Ngũ Phần Luật – 02. Lời người dịch

LỜI NGƯỜI DỊCH

Năm 1991, sau khi dịch xong ba bộ luật: Trùng trị, Căn bản và Tứ phần, có mấy chỗ tôi không rõ ngữ nghĩa, đến thỉnh vấn Hòa thượng Trí Quang. Ngài lấy tập số 44 trong Tục tạng lật ra chỉ cho tôi những từ đó rồi bảo tôi mang về để tra cứu. Nhân dịp này, ngài gợi ý: “Bộ luật Ngũ phần có những điểm đặc biệt hơn các bộ khác…” Và như để cho tôi lưu ý tìm hiểu, ngài lại nói: “Không biết tại sao tổ Đạo Tuyên lại chọn Tứ phần để hành trì mà không chọn Ngũ phần.” Sau cùng ngài bảo tôi nên dịch Ngũ phần.
Về phần tôi, từ lâu đã hằng lưu tâm đến bộ Luật này. Việc các ngài đại Luật sư triều Đại Chính (1912-1925) bên Nhật Bản xếp “Ngũ phần” lên hàng đầu trên năm bộ Luật chính, đó là điều để tôi lưu ý tìm hiểu. Rõ ràng giữa hai thế hệ: ngài Trí Quang và các Luật sư triều Đại Chính có cùng chung một quan điểm là xem bộ “Ngũ phần” có những nét đặc sắc của nó. Vậy những nét đặc sắc này là gì? Đây là cả vấn đề cần có sự nghiên cứu, phân tích so sánh kỷ lưỡng… Điều này nằm ngoài khả năng của tôi. Chỉ nội một việc làm sao dịch ra Việt ngữ, phản ánh đúng nội dung của bộ Luật là cả một sự công phu rồi. Tôi chỉ tập chú vào vấn đề này.
Càng đọc lại nhiều lần bộ “Ngũ phần” tôi có cảm tưởng như tôi đang sống trong bầu không khí Phạm hạnh của chúng Tăng thời đức Phật. Tôi như nghe rõ sự quở trách “ngu si” của đức Phật đối với những vị Tăng sai phạm và thấm thía cho những tội lỗi đã xảy ra xem chừng ngờ nghệch, đùa dại, song thực chất phản ánh tâm lý tội lỗi sâu sắc. Không luận thời nào, tâm nhiễm ô ấy được luồn lách trong mọi ngõ ngách của cuộc sống và được trá dạng một cách tài tình trong tâm hồn con người, dù cho đó là con người xuất gia đi nữa. Và khi tâm nhiễm ô ấy hiện hành thì hình ảnh tham, sân, si, ái dục lại nổi lên rõ nét. Đức Phật bằng mọi cách đã chặt đứt vấn đề này, chấn chỉnh, xây dựng lại con người Phạm hạnh từ trong tội lỗi. Giới luật của đức Phật ra đời là thế đó. Đâu phải thời Phật mà bất cứ thời đại nào nếu biết y chỉ, biết lắng nghe giáo pháp của đức Phật, lắng nghe sự quở trách của tâm hồn thì chính tâm hồn ấy trở thành thanh tịnh, để rồi đời sống xuất gia trở thành đời sống Phạm hạnh có đầy đủ năm công đức như đức Phật đã dạy và được kết tập trong bộ Luật “Ngũ phần” này. Năm công đức ấy là:
1. Tự mình kiên cố hộ trì giới phẩm.
2. Có khả năng đoạn trừ nghi hoặc cho người có tàm quí.
3. Tự mình đứng vững vàng trong Chánh pháp.
4. Khi cần nói giữa Tăng chúng không có sự sợ sệt.
5. Hàng phục được oán địch.
Giới luật của đức Phật mang ý nghĩa thiện, mùi vị thiện và hình tướng thanh bạch là thế.
Bây giờ, tuy biết dài dòng song điều đáng phải ghi lại, xem như thay cho một trí nhớ, để nhớ và biết ơn một mảng nhân duyên tạo thành tác phẩm dịch thuật của tôi. Xin được ghi lại:
Sau khi gác lại bộ “Tăng-kỳ” và “Thập tụng”, tôi đọc kỷ nguyên bản chữ Hán nhiều lần, nghiền ngẫm tra cứu các thuật ngữ trong bộ Luật, làm quen với “ngôn ngữ nói” trong tác phẩm này. Ngày 08 tháng 03 năm Nhâm Thân (1992), tôi chấp bút dịch bộ luật Ngũ phần với tất cả sự tập trung cao nhất và cho mãi đến gần một năm sau, tháng Giêng năm 1993, được thầy thuốc cho biết tôi đang mắc bệnh tháo đường, như vậy cái đích để hoàn thành không dễ dàng đối với tôi, song tôi vẫn tiếp tục trong tình trạng sức khỏe không dễ dàng ấy. Ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tuất (21-02-1994), tôi dịch xong bộ Ngũ phần luật 30 quyển này, niềm vui nhẹ nhõm trong tôi như một khích lệ. Tôi tiếp tục đi lại từ đầu, nghiền ngẫm đọc lại bản dịch, sửa chữa lại chỗ thiếu, không ổn… Sau đó, bên cạnh nguyên bản, tôi dò lại bản dịch từng câu và nhờ nhiều bộ Từ điển để bổ sung và làm rõ nghĩa trong bản dịch.
Không dừng lại ở đây, tôi giao bản dịch đã sửa chữa xong với nguyên bản cho sư cô Tâm Thường, cựu ni sinh Ni trường Diệu Quang Nha Trang, rà soát lại bằng cách đọc từng câu bên bản dịch với từng câu bên nguyên bản. Xong giai đoạn này, tôi cho đánh máy. Các Phật tử Nguyên Tịnh và Thọ Huệ đánh máy bản dịch thành 6 tập. Để rà soát giữa Cảo bản và bản đánh máy, tôi lại nhờ hai sư cô Diệu Vân và Minh Hiền cùng cựu ni sinh Phật học Ni viện Diệu Quang, bên đọc, bên dò. Tất cả dịch phẩm của tôi, trước sau cũng đều theo lịch trình làm việc như trên.
Đã năm năm qua, thời gian của sự cẩn thận và cân nhắc… Và trước khi cho đánh vi tính, tôi giao toàn bộ Cảo bản, bản đánh máy và nguyên bản chữ Hán cho đệ tử tôi là Phước Thắng để kiểm tra kỹ lại một lần nữa, đồng thời nhuận văn cũng như phụ trách, theo dõi, trình bày bản vi tính để in thành sách.
Cũng cần nói rõ điều này: Bộ luật Ngũ phần này nằm trong quỹ đạo phiên dịch Hán tạng thành Việt tạng, do Thượng tọa Tịnh Hạnh chủ trương, theo kế hoạch và cũng theo thứ tự bộ Luật này sẽ được in trước như trong tạng Đại chánh tân tu… Hi vọng bản vi tính tạm biệt hành này, sau khi Tăng, Ni và các bậc Cao minh đọc và góp ý, bổ sung sẽ trở thành sự hoàn chỉnh cao hơn cho bản in chính thức tiếp theo trong chương trình phiên dịch đã đề cập.
Bây giờ là những điều trân trọng: con xin thành kính tri ân sự khuyến thị cao quý của Hòa thượng Trí Quang trước khi con dịch bộ Luật Ngũ phần này.
Tôi cảm ơn Ni sư Trí Hải đã cho tôi mượn hai tập đánh máy gồm: 15 quyển của bộ Luật mà Ni sư dịch chưa hoàn tất để tham khảo và tôi trân trọng ghi nhận công đức của tất cả quí vị đã góp sức vào “Pháp cúng dường” này.
Tôi đang lắng nghe và ghi nhận mọi chỉ giáo của các bậc Cao minh.
Nha Trang, ngày Phật Đản 2540.
Dịch giả cẩn bạch
Thích Đỗng Minh



  • Leave a Comment