Luật Di Sa Tắc Bộ Hòa Hê Ngũ Phần: 1. Giới Tỳ Kheo – Bốn Pháp Ba La Di – Giới thứ ba

LUẬT DI SA TẮC BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN

Hán dịch: Đời Lưu Tống, Tam tạng Phật Đà Thập người nước Kế Tân, cùng Trúc Đạo Sinh
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

Phần 1: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO

Đoạn 1: NÓI VỀ BỐN PHÁP BA LA DI (tiếp theo)

Đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo tu pháp quán bất tịnh thì được quả lớn về lợi lạc. Kể từ ấy, các Tỳ-kheo đều tu tập pháp ấy càng nhàm chán, xấu hổ, gớm ghiếc thân này chẳng khác nào một thiếu niên đang hồn nhiên trong trắng, thân thể tắm rửa thơm phức, mặc áo mới tinh, bỗng đâu có ba xác chết trẻ mới sinh đem quấn vào cổ, máu mủ chảy nhớp cả thân, dòi bò nhung nhúc khắp người thiếu niên kia. Cậu ta đau khổ quá sức không thể nào tưởng tượng nổi và rồi với ý nghĩ còn lại là làm thế nào để thoát khỏi thân khổ nạn ấy. Các Tỳ-kheo nhàm chán, ghét bỏ thân này cũng giống như vậy. Trong số những Tỳ-kheo ấy, hoặc có vị tự sát, hoặc lần lượt từng mạng giết hại nhau, hoặc thắt cổ, hoặc uống thuốc độc. Có một Tỳ-kheo nhàm chán thân này rồi, bèn đến chỗ người Chiên-đà-la-di-lân nói: “Hãy vì tôi, ông đoạn mạng này đi, y bát ấy tôi cho ông”. Ngay lúc đó, Chiênđà-la vì y bát nên đã dùng dao chặt phứt mạng sống của Tỳ-kheo ấy. Chiếc dao đẫm máu, người Di-lân đem đến sông Bà-cầu-mạt để tẩy rửa, bỗng lòng đầy hối hận, liền gợi lên ý nghĩ: “Nay ta làm điều bất thiện, tại sao chỉ vì chút lợi nhỏ mà sát hại tính mạng của vị Sa-môn trì giới, tội này trời đất không dung tha”. Lúc ấy, Thiên ma cõi Tự Tại biết được tâm niệm đó, nhanh như cái duỗi tay của một tráng sĩ, Thiên ma từ dưới nước vọt lên, đứng trên mặt nước, sừng sững trước Di-lân với lời khen ngợi: “Lành thay! Ông đã được điều lợi lớn, do đoạn mạng vị Samôn trì giới, độ người chưa được độ, phước đức vô lượng, thiên thần ghi nhận điều đó, nên ta đến tin cho ông biết”. Thật đúng lúc, Chiên-đà-la liền sinh tà kiến ác độc, lòng rất vui mừng nói: “Nay ta sẽ lại độ người chưa độ”. Người Chiên-đà-la ấy biết rõ được tướng trạng thân nào đã nhàm chán, thân nào chưa nhàm chán. Nếu Tỳ-kheo phàm phu chưa lìa dục, khi đưa dao đến, thân họ sợ sệt, đó là người chưa nhàm chán thân, ta giết người này được phước quá ít, nay ta nên tìm những vị đã đắc đạo quả, người không có sự sợ sệt. Với ý nghĩ như thế, tay cấm trường đao, ông ta đi từ phòng này sang phòng kia, từ chỗ kinh hành này đến chỗ kinh hành khác, cao giọng lớn tiếng rao: “Ai muốn diệt độ, tôi sẽ độ cho”. Lúc đó, các Tỳ-kheo nhàm chán, ê chề về thân xác đều sẵn sàng tìm đến để nhờ đoạn mạng. Có ngày ông ta giết mười vị, hai mươi vị, cho đến sáu mươi vị. Do nhân duyên như vậy nên số lượng Tăng càng giảm, nhất là các Đại đức Thanh văn đều tuần tự vắng bóng.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ra khỏi Tam-muội, đứng dậy, đến ngồi trên chỗ đất trống, đại chúng vây quanh. Đức Phật quan sát Tăng chúng, rồi hỏi Tôn giả A-nan:

– Hôm nay sao Tăng chúng lại giảm sút như vậy?

Tôn giả A-nan bạch Phật:

– Có một thuở, Đức Thế Tôn vì các Tỳ-kheo nói phép quán bất tịnh, các Tỳ-kheo tu tập, nhàm chán ghét bỏ thân xác khổ đau này nên đã lần lượt cùng nhau tìm cái chết tai hại. Thậm chí chỉ nội trong một ngày mà Di Lân nhẫn tâm sát hại đến sáu mươi vị phạm hạnh. Vì vậy, hôm nay số lượng Tăng giảm nhiều như thế. Lành thay, Đức Thế Tôn! Cúi xin Ngài chỉ cho con đường pháp thiện khác, khiến các Tỳ-kheo sống vững trong an lạc.

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

– Nay ông thông báo cho các Tỳ-kheo y chỉ nơi Tỳ-xá-ly này về hội hợp tại giảng đường.

Tôn giả làm theo lời dạy, lệnh gọi các Tỳ-kheo về hội. Sau khi tập hợp xong, Tôn giả đến bạch Phật:

– Đã đông đủ, con xin cung thỉnh Thế Tôn.

Đức Thế Tôn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến giảng đường ngồi uy nghi trên pháp tòa. Ngài hỏi các Tỳ-kheo:

– Thật có sự việc như trên không?

Các Tỳ-kheo thưa:

– Bạch Thế Tôn, có sự thật như vậy.

Đức Phật bằng mọi cách quở trách:

– Các ông là người ngu si, làm việc phi pháp, các ông há không nghe ta nói, để hộ niệm chúng sinh thì phải có lòng từ và sự kiên nhẫn, tại sao các ông không nhớ điều này.

Sau khi bằng nhiều cách quở trách, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

– Nếu ai tự sát, phạm tội Thâu-lan-giá.

Đức Phật lại bảo:

– Từ nay về sau nên tu niệm An-ban, quán Lạc tịnh, quán Lạc hỷ. Quán như vậy rồi, nên điều ác sinh ra thì pháp bất thiện này có thể trừ diệt. Do mười điều lợi, Ta vì các Tỳ-kheo kiết giới, từ nay giới này được nói như sau: “Nếu Tỳ-kheo tự tay sát hại, giết chết mạng sống của chính mình, Tỳ-kheo này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung”.

Lúc ấy, số đông Tỳ-kheo mắc trọng bệnh, có các Tỳ-kheo đến thăm hỏi:

– Bệnh tình của Đại đức có bớt không? Có đau đớn lắm không?

Tỳ-kheo bệnh nói:

– Bệnh chắc khó giảm, đau đớn khó chịu lắm.

Tỳ-kheo bệnh lại van xin các Tỳ-kheo:

– Cho tôi con dao hay sợi dây, cho tôi thuốc độc, cho tôi thức ăn làm cho bệnh tăng thêm, đem tôi đến chỗ bờ cao của sông.

Trước tình cảnh đó, các Tỳ-kheo thuận theo ý của bệnh nhân. Tỳ-kheo bệnh đã tự sử dụng một trong các phương tiện trên để đoạn mạng. Sau khi các Tỳ-kheo chứng kiến người bệnh chết, lòng đầy hối hận, thưa với Tôn giả A-nan. Tôn giả đến chỗ Đức Phật trình bày đầy đủ sự việc. Đức Phật dùng nhân duyên này tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:

– Thật sự có các việc như vậy không?

Các Tỳ-kheo thưa:

– Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy.

Đức Phật bằng mọi cách quở trách: Các thầy là người ngu si, tự đoạn mạng người và đưa dao khiến cho họ tự sát, khác nhau chỗ nào? Từ nay giới này được nói như sau: “Nếu Tỳ-kheo tự đoạn mạng người, cầm dao trao cho người, phạm tội Ba-la-di, không được sống chung”.

Lại có Tỳ-kheo mắc trọng bệnh, các Tỳ-kheo đến thăm hỏi (như trên)… bảo đưa dao, dây, thuốc độc cho tôi. Các Tỳ-kheo nói: “Đức Phật không cho chúng tôi đưa dụng cụ cho người tự sát, song chúng tôi có người thợ săn quen biết, sẽ vì thầy, kêu người ấy đến để đoạn mạng thầy”. Tỳ-kheo bệnh nói: “Hãy vì tôi gọi họ mau mau đi”. Tỳ-kheo kia hối hả đến nói với người thợ săn: “Này bạn! Có Tỳ-kheo bị bệnh nặng, không muốn sống, bạn đoạn mạng vị ấy sẽ được phước lớn”. Người thợ săn nói: “Nếu sát sinh được phước lớn, thì người làm lò sát sinh kia được phước lớn lắm hay sao?”. Các thầy Tỳ-kheo tự nghĩ: “Mình có lòng từ bi, nay lại bảo người giết, khác nhau chỗ nào? Khi ấy các Tỳ-kheo đều sinh tâm hối hận, đến nói với Tôn giả A-nan, Tôn giả cùng đưa đến chỗ Đức Phật và trình bày đầy đủ sự việc lên Ngài. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: Các thầy thật sự có như vậy hay không? Các Tỳ-kheo thưa: Bạch Thế Tôn, có thật như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi nói với các Tỳ-kheo: Tự mình giết và dạy người giết có gì khác nhau?! Từ nay giới này được nói như vầy: “Nếu Tỳ-kheo tự mình giết, dạy người giết, phạm Ba-la-di không được sống chung”.

Lại có Tỳ-kheo mắc bệnh nặng, các Tỳ-kheo đến thăm hỏi như trên, rồi nói với Tỳ-kheo bệnh: Giới hạnh của thầy đầy đủ nên nhận lấy phước của cõi trời. Nếu thầy tự sát chắc được sinh thiên, chuyện gì phải nhận lấy cái khổ triền miên thế này?! Tỳ-kheo bệnh nói: Sự việc sẽ như vậy, tuy dù có sự khổ đấy nhưng không thể tự sát. Tại sao? Vì nếu tự sát thì không những phạm tội Thâu-lan-giá mà còn không thể rộng tu phạm hạnh. Vị ấy lại quở trách: Tự tay mình giết người, dạy người khác tự giết đâu có cái gì khác, đã là Tỳ-kheo các thầy làm theo nghiệp ác này chăng! Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi cùng đưa các Tỳ-kheo đến chỗ Đức Phật, trình bày lên Ngài đầy đủ sự việc. Nhân việc này, Đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các thầy có như vậy không? Các Tỳ-kheo thưa: Bạch Thế Tôn, có đúng như vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: Các thầy ngu si, tự tay giết người, dạy người khác tự giết có gì khác đâu. Từ nay giới này được nói như sau: “Nếu Tỳ-kheo tự tay giết người, dạy người khác tự giết, phạm Ba-la-di không được sống chung”.

Lại có Tỳ-kheo mắc bệnh nặng, các Tỳ-kheo đến thăm giống như trên, cũng nói với các Tỳ-kheo bệnh: Với phạm hạnh đã lập của mình, thầy chết chắc chắn nhận quả an vui của cõi trời, tại sao không tự sát để sinh thiên, lại cam chịu khổ triền miên vì bệnh như thế này? Tỳ-kheo bệnh nói: Dù cho có như vậy, tôi cũng không thể tự sát. Tại sao? Vì Đức Phật cấm tự sát, nếu tự sát phạm Thâu-lan-giá. Vả lại, khi được lành bệnh tôi sẽ tu phạm hạnh.

Vào thời gian ấy, ở nước nọ, lại có giặc giã, các cư sĩ bị nạn cốt nhục phân ly, đầy dẫy khổ não. Tỳ-kheo nói: Các người đã tu phước báo sinh thiên, tại sao không tự sát, lại cam sống trong nỗi khổ cốt nhục chia lìa, ưu não thế này? Họ trả lời: Chúng tôi tuy chịu nỗi khổ não, nhưng không thể tự sát. Tại sao? Vì ở đời có gặp khổ mới biết tu đạo nghiệp. Họ lại quở trách: Đạo của Sa-môn vì chúng sinh mà từ bi, nhẫn nhục, tại sao lại khen ngợi sự chết, thôi thúc người tự sát? Tự sát hay khen ngợi sự chết đâu có khác gì! Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đưa các Tỳ-kheo đến chỗ Đức Phật, trình bày đầy đủ sự việc lên Ngài. Nhân sự việc này Đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng hỏi các Tỳ-kheo: Thật sự các thầy có như vậy không? Các Tỳkheo thưa: Bạch Thế Tôn, thật vậy. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: Việc của các thầy làm là phi pháp, tự sát và khen ngợi sự chết đâu có gì khác.

Từ nay giới này được nói như sau: “Nếu Tỳ-kheo, hoặc người, hoặc tương tợ người, hoặc tự sát, hoặc đưa dao hay thuốc độc để giết, hoặc dạy người giết, hoặc dạy người tự sát, đề cao sự chết, khích lệ sự chết, nói: Ôi! Ông sống khổ quá, sống mà làm gì, chết sướng hơn sống, tùy theo tâm sát sinh khởi tâm như vậy, như vậy dưới mọi hình thức khác nhau của vấn đề, đã làm cho người kia chết vì nguyên nhân như thế, Tỳ-kheo này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung”.

Từ khi vào thai mẹ cho đến bốn mươi chín ngày gọi là tương tợ người, sau bốn mươi chín ngày đến ra khỏi thai gọi là người. Tự tay mình cầm dao, gậy, thuốc độc… để giết gọi là đích thân giết. Người nào đó muốn tự sát, tìm phương tiện để sát, mình đưa cho họ dao, thuốc độc gọi là sự giết do mình trao cho. Sai khiến người khác, gọi là bảo người giết. Dạy người khác tự sát: tức là bảo người tự làm cho mình chết. Nói chết còn hơn sống gọi là đề cao, khen ngợi cái chết. Nhờ cậy quỷ thần giết theo ý mình gọi là tùy tâm sát, sinh khởi tâm sát.

Trường hợp phạm: Tự giết mình, sai khiến người giết, lần lượt sai, sai lại, chỉ bày lời lẽ, nói khi ngủ, hướng đến người ngủ nói, nói khi say, hướng đến người say nói, nói khi cuồng, hướng đến người cuồng nói, nói khi tâm loạn, hướng đến người tâm loạn nói, viết thư, ra dấu, nói bằng tay, nói tương tợ, một mình tưởng là một mình, không một mình tưởng là một mình, một mình tưởng là không một mình, nói giỡn, sắc, thanh, hương, vị, xúc, ưu ba đầu, ưu ba xà, ưu ba hại.

– Tự mình giết: Chính mình cầm dao gậy… giết, người kia chết, phạm Ba-la-di.

– Sai người: Sai khiến giết người kia, người kia chết, phạm Ba-la-di

– Lần lượt sai: Khiến ông A giết, ông A không giết được, rồi sai ông B giết, người kia chết, phạm Ba-la-di

– Sai lại: Người đầu tiên nhận, không giết được, về báo với Tỳkheo. Tỳ-kheo lại sai người khác giết, người kia chết, phạm Ba-la-di.

– Chỉ bày: Chỉ mặt trời, mặt trăng, tinh tú, nói với người kia: Phước của ông nên sinh đến đó, ông nên tự sát. Do thế họ chết, phạm Ba-ladi.

– Lời lẽ: Nói sống là tội lỗi, xấu xa, khen ngợi, tán thán sự chết. Do vậy người kia chết, phạm Ba-la-di.

– Nói khi ngủ: Tỳ-kheo trong khi ngủ, nói việc đã nghĩ trước: Công đức của ông đã thành, ông có thể tự sát. Người kia nghe rồi, đợi Tỳkheo thức dậy hỏi: Tại sao thầy nói lời ấy? Trong khi ngủ tôi muốn ông có được điều lợi ích như vậy nên nói thế. Nay ông thức cũng nên làm theo lời nói ấy. Ông có thể chết theo lời nói của tôi. Người kia do thế mà chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Hướng đến người ngủ nói: Tức hướng đến người ngủ nói lên điều này: Công đức của ông đã thành, có thể dùng dao… tự sát. Quỷ thần khiến người ngủ nghe, liền thức dậy hỏi: Tại sao thầy nói lời ấy? Đáp: Khi ông ngủ, tôi muốn tạo lợi ích cho ông nên nói lời ấy, nay ông thức cũng nên làm theo lời nói đó. Ông có thể chết theo lời nói của tôi. Do thế người kia chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Nói khi say: Khi say nói những điều trước đó đã nghĩ: Công đức của ông đã thành, nên dùng dao… tự sát. Người kia nghe rồi, đợi Tỳkheo tỉnh dậy hỏi: Tại sao thầy nói lời ấy? Đáp: Khi tôi say muốn cho ông có được lợi ích, nên nói lời ấy, nay tỉnh cũng nói như vậy. Ông có thể chết theo lời nói của tôi. Người kia nhân thế mà chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Hướng tới người say nói, nói như thế này: Công đức của ông đã thành, ông có thể dùng dao… tự sát. Khi tỉnh say rồi hỏi: Tại sao thầy nói lời ấy? Đáp: Vì muốn tạo lợi ích cho ông. Khi ông say nói như vậy, nay ông tỉnh cũng nói như vậy, ông có thể theo lời nói của tôi mà chết, nhân đấy người kia chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Nói khi cuồng, hướng về người cuồng nói, nói khi tâm loạn, hướng về người tâm loạn nói, nói lúc tâm bệnh hoạn, hướng về người tâm bệnh hoạn nói, cũng như vậy đều phạm Ba-la-di.

– Viết thư: Tỳ-kheo viết thư bảo người kia chết, khi viết thư mỗi chữ phạm một Thâu-lan-giá. Thư đến người kia, người kia do thế mà chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Ra dấu: Tỳ-kheo nói với người mình sai bảo: Ông xem ta ngồi, đứng, đưa tay lên, hạ tay xuống, miệng nói khi lạnh khi nóng thì giết người kia. Người ấy thấy tướng ra dấu bèn giết. Người kia chết, phạm Ba-la-di.

– Nói bằng tay: Bằng ngôn ngữ tác động tay dạy người giết, người kia tùy theo đó mà giết. Người ấy chết, phạm Ba-la-di.

– Nói tương tợ: Tỳ-kheo tác động với lời nói tương tợ dạy người giết. Người kia theo đó mà sát hại. Người ấy chết, Tỳ-kheo phạm Bala-di.

– Một mình tưởng là một mình, phạm Đột-kiết-la.

– Không một mình, tưởng là một mình, một mình, tưởng là không một mình, phạm Thâu-lan-giá.

– Nói giỡn: Tỳ-kheo nói vui chơi: Công đức của ông đã thành, có thể nên tự sát. Người kia hỏi: Tại sao nói lời ấy? Tỳ-kheo trả lời: Tuy trước đây tôi nói giỡn, nay trong ý cũng thật như vậy, ông có thể tự sát. Do vậy người kia chết, phạm Ba-la-di.

– Sắc: Tỳ-kheo làm chú thuật triệu quỷ thần sắc xấu ác khiến người sợ sệt, nhân đó mà chết, phạm Ba-la-di.

– Thanh: Nếu Tỳ-kheo nói lên điều này: Cha mẹ, con cái của ngươi đã chết, tài sản bị phá tan, nói như vậy, nhằm muốn cho người kia lo rầu rồi tự sát, nhân đó mà họ chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Hương: Dùng chất độc trộn chung với các loại hương, khiến cho người kia ngửi để chết, do đó mà chết, phạm Ba-la-di.

– Vị: Dùng chất độc trộn chung với thức ăn, khiến ăn, nhân đó mà họ chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Xúc: Giết bằng độc dược ca-tỳ, xoa nơi thân khiến cho họ chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Ưu ba đầu: Đào hầm gài bẩy để sát hại tất cả chúng sinh. Nếu người rớt xuống chết thì phạm Ba-la-di, phi nhân rớt xuống chết thì phạm Thâu-lan-giá, súc sinh rớt xuống chết phạm Ba-dật-đề.

– Ưu ba xà: Làm giường yếu phủ lên trên một lớp mỏng, trên dưới đều có đặt dụng cụ giết người, khiến người ngồi lên phải chết. Do thế mà họ chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

– Ưu ba hại: Dùng nọc độc của trùng để giết người, người do thế mà chết, Tỳ-kheo phạm Ba-la-di.

Nếu Tỳ-kheo với ý niệm: Ta sẽ giết người kia, khi khởi tâm, phạm Đột-kiết-la, khi tạo phương tiện phạm Thâu-lan-giá, người kia chết phạm Ba-la-di. Nếu giết phi nhân phạm Thâu-lan-giá, giết súc sinh phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni phạm cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, phạm Đột-kiết-la.

Trường hợp không phạm: Với tâm từ bi, không có tâm sát.

Xong giới thứ ba.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

About Đoàn, Thoại MD

Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng chỉ bày 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Hãy chọn ít nhất một Pháp môn và luôn tự lỗ lực bản thân, không một ai có thể giúp bạn rũ bỏ những điều bất tịnh. Ngay cả chư Phật và Bồ tát cũng không thể giúp bạn được. Các Ngài chỉ giống như tấm bảng chỉ đường và hướng dẫn bạn mà thôi | As the living have 84,000 delusions, so the Buddha provides 84,000 methods of dealing with them. Please choose a minimum of them for practicing. Always make of yourself and that no one else can help you to rid yourself of impurity. Even the Buddhas and Bodhisattvas are of little help because they only serve as masters to guide you.

Leave a comment

Your email address will not be published.


*