Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 05. Phần I – Chương 2 – Tăng Tàn

Ngũ Phần Luật – 05. Phần I – Chương 2 – Tăng Tàn

CHƯƠNG II :TĂNG TÀN

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. CỐ Ý TIẾT TINH[1]

A. DUYÊN KHỞI
1. Nhân duyên kết giới lần thứ nhất
[10b02] Đức Phật ở tại thành Vương Xá.[2] Khi ấy, Trưởng lão Ưu-đà-di[3] bị lửa dục đốt, thân thể tiều tụy, tiêu hao sức lực, dùng tay xuất bất tịnh, được nếp sống an lạc. Có Tỳ-kheo khác cũng bị gầy ốm, Ưu-đà-di thấy, hỏi: “Tại sao thầy mất sức thế?”
Tỳ-kheo kia trả lời:
“Thưa Trưởng lão, tôi bị lửa dục thiêu đốt cho nên như thế.”
Ưu-đà-di nói:
“Trước đây tôi cũng vậy, dùng tay xuất bất tịnh nên trụ được an lạc. Nếu thầy áp dụng phương pháp của tôi thì cũng sẽ như vậy.”
Tỳ-kheo kia nói:
“Thầy làm điều phi pháp, không phải hạnh thanh tịnh, phá pháp Sa-môn, không phải đạo tùy thuận. Đức Thế Tôn đã bằng mọi cách quở trách dục, dục tưởng, dục giác, dục nhiệt và khen người đoạn dục tưởng, trừ dục giác, diệt dục nhiệt; nói dục như xương khô, như thuốc độc. Tại sao nay thầy dùng tay nhận đồ cúng dường của người này, làm xuất bất tịnh, lại còn dạy người!?”
Quở trách rồi, dẫn đến chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ưu-đà-di:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Ưu-đà-di thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật cũng dùng mọi cách quở trách như trên, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này được nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cố ý xuất bất tịnh, Tăng-già-bà-thi-sa.”

2. Nhân duyên kết giới lần thứ hai
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vì tâm mình bất nhất, nên chiêm bao xuất*4 bất tịnh, thức dậy nghĩ như vầy: “Trong chiêm bao ta cũng có tâm, cũng động thân, xuất* bất tịnh, sẽ không phạm Tăng-già-bà-thi-sa chăng?” Hoặc có vị phát lồ, có vị hành Ma-na-đỏa,5 có vị xuất tội, có vị bạch thẳng lên đức Phật.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ngươi không nên ngủ với tâm tán loạn. Nếu ngủ với tâm tán loạn, phạm Đột-kiết-la.”
Ngủ với tâm tán loạn có 5 điều mất mát: 1. Bị ác mộng, 2. Thiện thần không hộ vệ, 3. Không được tướng ánh sáng, 4. Không có tâm giác pháp, 5. Xuất* bất tịnh.
Ngủ với tâm không tán loạn có 5 công đức: 1. Không có ác mộng, 2. Thiện thần hộ vệ, 3. Được tướng ánh sáng,6 4. Có tâm giác pháp,7 5. Không mất bất tịnh.
Khi ngủ có 5 nhân duyên hình (nam căn)* khởi:
1. Đại tiện đầy,
2. Tiểu tiện đầy,
3. Gió đầy,
4. Trùng cắn,
5. Dục thạnh.
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu chưa ly dục, ngủ với tâm tán loạn giận, mê, thì chắc chắn sẽ xuất bất tịnh; tuy chưa có thể lìa nó; nhưng ai ngủ với tâm buộc niệm, vẫn không có sự mất mát ấy. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, [10c01] cố ý xuất bất tịnh, trừ trong chiêm bao, Tăng-già-bà-thi-sa.”

C. THÍCH TỪ
Cố ý xuất bất tịnh:8 Móng tâm, động thân làm cho bất tịnh xuất.
Tăng-già-bà-thi-sa:9 Tội này còn một chút cơ hội sót lại, có thể trị được là phải cần cầu, nhờ cậy vào giữa Tăng để trừ diệt.
Bất tịnh có 10 loại:10
1. Sắc xanh, 2. Sắc vàng, 3. Sắc hồng, 4. Sắc đen, 5. Sắc đỏ, 6. Sắc trắng, 7. Màu sữa,11 8. Màu bơ,12 9. Màu dầu, 10. Màu mật.

D. PHẠM TƯỚNG
Nếu móng tâm động thân, muốn xuất (bất tịnh)* màu xanh, mà xuất màu vàng, cho đến màu mật, đều Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu móng tâm động thân muốn xuất (bất tịnh)* màu vàng, cho đến màu mật, mà xuất các màu khác cũng như vậy.
Có 10 loại móng tâm động thân xuất bất tịnh đều Tăng-già-bà-thi-sa:
Một, là tự thử. Hai, là trừ bệnh. Ba, là vì nhan sắc. Bốn, là vì sức lực. Năm, là vì vui thích. Sáu, là vì bố thí. Bảy, là vì sanh thiên. Tám, là vì hội tế trời ngoại đạo. Chín, là vì làm giống. Mười, là vì thờ lửa.
Có 5 loại móng tâm động thân xuất bất tịnh đều Tăng-già-bà-thi-sa: Nội sắc, ngoại sắc, hư không, gió, nước.
– Nội sắc: Tự thân mình.
– Ngoại sắc: Thân người khác.
– Hư không: Động thân giữa hư không.
– Gió: Hướng ngược gió để làm.
– Nước: Hướng ngược nước để làm.
Lại có 5 loại móng tâm động thân xuất bất tịnh, Tăng-già-bà-thi-sa: Đầy đại tiện, đầy tiểu tiện, đầy gió, trùng cắn, dục thạnh.
Nếu móng tâm, thân không động, không xuất bất tịnh; móng tâm, thân không động, xuất bất tịnh…, đều Đột-kiết-la.
Móng tâm, thân động, không xuất bất tịnh, Thâu-lan-giá.
Không móng tâm, thân động, không xuất bất tịnh; không móng tâm, thân động, xuất bất tịnh; không móng tâm, thân không động, không xuất bất tịnh, đều không phạm.
Khi ngủ xuất bất tịnh, khi thức dậy móng tâm, thân động, Thâu-lan-giá.
Khi ngủ thân động, khi thức dậy móng tâm, xuất bất tịnh, Đột-kiết-la.
Khi ngủ móng tâm, khi thức dậy thân không động, xuất bất tịnh, không phạm.
Sa-di, phạm Đột-kiết-la.

89 Tứ phần, tr. 572b6; Thập tụng, tr. 3b8; Căn bản, tr. 635c24; Pāli. Vin. iii. tr. 41; Tăng-kỳ, tr. 238a27 (phần kết): “Thế Tôn trú tại thành Tỳ-da-ly, sau thành đạo năm thứ 5, nửa tháng thứ năm, ngày 12, sau bữa ăn trưa, bóng ngả về phía đông cỡ nửa người đang ngồi, nhân trường hợp Trưởng lão Da-xá Ca-lan-đà Tử, chế giới này.”
90 Tứ phần (tr. 572b6), La-duyệt thành Kỳ-xà-quật sơn 羅閱城耆闍崛山. Căn bản (tr. 635c24): Phật tại Vương Xá, bên bờ ao Yết-lan-đạc-ca, trong vườn Trúc lâm 王城羯闌鐸迦池竹林園中. Pāli, Vni.iii.41: rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
91 Tăng-kỳ: ngoã sư tử trưởng lão Đạt-nị-già 瓦師子長老達膩伽 (con người thợ gốm trưởng lão Đạt-nị-già). Tứ phần: Đàn-ni-ca đào sư tử 檀尼迦陶師子 (Đàn-ni-ca con người thợ gốm). Thập tụng: Đạt-ni-ca 達尼迦. Căn bản: Đản-ni-ca bí-sô đào sư tử 但尼迦苾芻陶師子 (Bí-sô Đản-ni-ca con người thợ gốm). Pāli: dhaniyo kumbhakāraputto, con trai người thợ gồm tên Dhaniya.
92 Ất-la sơn 乙羅山. Tứ phần: Nhàn tĩnh xứ 閑靜處, cũng nói là a-lan-nhã (Pāli: arañña), thường chỉ khu rừng vắng, không thú dữ. Căn bản: tại a-lan-nhã 阿蘭若. Pāli:Isigilipassa, hang Tiên nhân.
93 Tứ phần: căn nhà làm toàn bằng gạch (Hán: toàn thành ngõa ốc 全成瓦屋). Pāli: sabbamattikāmayaṃ kūṭikaṃ, căn nhà làm toàn bằng đất sét.
94 Tứ phần (tr. 572b27): Từ nay trở đi, các ông không được làm thất toàn bằng gạch có màu đỏ như lửa như thế. Nếu làm, phạm đột-kiết-la.
95 Hán: Điển tài lệnh 典材令. Tăng-kỳ: mộc tượng đại thần Da-thâu-đà 木匠大臣耶輸陀. Tứ phần: Thủ tài nhân 守材人. Thập tụng: tài mộc sư 材木師. Căn bản: chưởng mộc đại thần 掌木大臣. Pāli: dārugaha gaṇaka, người quản lý lâm sản.
96 Tứ phần: Ma-kiệt quốc Bình-sa vương 摩竭國瓶沙王. Thập tụng: Ma-kiệt quốc chủ Vi-đề-hi Tử A-xà-thế vương 摩竭國主韋提希子阿闍世王. Căn bản: Ma-yết-đà quốc Thắng Thân chi tử Vị Sinh Oán Vương 摩揭陀國勝身之子未生怨王. Pāli, Vin. iii. 43, chuyện xảy ra dưới triều vua Seniya Bimbisāra vua nước Magadha.
97 Tứ phần (tr. 572c9): Đại thần tổng giám sát các sự việc của thành. Pāli: Vassakāra, đại thần của nước Magadha.
98 Pāli: araññe apariggahitaṃ, vật vô chủ (không được ai thủ hộ) ở trong rừng (a-lan-nhã).
99 Vua Quán đảnh 灌頂王: Quán đảnh (Skt. abhiṣecana, Pāli. abhisekarājan) là nghi thức rưới nước lên đỉnh đầu. Thời xưa ở Ấn Độ, khi vua lên ngôi thì vị Quốc sư đem nước lấy từ 4 biển rưới lên đầu bày tỏ sự chúc phúc, nên gọi là vua Quán đảnh.
100 Tứ phần: Ca-lâu 迦樓, vốn là đại thần của nhà vua. Thập tụng, Căn bản: Phật sai A-nan đi hỏi những người hiểu biết trong thành về mức tội phạm theo luật Vua. Vin. iii. 45:purāṇavohāriko mahāmatto, (Tỳ-kheo) nguyên là đại thần tư pháp.
101 Vin.nt., pādena… tena kho pana samayena rājagahe pañcamāsako pādo hoti, “bằng 1 pāda… thời bấy giờ, ở Rājagaha, 1 pāda = 5 māsaka. Tăng-kỳ 3, Phật trực tiếp hỏi vua Bình-sa. Vua trả lời: “19 tiền là 1 kế-lị-sa-bàn. Phân 1 kế-lị-sa-bàn (Pāli: kahāpaṇa; Skt. kārṣāpaṇa) thành 4; trộm 1 phần, hay vật trị giá 1 phần, tội chết.” Tứ phần, Thập tụng: 5 tiền 五錢. Căn bản: 5 ma-sái 磨灑.
102 Tăng-kỳ, giới được kết ba lần; thời gian kết giới: Thành đạo năm thứ 6, mùa đông, nửa tháng phần hai, ngày 10 (tức ngày 20 tháng âm lịch), sau bữa trưa, lúc bóng sáng ngả về đông dài bằng 2 người rưỡi. Tứ phần cũng như Thập tụng, Căn bản, giới kết một lần. Pāli, giới kết hai lần.
103 Tụ lạc 聚落: Thôn, hay thôn lạc. Pāli: gāma, làng xóm.
104 Do-tuần 由旬: Skt. Yojana, đơn vị đo đường dài ở Ấn Độ. Theo Đại Đường Tây Vực ký 2, thì một Do-tuần là chỉ cho lộ trình hành quân một ngày của nhà vua. Nhưng theo thuyết của các học giả cận đại như ông J. Flect đổi Do-tuần tính theo cây số ngàn (kilometre), thì một Do-tuần xưa bằng 19,5 km, theo quốc tục Ấn Độ là 14,6 km, Phật giáo là 7,3 km. Nếu theo ông Major Vost thì một Do-tuần xưa bằng 22,8 km; quốc tục Ấn Độ là 17 km, Phật giáo 8,5 km.
105 Pāli còn thêm yếu tố: chỗ mà một thương đội đóng trại hơn 4 tháng cũng được gọi là làng (gāma).
106 Tứ phần: Nhàn tĩnh xứ. Tăng-kỳ, Thập tụng: Không địa 空地. Căn bản: không nhàn xứ 空閑處. Tăng-kỳ: Trừ giới của tụ lạc, ngoài ra thảy đều là không địa. Pāli, Vin.iii.48:araññaṃ, khu rừng, và giải thích, trừ làng và các khu phụ cận làng, còn lại đều là arañña (ṭhapetvā gāmañ ca gāmūpacārañ ca avasesaṃ araññaṃ nāma).
107 Tứ phần: Đạo tâm thủ 盜心取. Pāli: theyyasaṅkhātan ti theyyacitto avaharaṇa-citto, với tâm lén trộm, với tâm cướp giựt, gọi là (lấy) bằng cách lén trộm.
108 Tứ Phần, Địa xứ 地處. Pāli: bhūmaṭṭhaṃ.
109 Ngũ tiền 五錢; Tăng-kỳ (tr. 244b1): Vương pháp không nhất định. Hoặc trộm nhỏ mà chết. Hoặc trộm lớn mà không chết. Theo phép vua Bình-sa, 19 tiền là 1 kế-lị-sa-bàn (Pāli:kahāpaṇa); 1 kế-lị-sa-bàn phân làm tư; trộm vật giá trị ¼ thì bị tội chết. Căn bản: ngũ ma-sái 五摩灑. Pāli, Vin.iii. tr.48: pañcamāsakaṃ. Theo nghĩa đen, 1 māsaka (Skt. māṣaka) là vật có giá trị trao đổi bằng 1 hạt đậu (đỗ).
110 Tứ phần: Địa thượng xứ 地上處. Pāli: thalaṭṭhaṃ, vật trên đất liền.
111 Không xứ 空處; Ngũ phần: Hư không vật 虛空物, chỉ vật được đặt vào hư không do bởi thần lực, hoặc vật ngậm bởi chim có chủ, hoặc vật có chủ mà gió thổi đến. Tăng-kỳ: Hư không hư không trung vật 虛空虛空中物, chỉ các loại cây lá, hoa quả. Thập tụng: các loại vải quý giá, vải ba-đầu-ma, đầu-cầu-la, cưu-la-xà, những thứ này được treo mà chưa rơi xuống đất. Pāli: ākāsaṭṭhaṃ, vật trong hư không, chỉ những vật phi hành trong hư không (ākāsagataṃ): chim chóc, giải lụa, vải vóc, cho đến vàng (từ trên người) bị rơi xuống đất.
112 Pāli: gāmaṭṭhaṃ, trong thôn xóm, vật được cất tại bốn chỗ: trong đất (bhūmaṭṭhaṃ), trên đất liền (thalaṭṭhaṃ), trong hư không (ākāsaṭṭhaṃ), trong khoảng trống (vehāsaṭṭhaṃ).
113 Tứ phần: Chỉ chung cho Xứ sở 處所, chỉ phạm vi cư trú của người trong đó có tiệm quán, tức vật trong khu vực có người ở. Pāli: vihāraṭṭhaṃ, vật trong khu vực cư trú, có bốn chỗ: Như trong đất (bhūmaṭṭhaṃ), trên đất liền (thalaṭṭhaṃ), trong hư không (ākāsaṭṭhaṃ), trong khoảng trống (vehāsaṭṭhaṃ).
114 Tứ phần, thừa 乘, cũng đọc là thặng. Pāli: yānaṃ yānaṭṭhaṃ xe cộ và vật trong/trên xe cộ.
115 Xem cht. trên.
116 Pāli: suṅkaghāṭa, trạm thuế (tại các cửa khẩu biên giới).
117 Bản Hán hết quyển 1.
118 Ngũ phần 2 (tr. 7a27); Tăng-kỳ 4 (tr. 253c9); Tứ phần 2 (tr. 575c6); Thập tụng 2 (tr. 7b21); Căn bản 3 (tr. 518a21). Vin. iii. 68.
119 Đoạn này, Ngũ phần không mô tả chi tiết Phật trụ tại đâu trong Tỳ-xá-ly như các bản khác. Như Tứ phần thì nói Phật ở trong giảng đường bên sông Di hầu; Thập tụng 2, Bạt-kỳ quốc Bạt-cầu-ma hà thượng 跋耆國跋求摩河上 (trên sông Bạt-cầu-ma, nước Bạt-kỳ), tức Pāli, sông Vaggumudā, thuộc nước Vajji, gần chỗ Phật nhập Niết-bàn. Căn bản: Phật tại thành Quảng Nghiêm 廣嚴城, bên bờ sông Thắng Tuệ 勝慧河, rừng Sa-la-trĩ 娑羅雉林. Pāli, Vin. iii. 70, Vesāliyam viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ, trú tại Vesālī, trong rừng Đại Lâm, trong một ngôi nhà sàn.
120 Di-lân chiên-đà-la 彌鄰旃陀羅, một người chiên-đà-la tên là Di-lân; Tứ phần 2 (tr. 575c24), Vật-lực-già Nan-đề 物刀伽難提 (Sk. Mṛga-nandī?); Thập tụng 2 (tr.7c4), Lộc Trượng phạm chí 鹿杖梵志, một người phạm chí tên Lộc Trượng (Skt. Mṛgadaṇḍa, tức Pāli. Migadaṇḍa, thay vì Migalaṇḍa). Pāli, Vin. iii. 68, Migalaṇḍika samaṇakuttaka, một người giả trang Sa-môn tên là Migalaṇḍa.
121 Tăng-kỳ 4 (tr. 253c9): Một Tỳ-kheo bệnh lâu ngày, đau đớn không chịu nổi, bèn nhờ Tỳ-kheo nuôi bệnh giết giùm.
122 Tứ phần: Bà-cầu hà 婆裘河; tức Pāli, sông Vaggumudā.
123 Thập tụng (tr. 7c7): Ma thiên thần 魔天神; Pāli, Vin.iii.69: mārakāyikā devatā, một thiên thần thuộc hạ của Māra.
124 Tứ phần 2 (tr. 576b7): A-na-ban-na tam-muội 阿那般那三昧; Thập tụng 2 (tr.8a13): A-na-ban-na niệm 阿那般那念; Pāli, Vin.iii.70: ānāpānassati-samādhi, sự tập trung trên hơi thở ra vào.
125 Pāli, Phật kết hai lần; lần thứ nhất, giết và giúp phương tiện tự sát; thứ hai, khuyến khích người tự sát. Tăng-kỳ và Thập tụng, kết một lần như Tứ phần. Đại Tỳ-kheo giới bản(T22n1426, tr. 549c15): Giới được kết sau khi thành Phật năm thứ sáu, ngày 9, nửa tháng phần thứ ba, mùa Đông.
126 Để bản: Nhữ 汝.
127 Để bản: Nhữ đẳng 汝等.
128 Để bản: Nhữ 汝.
129 Để bản: Nhữ 汝.
130 Để bản: Nhữ đẳng 汝等.
131 Để bản: Nhữ đẳng 汝等.
132 Để bản: Ngã 我.
133 Để bản: Nhữ 汝.
134 Để bản: Nhữ 汝.
135 Tăng-kỳ 4, hữu mạng nhơn thú sở nhiếp, 有命人趣所攝, có mạng sống, thuộc cõi người. Tứ phần 2, nhân 人: Tùng sơ thức chí hậu thức 從初識至後識, Tâm đầu tiên trong sinh khởi thai mẹ, thức tối sơ xuất hiện, cho đến khi chết, trong khoảng giữa đó gọi là thân người. Thập tụng: Nhược nhân nhược loại nhân 若人若類人 (người và loại tợ người).Căn bản: “Nhược nhân, nhược nhân thai 若人若人胎. Nhân (người), trong thai mẹ, đã đủ 6 căn. Nhân thai, mới nhập thai mẹ.’’ Pāli, Vin. iii. tr. 73: manussaviggaha (thân thể con người).
136 Hán: Khiển sứ 遣使, tức là sai người đi khuyến khích người kia tự sát. Pāli: dūtena saṃvaṇṇeti, khuyến khích (chết) bằng sứ giả.
137 Tứ phần: Triển chuyển sứ 展轉使. Pāli: visakkiyena dūtena, bởi sứ giả lần lượt giết nhau (để phi tang thủ phạm).
138 Tứ phần: Trùng sứ 重使. Pāli: dūtaparamparāya, sứ giả này tiếp theo sứ giả khác, một chuỗi sứ giả.
139 Tứ phần, Khẩu thuyết 口說; khuyên người tự sát bằng lời nói. Pāli: vācāya saṃvaṇṇeti.
140 Khiển thư 遣書. Pāli: lekhāya saṃvaṇṇeti, khuyến khích (chết) bằng cách viết (thư).
141 Xúc: Pāli. Vin. i. 78: Phoṭṭhabbūpahāro nāma amanāpikaṃ phoṭṭhabbaṃ upasaṃharati dukkhasamphassaṃ kharasamphassaṃ – ‘‘iminā phuṭṭho marissatī’’… Sự đem lại cảnh xúc, nghĩa là đem lại cảnh xúc trái ý, gây đau đớn, thô cứng, nghĩ rằng: “Đụng chạm vào vật này (người đó) sẽ chết.”…
142 Ưu-ba-đầu 優波頭: Tăng-kỳ 4 (tr. 256a6): ô-mãn-thổ 烏滿吐. Tứ phần 1 (tr.577a15), hầm hố (khanh hãm 坑陷) – xét biết người kia sẽ đi qua lại trên tuyến đường đó; giữa đường đào một cái hầm sâu, trong hầm để lửa hoặc dao, hoặc rắn độc…; Thập tụng 2 (tr. 8c18): Ưu-đa 憂多; Pāli: opāta (đào hố).
143 Ưu-ba-xa 憂波奢: Tứ phần, Ỷ phát 倚發; bản Tống-Nguyên-Minh: Ỷ bát 倚撥. Thập tụng 2: Cơ bát 機撥 (phát động bằng máy móc hay bẫy cài); Pāli: apassena: vật để tựa, bẫy ngụy trang.
144 Ưu-ba-hại 憂波害: Tứ phần, đặt dụng cụ giết (an sát cụ 安殺具); Tăng-kỳ: a-ba-khâm-mãn 阿波欽滿; Pāli: upanikkhipana (Skt. upanikṣepana), việc để bên cạnh, nghĩa là đem lại gần bên hoặc là thanh gươm, cây giáo, mũi tên, cọc nhọn… (nghĩ rằng): “(Người ấy) sẽ chết bằng vật này”.
145 Tăng-kỳ 4, tr. 257c16; Tứ phần 2, tr. 577b13; Thập tụng 2, tr. 11a6; Căn bản 9, tr. 668c22; Vin. iii. tr. 87.
146 Tăng-kỳ 4 (tr.257c16): Phật tại Xá-vệ thành. Tứ phần 2 (tr. 577b13): Tỳ-xá-ly. Thập tụng 2 (tr.11a6): Phật an cư mùa hạ tại Duy-da-li. Pāli, Vin. iii. 87: Trú tại Vesāli, trong rừng Mahāvana, trong một ngôi nhà sàn (Trùng các giảng đường).
147 Pāli, nt: nạn đói kém tại Vajjī.
148 Tứ phần 2, Bà-cừu hà 婆裘河. Thập tụng 2, Bạt-cầu-ma 跋求摩河. Căn bản: Sông Thắng Tuệ 勝慧河, Pāli, sông Vaggumudā, thuộc nước Vajji, gần chỗ Phật nhập Niết-bàn.
149 Để bản: Ngã 我.
150 Để bản: Nhữ 汝.
151 Để bản: Bất phục tế tự 不復祭祠, không cúng tế trở lại (có thể chỉ ba tháng!).
152 Tứ phần 2 (tr. 578a3): hai hạng giặc. Thập tụng 2 (tr.12a12): Ba đại tặc 三大賊. Căn bản 10 (tr. 675c25): Ba đại tặc. Pāli: pañca mahācorā, năm đại tặc.
153 Tăng-kỳ 4, (259c06): Phật tại Xá-vệ thành. Thập Tụng 2 (tr. 12b13): Phật tại nước Xá-vệ. Căn bản 10 (tr. 675a11) Phật tại thành Bệ-xá-li (cũng là Đại vọng ngữ kết lần 2, nhưng những sự kiện khác với Ngũ phần).
154 Tăng-kỳ: vị tri vị liễu 未知未了. Tứ phần, Thập tụng: Bất tri bất kiến 不知不見. Căn bản: thật vô tri vô biến tri 實無知無遍知. Pāli: anabhijānaṃ, không chứng tri, không chứng đắc, không thắng tri.
155 Hán: Quá nhơn pháp 過人法. Tăng-kỳ (tr. 261a7): quá nhân pháp, chỉ 10 trí,… vô sanh trí,… cho đến 10 vô học pháp, 10 lậu tận lực. Tứ phần (tr. 578b15): thượng nhân pháp 上人法: Các pháp có khả năng thành tựu xuất ly. Thập tụng 2 (tr.12c…): Quá nhơn pháp 過人法. Pāli, Vin.i.91: uttaramanusadhammo nāma jhānaṃ vimokkho samādhi samāpatti ñāṇadassanaṃ…, “Pháp của bậc thượng nhân, chỉ cho thiền, giải thoát, chánh định, chánh thọ, tri kiến…”
156 Dị lạc 異樂: Tỳ-ni chỉ trì hội tập (毗尼止持會集) 3, tr. 247a17, X39n709, thứ bảy là pháp lạc khác (không phải của Phật) nói pháp hơn người, nghĩa là chưa đắc pháp lạc chân thật mà nói là đắc, 七者異樂說得過人法 (異樂謂未得真法樂言得).
[1] Tăng-kỳ 5, tr. 262a20; Tứ phần 2, tr. 579a11; Thập tụng 3, tr. 13c27; Căn bản 11, tr. 680b25. Vin. iii. tr. 110.
[2] Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản, Pāli: Phật tại thành Xá-vệ (Thất-la-phạt).
[3] Tăng-kỳ 5: Tỳ-kheo Thi-lị-da-bà 比丘名尸利耶婆. Tứ phần: Ca-lưu-đà di 迦留陀夷; Pāli: Udāyin hành thủ dâm, rồi bảo Seyyasaka làm theo. Sớ giải nói Udāyin này là Lāḷudāyi, Hoà thượng của Seyyasaka.
4 Để bản: Thất 失.
5 Ma-na-đỏa 摩那埵: Skt=Pāli. Mānatta, Hán dịch là Ý hỷ, Duyệt chúng ý (làm đẹp lòng mọi người), Chiết phục cống cao… (xem thêm cht. 9 sau, Thích từ: Tăng-già-bà-thi-sa).
6 Để bản: Minh tưởng 明想. Tứ phần: Minh tướng 明相.
7 Tứ phần: Bất tư duy minh tướng 不思惟明相.
8 Tứ phần: cố lộng âm xuất tinh 故弄陰出精. Tăng-kỳ, Thập tụng: cố xuất tinh 故出精. Căn bản 11: Cố tiết tinh. Pāli: sañcetanikā sukkavisaṭṭhi, cố ý làm xuất tinh.
9 Tăng-già-bà-thi-sa: Skt. saṃghāvaśeṣa, Pāli. Saṃghādisesa, lược dịch là Tăng-tàn, nghĩa là còn sót lại, dư tàn, tàn tật…. Căn bản 11, tr. 681b6, T23n1442: Tăng-già-phạt-thi-sa, Tăng-già là phạm tội này phải nhờ Tăng-già hướng dẫn sám hối… Phạt-thi-sa là dư tàn… đối với 13 pháp này, Bí-sô tuy phạm mà có dư tàn, chữa trị được, nên gọi là Tăng tàn.Thiện kiến 12, tr. 760a27, T22n1462: Tăng-già-bà-thi-sa, Tăng-già là chỉ cho Tăng, bà nghĩa là bắt đầu, thi-sa là tàn… Tỳ-kheo phạm tội này, nếu muốn thanh tịnh thì đến gặp chúng Tăng, Tăng cho pháp Ba-lợi-bà-sa (Parivāsa, biệt trú), gọi là bắt đầu. Sau đó, hành 6 đêm Ma-na-đỏa (Mānatta, hoan hỷ), đó là khoảng giữa. Giai đoạn cuối cùng là cho pháp a-phù-ha-na (Abbhāna, xuất tội), đó gọi là Tăng-già-bà-thi-sa.
10 Tăng-kỳ 5: Tám loại. Tứ phần: Bảy loại. Thập tụng: Năm loại. Căn bản 11: Năm loại. Pāli, 10 loại: nīlaṃ pītakaṃ lohitaaṃ oḍātaṃ takkavaṇṇaṃ dakavaṇṇaṃ telavaṇṇaṃkhīravaṇṇaṃ dadhivaṇṇaṃ sappivaṇṇaṃ; không giải thích chi tiết.
11 Hán: Nhũ 乳. Tứ phần: Lạc sắc 酪色, tức Pāli. dadhivaṇṇamṃ, màu sữa đặc.
12 Hán: Tô 酥. Tứ phần: Lạc tương sắc 酪漿色, tức Pāli. sappivaṇṇaṃṃ, màu thục tô hay đề hồ, màu bơ trong.

II. XÚC CHẠM NỮ NHÂN13

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,14 khi ấy Trưởng lão Ưu-đà-di15 bị lửa dục thiêu đốt, nghĩ như vầy: “Cố ý xuất bất tịnh, Đức Thế Tôn đã cấm, nay ta nên phương tiện cùng người nữ rờ rẫm nhau để tìm khoái cảm nơi sự láng mịn”. (Ưu-đà-di)* liền lau quét trong phòng, trang hoàng giường ghế đẹp, rồi lấy một cái ghế nhỏ đặt nơi chỗ đất trống ngồi. Có nhiều người nữ16 cùng đến vãn cảnh, nói với Ưu-đà-di:
“Chúng tôi có ý đến muốn xem phòng xá.”
Đáp:
“Các chị em cứ xem tùy ý.”
[11a01] (Ưu-đà-di)* liền dẫn họ vào phòng, đóng cửa ra vào, mở cửa sổ, bằng nhiều kiểu rờ rẫm, hoặc nắm, hoặc ôm, hoặc bóp, hoặc xoa, hoặc đưa lên, hoặc để xuống, hoặc cỡi, hoặc cõng.
Trong đó, người thích liền nói: “Sao không làm việc chính, đâu cần làm những việc này làm gì?”
Ưu-đà-di nói:
“Đức Phật không cho phép tôi làm việc chính.”
Nhưng người không ưa liền giận dữ nói: “Vốn nói chỗ này là an ổn, mà nay ngược lại thành chỗ sợ hãi, lửa cháy trong nước chưa đủ làm tỉ dụ. Kẻ cư sĩ ở nhà còn xấu hổ việc này, tại sao Tỳ-kheo lại làm điều ác này!”
Lập tức trở về nhà mình, rêu rao khắp mọi người. Những người không tin ưa Phật pháp bằng mọi cách trách mắng rằng: “Chúng ta là cư sĩ, rờ rẫm thân đàn bà; còn Sa-môn Thích tử lại cũng làm như vậy, họ cạo cái đầu này cùng ta nào khác!? Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.” Tiếng xấu như vậy đồn khắp thiên hạ.
Lại có một Bà-la-môn dẫn vợ đi vãn cảnh, cho đến phòng của Ưu-đà-di, nói:
“Tôi muốn cùng vợ xem phòng xá.”
Ưu-đà-di nói:
“Có thể vào kẻ trước người sau, không được cùng lúc.”
Bà-la-môn nói:
“Nếu không được vào cả hai thì, cho vợ tôi vào trước.”
Người vợ đã vào phòng, Ưu-đà-di cũng lại làm những trò rờ rẫm như trước; lâu lắm mới ra. Người chồng hỏi vợ:
“Vì sao mà lâu thế! Không muốn xem các phòng khác nữa hay sao?”
Bà vợ nói:
“Thôi, thôi! Đừng nói điều đó nữa, chỉ vào một phòng mà gần chết mới ra được, sao lại phải xem các phòng xá khác!?”
Người chồng hỏi lý do, người vợ trình bày đầy đủ. Khi ấy, Bà-la-môn liền mắng rằng:
“Sa-môn Thích tử tại sao lại tạo ra ác nghiệp như vậy?”
Ông vào các ngã tư đường, chợ búa, hang cùng ngõ hẻm thành Xá-vệ, nơi nào cũng hô lên: “Sa-môn Thích tử rờ rẫm vợ tôi.”
Những người không lòng tin Phật pháp, bằng mọi cách mắng: “Tại sao Sa-môn Thích tử tự xưng là tịnh tu Phạm hạnh mà làm ác như vậy?”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi trình bày đầy đủ mọi việc lên đức Phật.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ưu-đà-di:
“Ngươi có thật làm vậy không?”
Thưa:
“Thật vật, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, vì dục thịnh tâm biến, mà xúc chạm thân người nữ, hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc nắm mỗi một thân phần, xoa rờ, đắm vào sự mịn láng, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Dục thịnh tâm biến:17 Hướng về tâm dục, móng tâm mạnh, sự việc sắp thành, biến pháp thiện, pháp vô ký, đọa vào nơi bất thiện.
Người nữ:18 là người nữ, cho đến trẻ mới sinh.
Xúc chạm:19 [11b01] xoa rờ bất cứ chỗ nào trên thân, cho đến một sợi tóc.
D. PHẠM TƯỚNG
Có năm trường hợp Tỳ-kheo xúc chạm người nữ, Tăng-già-bà-thi-sa: Người nữ, tưởng người nữ, người nữ còn sống, người nữ nhiễm tâm, do tình gần gũi xoa rờ, tiếp nhận cảm giác từ xúc chạm, cho đến xúc chạm sợi tóc cũng như vậy.
Năm trường hợp xúc chạm người nữ, Thâu-lan-giá: Người nữ, tưởng là người nữ, người nữ còn sống, người nữ nhiễm tâm, không do tình gần gũi xoa rờ, nhưng tiếp nhận cảm giác từ xúc chạm, cho đến xúc chạm sợi tóc cũng như vậy. Người nữ xúc chạm Tỳ-kheo cũng như vậy.
Năm trường hợp xúc chạm người nữ không phạm: Người nữ, tưởng là người nữ, người nữ còn sống, người nữ nhiễm tâm, không do tình thân cận mà người nữ nắm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tìm cách để thoát. Tuy có cảm giác từ xúc chạm nhưng không thọ nhận, cho đến xúc chạm sợi tóc cũng như vậy.
Lại người nữ, tưởng người nữ, nghi người nữ, nữ mà tưởng không căn, nữ mà tưởng hai căn, xúc chạm, Tăng-già-bà-thi-sa. Người nữ mà tưởng nam, nữ mà tưởng huỳnh môn, xúc chạm, Thâu-lan-giá.
Nam tưởng là nam, nghi là nam, nam tưởng huỳnh môn, xúc chạm, Đột-kiết-la.
Nam tưởng là nữ, tưởng nam vô căn, tưởng nam 2 căn, xúc chạm, Thâu-lan-giá. Huỳnh môn cũng như vậy.
Vô căn, tưởng vô căn, nghi vô căn, vô căn tưởng nhị căn, vô căn tưởng nữ, xúc chạm, Tăng-già-bà-thi-sa.
Vô căn tưởng nam, vô căn tưởng huỳnh môn, xúc chạm, Thâu-lan-giá. Hai căn cũng như vậy.
Tỳ-kheo cùng người nữ không có y (áo) xúc chạm nhau, Tăng-già-bà-thi-sa. Cùng người nữ có áo (y) xúc chạm nhau, Thâu-lan-giá. Người nữ nắm Tỳ-kheo không có y, Tăng-già-bà-thi-sa. Nắm Tỳ-kheo có y, Thâu-lan-giá. Tỳ-kheo cùng người nữ, cả hai đều có y (áo) nắm nhau, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo nắm áo (y) người nữ, người nữ bỏ y Tỳ-kheo, Thâu-lan-giá. Người nữ nắm y Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không bỏ áo (y) người nữ, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo xúc chạm người nữ chết, không phải người nữ, Thâu-lan-giá; nắm súc sanh cái, Đột-kiết-la. Sa-di Đột-kiết-la.

III. NÓI LỜI THÔ TỤC20
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,21 khi ấy Trưởng lão Ưu-đà-di22 bị lửa dục thiêu đốt, nghĩ như vầy: “Cố ý xuất bất tịnh, xúc chạm thân người nữ, đức Thế Tôn đã cấm. Nay nên tìm cách nào đến những người nữ nói lời thô ác (khiêu dục)* để tìm thú vui trong dục lạc”. Rồi liền rưới nước quét phòng, ngồi nơi đất trống, người nữ nào đến viếng cảnh, (Ưu-đà-di)* mời họ vào phòng đóng cửa, như trước đã nói. Ở trong phòng liền nói những lời thô tục với người nữ, hỏi như vầy: “Tay chân, bắp đùi, bắp tay, eo, lưng, bụng, cổ, vú, đầu, hông, mặt, móng tay, tóc, nơi đường đại tiểu tiện của cô giống như cái gì?” Lại nói: “Này chị em! Tay, chân cho đến nơi đường đại tiểu tiện của chị em thô xấu!” [11c01] Hay nói: “Này chị em! Tay, chân cho đến nơi đường đại tiểu tiện của chị em tốt đẹp!”
Lại hỏi: “Khi chồng cô gần cô, nói với cô thế nào? Nếu theo ý tôi, sẽ cho cô trân bảo và muốn cần gì, cho tôi được đáp ứng. Tất cả Thiên thần đều chứng biết lòng tôi.”
Những người nữ nghe, có người thích hoặc không thích cũng nói như trên. Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở tránh, và đem mọi việc bạch Phật.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ưu-đà-di:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay, giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, dục thịnh biến tâm, hướng đến người nữ nói lời thô ác; tùy theo nói lời dâm dục,23 Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. PHẠM TƯỚNG
Tướng phạm ở đây: Chê, khen, khất, nguyện, hỏi, hỏi lại, giáo dục.
Tỳ-kheo có 5 việc, nói lời thô tục cùng người nữ: Người nữ tưởng người nữ, người nữ còn sống, người nữ tâm nhiễm, do tình thân cận, từ chê khen cho đến giáo dục, người kia hiểu rõ, Tăng-già-bà-thi-sa. Không hiểu rõ, Thâu-lan-giá.
– Chê: Chê bai 3 chỗ24 (tam xứ) người nữ, hoặc nhỏ hoặc lớn, hình sắc xấu.
– Khen: Khen ngợi 3 chỗ người nữ, không nhỏ, không lớn, hình sắc tốt.
– Khất: Đến người nữ xin 3 chỗ, nếu có thể cho tôi, tôi có thể theo ý cô.
– Nguyện: Muốn được 3 chỗ của cô, được 3 chỗ của cô là người phước lạc.
– Hỏi: Như hỏi “Chồng cô đối trong 3 chỗ, hành dục chỗ nào? Làm khi nào?”
– Hỏi lại:25 Như hỏi “Chồng cô đối với 3 chỗ không làm như vậy hay sao?”
– Giáo dục:26 Như dạy rằng “Cô dùng 3 chỗ theo ý người nam thì được người nam kính ái.”
Người nữ, tưởng người nữ, cho đến 2 căn tưởng 2 căn… đều nói như trên.
Lại có 5 việc: sai sứ, viết thư, ra dấu, cử động tay, nói lời tương tợ, người kia hiểu rõ, Thâu-lan-giá; không hiểu rõ, Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo đối diện cùng người nữ nói lời thô tục, họ hiểu, Tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu, Thâu-lan-giá.
Hướng đến phi nhơn nữ nói lời thô tục, Thâu-lan-giá; hướng đến súc sanh cái nói lời thô tục, Đột-kiết-la. Sa-di Đột-kiết-la.

IV. YÊU SÁCH CÚNG DƯỜNG27
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,28 khi ấy trưởng lão Ưu-đà-di29 bị lửa dục thiêu đốt, nghĩ như vầy: “Cố ý làm xuất bất tịnh, rờ rẫm thân người nữ, hướng đến người nữ nói lời thô tục, đức Phật đều đã cấm. Nay ta nên hướng đến người nữ tự khen thân để được cúng dường để tìm thú vui trong dục lạc.”
Ưu-đà-di lại rưới nước quét phòng, làm mọi việc như trên, rồi ở trong phòng nói với người nữ: “Này chị em! [12a01] Cô cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, cho đến các vị nhập thiền định, đắc 4 đạo quả, không bằng dùng sự dâm dục cúng dường người trì giới.”
Các người nữ nghe, có người thích, có người không thích… cho đến đức Phật bằng mọi cách quở trách, như đã nói trên. Quở trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, vì dục thịnh biến tâm, hướng đến người nữ tự khen thân (đòi) cúng dường,30 nói: ‘Này chị em, đem sự dâm dục cúng dường là sự cúng dường bậc nhất’, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. PHẠM TƯỚNG
Nếu dùng mọi cách nói lời khen thân muốn cúng dường thì mỗi lời nói, Đột-kiết-la.
Hoặc nói:
“Không bằng dùng sự dâm dục để cúng dường”, thì mỗi lời nói, Thâu-lan-giá.
Hoặc nói:
“Đem sự dâm dật cúng dường là sự cúng dường bậc nhất”, Tăng-già-bà-thi-sa.
Dùng 5 việc tự khen thân (để được)* cúng dường: Người nữ, tưởng là người nữ, người nữ sống, người nữ tâm nhiễm, dùng tình gần gũi, nói: “Đem sự dâm dục cúng dường là sự cúng dường bậc nhất”, người kia hiểu rõ, Tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu rõ, Thâu-lan-giá.
Người nữ, tưởng là người nữ, cho đến 2 căn tưởng là 2 căn, sai người, cho đến nói tương tợ, đối diện cùng người nữ nói, hướng đến phi nhơn nữ, súc sanh cái, đều như đã nói trên. Sa-di, Đột-kiết-la.

V. MAI MỐI31
A. DUYÊN KHỞI
1. Nhân duyên chế giới lần thứ nhất
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.32 Khi ấy, có gia chủ tên là Ca-lưu,33 thông minh lợi căn, khéo đoạn nghi cho người. Phàm người thành Xá-vệ, có những việc làm gì, cho đến việc hôn nhân không gì không tham vấn ông. Nói giúp đỡ, liền giúp đỡ, nói không giúp đỡ liền không giúp đỡ. Kết quả tốt thì họ nói: “Nhờ Ca-lưu nên ta mới được việc tốt này, nên làm cho Ca-lưu cũng được vui này”. Nếu kết quả xấu thì họ cũng nói: “Do Ca-lưu ta bị khổ này, nên cũng làm cho Ca-lưu chịu khổ cực này.” Như vậy, lời khen, tiếng chê lan khắp cả nước.
Sau đó, do lòng tin, Ca-lưu xuất gia, những người tham vấn lại càng tăng thêm, cho đến vua Ba-tư-nặc cũng đích thân đến hỏi việc nước, nên sự hoan hỷ, sự phẫn nộ (theo đó)* tăng gấp bội so với trước.
Khi ấy, có một quả phụ, con gái bà nhan sắc đẹp nhất xứ, nhiều người đến cầu hôn, bà đều không hứa khả. Bà nói: “Nếu ai về ở với ta như con thì (bà)* mới gả cho”.
Khi ấy, có người Bà-la-môn tiền của vô lượng, nói với quả phụ:
“Cho con trai tôi cưới con gái bà thì sự sống mới bảo dảm an lạc lâu dài.”
Vẫn trả lời như ban đầu.
Khi ấy, Bà-la-môn liền tìm hỏi mọi người, là ai thường tới lui nhà người này. Có người bảo: “Sa-môn Ca-lưu thường chơi thân nhà này”.
Ông liền mời Ca-lưu cúng dường thời gian dài. Sau khi đã quen thân nhau, liền đem sự việc thưa: [12b01] “Tôi muốn vì con trai, xin cưới con gái của bà…, cúi mong Đại đức vì tôi nói giùm.”
Ca-lưu liền mặc y bưng bát đi đến nhà kia. Quả phụ liền ra lễ bái, chào hỏi. Ca-lưu nói: “Cô nên gả con gái cho con ông… Nhà ông ấy giàu có, chắc chắn (con cô)* sẽ được an lạc.”
Bà vẫn trả lời như ban đầu.
Ca-lưu nói: “Nếu không gả con gái cô, sau này nó lớn ắt sẽ bị vất vì lỡ thì. Tại sao để mất con gái, lại mất chàng rể tốt!”
Bà quả phụ nghe vậy, lập tức đồng ý.
Ca-lưu trở về báo lại, liền thành hôn ngay.
Sau khi về nhà chồng, cô dâu gặp nhiều điều cực khổ, cô đưa tin báo cho mẹ, xin nói với nhà chồng cầu được chút thong thả.
Bà mẹ bảo con rằng, cần Ca-lưu đến trực tiếp nói việc đó.
Hôm sau, Ca-lưu đến nhà quả phụ, bà ta kể hết những điều khổ cực của con mình và nói: “Vì hôn nhân này do ngài, nên xin vì (chúng tôi)* nói giúp.”
Ca-lưu trả lời: “Con bà vô phúc nên đưa đến khổ cực này. Nếu cô có phúc, duyên nào để đến đây? Pháp Sa-môn của ta không nên biết đến việc của người thế tục như vậy.”
Quả phụ mắng rằng:
“Trước kia thì biết việc của người, nay lại nói không biết, người ác như vậy, cuối cùng sẽ không tốt lành!”
Bằng mọi cách, Bà mắng rủa thống thiết. Người xung quanh nghe đều đến can, nói: “Con gái bà bạc phước nên mới đưa đến khổ cực này, can dự chi đến Sa-môn mà mắng rủa?!”
Bà quả phụ nói:
“Các người34 đâu có biết, do Sa-môn này khiến nên mới đưa con gái nhỏ của tôi đến khổ cực này.”
Bấy giờ, những người không tin ưa Phật pháp đều nói như vầy: “Bà tin Sa-môn nên con gái chịu khổ này. Ai còn tin những lời của họ thì coi đó sẽ bị lừa vậy!”
Lại quở mắng:
“Chúng ta những cư sĩ làm việc mai mối; Sa-môn Thích tử cũng lại như vậy, họ cạo đầu, mặc y hoại sắc mà sỡ hành (việc làm) như vậy có khác gì ta đâu!?”
Lúc ấy, tiếng xấu ấy lan tràn khắp mọi nơi, các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật, trình bày mọi việc lên Ngài.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ca-lưu:
“Ngươi thật có vậy không?”
Thưa:
“Thậy vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay, giới này nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo nào, làm mai mối, Tăng-già-bà-thi-sa.”
2. Nhân duyên chế giới lần thứ hai35
Bấy giờ, các nhà hào phú trong thành Xá-vệ muốn được làm việc tư thông với các đồng nữ lớn tuổi; nhưng (không thể) tự nói lên ý của mình vì sỉ diện và cũng không người làm giúp, bèn nói với nhóm sáu Tỳ-kheo: “Thầy có thể vì tôi nói giúp ý muốn này. Nếu cần vật chi, cần bao nhiêu từ một ngày, một đêm cho đến một lần gặp?”
Nhóm sáu Tỳ-kheo liền đến chỗ các người nữ, đem đầy đủ ý muốn kia ra hỏi. [12c01] Có người thấy việc ấy, tất cả cùng nhau bàn chê: “Sa-môn Thích tử tịnh tu Phạm hạnh, mà tại sao nay lại làm ác nghiệp này!? Dắt mối ư! Là việc làm của cư sĩ,36 các Sa-môn này không tàm quý!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ Phật để trình bày sự việc lên Ngài. Đức Phật nhân việc này tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ông37 thật có vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, làm việc mai mối, hay làm việc tư thông, đem ý người nam đến bên người nữ, đem ý người nữ đến bên người nam, cho đến một lần giao hội, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Có mười hạng nữ, mười hạng nam.
Mười hạng nữ:38
Cha mẹ giám hộ, anh chị giám hộ, bà con giám hộ, tự giám hộ, pháp giám hộ, tự ý mình, y vật, cùng thề, có chủ và tác tín.
– Cha mẹ giám hộ:
Người nữ có cha mẹ, cha mẹ có quyền ưng cho (cưới gả)*, có quyền định đoạt. Anh chị, bà con cũng như vậy.
– Tự giám hộ:39
Tự mình được tự tại, tự mình ưng cho, tự mình định đoạt.
– Pháp giám hộ:40
Xuất gia theo chánh pháp, tu hành Phạm hạnh.
– Tự ý mình:41
Tự theo sở thích.
– Y vật:
Là nhận y vật của người khác.
– Cùng thề:
Cùng người hứa hẹn.
– Có chủ:
Người nữ có chồng.
– Tác tín:
Nhận bưu thiếp của người đưa đến, hẹn một ngày, một tháng, cho đến một lần gặp gỡ.
Mười hạng nam cũng như vậy.
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu Tỳ-kheo nhận lời người nam có cha mẹ giám hộ, Đột-kiết-la. Nói với người nữ có cha mẹ giám hộ, … cho đến người nữ tác tín, Thâu-lan-giá. Không hứa khả, trở lại báo, Thâu-lan-giá. Hứa trở lại báo, Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu Tỳ-kheo nhận lời người nam có cha mẹ giám hộ, nói với người nữ có cha mẹ giám hộ, người nữ nói: “Có thể nói với cha mẹ tôi”. Tỳ-kheo đem lời nói này trở lại trả lời, Thâu-lan-giá. Người nam có cha mẹ giám hộ, lại khiến Tỳ-kheo nói với cha mẹ người nữ kia, nhận lời nói này, Đột-kiết-la. Nói với cha mẹ người nữ kia,… cho đến không hứa, trở lại trả lời, Thâu-lan-giá; hứa trở lại trả lời, Tăng-già-bà-thi-sa.
Nhận lời nói người nam có cha mẹ giám hộ nói với người nữ có anh chị, bà con giám hộ cũng như vậy,… cho đến nhận lời nói của người nam tác tín, nói với người nữ có cha mẹ giám hộ,… cho đến nói với người nữ tác tín cũng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo nhận lời nói của người nữ có cha mẹ giám hộ, … cho đến người nữ tác tín, nói với người nam có cha mẹ giám hộ,… cho đến nói với người nam tác tín, cũng lại như vậy.
Có sáu cách nói:
Tự mình, sai khiến, viết thư, sai người đến gặp sứ giả (người kia)*, nói lời tương tự, ra dấu.
Nếu Tỳ-kheo tự mình nhận lời, tự mình nói với người kia, tự mình trở lại trả lời, Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu Tỳ-kheo tự mình nhận lời, sai người đến nói người kia, [13a01] tự mình trở lại trả lời; tự mình nhận lời, tự mình nói với người kia, sai người trở lại trả lời; tự mình nhận lời, sai người nói với người kia, sai người trở lại trả lời, đều Tăng-già-bà-thi-sa. Tự mình nhận lời, … cho đến ra dấu nói với người kia, ra dấu trở lại trả lời, cũng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo… cho đến nhận lời (bằng cách)* ra dấu, cũng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo vì bên người nam hay người nữ, làm việc mai mối, Tăng-già-bà-thi-sa. Vì bên người nam cùng phi nhơn nữ làm việc mai mối, Thâu-lan-giá. Vì bên người nam cùng súc sanh cái làm việc mai mối, Đột-kiết-la. Vì người nữ cũng như vậy. Vì bên phi nhơn nam cùng người nữ làm mai mối, Thâu-lan-giá. Vì súc sanh đực cùng người nữ làm mai mối, phạm Đột-kiết-la. Vì bên người nữ cùng huỳnh môn làm mai mối, Đột-kiết-la.
Nếu Tỳ-kheo vì người nam mượn người nữ, vì người nữ mượn người nam, sai khiến lâu dài, Thâu-lan-giá. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Không phạm: Vì hòa hiệp.42

VI. LẬP THẤT NHỎ43
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở thành Xá-vệ.44 Khi ấy, các Tỳ-kheo tại ấp A-trà-bễ,45 tự xin (vật liệu)* để làm phòng xá, đến các cư sĩ xin xe cộ, trị giá bằng xe cộ, xin nhân công, trị giá bằng nhân công, gỗ cây tre trúc thứ gì cũng đòi xin. Cư sĩ nhàm chán, nên thấy (Tỳ-kheo)* đều trốn lánh. Các Tỳ-kheo xin không được nữa, bèn tự mình chặt đốn cây cỏ, đào đất, lấy đất. Có một Đại đức Tỳ-kheo tự mình chặt cây Thần (đang ở)*, trong khi con nhỏ vị Thần cây đang vui chơi nơi cây này, bị chặt đứt một ngón tay. Vị Thần cây đau khổ liền sanh ác ý, muốn đến đánh Tỳ-kheo, song lại nghĩ như vầy: “Vị này có oai đức lớn, nếu ta đánh ông ấy, nhân đây mà chết thì sẽ khiến ta lúc nào cũng phải chịu mọi khổ não”. Lại nghĩ như vầy: “Hiện nay đức Thế Tôn đang ở thành này, ta nên đến trình bày việc này, đức Phật dạy sao thì ta phụng hành thế ấy”.
(Vị Thần)* liền đến Kỳ-hoàn, trình bày đầy đủ lên Phật. Bấy giờ, đức Thế Tôn tán thán vị Thần cây:
“Hay thay! Hay thay! Ý nghĩ của ông rất hay. Hiện Tỳ-kheo này thật có oai đức, nếu đánh vị ấy, ắt sẽ chịu báo khổ.”
Lại bảo Thọ thần:
“Tại chỗ đó có cây lớn, chưa thuộc về ai, ông có thể nương ở đó.”
Thọ thần vâng lời liền đến đó.
Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành đến ấp A-trà-bệ. Trưởng lão Đại Ca-diếp46 sáng sớm đắp y bưng bát vào thành khất thực. Các cư sĩ thấy ngài đều chạy trốn. Trưởng lão lấy làm lạ, hỏi người đi đường, họ nói: “Các Tỳ-kheo ở đây khất cầu (vật liệu)* làm phòng xá, không biết chán, người trong ấp lo khổ, vì vậy thấy ngài họ đều chạy trốn”.
Sau khi Tôn giả Ca-diếp ăn xong, trở về chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
[13b01] “Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ngươi nên tu tập thiểu dục tri túc, không nên đa sự khất cầu không biết chán.”
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Vào đời quá khứ bên cạnh sông Hằng, có một Tiên nhơn47 ở hang đá. Lúc ấy, hằng ngày Long vương từ nước xuất hiện, nhiễu quanh vị Tiên nhơn bảy vòng, đưa đầu lên xuống để nói lên sự cung kính. Sau đó, Tiên nhơn du hành trong nhân gian, đệ tử trông hang. Như trước, hằng ngày con rồng cũng đều đến cung kính, làm người đệ tử sợ hãi nên gầy ốm đi nhiều.
Lúc ấy, Ta đang hành Bồ-tát đạo, du hóa bên bờ sông Hằng, chứng kiến sự việc như vậy, liền hỏi nguyên nhân, được trả lời đầy đủ như vậy. Ta lại hỏi:
“Nay ngươi muốn không thấy lại con rồng ấy chăng?”
Trả lời:
“Đúng vậy.”
Lại hỏi:
“Ngươi thấy dưới cổ con rồng có những vật gì nào?”
Đáp:
“Có ngọc ma-ni.”48
Ta lại bảo:
“Nếu khi nào rồng đến, ngươi liền chắp tay hướng đến nó, nói như vầy: Nay ta cần ngọc ma-ni dưới cổ ngươi, xin đem cho ta.”
Lúc ấy, đệ tử Tiên nhơn nghe Ta nói rồi, nên khi rồng từ nước xuất hiện, liền đòi nó. Con rồng nghe xin ngọc, không tới, không lui, đứng im lặng. Lúc ấy, đệ tử Tiên nhơn lại vì Long vương nói bài kệ này:
Long vương, nay ta cần
Ngọc châu dưới cổ ngươi.
Ta rất yêu thích nó
Tại sao ngươi không nói?
Con rồng liền dùng kệ trả lời:
Tất cả điều ta cần
Đều được nhờ ngọc này.
Nay ông xin ngọc đó
Vĩnh viễn không đến nữa
Như tiếng lửa bốc cháy
Khiến lòng người hoảng sợ.
Nay ta nghe ông nói
Hoảng sợ còn hơn nhiều.
Bấy giờ, đức Thế Tôn dẫn tích xưa, nói kệ:
Người xin không ai ưa
Nhiều lần bị oán ghét.
Long vương nghe tiếng xin
Một đi không trở lại.
Lại bảo Tỳ-kheo:
Long vương thọ nghiệp báo tự nhiên, còn không thích nghe tiếng cầu xin. Nay các cư sĩ làm ăn vất vả, khốn khổ mới có được, tại sao các ngươi lúc nào cũng xin?
Lại bảo Tỳ-kheo:
Xưa kia, một thời Ta ở tại thành Xá-vệ, có Tỳ-kheo an cư xong đi đến chỗ Ta, Ta hỏi:
“An cư ở đâu? An cư có an ổn, khất thực có dễ được, đi đường có mệt không?”
Tỳ-kheo kia trả lời:
[13c01] “Con an cư tại khu rừng nơi sườn núi tuyết, an cư an ổn, khất thực dễ được, đi đường không mệt, chỉ có hoạn nạn từ các con chim, ban đêm chúng kêu làm loạn tọa thiền tư duy không chuyên nhất được!”
Ta hỏi Tỳ-kheo:
“Nay các ngươi còn muốn khu rừng đó nữa không?”
Thưa:
“Rất thích, bạch Thế Tôn.”
Ta bảo:
“Ngươi về lại nơi đó, khi chiều chim về, chắp tay hướng đến nó nói: ‘Nay ta cần lông cánh các ngươi, các ngươi cho ta’. Giữa đêm, cuối đêm cũng lại nói như vậy.”
Tỳ-kheo vâng theo lời dạy xin chúng. Trong đêm đó, những con chim bàn với nhau: “Nay Tỳ-kheo này xin chúng ta điều đó, chúng ta có nên cho hay không?” Chúng đều nói: “Không thể được”, liền bay đi luôn không trở lại.
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Loài chim còn không thích nghe tiếng cầu xin, huống là người ư!”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
Vào thời quá khứ, có quốc vương Ca-di, ham thích bố thí, cung cấp người nghèo nàn. Khi ấy có vị Phạm-chí được nhà vua rất mến trọng, chưa bao giờ cầu xin nhà vua thứ gì. Bấy giờ vua kia nói bài kệ:
Mọi người từ xa đến
Đâu đâu cũng xin ta.
Mà nay ngươi ở đây
Không xin, có ý gì?
Phạm-chí lại dùng kệ trả lời:
Người xin không ai ưa
Không cho tạo oán ghét.
Do vậy nên không xin
Sợ mất tình thân ái.
Nhà vua lại nói kệ:
Người trí không ghét xin
Tìm tiếng tư, văn đến.
Huống ông chỗ thân ái
Đâu nên có lòng tiếc.
Giữ nghèo, thẹn cầu xin
Chỗ đáng hưởng không nhận,
Mất phước người tâm hư,
Mà tự khốn khổ mình.
An bần, xin không thẹn,
Chỗ đáng hưởng nên nhận,
Thành tựu thiện cho người,
Tự mình mãi an lạc.
Xin không tổn đức hạnh,
Cũng không lỗi thân, miệng,
Bớt có để giúp không,
Tại sao lại không xin?
Phạm-chí lại dùng kệ trả lời:
Người hiền không lời xin,
Cầu xin chẳng phải hiền
Im lặng không cầu xin,
Đó gọi là đại nhân.
[14a01] Nhà vua nghe kệ của người hiền, tâm rất hoan hỷ, liền đem một con trâu chúa và 1.000 con trâu khác biếu cho.
(Đức Phật)* bảo Tỳ-kheo: “Vua cùng Phạm-chí tuy rất yêu thích nhau, nhưng còn khó có sự cầu xin, huống là các cư sĩ đối với các người đâu có yêu thích mà cầu xin nhiều như thế!”
Lại bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia có con nhà tộc tánh, tên là La-tra-ba-la,49 cha mẹ rất yêu quý; nhưng từ khi xuất gia, không hề có yêu cầu cha mẹ thứ gì. Lúc ấy, cha mẹ cũng dùng bài kệ hỏi:
Mọi người từ xa đến
Đâu đâu cũng xin ta.
Con là con yêu quý
Không xin, có ý gì?
La-tra-ba-la liền dùng kệ trả lời:
Người xin không ai ưa,
Không cho tạo oán ghét
Con đã xuất gia rồi
Lại không nên cầu xin.
Này các Tỳ-kheo, La-tra-ba-la được cha mẹ rất yêu thương còn lấy cớ xuất gia không trở về cầu xin, huống là các cư sĩ đối với các ngươi không thân mà xin nhiều ư!?”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách như vậy, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, tự khất cầu (vật liệu)* để làm phòng cho mình, không có thí chủ, thì cần phải làm đúng lượng, bề dài mười hai gang tay Phật, bề rộng bảy gang tay Phật,50 phải mời các Tỳ-kheo đến xin chỉ chỗ. Các Tỳ-kheo nên chỉ chỗ không có nạn, chỗ có đường đi. Nếu không mời các Tỳ-kheo đến xin chỉ chỗ, hoặc làm quá lượng, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Tự khất cầu: Tỳ-kheo vì mình đến xin người khác.
Phòng:51 Là nơi đó có thể đi, đứng, ngồi, nằm, hành động được theo 4 oai nghi.
Không có thí chủ:52 không có đàn-việt.
Vì mình: Vì chính mình chứ không vì người khác, cũng không vì Tăng.
Phải mời các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ: Nên mời Tỳ-kheo biết pháp trì luật đến chỉ chỗ cho mình.
Các Tỳ-kheo nên chỉ chỗ không có nạn, chỗ có đường đi:
– Chỗ có nạn:53 Chỉ cho ngã tư đường, nơi nhiều người tụ họp vui đùa, chỗ dâm nữ, chỗ chợ búa, chỗ thả trâu, chỗ sư tử, hổ lang, ác thú, bên bờ sông nước xói, chỗ có cây đại thọ, chỗ có ruộng vườn tốt, chỗ có phần mộ, chỗ quá gần hay quá xa thôn xóm, chỗ có đường đi hiểm trở. Đó gọi là chỗ có nạn. nơi nào không có các nạn trên thì gọi là chỗ không có nạn.
– Chỗ có đường đi: Là chỗ xung quanh (có đường)* xe đi được, như vậy gọi là chỗ có đường đi.
Nếu chỗ nào có các nạn trên, chỗ không có đường đi thì [14b01] các Tỳ-kheo nên nói với Tỳ-kheo kia rằng: “Thầy đừng nên cất chỗ này”.
Nếu chỗ không có các nạn trên, chỗ có đường đi thì các Tỳ-kheo nên nói với Tỳ-kheo kia rằng: “Thầy nên cất chỗ này”.
Tỳ-kheo này nên để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, đến giữa Tăng quỳ gối, chắp tay, xin Tăng chỉ chỗ, tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… tự khất cầu làm phòng cho mình, không có thí chủ. Nay đến trong Tăng, xin chỉ chỗ, cúi xin hiện tiền Tăng chỉ chỗ cho tôi.”
Xin ba lần như vậy.
Tăng nên sai một vị tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… tự khất cầu làm phòng cho mình, không có thí chủ. Nay đến trong Tăng xin chỉ chỗ. Nay Tăng vì Tỳ-kheo tên là… chỉ chỗ không có nạn, chỗ có đường đi. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… tự khất cầu làm phòng cho mình, không có thí chủ. Nay đến trong Tăng xin chỉ chỗ. Nay Tăng vì Tỳ-kheo tên là… chỉ chỗ không có nạn, chỗ có đường đi. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, ai không chấp thuận xin nói.”
“Tăng đã vì Tỳ-kheo tên là… chỉ chỗ không có nạn, chỗ có đường đi rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu Tăng chỉ chỗ có nạn, chỗ không có đường đi thì Tăng phạm Đột-kiết-la. Nếu cất ở chỗ này thì cũng như vậy. Nếu không mời các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ, từ khi khởi tâm đến sửa soạn đất phần thô (đào đất đổ nền)* đều phạm Đột-kiết-la. Phần tế (hoàn thành phần nền)*, Thâu-lan-giá. Cất xong, Tăng-già-bà-thi-sa.
Dùng kim, ngân, trân bảo lẫn lộn cùng hoàn thành nhà gạch, … cho đến làm trong đất Tăng đều Thâu-lan-giá.
Sa-di phạm Đột-kiết-la.54

VII. CẤT CHÙA LỚN55
A. DUYÊN KHỞI
[14c28] Đức Phật ở nước Câu-xá-di.56 Khi ấy, Tỳ-kheo Xiển-đà57 thường tới lui nhà các nhà vì họ nói pháp và liệu lý công việc cũng như chữa trị cho các con bệnh. Quốc vương, đại thần, gia chủ, cư sĩ không ai không thân kính. Mọi người cùng đến thăm viếng, gặp lúc Xiển-đà đang đi kinh hành, họ đảnh lễ sát chân, (Xiển-đà)* vì họ nói pháp, chỉ dạy sự lợi ích, khiến họ vui mừng. Khi mọi người về nhà họ, Xiển-đà liền trở lại phòng mình thì đã có Thượng tọa vào ở. Như vậy, tuần tự đi cho đến các phòng nhỏ nhất lại cũng như vậy (cũng đã có người ở). Không có nơi nào ở được, Xiển-đà lại phải du hành trong nhân gian. Sau đó, nhiều người lại đến thăm viếng, gặp các Tỳ-kheo đang kinh hành nơi đất trống, họ hỏi:
“Thầy của chúng tôi là Xiển-đà, hiện nay ở đâu?”
Các Tỳ-kheo nói:
“Chúng tôi không biết.”
Tìm khắp nơi không được, họ bèn trở về nhà.
Xiển-đà du hành trở về, mặc y bưng bát đến những nhà kia. Họ đều ra đón chào hỏi:
“Bạch Trưởng lão, vừa rồi chúng con có đến Tăng phòng mà không gặp được, vậy nay Trưởng lão từ đâu đến?”
Đáp:
“Tôi là hàng Hạ tọa nhỏ nhất, tất cả phòng Thượng tọa đã ở hết, cho nên phải du hành, đưa đến những trở ngại nhau này.”
Mọi người thưa:
“(Trưởng lão)* có thể tìm chỗ làm nhà,58 chúng con sẽ vì Trưởng lão cất phòng xá, (chúng con)* đã làm được phước, mà Trưởng lão lại được sống an ổn. Hơn nữa, khi chúng con đến thăm viếng khỏi bị trở ngại.”
Xiển-đà trả lời:
“Tôi không thể tự làm, vì sẽ bỏ phế việc hành đạo. Khi nào tuổi lớn, tự sẽ được chỗ ở theo thứ lớp.”
Mọi người lại thưa:
“Rất vui là chúng con có vật liệu sẵn, lại có thiện tâm. Tài vật thì vô thường, thiện tâm thì khó giữ. Xin vì chúng con tìm chỗ, tất chúng con muốn làm nhà.”
Xiển-đà thấy họ quá ân cần, khó lòng từ chối, bèn đi tìm đất làm nhà, thấy chỗ cây thần59 có thể xây cất được nhất, nên liền chặt nó. Cây này có vị thần mà mọi người trong nước đang thờ cúng, mọi sự khấn vái phần nhiều đều được như ý nguyện, bỗng thấy bị đốn chặt, không ai không kinh hãi. Người không tin ưa Phật pháp đều trách mắng: “Sa-môn Thích tử thật là vô đạo, vì muốn lợi mình mà thương hại bừa đến trời, người”. Người tin ưa Phật pháp thì nói: “Cây này có Thần, mọi người đều kính sợ, sớm tối vững niềm cung kính, không dám khinh mạn, mà các Tỳ-kheo lại chặt nó không biết sợ, tâm sắc đều an nhiên như vậy, có thế nói (đây)* là bậc đại thần, đáng quí đáng trọng.” Lời khen tiếng chê đồn đãi khắp trong nước, các Trưởng lão Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ Phật, trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi Xiển-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, có thí chủ vì mình làm phòng,60 nên mời các Tỳ-kheo đến xin chỉ chỗ. Các Tỳ-kheo nên chỉ chỗ không nạn, chỗ có đường đi. Nếu không mời các Tỳ-kheo đến xin chỉ chỗ, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
[15a01] Có thí chủ: Là có đàn-việt.
Ngoài ra như trong giới không có thí chủ vừa rồi đã nói.

VIII. VÔ CĂN HUỶ BÁNG61
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.62 Khi ấy, vua Bình-sa hằng ngày theo thứ tự thỉnh năm trăm vị Tăng thọ trai tại thành nội. Thần dân cũng lại như vậy. Khi ấy, các Tỳ-kheo ai ai cũng đều hành đạo, chưa có người chuyên biết về việc sai thọ thỉnh (nhận lời mời thọ trai)* theo thứ tự. Nhóm sáu Tỳ-kheo thường đến chỗ tốt. Mọi người hỏi: “Chúng con vì Tăng thiết trai mời theo thứ tự, tại sao các Trưởng lão thường đến mà không thấy các vị khác?”
Họ quở trách như vậy mà (nhóm sáu Tỳ-kheo)* vẫn không thôi. Khi ấy, Đà-bà Lực Sỹ Tử,63 mười bốn tuổi xuất gia hành đạo, ở chỗ yên tịnh nghĩ như vầy: “Hiện nay, vua Bình-sa hằng ngày theo thứ tự thỉnh năm trăm vị Tăng thọ trai tại thành nội. Thần dân cũng như vậy, mà Tăng không có người sai phó hội theo thứ tự, nên đưa đến việc Lục quần lựa chọn chỗ tốt (mà đến)*, làm thất vọng mọi người, và mất đi mọi ý nghĩa người cúng dường. Nếu đến tuổi 20, ta thọ giới Cụ túc, đắc A-la-hán, đặng Lục thần thông, sẽ vì chúng Tăng làm người sai phó hội64 và phân phối ngọa cụ”.
Đến tuổi 16, Đà-bà đắc quả A-la-hán, đạt Lục thần thông, 20 tuổi thọ giới Cụ túc, liền nghĩ như vầy: “Trước đây ta nguyện vì chúng Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ, nay đã đến lúc nên làm việc đó”. Liền đến thành Vương Xá, chỗ các Tỳ-kheo, nói lên lời nguyện trước đây của mình. Các Tỳ-kheo liền bạch Phật, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi Đà-bà:
“Thật sự ngươi muốn vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ phải không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Đà-bà vì Tăng làm người sai khiến phó hội và phân phối ngọa cụ.”
Tăng nên bạch nhị Yết-ma, sai một Tỳ-kheo bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tỳ-kheo Đà-bà muốn vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Đà-bà này muốn vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không chấp thuận xin nói.
Tăng đã chấp thuận Tỳ-kheo Đà-bà làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ rồi, Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”65
Bấy giờ, Đà-bà liền vì Tăng làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ. Khi phân phối ngọa cụ, (những vị)* thiểu dục tri túc cùng (ở với quý vị)* thiểu dục tri túc; ưa yên tịnh thì cùng ưa yên tịnh; tụng Tu-đa-la (kinh) thì cùng tụng Tu-đa-la; trì luật thì cùng trì luật; pháp sư cùng pháp sư [15b01]; ưa tán tụng66 thì cùng ưa tán tụng; A-luyện-nhã67 cùng A-luyện-nhã; khất thực cùng khất thực; ngồi thiền thì cùng ngồi thiền. Trong những hạnh khác nhau như vậy, đều được xếp theo thuộc loại của nó, tùy nghi mà sắp xếp chỉ dẫn các nơi phòng ốc, khiến tất cả các Tỳ-kheo đều được an ổn. Tỳ-kheo các nơi, có vị đến vào lúc sẩm tối, vội đến Đà-bà để xin chỗ ở thì Đà-bà liền nhập Hỏa quang Tam-muội, tay trái xuất phát ánh sáng, tay phải chỉ chỗ ngọa cụ một cách chu toàn.
Khi ấy, những nơi xa nghe Tỳ-kheo Đà-bà vì chúng Tăng thành Vương Xá làm người sai phó hội và phân phối ngọa cụ có đức như vậy, đều nghĩ như vầy: “Ta sẽ đến đó để thăm hỏi đức Thế Tôn, cùng diện kiến Đà-bà và xem thần lực”. Họ bắt đầu đi cho đến sẫm tối và đến chỗ Đà-bà xin chỗ nghỉ ngơi. Đà-bà đều xếp chỗ đúng pháp, theo thứ tự sai người đi phó hội cũng lại như vậy.
Bấy giờ, thành Vương Xá có gia chủ Thiện Phạn, thấy pháp đắc quả, hằng ngày đích thân đến mời hai Tỳ-kheo để thiết trai thượng vị. Vì phước đức của huynh đệ Từ Địa68 đều mỏng nên khi chia ngọa cụ cũng như mời phó hội theo thứ tự thường gặp phải thứ thô dở. (Hôm nay)* may mắn, gặp được sai đến nhà này. Thiện Phạn biết rồi liền nghĩ như vầy: “Hai vị này là người ác, không hạnh thanh tịnh, sao có thể nhận sự cúng dường (trai phạn)* thượng vị của ta!” lập tức trở về, nói với vợ ông rằng: “Bà chỉ nên làm thức ăn thô dở thôi.” Khi anh em Từ Địa đến thì sai đứa ở trải tòa xấu ngoài cửa (để đón)*.
Người vợ vâng lời, chuẩn bị thức ăn thô dở. Khi huynh đệ Từ Địa mặc y mang bát đến nhà Thiện Phạn, an tọa nơi tòa, trong khi đó bọn tôi tớ mang thức ăn xấu ra. Từ Địa thấy vậy, liền hỏi: “Này chị em! Nhà ngươi thường làm thức ăn ngon, tại sao nay thô dở vậy?”
Bọn tôi tớ thưa:
“Tôi là kẻ thấp hèn, không biết lý do.”
Ăn xong về liền, trên đường đi, Từ Địa mắng (thầm)* Đà-bà Lực Sỹ Tử: “Cần phải khiến cho ngươi chịu khổ cực, về đến trú xứ rồi, ta sẽ đến chỗ các Thượng tọa nói Đà-bà Lực Sỹ Tử, làm việc theo ưa, giận, si, sợ. Nếu sợ (ai)* thì cho đồ tốt, không sợ thì cho đồ xấu.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Các thầy không nên nói những lời như vầy: Tỳ-kheo Đà-bà làm việc theo ưa, giận, si, sợ. Tại sao vậy? Vì Tỳ-kheo Đà-bà đắc A-la-hán, đủ sáu thần thông mà làm việc theo ưa, giận, si, sợ là điều không thể có.”
Từ Địa nói:
“Chính vì đắc thần thông nên thấy biết được nhà nào có (thức ăn)* ngon, nhà nào có (thức ăn)* dở; ngon thì mời người khác, dở thì liền sai tôi, cho nên tôi nói là ‘theo ưa, giận, si, sợ’.” Nói những lời như vậy rồi đến nơi khác.
Trước hết là gieo tiếng xấu cho Đà-bà và sau đó, đến chỗ cô em ni Di-đa-la69 nơi thành Vương Xá. [15c01] Di-đa-la thấy hai anh đến, ra nghinh đón, đảnh lễ chào hỏi. Huynh đệ Từ Địa đều không nói với nhau. Di-đa-la thưa:
“Em không nhớ đã phạm gì, tại sao hai anh như vậy?”
Từ Địa trả lời:
“Cô không giúp tôi nên khiến đưa đến việc Đà-bà làm khổ tôi như vậy.”
Di-đa-la hỏi:
“Anh muốn em trợ giúp nhau bằng cách nào?”
Từ Địa bảo:
“Nếu cô giúp tôi thì có thể đến chỗ đức Phật thưa: ‘Bạch đức Thế Tôn, ở trong không sợ hãi, ngược lại đưa đến sự sợ hãi. Nay con không tìm ra nơi nào có được an ổn! Đà-bà vốn là người Phạm hạnh, bỗng nhiên làm ô nhiễm con, phạm Ba-la-di.’”
Di-đa-la nói:
“Đà-bà thanh tịnh, nếu em hủy báng người thì Tăng tất sẽ tác (pháp)* Tự ngôn, đuổi em. Em ra khỏi chúng sẽ nương tựa vào nơi nào?”
Từ Địa vẫn nói:
“Anh sẽ làm chứng cho em để đuổi Đà-bà, làm gì có việc em bị tác (pháp)* Tự ngôn và bị đuổi!”
Di-đa-la nói:
“Nếu Tăng đuổi Đà-bà thì em được gì khác sao?”
Từ Địa vẫn nói:
“Chỉ cần khiến đức Thế Tôn xua đuổi Đà-bà thì Đà-bà sẽ bị anh đứng ra trục xuất, cũng lại là khổ sao!? Chúng ta tự sẽ được nơi an ổn, tốt đẹp.”
Vì kính trọng anh nên em gái không dám trái mệnh, liền đến chỗ đức Phật bạch như trên lên Ngài.
Bấy giờ, Đà-bà và La-hầu-la đang đứng hai bên đức Phật, Phật hỏi Đà-bà:
“Ngươi có nghe những gì Di-đa-la đã nói không?”
Thưa:
“Con đã nghe, nhưng Thế Tôn tự biết việc đó (cho con.)*”
Ba lần hỏi và trả lời cũng như vậy.
Bấy giờ, La-hầu-la bạch Phật:
“Bạch đức Thế Tôn, phiền gì phải ba lần hỏi Đà-bà, chỉ cần tẫn xuất cô ni này.”
Đức Phật dạy:
“Nếu Di-đa-la dùng việc này phỉ báng ngươi, thì ngươi nên như thế nào?”
Thưa:
“Con cũng sẽ nói, ‘việc này Phật tự biết cho’.”
Đức Phật dạy:
“Ngươi có thể như vây, Đà-bà cũng vậy sao!?”
Đức Phật dạy Đà-bà:
“Ngươi nên đứng dậy, tự biện minh, nay không phải lúc im lặng. Ngươi nên nhớ nghĩ, có thì nói có, không thì nói không, không được trực ngôn nói: ‘Phật tự biết điều này’.”
Đà-bà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, quỳ gối chắp tay thưa Phật:
“Bạch đức Thế Tôn, từ khi con sinh đến nay, dù trong mộng, cũng chưa từng có tưởng niệm này. Hôm nay làm sao có được để nhớ biết?”
Đức Phật khen:
“Lành thay! Lành thay! Ông đã nhanh chóng tự biện minh. Người muốn tự biện minh cần phải như vậy.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nên trao cho Đà-bà Ức niệm Tỳ-ni,70 không nên cử tội, nên bạch Tứ yết-ma trao cho Di-đa-la pháp Tự ngôn diệt tẫn.”
Một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Di-đa-la này tự nói ‘Đà-bà làm ô nhiễm tôi’. Nay Tăng trao cho pháp Tự ngôn diệt tẫn. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni Di-đa-la này tự nói: ‘Đà-bà làm ô nhiễm tôi’. Nay Tăng trao cho pháp Tự ngôn diệt tẫn. [16a01]Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, nếu ai không chấp thuận xin nói.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
“Tăng đã chấp thuận trao cho Tỳ-kheo-ni Di-đa-la pháp Tự ngôn diệt tẫn rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”71
Tỳ-kheo-ni Di-đa-la bị diệt tẫn rồi, du hành trong nhân gian. Huynh đệ Từ Địa vẫn nói với các Tỳ-kheo rằng: “Đà-bà Lực Sỹ Tử phá hoại Phạm hạnh em tôi, cho nên khiến đưa đến (tình trạng)* như vậy.”
Các Tỳ-kheo lại đem sự việc bạch lên Phật, đức Phật nhân việc này tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Các ngươi nên kiểm vấn lại Từ Địa là, ông nói Đà-bà phá hoại Phạm hạnh em ông, là thật hay là hư?”
Các Tỳ-kheo vâng lời, liền hỏi Từ Địa, Từ Địa trả lời:
“Điều tôi nói là sự thật.”
Tăng lại hỏi:
“Ông thấy chỗ nào, thấy khi nào, thấy thế nào?”
Trả lời:
“Tôi thấy chỗ đó, tôi thấy khi đó, tôi thấy như vậy,”
Tăng lại hỏi Đà-bà tiếp:
“Khi ấy, ông ở chỗ nào?”
Trả lời:
“Tôi ở chỗ đó.”
Tăng lại hỏi Từ Địa:
“Địa điểm không tương ưng, thời gian không tương ưng, tại sao ông nói chỗ đó, lúc đó, thấy như vậy?”
Lại hỏi Từ Địa:
“Nếu đối trước một vị Tỳ-kheo có lòng tin kiên cố mà nói láo thì tội nặng như tổn hại vô số chúng sanh. Trước một vị kiên cố đối với pháp (mà nói láo)* thì họ mắc tội nặng hơn 100 vị có lòng tin kiên cố. Lần lượt như vậy, đối trước Tăng mà nói láo, thì tôi của họ nặng hơn đối 100 vị A-la-hán.”
Lại nói với Từ Địa:
“Nay, Tăng tập họp không tùy theo ưa, giận, si, sợ, ông có thể nói lại (điều đó)* là sự thật hay hư dối?”
Từ Địa nói:
“Đà-bà tùy theo ưa, giận, si, sợ nên tôi phải nói như vậy.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật để trình bày sự việc lên Ngài.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Từ Địa:
“Thật sự ông đã dùng vô căn Ba-la-di hủy báng Đà-bà phải không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Ngươi là người ngu si, tại sao dùng vô căn Ba-la-di hủy báng Tỳ-kheo Phạm hạnh thanh tịnh? Ông há không nghe có ba hạng người72 đọa vào địa ngục sao!?
Một, là phạm giới, không có pháp của Sa-môn mà tự nói mình có, không tu Phạm hạnh mà tự nói mình tu; giống như hạt giống hủ bại ở trong Phật pháp.
Hai, là thấy như vầy, nói như vầy: ‘Dâm dục không phải là điều xấu’, rồi phóng dật.
Ba, là dùng vô căn Ba-la-di hủy báng Tỳ-kheo thanh tịnh Phạm hạnh. Ba hạng người này chắc chắn đọa vào địa ngục. Tại sao nay ngươi lại làm việc ác này?”
Đức Phật lại dùng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
“Tỳ-kheo nào, [16b01] tự mình không biết pháp, vì hận thù73 nên dùng Ba-la-di không căn cứ hủy báng Tỳ-kheo không phải Ba-la-di, muốn phá hoại Phạm hạnh của vị ấy.74 Sau đó, Tỳ-kheo này, dù bị cật vấn hay không bị cật vấn, nói: ‘Việc75 này không căn cứ, vì ôm hận76 nên tôi hủy báng’, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Tự mình không biết pháp: Tự mình làm mọi việc không như pháp.
Hận ghét: Tức là 9 não.
Vô căn:
Không thấy, không nghe,77 không nghi.
Không Ba-la-di:
Tức là người đối với 4 Ba-la-di không phạm một tội nào.
Muốn phá hoại Phạm hạnh của vị ấy:
Là muốn khiến cho vị kia hoàn tục hay làm ngoại đạo.
Thời gian sau, dù bị cật vấn, hay không bị cật vấn:
Nghĩa là sau đó tự kiểm nghiệm lại chỗ nào, khi nào, thấy thế nào.
Sự có 4 thứ:
Ngôn tránh sự, giáo giới tránh sự, phạm tội tránh sự, sự tránh sự.
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu Tỳ-kheo không thấy, không nghe, không nghi người khác phạm Ba-la-di mà dùng pháp này hủy báng thì Tăng-già-bà-thi-sa.
Thấy mà nghi, nghe mà nghi, nghi mà nghi; thấy mà quên, nghe mà quên, nghi mà quên, rồi dùng pháp vô căn hủy báng, Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người đối diện hiểu những lời hủy báng phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không hiểu rõ, Thâu-lan-giá.
Nếu viết thư, sai sứ, ra dấu hiệu, nói lời tương tợ, dùng tay nói để hủy báng mà người hiểu, Thâu-lan-giá; không hiểu, Đột-kiết-la.
Nếu hủy báng Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni hủy báng Tỳ-kheo-ni, Tăng-già-bà-thi-sa. Hủy báng Tỳ-kheo, Ba-dật-đề. Hủy báng Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni hủy báng 5 chúng đều phạm Đột-kiết-la.

IX. GIẢ CĂN HUỶ BÁNG78
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.79 Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà thường hay tới lui thăm viếng, cùng ngồi một chỗ để nghe giáo pháp từ Tỳ-kheo Đà-bà vì ngài là bậc đại đức thần thông, nên Từ Địa thấy vậy lại muốn phỉ báng. Sau đó, từ trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống, (Từ Địa)* thấy hai con khỉ đang giao hợp hành dục, bèn khởi ý nghĩ: “Nay ta nên mượn hai con khỉ này đặt tên con đực là Đà-bà, con cái là Thâu-la-nan-đà”. Nghĩ vậy rồi, liền nói với các Tỳ-kheo Trưởng lão rằng: “Trước đây, tôi đã dùng pháp vô căn hủy báng Đà-bà, nay chính tôi thấy Đà-bà cùng Thâu-la-nan-đà làm hạnh bất tịnh.”
Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật, đức Phật bảo các Tỳ-kheo nên tập hợp Tăng để tra hỏi Từ Địa: “Ông nói trước đây ông dùng pháp vô căn phỉ báng Đà-bà, nay chính ông thấy Đà-bà cùng Thâu-la-nan-đà làm hạnh bất tịnh, là thật hay là hư?” Các Tỳ-kheo vâng theo lời dạy, tập hợp Tăng, hỏi Từ Địa… cho đếnÔng có thể nói lại (việc đó)* là thật hay là hư [16c01], đều như trên đã nói.
Tra hỏi như vậy rồi, Từ Địa nói:
“Thật ra tôi không thấy Đà-bà làm hạnh bất tịnh mà tôi chỉ thấy Thâu-la-nan-đà thường lui tới chỗ Đà-bà, nên có ý muốn phỉ báng ông ta. Nhân từ trên núi Kỳ-xà-quật xuống, thấy hai con khỉ đang giao hợp, bèn mượn tên con khỉ đực cho là Đà-bà, con khỉ cái là Thâu-la-nan-đà, cho nên nói là chính tôi thấy (hai người)* làm hạnh bất tịnh thôi!’.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách: “Tại sao ông dựa vào trong phần sự khác, lấy chi tiết nhỏ, hoặc tương tự chi tiết nhỏ cho là Ba-la-di để phỉ báng Tỳ-kheo không phải Ba-la-di!”
Rồi họ đến chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Từ Địa:
“Thật ngươi có vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, tự mình không như pháp, vì hận thù nên dựa lấy chi tiết nhỏ,80 hay tương tự chi tiết nhỏ trong phần sự khác,81 cho là Ba-la-di, để phỉ báng Tỳ-kheo không phải Ba-la-di, vì muốn phá hoại Phạm hạnh của vị ấy. Sau đó, Tỳ-kheo này dù bị cật vấn, hay không bị cật vấn, nói: Việc này, tôi vì ôm hận nên dựa lấy chi tiết nhỏ, hay tương tự chi tiết nhỏ, trong phần sự khác để phỉ báng, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Sự: Ngôn tránh sự, giáo giới tránh sự, phạm tội tránh sự, sự tránh sự.
D. PHẠM TƯỚNG
Nếu Tỳ-kheo thấy người khác phạm Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc khi nhập định tưởng họ phạm Tăng-già-bà-thi-sa vì giận dữ, nên dựa vào trong phần sự khác,82 lấy chi tiết nhỏ nhặt,83 hoặc tương tự chi tiết nhỏ nhặt để phỉ báng Tỳ-kheo không phạm Ba-la-di thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Nghe, nghi cũng như vậy. Thấy, nghe, nghi người khác phạm Thâu-lan-giá, phạm Ba-dật-đề, phạm Ba-la-đề đề-xá-ni, phạm Đột-kiết-la, dùng Ba-la-di phỉ báng cũng như vậy. Ngoài ra như trên đã nói.

13 Tăng-kỳ 5, tr. 264a13; Tứ phần 2, tr. 580b4; Thập tụng 3, tr. 14c22; Căn bản 11, tr. 681c19. Pāli, Vin. iii. 119.
14 Tăng-kỳ 5, tr.264a13: Thành Vương Xá 王舍城. Tứ phần 2, tr. 580b4; Thập tụng 3, tr. 14c22: Nước Xá-vệ 舍衞國. Căn bản 11, tr. 681c19: Thành Thất-la-phạt 室羅伐城.
15 Tăng-kỳ 5, tr. 264a13: Ưu-đà-di 優陀彌. Tứ phần 2, tr. 580b4; Thập tụng 3, tr. 14c22: Ca-lưu-đà-di 迦留陀彌. Căn bản 11, tr. 681c19: Ổ-đà-di 鄔陀彌.
16 Tăng-kỳ 5: Phật tại Vương Xá, Ca-lan-đà Trúc viên. Sa-di-ni Chi-lê 支梨, đệ tử của Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la 優钵羅, được sai mang y đến cho Ưu-đà-di; bị Ưu-đà-di dẫn vào phòng riêng rồi ôm… Tứ phần 2; Thập tụng 3; Căn bản 11, cùng Ngũ phần đối tượng là người nữ tại gia giống nhau.
17 Dục thịnh biến tâm 欲盛變心. Tăng-kỳ 5, tr. 265c23: Dâm dục biến tâm 淫欲變心, tâm quá khứ diệt tận, biến dịch, nói là biến. Nhưng biến dịch ở đây chỉ cho sự biến dịch đối với căn, lực, giác chi, đạo chủng. Tứ phần 2, tr. 580b28: Dâm dục ý 淫欲意 (ý dâm dục); Thập tụng 3, tr. 15a16: Dục thịnh tức là biến tâm, cũng gọi là tâm tham, tâm nhiễm, tâm trói buộc; hoặc có biến tâm, nhưng chẳng phải tâm dục thịnh, cũng không phải tâm tham, tâm nhiễm, tâm trói buộc, như người cuồng si, người loạn tâm, người bệnh hoại tâm, cũng gọi là biến tâm… Căn bản 11, tr. 683c03: Nhiễm triền tâm 染纒心, tâm nhiễm trói buộc. Pāli, Vin.iii.120: otiṇṇo vipariṇatena cittena, bị ức chế bởi dục, với tâm biến đổi (biến chất); thích từ: otiṇṇo, chỉ tâm tham ái bị buộc chặt bởi sự khát vọng dục tình.
18 Tăng-kỳ: Là mẹ, chị, em là thân thích hay chẳng phải thân thích, hoặc lớn hay nhỏ, xuất gia hay tại gia. Tứ phần: các phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các thiếu. Căn bản: Là đàn bà, hoặc đồng nữ (gái còn nhỏ chưa có chồng). Pāli, ibid, người nữ, kể cả trẻ mới sinh, chỉ loài người chứ không phải dạ-xoa, quỷ, súc sinh.
19 Tăng-kỳ: Xúc 觸. Tứ phần: Ma 摩. Thập tụng: Ma tróc 摩捉. Căn bản: Xúc 觸. Pāli: āmasanā, do động từ masati (Skt. mṛś): sờ mó, vuốt ve.
20 Tăng-kỳ 5, tr. 267c19; Tứ phần 3, tr. 581b7; Thập tụng 3, tr. 15c18; Căn bản 11, tr. 684a16; Pāli, Saṅghādisesa 3, mātugāmaṃ dutthullāhi vācāhi obhāseyya, Vin. iii. 127.
21 Tăng-kỳ 5, tr. 267c19: Vương Xá 王舍. Căn bản 11, tr. 684a16, Thất-la-phạt thành 室羅伐城. Tứ phần, Thập tụng: Xá-vệ 舍衛.
22 Tăng-kỳ 5, tr. 268c20, Ưu-đà-di 優陀夷. Tứ phần 3, tr. 581b07; Thập tụng 3, tr.15c19: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷. Căn bản 11, tr. 684a16: Ổ-đà-di 鄔陀夷.
23 Tăng-kỳ: “Nói lời xấu xa, tuỳ thuận pháp dâm dục, như nam nữ thiếu niên.” Tứ phần: “Nói lời dâm dục thô ác, là nói đến hai đường tốt xấu”. Thập tụng: “Nói lời ác bất tịnh. Căn bản: “Nói lời thô bỉ xấu xa, không đứng đắn, liên hệ pháp dâm dục, như vợ chồng.” Pāli, Vin.iii.128: duṭṭhullāhi vācāhi obhāseyya, yathā taṃ yuvā yuvatiṃ methunūpasaṃhitāhi, nói những lời thô tục giống như thiếu niên nam nữ.
24 Tăng-kỳ, Tứ phần: Nhị đạo 二道. Thập tụng: Tam sang môn 三瘡門. Căn Bản: Nhị sang môn 二瘡門.
25 Tứ phần: Đáp. Thập tụng: Phản vấn. Pāli: paṭipucchati, phản vấn.
26 Tứ phần: Giải bày. Pāli: ācikkhati, giải thuyết, diễn giải; khi được hỏi, nói như vầy: Hãy cho như vậy; cho như vậy thì chồng cô sẽ yêu thương cô.
27 Tăng-kỳ 5, tr. 269c20; Tứ phần 3, tr. 582a12; Thập tụng 3, tr. 16c18; Căn bản 11, tr. 685a25. Vin. iii. 131.
28 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城 như Ngũ phần. Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
29 Xem cht. 22 (Tăng tàn 3: Nói lời thô tục) trước.
30 Hán: Tự tán cúng dường thân 自讚供養身. Tăng-kỳ: Thán tự cúng dường thân 歎自供養身. Tứ phần: Tự thán thân 自歎身. Thập tụng: Tán thán dĩ thân cúng dường. Căn bản: Tự thán thân 自歎身. Pāli: attakāmapāricariyāya vaṇṇaṃ bhāseyya, tán thán sự cúng dường dục cho mình.
31 Tứ phần 3, tr. 582c15; Tăng-kỳ 5, tr. 262a20; Thập tụng 3, tr. 18a11; Căn bản 12, tr.685c14. Vin. iii. tr.135.
32 Tăng-kỳ, Thập tụng: Phật tại Xá-vệ. Căn bản: Thất-la-phạt. Tứ phần: Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ.
33 Tăng-kỳ, Tứ phần: Tỳ-kheo tên là Ca-la 迦羅; Thập tụng: Ca-la, con của trưởng giả Lộc Tử 鹿子長者兒名曰迦羅; Căn bản: Trưởng giả Hắc Lộc Tử 長者黑鹿子. Pāli: āyasmā udāyī sāvatthiyaṃ kulūpako hoti, trưởng lão Udāyī thường xuyên lui tới một gia đình trong Sāvatthi.
34 Để bản: Nhữ 汝.
35 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản: Học xứ này được kết một lần. Pāli, học xứ này được kết hai lần. Lần đầu, do Udāyī mai nối làm vợ chồng. Lần thứ hai, do Udāyī mai mối cho tư thông.
36 Để bản: Cấu hợp da phi bạch y sở sỉ 搆合耶非白衣所恥.
37 Để bản: Nhữ 汝.
38 Tứ phần 3, tr. 583a20: Nữ, có hai mươi hạng (được giám hộ). Thập tụng, 3, tr.18c03: Có mười bốn hạng nữ có giám hộ. Căn bản 12, tr. 686b14: Có bảy hạng phụ nữ, mười trường hợp tư thông. Pāli (Vin. iii. 139), 10 hạng nữ (không hay chưa chồng) và 10 loại vợ.
39 Tăng-kỳ 6, tr. 272a03: Tự lập 自立, không cha mẹ bà con, tự mình nuôi sống chính mình. Tứ phần 3, tr. 583a25, Thập tụng 3, tr. 18c05: Tự hộ 自護, tự mình giám hộ chính mình.
40 Căn bản: Hữu pháp hộ 有法護, người nữ goá chồng, thủ tiết, không ai dám xâm phạm. Pāli: dhammarakkhitā nāma sahadhammikā rakkhanti gopenti issariyaṃ kārenti vasaṃ vattenti (Vin. iii. 139), được giám hộ bởi pháp, tức là, những bạn đồng pháp (=đồng đạo) bảo vệ, canh chừng, làm chủ, kiểm soát.
41 Tăng-kỳ: Tuỳ ý trú 隨意住, người nữ giao ước sống với người nam theo ý muốn, khi nào không còn muốn sẽ tùy ý bỏ đi. Tứ phần: Tự nhiệm 自任. Căn bản: Tự lạc phụ 自樂婦, hạng làm vợ do thân hành đi đến chỗ người nam mình thích, nói, “Tôi vui lòng làm vợ của ông.” Pāli: chandavāsinī nāma piyo piyaṃ vāseti, hạng làm vợ được cầm giữ cho mục đích ham muốn, tức là người yêu cầm giữ người yêu.
42 Tứ phần 3, tr. 584a10: Sự không phạm, nếu nam nữ trước đã thông nhau mà sau ly biệt làm cho hòa hợp lại.
43 Tăng-kỳ 6, tr. 276b1; Tứ phần 3, tr. 584a16; Thập tụng 3, tr. 20b7; Căn bản 12, tr. 688a19; Pāli, Vin. iii. 144, kuṭikāsikkhapadaṃ.
44 Tăng-kỳ: Phật tại tinh xá Khoáng dã 曠野精舍; Tứ phần: Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ. Thập tụng: Phật tại A-la-tì quốc 阿羅毘國; Căn bản: Vườn Cấp Cô Độc, rừng Thệ Đa, thành Thất-la-phạt 室羅伐城逝多林 給孤獨園.
45 A-trà-bễ 阿荼髀: Pāli. Āḷavī, một thị trấn cách Sāvatthi ba mươi do-tuần và cách Ba-la-nại mười hai do-tuần. Tăng-kỳ 6: Khoáng dã quốc 曠野國; Tứ phần 3: Kỳ-xà-quật sơn.Thập tụng 3: A-la-tì Tỳ-kheo 阿羅毘比. Căn bản 12: Vườn Cấp Cô Độc. Pāli: āḷavakā bhikkhū, các Tỳ-kheo người Āḷavī, một thị trấn nằm giữa Sāvatthī (Xá-vệ) và Rājagaha (Vương Xá).
46 Tăng-kỳ 6, tr. 276c09: Tôn giả Xá-lợi-phất. Tứ phần 3, tr. 584b07; Thập tụng 3, tr. 20b12; Căn bản 12, tr. 688a24: Trưởng lão Đại Ca-diếp.
47 Pāli: dve bhātaro isayo, hai anh em Tiên nhân.
48 Tăng-kỳ 6, tr. 277b19; Tứ phần 3, tr. 584c13: Anh lạc 瓔珞; Pāli: maṇi.
49 La-tra-ba-la 羅吒波羅 (Pāli: Raṭṭhapāla). Tứ phần 3, tr. 585a26: Lại-tra-bà-la 賴吒婆羅, tức Lại-tra-hoà-la; trong Trung A-hàm 31 (T1n26, tr. 623a), con nhà phú hộ ở Xá-vệ, điển hình cho tín tâm bất động của thanh niên con nhà giàu có, quyết tâm xuất gia. Cf. Pāli, Raṭṭhapāla-sutta, M.ii.54ff.
50 Theo các bản khác thích từ như: Tăng-kỳ 6 (tr. 277c25): trường 長 (dài), tức chiều dọc; quảng 廣 (rộng), tức chiều ngang. Tu-già-đà trách thủ 修伽跎搩手, gang tay Phật (Thiện Thệ), bằng 2 thước 4 tấc. Tứ phần 3, tr. 585b13, Thập tụng 12, tr.10c7: Dài mười hai gang tay Phật, bên trong rộng bảy gang tay Phật. Căn bản 12, tr. 688b25: Gang tay Phật gấp ba người thường. 12 gang tay người thường có 18 khuỷu. Pāli: vidaṭṭhati = Skt. vitasti = 12 lóng tay, khoảng 9 inch.
51 Tăng-kỳ 6, tr. 277c22: Phòng xá 房舍. Tứ phần 3, tr. 585b18: Ốc 屋. Thập tụng 3, tr. 20c11: xá 舍, nhà ấm, nhà mát, điện đường, lầu gác, v.v… Căn bản 12, tr. 688b21: Tiểu phòng小房. Pāli (Vin. iii. 149): kuṭi, túp lều, hay chòi tranh.
52 Tăng-kỳ 6, tr. 277c23; Tứ phần 3, tr. 585b19; Thập tụng 3, tr. 20c12; Căn bản 12, tr. 688b23: Vô chủ 無主, không có chủ: không có một người, hai người, hay nhiều người đứng ra cất.
53 Tăng-kỳ 6, tr. 278c23; Tứ phần 3, tr. 585b19; Thập tụng 3, tr. 20c18, đều là nạn xứ 難處. Căn bản 12, tr. 688b23: bất tịnh xứ 不淨處. Pāli: sārambha, chỗ có nguy hiểm.
54 Bản Hán, hết quyển 2.
55 Tăng-kỳ 6, tr. 279a18; Tứ phần 4, tr. 586b4; Thập tụng 4, tr. 21b12; Căn bản 12, tr. 689a25. Pāli, Vin. iii. 155: vihārakāra, làm tinh xá.
56 Tăng-kỳ 6, tr.279a18; Tứ phần 4, tr. 586b4; Thập tụng 4, tr. 21b12: Câu-thiểm-di 俱睒彌. Căn bản: Kiều-thiểm-tì 憍閃毘.
57 Tăng-kỳ; Tứ phần; Căn bản: Đều Tỳ-kheo Xiển-đà 闡陀; Thập tụng: Xiển-na 闡那. Pāli: Channa.
58 Để bản: Ốc xứ 屋處.
59 Hán: Thần thọ 神樹. Tứ phần: Ni-câu-luật thần thọ 尼拘律神樹. Pāli: cetiya-rukkham, cây có miếu thần.
60 Tăng-kỳ 6, tr. 280a03; Thập tụng 4, tr. 21b26: Đều đại phòng xá 大房舍; Tứ phần 3, tr. 586b28: Đại phòng 大房; Căn bản 12, tr. 691a18: Đại trú xứ 大住處. Pāli, Vin. iii. 156:mahallako nāma vihāro sassāmiko vuccati, tinh xá có thí chủ làm cho được xem là lớn.
61 Tăng-kỳ 6, tr. 280a19; Tứ phần 3, tr. 587a25; Thập tụng 4, tr. 22a8; Căn bản 13, tr. 691b12. Vin. iii. 158.
62 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành 舍衞城; Tứ phần: Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城. Pāli: Rājagaha.
63 Tăng-kỳ: Đà-phiêu Ma-la Tử 陀驃摩羅子; Tứ phần: Đạp-bà-ma-la Tử 沓婆摩羅子; Thập tụng: Đà-phiêu Lực Sỹ Tử 陀驃力士子; Căn bản: Thật Lực Tử 實力子. Pāli: Dabba Mallaputta.
64 Hán: Sai hội 差會, phân phối Tỳ-kheo theo thứ tự đi thọ trai khi được cư sĩ thỉnh. Thập tụng 4, tr.32a17: Sai hội như Ngũ phần. Tăng-kỳ 7, tr. 281a21: Điển tri cửu sự典知九事, theo thứ tự mời thọ thực; theo thứ tự chia phòng xá; theo thứ tự phân y vật; theo thứ tự phân hoa hương; theo thứ tự phân dưa trái; theo thứ tự cung cấp nước nóng; theo thứ tự phân chia bánh; theo thứ tự cắt đặt người công tác. Tứ phần 3, tr. 587b4: Sai thứ thọ thỉnh phạn thực 差次受請飯食, phân phối Tỳ-kheo thứ tự đi thọ trai khi được cư sĩ thỉnh.Căn bản 13, tr. 696a5: Phân thực nhơn 分食人, người phân phối đồ ăn thức uống cho chúng Tăng. Pāli: bhattudesaka, người phân phối thức ăn cho các Tỳ-kheo.
65 Tăng-kỳ, Thập tụng, Căn bản: Không có đoạn văn Bạch nhị yết-ma này. Tứ phần như Ngũ phần.
66 Pāli. bhāṇaka, (người) đọc tụng, ca vịnh.
67 A-luyện-nhã 阿練若: Còn gọi là A-lan-nhã, Skt. araṇya, Pāli. arañña, dịch là núi rừng, đồng hoang, chỉ những nơi yên tĩnh, vắng vẻ, thích hợp cho người xuất gia tu hành cư trú.
68 Tăng-kỳ 7: Lục quần Tỳ-kheo 六群比丘. Tứ phẩn 3: Từ Địa Tỳ-kheo 慈地比丘. Thập tụng 4: Di-đa-la-phù-ma 彌多羅浮摩, một người. Căn bản 13: Hai Tỳ-kheo Thiện Hữu và Đại Địa 善友大地. Pāli: Mettiyabhummajakā bhikkhū, các Tỳ-kheo đồng bọn của Mettiya và Bhummaka, trong nhóm sáu Tỳ-kheo.
69 Tứ phần 3, tr. 587c18: Tỳ-kheo-ni Từ, 比丘尼慈. Thập tụng 4, tr. 22a23: Tỳ-kheo-ni Di-đa-la 比丘尼彌多羅. Căn bản 14, tr.696a28: Tỳ-kheo-ni Hữu Nữ比丘尼 友女. Pāli.Mettiyā.
70 Để bản: Tỳ-kheo 比丘.
71 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản: không có đoạn văn bạch tứ Yết-ma này.
72 Tứ phần 4, tr. 388b16: Hữu nhị chủng nhân 有二種人. Thập tụng 4, tr. 22c29; Căn bản 14, tr. 697b10: Hữu tam chủng nhân 有三種人 như Ngũ phần.
73 Hán: Ố sân 惡瞋. Tăng-kỳ: Sân hận bất hỷ 瞋恨不喜 (sân hận không vui). Tứ phần: Sân nhuế sở phú 瞋恚所覆 (thù hận ấp ủ). Thập tụng: Trụ ố sân 住惡瞋 (luôn sân hận thù ghét). Căn bản: Hoài sân bất xả 懷瞋不捨 (ôm lòng sân hận không buông xả). Pāli: duṭṭho doso appatīto, ố sân và bất mãn.
74 Hán: Dục phá bỉ phạm hạnh 欲破彼梵行. Tăng-kỳ 6, tr. 290c4: Dục phá bỉ Tỳ-kheo thanh tịnh 欲破彼比丘清凈. Tứ phần 4, tr. 589c14: Dục hoại bỉ thanh tịnh hạnh欲壞彼清凈行. Thập tụng 4, tr. 22a22: Dục phá bỉ phạm hạnh欲破彼梵行 Căn bản 14, tr. 697c3: Dục hoại bỉ tịnh hạnh 欲壞彼凈行. Pāli: brahmacariyā cāveyyaṃ, hủy hoại phạm hạnh, làm cho mất bản thể Tỳ-kheo, tức bị tẫn xuất, không còn là Tỳ-kheo.
75 Hán: Sự 事, tức 4 tránh sự: Ngôn tránh sự, giáo giới tránh sự, phạm tội tránh sự, sự tránh sự (sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ). Tứ phần: Sự 事, sự việc hay sự tình. Thập tụng: Sự có 4, như Ngũ phần. Pāli: adhikaraṇa, sự, tức tránh sự, có 4 (nāma cattāri adhikaraṇāni).
76 Hán: Trụ sân 住瞋.
77 Văn: Nghe âm thanh phát ra từ động tác của người đang phạm pháp.
78 Tăng-kỳ 7, tr. 281a20; Tứ phần 4, tr. 589b11; Thập tụng 4, tr. 23b15; Căn bản 14, tr. 699b17. Vin. iii. 166.
79 Tăng-kỳ 7, tr. 281a20: Xá-vệ thành 舍衞城. Tứ phần 4, tr. 589b11: Kỳ-xà-quật sơn, tại La-duyệt-kỳ 耆阇崛山羅閱衹. Thập tụng 4, tr. 23b15; Căn bản 14, tr. 699b17: Vương Xá thành 王舍城. Vin. iii. 166: Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe, lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ở tại vườn Trúc Lâm nơi nuôi dưỡng những con sóc (Ca-lan-đà), trong thành Vương Xá.
80 Hán: Thủ phiến 取片. Phiến, được hiểu là chứng cớ giả để vu khống. Pāli: Kiñci desaṃ lesamattaṃ upādāyāti leso nāma dasa lesā — jātileso, nāmaleso, gottaleso, liṅgaleso, āpattileso, pattaleso, cīvaraleso, upajjhāyaleso, ācariyaleso, senāsanaleso. Nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt tương tự nào đó, điều nhỏ nhặt tương tự có 10: điều nhỏ nhặt tương tự về xuất thân (huyết thống) – (nghĩa là có vị xuất thân Sát-đế-lợi [khattiya] được thấy đang phạm tội Ba-la-di [pārājika], rồi khi nhìn thấy vị Sát-đế-lợi khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị Sát-đế-lợi phạm tội Ba-la-di đã bị ta thấy, ngươi chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Thích tử….” thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa [saṅghādisesa] theo từng lời nói…); tương tự tên gọi (nghĩa là có vị tên Phật Hộ [Pháp Hộ, Tăng Hộ…] phạm Ba-la-di, sau nhìn thấy vị Phật Hộ khác lại buộc tội [nt]…); tương tự dòng họ (có vị họ Cù-đàm [Gotama] phạm Ba-la-di, sau thấy vị họ Cù-đàm khác lại buộc tội [như trên]….); tương tự tướng (có vị cao, lùn… phạm…, sau thấy vị cao, lùn… khác lại buộc tội [nt]…); tương tự tội vi phạm (nghĩa là đang phạm tội nhẹ, lại buộc vị ấy phạm Ba-la-di…), tương tự bình bát (nghĩa là có vị mang bình bát đồng, đất… phạm Ba-la-di, rồi thấy vị khác mang bình bát đồng, đất… lại buộc tội… [nt]…), tương tự y phục (có vị mặc y phấn tảo [paṃsukūla], y cư sỹ phạm Ba-la-di, rồi nhìn thấy vị khác… [nt]…), tương tự Hòa thượng (có người đệ tử của vì Hòa thượng tên A phạm… rồi thấy đệ tử của Hòa thượng tên B lại buộc tội… [nt]…), tương tự A-xà-lê (có người học trò của vị A-xà-lê tên… phạm… rồi thấy người học trò của vị A-xà-lê tên… lại buộc tội… [nt]…), tương tự phòng xá (có vị ở phòng A phạm Ba-la-di, rồi thấy vị khác ở phòng B lại buộc tội… [nt]…) Cf. Luật tạng 1, Tăng tàn 9, tr. 235, Nam truyền đại tạng kinh 1.
81 Hán: Dị phần trung thủ phiến hoặc tương tợ phiến 異分中取片若似片. Tăng-kỳ: Dị phần trung tiểu tiểu sự 異分中小小事; giải thích: trừ 4 Ba-la-di, còn lại 13 tăng-già-bà-thi-sa là dị phần. Các chúng học là tiểu tiểu sự. Tứ phần: Dị phần sự trung thủ phiến 異分事中取片; sự, chỉ 4 tránh sự. Thập tụng: Dị phần trung thủ phiến 異分中取片; giải thích: Dị phần, phạm 1 trong 4 Ba-la-di, không còn là Sa-môn Thích tử nữa nên gọi là dị phần. Căn bản: Dị phi phần sự 異非分事; giải thích, dị chỉ Niết bàn; bốn Ba-la-di là pháp phi phần của Niết-bàn. Pāli: aññabhāgiyassa adhikaraṇassa, đối với tránh sự thuộc phần sự khác; vấn đề thuộc về thiên tội khác, hay tránh sự cơ sở khác: đối với ngôn tránh, 3 tránh sự còn lại là dị phần sự; đối với dâm dục, 3 Ba-la-di còn lại là dị phần sự.
82 Dựa vào thiên tội khác.
83 Tăng-kỳ 7, tr. 281c12; Tứ phần 4, tr. 590b13; Thập tụng 4, tr. 24b22; Căn bản 14, tr.700b1. Vin. iii. 171.

X. PHÁ TĂNG84
A. DUYÊN KHỞI
1. Các vương tử họ Thích
Đức Phật ở tại ấp Di-na, dưới rừng A-nậu.85 Bấy giờ, những người quý tộc dòng họ Thích, phần nhiều xuất gia học đạo theo đức Phật . Khi ấy, Thích-ma-nam86 nói với A-na-luật:87
“Nay các quý tộc đều xuất gia tu Phạm hạnh, tại sao riêng anh em chúng ta lại không? Nếu anh xuất gia thì em làm chủ việc nhà, nếu em xuất gia thì anh sẽ lo liệu.”
A-na-luật nói:
“Anh88 cứ đi xuất gia, em sẽ làm chủ việc nhà.”
Thích-ma-nam nói:
“Trước đây (mọi việc)* nhà do anh, em chỉ biết hưởng nhàn, mà không biết gian nan, song xuất gia hành đạo cũng lại khổ sở! Nay em ở nhà, anh sẽ chỉ cho em phương pháp quản lý gia nghiệp.”
(Thích-ma-nam)* liền hướng dẫn mọi việc, ban ngày phải như vậy, ban đêm phải như vậy, phương pháp làm ruộng, cách điều hành mua bán hàng hóa, chỉ bày mọi việc.
A-na-luật nói:
“Nếu quản lý gia nghiệp mà phải như vậy mới được thành công, [17a01] thì một ngày em cũng không thể quản lý nổi. Xin, anh ở nhà, em sẽ đi xuất gia (tu đạo).”
Thích-ma-nam nói:
“Theo chư Phật Thế Tôn, cha mẹ không cho phép thì không được làm đạo. Nay em nên tự đến trình thưa với mẹ.”
A-na-luật liền đến thưa:
“Con muốn xuất gia học đạo ở trong Phật pháp.”
Mẹ bảo:
“Ta chỉ có hai anh em con, tình thương yêu rất nặng, làm sao sống mà xa cách cho được!? Nhà ta rất giàu có, tu công đức tùy thích, sao phải xuất gia để làm tổn thương ý này của mẹ!?”
Khổ cầu đến ba lần, mẹ bèn nói:
“Nếu vua Bạt-đề89 xuất gia thì mẹ cũng cho phép con.”
Lúc ấy, vua Bạt-đề cùng A-na-luật, A-nan,90 Nan-đề,91 Điều-đạt,92 Bà-bà,93 Kim-bệ-lô94 các vị thương mến nhau rất nặng, nếu có làm việc gì thề không trái nhau.
Bấy giờ, A-na-luật đến nói vua Bạt-đề:
“Nay có chút việc xin được bày tỏ.”
Vua nói:
“Chúng ta vốn đã thề nặng là không làm trái nhau, nếu làm trái nhau thì đầu sẽ bị vỡ thành bảy mảnh. Chỉ cần theo ý nguyện, quyết sẽ làm theo.”
A-na-luật liền đem những gì mẹ đã nói thưa lên vua. vua nói:
“Theo như nguyện này của bạn, tôi chưa có thể tùy thuận. Vì sao? Vì ý nguyện làm vua của tôi, hôm nay mới bắt đầu có kết quả. Thân tộc tôi tuy giàu sang, nhưng sự lo lắng không thể không có, làm sao có thể bỏ nó để xuất gia học đạo?”
A-na-luật nói:
“Nếu vua xuất gia thì ý nguyện của tôi mới toại, tham đắm sự phồn vinh thì tôi sẽ vĩnh viễn trầm luân. Xin vua ba lần, nên suy nghĩ đừng để trái với lời thề trước kia.”
Vua Bạt-đề nói:
“Sẽ theo ý nguyện của bạn, nhưng để lui cho tôi bảy năm, sau đó sẽ cùng bạn xuất gia học đạo.”
A-na-luật nói:
“Sau bảy năm chưa chắc đức Phật còn tại thế? Hơn nữa, tính mạng nguy thúy của tôi khó mà bảo toàn. Tại sao nay vua lại đem nó ra để hẹn?”
Vua lại nói:
“Bảy năm nếu lâu thì có thể sáu năm?”
Trả lời cũng như trên, từ năm, bốn, ba, hai đến một năm, rồi từ bảy tháng đến còn một tháng, từ bảy ngày đến còn một ngày đều cũng như vậy.
Nhà vua nói:
“Chúng ta là gia chủ,95 đông như vậy làm sao tiện lợi mà đi. Cần phải tạo phương tiện, trang bị xa giá xuất hành, nhân cuộc vi hành này mới có thể được. Tiện đây bạn có thể nói với A-nan-đà cùng các vị để biết ý này.”
A-na-luật liền thông báo hết với năm người, năm người vui mừng thuận ý. Liền trong đêm trang bị bốn loại binh (voi, ngựa, xe, lính bộ) trang sức bề ngoài nhất đời, trời vừa sáng thì họ xuất hành, tham quan du ngoạn xong, âm thầm dẫn theo người thợ cạo tóc Ưu-ba-ly,96 bỏ lại hết những người tùy tùng, tìm đến chỗ thanh vắng, y phục quý báu biếu cho Ưu-ba-li, nhờ ông cạo tóc, thay đổi y phục mà đi. (Bảy người)* đi chưa được bao lâu, Ưu-ba-ly nghĩ như vầy: “Các hào tộc dòng họ Thích cường bạo, nếu biết ta cạo đầu cho những người này, chắc họ sẽ giết ta. Hơn nữa, các quý tộc này còn có thể bỏ nhà (đi xuất gia)*,[17b01] nay ta tại sao không bỏ đồ nghề hớt tóc và các y phục quý giá này theo họ mà đi!” Rồi liền tự cạo đầu, đem các y phục quý báu treo trên cây, nghĩ như vầy: “Ai cần thì lấy nó.” Ngay lúc đó đi thật nhanh, trong chốc lát đuổi theo kịp và nói với bảy người: “Nay tôi cũng muốn theo (quí vị)* xuất gia.”
Bảy người liền chấp thuận, rồi cùng đi đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch:
“Kính bạch đức Thế Tôn, nay chúng con muốn xuất gia tịnh tu Phạm hạnh mà Ưu-ba-ly là người nô bộc của chúng con, xin Ngài cho ông ta thọ Cụ túc giới trước, sau mới độ chúng con,97 để cho chúng con và mọi người dòng họ Thích phá lòng kiêu mạn lớn đối với người kia.”
Đức Phật liền độ Ưu-ba-ly trước, độ bảy người sau.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nghĩ như vầy: “Ca-duy-la-vệ98 cách đây không xa, những người dòng họ Thích biết việc này sẽ gây trở ngại”, liền đưa tám người đến thành Bạt-đề-la,99 ở dưới cây Võng Lâm, vì họ nói diệu pháp về: Nhãn vô thường, sắc vô thường; nhãn thức, nhãn xúc; nhãn xúc làm duyên sanh thọ vô thường… cho đến ý vô thường, pháp vô thường; ý thức, ý xúc; ý xúc làm duyên sanh thọ vô thường. Các ngươi là Thánh đệ tử nên quán như vậy, sanh tâm yểm ly, sẽ đắc trí giải thoát, việc làm đã xong, Phạm hạnh đã lập, không tái sanh đời sau.
Lúc nói pháp này, sáu người lậu hết, đắc A-la-hán. A-nan vì hầu Phật, các lậu chưa hết. Điều-đạt, người duy nhất không thu hoạch được chi.100
Vua Bạt-đề đắc A-la-hán rồi, tâm tịnh không sợ hãi, hoặc ở dưới bóng cây, ngồi nơi đất trống, kinh hành, tự vui sướng, thốt lên:
“Khoái thay! Khoái thay!”
Lúc ấy, có Tỳ-kheo khác nghe câu nói đó, nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo Bạt-đề chắc nhớ chuyện vui thế gian, không thích Phạm hạnh.” Liền đến bạch Phật:
“Vừa rồi con nghe Bạt-đề nói: ‘Khoái thay! Khoái thay!’, chắc nhớ lại chuyện vui khi còn làm vua, không thích sống Phạm hạnh.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo ấy:
“Ngươi có thể gọi đến đây.”
Liền đến nói:
“Đại sư cho gọi ông.”
Bạt-đề liền đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng qua một bên.
Đức Phật hỏi Bạt-đề:
“Thật sự ông có nói ‘Khoái thay!’ phải không?”
Bạt-đề thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Lại hỏi Bạt-đề:
“Ông thấy được nghĩa gì mà nói khoái thay!?”
Bạt-đề thưa:
“Xưa kia con ở tại gia, con sống trong bảy lớp hào thành, bảy hàng voi, bảy hàng ngựa, bảy hàng xe, bảy hàng bộ binh; bốn loại binh bao quanh, mà bỗng nghe một tiếng gì khác lạ lòng kinh hoàng, lông dựng lên. Nay ở dưới bóng cây, nơi đất trống mà thản nhiên không lo, cho nên con đã nói ‘khoái thay!’.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Bạt-đề đã đắc La-hán, mà không thích Phạm hạnh là điều không thể có.”
Bấy giờ, đức Phật vì Bạt-đề nói bài kệ:
[17c01] Khoái thay! A-la-hán,
Không bị ân ái buộc,
Đã phá dục, sân, si,
Lại không bị lưới bủa.
Đã đến nơi Niết-bàn,
Không còn tâm uế trược,
Không nhiễm đắm nơi đời,
Giải thoát không các lậu.
Thấu triệt về năm uẩn,
Dạo qua bảy rừng pháp,
Nơi sở hành đại long,
Đã thắng mọi khủng bố,
Thành tựu mười chủng phần.
Long đức Tam-muội thiền,
Hết tất cả hữu lậu,
Là đệ nhất thế gian,
Bất động, không sợ hãi.
Không tái sanh đời sau,
Đã dứt, chỗ tịch diệt,
Hằng không báo khổ vui,
Trụ nơi trí vô học.
Thân này là cuối cùng,
Phạm hạnh kiên cố lập,
Không có điều không tin,
Trên đời, trong trời đất,
Lại không mọi dục lạc.
Đây gọi sư tử rống,
Không thể hơn đức Phật.

2. Nhân duyên Chúng Lạc (A-xà-thế)101

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn cùng các Đại đức Thanh văn nhận lời mời của Long vương A-nậu-đạt.102 Điều-đạt vì chưa đắt thần thông nên không thể đi được, xấu hổ vô cùng, liền nghĩ như vầy: “Nay ta nên hỏi pháp tu thần thông.” Liền đến bạch Phật:

“Xin Phật vì con dạy pháp tu thần thông.”103
Đức Phật vì ông mà dạy, Điều-đạt thọ giáo. Trong thời gian an cư, tiện đắc thần thông. Được thần thông rồi, suy nghĩ như vầy: “Ai nên giáo hóa trước? Rồi nghĩ như vầy: “Thái tử con vua Bình-sa104 tên Chúng Lạc, trước hết nên hóa đạo người này, sau đó ta sẽ giáo hóa những người khác.”
Nghĩ như vậy rồi, (Điều-đạt)* liền biến mất khỏi nơi Võng Lâm, hiện thành một đứa trẻ nít nằm ngửa, mút ngón tay, ở trên giường Thái tử. Thái tử thấy đứa trẻ, hoảng sợ vô cùng, hỏi:
“Ngươi là trời hay là quỷ thần?”
Trả lời:
“Tôi là Điều-đạt, đừng nên sợ hãi.”
Thái tử nói:
“Nếu là Điều-đạt thì nên hiện nguyên hình trở lại.”
Liền biến lại hình thái105 như cũ. Thái tử hoan hỷ, tôn thờ làm thầy, hằng ngày đến thăm hỏi, đem theo năm trăm cỗ xe. Điều-đạt lại hóa làm năm trăm đứa trẻ nằm ngửa, mút ngón tay trên xe. Lại dùng năm trăm cỗ xe chở thức ăn ngon bổ đến cúng dường. Lúc ấy, người trong nước đều cho đây là việc hiếm có, nói: “Điều-đạt có đại thần lực biến hóa như vậy, nên khiến thái tử [18a01] hằng ngày đến thăm hỏi, cúng dường các thức ăn ngon bổ”.
Ở đây, Điều-đạt không tự lượng sức mình, bèn muốn thu nhận nuôi dưỡng đồ chúng.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ra khỏi Võng Lâm du hành trong nhân gian, đến nước Câu-xá-di,106 trú tại vườn Cù-sư-la.107 Khi ấy, Mục-kiền-liên đang ở một nơi riêng biệt. Nước này, trước đây có Kiều-trần-như Tử gọi là Kha-hưu,108 tịnh tu Phạm hạnh, đắc quả A-na-hàm, sanh lên cõi Phạm Thiên.109 Nửa đêm vắng lặng, từ cõi trời giáng hạ, phóng ánh sáng lớn, đến chỗ Mục-liên,110 đầu mặt kính lễ sát chân, thưa với Mục-liên: “Nay Điều-đạt, hiện các thần thông biến hóa thu phục111 thái tử Chúng Lạc và muốn nuôi đồ chúng, sợ ông ta (mưu tâm)* chắc sẽ phá hòa hiệp Tăng.”
Nói như vậy rồi biến mất.
Sáng sớm hôm đó, Mục-liên sửa y phục, đến chỗ đức Phật, trình bày đầy đủ điều Kha-hưu vừa nói lên đức Phật. Đức Phật hỏi Mục-liên:
“Ý ông thế nào? Có đúng như lời Kha-hưu nói không?”
Thưa:
“Ý con cũng như vậy.”
Đức Phật bảo Mục-liên:
“Đừng nói lời ấy, tại sao vậy? Vì trên trời, dưới trời, không thấy Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma, Phạm nào có thể thống lãnh đồ chúng của Phật.”112
Lại bảo Mục-liên: “Ở đời có năm hạng thầy,113 hiện nay đều có mặt:
1. Giới không thanh tịnh, tự nói thanh tịnh. Các đệ tử của họ đều biết sự thật, nhưng che giấu tội lỗi của họ để mong cầu lợi dưỡng.
2. Tà mạng, nịnh hót, quanh co, tự nói mình chánh trực; nhưng các đệ tử cũng che giấu điều đó.
3. Nói điều bất thiện, tự nói là lời thiện; nhưng các đệ tử vui mừng cho là thiện.
4. Kiến giải không thanh tịnh, tự nói là thanh tịnh, nhưng các đệ tử cho rằng kiến giải tịnh.
5. Nói lời phi pháp luật, nói là pháp luật, nhưng các đệ tử cũng cho là đúng pháp, mà không thể khiến cho người trí tin nhận.
Này Mục-liên, Như Lai giới tịnh, không có nịnh hót quanh co, lời nói không bất thiện, tri kiến thanh tịnh, nói năng như pháp, người trí tin nhận, không cần đệ tử che giấu và khen ngợi.
Bấy giờ có Tỳ-kheo khác ở thành Vương Xá, an cư xong, mặc y bưng bát đến chỗ đức Phật, bạch: “Kính bạch đức Thế Tôn, Điều-đạt thu phục thái tử Chúng Lạc, hiện làm một đứa trẻ…. cho đến cúng dường các thức ăn ngon bổ.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Chớ hâm mộ những biến hóa này do Điều-đạt đã tạo ra để mong cầu lợi dưỡng. Nếu ai thọ nhận sự cung kính cúng dường này thì sẽ chịu mọi thống khổ lâu dài tăng thêm. Cũng như con chó dữ, dùng gậy đánh nó, nó sẽ lại dữ thêm. Điều-đạt cũng như vậy, nhận được nhiều sự cúng dường, phiền não lại tăng thêm.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói bài kệ:
[18b01] Người ngu thêm ác kia,
Do lợi dưỡng sanh ra.
Người si đoạn pháp thiện,
Giống như đầu lìa thân.
Không tu hạnh thanh tịnh,
Mà muốn nuôi đồ chúng,
Muốn ngồi trên mọi người,
Mong tất cả tôn kính.
Có người cầu lợi dưỡng,
Có người cầu Nê-hoàn,
Lợi dưỡng hại pháp thiện.
Tịch diệt trừ xan tham.
Lại bảo các Tỳ-kheo:
“Cây chuối, cây trúc, cây lau do ra quả mà chết. Con Cự Hư114 mang thai cũng bỏ mạng mình. Nay Điều-đạt tham cầu lợi dưỡng cũng lại như vậy.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa này, nói bài kệ:
Cây chuối vì quả chết,
Trúc, lau cũng như vậy.
Cự Hư mang thai chết,
Kẻ sĩ tham tự mất.
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ nước Câu-xá-di, tuần tự du hành đến thành Vương Xá, trú nơi núi Kỳ-xà-quật. Ngài được Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, cư sĩ cúng dường y thực, ngọa cụ và các thuốc men, cung kính, tôn trọng, khen ngợi, nhưng Ngài không hề nhiễm trước, giống như bông sen.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói pháp cho vô số đại chúng vây quanh. Điều-đạt từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, để trống vai bên hữu, đầu mặt đảnh lễ sát chân, quỳ gối chắp tay bạch Phật:
“Kính bạch đức Thế Tôn, cúi xin Ngài an trụ, nay con sẽ tự thống lãnh chúng Tăng.”
Đức Phật nói với Điều-đạt:
“Xá-lợi-phất, Mục-liên còn chưa thể thống lãnh đồ chúng của Ta, huống nữa ông, người ngu si, ăn đờm dãi ư!”115
Khi ấy Điều-đạt nổi lòng phẫn hận: “Tại sao trước đại chúng, Đức Thế Tôn lại mạ nhục ta thậm tệ như thế!” Do sanh ác tâm với đức Phật nên Điều-đạt bắt đầu tổn giảm thần túc. Lại nghĩ như vầy: “Đức Phật khen ngợi Xá-lợi-phất, Mục-liên mà hủy nhục ta”. Rồi lại sanh ác tâm với Xá-lợi-phất và Mục-liên, đó là lần thứ hai bị tổn giảm thần túc.
(Điều-đạt)* trở về lại trú xứ thuyết pháp cho quốc vương, đại chúng vây quanh. Trong chúng đó có một Tỳ-kheo đến bạch Phật:
“Nay Điều-đạt nói pháp cho quốc vương, đại chúng vây quanh.”
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
“Điều-đạt không những đời này có được đại chúng này, mà đời quá khứ cũng đã từng có các Tỳ-kheo này.”
Đời quá khứ xa xưa có một Ma-nạp116 ở trong hang núi, tụng sách Sát-lợi (Sát-đế-lợi). Có một con cáo đồng ở xung quanh đó, chuyên nghe tụng sách,[18c01] tâm có điều hiểu, nghĩ như vầy: “Như ta hiểu lời sách này đủ để làm vua trong các loài thú”. Nghĩ như vậy rồi, liền bắt đầu du hành, gặp một con cáo đồng khác ốm yếu, liền muốn giết nó.
(Con cáo)* kia nói:
“Tại sao muốn giết tôi?”
Trả lời:
“Ta là vua của loài thú, ngươi không phục ta, cho nên phải giết.”
Cáo kia nói:
“Xin đừng giết tôi, tôi sẽ làm tùy tùng.”
Thế là hai con cáo cùng nhau du hành, lại gặp một con cáo nữa, cũng muốn giết nó. Đối đáp như trên và cũng xin được tùy tùng. Như vậy, lần lữa nó hàng phục tất cả loài cáo. Lại dùng bầy cáo hàng phục tất cả voi. Lại dùng những con voi hàng phục tất cả hổ. Lại dùng những con hổ hàng phục tất cả sư tử. Nhân đó, tạm thời được làm vua trong loài thú. Đã được làm vua rồi, lại nghĩ như vầy: “Nay ta đã là vua loài thú, thì không nên lấy thú làm vợ”. Liền cỡi voi trắng, điều khiển vô số loài thú, vây quanh thành Ca-di117 trăm ngàn vòng.
Vua sai sứ hỏi: “Ngươi cùng các loài thú, tại sao làm như vậy?”
Con cáo đồng trả lời: “Ta là vua thú, nên lấy con gái của ông. Nếu gả cho ta thì hay, bằng không ta sẽ tiêu diệt nước ông.”
(Sứ thần)* về báo như vậy, nhà vua tập hợp quần thần cùng thương nghị. Chỉ trừ một vị thần (không đồng ý)*, tất cả đều bảo nên gả. Tại sao vậy? Vì chỗ dựa của quốc gia chỉ nương vào voi, ngựa; ta có voi ngựa, đối phương lại có sư tử. Voi ngựa nghe hơi thở (của sư tử)* cũng sợ hãi nằm sát đất, có chiến đấu chắc không thắng được, bị các loài thú tiêu diệt. Sao tiếc một người con gái mà để mất một quốc gia!?”
Khi ấy, vị đại thần thông minh, mưu sâu tâu với nhà vua:
“Theo nhận xét của thần thì xưa nay chưa từng nghe thấy, có con gái nhà vua nào đem gả cho một loài thú thấp hèn. Thần tuy yếu hèn nhưng muốn giết con cáo này, khiến bầy thú tự chúng sẽ chạy tán loạn.”
Vua liền hỏi:
“Hãy trình bày mưu kế ra xem!”
Đại thần tâu:
“Vua chỉ cần sai sứ hẹn ngày giờ. Trước ngày giao chiến, yêu cầu chúng một điều, điều đó là sư tử nên giao chiến trước, rồi rống sau. Chúng bảo ta sợ, tất ra lệnh sư tử rống trước, rồi giao chiến sau. Đến ngày giao chiến, vua ra lệnh cho (mọi người)* trong thành đều bịt lỗ tai lại.”
Vua áp dụng theo kế này, sai sứ hẹn ngày giờ và yêu cầu điều trên. Đến ngày giao chiến, lại sai người đưa tin yêu cầu sau đó mới xuất quân. Trong đoàn quân tiên phong muốn giao chiến, quả thật cáo đồng ra lệnh sư tử rống trước. Cáo đồng nghe tiếng sư tử rống, tim bị vỡ làm bảy mảnh, từ trên lưng voi rớt xuống đất, ngay lúc đó, các loài thú đều tẩu tán.
Nhân việc này, đức Phật nói bài kệ:
Cáo đồng lắm kiêu mạn,
Muốn tìm cầu vây cánh,
Kéo đến thành Ca-di,
Tự xưng là vua thú.
[19a01] Người kiêu mạn cũng vậy,
Mưu toan lãnh đồ chúng,
Tại nước Ma-kiệt-đà,
Tự xưng là pháp chủ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Vua Ca-di bấy giờ, chính là Ta. Đại thần thông minh, chính là Xá-lợi-phất. Vua cáo đồng, chính là Điều-đạt.118
Này các Tỳ-kheo! Xưa kia Điều-đạt dối trá để được vây cánh, nay cũng như vậy. Xá-lợi-phất, ông đến giữa chúng Điều-đạt công bố như vầy: ‘Ai chấp nhận năm pháp119 dạy của Điều-đạt thì người ấy sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng’.”
Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:
“Xưa kia con đã từng khen ngợi Điều-đạt, làm sao hôm nay lại chê trách được?”
Đức Phật dạy:
“Trước kia ông khen ngợi là đúng thật phải không?”
Thưa: “Là đúng thật.”
Đức Phật dạy:
“Nay đáng chê trách, mà chê trách cũng lại đúng thật.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay nên bạch Nhị yết-ma, sai Xá-lợi-phất đến giữa chúng Điều-đạt quở trách Điều-đạt:
Một Tỳ-kheo bạch:
“Đại đức Tăng lắng nghe! Nay sai Xá-lợi-phất đến trong chúng Điều-đạt công bố rằng: ‘Nếu vị nào chấp nhận năm pháp dạy của Điều-đạt thì sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng.’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng lắng nghe! Nay sai Xá-lợi-phất đến trong chúng Điều-đạt công bố rằng: ‘Nếu vị nào chấp nhận năm pháp dạy của Điều-đạt thì sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng.’ Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, vị nào không chấp thuận xin nói.
Tăng đã sai Xá-lợi-phất rồi, Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất liền đến trong chúng của Điều-đạt, cao giọng xướng: “Nếu vị nào chấp nhận năm pháp dạy của Điều-đạt thì sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng.”
Khi ấy, trong hội chúng của Điều-đạt mọi người đều la rằng: “Sa-môn Thích tử lại ganh ghét nhau, thấy Điều-đạt nhận được cúng dường nhiều sự nên nói như vậy.”
Bấy giờ, vua Bình-sa đang có mặt trong chúng kia, tuyên lệnh rằng: “Đừng nói như vậy! Tại vì sao? Vì chúng của Phật thanh tịnh, không có ganh ghét vậy.”
Ngay lúc ấy, Điều-đạt nói với mọi người có muốn thấy hoa Mạn-đà-la120 trên trời không?
Mọi người nói:
“Muốn thấy.”
Điều-đạt liền ẩn mình trước mọi người, đến bên ao hoa, vừa muốn lấy hoa liền mất thần túc trở về chỗ ngồi cũ. Điều-đạt đã bị mất thần túc liền sanh ác tâm muốn hại đức Phật, thưa với thái tử:
“Nay phụ vương của thái tử cai trị đời bằng chánh pháp, theo chỗ tôi biết thì sự suy tàn vô thời hạn. Nhưng mạng người vô thường, trong nháy mắt khó bảo toàn. Vương vị này, phải nhanh chóng hà tất đợi lâu năm! Thái tử có thể mưu đồ nó để sớm được bốn biển. Còn tôi sẽ hại Phật, thay thế ngôi Pháp vương. Trong nước Ma-kiệt này sẽ có vua mới, Phật mới, [19b01] cùng hoằng, hóa, không phải là điều tốt ư?”
Thái tử trả lời:
“Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ nặng hơn trời đất,121 nhìn lại muốn trả mà chưa trọn! Tại sao nay thầy lại bảo tôi làm điều phản nghịch như vậy?”
Điều-đạt nghe như thế mà lòng không biết hổ thẹn, còn dùng lời xảo quyệt để dẫn dụ (thái tử)* theo ý mình, làm cho mê đắm và vui lòng chấp nhận những lời của Điều-đạt. Sau đó, thái tử bí mật mang một lưỡi kiếm bén đi vào cửa vương cung. Vì ôm lòng ác, phản nghịch nên bất giác run sợ, té xuống trước cửa vương cung, rồi đứng dậy. Quan giữ cửa thấy vậy liền nghĩ như vầy: “Thái tử thường vào với oai nghi đỉnh đạc, hôm nay như vậy, ắt sẽ có lý do”, liền đến hỏi.
Thái tử trả lời:
“Ta muốn giết vua cho nên như vậy.”
Lại hỏi:
“Thái tử làm theo lời ai dạy?”
Đáp:
“Điều-đạt.”
Các quan giữ cửa cùng bàn:
“Nên như thế nào?”
Vị thứ nhất bàn: “Nên giết tất cả Sa-môn và thái tử Chúng Lạc.”
Vị thứ hai bàn:
“Trước đây đức Phật đã sai Xá-lợi-phất tuyên bố sự ác nghịch của Điều-đạt, tại sao lại muốn giết hết Sa-môn? Tội này chỉ do thái tử và Điều-đạt, hai người mà thôi.”
Vị thứ ba bàn:
“Chúng ta không nên vội phán quyết tội này, phải tâu lên vua, vua sẽ có giáo sắc và sẽ phụng hành.”
Bàn bạc như vậy rồi, liền đem việc này tâu lên vua. Vua hỏi:
“Ý kiến của các khanh thế nào?”
(Các quan)* liền đem vấn đề trình bày đầy đủ. Nhà vua liền đuổi vị quan có ý kiến thứ nhất, hoán chuyển chỗ ở vị quan có ý kiến thứ hai, khen và trao thêm quyền hạn cho vị có ý kiến thứ ba.
Lại ra lệnh tập hợp quần thần để bàn việc này. Các quan đều nói:
“Ý kiến vị quan thứ hai là hợp lý mà nhà vua còn hoán chuyển địa vị, xem ra ý vua không chấp nhận có tác hại. Với hình phạt chính đã không áp dụng thì phải dùng hạ kế.” Các quan nói:
“Ngôi vua, thái tử vốn là người thừa kế vị. Vì ý muốn gấp làm vua nên ôm lòng phản nghịch này. Chỉ nhường ngôi cho thái tử thì ác tâm kia tất chấm dứt.”
Lời bàn này hợp với lòng vua, liền thoái vị, truyền ngôi cho thái tử, với vương hiệu là A-xà-thế. Khi mới lên ngôi vua, vì hưởng thụ ngũ dục lạc nên tâm sát nghịch tạm thời lắng xuống, chỉ trong thời gian ngắn như vậy, rồi (về sau)* nhân không có việc mà (A-xà-thế)* hại mạng phụ thân.
Bấy giờ, vua A-xà-thế có con voi rất hung hãn, Điều-đạt lén đến chỗ người nài voi nói: “Sáng nay Cù-đàm sẽ đi con đường này. Ông có thể vì tôi cho voi uống rượu khiến cho say, rồi thả nó chạy ra con đường này. Phật với tâm nhiều bình thản tất không tránh nó, do đó nó sẽ đạp chết; (tôi)* sẽ hậu tạ hiện vật cho ông.”
Ngày hôm sau, đến giờ thọ trai, đức Phật đắp y mang bát, cùng năm trăm đệ tử vào thành khất thực. Trước đó, người nài voi đã cho con voi uống rượu say. Từ xa thấy đức Phật đến, ông ta liền thả voi ra. Những người kính tín Phật pháp, thấy thả con voi say, đều đến bạch Phật: [19c01] “Cúi xin Đức Thế Tôn nên đi theo con đường khác.”
Năm trăm vị đệ tử cùng A-nan cũng bạch như vậy.
Đức Phật ba lần đều trả lời:
“Không can chi! Rồng còn không hại ta được!”
Các chúng đệ tử đều vô tình122 bỏ Phật theo đường khác, chỉ có Tôn giả A-nan một mình đi theo sau. Khi ấy người xem bốn phía đông đúc, mọi người bàn tán: “Nay hai rồng đấu nhau, xem ai đắc thắng”. Bọn ngoại đạo thì nói: “Voi, rồng sức đều mạnh, chắc là hơn người”. Đệ tử của Phật nói: “Rồng trong loài người, đạo cao đức trọng, chắc voi bị hàng phục.” (Lời qua tiếng lại)* không lý không chứng, nhân đó gom góp tiền vàng cá nhau hơn thua.
Bấy giờ, voi say từ xa trông thấy Phật lại, tai phe phẩy, mũi khì hơi mạnh, chạy đến đức Phật. A-nan sợ hãi, hoảng hốt vô tình chui vào dưới nách Phật. Đức Phật bảo A-nan:
“Vừa rồi chính ông đã nghe ba lần ‘Không can chi!’ Tại sao không tin còn hoảng sợ đến thế?”
Đức Phật thấy voi tới, Ngài liền nhập Từ tâm Tam-muội mà nói kệ:
Ngươi đừng hại Đại long,
Đại long ra đời khó.
Nếu ai hại Đại long,
Đời sau đọa ác đạo!
Voi nghe kệ rồi, dùng vòi trải mặt đất, ôm chân Đức Thế Tôn. Trong chớp nhoáng nhìn lên nhìn xuống đức Phật, đi quanh bên hữu ba vòng, rồi lui. Từ đó về sau, nó thành một con voi hiền lành, thật là kỳ lạ! Mọi người đều khen ngợi:
“Sa-môn Thích tử không dùng đao gậy mà hàng phục được con voi hung dữ này”. Nhân dân trong nước không còn bị khủng bố nữa. Điều này sao mà sung sướng thay! Các ngoại đạo thảy đều hổ thẹn, còn chúng đệ tử của đức Phật thì vui mừng hớn hở, thu được hơn bảy mươi vạn tiền vàng.
Đức Phật đã hàng phục voi, rồi lại nói kệ:
Voi say đầy sân nhuế,
Hướng đến đấng Đạo sư.123
Trăm họ đều chứng kiến,
Gom tiền cá hơn thua.
Thân voi như Thái sơn,
Sức thắng sáu mươi voi.
Tiếng vang động tâm người,
Rống lên phá quân địch.
Đức đại lực Đạo sư,
Thương chúng sanh, xuất thế,
Vì muốn độ voi dữ,
Nên đứng ngay trước nó.
Hàng voi, mọi người thấy.
Đạo tục thảy vui mừng,
Khen Phật hàng voi dữ,
Giống như sư tử vương.
Sau khi Điều-đạt thấy như vậy nghĩ: “Nay dùng phương thức này hại Phật không được, lại phải tìm một người hung bạo không biết Phật là ai, dùng của để dụ với giá đắt để đến giết Phật”. (Điều-đạt)* liền đi khắp nơi tìm kiếm, gặp một người đàn ông vạm vỡ, bèn nói:
“Ông vì tôi giết Phật, [20a01] sẽ hậu tạ.”
Người kia ham của nên xin đi. Bấy giờ, đức Phật đang kinh hành nơi đất trống, từ xa thấy người kia, Ngài dùng Từ tâm Tam-muội bủa khắp người ông, vẫy tay kêu. Người kia bất chợt buông dao, đi vội đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch Phật rằng:
“Nay con si cuồng, muốn hại đức Thế Tôn. Tự biết có tội nặng, xin cho phép con sám hối.”
Đức Phật dạy: “Ông thật là ngu si! Tại sao vì của mà muốn hại đức Như Lai? Ở trong pháp của Ta, nếu ai biết có tội mà sám hối thì sẽ tăng trưởng căn lành.”
Tiếp theo vì ông mà nói pháp, luận về bố thí, trì giới, sanh thiên; tại gia thì nhiễm ô trói buộc, xuất thế thì an lạc. Đức Phật biết tâm ý người ấy vui mừng nên vì ông thuyết pháp nói về khổ, tập, diệt,124 đạo. (Người ấy)* nghe pháp được khai giải, ở trong các pháp xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Thấy pháp đắc quả rồi, tự quy y Tam bảo, thọ trì năm giới. Đức Thế Tôn khiến trở về theo con đường khác, vì Điều-đạt lại mộ hai người (khác)* khiến họ giết người trước, nhằm thủ tiêu tiếng xấu. Tiếp lại sai khiến bốn người, cho đến ba mươi hai người, đều đến trước chỗ Phật và cũng như những lần trước đức Phật nói pháp khiến cho tất cả đều chứng quả Tu-đà-hoàn.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo nghe Điều-đạt sai người hại Phật, đều cầm đao trượng (đến để)* bảo vệ đức Thế Tôn. Họ phân bố nhau đứng mỗi (nhóm)*một bên. Theo thường pháp chư Phật là mặt trời xuất hiện thì ra khỏi phòng. Sáng hôm đó, Ngài đi ra thấy các Tỳ-kheo đang đứng hai bên, hỏi:
“Vì lý do gì các ngươi cầm dao gậy đứng đây?”
Các Tỳ-kheo thưa:
“(Chúng con)* nghe Điều-đạt sai người muốn hại Thế Tôn, không thể tự an tâm, nên đứng đây.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Như Lai mà bị hoạnh tử (chết oan), không thể có điều này. Thế gian có năm hạng Thầy cần phải phòng hộ, Như Lai thì không cần. Các ngươi, mỗi người tuỳ theo chỗ an mà tự bảo hộ lấy tâm mình.”
Điều-đạt biết rồi, lại nghĩ như vầy: “Lần này ta lại không thể hại được Phật; lại phải tìm người cùng tự thân dẫn đi mới mong có kết quả”. (Điều-đạt)* liền tìm được một người, cùng lên núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đang đi kinh hành trên tảng đá dưới núi. Điều-đạt liền sai người kia xô đá hại Phật. Người kia vừa móng tâm xô đá thì tay chân không cử động được. Ý vừa nghĩ công đức Phật lớn thì tay chân bình phục lại.
Điều-đạt thấy vậy, nổi sân hận nói:
“Sao ngươi bạc nhược, hãy nhanh chóng biến đi!?”
Liền tự tay bưng một tảng đá lớn đẩy xuống hại Phật; may dưới núi có vị Thần tên là Kim-bệ-lô,125 đỡ lấy hòn đá quăng ra xa, mảnh nhỏ văng trúng ngón chân cái Phật, làm bị thương. Đức Thế Tôn thấy vậy, nói với Điều-đạt: [20b01] “Nay ông phạm phải tội Vô gián. Nếu dùng tâm ác làm thân Phật chảy máu, chắc chắn sẽ đọa vào A-tỳ126 địa ngục.”
Điều-đạt lại nghĩ như vầy: “Ta đã không thể hại được Phật, chỉ còn có cách phá sự hòa hợp Tăng.127 Phật có đại thần lực, nếu ta có thể phá được Tăng của ông ta thì danh của ta sẽ chấn động khắp nơi”.
Đức Phật biết ý nghĩ đó, nói với Điều-đạt:
“Ông chớ nên phá hòa hợp Tăng. Nếu Tăng đã bị phá mà ai có thể hòa hợp thì người đó sẽ được sanh lên trời, hưởng vui một kiếp. Nếu Tăng đang hòa hợp mà người nào phá thì (người đó)* sẽ đọa vào địa ngục chịu khổ một kiếp.”
Điều-đạt nghe rồi tạm thời xả bỏ tâm này, nhưng sau đó lại tìm cách sanh lại những ý nghĩ như trên. Đức Phật cũng khuyên ngăn như ban đầu, liền nói kệ:
Chúng Tăng hòa hợp vui,
Hòa hợp thường an ổn.
Nếu phá hòa hợp Tăng,
khổ địa ngục một kiếp .
Chúng Tăng hòa hợp vui,
Hòa hợp thường an ổn.
Hàn gắn Tăng bị phá,
Hưởng vui trời một kiếp.
Nếu chia rẽ riêng biệt,
Thường nói lời bất thiện,
Để phá hòa hợp Tăng,
Khổ địa ngục một kiếp.
Không chia rẽ riêng biệt,
Thường hay nói lời lành,
Để hàn gắn Tăng phá,
Hưởng vui trời một kiếp.
Điều-đạt nghe rồi, tạm thời từ bỏ ý này, nhưng bỗng sau đó cách phát sanh trở lại mạnh hơn trước. Lúc ấy, các Tỳ-kheo nghe Điều-đạt muốn phá hòa hợp Tăng, liền đến bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng mọi cách chuyển lời khiển trách đến Điều-đạt, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo thân quen với Điều-đạt đến can gián:
‘Thầy đừng phá hòa hợp Tăng, đừng làm việc phá Tăng, nên cùng Tăng hòa hợp, vì cùng Tăng hòa hợp, nên hoan hỷ không tranh chấp, một lòng, cùng học (một Thầy)*, hòa hợp như nước với sữa, cùng nhau hoằng hóa lời đại Sư dạy sống an lạc.’
Nếu thuận tùng thì tốt, bằng không thuận tùng thì sai nhiều Tỳ-kheo. Nếu lại không thuận tùng thì Tăng nên đến can gián.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ba lần như vậy, đều không thuận tùng. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách rồi, đem việc này trình lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, cũng bằng mọi cách chuyển lời khiển trách đến Điều-đạt rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay, giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
“Tỳ-kheo nào, tìm phương tiện giúp phá hòa hợp Tăng, các Tỳ-kheo nên [20c01] nói với Tỳ-kheo kia rằng: ‘Thầy đừng tìm phương tiện để phá hòa hợp Tăng. Nên cùng Tăng hòa hợp, vì Tăng hòa hợp nên vui vẻ không tranh chấp. Một lòng, cùng học (một Thầy)*, hòa hợp như nước với sữa, cùng hoằng hóa lời đại Sư dạy, sống an lạc’. Can gián như vậy mà kiên trì không bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Can gián lần thứ hai, lần thứ ba bỏ thì tốt, không bỏ, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Giúp Phá:128 Tìm mọi cách để phá Tăng.
Hòa hợp:129 Đồng Bố-tát, Tự tứ, Yết-ma, cùng Tăng làm những việc của Tăng.
Tăng: Từ bốn vị trở lên.
D. PHẠM TƯỚNG
Tỳ-kheo kia muốn phá Tăng, các Tỳ-kheo130 khác thấy, nghe, biết, nên sai một Tỳ-kheo thân quen với vị ấy đến can gián, nếu bỏ thì phạm một Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì nên sai nhiều Tỳ-kheo đến can gián, nếu bỏ thì phạm hai Đột-kiết-la hối quá. Nếu lại không bỏ thì Tăng nên đến can gián, nếu bỏ thì phạm ba Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì nên bạch Tứ yết-ma can gián.131 Một Tỳ-kheo tuyên bố:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo… này tìm phương tiện (cách) giúp phá hòa hợp Tăng. Tăng đã can gián: ‘Thầy không nên tìm phương tiện giúp phá hòa hợp Tăng’. Can gián như vậy mà kiên trì không bỏ. Nay Tăng Yết-ma can gián. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch”.
Bạch rồi, nên nói với Tỳ-kheo kia rằng:
“Tăng đã bạch rồi, còn ba Yết-ma nữa, thầy nên bỏ việc này, đừng để phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu họ bỏ thì nên trao ba Đột-kiết-la, một Thâu-lan-giá hối quá.”
Nếu không bỏ thì nên xướng tiếp:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe, Tỳ-kheo… này tìm phương tiện giúp phá hòa hợp Tăng… Cho đến, nay Tăng yết-ma can gián. Các Trưởng lão nào chấp nhận thì im lặng, vị nào không chấp nhận thì xin nói”.
Rồi lại nên nói với Tỳ-kheo kia:
“Tăng đã yết-ma lần thứ nhất xong, còn hai yết-ma nữa. Thầy nên bỏ việc này, đừng để phạm Tăng-già-bà-thi-sa”.
Nếu vị kia bỏ thì nên trao cho ba Đột-kiết-la, hai Thâu-lan-giá hối quá. Nếu không bỏ thì yết-ma lần thứ hai, như trên. Yết-ma lần thứ hai xong, lại phải nói như trên. Nếu vị kia chịu bỏ thì nên trao cho ba Đột-kiết-la, ba Thâu-lan-giá hối quá. Nếu không chịu bỏ thì yết-ma lần thứ ba, như trên. Yết-ma lần thứ ba chưa xong mà vị ấy chịu bỏ thì trao cho ba Đột-kiết-la, ba Thâu-lan-giá hối quá. Yết-ma lần thứ ba xong, bỏ hay không bỏ đều phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Nếu tác bạch không thành thì ba yết-ma đều không thành. Nếu tác yết-ma khác, ngăn yết-ma, [21a01] phi pháp yết-ma, không can gián tự bỏ đều không phạm.

XI. TUỲ THUẬN PHÁ TĂNG132
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.133 Bấy giờ những Tỳ-kheo yểm trợ Điều-đạt nói với các Tỳ-kheo rằng: “Những gì Điều-đạt nói là biết mà nói, chứ chẳng phải không biết mà nói; nói đúng pháp chứ chẳng phải nói phi pháp; nói đúng luật chứ chẳng phải nói sai luật; những điều ấy tâm chúng tôi chấp nhận, vui thích.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách: “Tại sao các ngươi nói: ‘Những gì Điều-đạt nói là biết mà nói, chứ chẳng phải không biết mà nói; nói đúng pháp chứ chẳng phả nói phi pháp; nói đúng luật chứ chẳng phải nói sai luật; những điều ấy tâm chúng tôi chấp nhận, vui thích?’”
Quở trách rồi, đem vấn đề bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, bằng mọi cách chuyển những lời quở trách các Tỳ-kheo yểm trợ cho Điều-đạt, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo thân quen với các Tỳ-kheo yểm trợ Điều-đạt, đến can gián họ:
‘Chớ nói những gì Điều-đạt nói là biết mà nói, chứ không phải không biết mà nói; nói đúng pháp chứ chẳng phải nói phi pháp; nói đúng luật chứ chẳng phải nói sai luật; những điều ấy chúng tôi chấp nhận, vui thích.’
Tại sao vậy? Vì Điều-đạt chẳng phải biết mà nói; chẳng phải nói đúng pháp; chẳng phái nói đúng luật. Các người chớ yểm trợ phá hòa hợp Tăng, nên yểm trợ hòa hợp Tăng. Vì hòa hợp Tăng là nên vui vẻ không tranh chấp. Một lòng đồng học (một thầy)* như nước hòa với sữa, cùng nhau hoằng truyền lời dạy của Đại sư, sống an lạc’. Nếu họ chấp nhận thì tốt, bằng không chấp nhận, nên sai nhiều Tỳ-kheo và Tăng đến can gián.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ba lần can gián như vậy, nhưng các Tỳ-kheo yểm trợ Điều-đạt đều không chấp nhận. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi đem sự việc trình bày lên đức Phật. Nhân sự việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, bằng nhiều cách chuyển những lời quở trách đến các Tỳ-kheo yểm trợ Điều-đạt, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, yểm trợ phá hòa hợp Tăng, hoặc một, hoặc hai, hoặc số đông, nói với các Tỳ-kheo rằng: ‘Những gì Tỳ-kheo này nói là biết mà nói, chứ không phải không biết mà nói; nói như pháp chứ không nói phi pháp; nói đúng luật chứ không nói sai luật. Những điều ấy, tâm chúng tôi chấp nhận, vui thích.’
Các Tỳ-kheo nói với các Tỳ-kheo kia rằng: ‘Các thầy chớ nói như vầy: ‘Những gì Tỳ-kheo ấy nói là biết mà nói chứ không phải không biết mà nói, nói như pháp chứ chẳng phải nói phi pháp, nói đúng luật chứ chẳng phải nói sai luật. Những điều ấy tâm chúng tôi chấp nhận, vui thích.’ Tại sao vậy? Vì Tỳ-kheo này chẳng phải biết mà nói, không nói như pháp, không nói đúng luật. Các người chớ nên vui thích yểm trợ phá hòa hợp Tăng, nên vui vẻ yểm trợ hòa hợp Tăng. Vì Tăng hòa hợp là nên hoan hỷ, không tranh chấp. Một lòng cùng học (một Thầy) như nước hòa với sữa, cùng hoằng truyền lời dạy của Đại sư, sống an lạc.’
Can gián như vậy mà kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián [21b01] mà bỏ thì tốt, không bỏ Tăng-già-bà-thi-sa.
C.THÍCH TỪ
Yểm trợ phá:134 Nhân duyên yểm trợ thành tựu việc phá Tăng.
Hòa hợp: đồng Bố-tát, Tự tứ…
D. PHẠM TƯỚNG
Sai một người thân quen can gián, nếu bỏ thì phạm một Đột-kiết-la hối quá. Cho đến không can gián mà tự bỏ, đều như giới trước đã nói.

XII. ÁC TÁNH BẤT THỌ NHÂN NGỮ135
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại nước Câu-xá-di.136 Khi ấy, Tỳ-kheo Xiển-đà137 thường phạm các tội, vào nhà bạch y, lên giường, xuống giường đều không như pháp; ăn riêng chúng, ăn mãi; vào xóm làng không đúng lúc mà không thưa với thiện Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo thấy nói rằng:
“Thầy phạm tội như vậy, như vậy… Thầy nên thấy tội sám hối,138 đối với Phạm hạnh đừng để không thanh tịnh; nếu không sẽ chịu mọi khổ não lâu dài! Đừng để cho thí chủ mất đại công đức.”
Xiển-đà trả lời:
“Đại đức, các thầy không nên dạy tôi, mà tôi nên dạy các thầy! Tại sao vậy? Vì Pháp vương Thánh sư là chủ của tôi, pháp xuất ra từ tôi, không dính gì các Đại đức. Thí như gió lớn thổi các cỏ dơ cùng gôm một chỗ, tất cả các Đại đức xuất gia từ nhiều dòng họ, gồm nhiều gia đình, gồm nhiều quốc gia, cũng lại như vậy. Tại sao mà muốn dạy dỗ tôi!? Các Đại đức, đừng nói với tôi (điều gì)* hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không nói với các đại đức (điều gì)* hoặc tốt hoặc xấu.”
Các Tỳ-kheo lại nói với Xiển-đà:
“Đừng nuôi lớn bản ngã139 mà không thể cùng nói chuyện. Thầy nên nói với các Tỳ-kheo (những gì)* hoặc tốt hoặc xấu, các Tỳ-kheo cũng sẽ nói với thầy (những gì)* hoặc tốt hoặc xấu. Như vậy lần lượt dạy bảo lẫn nhau, chỉ ra những tội cho nhau, mới thành chúng của Như Lai.”
Các Tỳ-kheo can gián như vậy, (Xiển-đà)* vẫn kiên trì không bỏ; nên dẫn đến chỗ đức Phật trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Xiển-đà:
“Thật ngươi có vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Ngươi là người ngu si! Không nên tự không cùng nói chuyện? Các Tỳ-kheo thấy ngươi phạm tội, muốn không cùng ngươi thường làm những việc như Bố-tát, Tự tứ, Yết-ma. Vì dũ lòng thương ngươi, cho nên can gián ngươi. Tại sao nay ngươi lại không tin nhận?”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo thân thiện với Xiển-đà đến can gián như trên. Kế đến, số đông Tỳ-kheo, rồi đến Tăng (can gián.)*”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ba phen (can gián mà Xiển-đà)* vẫn không chịu, nên đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng mọi cách chuyển lời khiển trách Xiển-đà xong, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B.GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, có ác tánh, khó dạy, cùng các Tỳ-kheo đồng học kinh, luật, thường hay phạm tội. [21c01] Các Tỳ-kheo như pháp, như luật can gián kẻ phạm kia. Vị kia lại nói: ‘Này Đại đức! Thầy đừng nói với tôi (điều gì)* hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không đem điều tốt xấu nói với thầy.’
Các Tỳ-kheo lại nói: ‘Thầy đừng nuôi lớn bản ngã* mà không thể nói chuyện (với ai)*. Thầy nên vì các Tỳ-kheo nói như pháp, các Tỳ-kheo cũng sẽ vì thầy nói như pháp. Như vậy, lần lượt dạy vẽ cho nhau, chỉ ra những tội cho nhau mới thành chúng của Như Lai.’
Can gián như vậy mà kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, thứ ba can gián, bỏ thì việc này tốt, không bỏ, Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Ác tánh khó dạy:140 không nhận sự răn dạy, không có tâm cung kính, cho mình là phải, cho người là trái.
Đồng học kinh luật: Kinh là tất cả lời Phật dạy. Luật là Ba-la-đề-mộc-xoa.
D. PHẠM TƯỚNG
Khi sai một Tỳ-kheo thân quen đến can mà bỏ thì phạm một Đột-kiết-la hối quá, cho đến không can mà tự bỏ đều giống như giới trên đã nói.
XIII. Ô THA GIA141
A. DUYÊN KHỞI
Đức Thế Tôn ở tại thành Xá-vệ.142 Khi ấy, ấp Kiết-la143 có hai Tỳ-kheo, một người tên An-bễ,144 người thứ hai tên Phân-na-bà,145 rủ nhau xúm làm việc xấu, làm hoen ố nhà người, làm những việc phi oai nghi: Tự kết tràng hoa, dạy người kết tràng hoa; tự mình mang, dạy người mang; cùng ngồi một giường với người nữ, cùng ăn một mâm, ăn thịt, uống rượu, ca múa kỷ nhạc; tạo tiếng các loài chim, cũng làm các loài chim khi đá nhau; chơi các trò chơi bài bạc, làm các trò hề để trêu ghẹo người nữ. Cả thân, khẩu, ý làm các điều ác như vậy, phá giới, phá kiến, phá oai nghi chánh mạng.
Khi ấy, có năm trăm Tỳ-kheo oai nghi đầy đủ, từ nước Ca-di146 đến ấp này, tới giờ mang bát vào thôn khất thực, các cư sĩ thấy đều nói như vầy: “Các Tỳ-kheo này từ đâu đến, cúi đầu làm thinh giống như hiếu tử, không biết giao tiếp nói năng cùng người. Ở đây, ta có hai hiền Tỳ-kheo nhiều tài, nhiều nghề, khéo làm vui lòng người, phiền gì hạng người này ở lại lâu làng ấp này, cũng không cho thức ăn, để họ mang bát không ra về.”
Lúc ấy, Xá-lợi-phất và Mục-liên cũng từ Ca-di đến ấp này. Bọn An-bễ nghe, nghĩ như vầy: “Hai vị này đến chắc vì nghe chúng ta làm những việc mang tiếng xấu, họ sẽ ngăn chặn mọi sự cúng dường cho chúng ta.”
Liền đến nói với các cư sĩ: “Chốc nữa sẽ có hai Tỳ-kheo đến, một vị tên là Mục-liên, giỏi biết các trò huyễn thuật, hiện mọi thứ biến hóa; vị thứ hai tên là Xá-lợi-phất, giỏi biết về chú thuật, khéo nói mê hoặc người. Các người nên đồng tâm đừng để bị họ mê hoặc. Chúng tôi sẽ ở đây, nếu không đúng như vậy thì (chúng tôi)* sẽ đi.”
Các cư sĩ nói: “Quý Trưởng lão cứ an trụ, chúng con không bao giờ bị họ mê hoặc đâu!”
[22a01] Khi hai vị đến, các cư sĩ già, trẻ, lớn, nhỏ đều ra nghinh đón, hỏi chào, đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một bên. Khi ấy, Mục-liên vì họ hiện thần biến, chia thân ra thành trăm ngàn rồi hiệp lại làm một, đi xuyên qua vách đá, vượt qua nước như trên đất, ngồi nằm trên hư không như chim dang cánh, thân đến Phạm thiên, tay sờ mặt trời, mặt trăng; phần trên của thân tuôn ra lửa, phần dưới của thân tuôn ra nước; phần trên thân tuôn ra nước, phần dưới thân tuôn ra lửa; hoặc hiện nửa thân, hoặc hiện toàn thân; trồi Đông, lặn Tây; trồi Tây, lặn Đông; trồi Nam, lặn Bắc; trồi Bắc, lặn Nam; trồi giữa, lặn bên; trồi bên, lặn giữa… Hiện thần thông biến hóa rồi trở lại ngồi vào chỗ cũ.
Các cư sĩ đều xầm xì nói với nhau rằng: “Mục-liên giỏi biết các trò huyễn thuật thật! Điều này đúng như vậy.”
Bấy giờ, Xá-lợi-phất vì họ nói diệu pháp. Đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, đầy đủ thanh bạch thể hiện Phạm hạnh. Nói pháp này rồi, ngồi im lặng.
Lúc này, các cư sĩ cũng lại bàn với nhau: “Xá-lợi-phất giỏi biết về chú thuật.” Kiểm chứng lại cũng đúng. Lúc đó mọi người đều không tin nhận, họ không cúng dường chi cả.
Bấy giờ, ấp này có hai Ưu-bà-tắc, một người tên là Phú-xà, một người tên là Ưu-lâu-già, tin ưa Phật pháp, kiến đế, đắc quả, thường ưa bố thí cúng dường Sa-môn. Họ nghe Xá-lợi-phất, Mục-liên từ Ca-di đến, cả hai cùng ra nghinh đón, đầu mặt đảnh lễ sát chân. (Hai ngài)* vì họ nói diệu pháp, chỉ vẽ điều lợi ích, khiến vui vẻ.
Nghe pháp rồi, thưa với ngài Xá-lợi-phất: “Trong ấp này có hai Tỳ-kheo thường làm các việc phi oai nghi (nói đầy đủ như trên). Vừa rồi có năm trăm vị Tỳ-kheo oai nghi tường tự, vào trong thôn khất thực, đành phải ôm bát không ra về. Cúi xin Đại đức đem việc này bạch với đức Phật.”
Lúc này, hai ngài lại vì hai Ưu-bà-tắc nói lại pháp vi diệu, chỉ dạy điều lợi ích, khiến họ vui vẻ rồi trở về thành Xá-vệ, đem vấn đề trên bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo A-nan:147
“Ông đến ấp Kiết-la tác pháp Yết-ma khu xuất148 cho hai Tỳ-kheo này.”
A-nan bạch Phật:
“Tỳ-kheo ác kia chẳng phải Sa-môn, tự nói là Sa-môn, thường làm bất tịnh. Tâm đã bại hoại, nếu một mình con đến, chắc chắn họ theo ác tánh tuỳ ý quậy phá con.”
Đức Phật nói với A-nan:
“Đúng vậy, đúng vậy! như lời ông nói! Nay ông có thể tuỳ ý dẫn theo một số Tỳ-kheo, nhiều ít tùy ý ông, đến đó tập chúng và sau đó mới cử tội149 bọn An-bệ, bằng pháp bạch Tứ yết-ma, trục xuất khỏi ấp kia.”
Một Tỳ-kheo xướng lên:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Việc làm nhơ nhớp nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Nay Tăng trục xuất khỏi ấp này. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng [22b01] chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Việc làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Nay Tăng trục xuất khỏi ấp này; các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói. (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
“Tăng đã chấp thuận trục xuất Tỳ-kheo… khỏi ấp rồi, Tăng đã đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tôn giả A-nan vâng lời dạy, dẫn năm trăm Tỳ-kheo đến ấp kia. Các cư sĩ nghe A-nan cùng năm trăm Tỳ-kheo đến, đều ra nghinh đón, hỏi chào và đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. A-nan liền tập hợp chúng… cho đến Yết-ma. Tác pháp Yết-ma xong, hai Tỳ-kheo kia vẫn không đi.
Các Tỳ-kheo hỏi:
“Tại sao hai người không đi?”
Trả lời:
“A-nan cùng các vị150 có thiên vị, có thù nghịch, có bất minh, có sợ hãi, cho nên không đi. Tại sao vậy? Vì có Tỳ-kheo đồng tội như vậy mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Thầy đừng nói ‘A-nan, cùng các vị có thiên vị, có thù nghịch, có bất minh, có sợ hãi. Vì có Tỳ-kheo cùng đồng tội như vậy mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Các thầy có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Thầy nên ra đi, không nên ở đây.”
Các Tỳ-kheo can gián như vậy, họ kiên trì không bỏ, nên đem việc này bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng mọi cách chuyển lời khiển trách hai Tỳ-kheo kia, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một vị thân thiết với hai Tỳ-kheo kia đến can gián như trên. Kế đến, số đông Tỳ-kheo, tiếp đến là Tăng.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ba phen (can gián)* mà họ không chấp nhận, nên đem vấn đề bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, một lần nữa chuyển lời khiển trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, nương nơi làng xóm, có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Việc có hành vi xấu, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Việc làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Các Tỳ-kheo nên nói với Tỳ-kheo kia: ‘Thầy có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Việc có hành vi xấu, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Việc làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Thầy nên ra đi, không nên ở nơi đây,’ Tỳ-kheo kia nói: ‘Các Đại đức có thiên vị, có thù nghịch, có bất minh, có sợ hãi. Tại sao vậy? Vì có Tỳ-kheo cùng đồng tội như vậy mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Các Tỳ-kheo lại nói rằng, Thầy đừng nói như vầy: ‘Các Đại đức có thiên vị, có thù nghịch, có bất minh, có sợ hãi. Vì có người đồng tội mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Thầy có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Việc có hành vi xấu, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Việc làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, ai cũng nghe, ai cũng biết. Thầy nên bỏ lời nói có thiên vị, có thù nghịch, có bất minh, có sợ hãi. Thầy nên ra đi, không [22c01] nên ở nơi nầy’. Khi can gián như vậy mà kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Can gián lần thứ hai, thứ ba, bỏ việc này thì tốt. Nếu không bỏ Tăng-già-bà-thi-sa.”
C. THÍCH TỪ
Có hành vi xấu:151 Thân, khẩu, ý phát xuất ác hạnh.
Làm hoen ố nhà người:152 Khiến cho nhà người không tin ưa Phật pháp nữa.
Thấy: Là do mắt thấy.
Nghe: Là nghe từ người tin cậy.
Biết: Là xa gần đều hay biết.
D. PHẠM TƯỚNG
Sai một Tỳ-kheo thân thiết can gián mà chịu bỏ thì phạm một Đột-kiết-la hối quá, cho đến không can gián mà tự bỏ, đều như trên đã nói.53



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *