Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 07. Phần I – Chương 4 – Xả Đọa

Ngũ Phần Luật – 07. Phần I – Chương 4 – Xả Đọa

CHƯƠNG IV : XẢ ĐỌA

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. SÚC TRƯỜNG Y[2]

A. DUYÊN KHỞI
1. Y dư, quá một đêm
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.[3] Bấy giờ, đức Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo chỉ chứa ba y, mà nhóm sáu Tỳ-kheo[4] trước bữa ăn, sau bữa ăn, buổi xế chiều, đều mặc y khác nhau. Các Tỳ-kheo thấy, hỏi:
“Đức Thế Tôn không cho phép chứa y dư, các thầy không nghe hay sao?”
Trả lời:
“Chúng tôi cũng có nghe đấy, nhưng những y này của chúng tôi do Tăng cho, hoặc cư sĩ cho, hay là y phấn tảo.5 Họ vì vấn đề cho chúng tôi che thân,6 chứ không phải sai chúng tôi cất chứa vì ngũ gia.”7
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn!”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Trước đây, các ngươi không nghe Ta khen ngợi (hạnh)* thiểu dục tri túc, y cắt rọc để che thân, cơm ăn đủ để nuôi sống’ chăng? Thí như các loài chim tự mang theo lông, Tỳ-kheo cũng vậy, thường thọ trì ba y.8 Tại sao nay các ngươi lại cất chứa phi pháp?”
Bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo nào, chứa y dư, qua một đêm,9 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

2. Y Ca-thi-na đã xả, quá một đêm
Bấy giờ, các Tỳ-kheo nếu cần mỗi một y, thì chúng Tăng nên Yết-ma, đáp ứng việc phân vật cho họ. Lúc ấy, y thô cũ rách của A-na-luật bị rách, các Tỳ-kheo nói:
“Y thô cũ rách thầy bị rách, sao không đến Tăng xin, nhờ may một ngày cho xong?”
A-na-luật nói:
“Tôi không dám xin, sợ một ngày may không xong, phạm tội Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
[23b01] Bấy giờ, các Tỳ-kheo ở ấp Ba-lợi10 muốn đến thành Xá-vệ hậu an cư mà đến không kịp, nên phải an cư tại ấp Sa-bệ-đà.11 An cư xong, ngày 16 bèn đến chỗ Phật. Trên đường đi bị bùn nước, khiến ba y thô nặng, rất mệt nhọc, đến đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi lui qua một bên. Phật hỏi các Tỳ-kheo:
“An cư có hòa hợp không? Khất thực có đủ không? Trên đường đi có mệt lắm không?”
Thưa:
“Chúng con an cư được hòa hợp, khất thực không bị thiếu. Chúng con trước đây ở ấp Ba-lợi, muốn đến đây an cư, nhưng có nhiều tri thức nên không khởi hành sớm được, muốn kịp hậu an cư nhưng vẫn không kịp, bèn đến an cư tại Sa-bệ-đà. An cư xong, ngày 16 đến đây, trên đường đi bị bùn nước, khiến ba y thô nặng rất mệt nhọc.”
Các Tỳ-kheo nhân việc này trình bày đầy đủ việc A-na-luật lên đức Phật. Đức Phật đem việc này tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép thọ y Ca-thi-na,12 để khỏi phạm 5 việc: 1. Ăn riêng chúng; 2. Ăn nhiều lần; 3. Trước bữa ăn, sau bữa ăn đi đến nhà khác khỏi phải dặn Tỳ-kheo khác; 4. Chứa y dư; 5. Ngủ riêng không mất ba y.
(Khi ấy),* các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Đức Phật cho thọ y Ca-thi-na, cho phép chứa y dư, được phép áp dụng vào lúc nào?” Nghĩ xong liền bạch Phật, Phật dạy:
“Khi thọ y Ca-thi-na thì được phép chứa. Từ nay giới này được nói như vầy:
“Tỳ-kheo nào, ba y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, chứa y dư quá một đêm, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”13

3. Quá mười ngày
Bấy giờ, Tôn giả A-nan nhận được hai tấm vải bệnh can tiêu,14 vì ngài Xá-lợi-phất nên nhận. Khi ấy ngài Xá-lợi-phất ở nơi khác. Tôn giả A-nan nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn không cho phép chứa y dư quá một đêm, mà ngài Xá-lợi-phất nay không có ở đây, vấn đề này nên thế nào?” Nghĩ rồi bạch Phật, đức Phật hỏi A-nan:
“Mấy ngày nữa Xá-lợi-phất sẽ về?”
Thưa:
“Khoảng 10 ngày, hoặc không đến 10 ngày.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng nhiều cách khen thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này được nói như vầy:

B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, ba y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, chứa y cho đến 10 ngày, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Ba y đã xong: Tức là giặt, nhuộm, may đã xong.
Y Ca-thi-na đã xả: Tức bạch nhị Yết-ma xả.
Dư: Ngoài ba y đều gọi là dư.
Y: Là y Kiếp-bối, y Khâm-bà-la,15 y tơ tằm16 (lụa), y vải lanh,17 y vải gai thô.18
Mười ngày: Nếu ngày thứ nhất được y nên xả ngay trong ngày, hoặc thọ trì, hoặc cho người, hoặc tịnh thí.19 [23c01] Nếu không xả liền trong ngày, ngày thứ hai lại được y, nên xả cả hai trong ngày này. Nếu ngày này không xả, ngày thứ ba cho đến ngày thứ 10 lại được y, cũng nên xả hết trong ngày này. Nếu ngày này không xả, đến ngày thứ 11, khi tướng mặt trời xuất hiện, y nhận được trong 10 ngày đều Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu có y quá 10 ngày, nên xả cho Tỳ-kheo Tăng, hoặc xả cho 1, 2, 3 Tỳ-kheo, không được xả cho người khác và phi nhân. Xả rồi, sau đó sám hối. Nếu không xả mà sám hối thì tội kia càng sâu.
Trừ 3 y dư, nếu các y khác dư, cho đến khăn lau tay quá 10 ngày, đều Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la. Nếu tịnh thí thì không phạm.

II. NGỦ LÌA Y20

A. DUYÊN KHỞI
1. Lìa y
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,21 bấy giờ nhóm Tỳ-kheo mười bảy người an cư xong muốn du hành, nghĩ như vầy: “Chúng ta sẽ trở về lại đây, chỉ một y là đủ, cần nhiều làm gì?” Nghĩ rồi, liền lấy khăn gói y còn lại để trên giá, gởi cho Tỳ-kheo tại trú xứ, rồi đi liền. Sau đó, nhóm sáu Tỳ-kheo từ nơi khác trở về, nói với Tỳ-kheo trú xứ rằng:
“Cung cấp phòng cho tôi”.
Tỳ-kheo tại trú xứ liền lấy phòng nhóm mười bảy người để y phân phối cho họ. Nhóm sáu Tỳ-kheo thấy y để trên giá, hỏi:
“Tại sao các thầy cất chứa y dư?”
Trả lời:
“Đây là y của nhóm mười bảy Tỳ-kheo, an cư xong du hành nhân gian không thể mang theo nên gởi lại cho tôi đó.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo tìm mọi cách quở trách, rồi đem sự việc trình lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm mười bảy Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ngươi ngu si, không nghe Ta đã dạy: ‘Tỳ-kheo nên thọ trì ba y, bình bát đầy đủ. Thí như chim bay nhờ có lông cánh hay sao’!”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ba y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, nếu lìa mỗi một y trong ba y, ngủ quá một đêm, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

2. Cương giới của y
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo mặc y phấn tảo22 muốn đến ấp Sa-kiệt-đà, nhưng y nặng không thể mang đi, muốn xả, không biết nên như thế nào, đem việc này thưa các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo dẫn [24a01] đến chỗ Phật trình việc này lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo thọ trì y phấn tảo nặng, muốn du hành nơi khác, không thể mang đi, Tỳ-kheo ấy nên đến xin Tăng Yết-ma không mất y. Nghi thức như vầy:
(Tỳ-kheo này)* cởi giày dép, đầu mặt đảnh lễ sát chân Tăng, quỳ gối, chắp tay bạch:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… muốn du hành đến xứ…, vì y phấn tảo nặng không thể mang theo, muốn để lại. Nay đến xin Tăng Yết-ma pháp không mất y.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Một Tỳ-kheo trong Tăng xướng rằng:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… muốn du hành đến xứ…, vì y phấn tảo nặng không thể mang theo, muốn để lại. Nay đến xin Tăng Yết-ma không mất y. Nay Tăng trao cho Yết-ma không mất y. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… muốn du hành đến xứ…, vì y phấn tảo nặng không thể mang theo, muốn lưu lại, đến xin Tăng Yết-ma không mất y. Nay Tăng trao cho Yết-ma không mất y. Các trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, ai không đồng ý xin nói.”
“Tăng đã trao cho Tỳ-kheo tên là… Yết-ma không mất y rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo thấy đức Thế Tôn cho phép Yết-ma ly y, bèn thường tác Yết-ma lìa y để ngủ đêm, thậm chí Yết-ma lìa hết cả ba y, chỉ mặc y cũ rách để đi. Tỳ-kheo Trưởng lão thấy hỏi:
“Tại sao các thầy mặc y cũ rách mà đi?”
Trả lời:
“Đức Phật cho phép Yết-ma lìa y, cho nên chúng tôi thường Yết-ma lìa y để ngủ đêm, cũng Yết-ma lìa cả ba y.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật trình bày sự việc lên Ngài. Đức Phật dạy:
“Các người không nên thường Yết-ma lìa y để ngủ đêm và Yết-ma lìa cả ba y. Đây là hai Yết-ma phi pháp. Tỳ-kheo và Tăng (phạm)* hai tội Đột-kiết-la. Vì Yết-ma lìa y để ngủ đêm này, mỗi y, một đêm đều phạm tội mất y. Nay cho phép Tỳ-kheo Yết-ma gởi y lại, tiền an cư 9 tháng, hậu an cư 8 tháng. Không được Yết-ma gởi y Tăng-già-lê,23 An-đà-hội24 mà cho phép Yết-ma Ưu-đa-la-tăng.25 Chỗ có nạn giặc cướp, trong ba y, y cắt rọc26 là hơn hết, cho phép tùy theo đó mà gởi. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI VĂN
“Tỳ-kheo nào, ba y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, trong ba y, nếu lìa mỗi một y, ngủ quá một đêm, trừ Tăng Yết-ma, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Lìa y: Vườn, đồng giới khác giới;27 nhà, đồng giới khác giới; tinh xá của Tỳ-kheo-ni, [24b01] đồng giới khác giới; xóm làng, đồng giới khác giới; nhà lầu, đồng giới khác giới; xe, đồng giới khác giới; thuyền, đồng giới khác giới; sân, đồng giới khác giới; dưới gốc cây, đồng giới khác giới; đất trống, đồng giới khác giới; trên đường đi, đồng giới khác giới.
– Vườn đồng giới: Tăng Yết-ma (quy định ranh)* giới không mất y, ở trong đó được tự tại tới lui.
– Khác giới: Tăng không Yết-ma (quy định ranh)* giới không mất y, tuy là ở trong đó (cùng một vườn)* mà không được tự tại tới lui.
Nhà, tinh xá Tỳ-kheo-ni, xóm làng, nhà lầu cũng như vậy.
– Xe đồng giới: Trong đó được tự tại hoặc lấy hay đưa lên.
– Khác giới: Trong đó không được tự tại hoặc lấy hay đưa lên.
Thuyền cũng như vậy.
– Sân đồng giới: Chỗ sân phơi lúa, được tự tại lấy.
– Khác giới: Không được tự tại lấy.
– Nơi gốc cây đồng giới: Chỗ có bóng mát che.
– Khác giới: Chỗ không có bóng mát che.
– Đất trống đồng giới: Chỗ ngồi kiết già cách trước mặt bảy thước.
– Khác giới: Ngoài bảy thước.
– Trên đường đi đồng giới: Cách thân bảy cung.28
– Khác giới: Ngoài bảy cung, cho đến tướng mặt trời xuất hiện, khi ấy Tỳ-kheo trở về đến giới, cho đến một chân vào trong giới cũng không mất y. Hoặc là miệng tự nói: “Tôi xả y đó”, cũng không mất y. Nếu không nói xả, khi tướng mặt trời xuất hiện thì, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Ngoài ba y Tỳ-kheo ra, những y thọ dụng khác mà lìa để ngủ ban đêm thì, Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

III. CHỜ Y MỘT THÁNG29

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở thành Xá-vệ.30 Khi ấy, các Tỳ-kheo ba y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, đặng y phi thời, các Tỳ-kheo hổ thẹn nói: “Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận y phi thời”.
(Các Tỳ-kheo)* do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ông có được y phi thời mà xấu hổ nói: ‘Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận y phi thời phải không?’”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng nhiều cách khen ngợi (hạnh)* thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép nhận y phi thời.”
Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn cho phép chúng ta nhận y phi thời”, họ bèn thọ nhận nhiều, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí. Các Tỳ-kheo thấy, hỏi:
“Các thầy không nghe đức Thế Tôn cấm không được chứa y dư hay sao?”
Trả lời:
“Tuy đức Phật cấm chứa y dư, mà cho phép nhận y phi thời.”
Lại hỏi:
“Lúc nào các thầy cũng chứa y phi thời, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, phải không?”
[24c01] Trả lời:
“Đúng vậy.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này trình lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ông có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ông là kẻ ngu si, không nên muốn nhiều, cầu nhiều. Trong pháp ngoại đạo, người nhận không chán, kẻ thí có tính toán. Trong chánh pháp của Ta thì thiểu dục tri túc, người thí tuy không chán, nhưng người nhận phải nhận ít.”
Quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo nào, nhận được y phi thời, không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, cho đến một đêm, Đột-kiết-la.”
Bấy giờ ở một trú xứ, các Tỳ-kheo nhận được nhiều y, thọ trì, cho người, tịnh thí, còn dư một khúc vải, cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không nhận, nói: “Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận vải không đủ (may y)*.”
Thưa:
“Cứ nhận đi, chưa đủ sẽ cúng đủ.”
Khi ấy có trưởng lão Già-tỳ nhận được miếng vải31 vừa hẹp vừa ngắn, hằng ngày cứ kéo ra, muốn cho nó dài rộng.
Thường lệ, mỗi năm ngày, đức Phật đi xem xét các phòng, thấy Già-tỳ kéo vải, hỏi:
“Ông đang làm gì vậy?”
Thưa:
“Con nhận được miếng vải nhỏ này, không thọ trì được.”
Đức Phật hỏi:
“Ông có hy vọng nhận được vải chỗ nào nữa không?”
“Thưa có.”
Đức Phật lại hỏi:
“Thời gian bao lâu có thể được?”
Thưa:
“Một tháng, hoặc gần một tháng.”
Nhân việc này, đức Phật bằng nhiều cách khen (hạnh)* thiểu dục tri túc, khen giới, khen (người)* trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép chứa y (vải) phi thời, nếu không đủ, chờ cho đủ trong vòng một tháng.”
Đức Phật đã cho phép chứa vải phi thời không đủ may y, các Tỳ-kheo lại mang vải này đi du hành quá một tháng. Các Tỳ-kheo thấy, hỏi:
“Đức Phật không cho phép chứa vải phi thời không đủ may y quá một tháng, tại sao các thầy mang vải này đi du hành quá một tháng?”
Dùng mọi cách quở trách, rồi dẫn các Tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này được nói như vầy:

B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, ba y đã đủ, y Ca-thi-na đã xả, được vải (y) phi thời, cần thì nhận, nhận rồi mau chóng may thành y thọ trì; đủ thì tốt, nếu không đủ thì chờ có chỗ cho để đủ may thành, cho đến một tháng, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề”.

C. THÍCH TỪ
Y phi thời: Y nhận được sau khi xả y Ca-thi-na, đều gọi là y phi thời.
Cần: Trong ba y có cũ rách cần để bổ sung.
Chờ có chỗ cho: Hy vọng lại có nơi nào đó họ sẽ cho.
Nhận được (vải)* từ một ngày cho đến một tháng. Nếu Tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được vải không đủ may y, mà ngày hôm đó có hy vọng nhận được[25a01] đủ để may thành y thì thọ trì, hoặc cho người, hay tịnh thí. Nếu không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, đến ngày mười một khi tướng mặt trời xuất hiện, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Ngày thứ hai cho đến mười ngày cũng vậy. Ngày thứ mười một có hy vọng, nếu nhận được thì ngay trong ngày đó nên may thành y để thọ trì, hoặc cho người hay tịnh thí. Nếu không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, đến ngày mười hai, khi tướng mặt trời xuất hiện, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Cho đến ngày ba mươi ngày cũng như vậy.
Tỳ-kheo-ni cũng vậy. Ba chúng dưới, Đột-kiết-la.

IV. NHẬN Y PHI THÂN LÍ NI32

A. DUYÊN KHỞI
1. Liên Hoa Sắc và Ba-xà-ba-đề
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.33 Bấy giờ nơi ấp Ưu-thiện-na34 có một thiếu niên cư sĩ xuất hành dạo chơi, thấy một người nữ tên là Liên Hoa Sắc,35 nhan sắc như hoa đào, đầy đủ nữ tướng. Tình cảm, kính trọng nảy sanh nhau, liền cưới làm vợ.
Sau một thời gian ngắn người vợ có thai,36 bèn trở về nhà mình, đủ tháng sinh ra một bé gái. Trong thời gian sanh đẻ, không được gần gũi (chồng, nên chồng cô)* vụng trộm tư thông với mẹ mình. Liên Hoa Sắc biết được, vẫn muốn giả vờ, sợ nếu đoạn tuyệt đạo vợ chồng thì liên lụy đến mẹ cha. Hơn nữa, vì thương con trẻ nên phải ngậm đắng nuốt cay, chịu xấu hổ, về lại nhà chồng, nuôi con gái lên 8 tuổi. Sau đó mới đi đến thành Ba-la-nại, (dọc đường)* đói khát mệt nhọc, ngồi nghỉ bên bờ sông.
Khi ấy, có một gia chủ xuất hành dạo chơi, thấy (cô đem lòng)* yêu thương sâu nặng, liền hỏi:
“Cha mẹ, dòng họ, quê hương của cô ở đâu? Hiện tại, cô đã thuộc về ai, hay độc thân ở vậy?”
Liên Hoa Sắc trả lời:
“Tôi là đứa con gái thuộc dòng họ… nay tôi không thuộc về ai.”
Gia chủ lại hỏi:
“Nếu không thuộc về ai thì có thể làm chánh thất với tôi được không?”
Liên Hoa Sắc nói:
“Người con gái thì lấy chồng, tại sao không được!?”
(Gia chủ)* liền đưa về nhà phong làm vợ cả. Liên Hoa Sắc liệu lý mọi việc trong nhà, từ lớn đến nhỏ đều vui vẻ, vợ chồng tôn trọng lẫn nhau. Sau tám năm, bấy giờ gia chủ nói với vợ mình rằng:
“Tôi có xuất vốn tại ấp Ưu-thiện-na, trong tám năm qua, lại chưa thu nợ, nếu kết toán tiền sanh lợi thì có đến cả ức. Nay (chúng ta)* tạm thời xa nhau, tôi muốn đến đó đòi nợ cho bà.”
Người vợ nói:
“Phong tục tại ấp đó, người nữ phóng dật, anh đến đó hoặc có thể bị mất tiết tháo trượng phu. Của cải như phân đất, nào đáng để lưu tâm.”
Trả lời:
“Tôi tuy sở đoản kém cỏi, nhưng không đến nỗi bị điều đó mê loạn.”
Người vợ lại nói:
“Nếu đã quyết cần đi thì (em muốn)* nghe một lời thề.”
Trả lời:
“Tốt lắm!”
Liền nói:
“Nếu anh có tác ý điều đó, khi trở về vào cửa ngõ thì ý niệm đó và tà tâm một đời cùng chết.”37
Khi người chồng đến ấp kia, thu tiền lãi nhiều nơi nên trải qua thời gian cả năm. Xa nhà lâu ngày, nhớ nhà càng sâu hơn, nên có ý nghĩ như vầy: “Ta nên thế nào để không trái với lời thề trước mà vẫn thỏa tình này.” Lại nghĩ như vầy: [25b01] “Nếu ta tà dâm mới phụ với lời thề trước. Tạo lấy một nhà riêng thì không làm trái yêu cầu.” Trong khi đi tìm hỏi, gặp một người nữ nhan sắc rất đẹp, tướng mạo đoan trang, dáng điệu đáng yêu, bèn đến cầu hôn. Người cha, vì (thấy)* gia chủ tài giỏi giàu có, nên hoan hỷ gả cho.
Đòi nợ xong, dẫn về bổn quốc, an trú nơi nhà riêng, sau đó mới về nhà. (Từ đó)* sáng đi chiều về, khác so với sự bình thường trước đây. Liên Hoa Sắc ngạc nhiên, âm thầm hỏi người tùy tùng, người tùy tùng nói:
“Bên ngoài có thiếu phụ, cho nên như vậy.”
Chiều chồng mình về, Liên Hoa Sắc hỏi:
“Anh có người hầu mới tại sao phải giấu nhẹm, không cho em biết?”
Trả lời:
“Anh sợ em giận cho nên để lại bên ngoài.”
Người vợ nói:
“Em không ghen đâu, thần minh chứng giám. Có thể kêu về giúp anh lo liệu (việc nhà)*.”
(Gia chủ)* bèn đem về, đó chính là người con gái của mình. Mẹ con gặp nhau mà lại không biết. Sau đó, nhơn lúc gội đầu, xem kỹ tướng mạo, mới nghi là con gái của mình. Liền hỏi về làng xã, cha mẹ, tộc tánh. Người nữ trả lời đầy đủ. Thế là vỡ lẽ! Người mẹ kinh hoàng nói:
“Xưa (con)* và mẹ cùng một chồng! Nay (mẹ)* và con cùng một chàng rể! Sanh tử mê loạn cho đến như thế này, nếu không đoạn ái dục, xuất gia học đạo thì sự điên đảo mê hoặc như vậy làm sao chấm dứt được?”
(Liên Hoa Sắc)* liền giao phó mọi việc mà ra đi, đến cửa Kỳ-hoàn, đói khát mệt nhọc, ngồi dưới bóng gốc cây.
Bấy giờ, đức Thế Tôn vì vô số đại chúng vây quanh mà nói pháp. Liên Hoa Sắc thấy mọi người ra vào tới lui, nghĩ là tiết hội chắc có đồ ăn thức uống, bèn vào trong tinh xá, thấy đức Phật Thế Tôn đang vì đại chúng thuyết pháp. Liên Hoa Sắc nghe pháp, lãnh hội được, nên quên đi sự đói khát.
Bấy giờ, đức Thế Tôn quan sát trong hội chúng xem ai có thể độ được, chỉ có Liên Hoa Sắc (là người)* đáng được đạo quả, liền vì (cô)* nói về pháp bốn sự thật: Khổ, Tập, Tận, Đạo. (Liên Hoa Sắc)* liền ở trên chỗ ngồi xa lìa trần cấu, đặng mắt pháp trong sạch. Đắc quả rồi, một lòng chắp tay đứng lên hướng về đức Phật. Đức Phật nói pháp xong, hội chúng cũng đều ra về, Liên Hoa Sắc đến trước đức Phật, kính lễ sát chân, quỳ gối, chắp tay bạch Phật:
“Con nguyện được xuất gia ở trong chánh pháp của đức Phật.”
Đức Phật hứa khả, rồi bảo Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề:
“Nay cô có thể độ người nữ này hành đạo.”
Vâng lời dạy, liền độ cho Liên Hoa Sắc xuất gia thọ giới. (Liên Hoa Sắc)* siêng năng thực hành tinh tấn, liền chứng La-hán. Thành La-hán rồi, dạo chơi trong các thiền giải thoát,38 nên nhan sắc càng sáng rực gấp bội so với trước.
Đến giờ, mang bát vào thành khất thực. Một người Bà-la-môn thấy cô sanh say mê, tâm nghĩ như vầy: “Đây là Tỳ-kheo-ni, nay ta không thể chiếm đoạt, chỉ nên tìm đến chỗ ở của cô rồi tìm cách thực hiện mưu đồ”. Liên Hoa Sắc khất thực xong trở về nơi vườn An-đà,39 vào trong phòng. [25c01] Người Bà-la-môn kia theo sau quan sát, biết chỗ ở cô rồi, hôm sau, đến giờ (cô)* lại đi khất thực, sau đó Bà-la-môn kia lén vào nấp dưới gầm giường của cô.
Cả ngày đến đêm, các Tỳ-kheo-ni thuyết pháp xong, mệt mỏi trở về phòng nằm ngửa ngủ say. Lúc này, Bà-la-môn từ dưới gầm giường bò ra làm hạnh bất tịnh. Tỳ-kheo-ni liền thức dậy, bay vọt lên hư không. Ngay ở trên giường Bà-la-môn đọa vào địa ngục. Liên Hoa Sắc từ không trung bay đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân rồi đem sự việc bạch lên Phật. Đức Phật hỏi:
“Ngay lúc ấy, ý cô thế nào?”
Thưa:
“Như tấm sắt đốt đỏ rực áp vào thân.”
Đức Phật dạy:
“Như thế là vô tội.”
Liên Hoa Sắc lại bạch Phật:
“Ngủ một mình có phạm tội hay không?”
Đức Phật dạy:
“Người đắc đạo thì không phạm.”
Bấy giờ, có bọn cướp tập trung cùng bàn với nhau: “Chúng ta nên phân chia vật dụng40 ở nơi nào, để dễ có thức ăn ngon và sắc đẹp?”
Tất cả đều nói:
“Vườn An-đà này là trú xứ của Tỳ-kheo-ni, chắc có sắc đẹp và cũng sẽ có nhiều thức ăn ngon được cúng dường, ta đến đó phân chia vật dụng chắc sẽ được như ý muốn.”
Trong khi đó, tên thủ lĩnh của bọn cướp kia, tin ưa Phật Pháp, nghe vậy không vui, liền nghĩ như vầy: “Những người này chắc sẽ gây náo loạn các Tỳ-kheo-ni. Ta nên âm thầm sai một người đến báo trước”. Liền sai người nói với các Tỳ-kheo-ni rằng:
“Tối nay sẽ có người ác đến đây, sợ chắc họ gây não loạn, xin có thể tránh đi”.
Các Tỳ-kheo-ni nghe liền vào trong thành Xá-vệ. Vị đại thần thành kia, trước đó có dành riêng một ngôi nhà cho Tỳ-kheo Tăng, nhưng không có Tăng ở, các Tỳ-kheo-ni chiều đến nghỉ qua đêm. Tối lại, bọn giặc đến vườn An-đà không gặp một người nào. Vị thủ lĩnh giặc cướp vui mừng nói thầm:
“Tỳ-kheo-ni đã thoát được sự gian nan, có gì vui sướng bằng!”
Ông lấy tấm vải tốt nhất, gói đầy thức ăn ngon bổ, treo trên nhánh cây với ý nghĩ: “Nếu có Tỳ-kheo-ni nào đắc đạo thần thông thì lấy y thực này.”
Lúc ấy, Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc như lực sĩ trong chớp nhoáng co duỗi cánh tay, từ thành Xá-vệ đến vườn An-đà lấy y thực trên nhánh cây. Sáng ngày, đến giờ ăn, đem những thức ăn đã được cúng dường cho Trưởng lão Ưu-ba-tư-na41 và Bạt-nan-đà.42 Đúng giờ hai vị ấy đến, lần lượt thọ dụng các món ăn. Ăn xong dâng nước, rồi lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước chúng xin nói diệu pháp. Ưu-ba-tư-na vì cô thuyết pháp xong đứng dậy ra về. Bạt-nan-đà ở lại, hỏi Liên Hoa Sắc:
“Tỷ muội! Từ đâu được thức ăn ngon bổ này?”
Liên Hoa Sắc trình bày đầy đủ sự việc. Bạt-nan-đà nói:
“Tôi có thể xem tấm y (vải) được không?”
Cô liền đưa cho xem. Bạt-nan-đà thấy[26a01] liền sanh tham đắm, bèn theo xin. Liên Hoa Sắc nói:
“Điều này không thể được. Tại sao? Vì người nữ phước mỏng nên phải chứa năm y.”43
Bạt-nan-đà nói:
“Như người cho voi ngựa mà không cho dây cương! Cô cũng như vậy. Tại sao cho các thức ăn ngon bổ, mà lại tiếc tấm y này không cho tôi?”
(Bạt-nan-đà)* dùng mọi cách xin mãi cho được. (Ông)* theo đuổi (đến khi nào cô)* bất đắc dĩ,44 buộc phải đem cho. Bạt-nan-đà được y (vải), về lại trú xứ. Các Tỳ-kheo thấy, nói:
“Thầy là người có phước đức mới được y tốt này.”
Trả lời:
“Tôi đâu có phước đức, phải dùng lời năn nỉ mãi45 Tỳ-kheo-ni, mới được nó!”
Các Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao thầy dùng lời nói cưỡng bức để đoạt y của Tỳ-kheo-ni!?”
Bấy giờ, đức Thế Tôn lo ngại bốn chúng tới lui ồn ào nên bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta muốn vào tịnh thất ba tháng, không cho ai đến chỗ ta, chỉ trừ Tỳ-kheo đem cơm. Các người cũng nên lập quy chế với nhau.”
Vâng lời dạy, liền lập quy chế: “Từ nay, không cho phép, (mà ai)* vẫn cứ đến chỗ Phật, chỉ trừ Tì-kheo đem cơm, người ấy phạm, Ba-dật-đề.”
Khi ấy, có trưởng lão Ưu-ba-tư-na không nghe quy chế của Tăng, sau khi đến thành Xá-vệ hỏi Tỳ-kheo khác để biết đức Phật ở phòng nào. Có Tỳ-kheo mách bảo, Ưu-ba-tư-na liền đến trước cửa, gõ cửa. Đức Phật tự mở. Trước Phật, lễ sát chân rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật hỏi Ưu-ba-tư-na:
“Chúng của người thanh tịnh, oai nghi đầy đủ, thầy giáo hóa cách nào mà được như vậy?”
Thưa:
“Nếu người nào đến con cầu xin xuất gia, dạy họ hành 12 (hạnh)* đầu-đà,46 ‘trọn đời thầy phải làm (Tỳ-kheo)* ở A-lan-nhã, khất thực, nhất tọa thực, nhất chủng thực, nhất thọ thực, tuần tự khất thực, ở nơi gò mả, mặc y phấn tảo, ba y, phu tọa47 tùy thân, ngồi dưới bóng gốc cây, ngồi chỗ đất trống’. Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu người nào nói trọn đời có thể hành pháp này thì được nhập vào chúng của con, con làm thầy họ.”
Đức Phật khen:
“Lành thay! Lành thay! Như ngươi có thể gọi là hạng khéo giáo dục đồ chúng.”
Lại hỏi:
“Ngươi có biết trong chúng Tăng này có quy chế hay không?”
Thưa:
“Con không biết. Tại sao vậy? Vì con nghe từ Phật dạy: ‘Những gì Phật chưa chế không được vội chế, những gì đã chế nên phụng hành’.”
Đức Phật lại đem sự việc trên nói đầy đủ.
Thưa:
“Con không thể theo Tăng chế mà sám hối tội Ba-dật-đề được.”
Đức Phật dạy:
“Lành thay! Như những gì ngươi nói.”
Lúc ấy, cựu trú Tỳ-kheo đứng ở trước phòng, chờ Ưu-ba-tư-na đi ra để nói:
“Thầy đã phạm quy chế của Tăng, nên tác pháp sám Ba-dật-đề.”
Trả lời:
“Tôi phạm Ba-dật-đề nào?”
Các Tỳ-kheo trình bày sự việc trên đầy đủ. Trả lời:
“Tôi không theo quy chế của Tăng để sám hối được! Tại sao? Vì chính tôi nghe từ Phật dạy: ‘Nếu Phật không chế [26b01] thì Tăng không được chế; nếu Phật chế rồi Tăng không được trái phạm’.”
Khi ấy, đức Phật tự ra, nói với các Tỳ-kheo:
“Từ nay nếu có Tỳ-kheo A-lan-nhã nào như Ưu-ba-tư-na thì cho phép đến chỗ Ta.”
Các Tỳ-kheo nghe rồi nghĩ như vầy: “Chúng ta cũng nên hành hạnh đầu-đà này để có thể được thường xuyên đến chỗ đức Thế Tôn”. Nhân đó, mọi người đều tu khổ hạnh. Bấy giờ, các cư sĩ dựng lập phòng xá cúng dường, không có vị nào nhận nữa, nên do vậy bạch lên Phật. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép bốn chúng đến thăm Ta một cách dễ dàng.”
Lúc ấy, Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề nghe đức Phật dạy như vậy, liền cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni hướng đến chỗ đức Phật. Trên đường đi gặp Ưu-ba-tư-na. Trong chúng của Ưu-ba-tư-na có một Tỳ-kheo mặc y thô rách, Ba-xà-ba-đề hỏi:
“Tại sao trưởng lão mặc y như vậy?”
Trả lời:
“Vì không có chiếc nào khác.”
Tỳ-kheo-ni chỉ vào chiếc y của mình mà nói:
“Thầy có thể mặc y này không?”
Trưởng lão đáp:
“Có thể.”
Lại hỏi:
“Trưởng lão có thể cho con chiếc y đang mặc được không?”
Trả lời:
“Có thể.”
(Cô ni)* liền đổi y. Khi đến trước chỗ đức Phật, kính lễ sát chân rồi, ngồi lui qua một bên. Đức Phật hỏi Cù-đàm-di:
“Tại sao cô mặc chiếc y rách rưới như thế?”
(Cù-đàm-di)* trình bày sự việc trên. Đức Phật vì các cô nói pháp rồi bảo về lại trú xứ. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Thật sự ông có đem chiếc y thô rách đổi lấy chiếc y tốt của Tỳ-kheo-ni không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Ngươi là người ngu si, không nên muốn nhiều.”
Các Tỳ-kheo nhân việc này, đem việc của Bạt-nan-đà ra bạch lại Phật. Đức Phật hỏi Bạt-nan-đà:
“Ông có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận y từ Tỳ-kheo-ni, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”48

2. Những ngoại lệ khác
Có các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo-ni bà con, nhiều người quen biết, có thể nhận được y vật, nhưng các Tỳ-kheo vẫn mặc y thô rách, nên các Tỳ-kheo-ni bà con hỏi:
Tại sao mặc y xấu rách thế?
Trả lời:
Vì không có người nào để xin.
Thưa:
Sao không đến con lấy!
Trả lời:
Đức Phật cấm không cho phép đến các Tỳ-kheo-ni nhận y.
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Trong phạm vi bà con, nếu biết thì có thể cho và có thể nhận, nguyện xin bạch lên Phật.”
Do vậy các Tỳ-kheo liền bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng nhiều cách khen ngợi người thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận y từ Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Bấy giờ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tại thành Xá-vệ, cùng nhận được y cúng dường, cùng nhau phân chia, [26c01] hoặc có Tỳ-kheo được y Tỳ-kheo-ni, hay các Tỳ-kheo-ni được y Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo-ni thưa với các Tỳ-kheo:
“Cho chúng con đổi y.”
Trả lời:
“Đức Phật không cho phép chúng tôi nhận y từ Tỳ-kheo-ni không phải bà con.”
Các Tỳ-kheo-ni thưa:
“Dùng y đổi y, tại sao nói nhận?”
Bèn đến bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng nhiều cách khen ngợi người ít ham muốn, biết đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI VĂN
Tỳ-kheo nào, nhận y từ Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, trừ đổi chác, Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Không phải thân quyến:49 Không liên hệ bên cha hay bên mẹ trong phạm vi bảy đời.
Đổi chác:50 Hai bên đều có ích, lại tùy theo sở thích của mỗi người.
Nhận y từ Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Nếu nhận y từ thân quyến phạm giới, tà kiến, Đột-kiết-la. Nếu Sa-di nhận y từ Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Nếu không có tâm tìm cầu, họ tự bố thí, hay biết người kia dư mà nhận thì không phạm.

V. NHỜ PHI THÂN LÍ NI GIẶT Y CŨ51

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.52 Khi ấy, Bạt-nan-đà,53 sáng sớm khoác y bưng bát đến chỗ Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà.54 (Cô ni)* đứng dậy nhanh tuột y vô tình để lộ hình, Bạt-nan-đà nhìn thấy xuất bất tịnh. Tỳ-kheo-ni biết, nói:
“Trưởng lão đưa y cho tôi giặt.”
(Bạt-nan-đà)* liền thay y đưa. Tỳ-kheo-ni nhận y rồi lấy thứ bất tịnh để vào trong nữ căn của mình.
Các Tỳ-kheo khác cũng đưa y cho các Tỳ-kheo-ni nhờ giặt, nhuộm, đập. Do đó, các Tỳ-kheo-ni phải làm nhiều việc, nên trở ngại cho vấn đề đọc tụng, tọa thiền, hành đạo. Các bạch y thấy vậy, nên chê trách đủ cách rằng: “Các Tỳ-kheo-ni lấy việc giặt, nhuộm, đập y làm sự nghiệp, cùng với kẻ tại gia có khác chút nào đâu?”
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Đức Phật hỏi Cù-đàm-di:
“Tại sao tay chân các Tỳ-kheo-ni đều có dính màu hết vậy?”
(Các Tỳ-kheo-ni)* đem sự việc bạch đầy đủ. Đức Phật vì họ nói diệu pháp rồi, tất cả về lại trú xứ. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ông có sai Tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, đập y không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Nhân việc này, các Tỳ-kheo đem việc Bạt-nan-đà bạch lên Phật. Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, sai Tỳ-kheo-ni giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, [27a01] Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo già, bệnh, không thể tự giặt, nhuộm hay đập y, có các Tỳ-kheo-ni thân quyến có thể giặt, nhuộm, đập, đều muốn đến xin làm việc đó. Các Tỳ-kheo nói: “Đức Phật không cho phép chúng tôi sai Tỳ-kheo-ni giặt nhuộm hay đập y”.
Các Tỳ-kheo-ni thưa: “Chỉ trong thân quyến thì biết (việc nào)* có thể và biết (việc nào)* không thể làm, nguyện xin bạch lên Phật.”
Các Tỳ-kheo liền đem việc này bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, sai Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Y cũ:55 Là y đã mặc qua thân thể bị nhơ; hoặc bảo giặt giũ mà không nhuộm, không đập; hoặc bảo nhuộm mà không giặt, không đập; hoặc bảo đập mà không giặt, không nhuộm; hoặc bảo giặt nhuộm mà không đập, hoặc bảo giặt đập mà không nhuộm; hoặc khiến nhuộm đập mà không giặt; hoặc khiến giặt nhuộm, đập, đều Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu bảo giặt, không giặt mà nhuộm; hoặc khiến giặt, không giặt mà đập; hoặc bảo giặt, không giặt mà nhuộm, đập đều Đột-kiết-la. Khiến nhuộm, không nhuộm mà giặt, đập, hoặc giặt đập; khiến đập, không đập mà giặt, nhuộm, hoặc giặt nhuộm; khiến giặt nhuộm, không giặt nhuộm mà đập; khiến giặt đập, không giặt đập mà nhuộm. Khiến nhuộm đập, không nhuộm đập mà giặt, cũng như vậy.
Nếu khiến chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập, mà bà con giặt, nhuộm, đập; nếu khiến chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập mà thân quyến, chẳng phải thân quyến cùng giặt, nhuộm, đập; nếu khiến thân quyến, chẳng phải thân quyến cùng giặt, nhuộm, đập mà thân quyến giặt, nhuộm, đập; nếu khiến thân quyến, chẳng phải thân quyến cùng giặt, nhuộm, đập, mà chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập; nếu khiến thân quyến, chẳng phải thân quyến cùng giặt, nhuộm đập mà thân quyến, chẳng phải thân quyến cùng giặt, nhuộm, đập đều Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu y chưa có thể giặt, nhuộm, đập mà khiến chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập, Đột-kiết-la. Nếu khiến thân quyến giặt, nhuộm, đập, mà chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập thì không phạm. Ngoài ra như trong giới nhận y đã nói.

VI. XIN Y NƠI NHÀ PHI THÂN LÍ56

A. DUYÊN KHỞI
1. Xin y từ phi thân lý
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.57 Khi ấy, trong thành có gia chủ58 mặc áo tốt, tin ưa Phật Pháp, thường đến nghe pháp. Một hôm, gia chủ kia mặc áo tốt hai lớp, cùng với các vị khách đi ra khỏi thành, viếng thăm đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo. Đức Phật vì họ nói pháp, chỉ dạy những điều lợi ích, khiến họ vui mừng, rồi đảnh lễ từ biệt ra về, gặp Bạt-nan-đà.59 Bạt-nan-đà [27b01] lại vì họ nói pháp. Đến lúc từ biệt, họ nói:
“Ngày mai, mời trưởng lão hạ cố dùng bữa cơm đạm bạc.”
Trả lời:
“Tôi không thiếu ăn, mà khổ vì thiếu mặc. Ông có thể cho tôi chiếc áo đang mặc không?”
Gia chủ nói:
“Sẽ cho, về nhà tính lại, không tiện cho liền được.”
Bạt-nan-đà nói:
“Tôi nghe gia chủ ưa thích bố thí, vì sao đối với tôi chỉ có thờ ơ thôi!”
Lại nói:
“Tôi nói pháp là giúp mọi người có thể xa lìa sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi khổ não, nên phế bỏ việc mưu sinh cho chính mình. Tại sao nay ông lại tiếc lẫn một chiếc áo ấy?”
Lúc này gia chủ liền cởi áo cho rồi đi đến cửa thành, người giữ cửa hỏi:
“Vừa rồi ông mặc hai lớp áo đi ra, mà bây giờ mặc áo mỏng trở về; vì cho người nữ hay là vì gặp giặc cướp đoạt?”
Ông trưởng giả nói:
“Tôi không cho người nữ, cũng không gặp giặc cướp, mà bị Sa-môn Thích tử cưỡng bức xin.”
Người giữ cửa nói:
“Ông đừng nói như vậy! Tôi nghe Sa-môn Thích tử ít muốn, biết đủ. Nếu ai cúng dường còn không bằng lòng nhận, tại sao hôm nay lại cưỡng xin vật người?”
Gia chủ kể lại sự việc như trên. Những người không tin ưa Phật pháp, nghe liền lên tiếng tuyên bố: “Gần đúng như cướp đoạt. Nếu ông gần gũi cũng sẽ lại quá quắt (như vậy)*. Sa-môn Thích tử này thường khen sự bố thí, chê không cho mà lấy, nhưng nay cưỡng đoạt y vật của người thì đâu khác gì bọn cướp?”
Gia chủ về nhà, người trong nhà hỏi, cũng trả lời như trên.
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi dẫn đến chỗ đức Phật, đem sự việc bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo mặc y thô rách, các thân quyến thấy, nói:
“Tại sao mặc y rách này, mà không đến con lấy?”
Đáp:
“Đức Phật không cho phép chúng tôi đến cư sĩ hay vợ cư sĩ xin y. Nếu đem y cúng cho Tăng, tôi sẽ nhận từ Tăng.”
Các thân quyến nói:
Chính con muốn cúng cho thầy, không muốn cúng cho Tăng, để người khác nhận.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Nếu đức Phật cho phép chúng tôi xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ thân quyến thì cũng sẽ không mặc xấu rách thế này!”
Các thân quyến thưa:
“Chỉ có thân quyến với nhau mới biết (những gì)* có thể cho và biết (những gì) có thể nhận. Mong đem việc này bạch lên đức Phật.”
Các Tỳ-kheo liền đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

2. Tỳ-kheo bị cướp y
[27c01] Bấy giờ có số đông Tỳ-kheo đi theo đoàn khách buôn, lạc đường gặp bọn cướp trấn lột hết y, để thân trần truồng mà đến thành Xá-vệ. Người đi đường thấy, hỏi:
“Ông là người nào?”
Trả lời:
“Tôi là Sa-môn Thích tử.”
Lại hỏi:
“Y bát của ông đâu?”
Trả lời:
“Bị bọn cướp cướp hết cả rồi.”
Khi đến Kỳ-hoàn, các Tỳ-kheo hỏi, cũng đáp như vậy.
Lại hỏi:
“Nếu ông là Tỳ-kheo thì thọ giới, Bố-tát, Tự tứ như thế nào?”
Đáp:
“Thọ giới, Bố-tát, Tự tứ như vậy!”
Các Tỳ-kheo (hỏi)* rồi vẫn không đưa y cho,60 liền đến chỗ Phật. Đức Phật quở trách:
“Tại sao các ông đem thân trần truồng diện kiến Như Lai! Há không thể dùng lá cây hay cỏ để che thân được ư!?”
Rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay thân trần truồng đến trước Như Lai, Đột-kiết-la.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Ngài không cho phép chúng con xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến; (trong khi)* thân quyến của chúng con ở cách đây rất xa thì làm sao có y được?”
Đức Phật hỏi:
“Các ông đã đến nơi chỗ Tỳ-kheo cựu trú chưa?”
Thưa:
“Chúng con đến rồi.”
Lại hỏi:
“Tại sao họ không đưa y cho các ông?”
Thưa:
“Các thầy ấy vừa thấy chúng con, liền hỏi: Thọ giới, Bố-tát, Tự tứ thế nào? Tuy (chúng con)* trả lời như pháp, nhưng không thấy đưa y cho.”
Đức Phật chuyển lời quở trách các cựu trú Tỳ-kheo:
“Tại sao chính mắt trông thấy Tỳ-kheo thân trần truồng mà không xót thương!”
Đối với Tỳ-kheo mất y, Ngài khen hạnh ít ham muốn, biết đủ, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến, trừ nhân duyên,61 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Nhân duyên: Y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi, y bị rách. Đó gọi là nhân duyên.
Nếu y bị đoạt cho đến y bị hư hoại; vốn có y khác và có y để chỗ khác thì đều không được xin. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la.

VII. NHẬN Y QUÁ PHẦN62

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.63 Khi ấy số đông Tỳ-kheo từ ấp Ba-lợi64 đến chỗ đức Phật, gặp bọn cướp cướp mất y, cùng nhau bàn:
“Tuy đức Phật cho phép, trong năm nhân duyên, được xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến, nay chúng ta không biết đến xin ai!”
Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Các Tỳ-kheo bị mất y này không biết xin từ ai. Ta nên vì họ xin, nếu có dư thì ta sẽ lấy”. Nghĩ rồi, liền đem việc này nói với các Tỳ-kheo mất y. Các Tỳ-kheo mất y nói:
“Tốt lắm!”
Lúc ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo nói với cư sĩ hay vợ cư sĩ khắp trong thành rằng:
“Có các Tỳ-kheo từ ấp Ba-lợi đến, muốn viếng thăm đức Thế Tôn, gặp bọn cướp cướp mất y, [28a01] quý vị có thể cùng chia nhau cúng y cho họ.”
Các cư sĩ, vợ cư sĩ nghe rồi, mỗi người chia nhau cúng nên nhận được y phục khá nhiều. Mỗi vị đều đầy đủ. Các Tỳ-kheo mất y nói:
“Chúng tôi đủ rồi, không cần xin nữa.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:
“Các thầy có nhân duyên xin y, mà chúng tôi không được phép. Chúng tôi nhờ nhân duyên của quý thầy mới có lý do để xin.”
Các Tỳ-kheo mất y nói:
“Tùy ý các trưởng lão.”
Lúc ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo lại đi xin các nơi nữa, nhận được y rất nhiều. Bấy giờ, các cư sĩ họp cùng nhau bàn:
“Tỳ-kheo mất y không có bao nhiêu người, chúng ta nam nữ, lớn nhỏ trong thành đều chia nhau cúng dường rồi, như vậy là quá đủ, tại sao xin nữa! Há không phải là muốn tích trữ để mua bán, đổi chác, mà không tu Phạm hạnh chăng?”
Lúc ấy, các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ông có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, bị hư hoại, mà xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến. Nếu cư sĩ hay vợ cư sĩ muốn cúng nhiều y thì Tỳ-kheo này nên nhận hai y,65 nếu nhận quá mức này, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

VIII. KHUYÊN CƯ SĨ TĂNG GIÁ Y66

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.67 Khi ấy, Bạt-nan-đà68 thường tới lui một nhà cư sĩ vì họ nói pháp và, vì họ liệu lý các việc quan cùng tật bệnh. Có một Tỳ-kheo, buổi sáng sớm khoác y bưng bát vào thành khất thực, đến nhà này gặp hai vợ chồng kia đang cùng nhau bàn: “Bạt-nan-đà đối với ta có ân, nên dùng giá tiền y như vậy để may y cho thầy”. Tỳ-kheo kia khất thực trở về nói với Bạt-nan-đà:
“Thầy có phước đức.”
Bạt-nan-đà hỏi:
“Có phước đức gì ?”
Trả lời:
“Hôm nay, tôi vừa khất thực, đến nhà cư sĩ đó, nghe vợ chồng họ bàn: ‘Bạt-nan-đà đối với ta có ân, nên dùng giá tiền y như vậy để sắm y cho thầy.’ Nay thầy đến đó, chắc được y không ngại.”
Sáng sớm, đến giờ khất thực, Bạt-nan-đà khoát y, bưng bát đến nhà kia. Cư sĩ liền ra đón chào. Bạt-nan-đà hỏi:
“Quý vị vì tôi dùng số tiền y như vậy để sắm y cho tôi phải không?”
Thưa:
“Đúng vậy.”
Bạt-nan-đà nói:
“Quý vị tự biết, tôi không mặc y xấu. Nếu sắm y tốt thì tôi sẽ mặc. Tôi lúc nào cũng nhớ đến việc vì quý vị mà liệu lý (mọi việc)* từ việc quan cho đến tật bệnh. [28b01] Nếu y không tốt sẽ cho đệ tử hay đem cất trong rương, (như vậy)* vật này là đồ bỏ không có phước thí dụng.”
Sau đó, cư sĩ kia nói với người xung quanh rằng:
“Thầy này không nhàm chán, khó nuôi, không biết đủ, đã đòi gấp năm, sáu lần hơn so với chỗ phát tâm của tôi mà vẫn không thỏa lòng. Trước đây lòng tốt có dư, nhưng bây giờ thì bị bào mòn hết rồi, nghiêng về không cúng.”
Lúc ấy, các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ông có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, có cư sĩ hay vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến69 cùng bàn: ‘Nên dùng số tiền như vậy sắm y cho Tỳ-kheo có tên như vậy’. Tỳ-kheo này, trước đó không được yêu cầu tuỳ ý, bèn đến nhà cư sĩ, vợ cư sĩ nói: ‘Người vì tôi dùng số tiền như vậy, sắm y phải không?’ Trả lời: ‘Đúng như vậy’. Liền nói: ‘Lành thay! Cư sĩ, vợ cư sĩ có thể sắm y như vậy cho tôi’, vì muốn đẹp, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Trước đó không được yêu cầu tuỳ ý: Nghĩa là trước không hỏi Tỳ-kheo muốn thứ y nào.
Vì muốn đẹp: Tức là yêu cầu khiến (may)* thật đẹp hơn đã hứa trước.
Nếu đòi y tốt từ thân quyến, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

IX. KHUYÊN HỢP LẠI TĂNG GIÁ Y70

A. DUYÊN KHỞI
Khi đức Phật ở tại nước Xá-vệ,71 Bạt-nan-đà72 lại thường lui tới các gia đình. Có vợ chồng kia cùng bàn với nhau: “Chúng ta mỗi người nên vì Bạt-nan-đà dùng số tiền y như vậy để sắm y cho Bạt-nan-đà”. Tỳ-kheo khất thực nghe, về nói lại. Bạt-nan-đà liền đến hỏi cư sĩ, vợ cư sĩ rằng:
“Tôi có nghe quý vị mỗi người vì tôi, dùng số tiền như vậy để sắm y (cho tôi)* thật vậy phải không?”
Thưa:
“Đúng vậy.”
Bạt-nan-đà nói:
“Có thể hợp lại may một y hết sức tốt. Nếu thật tốt thì tôi sẽ mặc và thường nhớ đến quí vị. Nếu không tốt thì sẽ cất trong rương. (Như vậy)*, vật này sẽ là đồ bỏ không có phước thí dụng.”
Khi ấy, cư sĩ, vợ cư sĩ liền nổi cực giận nói:
“Thầy này không biết nhàm chán, khó nuôi, khó biết đủ. Tuy yêu cầu hợp lại thành một y, nhưng so với chỗ hứa phát tâm của chúng tôi lại gấp năm, sáu lần, còn không thỏa lòng. Người ác như vầy, không đủ để tồn tại; từ nay không cho phép lai vãng đến nữa.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đến chỗ đức Phật đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
[28c01] “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nếu có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến73 cùng nhau bàn: ‘Mỗi người chúng ta sẽ dùng số tiền y như vậy, sắm y cho Tỳ-kheo có tên như vậy’. Tỳ-kheo này, trước đó, không được yêu cầu tùy ý, liền đến hỏi cư sĩ, vợ cư sĩ rằng: ‘Quý vị vì tôi dùng số tiền y như vậy, sắm y phải không?’ Trả lời: ‘Đúng như vậy’. Liền nói: ‘Lành thay! Cư sĩ, vợ cư sĩ có thể họp lại sắm một y cho tôi’, vì muốn đẹp, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

9 Hán: Pháp 法.
[1] Xả đọa 捨墮: là dịch ý. Dịch âm, Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, 尼薩耆波夜提. Tăng-kỳ 8, tr. 292b10: “Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, y dư cần phải xả trước Tăng; sau đó sám tội Ba-dật-đề. Xả mà không sám hối, phạm tội việt tì-ni. Ba-dạ-đề, nghĩa là có thể đọa ác đạo.” Tứ phần 6, tr. 601c6: Xả đọa pháp 捨墮法. Thập tụng 5, tr. 30b12: “Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, y ấy cần phải xả. Tội ba-dạ-đề cần phải sám hối.” Căn bản 16, tr.711c26: “Ni-tát-kỳ ba-dật-để-ca, vật ấy cần phải xả; tội ấy cần phải sám.” Pāli (Vin. iii. 195): nissaggiya pācittiya.
[2] Trường y 長衣畜: Pāli. Atirekacīvara (chứa y dư), Vin. iii. 195.
[3] Tăng-kỳ 8, tr. 291a17: Tỳ-xá-li 毘舍離, Tứ phần 6, tr. 601c6, Thập tụng 5, tr. 29c27: Xá-vệ thành (quốc) như Ngũ phần, Căn bản 16, tr. 711a29: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
[4] Lục quần Tỳ-kheo 六群比丘: Pāli. Chabbaggiyā bhikkhū.
5 Y phấn tảo 糞掃衣: Skt. pāṃsu-kūla, Pāli. paṃsu-kūla, y (vải) lượm từ đống rác.
6 Hán: Trước 著, mặc, đắp, che đậy.
7 Ngũ gia 五家, năm nhà. Có hai cách hiểu: 1. Luận Đại trí độ 13, T25n1509, 156c02, giải thích về tội trộm cắp có 10 tội, mà tội thứ 10 thì của cải sẽ trở thành của chung năm nhà, là thuộc về vua, hoặc giặc cướp, hoặc bị nạn lửa, nước, hoặc con bất hiếu sử dụng. 2. Hoặc đoán định “Ngũ gia” theo từ Phạn là “Pañcakula”, thì từ điển Phạn-Hòa (Wogihara biên soạn) định nghĩa là dịch nhân 役人 (người giúp việc), chức viên 職員 (viên chức). Vậy có thể hiểu theo hai nghĩa: nhóm sáu Tỳ-kheo nói họ cất chứa y không vì nạn vua, giặc…; hoặc họ nói họ cất chứa không phải là người giúp việc.
8 Hán: Tam y thường câu 三衣常俱, ba y thường đủ.
9 Chỉ có ở Ngũ phần, các bộ khác không có.
10 Pāli: Pāṭheyyakā bhikkhū.
11 Ấp Sa-bệ-đà 娑鞞陀邑, Pāli. Sāketa, thị trấn ở Kosala.
12 Hán: Ca-thi(hi)-na y 迦絺那衣, Pāli. Kaṭhina, dịch là y công đức. Theo Tứ phần 43, Kiền độ Ca-thi-na y thì, các Tỳ-kheo An cư, ngày 15 tự tứ xong, ngày 16 đến diện kiến đức Thế Tôn, giữa đường gặp trời mưa y phục đều bị ướt hết, vì mang Tăng-già-lê nặng mệt mỏi, nên đức Phật cho phép thọ y công đức này.
13 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng: Không có phần Giới tướng này. Căn bản: Có Giới tướng này như Ngũ phần.
14 Tứ phần 6, tr. 601c25: Tôn giả A-nan được một tấm y phấn tảo quý giá (Quý giá phấn tảo y 貴價糞掃衣; quý giá ở đây nên hiểu là “thực chất, đúng nghĩa.” Tức đúng loại y bị vất bỏ như là rác, chứ không phải y trân quý, có giá trị). (xem thêm cht. 42, Ch. i).
15 Hán: Khâm-bà-la y 欽婆羅衣: Pāli. Kambala, vải lông, lông thú.
16 Dã-tàm-miên y 野蠶綿衣, Pāli. Koseyya.
17 Trữ y 紵衣, Pāli. Khoma.
18 Ma y 麻衣, Pāli. Bhaṅga.
19 Tịnh thí 淨施, hay tác tịnh. Tăng-kỳ 8, tr. 292b14: “Được phép chứa y dư trong vòng 10 ngày không tác tịnh. Quá 10 ngày, ni-tát-kỳ ba-dạ-đề.” Căn bản 16, tr.711c26: “y dư trên 10 ngày, nếu tác phân biệt pháp (tác tịnh), được phép chứa.” Tứ phần, Ba-dật-đề 59: có hai cách tịnh thí, chân thật và triển chuyển. Chân thật tịnh thí là biếu luôn. Triển chuyển tịnh thí chỉ cho trên danh nghĩa, người cho vẫn dùng với ý niệm “mượn tạm.” Pāli, Pācittiya 59 (Vin.iv.122): vikappana, tác tịnh hay tịnh thí, có hai cách: sammukhavikappana, hiện tiền tác tịnh và parammukha-vikappana, khiếm diện tác tịnh.
20 Pāli: ticīvaravippavaseyya, Vin. iii. 198.
21 Tăng-kỳ 8, tr. 291a17, Tứ phần 6, tr. 603a19, Thập tung 5, tr. 31b10: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城 như Ngũ phần. Căn bản 17, tr. 712b9: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
22 Hán: Phấn tảo y Tỳ-kheo 糞掃衣比丘. Tăng-kỳ 8: Xá-lợi-phất muốn về thăm quê, gặp phải lúc mưa dầm, tăng-già-lê nặng vì ướt sũng, nên không đi được. Tứ phần 6, Tỳ-kheo bị bệnh Can tiêu 乾痟病, chứng gầy còm, hay nhức đầu kinh niên? Từ điển Khang Hy: tiêu 痟, chứng bệnh nhức đầu. Có lẽ Skt. śoṣa (Pāli: sosa): bệnh lao phổi (William-Monier).Căn bản 17: Ngày Tăng bố-tát, đại Ca-diếp không đến được vì ở cách sông, gặp khi trời mưa, qua sông nước lớn, y bị ướt. Pāli, Pācittiya 2: aññataro bhikkhu Kosambiyaṃ gilāno hoti, một Tỳ-kheo ở Kosambi bị bệnh.
23 Tăng-già-lê 僧伽梨: Skt=Pāli. Saṅghātī, nghĩa là y hai lớp, loại y trùm kín thân thể.
24 An-đà-hội 安陀會: Skt. Antarvāsa, Pāli. Antaravāsaka, nghĩa là y trong hay y dưới.
25 Ưu-đa-la-tăng 優多羅僧: Hoặc gọi là Uất-đa-la-tăng 鬱多羅僧, Skt=Pāli. uttarāsaṅga, là y khoác vai. Hán dịch là Thượng y.
26 Hán: Cát tiệt y 割截衣. Pāli: chinnaka, vải được cắt thành từng miếng vuông như thửa ruộng, rồi may lại thành. Thường gọi là phước điền y.
27 Hán: Đồng giới, dị giới 同界異界; Tứ phần 6: Một giới… nhiều giới; Thập tụng 5: Một giới, biệt giới; Căn bản 17: Một thế phần, nhiều thế phần. Nghĩa là, mỗi nơi có một hay nhiều phạm vi phụ cận. Pāli: ekūpacāra, nānūpacra, tinh xá có một vùng phụ cận, hay nhiều vùng phụ cận.
28 Cung 弓: Skt. dhanus, Pāli. dhanu, đơn vị đo chiều dài ở Ấn Độ thời xưa. Tứ phần 6, tr. 604a21: Cung pháp nước Giá-ma-lê trung bình dài bốn khủy tay. Cf, Tứ phần luật thập tỳ-ni nghĩa sao phụ yếu ký 5, X44n748, tr. 849c18: Một cung dài bốn khủy, tức bảy thước hai tấc. Câu-xá luận tụng sớ luận bổn 12, T41n1823, tr. 885b24: một cung dài bảy thước hai tấc.
29 Tăng-kỳ 8, tr. 298b25; Tứ phần 6, tr. 604b29; Thập tụng 5, tr. 33b3; Căn bản 17, tr. 714c28. Pāli: Nissaggiya 3, akālacīvaram uppajjeyya. Vin. iii. 202.
30 Tăng-kỳ 8, tr. 298b25; Tứ phần 6, tr. 604b29: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城, như Ngũ phần; Thập tụng 5, tr. 33b3: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản 17, tr.714c28: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
31 Hán: Y 衣. Y ở đây đồng nghĩa như chữ vải.
32 Tăng-kỳ 8, tr. 299b4, Tứ phần 6, tr. 605c6, Thập tụng 6, tr. 42a25. Căn bản 18, tr. 722b14: Ni-tát-kỳ 5. Pāli, nissaggtiya 5, Cīvarapaṭigganhaṇa, Vin. iii. 207ff.
33 Tăng-kỳ 8, tr. 299b4; Thập tụng 6, tr. 42a25: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城 như Ngũ phần; Tứ phần 6, tr. 605c6: La-duyệt thành 羅閱城; Căn bản 18, tr. 722b14: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
34 Hán: Ưu-thiện-na ấp優善那邑. Tứ phần: Nước Uất-thiền 鬱禪國.
35 Tăng-kỳ 8, 299b4: Ưu-bát-la Tỳ-kheo-ni優鉢羅比丘尼. Tứ phần 6, tr. 605c7: Liên Hoa Sắc 蓮華色. Căn bản 19, tr. 726b11: Liên Hoa Sắc Tỳ-kheo-ni 蓮華色比丘尼. Thập tụng 6, tr. 42a25: Hoa Sắc Tỳ-kheo-ni 華色比丘尼. Pāli, Uppalavaṇṇā.
36 Hán: Hữu thân 有身.
37 Hán: Đồng diệt 同滅.
38 Trong các tài liệu Pāli, Uppalavaṇṇā Therī nổi tiếng về bốn vô ngại giải (paṭisambhidā) và biến hoá thần thông (iddhivikubbana).
39 Vườn An-đà 安陀園: Skt=Pāli. Andhavana, còn gọi là rừng An-đà, rừng Khủng bố (Khủng bố lâm 恐畏林), rừng tối tăm (Ám lâm 闇林). Khu vườn (rừng) này gần tinh xá Kỳ viên ở nước Xá-vệ. Theo Tứ phần thì chỉ nói Liên Hoa Sắc Tỳ-kheo-ni trụ tại một khu rừng khác, không ở chung với các Tỳ-kheo-ni nơi chỗ không nhàn (Rừng hay a-lan-nhã. Lúc này Phật chưa qui định Tỳ-kheo-ni không được sống trong rừng (ni bất trụ lan-nhã).
40 Phân chia vật dụng tức đi cướp.
41 Pāli: Upasena.
42 Pāli: Upananda.
43 Ngoài 3 y như Tỳ-kheo, còn có thêm tăng-kỳ-chi (Pāli: saṃkacchikā, yếm che ngực) và áo tắm (Pāli: udakasāṭikā).
44 Hán: Bất hoạch dĩ 不獲已, không giữ được thôi.
45 Hán: Cưỡng thuyết 強說, dùnglời nói cưỡng ép theo ý mình.
46 Đầu-đà 頭陀: Skt=Pāli. Dhūta, nghĩa là tẩy trừ phiền não cấu bẩn.
47 Phu tọa 敷坐: hay gọi Phu cụ 敷具, Tọa cụ 坐具, Skt. niṣīdana, Pāli. nisīdana, dịch âm là Ni-sư-đàn; là khăn trải để ngồi.
48 Giới tướng này được đức Phật kết lại từ hai sự kiện: Ma-ha Ba-xà-ba-đề và Liên Hoa Sắc. Tứ phần phát xuất từ Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc.
49 Hán: Phi thân lý 非 親 里, chẳng phải thân bằng quyến thuộc với mình.
50 Hán: Mậu dịch 貿易. Pāli: pārivattaka, trao đổi, giao dịch, không hàm ý buôn bán đổi chác. Được phép trao đổi với nhau trong năm chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na. Cf. Vin. iii. 209.
51 Tăng-kỳ 9, tr. 300b22; Tứ phần 6, tr. 607a26; Thập tụng 6, tr. 43a26. Căn bản tr.716a23: ni-tát-kỳ 4. Pāli: nissaggiya 4, purāṇacīvara-dhovāpa. Vin. iii. 205ff.
52 Tăng-kỳ 9, tr. 300b22; Tứ phần 6, tr. 607a26; Thập tụng 6, tr. 43a26: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城 (國) như Ngũ phần. Căn bản tr.716a23: ni-tát-kỳ 4.
53 Tăng-kỳ 9, tr. 300b22 優陀夷. Tứ phần 6, tr. 607a27. Thập tụng 6, 43a26: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷. Căn bản 18, tr. 721b6: Ổ-đà-di 鄔陀夷.
54 Tứ phần: Thâu-lan-nan-đà 偷蘭難陀; Thập tụng: Quật-đa 掘多; Căn bản: Cấp-đa 笈多.
55 Tăng-kỳ 9, tr. 300c26: Cho đến chỉ cần qua một lần gối đầu gọi là y cũ. Tứ phần 6. tr. 607c3; Thập tụng 6, tr. 43b28: Cho đến một lần mặc qua thân. Căn bản 18, tr. 722a27: Là một trong bảy loại y…
56 Tăng-kỳ 9, tr. 301c3; Tứ phần 7, tr. 608a21; Thập tụng 6, tr. 44a29; Căn bản 19, tr. 728a22. Vin. iii. 210. niss. 6, aññātakaviññatti.
57 Tăng-kỳ 9, tr. 302c3; Tứ phần 7, tr. 608a21; Thập tụng 6, tr. 44a29: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) như Ngũ phần; Căn bản 19, tr. 728a22 Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
58 Tăng-kỳ 9, tr. 301c5: Gia chủ A-bạt-tra 阿跋吒. Tứ phần 7, tr. 608a21: Căn bản 19, tr. 728a22 : Gia chủ không tên; Thập tụng 6, tr. 44a29: Cư sĩ không tên; Pāli: seṭṭhiputta, con trai của một nhà phú hộ.
59 Tăng-kỳ 9, tr. 301c6: Ưu-ba-nan-đà 優波難陀; Tứ phần 7, tr. 608a24: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子; Thập tụng 6, tr. 44b1: Bạt-nan-đà 跋難陀; Căn bản 19, tr. 728b17: Ổ-ba Nan-đà 鄔波難陀, là một trong nhóm lục quần Tỳ-kheo.
60 Chi tiết này ngược lại Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản: Các Tỳ-kheo đưa y mặc vào mới đến yết kiến đức Phật.
61 Nguyên Hán: Trừ nhân duyên 除因緣. Tăng-kỳ, Tứ phần; Thập tụng; Căn bản: Trừ dư thời 除 餘 時. Pāli: aññatra samayā.
62 Tăng-kỳ 9, tr. 303a6; Tứ phần 7, tr. 609c13; Thập tụng 6, tr.45a24; Căn bản 20, tr. 729c28. Pāli, niss. 7, tatuttari, Vin. iii. 213.
63 Tăng-kỳ 9, tr. 303a6; Tứ phần 7, tr. 609c13; Thập tụng 6, tr.44c22: Đều thành Xá-vệ hay nước Xá-vệ 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 20, tr. 729c28 Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
64 Tăng-kỳ 9, tr. 303a7: Từ phương Bắc đến Xá-vệ thành, không có tên địa danh; Tứ phần 7, tr. 608c12: Từ nước Câu-tát-la; Thập tụng 6, tr. 44c22: Từ nước Kiều-tát-la; Căn bản 19, tr. 729b6: Có bốn mươi Tỳ-kheo du hành trong nhân gian.
65 Tăng-kỳ: Đắc thọ thượng hạ y 得受上下衣; Tứ phần: Tri túc thọ y 知足受衣; Thập tụng: Ưng thủ thượng hạ y 應取上下衣; Căn bản: Ưng thọ thượng hạ nhị y 應受上下二衣. Pāli: abhihaṭṭhuṃ pavāreyya, yêu cầu tùy y nhận; nhưng, Tỳ-kheo mất cả 3 y, nhận 2 y; mất 2 y chỉ được nhận 1 y. Chỉ mất một y, hoàn toàn không được nhận.
66 Tăng-kỳ 9, tr. 304b21; Tứ phần 7, tr. 610c29; Thập tụng 6, tr. 45c5; Căn bản 20, tr. 731b15. Pāli, niss. 8, upakkhaṭa, Vin. iii. 213.
67 Tăng-kỳ 9, tr. 304b21; Tứ phần 7, tr. 610c29; Thập tụng 6, tr. 45c5: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 20, tr. 731b15: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
68 Tăng-kỳ: Nan-đà và Ưu-ba-nan-đà; Tứ phần: Bạt-nan-đà; Thập tụng: Bạt-nan-đà Thích tử; Căn bản: Ổ-ba-nan-đà.
69 Tăng-kỳ, Tứ phần: Có cư sĩ hay vợ cư sĩ; Thập tụng, Căn bản: như Ngũ phần; Pāli: aññatakassa gahapatissa vā gahapatāniyā, cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến.
70 Tăng-kỳ 9, tr. 305a26; Tứ phần 7, tr. 611b28; Thập tụng 6, tr. 46a26; Căn bản 20, tr. 733a2. Pāli, niss. 9, dutiya-upakkhaṭa, Vin. iii. 217
71 Tăng-kỳ 9, tr. 305a27; Tứ phần 7, tr. 611c01; Thập tụng 6, tr. 46a26: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 20, tr. 733a2: Thệ Đa lâm 逝多林.
72 Tăng-kỳ: Nan-đà và Ưu-ba-nan-đà; Tứ phần: Bạt-nan-đà; Thập tụng: Bạt-nan-đà Thích tử; Căn bản: Ổ-ba-nan-đà.
73 Tăng-kỳ; Tứ phần: Có cư sĩ hay vợ cư sĩ; Thập tụng; Căn bản: như Ngũ phần; Pāli: aññatakassa gahapatissa vā gahapatāniyā, cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến.

X. YÊU SÁCH GIÁ Y QUÁ HẠN74

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.75 Khi ấy, đại thần (thành)* Vương Xá nói với người hầu rằng:
“Ngươi đến chỗ Bạt-nan-đà,76 nhân danh ta đảnh lễ, thăm hỏi và đem số tiền y này cúng cho thầy.”
Sứ giả vâng lệnh, đến chỗ Bạt-nan-đà nói:
“Đại thần tên đó, thăm hỏi sức khỏe và sai tôi đem số tiền y này cúng cho Đại đức, xin Đại đức nhận cho.”
Bạt-nan-đà nói:
“Tôi không được phép nhận số tiền y này, nếu được tịnh y thì sẽ nhận thọ trì.”
Sứ giả hỏi:
“Đại đức có người chấp sự77 hay không?”
Bạt-nan-đà liền chỉ chỗ người chấp sự. Sứ giả liền đến chỗ người chấp sự nói:
“Đại thần tên đó, sai tôi đem số tiền y này cúng cho ngài Bạt-nan-đà, ông có thể nhận giùm, (khi nào Bạt-nan-đà)* đến lấy thì đưa.”
Sứ giả đã đưa rồi trở lại chỗ Bạt-nan-đà bạch:
“Đại đức chỉ chỗ người chấp sự, tôi đã đưa rồi, Đại đức cần y thì có thể đến lấy.”
Bạch xong liền trở về. Sau đó, đại thần lại sai người thân tín đến hỏi Bạt-nan-đà:
“Gần đây tôi có sai sứ đem số tiền (sắm)* y đến gởi nơi người … chấp sự, Đại đức đã mặc y này chưa?”
Bạt-nan-đà nói:
“Tôi chưa lấy mặc.”
(Người kia)* trở về thưa lại như vậy, đại thần nghĩ như vầy: “Ta đã sắm y lâu rồi mà vẫn chưa lấy, chắc coi nhẹ y của ta, cho nên đưa đến như vậy”. Liền lại sai thân tín đến nói với Bạt-nan-đà:
“Tôi cúng y lâu rồi, vì sao không mặc? Nếu không cần thì trả lại cho tôi”.
Bạt-nan-đà trả lời:
“Tôi rất cần”.
Rồi liền đến chỗ ở người chấp sự, nhưng không đúng lúc, nói:
“Nay tôi cần y, có thể cho nhận.”78
Người chấp sự thưa:
“Xin Ngài chờ một chút, hôm nay chúng tôi có cuộc họp, tôi phải đến đó, nếu không đến kịp giờ sẽ bị phạt năm trăm79 tiền vàng.”
Bạt-nan-đà nói:
“Ông thường tin ưa, siêng năng đối với pháp duyên, tại sao hôm nay bỗng coi trọng việc thế tục?”
Người chấp sự nghe nói vậy liền nghĩ như vầy: “Dù khiến bị họ phạt [29a01] vẫn phải giao y, sau đó mới đi”. (Người chấp sự)* liền sửa soạn y để giao. Khi hoàn tất công việc may rồi nên buộc đến trễ. Mọi người hỏi:
“Tại sao người đến trễ ?”
Trả lời: “Bạt-nan-đà đòi y, phải lo liệu để giao, do đó nên mới vậy.”
Mọi người đều nói:
“Vì một Tỳ-kheo mà xem nhẹ quy chế của nhiều người, theo lý không thể tha thứ! Liền bị phạt”
Sau khi người đó bị phạt, bèn nổi giận nói:
“Sa-môn Thích tử tự nói có đạo lý, làm lợi ích cho mọi vật, mà nay ngược lại, khiến cho tôi bị phạt.”
Người không tin ưa Phật pháp cùng nhau nói rằng: “Ông tin kính Sa-môn để rồi đưa đến bị phạt nặng vậy, nếu còn gần gũi sẽ bị nặng hơn nữa.”
Tiếng xấu ác đồn khắp cả thành Xá-vệ, các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi dẫn đến chỗ đức Phật trình bày sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ông có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, hoặc vua hay đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ, vì Tỳ-kheo nên sai sứ mang tiền sắm y đến chỗ Tỳ-kheo. nói: ‘Đại đức, vua, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ kia đưa tiền sắm y này, Đại đức nhận cho.’ Tỳ-kheo này nói: ‘Tôi không được phép nhận tiền sắm y, nếu được y thanh tịnh thì sẽ thọ trì’. Sứ hỏi: ‘Đại đức có người chấp sự hay không?’ Tỳ-kheo liền chỉ chỗ người chấp sự. Người sứ liền đến chỗ người chấp sự nói: ‘Vua, đại thần tên … , đưa tiền sắm y này đến cho Tỳ-kheo tên…, ông vì Tỳ-kheo cất cho, khi Tỳ-kheo cần lấy thì đưa’. Người sứ đưa rồi, trở lại chỗ Tỳ-kheo nói: ‘Đại đức chỉ chỗ người chấp sự, tôi đã đưa tiền cho họ rồi, khi nào Đại đức cần y, cứ đến lấy’. Tỳ-kheo ấy hai lần, ba lần đến chỗ người chấp sự nói: ‘Tôi cần y! Tôi cần y!’ Nếu được thì tốt; nếu không được thì bốn lần, năm lần, sáu lần đến trước người chấp sự đứng im lặng. Nhận được thì tốt, nếu cần cầu quá giới hạn đó, nếu được y, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu không được y, thì chính mình, hoặc sai người tin cậy đến chỗ người sứ, nói: ‘Ông đã vì Tỳ-kheo có tên…. sai người mang tiền sắm y đến, cuối cùng Tỳ-kheo này không nhận được y, ông nên đến lấy lại, đừng để mất’. Sự việc đó phải như vậy.”80
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

XI. XIN TƠ SỢI ĐỂ DỆT Y81

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.82 Bấy giờ, chúng Tăng nhận được nhiều tơ sợi cúng dường, liền cùng phân chia. Các Tỳ-kheo dùng tơ để may Tăng-già-lê, Ưu-đa-la-tăng, An-đà-hội và tất cả các y khác [29b01], lại làm dây lưng, dây ngồi thiền, cho đến dây cột cửa, mà vẫn không hết. Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo liền thuê thợ dệt, dệt làm một y, tơ sợi vẫn còn dư; lại thuê dệt thành chiếu, nhưng vì ít không đủ, bèn đi xin thêm. Trưởng giả, cư sĩ tất cả đều cho. Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo lại nghĩ như vầy: “Ta đặng thiện lợi, từ nay thường xuyên ta chỉ làm việc này”, liền xin nhiều tơ sợi, thuê tất cả thợ dệt để dệt.
Khi ấy, có cư sĩ đến thuê một thợ dệt, dệt y. Thợ dệt nói: “Tôi đã hứa với Tỳ-kheo rồi, nên không dệt được nữa”. Đi khắp mọi nơi đều cũng như vậy. Lúc này, cư sĩ nổi giận mắng:
“Sa-môn Thích tử, thiểu dục tri túc, mà nay lại thuê khắp tất cả thợ dệt, không biết chán đủ, cùng người tham ở đời nào có khác gì đâu! Không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn!”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ông có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự mình đi xin tơ sợi, rồi thuê thợ dệt, dệt thành y,83 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

XII. CHỈ DẪN THỢ DỆT84

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,85 khi ấy Bạt-nan-đà86 thường lui tới nhà một khách buôn nói pháp, chữa bệnh. Người khách buôn nói với vợ:
“Bạt-nan-đà có ân đối với chúng ta, có thể dùng số tơ sợi này thuê thợ dệt thành y, khi tôi trở về sẽ cúng.”
Sau khi (người chồng)* đi, người vợ liền đem tơ sợi đến chỗ thợ dệt thuê dệt thành y, và nói:
“Tính toán cho đủ, đừng để dư, hay thiếu.”
Bạt-nan-đà nghe, liền đến nhà kia, người vợ ra đón chào thăm hỏi và thưa:
“Chồng con bảo con dệt y cho Đại đức, con đã thuê thợ dệt đang dệt.”
Bạt-nan-đà hỏi:
“Thuê ai dệt?”
Thưa:
“Thợ tên đó…”
Bạt-nan-đà liền đến chỗ thợ dệt nói:
“Ông biết chăng! Y này họ dệt cho tôi, ông dệt tốt, cho tỉ mỉ, rộng, tôi sẽ trả ơn ông ít nhiều .”
Người thợ dệt nói:
“Bà kia bảo tôi tính toán cho đủ (theo kiểu đó)*, nay tôi phải làm sao dệt cho tỉ mỉ, rộng được!?”
Bạt-nan-đà nói:
“Chỉ cần dệt cho tốt, nếu chỉ sợi không đủ thì đem ý tôi yêu sách, tự khắc (bà ta)* sẽ đưa cho ông.”
Người thợ dệt theo lời, dệt hết chỉ, đến đòi thêm. Bà vợ khách buôn nói:
“Trước đây tôi đã bảo ông tính toán cho đủ, tại sao nay lại đòi thêm?”
Người thợ dệt đem sự việc trên (kể lại)* trả lời. Người vợ bèn lại đưa thêm. Khi người khách buôn trở về, [29c01] hỏi vợ:
“Trước đây tôi đã bảo bà vì Bạt-nan-đà dệt y, đã dệt chưa?”
Trả lời:
“Xong rồi.”
(Người chồng nói)*:
“Có thể lấy ra (cho tôi)* xem.”
Người vợ liền lấy (cho chồng)* xem, người chồng thấy chiếc y tỉ mỉ, tốt, hỏi:
“Dự dùng tơ sợi ít, sao lại được như vậy?”
Trả lời: “Bạt-nan-đà đến lấy thêm, cho nên được thế này.”
Người khách buôn liền nổi giận mắng:
“Bạt-nan-đà khó nuôi, khó biết đủ, không biết chán đủ. Theo bổn ý của ta thì y này bằng hai lần hơn. Trước kia, tuy là có ân, nhưng nay thì hết rồi!”
(Ông ta)* bèn không cúng y nữa. Tiếng xấu như vậy đồn khắp gần xa, các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đưa đến chỗ Phật, đem sự việc bạch lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nếu có cư sĩ, vợ cư sĩ87 khiến thợ dệt vì Tỳ-kheo dệt làm y. Trước đó, Tỳ-kheo này không được yêu cầu tùy ý,88 bèn đến chỗ thợ dệt bảo: ‘Ông biết không! Y này dệt cho tôi; ông vì tôi dệt cho tốt, khiến cho thật tỉ mỉ rộng, tôi sẽ đền ơn riêng cho ông’. Sau đó dù bằng một bữa ăn, hay chỉ đáng giá một bữa ăn, nhận được y, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

XIII. ĐOẠT LẠI Y89

A. DUYÊN KHỞI
Khi đức Phật ở tại thành Xá-vệ,90 bấy giờ Bạt-nan-đà91 nói với đệ tử là Đạt-ma:92
“Nay ta muốn cùng ngươi du hành đến nước Câu-tát-la.”
Đạt-ma thưa:
“Nước đó lạnh, không có y, con không thể đi được.”
Bạt-nan-đà nói:
“Nếu ngươi có thể đi thì ta sẽ cho ngươi y.”
Đạt-ma nói:
“Cho con y trước, sau đó sẽ đi.”
(Bạt-nan-đà)* liền cho y. Đã được y rồi, (Đạt-ma)* lại không bằng lòng đi. Bạt-nan-đà nói:
“Ngươi nói được y sẽ đi, tại sao được y rồi lại không bằng lòng? Nếu không thể đi thì đem y trả lại cho ta.”
Đạt-ma thưa:
“Thầy đã cho rồi, tại sao đòi lại?”
Bạt-nan-đà nói:
“Ta chẳng phải cho ngươi, mà vì muốn cùng du hành nên mới cho. Nay ngươi không đi, lấy lý do gì mà không trả lại cho ta!”
Bạt-nan-đà liền cưỡng đoạt y. Đạt-ma liền lớn tiếng khóc la, Tỳ-kheo trưởng lão, hỏi:
“Tại sao ông khóc?”
Thưa: “Thầy đoạt y con.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách Bạt-nan-đà:
“Là Tỳ-kheo tại sao cưỡng đoạt y người?”
Thưa:
“Tôi muốn cùng đi đến nước Câu-tát-la nên dùng y để thuê ông ấy. Ông ta đã được y rồi liền không bằng lòng đi, cho nên lấy lại, chứ không phải là cưỡng đoạt.”
Các Tỳ-kheo lại bằng mọi cách quở trách Đạt-ma: [30a01] “Tại sao ông dối trá với thầy, hứa đi nếu đòi được y, được rồi mà không đi?”
Rồi đưa cả hai cùng đến chỗ đức Phật và đem sự việc bạch lên ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Thật sự ông có đem y cho đệ tử rồi đoạt lại hay không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật lại hỏi Đạt-ma:
“Thật sự ông có dối trá với thầy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách hai Tỳ-kheo rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đem y cho Tỳ-kheo rồi đoạt lấy lại, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo đem y cho các Tỳ-kheo rồi lại sai Sa-di hay người giữ vườn đoạt lấy lại. Các Tỳ-kheo hỏi:
“Thầy không nghe đức Phật cấm đem y cho Tỳ-kheo rồi không được lấy lại hay sao?”
Thưa: “Có nghe, nhưng hiện tại sai Sa-di hay người giữ vườn đoạt lại, nên không trái với lời Phật cấm.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Tự mình đoạt, dạy người đoạt, đâu có khác gì?”
Bằng mọi cách quở trách rồi, đem vấn đề bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ông có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đem y cho Tỳ-kheo rồi, hoặc tự đoạt, hay sai người đoạt, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo khách gởi y cho cựu trú Tỳ-kheo, rồi đi lâu ngày trở về, vì sợ phạm giới này nên không dám đòi lại. Lại có các Tỳ-kheo trên đường đi, gởi y cho Tỳ-kheo, vì đường đi đã xa, lại sợ phạm giới này nên cũng không đến đòi y lại; hoặc có đòi rồi lại sanh hổ thẹn, nghĩ là phạm giới này, tác pháp hối quá Xả đọa. Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách khen ngợi thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu đòi y đã gởi mà phạm Xả đọa thì điều này không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, đã đem y cho Tỳ-kheo, sau vì giận, không vui, hoặc tự đoạt, hay sai người khác đoạt, nói như vầy: ‘Trả y cho tôi, không cho thầy’, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.93

XIV. XOAY TĂNG VẬT VỀ MÌNH94

A. DUYÊN KHỞI
[30b07] Đức Phật ở tại thành Vương Xá.95 Khi ấy, có số đông cư sĩ cùng thỉnh Phật và chúng Tăng. Trong đó, có người bửa củi, có người lấy nước, có người rưới nước đất quét dọn, có người trải tọa cụ, có người rải hoa, có người trải tòa cao, có người lo trai soạn. Sáng sớm hôm đó, Bạt-nan-đà96 khoác y, bưng bát đến trước nhà thỉnh, tới chỗ mọi người, tuỳ theo việc làm của họ mà khen ngợi, lại nói:
“Hiện tại, mọi người làm việc tốt đẹp và hoan hỷ.”
Mọi người nói:
“Chúng con thật sự vui mừng được làm mọi thứ để cúng dường. Ngoài việc đồ ăn thức uống, mỗi thứ đầy hương vị thơm ngon, còn cúng dường y vật cho chúng Tăng nữa.”
Bạt-nan-đà nói:
“Mọi người đã cúng dường y vật cho chúng Tăng rất nhiều. Nếu quý vị cúng nữa thì cũng chỉ là chất đống thành vật vô dụng, là đồ bỏ làm sao có được cái dụng phước đức, mà không cho tôi! Nếu cho tôi, tôi luôn sẽ mặc bên mình để nhớ nghĩ nhau, ốm đau, việc quan, sẽ lo liệu nhau.”
Mọi người nghe vậy liền cùng họp bàn, trong đó có người nói: “Nếu Tăng không cần thì hãy đem cho vị này, để cho việc cúng dường của chúng ta, phước được tác dụng.” Hoặc có người nói: “Với bản nguyện của chúng ta cúng cho Tăng, tại sao lại hướng cúng cho một người?”. Ý kiến cho (một người)* đông, nên mọi người cùng đồng ý cúng cho Bạt-nan-đà.
Bấy giờ, Bạt-nan-đà gánh y, vác nặng trở về trú xứ của Tăng, các Tỳ-kheo khen:
“Thầy là người có phước đức, làm thế nào mới đi ra một lát mà có được số y như vậy?”
Bạt-nan-đà nói:
“Khéo miệng nói êm tai nên được chứ chẳng do phước đức gì cả.”
(Bạt-nan-đà)* liền kể lại đầy đủ lý do câu chuyện được y. Thế là các trưởng lão Tỳ-kheo nghe được, bằng mọi cách quở trách:
“Ông là người ngu si, tại sao xoay vật cúng cho Tăng về riêng cho mình?!”
Sau khi thiết dọn trai soạn đầy đủ, các cư sĩ ấy sai người đến thỉnh Phật. Đức Thế Tôn khoác y, ôm bát đi giữa Tỳ-kheo Tăng đi đến nhà kia, đến an toạ vào chỗ ngồi. Các cư sĩ đích thân dâng cúng các món ăn. Ăn xong họ dâng nước, song chẳng có (phẩm vật nào để)* cúng dường. Những người trước kia không muốn cúng cho Bạt-nan-đà, họ thầm thì bàn với nhau: “Bữa cơm hôm nay của chúng ta, không phải không đầy đủ, vì những người ấy vô cớ đem y vật cúng cho Tăng cúng riêng cho một người, nên việc cúng dường chúng Tăng thiếu như thế, làm sao không hổ thẹn được!?”
Các Tỳ-kheo hỏi:
“Các vị xầm xì, nói điều gì đó?”
Họ đem sự việc kể lại đầu đuôi câu chuyện. [30c01] Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách Bạt-nan-đà:
“Ông là người ngu si, tại sao xoay vật cúng cho Tăng về riêng cho mình?”
Bấy giờ đức Thế Tôn vì các cư sĩ nói diệu pháp rồi rời chỗ ngồi ra về. Các trưởng lão Tỳ-kheo đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, xoay vật cúng cho Tăng về riêng cho mình, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Có Tỳ-kheo không biết là vật định cho Tăng, xoay về cho mình, sau đó mới biết, sanh tâm hổ thẹn, hoặc đã hối quá. Do đó bạch Phật, nhân việc này đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, khen sự thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu không biết vật cúng cho Tăng mà xoay về cho mình, người đó phạm Xả đọa thì điều này không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết phẩm vật đàn-việt muốn cúng cho Tăng, lại xoay về cho riêng mình, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Biết: Tự mình biết hoặc nghe từ người khác.
Vật (cúng)* cho Tăng:97 Hoặc người phát tâm, nói: “Tôi sẽ đem phẩm vật này cúng cho chúng Tăng kia”.
Nếu muốn xoay vật cúng cho Tăng về cho người khác, Ba-dật-đề. Cho Tăng khác, Tỳ-kheo-ni Tăng, hai bộ Tăng, Tứ phương Tăng, hay cho tháp đều Đột-kiết-la.
Nếu xoay phẩm vật muốn cúng cho Tỳ-kheo-ni Tăng, hai bộ Tăng, Tứ phương Tăng cũng như vậy.
Nếu xoay phẩm vật muốn cúng cho tháp về mình, cho Tỳ-kheo Tăng, Tỳ-kheo-ni Tăng, hai bộ Tăng, Tứ phương Tăng, người khác, tháp khác cũng đều Đột-kiết-la.
Nếu xoay phẩm vật muốn cho người cũng như vậy, cho đến xoay một miếng ăn định cho súc sanh này, đem cho súc sanh khác cũng Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bạch Tăng, Tăng cho, hoặc thí chủ tự ý xoay vật muốn cúng cho Tăng đem cho mình thì không phạm.

XV. THUỐC BẢY NGÀY98

A. DUYÊN KHỞI
Đức Thế Tôn ở tại thành Vương Xá.99 Bấy giờ, Tất-lăng-già-bà-ta100 ở núi Lăng-cầu-la, bay lên không trung rưới nước rửa bụi nơi phòng ở. Lúc đó vua Bình-sa cũng đi đến núi ấy. Tất-lăng-già thấy vua đến, lập tức trở về lại mặt đất, thưa rằng:
“Lành thay Đại vương mới đến! Mời Đại vương ngồi nơi này.”
Vua ngồi rồi, hỏi:
“Tại sao ngài tự làm? Không có người giúp việc101 sao?”
(Tất-lăng-già)* nói:
“Không.”
Nhà vua liền lệnh cho một vị cận thần:
“Nên cung cấp người giúp việc* cho Tỳ-kheo này.”
[31a01] Tất-lăng-già nói:
“Đức Phật không cho phép chúng tôi nuôi người giúp việc*.”
Vua nói:
“Có thể đem việc này bạch lên đức Phật.”
Sau khi nhà vua đi, (Tất-lăng-già)* liền đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới xong, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay, cho phép các Tỳ-kheo nuôi người giúp việc*”.
Tuy vua đã ra lệnh vị đại thần kia, nhưng ông ta không tin ưa Phật pháp cuối cùng không cung cấp người. Tất-lăng-già sau đó cũng không đến hỏi. Một hôm, Tất-lăng-già đắp y bưng bát vào thành khất thực, vua cùng quần thần từ trên lầu cao nhìn thấy, liền nghĩ như vầy: “Trước đây, ta hứa cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo này, không biết đã làm chưa?” liền hỏi vị đại thần trước, ông ta tâu:
“Dạ, chưa cấp.”
Vua lại hỏi:
“Từ năm lần ra lệnh đến nay là bao nhiêu ngày?”
Đại thần tâu:
“Đã năm trăm ngày.”
Vua bảo:
“Tùy theo số ngày này mà cung cấp.”
Vị đại thần vâng lệnh, liền chọn năm trăm nhà, mỗi nhà một người để cấp. Bấy giờ, năm trăm nhà, mỗi ngày sai một người đến để lau quét phòng xá và thừa hành mọi việc.
Lúc ấy, người thôn kia đến ngày lễ hội, nam nữ trang sức y phục đẹp rực xuất hành dạo chơi. Có một người con gái nhà nghèo vừa đi vừa khóc lớn. Lúc ấy, Tất-lăng-già vào thôn khất thực, thấy người con gái khóc lóc, hỏi bà mẹ cô gái:
“Con gái của bà tại sao lại khóc la như vậy?”
Thưa:
“Hôm nay, mọi người đều trang sức y phục đẹp xuất hành dạo chơi, nhà tôi bần cùng không lấy chi chưng diện với người cho nên nó buồn, nó khóc.”
Lúc ấy, Tất-lăng-già nhìn thấy con bò đang gặm cỏ, nói với bà mẹ cô gái:
“Lấy một ít cỏ đến đây!”
Bà ta liền lấy đưa. Tất-lăng-già kết cỏ lại, biến hóa thành hai tràng hoa vàng, đưa cho mẹ cô gái kia, nói:
“Trong trời đất có hai loại vàng tốt hơn hết, là vàng Diêm-phù-đàn102 và vàng do thần túc biến hóa. Bà có thể cầm nó cho con gái bà mang.”
Cô gái kia nhận được rồi, rất vui mừng, bèn mang đi mang về,103 ai (thấy)* cũng đều ham thích. Hôm ấy, có một người thấy rồi sanh lòng ganh tỵ, liền tâu với vua Bình-sa:
“Thôn đó, gia đình đó, được kho chứa tốt (vật báu)*, nên người con gái của họ mang tràng hoa vàng mà trong thiên hạ không ai sánh kịp, hậu cung của Đại vương cũng chưa hề có.”
Vua liền cho kêu, và hỏi:
“Ngươi có được kho tàng, có thể chỉ cho ta?”
Thưa:
“Tâu Đại vương, thật sự tôi không được!”
Vua lại hỏi:
“Vật con gái ngươi mang, từ đâu có được?”
Thưa:
“Vật ấy do Tất-lăng-già kết cỏ biến hóa thành.”
Nhà vua nghe nói như vậy hết sức nổi giận và lấy làm lạ: “Tại sao cỏ mà hóa thành tràng hoa vàng?” Liền ra lệnh cho quan cai104 bắt trói hạ ngục.
Hôm sau, Tất-lăng-già lại đến thôn kia. Người con gái chợt thấy liền khóc lóc lớn. Hỏi:
“Vì sao nay ngươi lại kêu khóc lớn vậy?”
Thưa:
“Mẹ của con105 đang ở tù.”
Hỏi:
“Bị những tội gì?”
Thưa:
“Do Đại đức cho con tràng hoa vàng!”
Tất-lăng-già nói:
“Thôi đừng khóc! Ta sẽ [31b01] vì con tìm cách để mẹ con được ra.”
Trước hết Tất-lăng-già đến chỗ quan giữ ngục, quan giữ ngục thấy chào hỏi:
“Đại đức, có việc gì mà phải hạ cố đến đây?”
Trả lời:
“Người giúp việc* của ta bị nhốt nơi ngục, nên ta mới đến đây. Nay, ông có thể vì ta mà thả họ ra được không?”
Thưa:
“Người này được kho tàng báu mà không chỉ cho vua, nếu chỉ cho vua thì mới có thể được thả.”
Tất-lăng-già nói:
“Ta kết cỏ làm thành, chứ không phải là kho tàng đâu.”
Người kia hỏi:
“Kết cỏ thành vàng là điều không thể có!”
Tất-lăng-già liền biến chỗ ngồi kia đều thành giường vàng và hỏi:
“Nay ông có thấy mình ngồi ở chỗ ngồi nào không?”
(Người giữ ngục)* thấy mình đang ngồi trên giường vàng, hoảng hồn quá, liền xuống giường, cúi đầu:
“Cúi xin Tôn giả tha thứ và mau giải phép giùm cho, nếu vua nghe tôi ngồi trên giường vàng thì chắc sẽ bị trọng tội!”
Tất-lăng-già nói:
“Thả người giúp việc* ra, sau đó mới giải phép cho ngươi.”
Quan giữ ngục nói:
“Việc này (quyền)* không phải do tôi.”
Hỏi: “Do ai?”
Trả lời: “Do vua.”
Tất-lăng-già liền giải phép, rồi bay đến chỗ vua, đứng trong hư không. Lúc ấy, vua đang ở trên lầu cao thấy, liền làm lễ, thưa:
“Đại đức vì việc gì đến?”
Trả lời:
“Người giúp việc* đang bị giam ở trong ngục, nên tôi đến đây, xin vì tôi mà thả ra.”
Nhà vua nói:
“Người kia có được kho tàng bảo vật, nếu chỉ cho trẫm thì mới được thả ra.”
Tất-lăng-già nói:
“Tôi kết cỏ làm thành, chứ không phải của kho tàng đâu.”
Vua nói:
“Kết cỏ mà thành vàng là điều không thể có!”
Khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta dùng cây gậy gõ vào trụ cột lầu, nhà lầu liền biến thành lầu vàng, và hỏi:
“Lầu cao của bệ hạ dùng vật gì để xây dựng?”
Vua thấy vậy, rất vui mừng, liền ra lệnh thả người đó.
Tất-lăng-già lần lượt bốn lần hiện thần túc như vậy. Lúc ấy, mọi người dân đều nghe biết thần biến, nên sanh lòng tin ưa đối với Phật pháp và Thánh chúng. Họ cúng dường Tăng, nào Đát-bát-na,106 thức ăn trước, thức ăn sau, nước uống phi thời, dụng cụ dùng để tắm rửa, dầu thoa mình, dầu thoa chân và dầu thắp đèn.
Bấy giờ chúng Tăng nhận được nhiều thứ như bơ trong, bơ tươi, dầu, mật, đường mía,107 ăn không hết, dồn chứa, cất giữ, để rỉ chảy khắp nơi, nhơ nhớp y phục, giường chiếu, ngọa cụ. Các cư sĩ thấy vậy, hỏi:
“Vật này là của ai?”
Có người nói:
“Đó là đồ tích trử của Sa-môn Thích tử.”
Các cư sĩ nói:
“Sa-môn Thích tử tự nói tiết chế ăn uống, mà tích trử như vầy thì tự do ăn uống. Những người này vì cầu giải thoát, xa lìa sanh, lão, tử, mà nay chỉ cầu mỹ vị như vậy, thì không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Các Tỳ-kheo thưa:
[31c01] “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay không cho phép ăn đồ ăn cách đêm, như bơ, dầu, mật, đường mía. Người nào phạm, Đột-kiết-la.”
Khi ấy, có số đông Tỳ-kheo bệnh, không thể có tịnh nhân108 đi nhận (đồ ăn thức uống)* hằng ngày, cũng không có tiền để mua, lại không có chỗ bán. Các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, khen thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo nhận thức ăn cách đêm như bơ, dầu, mật, đường mía, cho đến đêm thứ sáu.”
Lúc ấy các Tỳ-kheo lại để quá sáu đêm, trưởng lão Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách rồi đem sự việc bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ông có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào có bệnh được uống bốn thứ thuốc hàm tiêu109 như: bơ, dầu, mật và đường thỏi; một lần nhận, cho đến bảy ngày, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Nếu ngày thứ nhất nhận được, ngày thứ hai lại nhận được, cho đến ngày thứ bảy cũng lại nhận được, lưu lại đến ngày thứ tám, khi tướng mặt trời xuất hiện, đều Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Vật ấy nên thưa và xả cho Tăng, Tăng cho bạch y hay Sa-di, hay dùng để thắp đèn, hoặc dùng thoa chân. Chỉ có thuốc đã xả, Tỳ-kheo không được dùng và tất cả Tỳ-kheo không được để vào miệng. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

XVI. A-LAN-NHÃ GẶP NẠN LÌA Y110

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,111 bấy giờ có giặc Tháng tám,112 thường rình bắt người giết để tế trời; tất cả nhân dân và các Tỳ-kheo, không ai là không kinh sợ. Ngày tế sắp đến mà chưa bắt được ai, bọn giặc cùng bàn nhau: “Nơi A-lan-nhã113 chắc có Tỳ-kheo, bắt họ không khó,” liền đến một nơi. Các Tỳ-kheo nghe, ai nấy đều chạy lánh. Bọn giặc không bắt được, họ lại bàn với nhau: “Sẽ đến chỗ khác, không nên có tính lười, để không kịp ngày tế”. Khi ấy, trong bọn chúng có một người bỏ đạo, nói với bọn chúng rằng:
“Tôi biết đức Phật đã dạy, không cho phép Tỳ-kheo lìa y một đêm, chỉ cùng đợi ở đây, tờ mờ sáng chắc họ sẽ về.”
Bọn chúng nói:
“Nếu họ không về thì sẽ giết ngươi. Nếu ngươi không ân hận thì bọn tao sẽ ở lại.”
Trả lời:
“Tốt lắm!”
Trong khi, bọn giặc ở lại, thì các Tỳ-kheo vì sợ phạm tội lìa y ngủ nên cuối đêm hôm ấy đều trở về. Bọn giặc hỏi: [32a01] “Các ông tưởng bọn tôi đã đi rồi phải không?”
Trả lời:
“Chúng tôi biết các ông còn ở lại, nhưng đức Phật không cho phép chúng tôi lìa y ngủ, cho nên phải trở về.”
Bọn giặc liền giết, cần máu thì lấy máu, cần thịt thì cắt thịt. Các vị thoát chết, nghĩ như vầy: “Nếu đức Thế Tôn cho phép chúng ta khi chưa hết ngày tháng tám, được gởi mỗi một loại y, nơi nhà bạch y trong giới thì đâu có gặp tai nạn này”. Rồi đem việc này bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen sự thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép Tỳ-kheo ở nơi A-lan-nhã an cư ba tháng, chưa hết tháng tám được gởi mỗi một loại y nơi nhà bạch y trong giới, lìa y ngủ đêm không phạm tội.”
Có các Tỳ-kheo ở gần xóm làng cũng gởi mỗi một y nơi nhà bạch y trong giới, lìa (y)* mà ngủ đêm. Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật, đức Phật dạy:
“Không cho phép Tỳ-kheo ở gần xóm làng mà lìa y ngủ.”
Lại có Tỳ-kheo ở A-lan-nhã, nơi không có khủng bố mà lìa y ngủ. Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên đức Phật, đức Phật dạy:
“Cũng không cho phép Tỳ-kheo nơi A-lan-nhã không có khủng bố, lìa y ngủ đêm. Nếu có sự nghi ngờ khủng bố thì sau đó mới cho phép.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo gởi y nơi nhà người khác rồi không trở lại thăm chừng, lâu ngày bị ẩm nhơ, trùng cắn, mục nát. Các Tỳ-kheo đem việc này bạch Phật, đức Phật dạy:
“Nên đến xem chừng, hong phơi.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo lúc nào cũng đến, cư sĩ chán ghét. Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật, đức Phật dạy:
“Cho phép mười ngày đến thăm coi một lần.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo có việc Tăng, việc tháp, việc Hòa thượng, A-xà-lê, hay việc của mình, của người, cần ra đi ngoài giới, vì (lìa)* y cho nên không dám đi, đem việc đó bạch lên Phật, Phật dạy:
“Nếu có việc cần thiết phải tự ra ngoài giới, cho phép lìa y một đêm.”
Các Tỳ-kheo ra ngoài giới một đêm, việc này chưa xong, trở về lại bạch Phật, Phật dạy:
“Cho phép sáu đêm.”
Đã cho phép sáu đêm rồi, các Tỳ-kheo lại mặc y cũ rách đi quá sáu đêm, Tỳ-kheo trưởng lão đem việc này bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ông, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ở chỗ A-lan-nhã, an cư114 ba tháng, chưa hết tháng tám, nếu chỗ đó có khủng bố,115 cho phép gởi mỗi một loại y nơi nhà bạch y trong nội giới, nếu có nhân duyên ra ngoài giới, lìa y này ngủ cho đến sáu đêm, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
An cư ba tháng: Là tiền an cư.116
Chưa hết tháng tám: Là hậu an cư.117
[32b01] Mỗi một loại y: Hoặc Tăng-già-lê, hoặc Ưu-đa-la-tăng, tùy theo đó mà gởi một y. Không được gởi y An-đà-hội vì y mặc nơi thân vậy. Lễ bái, nhập Tăng, khất thực, không được chỉ mặc một y. Không được gởi hai y.
Có nhân duyên ra ngoài giới sáu đêm, hoặc có việc của tháp, việc của Hòa thượng, A-xà-lê và việc riêng mình, hay việc của người, để lại một loại y nơi nhà bạch y, ra ngoài giới tối đa là sáu đêm. Nếu một đêm, hai đêm cho đến năm đêm, việc xong mà không trở về, Đột-kiết-la. Sa-di Đột-kiết-la.

XVII. Y TẮM MƯA118

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.119 Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu120 thỉnh Phật và Tăng ngày mai thọ trai. Hôm ấy lại gặp trời mưa như trút nước,121 chỉ trong chớp nhoáng như lực sĩ co duỗi cánh tay nước mưa kia liền đầy bình bát để giữa đất. Nhưng nước này bị đất ngấm hết, như giọt dầu rơi xuống đống cát nóng, nếu không vậy thì chắc đã trở thành biển cả. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Như trận mưa hôm nay trong Kỳ-hoàn, khắp Diêm-phù-đề122 cũng lại như vậy. Các ngươi có thể ra ngoài đó tắm gội. Đây là trận mưa đều khắp cuối mùa.”
Các Tỳ-kheo liền ra ngoài mưa, trần truồng mà tắm.
Khi ấy, Tỳ-xá-khư sai tớ gái đến bạch Phật, thức ăn đã sửa soạn xong. Người tớ gái đến Kỳ-hoàn, thấy các Tỳ-kheo đều đang trần truông tắm mưa, nghĩ như vầy: “Đây là ngoại đạo chứ chẳng phải Tỳ-kheo”. Trở về báo cáo như vậy. Tỳ-xá-khư nghĩ như vầy: “Chắc là đứa tớ gái khờ khạo không biết các Tỳ-kheo đang tắm gội nơi đất trống mà gọi đó là ngoại đạo”. Liền sai lại:
“Ngươi đến cửa Kỳ-hoàn thưa lớn như vầy: ‘Thức ăn đã sửa soạn xong, mời quý ngài đã đến giờ’.”
Cô tớ gái lại đến trước cửa Kỳ-hoàn, muốn thưa như lời dạy, nhưng lúc đó các Tỳ-kheo đã tắm xong, đều vào phòng không còn một vị nào cả, cô ta lại nghĩ: “Vừa rồi thấy trong sân đầy cả ngoại đạo, bây giờ lại không thấy ai cả”. Cô ta lại trở về báo cáo như trên. Tỳ-xá-khư nghĩ như vầy: “Chắc là các Tỳ-kheo tắm xong vào an nghỉ.” Lại sai đi thưa nữa:
“Ngươi có thể vào trong cửa, ở giữa sân thưa!”
(Người tớ gái)* vâng lời, vào trong cửa ngõ Kỳ-hoàn, ở giữa sân thưa. Đức Phật nghe tiếng thưa, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-xá-khư thỉnh, đã đến giờ. Tất cả, các ông nên khoát y mang bát cùng phó trai.”
Các Tỳ-kheo vâng lời tập hợp hết nơi giảng đường Phổ hội.123 Đứa tớ gái bước đến trước, bạch Phật:
“Thức ăn đã chuẩn bị xong, xin quý ngài chứng tri.”
Đức Phật bảo:
“Ngươi có thể về trước, (chư Tăng)* sẽ đến sau.”
Trong lúc đó, như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, đức Thế Tôn cùng các Tỳ-kheo biến mất khỏi giảng đường Phổ hội, rồi xuất hiện trên chỗ ngồi đã sắp sẵn nơi nhà Tỳ-xá-khư, y phục không bị ướt.
[32c01] Tỳ-xá-khư thấy đức Phật và Tăng bỗng nhiên ngồi trên chỗ ngồi mà y phục không ướt, bèn nghĩ như vầy: “Ta được thiện lợi cúng dường bậc Thánh sư và đệ tử như vậy, vì trời đổ mưa lớn mà (đi)* không ướt y phục”. Bà vui mừng hớn hở, tự tay dâng các thức ăn ngon bổ. Ăn xong bà dâng nước, rồi chắp tay đứng qua một bên, bạch Phật:
“Xin đức Thế Tôn cho con nguyện!”
Đức Phật bảo Tỳ-xá-khư:
“Đối với các ước nguyện thế gian Ta đã xa lìa vĩnh viễn.”124
Tỳ-xá-khư lại thưa:
“Xin đức Phật cho con được phát nguyện thanh tịnh.”
Đức Phật dạy:
“Lành thay, rất tốt!”
Tỳ-xá-khư bạch Phật:
“Sáng nay con sai đứa tớ gái đến thưa là thức ăn đã sửa soạn xong, nó gặp lúc các Tỳ-kheo đang tắm trần truồng, liền về báo với con là: ‘Trong Kỳ-hoàn đều là ngoại đạo, không có Tỳ-kheo’. Kính bạch đức Thế Tôn! Tại sao các Tỳ-kheo lại tắm trần truồng ở trước Hòa thượng, A-xà-lê? Xin đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo được chứa y tắm mưa. Con nguyện trọn đời cung cấp y tắm mưa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Thời gian gần đây, con có chút việc đến sông A-di-la,125 thấy các Tỳ-kheo-ni tắm giặt trần truồng ở dưới sông. Khi ấy có người thấy đều chê cười rằng: Người nữ mặc y vẫn còn coi không được, huống là người nữ xuất gia mà thân thể trần truồng.’ Xin đức Phật cũng cho phép Tỳ-kheo-ni được chứa y tắm.126 Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp y tắm nước cho các Tỳ-kheo-ni trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Đức Phật dạy có ba loại bệnh: Loại một, có thuốc hay không có thuốc cũng chết. Loại hai, có thuốc hay không có thuốc cũng lành. Loại ba, có thuốc thì lành, không có thuốc thì chết. Xin Phật cho phép các Tỳ-kheo được uống các loại thuốc. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thuốc cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Đức Phật dạy có ba loại bệnh: Loại một, được ăn thức ăn tùy theo bệnh, hay không được ăn thức ăn tùy theo bệnh, vẫn chết. Loại hai, được ăn thức ăn tùy theo bệnh, hay không được ăn thức ăn tùy theo bệnh, vẫn sống. Loại ba, được ăn thức ăn tùy theo bệnh thì sống, không được ăn thức ăn tùy theo bệnh thì chết. Xin đức Phật cho phép các Tỳ-kheo được ăn thức ăn tùy theo bệnh. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thức ăn tùy theo bệnh cho các Tỳ-kheo ở tại thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Người nuôi bệnh, nếu đi khất thực thì không chu toàn việc chức năng của mình. Xin Phật cho phép các Tỳ-kheo được nhận thức ăn (để có thời gian)* nuôi bệnh. Con cũng nguyện trọn đời cung cấp thức ăn cho các vị nuôi người bệnh trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Tỳ-kheo khách đi đường mỏi mệt, mới đến không biết chỗ nào khất thực. Xin cho phép các Tỳ-kheo khách nhận thức ăn trong lúc nghỉ mệt và để biết chỗ khất thực. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thức ăn cho quý Tỳ-kheo khách trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Nếu có Tỳ-kheo nào đi xa, vào thôn khất thực, đến khi quay trở lại đường thì không kịp bạn đồng hành, [33a01] hoặc gặp phải bọn giặc Tháng tám, hoặc đi lối tắc lạc đường. Xin đức Phật cho phép các Tỳ-kheo đi xa nhận thức ăn đi xa của con. Con cũng nguyện trọn đời cúng dường lương thực đi đường xa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại thưa:
“Con nghe đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo ở nước A-na-tần-đầu127 ăn cháo. Xin Ngài cho phép các Tỳ-kheo được nhận cháo của con. Con cũng nguyện trọn đời cúng dường cháo cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ.”
Lại bạch đức Phật rằng:
“Nguyện đức Thế Tôn trọn đời nhận y phục, ẩm thực, thuốc thang của con.”
Đức Phật hỏi Tỳ-xá-khư:
“Ngươi thấy ý nghĩa lợi ích thế nào, mà phát chín lời nguyện128 này?”
(Tỳ-xá-khư)* thưa:
“Trong nước này sẽ có các Tỳ-kheo ở các nơi đến thăm hỏi đức Thế Tôn, hoặc có Tỳ-kheo tên… ở địa phương kia đã qua đời, đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, con sẽ hỏi về họ, Tỳ-kheo kia đã từng đến đây chưa? Nếu vị ấy đã từng đến đây, con nghĩ như vầy: ‘Tỳ-kheo kia chắc đã từng nhận nơi con ít nhất là một món cúng dường.’ Nhờ đó mà hoan hỷ, tăng thêm căn lành.”
Lúc ấy, đức Thế Tôn nói với Tỳ-xá-khư rằng:
“Chỉ cho phép ngươi thực hiện tám nguyện, còn một nguyện không thể được.”
Khi ấy, Tỳ-xá-khư lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức Phật. Phật vì bà nói bài kệ tùy hỷ:
Hoan hỷ cúng ẩm thực
Phật và Thánh đệ tử.
Làm phước phá xan tham,
Thọ báo thường an lạc,
Sanh thiên, được sống lâu.
Lại đây lìa bụi nhiễm,
Quả lớn hành pháp này,
Vui mãi nơi Tịnh thiên .
Bấy giờ, đức Thế Tôn lại vì Tỳ-xá-khư nói các pháp vi diệu, dạy bảo lợi ích, khiến hoan hỷ, rồi trở về lại Kỳ-hoàn, tập hợp các Tỳ-kheo, khen ngợi thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo nhận y tắm mưa, các Tỳ-kheo-ni nhận y tắm, nhận thuốc tùy theo bệnh, nhận thức ăn tùy theo bệnh, người nuôi bệnh được nhận thức ăn, Tỳ-kheo khách được nhận thức ăn, Tỳ-kheo đi xa được nhận thức ăn đi đường, và Tỳ-kheo được ăn cháo.”
Khi ấy các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Đức Phật cho phép ta chứa y tắm mưa”, nên thường xin để chứa cất, không thọ trì, mà không cho người, không tịnh thí, gánh cả gánh nặng y đi. Các Tỳ-kheo thấy, hỏi:
“Thầy không nghe đức Phật cấm chứa y dư hay sao?”
Trả lời:
“Tuy Phật có cấm nhưng lại cho phép chứa y tắm mưa.”
Các Tỳ-kheo lại hỏi:
“Các thầy thường chứa y tắm mưa, mà không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, phải không?”
Trả lời:
“Đúng vậy.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi đem sự việc bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ông có thật vậy không ?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi [33b01] bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, mùa xuân còn một tháng, nên tìm y tắm mưa, còn nửa tháng nên dùng. Nếu chưa đến một tháng mà tìm, trước nửa tháng mà dùng, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Y tắm mưa:129 Chỉ sử dụng khi tắm mưa, vào mùa hạ tắm cũng dùng.
Nếu còn một tháng nữa đến mùa xuân, mà trước đó có người hứa cúng y tắm mưa thì Tỳ-kheo quen biết nên đến nói: “Nay chính là lúc may, nhuộm y tắm mưa”. Nếu nhận được thì tốt, bằng không được thì nên nói lại: “Các nơi đều đã may, nhuộm y tắm mưa”. Nếu nhận được thì tốt, bằng không được thì nên nói lại: “Trước đây, người hứa cho Tỳ-kheo đó y tắm mưa, nay chính là lúc!” Nếu nhận được thì tốt, bằng không được thì Tỳ-kheo kia nên đến chỗ khác xin để chứa dùng, cho đến nửa tháng tám, tức là dùng một trăm ba mươi lăm ngày. Nếu quá thời hạn ấy, mà không sắm y khác, không thọ trì, không cho người khác, không tịnh thí, Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

XVIII. Y CẤP THÍ130

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,131 khi ấy nhóm sáu Tỳ-kheo đến thôn nhà buôn. Khách buôn nói:
“Trưởng lão an cư ở nơi đây. Chúng tôi đi về sẽ cúng phẩm vật an cư.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:
“Muốn cho chúng tôi ở lại thì phải cúng cho chúng tôi. Trong khi an cư chúng tôi may y, an cư xong mặc đến thăm hỏi đức Phật.”
Khách buôn cùng nhau bàn:
“Chúng ta nên cúng trước phẩm vật an cư để các Tỳ-kheo ở lại, ngõ hầu kẻ lớn người nhỏ trong gia đình được nghe lời pháp, thọ tám phần giới, tịnh thân, khẩu, ý”.
Họ liền gom góp phẩm vật cúng dường, sau đó mới đi. Lúc ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo nhận được phẩm vật cúng dường an cư và sau khi khách buôn đi rồi, họ cũng đi nơi khác.
Sau khi các khách buôn thu được lời trở về, nói với người trong nhà rằng:
“Trước đây, tuy ta đã cúng phẩm vật an cư cho các Tỳ-kheo rồi, nay ta được lời, an ổn trở về, phải cúng dường thêm, các người cứ an tâm nghe pháp.
Người nhà trả lời:
“Các Tỳ-kheo sau đó họ cũng đi.”
Các khách buôn lại mời các Tỳ-kheo ở gần đó. Các Tỳ-kheo trả lời:
“Các người có thể cúng dường cho các vị đã thỉnh trước, chúng tôi không được nhận sự cúng dường của các người.”
Khi ấy, các khách buôn liền nổi giận nói:
“Bổn ý của chúng tôi là cúng dường (Tỳ-kheo)* an cư ở đây; (quý ngài)* nhận phẩm vật rồi đi, cùng với kẻ trộm nào khác!?”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe được, bằng mọi cách quở trách, rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“[33c01] Từ nay không được phép ở trong an cư nhận (phẩm vật)* cúng dường an cư, ai phạm Đột-kiết-la.”
Bấy giờ, nơi biên giới có giặc, vua Ba-tư-nặc sai Ất-sư-đạt-đa và Phú-lan-na132 đến dẹp giặc. Hai vị bàn với nhau: “Nay chúng ta đi hành quân, có thể bị bỏ mạng. Nên cùng đem phẩm vật cúng dường cho Tỳ-kheo”. Họ liền mang phẩm vật đến chỗ Tỳ-kheo thưa:
Nay chúng tôi đi đánh giặc, sợ không trở về được, xin cúng dường phẩm vật này, mong (quý ngài)* nhận cho.
Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn không cho phép chúng ta trong khi an cư nhận (phẩm vật)* cúng dường an cư, không biết thế nào?” Do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi tôn giả A-nan:
“Còn mấy ngày nữa đến Tự tứ?”
Thưa:
“Còn mười ngày, bạch Thế Tôn!”
Đức Phật bằng mọi cách khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo tiền hay hậu an cư, còn mười ngày nữa đến ngày Tự tứ, được nhận y cấp thí.”133
Được đức Phật đã cho phép nhận y cấp thí, nhân đó các Tỳ-kheo thường cất chứa, mà không thọ trì, không cho người, không tịnh thí, gánh cả gánh nặng du hành khắp nơi. Các Tỳ-kheo trưởng lão thấy, hỏi:
“Thầy không nghe đức Phật cấm chứa y dư hay sao?”
Thưa:
“Tuy Phật có cấm mà lại cho nhận y cấp thí.”
Các Tỳ-kheo lại hỏi:
“Các thầy thường chứa y cấp thí, mà không thọ trì, không cho người, không tịnh thí phải không?”
Trả lời:
“Đúng vậy.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay không cho phép thường chứa y cấp thí, mà không thọ trì, không cho người, không tịnh thí; cho phép (chứa)* đến thời của y.”134
Đã được cho phép đến thời của y, các Tỳ-kheo còn chứa quá thời của y. Các Tỳ-kheo trưởng lão do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ông, có Thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tiền hay hậu an cư còn mười ngày nữa mới đến ngày Tự tứ,135 được y cấp thí; nếu cần thì nhận chứa cất cho đến thời của y; nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Y cấp thí: Hoặc hành quân, hoặc đàn bà gần sanh, những trường hợp cúng cấp thời như vậy, nếu qua thời gian này thì không cúng được nữa.
Thời của y:136 Thọ y Ca-thi-na, xả y Ca-thi-na rồi, gọi là phi thời y.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la.

XIX. ĐỔI BÁT MỚI137

A. DUYÊN KHỞI
[34a01] Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.138 Bấy giờ, Bạt-nan-đà139 đến một nhà buôn vào lúc phi thời xin bát, nói:
“Nay tôi cần bình bát, có thể cho tôi!”
Nhà buôn nói:
“Đại đức đợi một thời gian ngắn. Nay các nhà buôn có phiên họp, nếu ai đến không đúng giờ thì bị phạt năm trăm tiền!”
Bạt-nan-đà nói:
“Tôi nghe ông thường hay cung cấp (y vật thực)* cho việc hành đạo, tại sao nay vì việc thế tục, mà bỏ việc làm công đức trước đây!?”
Khách buôn nghe như vậy, liền nghĩ như vầy: “Dù khiến bị phạt, ta cũng nên làm việc này trước”. Liền vì (Bạt-nan-đà)* đi mua bát cúng rồi mới đến, nên đến không kịp giờ, mọi người thấy vậy, đều nói: “Đáng bị phạt.”
Khách buôn nói:
“Tôi không phải vì việc riêng mà vi phạm quy chế của quý vị. Có một Sa-môn đến tôi xin bình bát, không thể bỏ đi được, cho nên đến trễ vậy!”
Người không tin ưa Phật pháp đều nói: “Vì một Sa-môn mà ông vi phạm quy chế chung nhiều người, cần phải phạt nặng”. Họ bèn phạt. Khách buôn đã bị phạt rồi nên nổi giận nói:
“Sa-môn Thích tử không biết thời nghi, bảo chờ không bằng lòng, khiến tôi bị phạt!”
Mọi người đều chê trách:
“Bọn Sa-môn này thường nói biết thời, thiểu dục tri túc, mà nay phi thời đến người cưỡng bức xin; không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn!”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách rồi, hỏi các Tỳ-kheo:
“Ý các ông thế nào? Bát không bị trám là bát phải không?”
Thưa:
“Dạ vâng.”
Lại hỏi:
“Bát trám một đường cho đến năm đường, là bát phải không?”
Thưa: “Dạ vâng.”
(Đức Phật)* bảo các Tỳ-kheo:
“Không trám, trám một chỗ cho đến bốn chỗ là bát; trám năm chỗ không phải là bát. Vì mười điều lợi, nên Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, bát chưa đủ năm chỗ trám,140 lại xin bát mới, vì muốn đẹp, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Bát ấy nên xả giữa Tăng, Tăng nên lấy cái bát chót141 (bát không vị nào lấy) đưa cho và nói: ‘Thầy nên thọ trì cái bát này cho đến vỡ’. Pháp xả bát là như vậy.”

C. THÍCH TỪ
Bát có ba loại: Bát sắt, bát Tô-ma,142 bát sành.
Lại có ba cỡ: Lớn, nhỏ và vừa.
Lớn: Là đựng được ba bát cơm của người khác, trừ canh và rau.
Nhỏ: Là đựng được một bát cơm của người khác, trừ canh và rau.
Vừa: Là khoảng giữa của cỡ lớn và cỡ nhỏ.
Vì muốn đẹp: Cầu bền chắc và tốt hơn. Nếu đã có bát không chỗ trám, cho đến trám bốn chỗ, lại xin bát không trám, đến trám bốn chỗ, nhận được, đều Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu đã có bát không chỗ trám, cho đến bát trám bốn chỗ, lại xin bát trám năm chỗ, nhận được, đều Đột-kiết-la.
Nên xả giữa Tăng: Bát mới nhận được [34b01] nên xả cho chúng Tăng, không được xả cho một, hai, ba người.
Cách xả nên đến giữa Tăng, thưa:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… có bát chưa đủ năm chỗ trám, lại xin bát mới, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Đây là lời tác bạch.”
Tăng nên bạch nhị Yết-ma sai Tỳ-kheo biết pháp, ở giữa Tăng làm việc này, một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… có bát chưa đủ năm chỗ trám, lại xin bát mới, nay xả cho Tăng. Nay Tăng sai Tỳ-kheo này tên là… làm người hành bát.143 Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch”.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… có bát chưa đủ năm chỗ trám, lại xin bát mới, nay xả cho Tăng. Nay Tăng sai Tỳ-kheo tên là… làm người hành bát. Các trưởng lão nào đồng ý thì im lặng, không đồng ý xin nói. Tăng đã sai Tỳ-kheo tên là… làm người hành bát rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”144
Tỳ-kheo này nên công bố, khiến cho các Tỳ-kheo đều mang bát của mình đến. Sau đó, đem bát đã xả đến trước Thượng tọa, hỏi: “Ngài cần cái bát này không?” Nếu nói cần, thì nên lấy cái bát của Thượng tọa xem. Nếu không có bát, hay bát quá lớn, hoặc quá nhỏ, hoặc lủng lỗ, hoặc bị méo mó thì không nên đổi. Nếu không có năm trường hợp trên thì nên trao đổi. Trao đổi rồi, lấy cái bát của Thượng tọa đem đến vị Thượng tọa thứ hai, cho đến trước vị mới thọ giới Cụ túc cũng làm như vậy. Tăng nên lấy cái bát chót (tức cái bát không ai lấy) trao cho vị Tỳ-kheo xả bát. Nếu khi hành bát (trao đổi bát)*, mà không có vị nào lấy thì cho phép hoàn cái bát đó lại cho đương sự. Tăng nên có lời dạy: “Đây là bát của thầy, thầy nên quý mến, giữ gìn, đừng để dưới đất, đừng đựng những đồ thối rữa, đừng đựng thức ăn cách đêm, đừng đựng nước nóng, đừng đựng hương, đừng đựng thuốc, nên yêu giữ như vậy. Nếu bát bị bể thì cho phép thầy xin lại.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

XX. CHỨA BÁT DƯ145

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.146 Lúc ấy, Bạt-nan-đà147 được nhiều bát, dùng năm, sáu ngày lại đem cất. Vì vậy mà bát cũ chỗ nào cũng có. Các gia chủ thấy, hỏi:
“Ai chất đống (bát)* đây?”
Có người nói:
“Của Bạt-nan-đà đó.”
Các gia chủ nói:
“Sa-môn Thích tử thường nói thiểu dục tri túc, mà nay không nhàm chán, thâu góp, chất chứa như người bán bát, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các trưởng lão Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đến chỗ đức Phật, đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà :
“Ngươi có thật vậy không?”
[34c01] “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư cho đến một đêm, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Bấy giờ có một Tỳ-kheo, độc thân nhận được hai bát, nghĩ như vầy: “Đức Phật không cho phép ta chứa bát dư qua một đêm”. Liền đem một bát cho Tỳ-kheo khác. Sau khi cho thì bát của mình bị bể, không có bát để du hành. Các Tỳ-kheo hỏi:
“Trước đây thầy có hai bát, tại sao nay không?”
(Tỳ-kheo)* trả lời bằng cách đem sự việc trên kể lại. Các Tỳ-kheo đem sự việc này bạch lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Sau khi ngươi đem bát cho Tỳ-kheo khác thì mấy ngày bát bị bể?”
Thưa:
“Mười ngày, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen ngợi người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư cho đến mười ngày, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Khi nhận được hai bát thì nên hỏi Hòa thượng, A-xà-lê: “Hai bát này, cái nào tốt hơn?”.
Nếu Hòa thượng, A-xà-lê không khéo phân biệt thì nên dùng mỗi cái năm ngày, để biết cái nào tốt hơn thì thọ trì, cái không như ý thì cho người. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

74 Tăng-kỳ 9, tr. 305b7; Tứ phần 7, tr. 612b28; Thập tụng 6, tr. 46c12; Căn bản 20, tr. 733a14. Pāli, niss. 10, rājasikkhāpadaṃ, Vin. iii. 219.
75 Tăng-kỳ 9, tr. 305b07; Tứ phần 7, tr. 612b28; Thập tụng 6, tr. 46c12: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 20, tr. 733a14: Vương Xá thành 王舍城.
76 Tăng-kỳ: Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà 難陀,優波難陀; Tứ phần; Thập tụng: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子; Căn bản: Ổ-ba-nan-đà 鄔波難陀.
77 Người chấp sự 執事人: Người giúp việc, người làm công quả.
78 Hán: Kiến dữ見與.
79 Pāli: paññāsaṃ baddho, phạt 50. Được giải thích là phạt 50 kahāpaṇa (tiền vàng). Tăng-kỳ: Người được ký thác tiền là cư sĩ Pháp Dự. Nhân vì lúc cần nên ông tạm mượn. Khi Ưu-ba-nan-đà đến đòi, cư sĩ chưa có tiền mặt để ứng liền, bị Tỳ-kheo này đưa ra quan kiện. Tứ phần: Bạt-nan-đà dẫn sứ giả của gia chủ này đến gởi tiền sắm y cho một gia chủ khác… Thập tụng: Bạt-nan-đà nhờ người khách buôn nhận tiền sắm y của một cư sĩ cúng… Căn bản: Một thương nhân cúng cho Ổ-ba-nan-đà sáu mươi kim tiền gởi qua một đại thần Hành Vũ để sắm y ….
80 Sự việc đó phải như vậy, Hán: Tăng-kỳ: Thị sự pháp nhĩ 是事法爾. Tứ phần; Căn bản: Thử thị thời 此是時. Thập tụng: Thị sự ưng nhĩ 是事應爾. Pāli: ayaṃ tattha samīcī, đây là điều hợp cách. Và giải thích: ayaṃ tattha anudhammatā, ở đây điều này tùy thuận pháp tánh.
81 Tăng-kỳ 11, tr. 320b6: Ni-tát-kỳ 26; Tứ phần 9, tr. 624a14 Ni-tát-kỳ 23, Thập tụng 8, tr. 55a3, Căn bản 22, tr. 746b5: Ni-tát-kỳ 23; Pāli, Nissaggiya 26: Suttaviññatti.
82 Tăng-kỳ 11, tr. 320b6; Tứ phần 9, tr. 624a14: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Thập tụng 8, tr. 55a3: Vương Xá thành 王舍城. Căn bản 22, tr. 746b5: Thất-la-phạt thành Thệ Đa lâm 室羅伐城逝多林.
83 Tứ phần: Khiến thợ dệt không phải thân quyến dệt thành ba y. Thập tụng, Căn bản: Khiến thợ dệt không phải thân lý (thân quyến). Pāli: tantavāyehi, bởi những người thợ dệt, không phân biệt thân lý hay không thân lý.
84 Tứ phần 9, tr. 624c22, Thập tụng 8, tr. 55c10, Căn bản 23, tr. 748b9: Ni-tát-kỳ 24; Tăng-kỳ 11, tr. 320c12: ni-tát-kỳ 27; Pāli: Nissaggiya 27, Mahāpesakāra.
85 Tăng-kỳ 11, tr. 320c12; Tứ phần 9, tr. 624c22, Thập tụng 8, tr. 55c10: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 23, tr. 748b9: Thất-la-phạt thành, Thệ Đa lâm 室羅伐城逝多林.
86 Tăng-kỳ 11, tr. 320c15: Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà 難陀,優波難陀; Tứ phần 9, tr.624c23; Thập tụng 8, tr. 55c10: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子; Căn bản 23, tr. 748b13: Ổ-ba-nan-đà 鄔波難陀.
87 Thập tụng, Căn bản: Cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân lý. Pāli: aññātako gahapati, cư sĩ không phải bà con.
88 Mời tuỳ ý, Hán: Tự tứ thỉnh 自恣請. Pāli: pubbe pavārito, được yêu cầu nói sở thích.
89 Tứ phần 9, tr. 626a2, Thập tụng 8, tr. 56c12, Căn bản 23, 749c15: Ni-tát-kỳ 25; Tăng-kỳ 11, tr. 318b28: Ni-tát-kỳ 24. Pāli, Nissaggiya 25, cīvara-acchindana.
90 Tăng-kỳ 11, tr. 318b28; Tứ phần 9, tr. 626a2; Thập tụng 8, tr. 56c12: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 23, 749c15: Thất-la-phạt thành, Thệ Đa lâm 室羅伐城逝多林.
91 Tăng-kỳ 11, tr. 318b28: Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà 難陀,優波難陀; Tứ phần 9, tr.626a3; Thập tụng 8, tr. 56c12: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子; Căn bản 23, tr. 749c20: Nan-đà 難陀.
92 Thập tụng 8; Căn bản 23: Đạt-ma 薘摩cũng như Ngũ phần.
93 Bản Hán, hết quyển 4.
94 Tăng-kỳ 11, tr. 323c23; Tứ phần 10, tr. 633a14: Ni-tát-kỳ 30. Thập tụng 8, tr.59a28, Căn bản 24, tr. 757a28: Ni-tát-kỳ 29. Pāli, Nissaggiya 30 pariṇata.
95 Tăng-kỳ 11, tr. 323c23; Tứ phần 10, tr. 633a14; Thập tụng 8, tr. 59a28: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 24, tr. 757a28: Thích Ca xứ 釋迦處.
96 Tăng-kỳ 11, tr. 324a2; Thập tụng 8, tr. 59b9: Lục quần Tỳ-kheo 六群比丘; Tứ phần 10, tr. 633a14: Bạt-nan-đà thích tử 跋難陀釋子; Căn bản 24, tr. 757b01: Thánh giả La-khô-la聖者羅枯羅.
97 Tứ phần: Tăng vật 僧物. Tăng-kỳ, Thập tụng: Vật hướng Tăng 物向僧, vật được nhắm để cho Tăng. Căn bản: Tha dữ chúng vật 他與眾物, vật mà người khác để dành cho chúng (Tăng). Pāli: saṅghikaṃ labhaṃ, lợi dưỡng (sở đắc) thuộc Tăng, hay saṅghikaṃ labhaṃ pariṇataṃ, lợi dưỡng đã được để dành cho Tăng.
98 Tăng-kỳ 10, tr. 316b3: Ni-tát-kỳ 23. Tứ phần 10, tr. 626c17: Ni-tát-kỳ 26. Thập tụng 8, tr. 60c18; Căn bản 24, tr. 759b4: Ni-tát kỳ 30. Pāli, Nissaggiya 23, bhesajja. Cf. Mahāvagga vi, Bhesajja-kkhando, Vin.i.198.
99 Tăng-kỳ 10, tr. 316b3; Tứ phần 10, tr. 626c17; Thập tụng 8, tr. 60c18; Căn bản 24, tr. 759b4: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國).
100 Tất-lăng-già-bà-ta 畢陵伽婆蹉: Pāli. Pilindavaccha.
101 Hán: Thủ viên nhân 守園人, người giữ vườn.
102 Vàng Diêm-phù-đàn 閻浮檀金: Skt. jambūnada-suvarṇa, loại vàng này được sản xuất từ dòng sông Na-đa (nada, đàn), chảy qua rừng cây Diêm-phù (jambū). Vàng này có màu vàng đỏ óng ánh như tia lửa, là loại vàng quí nhất.
103 Hán: Trước xuất nhập 著出入, mang vòng hoa đi chơi lễ hội và mang về nhà.
104 Hán: Hữu ti 有司, chỉ quan cai ngục.
105 Hán: Gia thân 家親, người thân trong nhà.
106 Đát-bát-na 怛鉢那: Skṭ tarpaṇa, Pāli. tappaṇa, là bánh, miến, cháo, tức những thức ăn làm bằng bột gạo.
107 Sinh tô, thục tô, du, mật, thạch mật 生酥熟酥油蜜石蜜. Pāli, nt. sappi navanītaṃ telaṃ madhu phāṇitaṃ, bơ trong, bơ tươi, dầu ăn, mật, mật mía.
108 Tịnh nhân 淨 人: Pāli. ārāmika, người phục vụ, giúp việc trong chùa.
109 Ngũ phần, Thập tụng: Hàm tiêu dược 含消藥, thuốc như thức ăn loại mềm (không cần nhai). Tứ phần: Tàn dược 殘藥 (loại thuốc dư tàn). Pāli: Paṭisāyanīyāni bhesajjāni, các loại thuốc được uống như ăn. Căn bản: Chư dược tùy ý phục thực 諸藥隨意服食 (các loại thuốc được tuỳ ý uống hay ăn).
110 Tăng-kỳ 11, tr. 323a2: Ni-tát-kỳ 29; Tứ phần 10, tr. 632a19: Ni-tát-kỳ 29, Thập tụng 8, tr. 57a14: Ni-tát-kỳ 26. Căn bản 24, tr. 755a13: Ni-tát-kỳ 27. Pāli, Nissaggiya 29, sāsaṅkasi.
111 Tăng-kỳ 11, tr. 323a2; Tứ phần 10, tr. 632a19; Thập tụng 8, tr. 57a14: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 24, tr. 755a13: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
112 Pāli gọi là kattikacorakā, bọn cướp ca-đề, vì chúng hoạt động vào tháng ca-đề, thường nhất là đêm có trăng. Chủ yếu cướp y các Tỳ-kheo nhận được sau an cư.
113 Pāli: araññakāni, các khu rừng, cách thôn xóm 500 dhanu (cung).
114 Hán: An cư 安居 (Skt: Vārṣsika; Pāli: Vassa) theo Tứ phần luật bổ tuỳ cơ yết-ma sớ 4 thì an cư có nghĩa là thân và tâm tập trung tĩnh lặng gọi là an, thời gian hiện trú vào đó gọi là cư. Vì lệ thuộc vào thời tiết, nên còn gọi là vũ an cư hay vũ kỳ an cư.
115 Pāli: sappaṭibhayaṃ, chỗ có sợ hãi, chỗ mất an ninh, nơi bọn cướp đang hoạt động.
116 Thời gian an cư phải đủ ba tháng dù là tiền an cư, là hậu an cư hay là trung an cư. Theo Đại Đường Tây vức ký 2 và 8 thì thời gian an cư bắt đầu vào ngày 16/5 đến ngày 15/8. Có hai thuyết an cư: Một, là tiền an cư, hậu an cư. Tiền an cư thì bắt đầu ngày 16/5; hậu an cư thì bắt đầu ngày 16/6. Hai, là tiền an cư, trung an cư, hậu an cư. Tiền an cư bắt đầu ngày 16/4; Trung an cư bắt đầu ngày 17/4 đến ngày 15/5 (ngày nào bắt đầu cũng được); hậu an cư bắt đầu ngày 16/5.
117 Xem cht. 117 trên.
118 Tăng-kỳ 11, tr. 319c1: Ni-tát-kỳ 25. Tứ phần 10, tr. 628c24: Ni-tát-kỳ 27. Thập tụng 8, tr. 58c28, Căn bản 24, tr. 757a3: Ni-tát-kỳ 28. Pāli, Nissaggiya 24, vass ikasāṭikā.
119 Tăng-kỳ 11, tr. 319c1; Tứ phần 10, tr. 628c24; Thập tụng 8, tr. 58c28: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 24, tr. 757a3: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
120 Tăng-kỳ 11, tr. 319c2; Tứ phần 10, tr. 628c24: Cũng Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu như Ngũ phần. Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu: xem cht. 5, Ch. iii, Bất định 1.
121 Hán: Thiên khủng bố vũ 天恐怖雨, trời mưa kinh khủng. Tứ phần: Như tượng niệu há 如象尿下, như voi đái.
122 Diêm-phù-đề 閻浮提: (Skt. Jambu-dvīpa, Pāli. Jambu-dīpa) Diêm-phù (Jambu) là tên cây đào đỏ (lá dày lớn, phấn hoa màu hồng, bên ngoài quả có lông nhung, quả có thể ăn được. Tên khoa học là Eugeniajambolana); đề (dvīpa) là châu, dịch theo Phạn-Hán “Diêm-phù châu”, là nước sinh trưởng nhiều cây Diêm-phù. Trước đây Diêm-phù-đề vốn chỉ riêng cho Ấn Độ, về sau chỉ chung cho thế giới nhân gian.
123 Hán: Phổ hội giảng đường 普會講堂.
124 Tứ phần: Như lai bất dữ nhân quá nguyện 如來不與人過願. Xem Thập tụng 27, (tr. 195c17) “Các Như Lai… đã vượt qua các ước nguyện (Hán: dĩ quá chư nguyện 已過諸願).” Cf. Pāli (Vin. i. 192): atikkantavārā kho… thāgatā, “Các đức Như lai siêu quá các ước nguyện.” Nghĩa là chỉ hứa khả những thỉnh nguyện không phi pháp. Câu Phật thường xuyên trả lời khi có người thỉnh nguyện.
125 Tứ phần: Sông A-di-la-bạt-đề 阿夷羅跋提河. Pāli: Aciravatī – nay là sông Rāpti ở Oudh; là một trong ngũ đại hà (Pañcamahānadī), năm con sông lớn chảy từ Himālaya về hướng đông (pācīnaninnā) xuôi ra biển.
126 Hán: Thuỷ dục y 水浴衣.
127 A-na-tần-đầu 阿那頻頭. Cf. Mahāvagga 6, Vin. i. 220: Andhakavinda, một thị trấn trong vương quốc Magadha.
128 Tứ phần: Thỉnh nguyện tám điều.
129 Tứ phần: Vũ dục y 雨浴衣. Pāli: vassikasāṭikā, khăn quấn để tắm khi trời mưa. Khác với udakasāṭikā, dục y 浴衣, khăn tắm để Tỳ-kheo-ni quấn người khi tắm sông.
130 Tăng-kỳ 11, tr. 321c27; Tứ phần 10, tr. 630b28: Ni-tát-kỳ 28. Thập tụng 8, tr. 57c11: Ni tát kỳ 27. Căn bản 23, tr. 750c27: Ni-tát-kỳ 26. Pāli, Nissaggiya 28, accekacīvara.
131 Tăng-kỳ 11, tr. 321c27; Thập tụng 8, tr. 57c11: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Tứ phần 10, tr. 630b28: Tỳ-lan-nhã 毘蘭若. Căn bản 23, tr. 750c27: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
132 Tăng-kỳ: Tiên nhân Đạt-đa 仙人達多. Tứ phần: Lỵ(Lợi)-sư-đạt-đa và Phú-la-na 利師達多富羅那. Pāli: Isidatta và Purāṇa, hai quan nội giám của vua Pasenadi. Vin. iii. 260: Có một vị Đại thần nọ (không nói tên).
133 Y cấp thí 急施衣; Y được cúng trong lúc khẩn cấp. Pāli: acceka-cīvara.
134 Hán: Thời y (衣時): Thời của y, thời gian cho phép Tỳ-kheo sắm y (trong vòng một tháng cho không thọ y Ca-thi-na và trong vòng năm tháng cho có thọ y Ca-thi-na). Pāli:cīvarakālasamaya.
135 Pāli: 10 ngày trước ngày trăng tròn tháng ca-đề (kattikā), tức trước tự tứ 10 ngày.
136 Thời của y, xem cht. 134 trước.
137 Tăng-kỳ 10, tr. 315a11, Tứ phần 9, tr. 623a9, Thập tụng 8, tr. 54a21, Căn bản 22, 744b22: Ni-tát-kỳ 22. Pāli, Nissaggiya 22, ūnapañcabandhana.
138 Tăng-kỳ 10, tr. 315a11, Tứ phần 9, tr. 623a9: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Thập tụng 8, tr. 54a21: Xá-bà-đề 舍婆提; Căn bản 22, 744b22: Thất-la-phạt thành:室羅伐城 (một tên khác của thành Xá-vệ).
139 Tứ phần 9; Thập tụng 8: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子, Căn bản 22: Ổ-ba-nan-đà鄔波難陀.
140 Hán: Vị mãn ngũ xuyết 未滿五綴. Tứ phần: Chứa bát trám dưới năm chỗ không chảy rỉ (giảm ngũ xuyết bất lậu 減五綴不漏). Pāli: ūnapañcabandhanena, dưới năm chỗ vá.
141 Tứ phần: Tối hạ bát 最下鉢. Thập tụng, Căn bản: Chúng trung tối hạ bát 眾中最下鉢. Pāli: yo ca tassā bhikkhuparisāya pattapariyanto, bình bát cuối cùng của chúng Tỳ-kheo đó.
142 Bát Tô-ma 蘇摩鉢: là bát ở nước Tô-ma. Nước Tô-ma 蘇摩國 (Skt. Soma, dịch là nguyệt 月). Một trong 16 đại quốc thời Phật.
143 Hán: Hành bát nhân 行鉢人, vị Tăng được sai làm việc đổi bát đã được xả cho chúng Tăng.
144 Văn bạch nhị yết-ma để sai vị hành bát, trong các bản khác không có?
145 Tăng-kỳ 10, tr. 314b8, Tứ phần 9, tr. 621c7 , Thập tụng 7, tr. 53b10, Căn bản 22, tr. 744a8: Ni-tát-kỳ 21. Pāli, Nissaggiya 21, atirekapatta, Vin. iii. 240.
146 Tăng-kỳ 10, tr. 314b8, Tứ phần 9, tr. 621c7: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần, Thập tụng 7, tr. 53b10: Vương Xá thành 王舍城, Căn bản 22, tr.744a8: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
147 Tứ phần 9: Bạt-nan-đà (trong nhóm sáu Tỳ-kheo); Thập tụng 7: Nhóm sáu Tỳ-kheo; Căn bản 22: Ổ-ba-nan-đà 鄔波難陀.

XXI. NGỌA CỤ BẰNG TƠ TẰM148

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại ấp A-trà-bệ,149 khi ấy, các Tỳ-kheo tự thân làm ngọa cụ150 bằng kiều-xa-da,151 tự làm, cũng dạy người làm; tự gánh kén cũng sai người gánh kén; tự ươm,152 khiến người ươm. Các cư sĩ thấy, nói: “Chúng ta ươm (nấu) kén, Tỳ-kheo cũng vậy. Sa-môn Thích tử cùng với ta nào khác gì? Những người này thường nói từ nhẫn chúng sinh, nhưng nay lại tự mình ươm kén, không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Có một Tỳ-kheo dùng kén tằm còn thô quay thành tơ rồi nhờ các Tỳ-kheo may ngọa cụ. Vì bị thiếu tơ, liền đến nhà người làm tơ nói:
“Ngọa cụ tôi bị thiếu tơ, giúp cho ít nhiều!”
Người kia nói:
“Chưa có thành tơ.”
Tỳ-kheo lại nói:
“Có thể vì tôi ươm.”
Người kia liền ở trước mặt Tỳ-kheo ươm kén. Tiếng nhộng khua động trong kén, Tỳ-kheo bảo nhận nó xuống nước sôi. Người kia liền trách mắng:
“Thầy thường nói không sát sanh mà nay lại bảo người sát sanh, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới bằng kiều-xa-da, [35a01] Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Kiều-xa-da: Tức tơ làm từ con tằm.
Ngọa cụ: Nệm nằm, cho đến mới thành ba nấc dày không hư hoại gọi là ngọa cụ.
Nên xả cho Tăng, không nên xả cho người khác. Tăng dùng để trải trên đất, hay trên giường dây,153 giường nằm.154
Trừ Tỳ-kheo xả ngọa cụ, ngoài ra tất cả tùy theo thứ tự mà Tăng nằm ngồi. Móng tâm muốn làm hay tìm cách làm đều Đột-kiết-la. Làm thành, phạm Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Tuy không tự làm, không khiến người làm, người khác cho mà nhận cũng Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Sa-di phạm Đột-kiết-la.

XXII. NGỌA CỤ TOÀN ĐEN155

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Câu-xá-di,156 khi ấy số đông Bạt-kỳ Tử157 dùng dạ158 lông toàn đen,159 bóng sáng khả ái, để làm đồ phục sức, ngọa cụ. Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ cũng bắt chước làm như vậy. Một hôm, các cư sĩ vào phòng xem, thấy rất kinh sợ, tưởng đó là hào tộc Bạt-kỳ tụ tập vui chơi, bèn hỏi người đồng hành:160
“Đây là phục sức của những quý nhân nào?”
Trả lời:
“Không phải vật của quý nhân, là của Tỳ-kheo Bạt-kỳ!”
Các cư sĩ liền hiềm trách, nói: “Các Tỳ-kheo mà phục sức như nhà vua, như đại thần, như hào tộc lúc đi xe ngựa. Tôi nghe Tỳ-kheo mặc y cắt rọc, cầu đạo vô vi, mà nay như thế này! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, sắm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn đen, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Toàn đen: Đen tự nhiên,161 hay đen do nhuộm.
Nên xả cho Tăng, Tăng dùng trải trên giường dây hay giường nằm, không được trải trên đất. Ngoài ra đều như trong giới ngọa cụ bằng Kiều-xa-da đã nói.

XXIII. NGỌA CỤ QUÁ PHẦN162

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Câu-xá-di.163 Khi ấy, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ164 làm ngọa cụ bằng lông dê đen trộn thêm một ít lông trắng và lông màu khác,165 bèn nói là tịnh rồi. Các Tỳ-kheo trưởng lão thấy, hỏi:
“Thầy không nghe đức Phật cấm sắm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen hay sao?”
Trả lời: “Có nghe, nhưng tôi đã trộn lông trắng và màu khác, chẳng phải hoàn toàn đen!”
Các Tỳ-kheo nói:
“Hoàn toàn đen, và trộn một ít màu tạp thì sao đủ gọi là khác?”
Bằng mọi cách quở trách rồi, [35b01] đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo làm ngọa cụ với hai phần lông dê hoàn toàn đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu khác.
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới, từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, sắm ngọa cụ mới, nên dùng hai phần lông dê đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu khác. Nếu làm quá lượng này, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Nếu Tỳ-kheo làm ngọa cụ bốn mươi Ba-la166 thì nên dùng hai mươi Ba-la lông màu đen, mười Ba-la màu trắng, mười Ba-la màu khác. Nếu màu đen dư một Ba-la, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Ngoài ra như trong giới làm ngọa cụ bằng lông dê hoàn toàn đen đã nói.

XXIV. NGỌA CỤ DƯỚI SÁU NĂM167

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Câu-xá-di.168 Bấy giờ, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ169 nghĩ như vầy:
“Đức Phật đã cho phép chúng ta dùng hai phần lông dê hoàn toàn đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu khác để làm ngọa cụ.” Họ bèn xin ba loại lông ấy thật nhiều; tại nơi chỗ ở không chỗ nào không có, họ tự làm, hay sai người làm. Các cư sĩ đến xem thấy, hỏi:
“Vật này của ai?”
Trả lời:
“Của Tỳ-kheo Bạt-kỳ.”
Các cư sĩ hiềm trách, như trong (giới chứa)* bát dư đã nói. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, sắm ngọa cụ mới, phải thọ trì cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, dù xả hay không xả170 lại sắm ngọa cụ mới, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Bấy giờ có một Tỳ-kheo cất chứa ngọa cụ phấn tảo, thấy trong đó có lợi lạc. Muốn từ thành Xá-vệ đi đến ấp Ta-kiệt-đà, vì ngọa cụ nặng, nên Tỳ-kheo ấy không thể mang theo được, không biết làm thế nào, đem sự việc bạch với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, bạch sự việc lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo này muốn đến ấp Ta-kiệt-đà, ngọa cụ nặng, vì trong đó thấy có lợi lạc, nên không thể xả, lại không thể mang theo được. Tăng nên bạch nhị Yết-ma cho đổi cái nhẹ hơn. Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng xin:
Tôi, Tỳ-kheo tên là… tự mình chứa ngọa cụ, thấy trong đó có lợi lạc. Nay muốn du hành đến chỗ đó… , vì (ngọa cụ)* nặng nên không thể mang đi, xin Tăng đổi cái nhẹ hơn của tăng.”
Lần thứ hai, [35c01] lần thứ ba cũng xin như vậy. Trong Tăng nên sai một Tỳ-kheo bạch:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… tự mình chứa ngọa cụ, thấy trong đó có lợi lạc. Nay muốn du hành đến chỗ đó…, vì nặng nên không thể mang đi, đến Tăng xin đổi cái nhẹ hơn. Nay Tăng cho đổi. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… tự chứa ngọa cụ, thấy trong đó có lợi lạc, muốn du hành đến chỗ đó…, vì nặng không thể mang đi, đến Tăng đổi cái nhẹ hơn. Nay Tăng cho đổi. Các trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã (đồng ý)* cho Tỳ-kheo tên là… đổi ngọa cụ nhẹ của Tăng rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này, nên thọ trì như vậy.”
Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
“Tỳ-kheo nào, sắm ngọa cụ mới, phải thọ trì sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, dù xả, hay không xả, lại sắm ngọa cụ mới, trừ Tăng Yết-ma, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Sáu năm: Là tính đủ ngày trong sáu năm.
Ngoài ra, như trong giới sắm ngọa cụ lông dê toàn đen đã nói.

XXV. TỌA CỤ KHÔNG HOẠI SẮC171

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Câu-xá-di.172 Bấy giờ, các Bạt-kỳ Tử làm Ni-sư-đàn173 bằng lông dê hoàn toàn đen, Tỳ-kheo Bạt-kỳ cũng xin làm. Các cư sĩ chán ghét nạn đòi xin. Sau đó họ đến phòng Tăng xem, thấy các Tỳ-kheo cất chứa nhiều nệm ngồi lông dê hoàn toàn đen, bèn chê trách, như trong giới ngọa cụ hoàn toàn đen đã nói. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo kia:
“Các ngươi có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng nhiều cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, sắm Ni-sư-đàn mới, bằng lông dê toàn đen, nên dùng miếng Ni-sư-đàn cũ, cỡ một gang tay Tu-già-đà174 may lên làm hoại sắc. Nếu không làm hoại sắc, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Một gang tay Tu-già-đà: Vuông vức hai thước.175
Làm hoại sắc: Là tùy ý phủ lên trên cái mới.
Ngoài ra, như trong ngọa cụ lông dê hoàn toàn đen đã nói.

XXVI. QUẢY LÔNG DÊ176

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.177 Bấy giờ, các Tỳ-kheo178 gánh vác lông dê đi dọc đường. Người đi đường thấy, đều cơ hiềm nói: “Chúng ta hệ lụy gia đình nên phải gánh vác lông dê, các Tỳ-kheo lại cũng như vậy. Vậy thì người mặc y cắt rọc hoại sắc, cạo đầu, khất thực cùng ta nào khác!? Họ không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Có một Tỳ-kheo ở núi, quen thích gánh vác lông dê đi đường, vì quá nhọc mệt nên đã về đến giữa sân Tăng phường thì té xỉu xuống đất. [36a01] Các Tỳ-kheo thấy, tưởng là bị quỷ nhập, liền lấy nước tiểu xối lên. Tỳ-kheo kia hỏi:
“Tại sao trưởng lão lại dội nước lên tôi?”
Trả lời:
“Vì sợ quỷ nhập vào, nên dùng nước xối lên vậy!”
“Tôi chẳng phải bị quỷ nhập mà vì gánh lông dê nặng đi đường mỏi mệt, nóng bức, khó thở nên vậy.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật chế, Tỳ-kheo chỉ thọ trì ba y và bình bát. Giống như chim bay được cũng nhờ đôi cánh, thầy há không nghe sao mà còn gánh thứ này?”
Bằng mọi cách quở trách, rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, gánh lông dê đi đường, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Khi ấy, có cư sĩ vì Tăng làm một cái phòng, nghĩ rằng: “Nếu Tỳ-kheo nào đến ở phòng này thì mình cúng dường và cung cấp y.”
Có một Tỳ-kheo đến nghỉ phòng này, (cư sĩ)* bèn cúng lông dê, Tỳ-kheo không nhận, cư sĩ nói:
“Con để dồn lông dê, bổn ý là vì Tỳ-kheo chứ không phải vì bản thân.”
Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật không cho phép tôi tự gánh lông dê thì làm sao nhận?”
Lại có Tỳ-kheo cần lông dê làm ngọa cụ, tự mình không biết làm. Vì muốn nhờ Tỳ-kheo khác, nên không dám nhận, rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Người mà ông muốn nhờ cách ông xa gần?”
Thưa: “Cách con ba do-tuần.”179
Bấy giờ, đức Thế Tôn khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo, từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
“Tỳ-kheo nào, được lông dê, cần mang đến chỗ làm, nếu tự mình mang cho đến ba do-tuần. Nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo được lông dê, cần mang đến chỗ (làm)*, thì nên sai tịnh nhơn gánh, nếu không có tịnh nhơn mới cho phép tự mang, nhưng không được đội đầu hay gánh vác trên vai. Ai phạm, Đột-kiết-la. Sa-di, Đột-kiết-la.
Không phạm: Trong phạm vi ba do-tuần, hay lần lượt thay nhau mang, hoặc có người mang thế; hoặc trong ba do-tuần mang trở lại; hoặc chỉ mang năm, sáu Ba-la180 làm dây lưng hay cái mão và các loại khác.181

XXVII. NHỜ CHẢI LÔNG DÊ182

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.183 Bấy giờ, các Tỳ-kheo sai Tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, đập lông dê. Các Tỳ-kheo-ni vì cúng dường nên không dám từ nan, nên công việc đa đoan bề bộn, phế bỏ đọc tụng, tọa thiền, hành đạo. Các cư sĩ nghe thấy, cơ hiềm. Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề184 cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đi đến chỗ Phật, [36b01] cũng như giặt y cũ đã nói ở trên. Nhân việc này, bấy giờ đức Thế Tôn tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, sai Tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải lông dê, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo có Tỳ-kheo-ni thân quyến, cũng như giới giặt y cũ ở trên đã nói. Đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo, từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
“Tỳ-kheo nào, sai Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến giặt lông dê, hoặc nhuộm, hoặc chải, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Ngoài ra, như giới giặt y cũ đã nói ở trên.

XXVIII. BUÔN BÁN185

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,186 bấy giờ, Bạt-nan-đà187 trao đổi mọi thứ, thường thủ lợi về mình, người khác không bao giờ được lợi. Có một ngoại đạo được y (tấm vải)* chưa may thành, mang đến nhà ngoại đạo (khác) nói:
“May thành (y)* cho tôi.”
Mọi người đều trả lời:
“Nhà tôi nhiều việc không may được. Sa-môn Thích tử nhàn rỗi không có việc gì, lại được cúng nhiều y, có thể đến đó nhờ may, cũng có thể trao đổi; song Sa-môn kia thường hay nổi tiếng là một nhà buôn lớn, ông đến đó nên cẩn thận.”
Lúc ấy, ngoại đạo mang đến Tăng phường, hỏi:
“Ai có thể vì tôi may chiếc y này?”
Mọi người đều nói không thể may được. Lại hỏi Bạt-nan-đà:
“Tôi nghe Đại đức có nhiều y đã may xong, có thể đổi một cái cho tôi được không?”
Bạt-nan-đà nói:
“Ngoại đạo các ông, tâm không dứt khoát, hay thay đổi bất thường; đổi được rồi lại nói tốt xấu không công bằng. Nếu sau đó không nói thì sẽ đổi cho nhau.”
Trả lời: “Người khác thì như vậy, chứ tôi dứt khoát không hối hận.”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà lấy nước nhuộm dơ, nhuộm lại y Bệnh can tiêu188 cũ, giặt xếp thật tỉ mỉ để đổi. Ngoại đạo đổi được y rồi đem về trong chúng ngoại đạo, ngoại đạo hỏi:
“Đã may thành y chưa?”
Trả lời: “Đã đổi được y rồi!”
Lấy y ra cho xem. Ngoại đạo liền lấy ra cho mọi người xem, họ thấy rồi đều nói: “Ôi cha! Bỏ đi tấm vải quý giá mà đổi lấy cái vật tệ thế này, so ra (tệ hơn)* gấp năm, sáu lần. có thể lấy vải lại, chúng tôi sẽ cùng nhau bỏ việc vì ông may cho.”
Người ngoại đạo liền mang y trả lại, nói với Bạt-nan-đà:
“Ông là con dòng họ Thích, tại sao đem y xấu tệ thế này lừa dối tôi? Có thể đổi lại cho tôi! Không rao truyền việc xấu của ông đâu!”
Bạt-nan-đà nói:
“Tôi biết tâm [36c01] ngoại đạo không dứt khoát, hay thay đổi bất thường, tôi không muốn trao đổi nhau. Ông đã nói không hối hận, cho nên tôi mới theo ý ông, tại sao bây giờ lại nói như vậy? Không đổi lại đâu!”
Ngoại đạo bèn khóc lớn. Các cư sĩ hỏi: “Tại sao ông khóc?”
Ngoại đạo kể lại mọi chuyện. Các cư sĩ cơ hiềm nói: “Người đời mua bán sau bảy ngày còn đổi lại được, tại sao Sa-môn mới trong chốc lát lại không đổi được? Ăn mặc cùng người có khác, mà mua bán quá hơn người!”
Tiếng xấu như vậy lan khắp các nơi. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, mua bán trao đổi dưới mọi hình thức cầu lợi,189 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Dùng vật đã làm đổi vật đã làm, dùng vật đã làm đổi vật chưa làm; dùng vật đã làm đổi vật làm chưa xong; dùng vật chưa làm đổi vật chưa làm; dùng vật chưa làm đổi vật đã làm; dùng vật chưa làm đổi vật làm chưa xong; dùng vật làm chưa xong đổi vật làm chưa xong; dùng vật làm chưa xong đổi vật đã làm; dùng vật làm chưa xong đổi vật chưa làm, đều Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu Tỳ-kheo muốn trao đổi, nên sai tịnh nhân nói: “Vì tôi lấy vật này đổi vật kia.” Hơn nữa, phải với tâm niệm: “Nên khiến cho người kia được lợi hơn ta, ta không nên được lợi hơn người kia.”
Nếu tự đổi chác thì nên (trao đổi)* giữa năm chúng (xuất gia)*. Nếu trao đổi cùng bạch y, Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới, Đột-kiết-la.

XXIX. KINH DOANH TÀI BẢO190

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.191 Bấy giờ, Nan-đà, Bạt-nan-đà192 dùng vàng, bạc; tiền bằng vàng, tiền bằng bạc, tiền bằng tạp vật để bán vật hay mua vật thu vào. Khi ấy, có bọn cướp đến thành Vương Xá rình tìm các nhà giàu, thấy hai Tỳ-kheo dùng nhiều vàng bạc và tiền bán vật dụng và mua vật dụng thu vào, bọn chúng cùng nhau bàn: “Quan sát nơi thôn ấp này không ai giàu hơn Sa-môn Thích tử. A-lan-nhã lại là nơi dễ cướp đoạt”. Liền ngày hôm sau, đến nơi A-lan-nhã, bắt các Tỳ-kheo tra khảo để lấy vàng bạc và các loại tiền. Các Tỳ-kheo nói:
“Chúng tôi đã xa lìa vàng bạc và tiền, lại không nhận và chứa vật bất tịnh này.”
Bọn cướp nói:
“Các ông nói láo. Chính tôi thấy Tỳ-kheo dùng nó để mua bán.”
Họ tra khảo gần chết rồi cướp hết y bát mà đi. Các Tỳ-kheo này từ xa quở trách [37a01] Nan-đà, Bạt-nan-đà:
“Tại sao xuất gia lại chất chứa bảo vật để đến nỗi gây tai họa đến chúng tôi?”
Rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Nan-đà, Bạt-nan-đà:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ông là người ngu si, nếu các ông không làm vậy thì các Tỳ-kheo kia đâu có bị tai họa như thế!”
Bằng mọi cách quở trách rồi Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, dùng vàng bạc và các loại tiền mua bán, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
(Vật phạm)* nên xả giữa Tăng, không nên xả cho một, hai, ba người. Tỳ-kheo ấy nên bạch Tăng:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… dùng vàng bạc và tiền mua bán, phạm Xả đọa, nay xin xả giữa Tăng. Đây là lời tác bạch.”
Tăng nên bạch nhị Yết-ma sai một Tỳ-kheo làm người vất bỏ vàng bạc và tiền. Một Tỳ-kheo bạch:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên… dùng vàng bạc và tiền mua bán, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Tăng sai Tỳ-kheo tên… làm người vất bỏ vàng bạc và tiền. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên… dùng vàng bạc và tiền mua bán, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Tăng sai Tỳ-kheo tên… làm người vất bỏ vàng bạc và tiền. Các trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng, không đồng ý xin nói. Tăng đã sai Tỳ-kheo tên… làm người vất bỏ vàng bạc và tiền rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo kia nên vất bỏ vật này trong hầm, trong lửa, trong dòng nước, trong đồng hoang, vất bỏ rồi không nên ghi nhớ chỗ vất bỏ. Hoặc cầm đem bỏ chỗ khác thì không được lấy lại. Tỳ-kheo kia không nên hỏi Tăng: “Vật này nên làm thế nào?” Tăng cũng không nên bảo phải làm thế này, thế này. Nếu không đem vất bỏ, không hỏi Tăng, mà bảo tịnh nhơn đem đổi chác lấy thức ăn hay y phục đem đến cho Tăng, Tăng có thể nhận. Nếu đem phân chia thì chỉ có người phạm tội không được nhận phần.
Tỳ-kheo-ni phạm cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.
Không phạm: Tuy cho mà Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không biết, tịnh nhơn nhận rồi mua tịnh vật.

XXX. CẦM GIỮ VÀNG BẠC193

A. DUYÊN KHỞI
Khi đức Phật ở tại thành Vương Xá,194 bấy giờ, Nan-đà, Bạt-nan-đà195 tự tay cầm vàng bạc và tiền, bảo người cầm, người cho cũng nhận. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm, như trong giới gánh lông dê đã nói. Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem sự việc bạch lên Phật. [37b01] Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Nan-đà và Bạt-nan-đà:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi, nên nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự mình cầm vàng bạc và tiền, hoặc sai người cầm hay móng tâm thọ nhận, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Ngoài ra, như trong giới sử dụng vàng bạc và tiền đã nói.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *