Nghi thức hành trì Chuẩn Đề Sám Pháp

NGHI THỨC HÀNH TRÌ CHUẨN ĐỀ SÁM PHÁP

Tỳ Khưu THÍCH VIÊN ÐỨC

1/ CHUẨN ÐỀ SÁM PHÁP
Kinh dạy:
Trước khi vào Ðạo tràng, nên làm lễ Phật, Sám hối, Tùy hỷ, Khuyến thỉnh, Phát nguyện.
Nên thọ Bồ đề Tâm Giới; năm pháp này là quy tắc sáu thời hành đạo của các vị Bồ tát.
Ðầu tiên vào Ðạo tràng quỳ gối, chấp tay, niệm chú dâng hương.
Ðọc Tịnh Pháp Giới Chơn ngôn:
Án Lam (7 biến)
Tịnh Khẩu Nghiệp Chơn ngôn:
Tu Rị, Tu Rị, Ma Ha Tu Rị, Tu Tu Rị Ta Bà Ha. (3 lần).
Tịnh Tam Nghiệp Chơn ngôn:
Án, Ta Phạ Bà Phạ Thuật Ðà Ta Phạ, Ðạt Ma Ta Phạ, Bà Phạ, Thuật Ðộ Hám (3 lần)
Phổ Cúng Dường Chơn ngôn:
Án, Nga Nga Nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hộc. (3 lần)
Ðọc bài nguyện hương:
Nguyện thử hương hoa vân,
Biến mãn Thập phương giới.
Nhứt nhứt chư Phật độ.
Vô lượng hương trang nghiêm.
Cụ túc Bồ tát đạo,
Thành tựu Như Lai hương.
Phổ lễ Chơn ngôn:
Án Phạ Nhựt Ra Vật. (7 lần)
ÐẢNH LỄ:
Nhứt tâm đảnh lễ A Súc Thế Tôn
Nhứt tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Cực Lạc thế giới A Di Ðà Thế Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới chư Phật Thế Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Thất Cu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết, Ðại Chuẩn Ðề, Ðà Ra Ni.
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Tu đa la Tạng Nhứt thế Ðà Ra Ni môn.
Nhứt tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na cung điện trung Thất Cu Chi Phật Mẫu Chuẩn Ðề Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Hư Không Tạng Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Ðịa Tạng Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Vô Năng Thắng Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Ðại Thế Chí Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương pháp giới Nhứt Thiết Bồ tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Ma Ha Ca Diếp Tôn giả Chư Ðại Thanh Văn Tăng.
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương pháp giới Nhứt thiết Tam thừa Hiền Thánh Tăng.
Sám hối:
Ngã đệ tử … chí tâm sám hối.
Ðại Thánh Chuẩn Ðề Tôn.
Nhứt thế Hiền Thánh chúng.
Kim thân nhược tiền thân.
Sở tạo chư ác nghiệp.
Chúng tội giai sám hối. (3 lễ).
Khuyến thỉnh:
Ngã đệ tử … chí tâm khuyến thỉnh
Thập phương nhứt thiết Phật.
Hiện tại thành đạo giả,
Ngã thỉnh chuyển Pháp luân,
An Lạc chư chúng sanh,
Thập phương nhứt thế Phật,
Nhược dục Bát Niết Bàn.
Ngã kim đầu diện lễ,
Khuyến thỉnh cửu trụ thế (3 lễ).
Tùy hỷ:
Ngã đệ tử … chí tâm tùy hỷ.
Tam thế chư Như Lai,
Bồ tát Thanh Văn chúng.
Tu tập tam thừa nhơn,
Nãi chí phàm phu loại.
Sở hữu chư phước thiện,
Thí giới thiền định huệ.
Nhẫn nhục tịnh tinh tấn,
Ngã kim giai tùy hỷ. (3 lễ)
Phát nguyện:
Ngã đệ tử … chí tâm phát nguyện.
Nguyện chư chúng sanh đẳng,
Tất phát Bồ đề tâm.
Vĩnh đoạn chư phiền não,
Ðương chứng nhứt thế trí.
Phục nguyện ngã kim tu,
Chuẩn Ðề bí mật hạnh.
Sở cầu chư Tất Ðịa,
Tùy tâm tốc thành tựu. (3 lễ)
Hồi hướng:
Ngã đệ tử … chí tâm hồi hướng.
Dĩ ngã sở tu phước,
Cập dữ Chơn ngôn hạnh.
Hồi hướng chư hữu tình,
Cọng thành Vô thượng đạo.
Phục dĩ kim sở tu,
Lễ bái cập sám hối.
Khuyến thỉnh tịnh tùy hỷ,
Phát nguyện hồi hướng thiện.
Tất thí dữ chúng sanh,
Vĩnh đoạn tam đồ khổ.
Ðồng thú đạo Bồ đề,
Pháp giới chơn như hải. (3 lễ)
Thất Phật Diệt Tội Chơn ngôn:
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ ni nể đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế ta bà ha. (3 lần, 3 lễ)
2/ VÀO ÐẠO TRÀNG TRÌ CHÚ CHUẨN ÐỀ
CÁCH NGỒI KIM CANG TỌA
(Nghĩa là lấy bàn chân mặt gác lên trên vế chân trái, hoặc tùy ý ngồi cũng được.)
HAI TAY KIẾT ẤN TAM MUỘI: (Nghĩa là lấy tay mặt duỗi ra, để ngửa lên bàn tay trái, rồi hai ngón tay cái giáp móng với nhau). Ðể ngang dưới rún, thân cho tề chỉnh, tâm cho an tịnh. Rồi tưởng trên đỉnh đầu ta có một chữ LAM rất tròn sáng như ngọc Minh Châu hay như mặt trăng rằm. Khi tưởng như vậy rồi thì xả ấn Tam muội trên Ðảnh, tay trái kiết ấn Kim Cang Quyền (nghĩa là lấy ngón tay cái bấm vào ngón áp út ở giáp bàn tay, rồi 4 ngón tay kia nắm chặt lại hình như tay cầm cú), rồi tay mặt lần chuỗi mà tụng sau đây:
1) Chú Tịnh Pháp Giới: Án Lam (108 biến)
2) Chú Hộ Thân: Án Xỉ Lâm (108 biến)
3) Chú Lục Tự Ðại Minh: Án Ma Ni Bát Di Hồng (108 biến)
Khi tụng xong chú nói trên thì xả ấn Kim Cang Quyền trên đảnh, rồi quỳ xuống tụng bài kệ Chú Chuẩn Ðề:
Chuẩn Ðề công đức tụ.
Tịch tịnh tâm thường tụng,
Nhứt thiết chư đại nạn
Vô năng xâm thị nhơn,
Thiên thượng cập nhơn gian
Thọ phước như Phật đẳng.
Ngộ thử như ý châu
Ðịnh hoạch vô đẳng đẳng.
Nam Mô Thất Cu Chi Phật Mẫu Ðại Chuẩn Ðề Vương Bồ tát Ma ha tát. (3 lần rồi lạy)
Lúc lạy xong, ngồi kiết toàn già và kiết ấn Chuẩn Ðề: Lấy ngón áp út và ngón út bên mặt cùng bên trái xỏ lộn với nhau vào trong hai lòng bàn tay, dựng hai ngón tay giữa thẳng lên, rồi co hai ngón tay trỏ vịn vào lóng đầu của hai ngón tay giữa; còn hai ngón tay cái thì đè lên lóng giữa của ngón tay áp út bên mặt; rồi để ấn ấy ngang ngực. Chí tâm tụng 108 lần chú Chuẩn Ðề và chú Ðại Luân Nhứt Tự như vầy:
NamMô Tát Ða Nẫm Tam Miệu Tam Bồ Ðề Cu Chi Nẫm, Ðát Ðiệt Tha. Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Bà Ha. Bộ Lâm (tụng 108 lần)
muốn trì tụng nữa hoặc tùy lòng. Nên tụng từ chữ Án trở xuống Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Bà Ha. Bộ Lâm. Tụng ký số làm chừng như trên, hoặc trì nhiều hơn cũng tốt. Khi niệm đủ rồi muốn nghỉ thì xả ấn lên trên đảnh, kế dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyến mà ấn theo thứ tự năm chỗ sau đây:
1) Trên đảnh.
2) Nơi vai bên trái.
3) Ở vai bên mặt
4) Tại ngang ngực.
5) Nơi yết hầu.
Trong lúc tay ấn vào năm chỗ ấy thì miệng đọc Thần chú HỒNG HỒNG cho liên tục, chừng nào đủ năm chỗ rồi, thôi tụng xả ấn lên trên đảnh đầu và tụng:
Ngã kim trì tụng Ðại Chuẩn Ðề.
Tức phát Bồ đề quảng đại nguyện.
Nguyện ngã định huệ tốc viên minh
Nguyện ngã công đức giai thành tựu,
Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm,
Nguyện cọng chúng sinh thành Phật đạo.
Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thỉ tham sân si,
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.
A Di Ðà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
Cám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ tát chúng diệc vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
NamMô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.
Nam Mô A Di Ðà Phật (108 lần)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát (10 lần)
Nam Mô Ðại Thế Chí Bồ tát (10 lần)
Nam Mô Chuẩn Ðề Vương Bồ tát (10 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ tát (10 lần)
* * *
Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời
Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại.
Diện kiến bỉ Phật A Di Ðà
Tức đắc vãng sanh Cực Lạc Quốc.
* * *
Tự Quy Y Phật,
Ðương nguyện chúng sanh
Thể giải đại đạo,
Phát Vô thượng tâm.
* * *
Tự Quy Y Pháp,
Ðương nguyện chúng sanh
Thâm nhập kinh tạng,
Trí huệ như hải.
* * *
Tự Quy Y Tăng,
Ðương nguyện chúng sanh
Thống lý đại chúng
Nhứt thiết vô ngại.
* * *
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.
3. CÁCH DÙNG KÍNH ÐÀN VÀ AN CHÍN CHỮ CHUẨN ĐỀ
(Mua cái kính tròn mới chưa hề dùng soi mặt đường kính độ 7 phân tây)
Ðem kính tròn xông trầm. Ðến 10 giờ đêm tối ngày rằm, trước tượng Chuẩn Ðề, xây mặt về hướng đông, tượng ngó hướng tây. Hành giả ngó hướng đông, cúng dường hương hoa trang nghiêm, xông an tức hương và tịnh thủy, kiết ấn Chuẩn Ðề, trì chú 108 biến vào Kính đàn (tức là thành tựu Đàn pháp). Mỗi khi tụng niệm, để kính trước mặt, tụng xong bỏ kính vào cất trong đãy vải, khi đi đâu đem theo để hộ thân.
Phương pháp an bố chín chữ Thánh Phạn Chuẩn Ðề:
Hành giả trước khi trì chú,
hoặc sau khi trì,
An bố khắp thân phần,
Ðược vô lượng phước đức.
Hoặc mỗi khi tọa thiền quán tưởng chín chữ AN khắp thân thể, rất là mầu nhiệm: ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ HA.
ÁN: An ký trên đỉnh đầu,
Ánh sáng như mặt trăng
Phóng ra vô lượng quang,
Trừ diệt tất cả chướng.
CHIẾT: An ký nơi đôi mắt
Sáng màu như nhật nguyệt
Chiếu phá mọi u ám
Phát sinh trí huệ minh.
LỆ: An ký nơi cổ,
Màu sáng cám lưu ly (xanh &đỏ)
Hiển bày các sắc tướng,
Ðầy đủ Như Lai trí.
CHỦ: An ký tại tim (ngực)
Màu trong trắng như tơ,
Khiến tâm được thanh tịnh
Mau đến đạo Bồ đề.
LỆ: An ký hai vai,
Sắc màu sáng huỳnh kim,
Người Quán tưởng chữ này
Thường mặc giáp tinh tấn
CHUẨN: An ký ở tại rún
Màu sắc vàng trắng đẹp,
Chóng lên diệu đạo tràng
Không thối Bồ đề tâm
ÐỀ: An ở hai bắp vế
Sáng màu vàng hơi lợt,
Mau chứng đạo Bồ đề
Ðược ngồi tòa Kim Cang.
TA BÀ: An ở hai bắp chân
Sắc màu đỏ rực rỡ,
Nếu thường quán chữ này
Mau chuyển được Pháp Luân.
HA: An ở hai bàn chân
Ánh sáng như trăng tròn,
Hành giả Quán chữ này
Mau đến đạo Viên tịch.
4. NHẬP NHÀ MỚI VÀ TRỊ BỆNH
Khi cất nhà mới, đến ngày nhập trạch thì lấy một cái chén mới (Lâu nay chưa dùng làm gì) đựng nước trong lấy giữa lòng giếng vào lúc nửa đêm, rồi tay trái kiết ấn Bảo Thủ: (Nghĩa là lấy ngón tay giữa và ngón tay áp út, co lại bấm vào lòng bàn tay, mà giơ ngón tay cái, ngón tay trỏ và ngón út thẳng lên) rồi bưng chén nước, còn tay mặt thì kiết ấn Kiết Tường. (nghĩa là lấy ngón tay cái co lại bấm vào đầu ngón áp út và giơ ngón trỏ, ngón giữa và ngón út lên rồi thư chữ LAM vào trong chén nước, rồi tụng 21 biến Chuẩn Ðề có ghi sau đây), rồi đứng giữa nhà, lấy tay nhúng nước đó mà rảy về tám phương: trên, dưới. Sau lại dùng son viết chín chữ Phạn của chú Chuẩn Ðề như vầy vào giấy vàng. ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ HA (Viết bằng chữ Phạn), rồi đem dán đủ trên các cửa và chí tâm cầu nguyện Phật để tụng chú ấy luôn ba đêm, thì nhà ở được yên ổn, không có quỷ quái nhiễu loạn mà lại được sự cát tường. Nhà đương ở mà sanh yêu quái, thì cũng làm như trên.
TRỊ QUỶ MỊ LÀM ÐAU ỐM
Bị quỷ mị làm cho đau ốm:
Lấy cành dương liễu hay nhánh thạch lựu, mắt nhìn vào nhánh cây, miệng chăm tụng chú Chuẩn Ðề 108 biến, rồi lấy nhành cây ấy mà đập, phủi trên thân người đau, tức thời lành bịnh. Nếu người bịnh ở xa, cũng làm phương pháp ấy; gia trì trong nhánh cây 108 biến rồi đêm về phủi trên mình bịnh nhơn.
Trẻ em bị bịnh quan sát (Hay khóc dạ đề):
Mua chỉ ngũ sắc về, bảo một đứa trẻ (gái) nhỏ xe hiệp lại, rồi mình cầm chỉ ấy tụng một biến chú Chuẩn Ðề rồi gút lại một gút, cứ tụng và gút luôn cho đủ 21 gút, rồi lấy chỉ đeo vào mình đứa nhỏ, bịnh nó sẽ lành ngay. Nếu trong thân người các chi tiết bị đau nhức, nên gia trì Thần chú vào trong tay 21 biến mà xoa vào chỗ đau cũng được lành bịnh. (Muốn trị bịnh theo pháp này, phải là người trì chú tu hành trong thời gian lâu dài mới có hiệu nghiệm.)
(Còn người mới tụng Phạn âm chưa thuần tâm không chuyên nhất, không hiệu nghiệm mà đắc tội nặng. Khi nào tự chữa cho mình lành bịnh rồi mới trị cho người khác).
Người bịnh trầm trọng:
Niệm chú Chuẩn Ðề trong chỉ ngũ sắc, cứ niệm mỗi câu gút một gút cho đủ số 108 gút đeo trên cổ bịnh nhân thì được lành bịnh. Nếu người ở xa, nên vẽ hình bịnh nhân rồi nhìn vào hình, xưng tên một lần, trì chú một biến, cho đến khi đủ 108 lần rồi mới lấy chỉ đó đeo vào hình nhơn thì bịnh cũng lành được. Lúc đi đường, vào rừng, đi thuyền, tàu, phải nên nhớ tụng chú Chuẩn Ðề để hộ thân và tránh khỏi tai nạn.
5. CHÚ TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔN
Bất Không Quyến Thần Biến kinh nói: Nếu các chúng sanh tạo đủ thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, tội số như vi trần, đầy khắp thế giới. Khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào trong đất cát thật sạch cho đủ 108 biến rồi tán rải trên thi hài của vong nhơn hoặc trên mồ mả họ. Vong nhơn kia nếu ở địa ngục, ngạ quỷ, tu la, súc sanh … Nhờ oai lực gia trì của Chơn ngôn, nhờ sức thần thông của chú lực, lúc bấy giờ liền được ánh hào quang của chư Phật rọi vào thân và trừ được các quả báo, xả thân khổ sở, vãng sanh về nước Cực Lạc Tây phương Liên hoa hóa sanh, thẳng đến thành Phật không còn bị đọa lạc.
Chơn ngôn: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Ða Dã Hồng.
PHƯƠNG PHÁP TÁN SA
Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.
6/ CHÚ ÐẠI BẢO QUẢNG BÁT LẦU CÁT THIỆN TRỤ BÍ MẬT ÐÀRANI
Nẵng Mồ Tát Phạ Ðát Tha Nghiệt Ða Nẫm Án Vĩ Bổ Lã Nghiệt Bệ Mạ Nĩ Bát Ra Bệ Ðát Tha Ða Nễ Nại Xả Nỉnh Ma Nĩ Ma Nĩ Tô Bát Ra Bệ Vĩ Ma Lê Ta Nghiệt Ra Nghiễm Tỷ Lệ Hồng Hồng Nhập Phạ Lã Nhập Phạ Lã Một Ðà Vĩ Lô Chỉ Ðế Hủng Hế Dạ Ðịa Sắc Sỉ Ða Nghiệt Bệ Ta Phạ Ha. (chữ Phạn)
Thần chú này viết chữ Phạn trên chuông, trên bảng, trống, trên tràng phan, trên vách tường. Viết trên giấy, vải đeo mang trong thân, viết trên áo mặc vào thân, hoặc đọc hay tụng các chúng hữu tình nghe tiếng, nghe danh liền được tiêu trừ bao tội chướng, ngủ thức được yên ổn thân tâm, không loạn động. Các chúng sanh mắt thấy, tai nghe, thân chạm xúc đều được tiêu tội đắc phước. Ai thường trì, đọc, tụng, thân hiện tại không bị các bịnh khổ, khi lâm chung được sanh về các nước Phật.
(CHUNG)
* * *



  • Leave a Comment