Ngũ Phần Luật – 03. Tựa

TỰA

Theo lịch sử truyền thừa Luật tạng, trong các thư tịch hệ Hán ghi chép, sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Ưu-ba-li kết tập tạng Luật, tụng 80 lần, gọi là Bát thập tụng. Sau đó, bộ luật này được truyền cho 5 vị Đại tôn giả là Đại Ca-diếp, A-nan, Thương-na-hòa-tu, Mạt-điền-đề và Ưu-ba-cúc-đa. Truyền đến ngài Ưu-ba-cúc-đa là đời thứ năm, môn hạ của ngài lại có 5 vị, theo sự kiến giải riêng mà từ Bát thập tụng, mỗi vị rút ra những điều tương đương, liên quan, biên tập thành một bộ, gọi là Ngũ bộ luật: 1. Đàm-vô-đức bộ (Dharma-guptaka, Pháp mật bộ), luật Tứ phần; 2. Tát-bà-đa bộ (Sarvāsti-vāda, Hữu bộ), luật Thập tụng; 3. Di-sa-tắc bộ (Mahīśāsaka, Hóa địa bộ) luật Ngũ phần; 4. Ca-diếp-di bộ (Kāśyapīya, Ẩm quang bộ) Giải thoát giới kinh; 5. Ma-ha-tăng-kỳ bộ (Mahāsaṅghika, Đại chúng bộ) luật Ma-ha-tăng-kỳ.
Về định danh Di-sa-tắc bộ (phái Hóa địa), trong Nhất thiết kinh âm nghĩa quyển 50, Đại chánh 54 (T54n2128), trang 640b20 ghi: “Khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt, Hóa địa bộ từ Nhất thiết hữu bộ tách ra; âm Phạn là Ma-hê-xa-sa-ca, Di-hỉ-xá-sa-ha…, dịch là Hóa địa, Giáo địa, Chánh địa. Vốn vị La-hán này khi ở đời là một vị quốc vương cai trị, giáo hóa quốc thổ, gọi là Hóa địa. Sau vị quốc vương này bỏ ngôi nhập đạo, sáng lập bộ phái này nên lấy tên là Hóa địa bộ. Cách gọi cũ là Di-sa-tắc…”
Bản luật Ngũ phần thuộc bộ Di-sa-tắc đang lưu hành hiện nay, gồm 30 quyển, xếp vào tạng Đại chánh tập 22, số 1421. Nguyên bản Phạn được ngài Pháp Hiển tìm thấy tại nước Sư Tử (Tích-lan ngày nay), bèn sao chép rồi mang về Trung Quốc vào năm thứ 9, niên hiệu Nghĩa hi, thời Đông Tấn (AD. 413), nhưng chưa kịp phiên dịch thì ngài tịch. Đến tháng 12 năm thứ 2, niên hiệu Cảnh bình, thời Lưu Tống (AD. 424), ngài Phật-đà-thập (Buddhajīva, phái Hóa địa bộ) người nước Kế Tân (Kaśmīra), đến Kinh đô, theo yêu cầu của Thích Huệ Nghiêm, Trúc Đạo Sinh ở chùa Long Quang, tại Kiến nghiệp, Nam kinh, khởi sự phiên dịch. Ngài Phật-đà-thập đọc bản Phạn, sa-môn Thích Trí Thắng người Vu-điền làm thông dịch; đến năm sau thì hoàn tất.
Bộ luật này có năm phần nên gọi là Ngũ phần. Phần I, từ quyển 1 đến quyển 10, là 251 giới Tỳ-kheo, gồm 4 pháp Ba-la-di, 13 pháp Tăng tàn, 2 pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa, 91 pháp Đọa, 4 pháp Hối quá, 100 pháp Chúng học, 7 pháp Diệt tránh. Phần II, từ quyển 11 đến quyển 14, là 370 giới Tỳ-kheo-ni, gồm 8 pháp Ba-la-di, 17 pháp Tăng tàn, 30 pháp Xả đọa, 207 pháp Đọa, 8 pháp Hối quá và 100 pháp Chúng học. Phần III, từ quyển 15 đến 22, gồm pháp thọ giới, Bố-tát, an cư, tự tứ, y, da thuộc (giày dép), thuốc, ăn uống, y Ca-thi-na. Phần IV, từ quyển 23 đến quyển 24, gồm pháp Diệt tránh, pháp Yết-ma. Phần V, từ quyển 25 đến quyển 30, gồm pháp phá Tăng, ngọa cụ, pháp tạp, oai nghi, ngăn Bố-tát, biệt trụ, điều phục, Tỳ-kheo-ni, năm trăm vị kết tập, bảy trăm vị kết tập.
Bản Việt dịch Ngũ phần được ấn hành lần này là đầu tiên, nhân dịp húy nhật Cố Hòa thượng Luật sư Thích Đỗng Minh, ngày 10 tháng 05, năm Nhâm thìn (2012). Ấn phẩm lần này là nhờ sự hỗ trợ của Ban bảo trợ phiên dịch tại Hải ngoại, và sự cống hiến trí lực của các vị đệ tử, học trò, thành viên Ban phiên dịch. Nhưng nói là một ấn bản hoàn chỉnh thì chưa dám quyết, vì mỗi bộ phái Phật giáo tự xây dựng cho mình một nền văn hiến riêng biệt, liên tục phát triển trên nhiều khu vực địa lý khác nhau, do vậy mà trong bộ luật này cũng có nhiều điểm nói lên đời sống tín ngưỡng, tập tục văn hóa đặc dị; mặc dầu lúc hiệu chính, chúng tôi có đối chiếu với luật tạng Nam truyền (Pāli), và các bộ khác nhưng không tương đồng lắm, những chỗ khó hiểu, chúng tôi đặt dấu hỏi trong ngoặc. Một số từ để trong dấu ngoặc, đánh thêm dấu hoa thị (*) là chúng tôi thêm vào cho văn Việt mạch lạc, dễ đọc, trong văn Hán không có. Và mỗi trang bản in Đại chánh được chia làm ba cột: a, b, c, thì số trang, số cột này cũng được ghi lại trong bản dịch để tiện tham khảo. Đó là những công đoạn chỉ mang tính tương đối, khả năng của một ít người còn giới hạn, cho nên rất mong các vị Trưởng lão Tôn túc, Tăng ni chỉ giáo, góp ý thêm cho lần tái bản tới.
Như bộ luật Tứ phần bản Việt, Cố Hòa thượng Thích Đỗng Minh dịch, đã chỉnh sửa ấn hành đến lần thứ tư mới tạm ổn. Trong lời Tựa có ghi: “Ấn bản luật Tứ phần lần này đã được duyệt đến lần thứ tư, nhưng như đã thấy một cách chung chung…, chưa thể được như mong ước. Bởi vì Luật, nhất là Luật trong ý nghĩa Tỳ-ni tạng, không phải là ý chí và đạo đức cá nhân. Luật trong Tỳ-ni tạng thể hiện ý nghĩa và hình thái tồn tại của cộng đồng đệ tử Phật giữa các cộng đồng thế gian. Vì không phải là ý chí cá nhân, nên nhân cách và khả năng một người không đủ đi sâu vào chỗ uyên áo để tiêu biểu cho số đông. Vì vậy ước nguyện chung của tất cả chúng ta hãy cùng sống chung, cùng hành trì, cùng kinh nghiệm, để duy trì tính thể của Luật không bị che mờ bởi pháp thế gian.”
Sau ngày húy kỵ Cố Hòa thượng Luật sư Thích Đỗng Minh, hương “Giới luật Ngũ phần” Việt ngữ đã lan tỏa đến nhiều nơi trong nước và ngoài nước, khơi lên công hạnh “Pháp thí” thật tôn quý. Ấn phẩm này được gởi đến các tự viện, cơ sở đạo tào Tăng tài, trong lãnh thổ Việt Nam cũng như Hải ngoại… Mong rằng hạt giống “Tỳ-ni nghiêm tịnh” sẽ nảy nở tốt ở thế gian, nơi cộng đồng Tăng-già đang sinh hoạt, hành đạo. Nguyện cầu Giới luật trường tồn, Chánh pháp cửu trụ.

Chùa Long Sơn, Nha Trang, PL. 2555
Ban Biên Tập
Pháp tạng Phật giáo Việt Nam



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *