Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 06. Phần I – Chương 3 – Pháp Bất Định

Ngũ Phần Luật – 06. Phần I – Chương 3 – Pháp Bất Định

CHƯƠNG III : PHÁP BẤT ĐỊNH

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

Tỳ-kheo nào, cùng một người nữ, một mình ngồi chỗ vắng, chỗ có thể hành dâm. Có vị Ưu-bà-di khả tín thấy, nói một pháp trong ba pháp, hoặc Ba-la-di, hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dật-đề. Nếu Tỳ-kheo đó công nhận như lời người Ưu-bà-di đã nói, thì nên tùy theo đó mà trị một trong ba [23a01] pháp, gọi là pháp bất định.”

C. THÍCH TỪ
Một mình: Là một Tỳ-kheo, một người nữ chứ không có người thứ ba.
Chỗ vắng: Là chỗ mắt không thấy.
Khả tín: Là người đã thấy bốn Chơn đế (chỉ quả vị Tu-đà-hoàn), không vì mình, không vì người, không vì lợi mà nói dối.
Ưu-bà-di:7 Là người nữ thọ ba tự quy, đoạn tuyệt tà đạo.
Bất định:8 Một trong ba pháp chưa nhất định là pháp nào.

D. PHẠM TƯỚNG
Các Tỳ-kheo Thượng tọa nên hỏi Tỳ-kheo này: “Thầy có đến nhà kia không?” Nếu Tỳ-kheo nói có đến, thì chưa nên trị. Nên hỏi lại nhẹ nhàng:
“Thầy cùng với người nữ, một mình ngồi chỗ vắng, nói lời thô ác về hành dâm dục phải không.”
Nếu nói không, thì Tỳ-kheo Thượng tọa, Hạ tọa nên hỏi một cách tha thiết: “Thầy nên nói thật, đừng nói dối. Như Ưu-bà-di nói không?” Nếu nói: “Như lời Ưu-bà-di nói”. Sau đó mới tùy theo những lời nói đó mà trị tội.
Sa-di phạm Đột-kiết-la.

84 Tăng-kỳ 7, tr. 281a20; Tứ phần 4, tr. 590b13; Thập tụng 4, tr. 24b22; Căn bản 14, tr.700b1. Vin. iii. 171.

85 Tăng-kỳ 7, tr. 281a20: Xá-vệ thành 舍衞城. Tứ phần 4, tr. 590b13: Di-ni-sưu quốc A-nô-di giới 彌尼搜國阿奴夷界 (địa phận của A-nô-di, nước Di-ni-sưu). Thập tụng 4, tr. 24b22; Căn bản 14, tr. 700b1: Vương Xá thành 王舍城. Pāli, Anupiyā, thị trấn thuộc xứ Malla, gần Kapilavatthu.

86 Thích-ma-nam 釋摩男, Skt. Sakkamahānāma, còn gọi Ma-ha-nam 摩訶男. Pāli, Mahānama.

87 A-na-luật 阿那律. Pāli, Anuruddha, anh em với Mahānāma, con Vua Amitodana (Hộc Phạn Vương). Vin. ii 183 (Cūḷavagga 7. Saṅghabheda).

88 Theo Tứ Phần thì A-na-luật là anh, còn Thích-ma-ha-nam là em. Tăng-kỳ, Thập tụng, Căn bản: Không có sự kiện này.

89 Bạt-đề vương 跋提王. Pāli, Bhaddiya Sakyarājan; là anh em họ với A-na-luật.

90 A-nan 阿難. Pāli, Ānanda.

91 Nan-đề 難提. Pāli, Nanda.

92 Điều-đạt 調達 (Đề-bà-đạt-đa). Pāli, Devadatta.

93 Bà-bà 婆婆. Pāli, Bhagu.

94 Kim-bệ-lô 金鞞盧. Pāli, Kimbila.

95 Trưởng giả 長者: Skt. Śreṣṭhin, Gṛha-pati; Pāli. Seṭṭhin, Gaha-pati; có nghĩa là gia chủ, cư sỹ. Thông thường thì gọi chung những người giàu sang có thế lực, hoặc những người tuổi cao, đức lớn.

96 Ưu-ba-li 優波離. Pāli, Upāli.

97 Hán: Ngã我.

98 Ca-duy-la-vệ 迦維羅衛. Pāli, Kapilavatthu.

99 Tứ phần, tr. 591b21: Sau khi độ các Thích tử, đức Phật bảo họ đến nước Chiêm-ba 占波國.

100 Tứ phần: Đề-bà-đạt-đa đạt được thần túc.

101 Tứ phần; Căn bản: Vị Sanh Oán 未生怨, dịch nghĩa. Phiên âm thường biết là A-xà-thế. Phá tăng sự 10 (tr. 147c6). Pāli: Ajātasattu/ Ajātasattu Vedehiputta, A-xà-thế Vi-đề-hy Tử.

102 Long vương A-nậu-đạt 阿耨達龍王. Skt. Anavatapta, Pāli, Anotatta. Một trong tám Long vương lớn, sống ở hồ A-nậu-đạt.

103 Căn bản 14, tr. 700c14: Thập lực Ca-nhiếp(diếp)-ba 十力迦攝(葉)波 Daśabala-kāśyapa (là một trong mười vị đại đệ tử của đức Phật).

104 Bình-sa vương 瓶沙王. Pāli: Bimbisāra/ Seniya Bimbisāra, vua nước Ma-kiệt-đà.

105 Hán: Uy nghi 威儀.

106 Nước Câu-xá-di 拘舍彌國. Skt. Kauśāmbi, Pāli. Kosambī, 1 trong 16 nước lớn, và cũng là 1 trong 6 đô thị lớn ở Trung Ấn Độ. Tứ phần: Câu-thiểm-tỳ quốc 拘睒毘國.

107 Vườn Cù-sư-la 瞿師羅園. Skt. Ghoṣilārāma, Pāli. Ghositārāma, khu vườn này do Trưởng giả Cù-sư-la (Ghoṣila, dịch là tiếng hay, giọng dịu dàng) dựng tinh xá cúng dường cho đức Phật.

108 Kiều-trần-như Tử danh viết Kha-hưu 憍陳如子名曰柯烋 (Koliyaputta – An epithet Kakudha). Tứ phần: Ca-hưu-câu-la Tử 迦休拘羅子. Vin. ii. 185, Kakudha/ Kakudha Koliya; nguyên là thị giả của ngài Đại Mục-kiền-liên. Cf. A.iii. 122ff.

109 Tứ phần: Hoá tự tại thiên 化自在天; Vin.ii. 185: adhunā kālaṅkato aññataraṃ manomayaṃ kāyaṃ upapanno, tái sinh với thân khác do ý sinh.

110 Pāli. Moggallāna.

111 Hán: Hóa 化.

112 Cf. Vin. ibid., Phật cảnh giác Mục-liên: “Hãy giữ kín lời nói!”

113 Tứ phần: Ngũ chủng tôn 五種尊. Pāli: pañca satthāro.

114 Cự Hư 駏驉: Giống con la, là do ngựa đực và con la cái giao phối mà sinh ra.

115 Pāli, Vin.ii. 189: chavassa kheḷāsakassa, cái xác chết dính đàm dãi.

116 Ma-nạp 摩納: Pāli. Māṇava, người con trai tuổi trẻ, đồng tử, thiếu niên.

117 Thành Ca-di 迦夷城: Pāli. Kāsī.

118 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản: Không có mẩu chuyện này.

119 Ngũ phần 25, tr. 164a (Phần thứ 5, pháp Pháp tăng): 1. không ăn muối. 2, không ăn sữa đặc. 3. không ăn cá thịt. 4. Chỉ xin ăn, không nhận mời. 5. Xuân, Hạ, 8 tháng ngồi giữa chỗ trống; Đông 4 tháng sống trong am cỏ. Tứ phần 4 (tr.594b01): Trọn đời khất thực, trọn đời mặc y phấn tảo, trọn đời ngồi nơi đất trống, trọn đời không ăn muối, trọn đời không ăn cá thịt. Thập tụng 36 (tr.259a22): 1. Mặc nạp y. 2. Chỉ khất thực. 3. Chỉ một lần ăn. 4. Ngồi giữa trời trống. 5. Không ăn thịt. Phá Tăng sự 10, tr. 149b8 (T24n1450): không dùng sữa; không ăn cá thịt; không ăn muối; không bứt bỏ sợi chỉ dài khi may y (?); chỉ sống trong thôn xá. Pāli, Vin. ii. 197, Vin. iii. 171: 1. Sống trong rừng. 2. Chỉ khất thực. 3. Mặc phấn tảo. 4. Sống dưới bóng cây. 5. Không ăn cá.

120 Hoa Mạn-đà-la 曼陀羅華: Skt. māndārava, dịch là Thiên diệu, Duyệt ý (thứ hoa thơm làm vừa ý đẹp lòng); một trong bốn loại hoa ở cõi thiên giới. Trong kinh Pháp hoa nói rằng, khi Phật thuyết pháp, trời mưa xuống hoa Mạn-đà-la (Diệu pháp liên hoa kinh 1, tr. 2b07, T9n262).

121 Hán: Nhị nghi 二儀 (lưỡng nghi).

122 Hán: Bất giác 不覺.

123 Hán: Thiên trung thiên 天中天.

124 Hán: Tận 盡.

125 Kim-bệ-lô 金鞞盧: Skt. Kumbhīra, Pāli. Kimbila, còn gọi là Kim-tì-la, Quân-tì-la v.v… Hán dịch là Long vương, Giao long…; là vị thần hộ vệ thành Vương Xá, Trung Ấn Độ.

126 A-tì 阿鼻: Skt. Avīci, dịch là vô gián 無間 (không gián đoạn). Kinh Trường A-hàm 1, tr. 125a23, T01n01: Tội nhân nơi đây (địa ngục), trong khoảnh khắc búng móng tay, không có một giây phút nào là không khổ. Vì vậy gọi là địa ngục Vô gián.

127 Tứ phần: Phá Tăng luân 破僧輪; Pāli: saṅghabhedam, cakkabhedam: Phá Tăng và phá luân (xe pháp).

128 Nói đủ là phá (hòa hiệp) Tăng pháp, tức luận điểm hay sự kiện dẫn đến phá hòa hiệp Tăng. Pāli: bhedanasaṃvattanikaṃ vā adhikaraṇaṃ, tránh sự dẫn đến phá Tăng; Giải thích, gồm 18 luận điểm dẫn đến phá Tăng (aṭṭhārasabheda-karavatthūni), tức 18 phá Tăng sự. Trong trường hợp Đề-bà-đạt-đa, 5 pháp mới được đề xuất để phá bốn Thánh chủng của Phật.

129 Pāli: samānasaṃvāsako samānasīmayaṃ, đồng nhất trú xứ, trong cùng một cương giới.

130 Hán: Tăng 僧.

131 Tăng-kỳ 7, tr. 283a20: Cầu thính Yết-ma 求聽羯蘑. Thập tụng 4, tr. 25b20: Bạch tứ yết-ma ước sắc白四羯蘑约勅; Tứ phần, Căn bản: Không có văn Bạch tứ yết-ma can gián này.

132 Tăng-kỳ 7, tr. 283b15; Tứ phần 5, tr. 595c2; Thập tụng 4, tr.25c16; Căn bản 15, tr. 704b28. Vin. iii. 174.

133 Tứ phần 5, tr. 595c2: La-duyệt-kỳ Kỳ-xà-quật sơn 羅閱祇嗜阇崛山; Tăng-kỳ 7, tr. 283b15, Thập tụng 4, tr.25c16; Căn bản 15, tr.704b28: Đều ở tại Vương-xá thành 王舍城.

134 Hán: Trợ phá 助破. Tứ phần: Bạn đảng 伴黨. Tăng-kỳ, Thập tụng: Đồng ý tương trợ 同意相助. Căn bản: Cộng vi bạn đảng 共為伴黨. Pāli: vaggavādaka.

135 Tăng-kỳ 7, tr. 284c22: Tăng-già-bà-thi-sa 12. Tứ phần 5, tr. 599a16. Thập tụng 4, tr. 27c6. Căn bản 16, tr. 707a25: Tăng-già-bà-thi-sa 13. Pāli, Saṅghādisesa 12

136 Tăng-kỳ 7, tr. 284c22: Câu-xá-di 俱舍彌, Tứ phần 5, tr. 599a16, Thập tụng 4, tr. 27c6: Cũng Câu-thiểm-di 拘睒彌, Căn bản 16, tr. 707a25: Kiều-thiểm-tì 橋閃毘. Pāli:Kosambiyaṃ Ghositārāme.

137 Hán: Xiển-đà 闡陀: Tăng-kỳ, Tứ phần, Căn bản: Xiển-đà 闡陀, Thập tụng: Xiển-na 闡那. Pāli. Channa, thường gọi là Xa-nặc, người hầu ngựa của Thái tử. Sau khi theo Phật xuất gia, ông là một trong những thành viên của nhóm lục quần. Sau khi Phật diệt độ, ông theo ngài A-nan học đạo, chứng A-la-hán.

138 Sám hối: Nên hiểu là phát lồ.

139 Hán: Tác tự ngã 作自我.

140 Hán: Ác tánh nan cộng ngữ 惡性難共語. Tăng-kỳ: Tự dụng lệ ngữ 自用戾語 (dùng lời ngang ngược bướng bỉnh). Tứ phần, Căn bản: Ác tánh bất thọ nhân ngữ 惡性不受人语 (tánh ngoan cố không nhận lời của người). Thập tụng: Ác tánh lệ ngữ 惡性戾語 (tánh ngoan cố nói lời ngang ngược bướng bỉnh). Pāli: dubbacajātiko, bản tính khó nói; khó nói chuyện; không nhận lời khuyên can.

141 Tăng-kỳ 7, tr. 286c16: Tăng-già-bà-thi-sa 13; Tứ phần 5, tr. 596c17, Thập tụng 4, tr. 26b9, Căn bản 15, tr. 705a10: Tăng-già-bà-thi-sa 12. Pāli, Saṅghādisesa 13.

142 Tăng-kỳ 7, tr. 286c16; Tứ phần 5, tr. 596c17; Thập tụng 4, tr. 26b9: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城, Căn bản 15, tr. 705a10 Thất-la-phạt thành: 室羅伐城.

143 Kiết-la ấp 吉羅邑. Tăng-kỳ: Ca-thi Hắc sơn tụ lạc 迦尸黑山聚落. Tứ phần: Ky-liên 羈連. Thập tụng: Hắc sơn thổ địa 黑山土地, thuộc nước Xá-vệ. Căn bản: Chỉ-tra sơn 抧吒山. Pāli: Kiṭāgiri.

144 An-bễ 頞髀. Tăng-kỳ: Trong nhóm lục quần Tỳ-kheo. Tứ phần: A-thấp-bà 阿濕婆. Thập tụng: Mã Tú 馬宿. Căn bản: A-thấp-phược-ca 阿濕薄迦. Pāli: Assaji. Đây là Tỳ-kheo trong nhóm Lục quần (chabbaggiyā); không phải Assaji Thera trong năm Tỳ-kheo đầu tiên (pañcavaggiya).

145 Phân-na-bà 分那婆. Tăng-kỳ: Trong nhóm lục quần Tỳ-kheo. Tứ phần: Phú-na-bà-sa 富那婆娑. Thập tụng: Mãn Tú 滿宿. Căn bản: Bổ-nại-phạt-tố 補捺伐素. Và thêm một người thứ ba nữa: Bán-đậu-lô-hê-đắc-ca 半豆盧呬得迦. Pāli: Punabbasu.

146 Ca-di quốc 迦夷國. Tứ phần: Ca-thi quốc 迦尸國. Pāli: Kāsī, 1 trong 16 nước lớn thời Phật. Thủ phủ là Bārāṇasī.

147 Tăng-kỳ 7, tr. 287b2. Thập tụng 4, tr. 26c21. Căn bản 15, tr. 705b25: Cũng A-nan như Ngũ phần. Tứ phần tr. 597a23: Phật bảo hai ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên.

148 Hán: Khu xuất yết-ma 驅出羯磨. Tăng-kỳ, Thập tụng: Khu xuất yết-ma 驅出羯磨. Tứ phần: Tẫn yết-ma 擯羯磨. Căn bản: Khu khiển yết-ma 驅遣羯磨. Pāli:pabbājaniyakamma; đuổi Tỳ-kheo ra khỏi địa phương nơi mà họ đang mang tiếng xấu.

149 Hán: Cử An-bễ đẳng tội 舉頞髀等罪; tiến hành luận tội và buộc tội An-bễ và Phân-na-bà. Pāli: codetabba.

150 Hán: Đẳng 等.

151 Tăng-kỳ, Tứ phần, Căn bản: Hành ác hạnh 行惡行, tự mình trồng cây hoa, hay sai người trồng cây hoa, cho đến giúp vui cho người… Thập tụng, Tác ác hạnh作惡行. Pāli:pāpasamācāro, giải thích: Trồng hoa hay sai người trồng hoa; tưới cây hay sai người tưới cây…

152 Hán: Ô tha gia 污他家. Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng: Ô tha gia 污他家 như Ngũ phần; hoặc sát-lợi gia, hoặc bà-la-môn gia, tỳ-xá gia, thủ-đà-la gia. Người trong tụ lạc đã có tín tâm nơi Phật pháp, mà làm cho họ mất tín tâm, gọi là ô tha gia. Căn bản: Ô gia pháp 污家法. Pāli: kuladusāko, giải thích: Gây tai tiếng cho một gia đình bằng những biếu xén như là hình thức hối lộ.

153 Bản Hán, hết quyển 3.

[1] Tăng-kỳ 7, tr. 289c18; Tứ phần 5, tr. 600b9; Thập tụng 4, tr. 28b8; Căn bản 16, tr. 710a24. Pāli, Aniyatakaṇḍaṃ, Vin. iii. 186ff.

[2] Tăng-kỳ 7, tr. 289c18, Tứ phần 5, tr. 600b9, Thập tụng 4, tr. 28b8: Cùng ở tại thành Xá-vệ 舍衞城 như Ngũ phần. Căn bản 16, tr. 710a24 Thất-la-phạt thành, Thệ Đa lâm 室羅伐城逝多林.

[3] Tăng-kỳ: Ưu-đà-di 優陀夷. Tứ phần, Thập tụng: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷. Căn bản: Ổ-đà-di 鄔陀夷. Skt. Kālodāyin, Pāli. Kāḷudāyin.

[4] Tứ phần: Trai ưu-bà-tư (= Ưu-bà-di) 齋優婆私, người con gái xinh đẹp, vợ của bạn Ca-lưu-đà-di, khi Ca-lưu-đà-di còn là bạch y. Tăng-kỳ: Con gái của một người bà-la-môn quen biết. Thập tụng: người quen cũ là Ưu-bà-di Quật-đa. Căn bản: Ưu-bà-di Cấp-đa 笈多. Pāli: Con gái của một nhà thí chủ; không nói tên cô gái.

[5] Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu 毘舍佉鹿子母, là con gái một vị trưởng giả ở nước Ương-già (Aṅga), bà nghe đức Phật thuyết pháp chứng quả Dự lưu. Tứ phần: Tỳ-xá-khư Mẫu 毘舍佉母. Pāli: Visākhā Migāramātā. Bà có nhiều con và cháu, tất cả đều giàu có. Vì vậy, trong mọi lễ hay tiệc, bà đều được mời. Bà đến nhà này cũng do được mời.

6 Hán: Bà-la-môn Na-lân-già 婆羅門那隣伽. Tăng-kỳ: Tỳ-xá-khư Mẫu 毘舍佉母 đến bạch các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo bạch lên Phật. Tứ phần, Thập tụng, Căn bản: Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu毘舍佉鹿子母 đến bạch phật.

7 Tăng-kỳ 7 tr. 290c13: Khả tín Ưu-bà-di 可信優婆夷; có 16 điều để gọi là Ưu-bà-di đáng tin: 3 quy y, 4 bất hoại tịnh, Tăng chưa được lợi, giúp cho được lợi; đã được lợi, giúp cho tăng trưởng; Tăng mang tiếng xấu, tìm cách dập tắt; không tùy ái, không tùy sân, không tùy bố, không tùy si; ly dục hướng thành tựu giới. Tứ phần, 5, tr. 500c18: Tín nhạo ưu-bà-tư 信樂優婆私, tin ưa Phật, Pháp, Tăng; quy y Phật, Pháp, Tăng; không giết, không trộm, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống ruợu; khéo ghi nhớ sự việc không nhầm lẫn, nói lời chơn thật không hư vọng. Thập tụng 4, tr. 28c13: Khả tín Ưu-bà-di 可信優婆夷, đã thọ tam quy, đắc đạo, đắc quả. Căn bản 16, tr. 710c6: Chánh tín ô-ba-tư-ca 正信鄔波斯迦, vị đã kiến đế, đắc quả. Pāli: saddheyyavacasā upāsikā, Ưu-bà-di mà lời nói đáng tin; giải thích: Đây chỉ người nữ đã đắc quả (āgataphalā), đắc hiện quán (abhisametāvinī), đã học hiểu giáo pháp.

8 Pāli. Aniyato, vì không xác định là Ba-la-di, hay Tăng-già-bà-thi-sa, hay Ba-dật-đề, nên gọi là bất định.

II. GIỚI THỨ HAI

Giới9 bất định thứ hai là cùng người nữ ngồi chỗ trống, trừ Ba-la-di, ngoài ra như trên đã nói.
Chỗ trống: Là chỗ mắt có thể thấy.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *