Đức Phật. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Nan-đà và Bạt-nan-đà:

Thật sự hai ông có như vậy không? Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật có như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới. Từ nay giới này được nói như sau: “Tỳ-kheo nào tự mình cầm vàng bạc và tiền, hoặc khiến người cầm hay khởi tâm thọ nhận, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề”. Ngoài ra, như trong giới sử dụng vàng bạc và tiền đã nói.

Xong giới thứ ba mươi

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

About Đoàn, Thoại MD

Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng chỉ bày 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Hãy chọn ít nhất một Pháp môn và luôn tự lỗ lực bản thân, không một ai có thể giúp bạn rũ bỏ những điều bất tịnh. Ngay cả chư Phật và Bồ tát cũng không thể giúp bạn được. Các Ngài chỉ giống như tấm bảng chỉ đường và hướng dẫn bạn mà thôi | As the living have 84,000 delusions, so the Buddha provides 84,000 methods of dealing with them. Please choose a minimum of them for practicing. Always make of yourself and that no one else can help you to rid yourself of impurity. Even the Buddhas and Bodhisattvas are of little help because they only serve as masters to guide you.

Leave a comment

Your email address will not be published.


*