Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 08. Phần I – Chương 5 – Pháp Tọa

Ngũ Phần Luật – 08. Phần I – Chương 5 – Pháp Tọa

CHƯƠNG V : PHÁP ĐỌA

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. CỐ Ý VỌNG NGỮ[1]

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.[2] Bấy giờ, có Tỳ-kheo pháp sư tên là Sa-lan,[3] thông minh biện tài, tất cả bốn chúng, ngoại đạo, Sa-môn, Bà-la-môn không ai sánh kịp. Chạy theo việc lấy quấy làm phải, lấy phải làm quấy, biết nói chẳng biết, chẳng biết nói biết, luôn luôn dùng miệng lưỡi xảo biện để hơn người. Các Tỳ-kheo thấy vậy, không ai là không thán phục. Có vị hỏi:
“Sư cùng người bàn luận, lấy quấy làm phải. Ý cho là phải đó, có biết là quấy chăng?”
Trả lời:
“Thật sự tôi biết đó là quấy, nhưng sẽ xấu hổ nếu đưa đến thất bại nên phải nói dối vậy!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách:
“Đức Phật thường khen ngợi người không nói dối, dạy người không nói dối, nay tại sao thầy vì vấn đề thắng bại mà tạo ra việc nói dối này.”
Rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Sa-lan:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói dối, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo thấy Tỳ-kheo-ni nhầm nói là Tỳ-kheo, thấy Tỳ-kheo nói là Tỳ-kheo-ni; hoặc thấy nam nói nữ, thấy nữ nói nam; hay thấy ngoại đạo nhầm nói Thích tử, thấy Thích tử nói ngoại đạo. Các trường hợp thấy khác nói khác như vậy, bèn sanh lòng hổ thẹn, chúng ta há không phạm [37c01] Ba-dật-đề chăng?” đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo nào, từ tâm tưởng nói ra, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cố ý nói dối,4 Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Cố ý nói dối: Như đã nói trong giới nói dối, là được pháp hơn người.
Tỳ-kheo-ni phạm cũng như vậy. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.

II. MẮNG NHIẾC5

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.6 Bấy giờ, các Tỳ-kheo cùng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng Hòa thượng, A-xà-lê đều siêng năng học vấn, đầu đêm cuối đêm không hề ngủ nghỉ. Nhóm sáu Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nay các Tỳ-kheo lần lượt đêm ngày dạy nhau không phế bỏ, như vậy không lâu sẽ hơn chúng ta, sẽ thấy lỗi của ta, sẽ tìm những tỳ vết của ta. Chúng ta cần phải cùng nhau hủy báng gây phiền, khiến họ phế bỏ việc học.” Họ bèn đến nói:
“Thầy thuộc hạng công nghiệp, tiểu nhân, dòng họ hạ tiện. Thầy đã từng làm các việc đại ác, không hành nhân thiện.”7
Các Tỳ-kheo nghe liền sầu não, phế bỏ việc học hành. Nhóm sáu Tỳ-kheo nói với người khác:
“Tôi đã phá hoại việc đọc tụng, tọa thiền, hành đạo của họ.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao các thầy hủy báng các Tỳ-kheo, khiến cho họ bỏ phế việc học hành?”
Rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Xưa kia, có thành tên Đắc-xoa-thi-la.8 Bấy giờ, trong thành có Bà-la-môn nuôi một con bò đực,9 đi nhanh, nhiều sức khỏe. Lại có một cư sĩ10 cũng có một con bò, giống như con bò kia. Hai người cùng đem hai con bò đọ sức nhau, đánh cá con nào thua (sẽ bị phạt)* năm mươi tiền vàng.11 Con bò người Bà-la-môn đắc thắng. Lúc đó, người cư sĩ xấu hổ vì mất tiền, nên phải tậu một con bò (mạnh)* hơn gấp bội con trước, đánh cá quyết tăng gấp bội. Bà-la-môn kia liền nói với con bò rằng: “Cư sĩ kia lại phải tậu một con bò khác, sức mạnh phi phàm, muốn đánh cá gấp bội, ngươi có thể giúp (thắng)* được không?”
Trả lời: “Tôi có thể.”
Họ liền tập trung một chỗ để hai con bò đọ sức.
Bấy giờ, Bà-la-môn vì sợ con bò mình không thắng, nên dùng lời chê bai để thôi thúc (tự ái)*: Nào là thương xót cho đôi sừng cong! Thương xót cho cái cổ nhỏ giương ra của nó! Nay tướng đi của ngươi tại sao không vững vàng? Con bò nghe những lời này, sức mạnh liền mất hết, không thắng được con bò kia. Bà-la-môn nọ chung tiền phạt gấp đôi rồi hỏi con bò:
“Vừa rồi ngươi nói với ta là có thể (thắng)*, tại sao bây giờ không vậy?”
Con bò trả lời:
“Thật sự tôi rất có thể, nhưng nghe những lời chê bai nên liền bị kiệt sức. [38a01] Ông có thể quyết đoán cá lại gấp bội lần trước. Quan trọng là khi đọ sức kéo trăm xe lên sườn núi cao, ông phải có lời khéo khuyến dụ, có thể nói cái sừng cong, bộ đi của tôi vững chãi, thân thể nhàn nhã đẹp đẽ, kéo trăm xe lên sườn núi cao (như chơi)*. Lúc đó ông đánh cuộc lại, quả thật liền được thắng.”
Nhân việc này, đức Phật liền nói kệ:
“Nên nói lời vừa ý,
Không nên lời không thể.
Súc sanh nghe còn vui,
Kéo nặng lên sườn cao,
Do đó không ai địch.
Bội thu sanh hoan hỷ,
Huống là đối với người.
Huỷ danh chỉ có hại?
Này các Tỳ-kheo, loài súc sanh kia nghe lời hủy báng còn mất sức kéo, huống là đối với người ư! Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, hủy báng12 Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Hủy báng: Như nói dòng hạ tiện, công nghiệp, những dòng như vậy. Tuy nói thật mà muốn hủy báng, nếu người kia nghe hiểu những lời này thì, Ba-dật-đề, nếu không nghe, không hiểu, Đột-kiết-la.
Nếu nói: Ngươi là dòng hạ tiện, mà vị ấy nói “Chẳng phải”, còn chứng minh là phải, mỗi một lời nói. Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo hủy báng Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni huỷ báng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề; hủy báng Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni hủy báng năm chúng, Đột-kiết-la.
Không phạm: Lời nói vì muốn lợi ích, lời nói vì răn dạy, lời nói có sự thỏa thuận.

III. NÓI LI GIÁN13

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.14 Bấy giờ, các Tỳ-kheo siêng năng học hỏi, như trong giới hủy báng đã nói. Nhóm sáu Tỳ-kheo lại sợ hơn mình, bèn tìm cách “quậy”. Họ đến Tỳ-kheo này nói:
“Thầy cùng tôi là chỗ quen biết thâm tình, mà (Tỳ-kheo)* kia nói thầy là dòng họ hạ tiện, hạng công nghiệp, tiểu nhân; đã từng làm những việc đại ác, không hành nhân-thiện. Tôi nghe những lời như vậy, như là nói cho tôi không khác. Và đến chỗ Tỳ-kheo kia lại cũng nói như vậy.”
Hai bên nghe như vậy, tâm bị dao động, phế bỏ việc học tập, lại giận ghét nhau, không nói chuyện với nhau.
Có một Tỳ-kheo hỏi các Tỳ-kheo:
“Tại sao các thầy không nói chuyện với tôi?”
Tỳ-kheo kia trả lời:
“Có người nói, thầy bảo tôi xấu.”
Vị kia hỏi: “Ai nói?”
Trả lời: “Nhóm sáu Tỳ-kheo.”
Vị kia nói: “Nhóm sáu Tỳ-kheo cũng nói rằng các thầy nói tôi xấu.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Tại sao các thầy [38b01] nói ly gián nhau?”
Rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ông là người ngu si, tại sao đồng sống trong một giáo pháp mà lại nói ly gián nhau?”15
Đức Phật kể cho các Tỳ-kheo nghe:
“Thời quá khứ có con sư tử tên là Thiện Nha,16 có con cọp tên là Thiện Trảo,17 cùng làm bạn thâm tình nhau. Có một con chồn hoang thường đi theo tìm ăn đồ thừa. Sư tử và cọp không nói chuyện với nó. Sau đó, chồn hoang nghĩ như vầy: “Hai con thú này rất thương yêu nhau, ta nên tìm cách gây rối để tìm thức ăn dư mà ta sẽ được, từ cả hai bên tất sẽ nhiều.” Chồn bèn đến cọp nói kệ:
Thiện Trảo, ông hùng mạnh,
Chỗ sanh, thân, sức tốt.
Thiện Nha nói ông xấu,
Tôi nghe không vui lòng.
Chồn lại đến bên sư tử nói kệ:
Thiện Nha, ông hùng mạnh,
Chỗ sanh, thân, sức tốt.
Thiện Trảo nói ông xấu,
Tôi nghe không vui lòng.
Hai con thú nghe kệ, cả hai không vui nhau. Thiện Nha thông minh nên nghĩ như vầy: “Thiện Trảo không nói ta vậy, mà chắc là chồn hoang gây rối tạo ra đây!”
Sau đó, sư tử bắt được con trâu nghé cho hổ; nhưng hổ không bằng lòng ăn. Khi ấy, sư tử liền nói kệ, hỏi:
Bỏ đồ tôi đem biếu,
Tại sao mà không dùng?
Tình thâm không hề lỗi,
Phản lại không vui nhau!
Không tin theo lời chồn,
Nó ly gián ý mình!
Nếu ôm lòng tình hận.
Mãi trở thành oán kết.
Xét ra không ai khác,
Đích thị chồn gièm pha.
Kẻ hạ tiện gây rối,
Nay phải trừ khử nó.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Súc sanh gây rối còn cho là bậy, huống là đối với người ư! Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói hai lưỡi khiến Tỳ-kheo loạn đấu,18 Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trong giới hủy báng đã nói.

IV. THUYẾT PHÁP QUÁ NĂM LỜI19

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.20 Bấy giờ, Bạt-nan-đà21 thường tới lui một nhà cư sĩ vì họ nói pháp, liệu lý các việc quan, cứu các bệnh khổ. Thời gian sau, gia đình kia bị [38c01] suy tán kiệt quệ, chỉ còn hai người, mẹ chồng và nàng dâu mà thôi. Vì tình thân hậu, khi Bạt-nan-đà vì mẹ chồng nói pháp, nàng dâu đến thì lại dừng (không nói nữa)*; vì nàng dâu nói pháp, mẹ chồng đến thì cũng như vậy. khiến cả hai có ý nghi, là họ muốn làm hạnh bất tịnh. Cả hai mang rao truyền cho nhau khắp nơi đều nghe vậy. Những người không tin ưa Phật pháp bèn cơ hiềm nói:
“Sa-môn Thích tử làm việc phi pháp, còn hơn cả hạng người dâm đãng ở thế gian, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo đại oai đức, đến giờ, khoát y mang bát vào thành khất thực, theo thứ tự đến một gia đình. Người phụ nữ ra trải tòa mời ngồi, cúng dường đồ ăn thức uống ngon bổ. Ăn xong, bà ta lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi phía trước, bạch:
“Đại đức vì con nói pháp.”
Tỳ-kheo quan sát, biết người phụ nữ này chỉ trong chốc lát nữa sẽ bị trúng gió chết và đọa vào địa ngục. Nếu vì bà nói pháp thì, liền trên chỗ ngồi xa lìa trần cấu. Tuy thấy biết như vậy, nhưng lại nghĩ như vầy: “Đức Phật cấm không cho phép vì người nữ nói pháp, cho dù bỏ mạng cũng không được phạm”. Liền trả lời:
“Tỷ muội cứ an, không thể nói được!”
Nói xong bỏ đi. (Tỳ-kheo)* đi không lâu, quả thật người phụ nữ trúng gió mà chết. Tỳ-kheo xót thương, trở về lại Tăng phòng kể lại với các thầy. Các Tỳ-kheo dẫn đến chỗ Phật, đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật lại hỏi Tỳ-kheo kia:
“Nếu ông vì phụ nữ đó nói pháp thì cần bao nhiêu lời họ hiểu được?”
Thưa:
“Bạch Thế Tôn, chừng năm, sáu lời.”
Khi ấy, đức Phật khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo vì người nữ nói pháp đến năm, sáu lời. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vào trong nhà người khác, người phụ nữ mời nói pháp, Tỳ-kheo nói năm, sáu lời rồi đứng im lặng. Các phụ nữ thưa:
“Chúng con chưa hiểu, xin thầy nói lại.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Này Tỷ muội, đức Phật không cho phép chúng tôi nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời.”
Các phụ nữ thưa:
“Có thể vì các Tỳ-kheo khác thuyết, nhân đó chúng con được hiểu.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi [39a01] nhân có Tỳ-kheo khác mà vì người nữ nói pháp.”
Rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép, nhân có Tỳ-kheo mà vì người nữ thuyết pháp.”
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo vào nhà đại thần, không có Tỳ-kheo bạn, các phụ nữ mời thuyết pháp, Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật không cho phép tôi nói pháp quá năm, sáu lời, cho người nữ.”
Các phụ nữ liền kêu tiểu nhi đến trước mặt rồi thưa:
“Bạch Đại đức, có thể vì thiếu nhi này nói pháp, nhân đó, chúng con được hiểu.”
Trả lời:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhân có thiếu nhi vì phụ nữ thuyết pháp.”
Rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay nếu có người nam hiểu biết, thì cho phép nói pháp cho người nữ.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Tuy đức Phật cho phép ta nhân có người nam hiểu biết, thì được vì người nữ nói pháp; tuy biết người nam hiểu biết nhưng khó gặp, nên không vì họ mà nói.” Rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay, nhân có người nam biết phân biệt được những lời thiện, ác, thì cho phép vì người nữ thuyết pháp. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời, trừ có người nam biết phân biệt lời thiện ác, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, có người Ưu-bà-tắc cưới người nữ nhà không tín ngưỡng22 làm vợ, thưa với các Tỳ-kheo:
“Đại đức (có thể)* vì vợ con nói pháp, giúp cho cô ấy tin ưa Tam bảo, thọ trì Tam quy, ngũ giới và bát phần giới;23 nói cho cô ấy mười điều thiện và mười điều bất thiện.”
Các Tỳ-kheo đều không vì cô nói pháp, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép nói mười điều thiện và mười điều bất thiện cho người nữ thọ trì Tam quy, ngũ giới, bát phần giới.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

C. THÍCH TỪ
Năm lời: Sắc vô thường, thọ, tưởng, hành, thức vô thường.
Sáu lời: Nhãn vô ngã, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, tâm vô ngã.24
Nếu Tỳ-kheo vì người nữ nói năm, sáu lời, rồi nói: “Này Tỷ muôi! Chánh pháp ngang chừng ấy thôi”. Rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi, sau có nhân duyên trở lại ngồi vì họ nói nữa, không phạm. Nếu nói năm, sáu lời rồi, lại có người nữ (khác)* đến, vì người nữ đến sau mà nói, như vậy tiếp tục vì vô lượng người nữ mà nói cũng không phạm. Nếu tự mình tụng kinh, người nữ đến nghe, hay người nữ hỏi nghĩa, cần giúp cho họ hiểu, nói quá năm, sáu lời đều không phạm.

V. KHƠI LẠI TRÁNH SỰ25

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.26 Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo có thế lực, còn các thiện Tỳ-kheo khác [39b01] không có thế lực. Nhóm sáu Tỳ-kheo thường ngăn năm loại Yết-ma: Yết-ma ha trách,27 Yết-ma khu xuất,28 Yết-ma y chỉ,29 Yết-ma cử tội,30 Yết-ma hạ ý.31 Nếu Tỳ-kheo nào bị năm Yết-ma này, mà Tăng muốn giải họ cũng ngăn không cho. Sau đó, nhóm sáu Tỳ-kheo không còn thế lực, các thiện Tỳ-kheo lại có thế lực. Chúng Tăng có việc cần Yết-ma, nhân lúc nhóm sáu Tỳ-kheo đang may y, các Tỳ-kheo nói:
“Hôm nay nên kêu nhóm sáu Tỳ-kheo cùng Tăng hành Tăng sự, nếu họ bận may y không đến thì tự họ gởi lại lời,32 chúng ta được hành sự như pháp.”
Các Tỳ-kheo liền tập Tăng, sai người nói với nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Nay Tăng tập hợp, các thầy nên đến.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:
“Chúng tôi có việc, nay sai người gởi lại lời.”
Họ liền gởi lại lời cho một tỳ-kheo đến đại chúng. Khi ấy, Tăng cần tác năm thứ Yết-ma thì cho tác năm thứ Yết-ma; cần giải năm thứ Yết-ma thì cho giải năm thứ Yết-ma. Yết-ma xong, vị Tỳ-kheo được gởi lại lời trở về chỗ nhóm sáu Tỳ-kheo, nhóm sáu Tỳ-kheo hỏi:
“Tăng làm việc gì?”
Trả lời:
“Những điều chúng ta muốn Yết-ma thì, Tăng đều không làm; những điều chúng ta không muốn, Tăng lại làm!”
Nhóm sáu Tỳ-kheo liền đến chỗ Tỳ-kheo bị Yết-ma, nói:
“Các thầy chớ buồn lo, chúng tôi sẽ trợ lực cho các thầy. Vừa rồi vì chúng tôi không biết tác Yết-ma vì các thầy, cho nên mới gởi lại lời; nếu biết, chúng tôi đã bỏ việc để đến thì làm sao Yết-ma này của họ thành tựu được!?”
Họ lại đến chỗ Tỳ-kheo được giải Yết-ma, nói:
“Tôi không cho thầy giải Yết-ma, không nhận sự sám hối của thầy.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, quở trách nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Tăng đã như pháp xử đoán sự việc rồi, tại sao phát khởi trở lại?”
Rồi dẫn đến chỗ đức Phật đem sự việc bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, sự việc đã được Tăng xử đoán rồi, mà phát khởi lại, Ba-dật-đề.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo không biết sự việc Tăng đã xử đoán rồi, nên phát khởi lại, sau biết sanh tâm hổ thẹn, hoặc có người đã xuất tội hối quá. Các Tỳ-kheo Trưởng lão do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu không biết sự việc Tăng đã xử đoán rồi, phát khởi lại, mà phạm Ba-dật-đề là điều không có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, biết sự việc Tăng đã xử đoán rồi, mà phát khởi lại, Ba-dật-đề.”
Lại có sự việc, xử đoán không như pháp, các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: [39c01] “Nếu đức Phật cho phép chúng ta những sự việc nào không xử đoán như pháp, được phát khởi lại là tốt.” rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép sự việc nào Tăng xử đoán không như pháp, được phát khởi lại. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết sự việc Tăng xử đoán như pháp rồi,33 mà phát khởi lại,34 Ba-dật-đề.”
Nếu sự việc nào Tăng xử đoán như pháp, mà phát khởi, Ba-dật-đề. Nếu sự việc Tăng không bạch nhị Yết-ma xử đoán mà phát khởi, Đột-kiết-la. Nếu phát khởi việc riêng, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

VI. ĐỌC KINH CHUNG35

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ,36 cùng năm trăm Tỳ-kheo Tăng đến ấp A-trà-bệ. khi ấy cư sĩ kia nghĩ như vầy: “Đức Phật lâu mới đến đây, cũng lại sẽ đi. Chúng ta nên gần gũi các Tỳ-kheo để học tụng kinh kệ, thưa hỏi những điều chưa hiểu, sau khi Đức Thế Tôn đi, (chúng ta)* có được chỗ nương tựa.” (Người ấy)* liền đến chỗ các Tỳ-kheo thưa như vầy:
“Xin Đại đức dạy con đọc tụng kinh kệ.”
Các Tỳ-kheo nói: “Đức Phật chưa cho phép chúng tôi dạy người cư sĩ tụng kinh.”
Rồi do vậy bạch lên Phật, đức Phật dạy:
“Cho phép dạy bạch y tụng kinh.”
Các Tỳ-kheo từ nhiều nước xuất gia nên đọc tụng kinh kệ âm cú không chính xác, các cư sĩ chê trách nói:
“Tại sao Tỳ-kheo ngày đêm thân thừa37 mà không biết được ngữ âm người nam, người nữ, huỳnh môn, hai căn và ngữ pháp nhiều ít.”
Các Tỳ-kheo nghe, ai ai cũng đều xấu hổ, do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Phật liền chuyển lời quở trách các cư sĩ:
“Các ngươi là người ngu si, tại sao hiềm trách âm cú tụng kinh các nước khác nhau, cho là không chính xác!?”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, dạy người chưa thọ Cụ túc giới tụng kinh,38 Ba-dật-đề.”
Sau đó lại có các cư sĩ xin học tụng kinh. Các Tỳ-kheo nói:
“Các người chê âm cú39 của chúng ta, không chịu theo ta học, nay người lại đến, không phải tự làm cực khổ mình sao?”
Cư sĩ thưa: “Thưa Đại đức, con không hủy báng Phật pháp, không cầu mong phước điền nào khác. Đâu có thể vì người kia có lỗi mà không dạy con ư!”
Lại có các Sa-di cũng muốn học kinh, các Tỳ-kheo nói: “Chờ thọ Cụ túc giới rồi sẽ dạy cho ông.”
Các Sa-di thưa: “Chúng con xuất gia cần phải đọc tụng kinh kệ. Tại sao phải đợi thọ Cụ túc giới rồi mới dạy đọc tụng?”
Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
[40a01] “Nay cho phép dạy người chưa thọ Cụ túc giới tụng kinh, nhưng không được cùng tụng. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, dạy người chưa thọ Cụ túc giới tụng kinh, cùng tụng, Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Cùng tụng: Tụng một lượt. Hoặc âm thinh (người tụng trước)* chưa dứt người kia đã tụng, hoặc người kia tụng chưa xong, người này (tụng)* lập lại.40 Mỗi câu đều Ba-dật-đề.
Trước hết nên chỉ dẫn: “Đợi tôi nói rồi, sau mới lập lại.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Ba chúng dưới Đột-kiết-la.

VII. NGỦ CHUNG BUỒNG VỚI NGƯỜI CHƯA THỌ CỤ TÚC41

A. DUYÊN KHỞI
Khi đức Phật ở tại ấp A-trà-bễ,42 vì đức Phật sắp đi nên các cư sĩ kia đều đến chỗ Tỳ-kheo, cùng các Tỳ-kheo ở chung một nhà ngồi thiền,43 hoặc cùng đi kinh hành, đầu đêm cuối đêm đều không ngủ. Trong năm ngày (thuyết pháp)* thì đêm hoàn tất nói pháp vì quá mệt mỏi nên các Tỳ-kheo ngủ mê. Có một Tỳ-kheo không chuyên niệm, ngủ quá mê, đạp y lìa khỏi thân, hình bày rõ ràng. Cư sĩ thấy, lấy y phủ lại, cho đến ba lần, bèn nổi giận chê trách: “Thường nghe những người này hay dùng mọi cách chê trách dục mà nay phát khởi lộ hình. Như vậy, giống như không thích đạo, sao không hoàn tục!?”
Tỳ-kheo kia nghe, sanh tâm hổ thẹn. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe cũng hổ thẹn vô cùng, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách Tỳ-kheo kia:
“Ta thường khen ngợi ngủ không tâm tán loạn thì không có năm điều ác, nay tại sao ông ngủ mà không buột niệm? Nếu Tỳ-kheo ở chỗ kinh hành, ngồi toạ thiền, đứng, nằm mà phi oai nghi, người thấy sẽ không vui, (người không tin sẽ)* không sanh lòng tin; người đã có lòng tin thì sẽ thối lui, chẳng phải là người tạo ánh sáng cho đời.
Rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng ngủ đêm với người chưa thọ đại giới, Ba-dật-đề.”
Sau đó, các cư sĩ lại muốn đến chỗ các Tỳ-kheo tọa thiền hành đạo, các Tỳ-kheo đuổi ra không cho phép. Các cư sĩ thưa:
“Đại đức không được xua đuổi! Chúng con không tìm cầu phước điền nào khác, chỉ nương nhờ Đại đức, há có thể vì một người có lỗi mà tất cả chợt bị đuổi hết?”
Trong số cư sĩ, có người khỏe mạnh đột nhập vào phòng, các Tỳ-kheo không ngăn chận được, bèn ra ngủ bên ngoài, bị mòng muỗi, gió mưa, bụi bặm làm khốn đốn.
Bấy giờ, đức Phật từ ấp A-trà-tỳ đến nước Câu-xá-di,44 ngụ ở vườn Cù-sư-la.45 La-hầu-la46 một mình đến Tăng phường Bà-kỳ-la;47 rưới nước, lau quét một căn phòng, trải tọa cụ, lấy nước, rồi đóng cửa, đến chỗ Phật. Sau đó, Tỳ-kheo phân ngọa cụ [40b01] lại giao cho vị khác. Tỳ-kheo kia liền vào phòng ở. La-hầu-la, sau khi nghe pháp đầu đêm xong trở về phòng đã được (dọn)*. Tỳ-kheo kia nghe thấy hỏi:
“Ai đó?”
Trả lời:
“Là La-hầu-la.”
Tỳ-kheo kia nói:
“Ông đến đây có việc gì?”
Trả lời:
“Đây là phòng của tôi.”
Tỳ-kheo kia nói:
“Tỳ-kheo phân phối ngọa cụ đã giao cho tôi.”
La-hầu-la nói:
“Nhưng trước đây tôi đã dọn quét, trải ngọa cụ, rồi tạm thời đến chỗ Phật để nghe pháp, tại sao không trả phòng lại cho tôi?”
Tỳ-kheo kia nói:
“Tuy ông đã liệu lý, nhưng tôi là Thượng tọa nên được ở phòng này.”
La-hầu-la nói:
“Cùng tôi ở được không?”
Vị kia nói:
“Không được.”
(La-hầu-la)* xin vào ngồi, đứng trong phòng, hay ở trước hiên nhà cũng đều không được. Lúc này, La-hầu-la nghĩ như vầy: “Ta đến phòng nào khác thì cũng sẽ như vậy, chỉ có nhà vệ sinh mới được yên thôi!”. La-hầu-la liền đến nhà vệ sinh. Bấy giờ, trong nhà vệ sinh có một con rắn đen. Đức Phật bằng thiên nhãn đức Phật thấy và nghĩ: “Nếu Ta không đến thì chỉ trong chốc lát nữa là La-hầu-la bị rắn cắn chết!” Ngài liền đến trước nhà vệ sinh khảy móng tay, tằng hắng. La-hầu-la cũng trả lời (bằng khảy móng tay, tằng hắng.)* đức Phật hỏi:
“Ngươi là ai?”
Thưa: “Là La-hầu-la.”
Lại hỏi: “Tại sao ở nơi đây?”
(La-hầu-la)* trình bày lại hết mọi sự việc. Bấy giờ đức Thế Tôn dẫn La-hầu-la về nơi phòng mình. Sáng ngày tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Thật sự ông không dung chứa La-hầu-la phải không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Ông là người ngu si. Tại sao con cáo hoang lại xua đuổi sư tử?”48
Khi ấy, các Tỳ-kheo nhân việc này, lại đem việc các cư sĩ đột nhập vào phòng, phải ngủ bên ngoài ở trên bạch lên Phật. Đức Phật bằng mọi cách khen thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo cùng người chưa thọ đại giới ngủ hai đêm. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cùng người chưa thọ đại giới ngủ quá hai đêm,49 Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Cùng ngủ: Cùng ngủ một phòng. Phòng trên có lợp, bốn phía có vách, hoặc trên có lợp, không có một vách hay hai vách đều Ba-dật-đề. Không có ba vách thì không phạm. Nếu có 4 vách mà trên đã lợp một nửa, hoặc chưa được một nửa, hoặc hơn một nửa đều Ba-dật-đề. Nếu chỉ mới lợp chút ít thì không phạm. Đối với những chỗ này, nếu quá hai đêm, đến phần sau của đêm, mà hông dính xuống giường, cùng nghiêng trở mình, đều Ba-dật-đề.
Không phạm: Có lợp, đều có sự ngăn cách, hoặc bệnh, không thể dời đi được, hoặc có các nạn, hoặc thường ngồi không nằm, hoặc người kia nằm Tỳ-kheo ngồi, hay người kia ngồi Tỳ-kheo nằm.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.

148 Tứ phần 7, tr. 613c25, Tăng-kỳ 9, tr. 307c20, Thập tụng 7, tr. 47c10, Căn bản 20, tr. 735c6: ni-tát-kỳ 11. Pāli, Nissaggiya 11, kosiya, Vin. iii. 223.
149 Ấp A-trà-bệ: xem cht. 3, Tăng tàn 6.
150 Ngọa cụ 臥具: Pāli, santhata, đồ trải lót: Chiếu, thảm, hay miếng vải. Các bộ khác: Phu cụ 敷具 (xem cht. 2, Ni-tát-kỳ 4).
151 Kiều-xa-da 憍賒耶: Pāli. Kosiya, tơ lụa.
152 Hán: Chử 煮: Nấu, thổi.
153 Giường dây (thằng sàng 繩牀): Skt=Pāli. pīṭha, là giường ngồi thiền, loại giường dùng dây, cỏ hoặc mây đan lại thành giường (ghế) gấp, gọn nhẹ để có thể mang theo được. 1 trong 18 vật dụng của Tỳ-kheo.
154 Giường nằm (ngọa sàng 臥床): Skt. mañca, khaṭvā; là giường gỗ, phần nhiều dùng trong nội thất.
155 Tăng-kỳ 9, tr. 306c3: Ni-tát-kỳ 11; Tứ phần 7, tr. 614a27, Thập tụng 7, tr. 48a3, Căn bản 21, tr. 736a11: Ni-tát-kỳ 12 . Pāli, Nissaggiya 12, suddhakāḷaka, Vin. iii. 223.
156 Tăng-kỳ 9, tr. 306c3; Tứ phần 7, tr. 614a27: Tỳ-xá-li 毘舍離; Thập tụng 7, tr. 48a3: Vương Xá Thành 王舍城; Căn bản 21, tr. 736a11: Thất-la-phạt thành 室羅伐城 (còn gọi là Xá-vệ thành).
157 Bạt-kỳ Tử 跋耆子 (Pāli: Vajji-putta). Tứ phần: Tỳ-xá-ly Lê-xa Tử 毘舍離梨車子 (Pāli: Licchavī-putta). (Pāli: Vajji-putta). Pāli không có chi tiết này.
158 Hán: Chiên 氈, vật dụng bện từng mảnh bằng lông thú.
159 Hán: Thuần hắc mao chiên 純黑毛氊. Tứ phần: Thuần hắc nhu dương mao 純黑羺羊毛. Căn bản: thuần hắc dương mao 純黑羊毛. Pāli: suddhakāḷakānaṃ eḷakalomānaṃ, lông dê thuần đen; eḷaka, một loại sơn dương. Khang hy: Nhu dương, tức hồ dương (một loại dê của người Hồ).
160 Hán: Hành nhơn 行人, người đi đường.
161 Hán: Sanh hắc 生黑. Pāli: jātiyā kālakaṃ.
162 Tăng-kỳ 9, tr. 307b19: Ni-tát-kỳ 12. Tứ phần 8, tr. 615a7, Thập tụng 7, tr.48a28, Căn bản 21, tr. 736b3: Ni-tát-kỳ 13. Pāli, Nissaggiya 13, dve bhāgā suddha-kāḷakānaṃ, Vin. iii. 226ff.
163 Tăng-kỳ 9, tr. 307b19: Tỳ-xá-li 毘舍離. Tứ phần 8, tr. 615a7: Xá-vệ quốc 舍衞國; Thập tụng 7, tr. 48a28: Vương Xá Thành 王舍城; Căn bản 21, tr. 736b3: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
164 Tứ phần 8, Thập tụng 7: Nhóm sáu Tỳ-kheo 六群比丘.
165 Hán: Hạ sắc 下色, là màu xám, màu khác, không còn nguyên màu ban đầu. Thập tụng: Đệ tứ phần hạ 第四分下; được giải thích: Hạ, chỉ lông đầu, lông bụng, lông gót chân. Tứ phần: Mang sắc 尨色. Thích từ không có trong Giới tướng. Giới tướng nói: Tứ phần mang 四分尨, phần thứ tư xám. Căn bản: Đệ tứ phần thô 第四分麁, giải thích: Thô, chỉ lông đầu, lông bụng và lông chân. Pāli: catutthaṃ gocariyānam, phần thứ tư màu nâu đỏ (hạt sắc).
166 Ba-la 波羅: Tứ phần, bát-la 缽羅. Thập tụng, ba-la 波羅. (Pāli: Pala, đơn vị trọng lượng). Căn bản: Thí dụ, ngọa cụ nặng 10 cân, thì 5 cân toàn đen, 2,5 cân trắng và 2,5 cân thô. Cf. Pāli (Vin. iii .227): 2 tūla (cân) đen, 1 tūla trắng, 1 tūla nâu đỏ.
167 Tăng-kỳ 9, tr. 308b12, Tứ phần 8, tr. 615c9, Thập tụng 7, tr. 48b25; Căn bản 21, tr. 736b23: Ni-tát-kỳ 14. Pāli: Nissaggiya 14, santhatachabbassāni, Vin. iii. 227.
168 Tăng-kỳ 9, tr. 308b12: Tỳ-xá-li 毘舍離; Tứ phần 8, tr. 615c9: Xá-vệ quốc 舍衞國; Thập tụng 7, tr. 48b25: Vương Xá Thành 王舍城; Căn bản 21, tr. 736b23: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
169 Tứ phần 8, thập tụng 7: Nhóm sáu Tỳ-kheo 六群比丘.
170 Tăng-kỳ; Thập tụng: Dù xả hay không xả; Tứ phần; Căn bản: Không xả; Pāli: vissajjetvā vā avissajjetvā vā, dù đã xả hay không xả cái củ.
171 Tăng-kỳ 9, tr. 309a15, Tứ phần 8, tr. 616c2, Thập tụng 7, tr. 49b11, Căn bản 21, tr. 737a25: Ni-tát-kỳ 15. Pāli: Nissaggiya 15, nisīdanadubbaṇṇa-karaṇa, Vin. iii. 230.
172 Tăng-kỳ 9, tr. 309a15: Tỳ-xá-li 毘舍離, Tứ phần 8, tr. 616c2, Thập tụng 7, tr.49b11: Xá-vệ quốc 舍衞國, Căn bản 21, tr. 737a26: Thất-la-phạt thành 室羅伐城, còn gọi là Xá-vệ thành.
173 Ni-sư-đà: Xem cht. 2, Ni-tát-kỳ 4.
174 Tu-già-đà 修伽陀: Skt. Sugata, dịch là Thiện Thệ, nghĩa là giải thoát sinh tử, quay về niết-bàn, hướng đến chỗ thiện mà đi nên gọi là Thiện Thệ. Một trong mười hiệu của Phật.
175 Thước (Hán, xích 尺): Thước Trung Quốc bằng 1/3 mét. Ngài Buddhaghosa giải thích, một gang tay của đức Thiện Thệ (Sugatavidatthi) bằng ba lần gang tay của người bậc trung. Trong tài liệu Vinayamukha, ngài Mahāsamaṇa Chao đề nghị rằng sugatavidatthi, tức là gang tay của đức Thiện Thệ, nên được tính theo kích thước trung bình là 0,25 mét.
176 Tăng-kỳ 9, tr. 309b18, Tứ phần 8, tr. 617b23, Thập tụng 7, tr. 49c26, Căn bản 21, tr. 738a10: Ni-tát-kỳ 16. Pāli: Nissaggiya 16, eḷakalomaharaṇa.
177 Tăng-kỳ 9, tr. 309b18: Tỳ-xá-li 毘舍離, Tứ phần 8, tr. 617b23, Thập tụng 7, tr.49c26: Xá-vệ quốc 舍衞國, Căn bản 21, tr. 738 a10: Thất-la-phạt thành室羅伐城, còn gọi là Xá-vệ thành.
178 Tăng-kỳ: Ưu-đà-di 優陀夷; Tứ phần: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子; Thập tụng: Các Tỳ-kheo như Ngũ phần; Căn bản: Nhóm sáu Tỳ-kheo (六群比丘).
179 Do-tuần 由旬: Skt=Pāli. Yojana. Đơn vị đo đường dài ở Ấn Độ. Tiếng Phạn yojana có nghĩa là mang ách (cái vạy), do chữ gốc yuj chỉ quãng đường con bò mang ách (kéo xe) đi một ngày. Căn cứ theo Đại Đường Tây Vực ký quyển 2 chép, một do-tuần là chỉ cho lộ trình hành quân một ngày của nhà vua. Về cách tính do-tuần có nhiều thuyết, nhưng theo thuyết của các học giả cận đại như ông J. Flect đổi do-tuần tính theo cây số ngàn (kilometre), thì một do-tuần xưa bằng 19,5 km; theo quốc tục Ấn Độ là 14,6 km, Phật giáo là 7,3 km. Nếu theo thuyết của ông Major Vost thì một do-tuần xưa bằng 22,8 km, quốc tục Ấn Độ là 17 km, Phật giáo 8,5 km.
180 Ba-la: xem cht. 1, Ni-tát-kỳ 23.
181 Hán: Đẳng 等.
182 Tăng-kỳ 9, tr. 310a18, Tứ phần 8, tr. 618a22, Thập tụng 7, tr. 50b2, Căn bản 21, tr. 739a20: Ni-tát-kỳ 17. Pāli: Nissaggiya 17, elākaloma-dhovāpana, Vin. iii. 234ff.
183 Tăng-kỳ 9, tr. 310a18: Tỳ-xá-li 毘舍離; Tứ phần 8, tr. 618a22: Thích-sí-sấu trong vườn Ni-câu-luật, Ca-duy-la-vệ (釋翅瘦迦維羅衞尼拘律園); Thập tụng 7, tr. 50b2: Xá-vệ quốc舍衞國, Căn bản 21, tr. 739a20: Thất-la-phạt thành 室羅伐城, còn gọi là Xá-vệ thành.
184 Hán: Ba-xà-ba-đề 波闍波提; Skt: Prajāpatī; Pāli: Pajāpatī.
185 Tăng-kỳ 10, tr. 312c3: Ni-tát-kỳ 19. Tứ phần 8, tr. 620b28, Thập tụng 7, tr.52a27, Căn bản 22, tr. 743c14: Ni-tát-kỳ 20. Pāli (Vin. iii. 242): Nissaggiya 20, kayavikkaya.
186 Tăng-kỳ 10, tr. 312c3; Tứ phần 8, tr. 620b28; Thập tụng 7, tr. 52a27: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城 (國) như Ngũ phần; Căn bản 22, tr. 743c14: Thất-la-phạt thành 室羅伐城, còn gọi là Xá-vệ thành.
187 Tăng-kỳ 10, Căn bản 22: Lục quần Tỳ-kheo 六群比丘; Tứ phần 8; Thập tụng 7: Bạt-nan-đà thích tử 跋難陀釋子.
188 Kiếp-bối: Xem cht. 3, Ni-tát-kỳ 1.
189 Tăng-kỳ 10; Thập tụng 7; Căn bản 22: Chủng chủng mãi mại種種買賣; Tứ phần 8: Chủng chủng phiến mại 種種販賣.
190 Tăng-kỳ 10, tr. 313c15: Ni-tát-kỳ 20; Tứ phần 8, tr. 619c26, Thập tụng 7, tr.51c01, Căn bản 22, tr. 741c21, “Xuất nạp cầu lợi”: Ni-tát-kỳ 19. Pāli: Nissaggiya 19: rūpiyasaṃvohāra.
191 Tăng-kỳ 10, tr. 313c15: Tỳ-xá-li 毘舍離; Tứ phần 8, tr. 619c26: La-duyệt-kỳ 羅閱祇; Thập tụng 7, tr. 51c01: Vương Xá thành 王舍城, Căn bản 22, tr.741c21: Thất-la-phạt thành室羅伐城, còn gọi là Xá-vệ thành.
192 Tăng-kỳ 10: Nan-đà, Bạt-nan-đà 難陀, 跋難陀; Tứ phần 8: Bạt-nan-đà 跋難陀; Thập tụng 7: Lục quần Tỳ-kheo 六群比丘; Căn bản 22: Ổ-ba-nan-đà 鄔波難陀.
193 Tăng-kỳ 10, tr. 310c7, Tứ phần 8, tr. 618c22, Thập tụng 7, tr. 51a27, Căn bản 21, 740a19: Ni-tát-kỳ 18. Pāli, Nissaggiya 18, jātarūparajata, Vin. iii. 236.
194 Tăng-kỳ 10, tr. 310c7; Thập tụng 7, tr. 51a27, Căn bản 21, 740a19: Vương Xá thành 王舍城, cũng như Ngũ phần; Tứ phần 8, tr. 618c22: La-duyệt thành 羅閱城.
195 Tăng-kỳ 10: Nan-đà, Bạt-nan-đà 難陀, 跋難陀; Tứ phần 8: Bạt-nan-đà 跋難陀; Thập tụng 7: Lục quần Tỳ-kheo 六群比丘; Căn bản 22: Ổ-ba-nan-đà 鄔波難陀.
196 Bản Hán, hết quyển 5.
[1] Tăng-kỳ 12 tr. 324c7; Cf. Tứ phần 11, tr. 634a9; Thập tụng 9, tr. 63b16; Căn bản 25, tr. 760b16. Pāli, Pācittiya 1, Mūsavāda, Vin.iv. 2. Pācittiya, phiên âm là Ba-dật-đề, dịch là đơn đề, đơn đọa (rơi), phải sám hối v.v…
[2] Tứ phần: Thích-súy-sấu 釋翅瘦 (Pāli. Sakkesu), giữa những người họ Thích; không phải địa danh. Các Tăng-kỳ, Thập tụng, Căn bản đều nói Phật tại Xá-vệ như Ngũ phần; Pāli cũng vậy.
[3] Tăng-kỳ 12 (tr. 324c08): Trưởng lão Thi-lị-da-bà 長老尸利耶婆; Tứ phần: Tượng Lực 象力; Thập tụng 9 (tr. 63b22): Tỳ-kheo họ Thích Ha-đa 訶哆釋子比丘; Căn bản 25 (tr. 760b17): Duyên khởi từ Tôn giả La-hầu-la 具壽羅怙羅 (Cụ thọ La-hỗ-la), nhưng chưa chế giới; cho đến duyên khởi bởi Tỳ-kheo Pháp Thủ 法手苾芻 mới chế giới. Pāli: Hatthako Sakyaputto.
4 Tăng-kỳ, Tứ phần: Tỳ-kheo nào, biết mà nói dối.
5 Các bộ giống nhau, Ba-dật-đề 2.
6 Tăng-kỳ 12, tr. 325b13; Tứ phần 11, tr. 634c12: Xá-vệ thành 舍衞城(國); Thập tụng 9, tr. 64a06 Vương Xá thành王舍城; Căn bản 25, tr. 763c03: Thất-la-phạt thành 室羅伐城 (tức Vương Xá thành).
7 Hán: Nhân thiện 仁善 (nhân ái lương thiện), đạo lý làm người.
8 Đắc-xoa-thi-la 得叉尸羅. Tứ phần 11, tr. 634c24: Đắc-sát-thi-la quốc 得剎尸羅國. Pāli: Takkasilā, thủ phủ của Gandhāra, nổi tiếng về giáo dục. Được đề cập rất nhiều trong các chuyện tiền thân.
9 Pāli, con bò tên là Nandivisāla.
10 Pāli, seṭṭhi, nhà phú hộ, hay đại thương gia.
11 Pāli, sahassena abbhutaṃ karoti, đánh cuộc một nghìn. Không nói “một nghìn” cái gì. Bản dịch Anh phỏng định: kahāpaṇa (tiền vàng). Căn bản 15 (tr. 765a22), 500 tiền vàng.
12 Tứ phần: Nhục mạ bằng giống loài (chủng loại huỷ tỷ ngữ 種類毀呰語); như nói, “Ngươi sanh trong gia đình dòng họ thấp hèn, hành nghề cũng thấp hèn, kỹ thuật công xảo cũng thấp hèn.”…
13 Các bộ giống nhau, Ba-dật-đề 3.
14 Tăng-kỳ 12, tr. 326b07; Tứ phần 11, tr. 636a11: Xá-vệ thành 舍衞城(國) như Ngũ phần. Thập tụng 9, tr. 66a01: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản 25, tr.767c20: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
15 Nói lý gián nhau, Hán: Lưỡng thiệt đấu loạn 兩舌鬪亂. Pāli. Pesuñña, lời vu khống, sự nói xấu sau lưng.
16 Tứ phần 11, tr. 636a29: Sư tử Thiện Nha 善牙師子. Thập tụng 9, tr. 66a27: Sư tử Hảo Mao 好毛師子. Căn bản 26, tr. 768a02: Mẫu sư tử 母師子. Sư tử cái không có tên; và tr. 768c28: Có con sư tử tên Thiện Nha 善牙.
17 Tứ phần: Cọp Thiện Bác善博. Thập tụng: Cọp Hảo Nha 好牙. Căn bản, tr. 768a05: Tự ngưu 牸牛. Con trâu cái không tên; và tr. 768c28: Con cọp vằn tên Thiện Bác 善髆.
18 Tứ phần: Lưỡng thiệt ngữ 兩舌語. Căn bản: Ly gián ngữ 離間語. Pāli: bhikkhupesuñña, lời nói ly gián Tỳ-kheo.
19 Tăng-kỳ 13, tr. 335b28, Tứ phần 11, tr. 640a14: Ba-dật-đệ 9. Thập tụng 9, tr. 70b14, Căn bản 26, tr. 770b24: Ba-dật-đề 5. Pāli, Pāc. 7 Dhammadesanasikkhā.
20 Tăng-kỳ 13, tr. 335b28; Tứ phần 11, tr. 640a14. Thập tụng 9, tr. 70b14: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國) như Ngũ phần; Căn bản 26, tr. 770b24: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
21 Tăng-kỳ: Ưu-đà-di 優陀夷; Tứ phần; Thập tụng: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷; Căn bản: Ổ-đà-đi 鄔陀夷.
22 Hán: Bất phụng pháp 不奉法, không phụng thờ (Phật) pháp.
23 Bát phần giới八分戒, còn gọi là bát quan trai giới, bát trai giới (Skt & Pāli: upavāsa: Trai giới, cận trụ).
24 Tăng-kỳ: Ngũ lục ngữ 五六語, có 2 loại: Trường cú và đoản cú. Trường cú, như “chư ác mạc tác.” Đoản cú như “Mắt là vô thường.” Các bộ khác, giải thích đồng với Ngũ phần. Pāli, uttarichappañcavacāhi, không giải thích rõ. Theo Luật sớ, một lời (vāca) tương đương với một câu thơ.
25 Tăng-kỳ 12, tr. 327a25, Tứ phần 17, tr. 680c28: Ba-dật-đề 66. Thập tụng 9, tr. 69c4, Căn bản 26, tr. 770a13: Ba-dật-đề 4. Pāli, Pāc. 63 Ukkoṭanasikkhāpadaṃ.
26 Tăng-kỳ 12, tr. 327a25; Tứ phần 17, tr. 680c28: Xá vệ thành (quốc) 舍衞城 (國). Thập tụng 9, tr. 69c4: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản 26, tr. 770a13: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
27 Yết-ma ha trách 呵責羯磨: Pāli. Tajjaniyakamma, khiển trách.
28 Yết-ma khu xuất 驅出羯磨: Pāli. Pabbājaniya, trục xuất, đuổi đi.
29 Yết-ma y chỉ 依止羯磨: Pāli. Nissayakamma, Yết-ma nương tựa.
30 Yết-ma cử tội 舉罪羯磨: Pāli. Ukkhepaniya, Yết-ma cử tội Tỳ-kheo…
31 Yết-ma hạ ý 下意羯磨: Pāli. Paṭisāraniya, Yết-ma hạ ý tùy thuận (thuận ý), khiến phải xin lỗi.
32 Gởi lại lời, Hán: Chúc thọ 囑授.
33 Tăng-kỳ: Biết tránh sự Tăng đã như pháp, như luật dập tắt rồi. Tứ phần: Biết tránh sự đã được dập tắt (sám hối) như pháp rồi. Thập tụng: Tránh đã được Tăng dập tắt như pháp rồi. Căn bản: Biết tránh sự đã được Tăng-già hòa hợp như pháp dập tắt rồi. Pāli: yathādhammaṃ nihatādhikaraṇaṃ, tránh sự đã được trừ diệt như pháp.
34 Tăng-kỳ: Thêm: “… nói rằng, yết-ma này bất thành. Hãy tác pháp lại với nhân duyên như vậy, không khác…”
35 Các bộ, ba-dật-đề 6. Pāli, Pāc. 4, Padasodhammasikkhā.
36 Tăng-kỳ 13, tr. 336c05; Tứ phần 11, tr. 638c21: Thành Khoáng Dã 曠野城; Thập tụng 9, tr. 71a06: A-la-tỳ quốc阿羅毘國; Căn bản 26, tr. 771c07 Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
37 Thân thừa 親承: Tự thân thừa hành, tự thân vâng theo, tự thân nhận lấy.
38 Tăng-kỳ: Dạy người chưa thọ giới cụ túc thuyết pháp cú. Tứ phần: Tụng đọc chung với người chưa thọ giới. Thập tụng: Đem cú pháp dạy người chưa thọ cụ túc. Căn bản:Cùng người chưa thọ giới đồng đọc tụng, dạy dỗ cú pháp. Pāli: Anupasampannaṃ padaso dhammaṃ vāceti, dạy người chưa thọ cụ túc đọc pháp theo từng câu.
39 Tứ phần 11, tr. 639a8: Cú nghĩa 句義, là người đọc tụng không trước không sau, như tụng: “Chớ làm các việc ác, hãy làm các việc lành…” Cú vị 句味, hai người cùng tụng không trước không sau, như tụng: “Mắt vô thường… cho đến ý vô thường.”
40 Tứ phần: Phi cú nghĩa 非句義, như một người nói “Chớ làm các việc ác” chưa xong, người thứ hai nói lại câu “Chớ làm các việc ác”. Phi cú vị 非句味, như một người chưa nói xong “Mắt vô thường…”, người thứ hai lập lại lời nói trước “Mắt vô thường…”
41 Tăng-kỳ 17, tr. 365b03: Ba-dật-đề 41; Tứ phần 11, tr. 638a28: Ba-dật-đề 5. Thập tụng 15, tr. 105b09, Căn bản 39, tr. 838c07: Ba-dật-đề 54. Pāli: Pāc. 5, sahaseyya, Vin. iv.15.
42 A-trà-bễ ấp阿荼髀邑. Tăng-kỳ 17, tr. 365b03: Khoáng Dã tinh xá 曠野精舍; Tứ phần 11, tr. 638a28: Khoáng Dã thành 曠野城. Thập tụng 15, tr. 105b09: A-la-tỳ quốc 阿羅毘國,Căn bản 39, tr. 838c08: Thất-la-phạt thành 室羅伐城. Pāli. Āḷarī.
43 Pāli. navakā bhikkhū … upāsakehi saddhiṃ…, các tân Tỳ-kheo… cùng với các cư sĩ.
44 Câu-xá-di quốc拘舍彌國. Tăng-kỳ: Ca-duy-la-vệ quốc 迦維羅衞國. Tứ phần: Câu-thiệm-tỳ quốc 拘睒毘國. Thập tụng: Phật tại Xá-vệ 舍衞國. Căn bản: Kiều-thiểm-tì, diệu âm viên 憍閃毘妙音園. Pāli: Kosambī.
45 Vườn Cù-sư-la (Ghositārāma ): xem cht. 107, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 10.
46 La-hầu-la (Pāli: Rāhula). Tứ phần: La-vân.
47 Tăng phường Bà-kỳ-la 婆耆羅僧坊: Pāli: Badarikārāma, khu phường Tăng này gần vườn Cù-sư-la, cách Kosambī ba dặm.
48 Tứ phần 11, tr. 638b28: “Các ông không có từ tâm, nên mới đuổi con nít đi. Đây là con của Phật (Ý nói Sa-di đã xuất gia, không còn nhận cha mẹ ngoài đời, mà là con của Phật. Không chỉ riêng La-hầu-la là con Phật).” Thập tụng 15, tr.105c11: “Sa-di này không cha mẹ. Nếu các ngươi không thương tưởng che chở, làm sao sống nổi?” Căn bản 39, tr. 839c02: “Các cầu tịch (tức sa-di) không có cha mẹ. Duy chỉ các ngươi, những người đồng phạm hạnh, phải thương yêu che chở.”
49 Tăng-kỳ 17, tr. 365c11: “Được phép ngủ chung buồng ba đêm; bốn đêm thì nên biệt trú.” Tứ phần 11, tr. 638c01: Người chưa thọ đại giới cùng ngủ hai đêm. Nếu đến đêm thứ ba khi dấu hiệu bình minh chưa xuất hiện nên thức dậy tránh đi. Nếu đến đêm thứ tư, hoặc tự mình đi, hay bảo người chưa thọ đại giới đi. Thập tụng 15, tr. 105c15: Cho phép người chưa thọ đại giới cùng ngủ hai đêm. Căn bản 39, tr. 838c22: Không được cùng người chưa thọ cụ túc ngủ quá hai đêm.

XXIV. GIÁO GIỚI NI VÌ LỢI DƯỠNG129
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.130 Bấy giờ, các Thượng tọa Tỳ-kheo theo thứ tự giáo giới Tỳ-kheo-ni. Các Tỳ-kheo-ni hoặc biệt thỉnh cúng dường, hoặc cúng dường đãy đựng bát, dây lưng, dầu đèn, y thực, thuốc thang. Nhóm sáu Tỳ-kheo thấy vậy nói với các Tỳ-kheo:
“Có thể sai chúng tôi làm người giáo giới.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Theo những lời Phật dạy thì phải thành tựu mười pháp (mới sai)*, mà các thầy không có, thì làm sao sai?”
Nhóm sáu Tỳ-kheo liền nói: “Các Tỳ-kheo vì lợi cúng dường nên giáo giới Tỳ-kheo-ni.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo: “Các ngươi, có thật vậy không?” [47a01] “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi hình thức quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói như vầy: ‘Các Tỳ-kheo vì lợi dưỡng,131 nên giáo giới Tỳ-kheo-ni,’ Ba-dật-đề.”
Nếu nói vì lợi cúng dường nên giáo giới Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Nếu nói Tỳ-kheo hành mười hai hạnh đầu-đà, tọa Thiền, tụng kinh, làm các công đức, đều là vì lợi cúng dường, mỗi lời nói đều phạm Đột-kiết-la. Sa-di, Đột-kiết-la.
XXV. NGỒI VỚI TÌ-KHEO-NI Ở CHỖ KHUẤT132
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.133 Bấy giờ, các Tỳ-kheo cùng với Tỳ-kheo-ni một mình ngồi chỗ vắng, sanh đắm nhiễm không thích Phạm hạnh, có người hoàn tục, có người làm ngoại đạo. Các cư sĩ thấy, đều hiềm trách nói:
“Những Sa-môn này cùng Tỳ-kheo-ni một mình ngồi chỗ vắng, giống như Bạch y đối với dâm nữ. Ăn của tín thí mà làm việc như thế, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, một mình134 cùng Tỳ-kheo-ni ngồi chỗ vắng, Ba-dật-đề.”
Cùng với Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni ngồi chỗ vắng cũng như vậy. Sa-di Đột-kiết-la.
Nếu số đông Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni cùng ngồi, hoặc có nạn sự khởi, cần phải cùng ngồi nơi chỗ vắng đều không phạm.
XXVI. ĐEM Y CHO TÌ-KHEO-NI135
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.136 Bấy giờ, có một Tỳ-kheo A-lan-nhã, sống nơi A-lan-nhã. Ban đầu không thân quen với bất kỳ đạo hay tục nào, nhưng vào một buổi sáng, Tỳ-kheo kia, khoác y, bưng bát vào thôn khất thực, trên đường đi gặp hai Tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo-ni này nói với Tỳ-kheo-ni kia:
“Nay tôi muốn làm quen với Tỳ-kheo này, cô có thể đồng ý không?”
Trả lời:
“Tốt lắm!”
Tỳ-kheo đã đến, cô liền vì ông tác lễ. Tỳ-kheo im lặng không nói năng gì cả. Hai Tỳ-kheo-ni cùng nhau bàn: “Nay Tỳ-kheo này không muốn chúng ta làm quen giữa đường, nên cùng đến nơi trú xứ của ông để lễ bái thăm hỏi.”
Sáng sớm, hai Tỳ-kheo-ni đi đến sớm chỗ Tỳ-kheo lễ bái thăm hỏi. Lạy một lạy, lạy hai lạy không nói gì, đến lạy thứ ba, Tỳ-kheo mới nói: “Lão thọ.”137
Hai Tỳ-kheo-ni kính lễ xong ra về. Sau đó, Tỳ-kheo ấy lại vào thôn khất thực, [47b01] hai Tỳ-kheo-ni gặp nơi đường hẻm, liền lễ bái hỏi chào, cùng nhau nói chuyện. Hai Tỳ-kheo-ni bèn lấy một đoạn vải và chỉ may nhuộm cúng cho Tỳ-kheo. Tỳ-kheo thọ nhận. (Hai cô ni)* thưa:
“Đại đức có mỏi mệt, đến trú xứ của chúng con nghỉ một chút rồi sau đó khất thực.”
Tỳ-kheo liền đến nghỉ. Nghỉ xong muốn khất thực cho kịp, Tỳ-kheo-ni lại thưa:
“Nơi đây có rau tương, nếu được thức ăn rồi mời trở lại đây dùng.”
Tỳ-kheo lại nhận lời họ, được thức ăn rồi đem về. Nhiều lần như vậy. Có khi Tỳ-kheo khất thực về trước, đợi Tỳ-kheo-ni; có khi Tỳ-kheo-ni khất thực về trước, đợi Tỳ-kheo. Và cứ lần lượt (từ nhà này)* đến nhà khác, lại khen ngợi lẫn nhau.
Tỳ-kheo kia sau đó, nhận được một tấm y tốt, bèn khởi tâm không đúng đắn, nghĩ như vầy: “Nay ta sẽ đem y này biếu cho Tỳ-kheo-ni kia, chắc chắn họ không nhận, ta may mắn nhận được huệ thí nhiều hơn.” Nghĩ như vậy rồi, trước hết đến trước mặt các Tỳ-kheo khen ngợi Tỳ-kheo-ni kia rằng:
“Tỳ-kheo-ni… là con nhà giòng dõi xuất gia, có lòng tin kiên chánh, ít muốn biết đủ.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Phàm người xuất gia, nên đáng khen ngợi như vậy.”
Sau đó, đem y cho Tỳ-kheo-ni kia, Tỳ-kheo-ni kia liền nhận y ngay. Mưu đồ bị vỡ, Tỳ-kheo ôm lòng phiền hận, trở lại nói với các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni… tín tâm mỏng manh, nhiều ham muốn, không nhàm chán!”
Các Tỳ-kheo nói:
“Vừa rồi Thầy nói Tỳ-kheo-ni… ít muốn biết đủ, vì lý do gì bây giờ lại nói như vậy?”
(Tỳ-kheo kia)* đem việc trên kể lại đầy đủ.
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao tâm không xả vật, lại dối trá đem cho người, nghĩ rằng họ không nhận, hy vọng hão là để được người cảm tình!”
Rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”.
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Ngươi há không nghe Ta khen ngợi xả vật cho người, sau đó sẽ được công đức lớn hay sao? Tại sao nay tâm ngươi nay không xả vật, mà dối cho người?”
Quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đem y cho Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề.”
Khi ấy các Tỳ-kheo có Tỳ-kheo-ni bà con, y phục, ngọa cụ tất cả đều thô tệ; đau ốm thuốc men cũng không thể có được. Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nếu Đức Thế Tôn cho phép ta đem y vật cho Tỳ-kheo-ni bà con thì sẽ không khổ đến nỗi này”. Họ do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo đem y vật cho Tỳ-kheo-ni bà con. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đem y cho Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, Ba-dật-đề.” [47c01] Bây giờ, hai bộ Tăng tại thành Xá-vệ, nhận được y đã may thành, liền cùng phân chia cho nhau. Có trường hợp Tỳ-kheo nhận được cở y của Tỳ-kheo-ni, có trường hợp Tỳ-kheo-ni nhận được cở y của Tỳ-kheo, muốn trao đổi cho nhau mà không dám, do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni đổi y. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, đem y cho Tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con, trừ đổi chác,138 Ba-dật-đề.”
Nếu đem y cho Tỳ-kheo-ni bà con mà họ là người phá giới, phá kiến, Đột-kiết-la. Nếu đem y cho Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni không phải bà con, Đột-kiết-la. Sa-di, Đột-kiết-la.
Nếu vì liệu lý công việc, hoặc vì khéo nói kinh pháp, hoặc vì tụng nhiều kinh giới nên cho y thì không phạm.
XXVII. MAY Y CHO TỲ-KHEO-NI139
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.140 Bấy giờ, có một Tỳ-kheo-ni141 ít người quen biết, nhận được y chưa may thành, mà tự mình không biết may, nói với các Tỳ-kheo-ni rằng:
“Tôi không biết may y, xin vì tôi may giùm.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Này tỷ muội! Chúng tôi nhiều việc không thể may được, cô có thể đến trong chúng Tỳ-kheo thưa, có thầy nào rủ lòng thương, chắc sẽ vì cô may.”
Cô liền đến trong chúng Tỳ-kheo thưa:
“Con là kẻ ít quen biết, nhận được y chưa may thành này, con không tự may được, mong vì con may giùm cho.”
Các Tỳ-kheo cũng trả lời như trên. Cô lại đến Trưởng lão Ưu-đà-di142 thưa như trên.
Ưu-đà-di nói:
“Tôi có thể may được, nhưng đừng lúc nào cũng đến thúc hối, tuỳ ý tôi may, tôi sẽ vì cô mà may.”
Thưa: “Tuỳ ý Trưởng lão.”
Lúc ấy, Ưu-đà-di nhận lấy y cắt may. Trải qua thời gian lâu không nhận được y, Tỳ-kheo-ni kia đến hỏi:
“Thưa Đại đức! Y may xong chưa?”
Ưu-đà-di nói:
“Trước đây tôi đã có giao hẹn, tại sao đến hối thúc?”
Thưa:
“Con đến tham vấn để biết chứ không dám thúc.”
Liền trở về chỗ ở. Sau đó, Ưu-đà-di dùng các loại chỉ đủ màu sắc, thêu hình nam nữ giao hội trên lá y giữa. Lúc hình thêu xong, Ca-lưu-đà-di kêu Tỳ-kheo-ni đến lấy.
Cô liền đến nhận, Ưu-đà-di dặn:
“Chưa có thể trương ra xem và cũng đừng cho ai coi. Khi nào Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề đến chỗ đức Phật, ở nơi đầu đường, sau đó mới trương ra mặc.”
Tỳ-kheo-ni kia nhận y đem về, xong rồi nhưng không trương ra xem cũng không đưa ai xem. Khi Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề đến chỗ đức Phật, tại nơi đầu đường mới mặc, người đi đường thấy, không ai không vỗ tay cười lớn, cùng nhau nói:
“Tỳ-kheo-ni này thật là khéo, mới có thể thêu hình hành dục lên trên y như vậy!”
Tỳ-kheo-ni này [48a01] quá xấu hổ, liền trở về lại trú xứ. Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề cuốn gấp cái y đó mang đến chỗ đức Phật trương ra, bạch Phật:
“Cúi xin Đức Thế Tôn chứng tri cho việc làm này.”
Đức Phật vì Cù-đàm-di nói các pháp rồi bảo bà trở về trú xứ. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ưu-đà-di:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách:
“Ông là người ngu si, tại sao làm việc ô nhục này lên trên y người!”
Quở trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, may y cho Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề.”
Trường hợp các Tỳ-kheo có Tỳ-kheo-ni bà con, y phục bị hư rách, xin được một khổ vải mà không biết may. Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nếu Đức Thế Tôn cho phép ta may y cho Tỳ-kheo-ni bà con thì cái khổ này sẽ không xảy ra.” Rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo vì Tỳ-kheo-ni bà con may y. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, may y143 cho Tỳ-kheo-ni không phải bà con, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo vì Tỳ-kheo-ni không phải bà con nhận vải, Đột-kiết-la; cắt, may, nhuộm Ba-dật-đề. Khi may mỗi mũi kim đều Ba-dật-đề. Ngoài ra như trong giới cho y đã nói.
XXVIII. HẸN ĐI CHUNG ĐƯỜNG VỚI TY-KHEO-NI144
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.145 Bấy giờ, các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni ở nước Ma-kiệt-đề cùng du hành trong nhân gian,146 hoặc một Tỳ-kheo cùng đi với một Tỳ-kheo-ni, cho đến số đông; hoặc lội qua nước sâu, hoặc lên sườn cao, lại thấy hình nhau, sanh tâm đắm nhiễm, không thích Phạm hạnh nữa, đưa đến hoàn tục, hoặc làm ngoại đạo. Các Bạch y thấy, cơ hiềm nói: “Bọn Sa-môn này, như người dẫn vợ hay dâm nữ đi.” Chê trách đủ cách như trong giới ngồi một mình nơi chỗ vắng đã nói trên.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng Tỳ-kheo-ni đi một đường, Ba-dật-đề.”
Trường hợp các Tỳ-kheo cùng số đông bạn đồng đi một đường, thấy các Tỳ-kheo-ni cũng đi đường này, bèn nghĩ như vầy: “Chúng ta sẽ không phạm Ba-dật-đề!?” Do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: [48b01] “Nếu trước không cùng hẹn mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng Tỳ-kheo-ni hẹn trước cùng đi một đường, Ba-dật-đề.”
Trường hợp các Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni đã hẹn trước đi một đường, sau không dám đi; hoặc hai bên tránh nhau, do trước có hẹn nên nghi. Do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu hẹn trước cùng Tỳ-kheo-ni đồng đi một đường, hoặc không đi, hoặc hai bên tránh nhau mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng Tỳ-kheo-ni, hẹn trước cùng đi một đường từ tụ lạc147 này đến tụ lạc kia, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo-ni, nơi đoạn đường nguy hiểm, thấy một Tỳ-kheo, kêu:
“Đại đức đến mau, đi cùng đường với nhau.”
Tỳ-kheo kia liền đến nói:
“Này Tỷ muội! Đức Phật cấm không cho phép cùng Tỳ-kheo-ni đi cùng đường.”
Tỳ-kheo-ni thưa: “Đoạn đường này nguy hiểm, mà con là nữ yếu ớt, xin được nương cậy Đại đức mới có thể đi qua được!”
Vẫn trả lời như trước, rồi Tỳ-kheo liền đi. Sau đó, Tỳ-kheo-ni bị giặc cướp lột y phục, lõa hình, kêu lớn: “Giặc lột đồ con! Giặc lột đồ con!”
Tỳ-kheo kia từ xa nghe, về đến trú xứ, đến nói với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, nếu gặp chỗ nguy hiểm, nghi ngờ có sự khủng bố, được đi với Tỳ-kheo-ni cùng đường. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, hẹn trước với Tỳ-kheo-ni, đi cùng đường, từ tụ lạc này đến tụ lạc kia, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Nhân duyên:148 Hoặc có nhiều bạn, chỗ có sự nghi ngờ, gọi là nhân duyên.
Nếu Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo-ni đã hẹn trước đi cùng đường; chỗ không có tụ lạc, thì nửa do-tuần149 Ba-dật-đề. Nếu cùng Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni trước hẹn đi cùng đường cũng như vậy. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
XXIX. ĐI CHUNG THUYỀN VỚI TỲ-KHEO-NI150
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở thành Xá-vệ.151 Bấy giờ, các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni152 ở nước Ma-kiệt-đề cùng du hành trên thuyền, hoặc một Tỳ-kheo với một Tỳ-kheo-ni đi cùng thuyền, cho đến số đông. Khi lên xuống thuyền thấy hình thể nhau. Bạch y cơ hiềm nói (như trước)*. Các Trưởng lão Tỳ-kheo nghe… cho đến câuĐức Phật bảo các Tỳ-kheo… đều như trong giới “cùng đi một đường” trên đã nói.
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này được nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, hẹn trước với Tỳ-kheo-ni đi cùng thuyền, Ba-dật-đề.”
[48c01] Có một Tỳ-kheo-ni muốn qua sông, đứng đợi đò bên bờ sông A-di-la.153 Sau đó, có một Tỳ-kheo đến, Tỳ-kheo-ni thưa:
“Thưa Đại đức, nơi đây có nạn nguy hiểm, có thể cùng qua một chuyến.”
Tỳ-kheo trả lời:
“Đức Phật cấm không cho chúng tôi với Tỳ-kheo-ni đi qua cùng một thuyền.”
Người lái đò lại nói: “Cả hai cùng lên đò, mỗi vị ngồi một đầu.”
Tỳ-kheo không đồng ý. Tỳ-kheo-ni thưa:
“Nếu không được thì Đại đức qua trước.”
Tỳ-kheo liền qua trước. Thuyền chưa đến bờ, Tỳ-kheo-ni đã bị bọn cướp lột trần. Người lái đò thấy vậy liền hiềm trách:
“Các người đồng cùng xuất gia mà không thể bảo hộ nhau, huống là đối với người ngoài, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Tỳ-kheo kia trở về trong Tăng phường, kể lại cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đem đến bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Ngươi là người ngu si, tại sao bỏ Tỳ-kheo-ni lại, để giặc cướp trấn lột sạch!” Quở rồi, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, đã hẹn trước với Tỳ-kheo-ni đi cùng thuyền, hoặc thuận dòng nước, hoặc nghịch dòng nước,154 trừ đò ngang,155 Ba-dật-đề.”
Ngoài ra, như trong giới “đồng đi một đường” đã nói.
XXX. THỨC ĂN DO TỲ-KHEO-NI KHUYẾN HÓA156
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.157 Bấy giờ, Nan-đà, Bạt-nan-đà ăn thức ăn do Tỳ-kheo-ni khen ngợi (mà được)*. Các Tỳ-kheo thấy, bằng mọi cách quở trách. Khi ấy, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên du hành trong nhân gian, đến thành Vương Xá. Có một Cư sĩ nghe hai vị đến, liền ra nghinh đón, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Vì họ nói pháp chỉ bày lợi ích, (khiến họ)* vui mừng. Cư sĩ mời sáng hôm sau làm Tỳ-kheo khách thọ trai, hai vị im lặng nhận lời. Cư sĩ liền về nhà mình sửa soạn các thứ đồ ăn, thức uống, trải tọa cụ tốt. Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến giờ khoác y mang bát đến nhà đó. Xá-lợi-phất đi trước, muốn vào, nhưng nghe tiếng Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà158 hiện có mặt tại nhà này, nên dừng lại không vào. Tỳ-kheo-ni kia thấy gia chủ sửa soạn đồ ăn thức uống, trải tọa cụ tốt, hỏi:
“(Gia chủ)* vì rước vua hay làm đám cưới?”
Trả lời:
“Nay, không phải rước vua cũng chẳng làm đám cưới mà muốn cúng dường Tôn giả Xá-lợi-phất, đại Mục-kiền-liên thôi”
Tỳ-kheo-ni nói:
“Tại sao không thỉnh Đại Long mà lại cúng dường Tỳ-kheo tiểu đức này?”
Cư sĩ hỏi:
“Ai là Đại long?”
Trả lời:
“Là nhóm sáu Tỳ-kheo.”159
Lại nói:
“Muốn thỉnh hàng Tỳ-kheo tộc tánh xuất gia, hành đầu-đà, Tứ niệm xứ, cho đến Tám phần [49a01] thánh đạo, Tu-đà-hoàn cho đến Tỳ-kheo A-la-hán; muốn cầu rể tốt, con tốt, sinh thiên, giải thoát, hiện đời này giàu sang thì nên cúng dường cho nhóm sáu Tỳ-kheo.”
Khen ngợi như vậy rồi đứng im lặng.
Sau đó, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên mới vào, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà đến trước hỏi chào rồi nói:
“Lành thay Tôn giả! Mời Tôn giả an tọa nơi đây.”
(Cô ta)* lại nói với Cư sĩ:
“Lành thay Cư sĩ! Nay người được phước lợi lớn, thỉnh được Tỳ-kheo hàng Đại long như vậy.”
Cư sĩ liền chê trách:
“Vừa rồi cô nói ‘Tiểu đức’, bây giờ nói ‘Đại long’? Ăn nói ngược ngạo như vậy,160 sao không xấu hổ?”
Từ nay về sau cô đừng đến nhà này nữa, tôi không cúng dường cho cô nữa đâu. Lúc này, Cư sĩ tự tay sớt thức ăn. Ăn xong dâng nước, rồi lấy chiếc ghế nhỏ ngồi trước hai Tôn giả. (Hai Tôn giả)* vì gia chủ nói diệu pháp, xong liền rời tòa ra về, đến chỗ đức Phật. Đức Phật từ xa trông thấy liền hỏi:
“Thiện lai Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên! Hai thầy ăn cơm khách từ đâu về đó?”
Thưa:
“Bạch đức Thế Tôn! Vừa rồi (chúng con)* đến một nhà cư sĩ, có một Tỳ-kheo-ni hoặc bị gọi là ‘Tiểu đức’, hoặc bị gọi là ‘Đại long’.”
Đức Phật hỏi:
“Tại sao gọi như thế?”
(Hai Tôn giả)* kể rõ đầu đuôi câu chuyện. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi thật sự có ăn thức ăn do Tỳ-kheo-ni khen ngợi (mà được)* hay không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn thức ăn do Tỳ-kheo-ni khen ngợi (mà được)*, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo-ni khen ngợi nơi chỗ vắng, sau khi Tỳ-kheo ăn xong mới biết, bèn sanh hổ thẹn: “Ta sẽ không phạm Ba-dật-đề chăng?” Do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Nếu không biết thức ăn do Tỳ-kheo-ni khen ngợi có được rồi ăn, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, biết thức ăn do Tỳ-kheo-ni khen ngợi có được mà ăn, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, có một gia đình thỉnh năm trăm Tỳ-kheo thọ trai. Gia đình này trước đây có cúng dường Tỳ-kheo-ni, do cô ấy nói: “Nên thiết trai cúng dường cho các Tỳ-kheo đừng để mất cơ hội tốt.”
Các Tỳ-kheo nghe sanh hổ thẹn, không dám ăn nữa, trở về bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo-ni trước không khen ngợi, đến khi ăn mới nói: Lành thay! Cúng dường thức ăn cho các Tỳ-kheo. Tỳ-kheo ăn thức ăn này mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết thức ăn do nhân duyên Tỳ-kheo-ni khen ngợi mà ăn phạm Ba-dật-đề, [49b01] trừ trước đó đàn-việt phát tâm làm.”161
C. THÍCH TỪ
Khen ngợi: Khen ngợi được pháp hơn người.
Nếu Thức-xoa-ma-na, Sa-di,162 Sa-di-ni ăn thức ăn do Tỳ-kheo khen ngợi mà được, Đột-kiết-la. Sa-di, Đột-kiết-la.
XXXI. TRIỂN CHUYỂN THỰC163
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá,164 khi ấy, có một đại thần thường cúng dường Phật và Tỳ-kheo Tăng. Có một người nghèo165 thấy vậy nghĩ như vầy: “Vị đại thần này, nay được thiện lợi lớn mới có thể cúng dường Phật và Tăng như thế. Nếu ta có của cũng sẽ như vậy.” Lại nghĩ như vầy: “Nay ta không tài vật, chính là lúc nên làm thuê để dùng cúng dường.” (Người ấy)* lập tức thành người làm thuê, hằng ngày ăn một phần, để lại một phần.
Người chủ hỏi:
“Tại sao ngươi để lại một phần?”
Trả lời:
“Tôi tạm gửi lại nó, sau sẽ lấy luôn.”
Trải qua một thời gian như vậy, biết số tiền dành dụm đã đủ, nói với người chủ:
“Số tiền tôi dành dụm lâu nay, vì tôi sửa soạn các thức ăn đầy đủ.”
Người chủ hỏi:
“Hiện tại ngươi nghèo khổ, tại sao lại dùng hết số tiền đó vội sửa soạn các thứ đồ ăn thức uống đầy đủ để làm gì?”
Trả lời:
“Vì tôi thấy vị đại thần của thành Vương Xá thường thỉnh Phật và Tăng để cúng dường các thứ, nên tôi nguyện cũng sẽ làm như vậy. Do đó, tôi trở thành kẻ làm thuê để thực hiện ý muốn này. Nay số tiền đã làm tính đủ để thiết lập một lễ cúng dường, vì vậy hôm nay tôi vội chuẩn bị đầy đủ các thức ăn.”
Người chủ nghe như vậy, sinh tâm hi hữu: “Người nghèo khổ như vậy, đem thân làm thuê mướn, đặng một ít tài vật mà còn đem cúng dường, huống là ta giàu có, chỉ cần phát tâm là có đầy đủ thức ăn liền, thế mà không thể làm được!” Nghĩ vậy, người chủ liền trả tiền thuê gấp bội để cho ông mặc ý sắm sửa các thứ ngon bổ thượng vị.
Khi ấy, người làm thuê mang ngay tài vật đến chỗ đức Phật, bày biện các thức ăn ngon bổ nhất trên đời. Nhờ tấm lòng thành này, nên cả quỉ thần cũng đến giúp đỡ. Chỉ trong chốc lát tự nhiên đầy đủ tất cả. Hôm đó, gặp ngày tiết hội, nhiều người tranh đến thỉnh về nhà thọ trai. Các Tỳ-kheo bàn với nhau: “Hôm nay người nhà nghèo này tận lực mở hội (cúng dường)* (đối với các gia đình khác)* chúng ta nên dùng một ít thôi.” Tuy dặn nhau là ăn rất ít nhưng nhiều nhà mời nên họ ăn khá no.
Khi người nhà nghèo sửa soạn thức ăn đầy đủ đã xong, đến giờ thỉnh mời. Lúc ấy, các Tỳ-kheo đều tập trung an toạ, chỉ trừ đức Phật ở tại phòng. Bấy giờ, người nghèo kia hoan hỷ tự tay sớt các thức ăn, các Tỳ-kheo tuy thọ thực nhưng rất ít. Người nghèo nghĩ như vầy: “Các Tỳ-kheo vì thương ta nghèo túng, sợ thức ăn không đủ, hay vì thức ăn dở không ăn thêm!” Liền đem việc này hỏi. Trong các Tỳ-kheo ấy, có vị ít tàm quí trả lời:
“Sợ ông [49c01] thức ăn ít nên đã ăn trước các nhà khác.”
Người nghèo giận, thưa:
“Tại sao đã nhận lời mời của con trước mà ăn các nhà khác? Con vốn mong mỏi bày tỏ hết sức mình để cúng dường, nay các Đại đức tuy không dám dùng hết thì xin tuỳ ý mang về, đừng để dư!”
Các Tỳ-kheo nghe vậy, bèn cố ăn, nhưng vẫn không hết phân nửa đồ cúng. Chúng Tăng dùng rồi, người nghèo lại nghĩ như vầy: “Ta cố ép chư Tăng ăn như vậy không biết có mắc tội hay không?” Người nghèo đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:
“Lành thay, bần sĩ! Ngươi có thấy người làm phước, đem sức mình ra làm thuê mà được hâm mộ bằng ngươi không? Tuy đang thọ thân người nhưng nhân duyên sanh lên cõi trời đều đã đầy đủ. Từ khi ngươi phát tâm muốn cúng dường Phật và Tăng đến nay. Tuỳ theo sự việc, đều được vô lượng công đức. Dù cho Chúng Tăng không ăn một miếng nào, nhưng đối với ngươi thì công đức vẫn đầy đủ. Nay ngươi sẽ lại được quả báo hiện đời này.”
Người nghèo nghe xong vui mừng hớn hở. Đức Phật lại vì người nghèo nói các diệu pháp. Người nghèo trên chỗ ngồi xa trần lìa cấu, được con mắt pháp trong sạch, ông thấy pháp rồi, liền thọ ba pháp qui y, phụng trì năm giới, từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu mặt kính lễ sát chân, nhiễu quanh Phật rồi cáo lui.
Bấy giờ có năm trăm người lái buôn,166 đến từ nước Ưu-thiền-na,167 trên đường xa xôi trở về, hết lương thực ba ngày. Họ sai người cỡi ngựa đi trước để tìm kiếm thức ăn đã nấu sẵn. Người ấy rao nói khắp nơi:
“Chúng tôi gồm năm trăm người lái buôn, đến từ nước Ưu-thiền-na, hết lương thực ba ngày, cho nên sai tôi đến trước, tìm thức ăn nấu sẵn, nếu ai có thì với giá nào chúng tôi cũng xin mua.”
Người trong thành nói:
“Nơi đây không ai có, chỉ có một người nghèo đang cúng dường tại Tăng phường, còn dư thức ăn rất nhiều, ông có thể đến tìm nơi đó chắc được không nghi.”
Lúc ấy sứ giả kia, liền thúc ngựa đến, trình bày tình cảnh như vậy.
Người nghèo trả lời:
“Nay tôi thiết lễ cúng dường không vì tài lợi, chỉ cần chịu thì mời đến, đừng bàn đến chuyện giá cả.”
Người sứ giả nghe vậy, vốn ngoài ý mong muốn của mình, vui mừng trở về báo. Trong chốc lát đều đến, mọi người nói:
“Mau cho chúng tôi ăn, chúng tôi sẽ báo đáp.”
Vẫn trả lời như trước.
Họ vội vàng ăn liền. Khi đã được no nê rồi, nhờ người khác hỏi người này có sự nghiệp thế nào mà có thể thiết bày, bố thí nhiều thứ như vậy. Có người đen việc này kể lại đầy đủ. Đoàn buôn nghe rồi càng cho là điều hiếm có. Liền góp nhau một trăm ngàn lượng vàng để trả ơn cho người thí kia. Lại còn nhờ hỏi:
“Tại thành này có người tên là… hiện nay ở đâu?”
Trả lời:
“Đã qua đời rồi.”
Lại hỏi:
“Ông ấy có con cháu gì không?”
Trả lời:
“Người vừa cho các ông ăn là con của ông ấy.”
Cả đoàn lái buôn nghe như thế, nói với người nghèo như chuyện xưa:
“Thân sinh của ông chính là thầy của chúng tôi.”
Họ liền lấy ra một trăm ngàn lượng vàng nữa để tặng gọi là báo đáp ân tình trước kia.
[50a01] Đại thần thành Vương Xá và người chủ thuê mướn, nghe thấy việc này rất đổi vui mừng, mỗi người lại biếu tặng một ngàn lượng vàng để kết tình tốt mới. Cũng trong ngày ấy, vua Bình-sa tấn phong cho chức Đại thần. Chỉ trong một ngày mà bỗng nhiên giàu có và quyền quí. Người trong nước ban cho hiệu là “Trưởng giả bất ngờ”.
Các Tỳ-kheo đem vấn đề này bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ông có nhận lời mời của người mà lại ăn trước nơi nhà khác không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ông là người ngu si, tại sao đã nhận lời thỉnh của người mà lại đi ăn trước nơi nhà khác!”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay, giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn nhiều lần, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, Tất-lăng-già-bà-ta cùng tám mươi Tỳ-kheo, đều mắc trọng bệnh không thể ăn nhanh (một lần đủ no)*. Nhân việc này bạch Phật, đức Phật hợp tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo bệnh được ăn nhiều lần. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn nhiều lần, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
Nhân duyên, là khi bệnh. Đó gọi là nhân duyên.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo thọ y Ca-thi-na để không phạm năm việc. Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Là lúc may y, ăn nhiều lần không phạm. May y rồi cũng không phạm hay chăng?” Họ do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Khi đang may y không phạm, may y rồi thì phạm. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn nhiều bữa, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
Nhân duyên là khi bệnh, khi may y. Đó gọi là nhân duyên.
Có các cư sĩ biết các Tỳ-kheo không được phép ăn nhiều lần, bèn nghĩ như vầy: “Ta nên tạo phương tiện vì các Tỳ-kheo may y, Tỳ-kheo đến nhận, và được cúng dường.” Họ liền may y, rồi thỉnh các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo nói:
“Chúng tôi không được phép ăn, tôi chỉ nhận y.”
Các cư sĩ thưa:
“Bạch Đại đức! Nhận thức ăn của con rồi mới cúng y.”
Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nếu Đức Thế Tôn cho phép ta vì thí y nên được ăn nhiều lần, để có thể khỏi bị thiếu y.” Rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo vì thí y nên được ăn nhiều lần. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ăn nhiều lần,168 trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Nhân duyên: Là khi bệnh, khi may y, khi thí y.169 Đó gọi là nhân duyên.
Bấy giờ, A-nan đến nhà gia chủ, gia chủ bày các thức ăn. A-nan quên trước đó đã nhận lời mời, liền thọ thức ăn này. Khi sắp ăn [50b01] mới nhớ lại, liền nói với người chủ:
“(Xin lỗi)* có thể thâu lại thức ăn, vì trước đây tôi đã lỡ nhận lời mời khác rồi, nên không thể ăn được!”
Gia chủ giận nói:
“Tại sao đã thọ thức ăn của tôi lại bỗng dưng hối hận.”
Sau đó, A-nan vội vàng về bạch Phật, đức Phật dạy:
“Nếu có nhân duyên như vậy, nên khởi tâm nhường lại cho vị khác, nghĩ như vầy:
‘Phần thỉnh của tôi, xin nhường lại cho Tỳ-kheo tên là…’ sau đó, có thể ăn. Nếu không nghĩ nhường cho người khác mà ăn, Đột-kiết-la.”
Bấy giờ, lại có lời thỉnh trước lại dọn thức ăn sau, hoặc có việc dọn thức ăn trước rồi thỉnh sau, các Tỳ-kheo không biết nên như thế nào, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Khi thỉnh, nên nói rằng: ‘Chỗ nào dọn trước thì tôi sẽ ăn chỗ đó’.”
Ăn nhiều lần: Là trước nhận người thỉnh, sau lại ăn chỗ khác. Đó gọi là ăn nhiều lần.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la.
Nếu được Tăng sai, hoặc ăn phòng riêng, hoặc bạch y đến thọ Tám giới, thiết trai cúng dường, hay thường thực thì không phạm.
XXXII. BIỆT CHÚNG THỰC170
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá,171 bấy giờ, Điều-đạt172 tìm cách lôi kéo vây cánh173 nên giáo hoá các cư sĩ, hoặc khiến một nhà thỉnh bốn Tăng, hoặc năm, hoặc mười vị. Các Tỳ-kheo Trưởng lão quở trách các Tỳ-kheo thọ thỉnh rằng:
“Tại sao vì việc lôi kéo vây cánh của Điều-đạt mà nhận sự thỉnh ăn riêng chúng?”174
Do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ngươi có nhận sự thỉnh ăn riêng chúng của Điều-đạt không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận lời mời ăn riêng chúng, Ba-dật-đề.”
Có một Tỳ-kheo dắt (Tỳ-kheo)* bệnh đi khất thực, nên bệnh của ông trầm trọng thêm. Các cư sĩ, nói:
“Đừng dắt (Tỳ-kheo)* bệnh đi khất thực, có thể đến nhà con lấy thức ăn.”
Tỳ-kheo nói:
“Đức Thế Tôn kết giới không cho phép chúng tôi nhận mời, ăn riêng chúng, nếu cúng dường cho chúng Tăng, thì chúng tôi liền tự được phần.”
Các cư sĩ nói:
“Nhà chúng con nghèo không thể cúng rộng được, chỉ có thể đủ sức cúng dường cho người bệnh, nếu cần thì Đại đức có thể đến nhận.”
Các Tỳ-kheo không biết nên như thế nào, do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo bệnh nhận mời ăn riêng chúng. Thời của y,175 khi thí y,176 như trong giới ăn nhiều lần đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
Nhân duyên: Là khi bệnh, (khi)* thời của y, khi thí y. Đó gọi là nhân duyên.
Có các Tỳ-kheo muốn may y, vì phải khất thực [50c01] nên y không thành, phế bỏ việc hành đạo, họ nghĩ: “Nếu khi may y mà đức Phật cho phép ta nhận mời ăn riêng chúng thì y sẽ được mau thành, không phế bỏ việc hành đạo.” Họ do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, khi may y được nhận mời ăn riêng chúng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
Nhân duyên là khi bệnh, (khi)* thời của y, khi thí y, khi may y. Đó gọi là nhân duyên.
Có các Tỳ-kheo cùng với bạn đồng đi đến một tụ lạc, nói với các người bạn rằng:
“Chúng tôi vào thôn khất thực, có thể chờ cho một chút.”
Các người bạn nói: “Không cần khất thực, tôi sẽ cung cấp cho.”
Các Tỳ-kheo nói: “Đức Phật không cho phép chúng tôi nhận mời ăn riêng chúng.”
Tiếp tục vào thôn khất thực. Các người bạn bỏ đi. Tỳ-kheo khất thực rồi, đi không kịp bạn, bị bọn cướp lột trần truồn. Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy:
“Nếu Đức Thế Tôn cho phép chúng ta, khi đi đường, được nhận mời ăn riêng chúng thì không gặp tai nạn này!”
Có các Tỳ-kheo đi quá giang thuyền người, đến giờ khất thực chủ thuyền bỏ đi, đưa đến các khổ nạn cũng lại như trên. Họ đem những việc này bạch lên Phật. Nhân đó, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho phép các Tỳ-kheo, khi đi đường, khi đi trên thuyền được nhận mời ăn riêng chúng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
Nhân duyên là khi bệnh, (khi)* thời của y, khi thí y, khi may y, khi đi đường, khi đi thuyền. Đó gọi là nhân duyên.
Theo thường pháp của chư Phật, hai lần đại hội trong năm vào tháng cuối mùa Xuân và tháng cuối mùa Hạ, Tỳ-kheo các nơi đều đến thăm hỏi nhau. Vì số chúng đông cho nên theo thứ tự thỉnh rất ít và khất thực khó được, các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nếu Đức Thế Tôn cho phép chúng ta khi đại hội được nhận mời ăn riêng chúng thì không đến nỗi khổ như thế này.”177 Do vậy họ bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, khi đại hội được nhận mời ăn riêng chúng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
Nhân duyên là khi bệnh, (khi)* thời của y, khi thí y, khi may y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại hội. Đó gọi là nhân duyên.
Bấy giờ em vua Bình-sa178 tên là Ca-lưu,179 phụng thờ một đạo, mà hằng năm mời tất cả chín mươi sáu hàng Sa-môn tổ chức một đại hội. Nghe Sa-môn Thích tử không nhận mời ăn riêng chúng, song sức của ông khả năng thỉnh hết chúng Tăng. Vì thiếu Sa-môn đạo Phật [51a01] nên lòng ưu sầu không vui, nghĩ như vầy: “Ta nên làm thế nào để thỉnh được Sa-môn Thích Tử, chỉ có cách là nhờ vua, mới có thể được kết quả.” Ông bèn đến trình bày với vua. Nhận lời, nhà vua liền đến chỗ đức Phật, trình bày đầy đủ sở nguyện của em mình.
Sau khi nhà vua ra về, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, khi Sa-môn hội,180 được nhận sự mời riêng chúng ăn. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nhận mời ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Nhân duyên: Là khi bệnh, (khi)* thời của y, khi thí y, khi may y,181 khi đi đường,182 khi đi thuyền,183 khi đại hội,184 khi Sa-môn hội.185 Đó gọi là nhân duyên.
Mời ăn riêng chúng: Là ở trong chúng mà thỉnh riêng bốn vị trở lên. Như vậy gọi là thỉnh ăn riêng chúng.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu mới bắt đầu nhận mời ăn riêng chúng, khi đến lại chia ra, nói thọ thỉnh khác, không thành chúng thì không phạm.
XXXIII. LỮ QUÁN MỘT BỮA ĂN186
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá,187 khi ấy, các nơi bị đói kém, khất thực khó được, tất cả các Tỳ-kheo tập trung hết về thành Vương Xá. Người xa bốn phương nói:
“Trước đây, chúng ta mai chiều đều thấy các Tỳ-kheo, tại sao nay tuyệt nhiên không thấy nữa?”
Có người nói:
“Lúc này khất thực khó được, tất cả đều đến thành Vương Xá cho nên không thấy!”
Mọi người nói:
“Chúng ta có thể kiến lập một cái nhà nhỏ,188 mỗi ngày lo cho một Tỳ-kheo ngủ một đêm, ăn một bữa. Nếu ai không đến dùng cơm thì nên gom góp lại, đợi các Tỳ-kheo đến sau.”
Họ liền thực hiện. Khi ấy, có một gia đình thường làm thức ăn ngon, nhóm sáu Tỳ-kheo du hành trong nhân gian, thường đến nhà đó. Các Tỳ-kheo khác đều không được đến lại, hỏi cư sĩ:
“Ngươi vì Tăng thiết lập ‘nhất túc thực’ tại sao tôi lại không được dự một lần?”
Cư sĩ thưa:
“Bổn nguyện của tôi là vì Tăng nên thiết lập chỗ này, nhưng nhóm sáu Tỳ-kheo ở mãi không chịu đi, khiến tôi không được đón tiếp vị Tăng nào khác. Đây là lỗi tại nhóm sáu Tỳ-kheo, chứ chẳng phải lỗi của tôi.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách nhóm sáu Tỳ-kheo, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nơi cúng một bữa ăn,189 ăn quá một bữa, Ba-dật-đề.”
Khi ấy Tôn giả Xá-lợi-phất bị trúng gió, đến nơi cúng một bữa ăn, ăn một bữa rồi liền muốn đi chỗ khác. Các [51b01] Tỳ-kheo thưa:
“Trưởng lão bệnh hoạn không cần đi chỗ khác, chúng tôi sẽ nhường phần ăn để cúng dường.”
Tôn giả Xá-lợi-phất nói:
“Đức Thế Tôn không cho phép chỗ ngủ một đêm, ăn quá một bữa.”
Có các cư sĩ nghe Tôn giả Xá-lợi-phất bị bệnh cũng cùng mời ở lại. (Tôn giả)* cũng trả lời như trước, rồi mang bệnh ra đi. Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy:
“Nếu Đức Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo bệnh, ở nơi cúng một bữa, ăn quá một bữa thì không có cái khổ này.”
Do vậy các Tỳ-kheo bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta cho phép các Tỳ-kheo bệnh, ở nơi cúng một bữa, được ăn quá một bữa. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, không bệnh ở nơi cúng một bữa, ăn quá một bữa, Ba-dật-đề.”
Nơi cúng một bữa ăn, số đông Tỳ-kheo vào buổi chiều cùng lúc đến, nếu đàn-việt cúng nước phi thời, hay dầu xoa chân, cho phép theo thứ tự nhận; sáng ngày, theo thứ tự ăn.
Nếu không, thì chỉ nghỉ một đêm, ăn một bữa rồi nên đi. Nếu đàn-việt mời ở lại thì được phép ở.
Nếu đi rồi, có duyên sự cần trở lại nên nói với chủ nhân, chủ nhân cho phép ở thì ở, không cho phép thì nên đi.
Nếu Tỳ-kheo đến sau nên nhận thức ăn đủ ăn một bữa, có dư nên cho Tỳ-kheo mà chủ nhân lưu lại.
Nếu Tỳ-kheo đến, mà có nhiều chỗ cúng một bữa ăn, các Tỳ-kheo nên chia ra để ở.
Nếu nhà bà con mà nhận quá một bữa ăn, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu có các nạn không đi được thì không phạm.
XXXIV. NHẬN QUÁ BA BÁT190
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.191 Khi ấy, có một người nữ192 muốn trở về lại nhà chồng, chuẩn bị các thứ bánh, dùng làm lương thực đi đường. Có một Tỳ-kheo theo thứ tự khất thực đến nhà kia, người nữ hỏi:
“Thầy muốn cần gì?”
Trả lời: “Cần thức ăn.”
Lại hỏi:
“Có thể ăn Khư-xà-ni193 được không?”
Trả lời:
“Có thể.”
(Cô gái)* liền lấy bình bát cho đầy các loại bánh vào trong. Tỳ-kheo này được bánh rồi lại nói các Tỳ-kheo khác:
“Nhà đó có nhiều thức ăn ngon, thầy nên đến đó xin.”
Các Tỳ-kheo nghe theo đều đến xin. Tất cả các bánh chín đó đều đem cho hết.
Khi ấy, người chồng cho người đến hối thúc. (Cô gái)* trả lời:
“Lương thực làm chưa xong.”
(Cô ta)* lại làm các thức ăn khác, như vậy cho đến ba lần,194 Tỳ-kheo đến xin, (cô ta)* đều cúng hết. Người chồng ba lần hối thúc, cô đều trả lời như lần đầu. (Người chồng)* liền nổi giận, nghĩ rằng cô ta đã có ý khác, bèn sai người nói:
“Tôi đã cầu hôn người khác rồi, không cần đến người nữ mù loà195 như cô nữa.”
Lúc đó, cả gia đình người nữ nổi giận nói:
“Do Sa-môn Thích tử nên con ta bị góa bụa.”
Họ lại dùng mọi cách mắng nhiếc, miệng tuông ra đầy lời xấu xa. Người xung quanh hỏi:
“Người khác bạc bẻo con bà, can dự gì đến Sa-môn?”
[51c01] Họ liền kể rõ lại đầy đủ. Người không tin Phật pháp đều khoái chí nói:
“Do kính Sa-môn nên đưa đến việc này, nếu gần gũi lại còn gặp những điều tệ hại hơn nữa.”
Bấy giờ lại có người chủ khách buôn nói với các lái buôn rằng:
“Có thể chuẩn bị lương thực, ngày… là (ngày)* rất tốt, ta sẽ khởi hành.”
Mọi người đều chuẩn bị các thứ đồ ăn thức uống đầy đủ. Có một Tỳ-kheo, theo thứ tự khất thực đến nhà một người lái buôn.
Người lái buôn hỏi:
“Muốn cần những thứ gì?”
Trả lời:
“Cần thức ăn.”
Hỏi:
“Cò thể dùng bánh,196 lương khô197 được không?”
Trả lời;
“Có thể được.”
(Người lái buôn)* liền lấy cho vào đó đầy bình bát. Tỳ-kheo nhận được rồi, nói với các Tỳ-kheo khác:
“Tại nhà đó có nhiều thức ăn ngon, các thầy có thể đến đó xin.”
Vì các Tỳ-kheo đến đó xin đều được, nên lương thực hết sạch!
Người chủ khách buôn nói:
“Ngày tốt nay đã đến, chúng ta nên khởi hành.”
Người lái buôn này nói:
“Lương thực chưa xong.”
Người chủ khách buôn hỏi:
“Trước đây tôi đã thông báo, chuẩn bị lương thực cho đầy đủ, tại sao nay lại nói chưa xong?”
Trả lời:
“Vì Sa-môn đến xin nên cho hết.”
Người chủ khách buôn bảo:
“Nay là ngày tốt, không thể không khởi hành, tôi đi trước, người có thể đi sau.”
Lúc đó (người chủ khách buôn)* liền khởi hành. Sau đó trở về an ổn, thu nhiều lợi nhuận. Người lái buôn kia một mình đi sau, gặp bọn cướp quét sạch mất hết tài vật, bèn la khóc:
“Do Sa-môn Thích tử nên gặp khốn cùng này!”
Bọn giặc cướp hỏi:
“Ta cướp của ngươi, tại sao lại oán người?”
(Người lái buôn)* kể rõ lại đầu đuôi câu chuyện. Bọn giặc cướp nghe rồi, lại bảo rằng:
“Ngươi gần gũi Sa-môn nên bị đánh, bị giết, bị cướp đồ là phải, nếu có sự gần gũi nữa thì cũng sẽ bị như vậy!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo tăng, hỏi các Tỳ-kheo kia:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vây, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đến nhà bạch y, được mời cúng nhiều đồ ăn thức uống, hoặc bánh, hoặc lương khô. Nếu cần thì nhận hai, ba bát; nhận quá, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo bệnh, vào thôn khất thực, có một cư sĩ mời cúng nhiều, không dám nhận quá hai, ba bát, do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta cho phép Tỳ-kheo bệnh được nhận quá hai, ba bát. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đến nhà bạch y, được mời cúng nhiều đồ ăn thức uống, hoặc bánh, hoặc lương khô. Nếu cần thì nên nhận hai, ba bát; nếu không bệnh nhận quá, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo đến nhà mời thọ trai, ăn rồi lại xin người chủ thức ăn mang đi. [52a01] Các Tỳ-kheo do vậy bạch lên Phật, Đức Phật dạy:
“Nếu đến nhà người mời ăn, thì không được xin thêm mang đi. Nếu không đến nhà người mời ăn thì cho phép mang đi.”
Có các Tỳ-kheo nhận hai, ba bát mang đi rồi, không cho các Tỳ-kheo cùng ăn; rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nên cho các Tỳ-kheo để cùng ăn. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, đến nhà bạch y, được mời cúng nhiều đồ ăn thức uống, hoặc bánh, hoặc lương khô. Nếu không ăn tại nhà đó, cần thì nên nhận hai, ba bát; ra ngoài nên cho các Tỳ-kheo khác cùng ăn. Nếu không bệnh mà nhận quá mức đó và, không cho các Tỳ-kheo khác ăn, Ba-dật-đề.”
C. THÍCH TỪ
Mời cúng thức ăn:198 Tức là đến xin cho liền. Nếu Tỳ-kheo nhận bát thứ nhất, trở về nên nói với các Tỳ-kheo rằng: Tôi đã nhận nơi nhà… một bát, còn hai bát, thầy cần thì đến lấy. Nếu nhận bát thứ hai, nên nói: Tôi đã nhận nhà… hai bát, còn một bát, Thầy cần thì đến nhận. Nếu nhận bát thứ ba, nên nói: Tôi đã nhận nhà… ba bát rồi, đừng đến nhận nữa. Nếu không nói thì Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
XXXV. PHÁP DƯ THỰC199
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.200 Bấy giờ, các nơi bị đói kém, khất thực khó được, các Tỳ-kheo đều trở về thành Vương Xá. Các cư sĩ nơi thành Vương Xá hỏi các Tỳ-kheo:
“Tăng có bao nhiêu vị và có bao nhiêu người hứa cúng?”
Trả lời:
“Tăng có chừng ấy vị, thức ăn có… người hứa cúng.”
Khi ấy, các cư sĩ cùng bàn nhau nói:
“Chúng ta sẽ vì các Tỳ-kheo, tuỳ theo khả năng mà làm thức ăn. Lúc ấy, hoặc có một người làm thức ăn cho một Tỳ-kheo cho đến mười Tỳ-kheo. Hoặc có hai người cho đến mười người, cùng làm thức ăn cho một Tỳ-kheo cho đến thức ăn mười Tỳ-kheo.”
Chuẩn bị thức ăn đầy đủ rồi, các người cư sĩ chủ trương lại nghĩ như vầy: “Chúng ta tuy tuỳ theo khả năng làm thức ăn cho từ một người cho đến mười người ăn, nhưng chắc không chu đáo, nay cần kiểm tra tất cả phẩm vật làm thức ăn, nếu ai không đầy đủ ta sẽ bổ túc.” Họ liền kiểm tra, thì trong số đó có một người nghèo, tuy lòng họ không tiếc của nhưng họ không có gạo tốt. Theo sự kiểm tra này thì sở hữu của gia đình họ chỉ có đậu mạch là đầy đủ. Theo thứ tự đến phiên chủ cư sĩ này làm thức ăn; vì đồ ăn thức uống thô xấu, nên các Tỳ-kheo già bệnh không thể ăn uống được, đem cho người ăn xin hay ngoại đạo, rồi đến nhà quen biết ăn. Các Cư sĩ biết, liền cơ hiềm nói:
“Chúng tôi cắt giảm phần ăn của vợ con [52b01] để gieo vào trong ruộng phước, tại sao Tỳ-kheo lại coi rẻ thức ăn này của chúng tôi?! Dùng của xin cho người ăn xin và ngoại đạo, rồi tìm (thức ăn)* mỹ vị là sao?! Hạng người này chủ đích là tìm giải thoát, lìa già, bệnh, chết, tại sao nay phản lại tìm cái ngon đẹp, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Khi ấy, người thí chủ của Bạt-nan-đà đến giám sát bữa ăn. Bạt-nan-đà đã ăn với chúng rồi lại đến nhà người thí chủ đòi thức ăn ngon. Người thí chủ hỏi:
“Vừa rồi Đại đức không ăn ở trong chúng sao?”
Trả lời:
“Có ăn trong chúng nhưng sợ đàn-việt mất phước cúng riêng, cho nên lại đến đây.”
Người kia cơ hiềm nói:
“Hiện nay ở đời đói khổ, mọi người kiệt quệ mà phải chung nhau làm thức ăn, tại sao lại coi nhẹ nó, để đi tìm đồ ngon lạ?!”
Các Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn rồi, ăn lại, Ba-dật-đề.
Lúc bấy giờ Tất-lăng-già-bà-ta cùng tám mươi Tỳ-kheo bị bệnh, các Tỳ-kheo vì họ mời ăn, họ ăn không hết, vất bỏ trước phòng, các cư sĩ thấy hỏi:
“Đây là những thức ăn gì?”
Trả lời: “Là thức ăn dư của các Tỳ-kheo bệnh.”
Các cư sĩ nói:
“Sao không lấy ít!”
Trả lời:
“Vì các Tỳ-kheo bệnh có người ăn nhiều, có người ăn ít, bỡi vậy nên chúng tôi không thể lấy ít được.”
Cư sĩ lại nói:
“Hiện nay bị đói kém, đem bố thí một hột cơm, là có thể sanh Thiên, tại sao lại vất bỏ, mà không bố thí?!”
Hoặc lại có người nói:
“Bọn Sa-môn này, thà vất bỏ nơi đất chứ không đem cho người! Chúng ta đã cúng cho Tăng, một hột cơm rơi xuống đất cũng coi đó là một tội lớn, tại sao Tỳ-kheo lại không tiếc vật này?!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Đức Phật hỏi Tôn giả A-nan:
“Có người nào có thể ăn thức ăn này hay không?”
Tôn giả thưa:
“Tỳ-kheo nuôi bệnh xin thức ăn này, mà thoạt tiên chính họ ăn vẫn chưa đủ. Họ muốn ăn thức ăn dư này, nhưng không dám ăn.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo ăn thức ăn dư của Tỳ-kheo bệnh.
Bấy giờ, chúng Tăng thành Vương Xá ăn rồi, có Tỳ-kheo từ bên ngoài nhận được thức ăn đem về, các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Có thể dùng thức ăn này cho Tỳ-kheo bệnh.”
Họ liền đem cho, các Tỳ-kheo bệnh nói:
“Thức ăn này làm tăng bệnh, chúng tôi không cần.”
(Các Tỳ-kheo)* do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép các Tỳ-kheo đến bên Tỳ-kheo bệnh làm pháp tàn thực201 để ăn.”
Bấy giờ, chúng Tăng thành Vương Xá ăn rồi đứng dậy, [52c01] lại có Tỳ-kheo từ bên ngoài nhận được thức ăn đem về, (cho)* Tỳ-kheo bệnh đã lành. (Tỳ-kheo này)* không biết nên thế nào, lại do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nên đến bên Tỳ-kheo ăn chưa xong, làm pháp tàn thực để ăn. Nếu không (có vị nào ăn chưa xong)*, thì đến bên Tỳ-kheo chưa ăn để làm. Nếu trong chúng không có Tỳ-kheo nào chưa ăn thì nên tìm đến nơi gần nhất, nếu nơi gần nhất lại cũng không có Tỳ-kheo, thì nên cho Sa-di (đủ điều kiện)* thọ Cụ túc giới, nhanh chóng thọ giới, sau đó đến bên vị này làm pháp tàn thực để ăn. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ăn rồi, không làm pháp tàn thực mà ăn, Ba-dật-đề.”
Có Tỳ-kheo sáng sớm mời các Tỳ-kheo dùng tiểu thực bằng ăn và uống thức ăn Khư-đà-ni,202 (uống)* Xa-đà-ni,203 các Tỳ-kheo gọi đó là túc thực (ăn đã đủ), không dám ăn nữa, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Đây không gọi là túc thực. Có năm thức ăn gọi là túc thực:204 Cơm, cơm khô,205 bánh,206 lương khô,207 cá và thịt. Đối với năm thức ăn này, mỗi thức ăn có năm trường hợp gọi là túc thực: 1. Có thức ăn, 2. Đã trao cho, 3. Đã nhận ăn (đã nhai, nuốt,)* 4. (Đã ăn xong)* không nhận thêm nữa, 5. Thân lìa khỏi bổn xứ (đã rời khỏi chỗ ngồi).”
Nếu lìa khỏi chỗ ngồi rồi lại nhận được thức ăn: cơm, lương khô, không làm pháp tàn thực mà ăn thì mỗi một miếng ăn, Ba-dật-đề.
Các Tỳ-kheo không biết làm pháp tàn thực, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Đem thức ăn để vào bình bát rồi bưng nơi tay, trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, nói như vầy:
Trưởng lão nhất tâm niệm:
“Tôi tên là… ăn đã đủ, xin vì tôi làm pháp tàn thực.”
Tỳ-kheo kia láy bát, hỏi:
“Thức ăn này cho tôi phải không?”
Trả lời;
“Vâng!”
(Vị kia)* Liền vì họ hứa khả, ăn một ít còn bao nhiêu trả lại, hoặc hoàn toàn không ăn chỉ lấy rồi đưa lại, nói: Đây là thức ăn dư của tôi, mời thầy!”
Như vậy gọi là (làm pháp)* tàn thực. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

129 Tăng-kỳ 15, tr. 347b25: Ba-dật-đề 24. Tứ phần 13, tr. 650a27, Thập tụng 11, tr.82c1, Căn bản 32, tr. 804b26: Ba-dật-đề 23. Vin. iv. 57. Pāc. 24, āmisa.
130 Tăng-kỳ 15, tr. 347b25; Tứ phần 13, tr. 650a27: Xá-vệ quốc 舍衞國, Thập tụng 11, tr. 82c1: Vương Xá thành 王舍城, Căn bản 32, tr. 804b26: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
131 Tăng-kỳ: “Vì thức ăn” Tứ phần: “Vì ăn uống.” Thập tụng: “Vì tài lợi.” Căn bản: “Vì sự cúng dường ăn uống”. Pāli: “Vì lợi lộc vật chất”.
132 Tăng-kỳ 25, tr. 347: Ba-dật-đề 25; Tứ phần 13, tr. 652c12: Ba-dật-đề 26; Thập tụng 12, tr. 84c24: Ba-dật-đề 28; Căn bản 33, tr. 808a8: Ba-dật-đề 29. Vin. iv. 68. Pāc. 30,rahonisajja.
133 Tăng-kỳ 25, tr. 347; Tứ phần 13, tr. 652c12; Thập tụng 12, tr. 84c24: 舍衛城 (國) như Ngũ phần ; Căn bản 33, tr. 808a8: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
134 Một mình, Hán: Độc 獨, như Thập tụng và Căn bản. Tứ phần: Nhất xứ 一處, một chỗ, chỗ chỉ có một Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni (từ này không có trong giới văn của Tứ phần mà có trong Thích từ). Pāli: eko ekāya, một người với một người.
135 Tăng-kỳ 15, tr. 349b10: Ba-dật-đề 28; Tứ phần 13, tr. 650c02; Thập tụng 12, tr.84a07; Căn bản 32, tr. 805a6: Ba-dật-đề 24. Vin. iv. 59. Pāc. 25, cīvaradāna.
136 Tăng-kỳ 15, tr. 349b10; Tứ phần 13, tr. 650c02; Thập tụng 12, tr. 84a07: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) cũng như Ngũ phần; Căn bản 32, tr. 805a6: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
137 Lão thọ 老壽: Từ dùng chúc thọ, cũng có nghĩa để đáp lễ cầu điều tốt lành cho nhau.
138 Đổi chác, Hán: Mậu dịch 貿易. Tứ phần: Trao đổi, đem y đổi y, đem y đổi phi y, đem phi y đổi y, đem kim đổi dao hoặc chỉ may, cho đến một ngọn thuốc.
139 Tăng-kỳ 15, tr. 349c12: Ba-dật-đề 29. Tứ phần 13, tr. 651a19: Ba-dật-đề 25; Thập tụng 12, tr. 84b22: Ba-dật-đề 27. Căn bản 33, tr. 805b27: Ba-dật-đề 25. Vin. iv. 61. Pāc. 26,cīvarasibbana.
140 Tăng-kỳ 15, tr. 349c12; Tứ phần 13, tr. 651a19; Thập tụng: 12, tr. 84b22 Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) cũng như Ngũ phần. Căn bản 33, tr. 805b28: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
141 Tăng-kỳ: Tỳ-kheo-ni Thiện Sinh 善生比丘尼, vợ cũ của Ưu-đà-di. Tứ phần: Không tên như Ngũ phần. Thập tụng: Quật-đa Tỳ-kheo-ni 掘多比丘尼, quen biết cũ với Ca-lưu-đà-di. Căn bản: Cấp-đa bí-sô-ni 笈多苾芻尼.
142 Tứ phần: Tôn giả Ca-lưu-đà-di 尊者 迦留陀夷. Pāli: Udāyin khéo may y.
143 Pāli: sibbeyya vā sibbāpeya vā, may và khiến (người khác) may.
144 Tăng-kỳ 15, tr. 348bo1: Ba-dật-đề 26. Tứ phần; Thập tụng: Ba-dật-đề 27. Căn bản 33, tr. 805b27: Ba-dật-đề 25. Vin. iv. 61. Pāc. 26, cīvarasibbana.
145 Tăng-kỳ 15, tr. 348b01. Tứ phần 13, tr. 653a20. Thập tụng 12, tr. 84b22: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) cũng như Ngũ phần. Căn bản 33, tr. 805b28: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
146 Tứ phần: Tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian.
147 Tụ lạc: Xem cht. 103, Ch. i, Ba-la-di 2.
148 Tứ phần: Cùng đi với khách buôn; hoặc khi có nghi ngờ, có kinh sợ.
149 Do-tuần: Xem cht. 104, Ch. i, Ba-la-di 2.
150 Tăng-kỳ 15, tr. 349a02: Ba-dật-đề 27; Tứ phần 13, tr. 652c12: Ba-dật-đề 28; Thập tụng 12, tr. 83c11: Ba-dật-đề 25; Căn bản 33, tr. 806a19: Ba-dật-đề 27. Vin. iv. 62. Pāc. 27,saṃvidhāna.
151 Tăng-kỳ 15, tr. 349a02; Tứ phần 13, tr. 652c12; Thập tụng 12 tr. 83c11: Xá-vệ thành(quốc) 舍衛城(國). Căn bản 33, tr. 806a19: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
152 Thập tụng 12: Các Tỳ-kheo-ni đồng bọn của Đề-bà-đạt-đa.
153 Sông A-di-la: Xem cht. 126, Ch. iv, Ni-tát-kỳ 17.
154 Căn bản: hoặc duyên ba 沿波, hoặc tố lưu 泝流. Giải thích: duyên ba, đi xuôi dòng; tố lưu, đi ngược dòng.
155 Trừ đò ngang, Hán: Trừ trực 除直. Tứ phần 13, tr. 653a18: Trừ trực độ 除直渡.
156 Tứ phần 13, tr. 653a29: Ba-dật-đề 29. Pāli. Pāc. 29, bhikkhuniparipācitaṃ. Các bộ khác, Ba-dật-đề 30.
157 Tăng-kỳ 15, tr. 350a01; Tứ phần: 13, tr. 653a29; Thập tụng:12, tr. 85b08: Xá-vệ quốc (thành) 舍衛城(國). Căn bản 33, tr. 808b04: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
158 Thâu-la-nan-đà 偷羅難陀. Pāli: Thullanandā.
159 Tứ phần: Đề-bà-đạt 提婆達, Tam-văn-đà-la-đạt 三聞陀羅達, Khiên-đà-la-đạt-bà 騫駄羅達婆, Cù-bà-ly 瞿婆離, Ca-lưu-la-đề-xá 迦留羅提舍. Xem Ch. ii. Tăng-già-bà-thi-sa 10.
160 Hán: Tác thử phản phúc 作此反覆, làm việc phản phúc này.
161 Hán: Trừ đàn-việt tiên phát tâm tác 除檀越先發心作. Tứ phần: Trừ đàn-việt có chủ ý trước 除檀越先有意.
162 Có thể trong chánh văn viết nhầm: Tỳ-kheo-ni là Sa-di. Tứ phần tr. 654a17: Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
163 Tăng-kỳ 16, tr. 352a5; Tứ phần 13, tr. 655b10: Ba-dật-đề 32; Thập tụng 12, tr. 86c29, Căn bản: 34, tr. 810c223: Ba-dật-đề 31; Pāli, Pāc. 33, paramparabhojana.
164 Tứ phần: La-duyệt-kỳ 羅閱祇; Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành 舍衛城(國); Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
165 Tứ phần 13: Có người Bà-la-môn tên Sa-nậu 沙㝹. Thập tụng 12: Một tiểu nhi mồ côi làm thuê. Pāli (Vin. iv. 75): aññatarassa daliddassa kammakārassa, một người làm thuê nghèo.
166 Tứ phần: Có năm trăm hành khất…
167 Ưu-thiền-na quốc 優禪那國. Pāli: Ujjenī.
168 Ngũ phần, Thập tụng: Sác sác thực 數數食. Tứ phần: Triển chuyển thực 展轉食, ăn luân phiên, ăn nhiều lần. Tăng-kỳ: Xứ xứ thực 處處食, ăn nhiều chỗ. Pāli:Paraṃparabhojana, ăn từ chỗ này đến chỗ khác.
169 Hán: Thí y thời 施衣時. Pāli: Cīvaradānasamaya. Tứ phần: Thí y, sau tự tứ, không thọ y ca-thi-na là một tháng, có thọ y ca-thi-na thì năm tháng.
170 Tăng-kỳ 17: Ba-dật-đề 40, lời chú (tr. 362b24) nói: bản Phạn lưu trong tinh xá Kỳ-hoàn bị mọt ăn mất điều 40 “Biệt chúng thực”; Tứ phần 14, tr. 657b14: Ba-dật-đề 33; Thập tụng13, tr. 93b11, Căn bản 36, tr. 823b12: Ba-dật-đề 36. Pāli, Pāc. 32, gaṇabhojana.
171 Tứ phần: La-duyệt-kỳ 羅閱祇; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
172 Điều-đạt 調達. Tứ phần; Căn bản: Đề-bà-đạt-đa 提婆達多; Thập tụng: Đề-bà-đạt 提婆達.
173 Tứ phần: Đề-bà-đạt-đa cùng với năm Tỳ-kheo đi khất thực từng nhà. Năm Tỳ-kheo này tên là: Tam-văn-đà-la-đạt, Khiên-đà-la-đạt-bà, Cù-bà-ly, Ca-lưu-la-đề-xá. Thập tụng: Đề-bà-đạt-đa cùng các niên thiếu Tỳ-kheo mới xuất gia. Căn bản: Đề-bà-đạt-đa cùng nhiều Tỳ-kheo ở chùa gần đó ăn riêng chúng.
174 Thỉnh ăn riêng chúng, Hán: Biệt thỉnh chúng thực 別請眾食. Pāli: Gaṇabhojana. Tứ phần: Biệt chúng thực 別眾食.
175 Thời của y: Xem cht. 134, Ch. iv, Ni-tát-kỳ 18.
176 Khi thí y (thí y thời 施衣時): Xem cht. 169 trước.
177 Tứ phần (tr. 658c20): Khi đại chúng tập hợp (đại chúng tập 大眾集), là thức ăn đủ cho bốn người mà dư một người là có sự khốn đốn. Năm người, mười người, cho đến trăm người mà dư một người là khốn đốn.
178 Bình-sa vương 瓶沙王. Xem Ch. i, Ba-la-di 2; Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 10.
179 Tứ phần (tr. 658b16): Con của chị vua Bình-sa tên là Ca-la 迦羅. Thập tụng 13 (tr. 94c25), Căn bản 36 (tr. 824a01): Cậu của vua. Pāli, Vin. iv. 747, một người thân tộc của vua Seniya Bimbisāra xuất gia theo nhóm lõa hình tà mạng (Ājīvaka); không nói tên.
180 Khi Sa-môn hội 沙門會時. Tứ phần: Sa-môn thí thực, là chỉ cho những người xuất gia theo ngoại đạo bên ngoài Sa-môn Thích tử. Pāli: Samaṇabhattasamaya, được giải thích: “Bữa ăn của Sa-môn, nghĩa là bữa ăn được làm bởi Sa-môn.” (Vin. iv. 475).
181 Khi may y 作衣時. Tứ phần: Thời may y, sau tự tứ, nếu không thọ y ca-thi-na thì khoảng một tháng; nếu có thọ y ca-thi-na thì khoảng năm tháng, cho đến trên y chỉ may một đường khâu răng ngựa.
182 Khi đi đường 行路時. Tứ phần: Cho đến chỉ đi trong nửa do-tuần gồm cả đi tới và đi lui.
183 Khi đi thuyền 舡上行時. Tứ phần: Cho đến nương trên thuyền xuôi hay ngược dòng nước trong vòng nửa do-tuần.
184 Khi đại hội 大會時. Pāli: Mahāsamaya, bản Anh dịch hiểu là sự khan hiếm cực kỳ, do Pāli samaya có nghĩa: thời tiết, cơ hội. Trong Skt. samaya còn có nghĩa “tập hội.” Thậptụng: Đại tập hội 大集會. Căn bản: Đại chúng thực 大眾食. Tứ phần: Đại chúng tập 大眾集, xem cht. 177 trước.
185 Khi Sa-môn hội: Xem cht. 180 trước.
186 Tăng-kỳ 16, tr. 351b07; Tứ phần 13, tr. 654c21: Ba-dật-đề 31; Thập tụng 12, tr.89b27, Căn bản 35, tr. 816a14: Ba-dật-đề 32. Pāli, Pāc. 31, āvasathapiṇḍa.
187 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
188 Cái nhà nhỏ, Hán: Tiểu ốc 小屋. Thập tụng 12: Phước đức xá 福德舍 (nhà từ thiện), với phụ chú (T23n1435, tr. 89c25): “Chính xác, gọi là nhất túc xứ 一宿處 (chỗ ngủ trọ một đêm)”. Pāli: āvasaṭhapiṇḍa, lữ xá có bố thí thức ăn.
189 Hán: Thí nhất thực xứ 施一食處. Pāli: āvasaṭhapiṇḍa; xem cht. 188 trên.
190 Tăng-kỳ 17, tr. 360c13: Ba-dật-đề 38; Tứ phần 14, tr. 659a08: Ba-dật-đề 34; Thập tụng 13, tr. 90a24, Căn bản 35, tr. 819b6: Ba-dật-đề 33. Pāli, Pāc. 34, Dvattipattapūrā(Kāṇamātusikkhāpada).
191 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
192 Tứ phần: Có người nữ tên Già-nhã-na 伽若那. Tăng-kỳ: Hạt Nhãn 瞎眼; Thập tụng: Lai Nhãn 睞眼; nghĩa là người nữ mắt lé. Pāli: Kāṇamātā, người nữ mù một mắt.
193 Khư-xà-ni 佉闍尼 (Kha-đãn-ni 珂但尼). Pāli: khādanīya, thức ăn loại cứng (cần phải cắn); được giải thích (Vin. iv. 83): trừ 5 loại thức ăn chính (bhojanīya, loại mềm), trừ thực phẩm loại để qua đêm, 7 ngày, và suốt đời, còn lại đều là thức ăn loại cứng. Thập tụng 13 (tr. 91b11), 5 loại khư-đà-ni 佉陀尼: rễ, cọng, lá, mài, quả 根莖葉磨果.
194 Pāli: Ba lần cô chuẩn bị lương thực đi đường đều lần lượt bố thí hết cho ba Tỳ-kheo, nên trễ chuyện về nhà chồng. Các bộ khác cũng vậy.
195 Hán: Hạt nữ 瞎女, xem cht. 192 trước.
196 Hán: Bính 餅, Pāli. pūva, bánh để làm quà.
197 Hán: Xiếu 麨, mạch yến mài nát vụn (Khang Hy). Hoặc đọc là khứu 糗, lương khô (Thiều Chửu). Từ nguyên: xiếu 麨, tức khứu糗; gạo, lúa mạch các thứ rang chín sau đó nghiền thành bột làm lương khô. Pāli. mantha, lương khô để đi đường.
198 Hán: Tự tứ dữ thực 自恣與食. Tứ phần: Thỉnh Tỳ-kheo cúng thức ăn 請比丘與食.
199 Tứ phần 14, tr. 660a12: Ba-dật-đề 35. Tăng-kỳ 16, tr. 354b4: Ba-dật-đề 33; Thập tụng 13, tr. 91a16, Căn bản 36, tr. 821a24: Ba-dật-đề 34. Pāli, Pāc. 35, Pavāraṇā.
200 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
201 Các bộ giống Ngũ phần, gọi là tàn thực pháp 殘食法 (pháp tàn thực). Tứ phần: Dư thực pháp 餘食法.
202 Khư-đà-ni 佉陀尼: Xem cht. 193, Ba-dật-đề 34.
203 Xa-đà-ni 賒陀尼: Pāli. bhojanīya, là loại thức ăn mềm. Xem cht. 193, Ba-dật-đề 34, và cht. 204 dưới.
204 Cf. Căn bản 36: Năm loại thức ăn không thành túc thực, đó là 5 loại kha-đản-ni (Pāli: khādaniya): thức ăn từ rễ củ, thân cọng, lá, hoa, quả). Năm loại thành túc thực, đó là năm loại bồ-thiện-ni (Pāli: bhojanīya): cơm, cơm đậu mạch, cơm khô, thịt và bánh. Tứ phần 14: Có năm loại ăn đủ: Biết là cơm, biết được đem đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi (nghĩa là, không còn “đang đi” nữa). Pāli, Vin. iv. 82, 5 yếu tố để thành túc thực: 1. được biết là đang ăn (asanaṃ paññāyati), 2. được biết là có thức ăn (bhojanaṃ paññāyati), 3. đứng gần trong tầm tay (hatthapāse ṭhito), 4. mang đến cho (abhiharati), 5. được biết là đã từ chối, vì đã ăn no (paṭikkhepo paññāyati).
205 Hán: Phạn can 飯乾. Pāli: Odana, thức ăn khô.
206 Hán: Phạn bính 飯餅. Pāli: Kummāsa, cháo; thực phẩm sữa đông đặc
207 Hán: Xiếu 麨. Pāli: Sattu, bột khô, bột lúa mạch. Xem thêm cht. 197 trước.

XXXV. PHÁP DƯ THỰC199

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.200 Bấy giờ, các nơi bị đói kém, khất thực khó được, các Tỳ-kheo đều trở về thành Vương Xá. Các cư sĩ nơi thành Vương Xá hỏi các Tỳ-kheo:
“Tăng có bao nhiêu vị và có bao nhiêu người hứa cúng?”
Trả lời:
“Tăng có chừng ấy vị, thức ăn có… người hứa cúng.”
Khi ấy, các cư sĩ cùng bàn nhau nói:
“Chúng ta sẽ vì các Tỳ-kheo, tuỳ theo khả năng mà làm thức ăn. Lúc ấy, hoặc có một người làm thức ăn cho một Tỳ-kheo cho đến mười Tỳ-kheo. Hoặc có hai người cho đến mười người, cùng làm thức ăn cho một Tỳ-kheo cho đến thức ăn mười Tỳ-kheo.”
Chuẩn bị thức ăn đầy đủ rồi, các người cư sĩ chủ trương lại nghĩ như vầy: “Chúng ta tuy tuỳ theo khả năng làm thức ăn cho từ một người cho đến mười người ăn, nhưng chắc không chu đáo, nay cần kiểm tra tất cả phẩm vật làm thức ăn, nếu ai không đầy đủ ta sẽ bổ túc.” Họ liền kiểm tra, thì trong số đó có một người nghèo, tuy lòng họ không tiếc của nhưng họ không có gạo tốt. Theo sự kiểm tra này thì sở hữu của gia đình họ chỉ có đậu mạch là đầy đủ. Theo thứ tự đến phiên chủ cư sĩ này làm thức ăn; vì đồ ăn thức uống thô xấu, nên các Tỳ-kheo già bệnh không thể ăn uống được, đem cho người ăn xin hay ngoại đạo, rồi đến nhà quen biết ăn. Các Cư sĩ biết, liền cơ hiềm nói:
“Chúng tôi cắt giảm phần ăn của vợ con [52b01] để gieo vào trong ruộng phước, tại sao Tỳ-kheo lại coi rẻ thức ăn này của chúng tôi?! Dùng của xin cho người ăn xin và ngoại đạo, rồi tìm (thức ăn)* mỹ vị là sao?! Hạng người này chủ đích là tìm giải thoát, lìa già, bệnh, chết, tại sao nay phản lại tìm cái ngon đẹp, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Khi ấy, người thí chủ của Bạt-nan-đà đến giám sát bữa ăn. Bạt-nan-đà đã ăn với chúng rồi lại đến nhà người thí chủ đòi thức ăn ngon. Người thí chủ hỏi:
“Vừa rồi Đại đức không ăn ở trong chúng sao?”
Trả lời:
“Có ăn trong chúng nhưng sợ đàn-việt mất phước cúng riêng, cho nên lại đến đây.”
Người kia cơ hiềm nói:
“Hiện nay ở đời đói khổ, mọi người kiệt quệ mà phải chung nhau làm thức ăn, tại sao lại coi nhẹ nó, để đi tìm đồ ngon lạ?!”
Các Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn rồi, ăn lại, Ba-dật-đề.
Lúc bấy giờ Tất-lăng-già-bà-ta cùng tám mươi Tỳ-kheo bị bệnh, các Tỳ-kheo vì họ mời ăn, họ ăn không hết, vất bỏ trước phòng, các cư sĩ thấy hỏi:
“Đây là những thức ăn gì?”
Trả lời: “Là thức ăn dư của các Tỳ-kheo bệnh.”
Các cư sĩ nói:
“Sao không lấy ít!”
Trả lời:
“Vì các Tỳ-kheo bệnh có người ăn nhiều, có người ăn ít, bỡi vậy nên chúng tôi không thể lấy ít được.”
Cư sĩ lại nói:
“Hiện nay bị đói kém, đem bố thí một hột cơm, là có thể sanh Thiên, tại sao lại vất bỏ, mà không bố thí?!”
Hoặc lại có người nói:
“Bọn Sa-môn này, thà vất bỏ nơi đất chứ không đem cho người! Chúng ta đã cúng cho Tăng, một hột cơm rơi xuống đất cũng coi đó là một tội lớn, tại sao Tỳ-kheo lại không tiếc vật này?!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Đức Phật hỏi Tôn giả A-nan:
“Có người nào có thể ăn thức ăn này hay không?”
Tôn giả thưa:
“Tỳ-kheo nuôi bệnh xin thức ăn này, mà thoạt tiên chính họ ăn vẫn chưa đủ. Họ muốn ăn thức ăn dư này, nhưng không dám ăn.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo ăn thức ăn dư của Tỳ-kheo bệnh.
Bấy giờ, chúng Tăng thành Vương Xá ăn rồi, có Tỳ-kheo từ bên ngoài nhận được thức ăn đem về, các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Có thể dùng thức ăn này cho Tỳ-kheo bệnh.”
Họ liền đem cho, các Tỳ-kheo bệnh nói:
“Thức ăn này làm tăng bệnh, chúng tôi không cần.”
(Các Tỳ-kheo)* do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép các Tỳ-kheo đến bên Tỳ-kheo bệnh làm pháp tàn thực201 để ăn.”
Bấy giờ, chúng Tăng thành Vương Xá ăn rồi đứng dậy, [52c01] lại có Tỳ-kheo từ bên ngoài nhận được thức ăn đem về, (cho)* Tỳ-kheo bệnh đã lành. (Tỳ-kheo này)* không biết nên thế nào, lại do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nên đến bên Tỳ-kheo ăn chưa xong, làm pháp tàn thực để ăn. Nếu không (có vị nào ăn chưa xong)*, thì đến bên Tỳ-kheo chưa ăn để làm. Nếu trong chúng không có Tỳ-kheo nào chưa ăn thì nên tìm đến nơi gần nhất, nếu nơi gần nhất lại cũng không có Tỳ-kheo, thì nên cho Sa-di (đủ điều kiện)* thọ Cụ túc giới, nhanh chóng thọ giới, sau đó đến bên vị này làm pháp tàn thực để ăn. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ăn rồi, không làm pháp tàn thực mà ăn, Ba-dật-đề.”
Có Tỳ-kheo sáng sớm mời các Tỳ-kheo dùng tiểu thực bằng ăn và uống thức ăn Khư-đà-ni,202 (uống)* Xa-đà-ni,203 các Tỳ-kheo gọi đó là túc thực (ăn đã đủ), không dám ăn nữa, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Đây không gọi là túc thực. Có năm thức ăn gọi là túc thực:204 Cơm, cơm khô,205 bánh,206 lương khô,207 cá và thịt. Đối với năm thức ăn này, mỗi thức ăn có năm trường hợp gọi là túc thực: 1. Có thức ăn, 2. Đã trao cho, 3. Đã nhận ăn (đã nhai, nuốt,)* 4. (Đã ăn xong)* không nhận thêm nữa, 5. Thân lìa khỏi bổn xứ (đã rời khỏi chỗ ngồi).”
Nếu lìa khỏi chỗ ngồi rồi lại nhận được thức ăn: cơm, lương khô, không làm pháp tàn thực mà ăn thì mỗi một miếng ăn, Ba-dật-đề.
Các Tỳ-kheo không biết làm pháp tàn thực, bạch Phật. Đức Phật dạy: “Đem thức ăn để vào bình bát rồi bưng nơi tay, trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, nói như vầy:
Trưởng lão nhất tâm niệm:
“Tôi tên là… ăn đã đủ, xin vì tôi làm pháp tàn thực.”
Tỳ-kheo kia láy bát, hỏi:
“Thức ăn này cho tôi phải không?”
Trả lời;
“Vâng!”
(Vị kia)* Liền vì họ hứa khả, ăn một ít còn bao nhiêu trả lại, hoặc hoàn toàn không ăn chỉ lấy rồi đưa lại, nói: Đây là thức ăn dư của tôi, mời thầy!”
Như vậy gọi là (làm pháp)* tàn thực. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

129 Tăng-kỳ 15, tr. 347b25: Ba-dật-đề 24. Tứ phần 13, tr. 650a27, Thập tụng 11, tr.82c1, Căn bản 32, tr. 804b26: Ba-dật-đề 23. Vin. iv. 57. Pāc. 24, āmisa.
130 Tăng-kỳ 15, tr. 347b25; Tứ phần 13, tr. 650a27: Xá-vệ quốc 舍衞國, Thập tụng 11, tr. 82c1: Vương Xá thành 王舍城, Căn bản 32, tr. 804b26: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
131 Tăng-kỳ: “Vì thức ăn” Tứ phần: “Vì ăn uống.” Thập tụng: “Vì tài lợi.” Căn bản: “Vì sự cúng dường ăn uống”. Pāli: “Vì lợi lộc vật chất”.
132 Tăng-kỳ 25, tr. 347: Ba-dật-đề 25; Tứ phần 13, tr. 652c12: Ba-dật-đề 26; Thập tụng 12, tr. 84c24: Ba-dật-đề 28; Căn bản 33, tr. 808a8: Ba-dật-đề 29. Vin. iv. 68. Pāc. 30,rahonisajja.
133 Tăng-kỳ 25, tr. 347; Tứ phần 13, tr. 652c12; Thập tụng 12, tr. 84c24: 舍衛城 (國) như Ngũ phần ; Căn bản 33, tr. 808a8: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
134 Một mình, Hán: Độc 獨, như Thập tụng và Căn bản. Tứ phần: Nhất xứ 一處, một chỗ, chỗ chỉ có một Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni (từ này không có trong giới văn của Tứ phần mà có trong Thích từ). Pāli: eko ekāya, một người với một người.
135 Tăng-kỳ 15, tr. 349b10: Ba-dật-đề 28; Tứ phần 13, tr. 650c02; Thập tụng 12, tr.84a07; Căn bản 32, tr. 805a6: Ba-dật-đề 24. Vin. iv. 59. Pāc. 25, cīvaradāna.
136 Tăng-kỳ 15, tr. 349b10; Tứ phần 13, tr. 650c02; Thập tụng 12, tr. 84a07: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) cũng như Ngũ phần; Căn bản 32, tr. 805a6: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
137 Lão thọ 老壽: Từ dùng chúc thọ, cũng có nghĩa để đáp lễ cầu điều tốt lành cho nhau.
138 Đổi chác, Hán: Mậu dịch 貿易. Tứ phần: Trao đổi, đem y đổi y, đem y đổi phi y, đem phi y đổi y, đem kim đổi dao hoặc chỉ may, cho đến một ngọn thuốc.
139 Tăng-kỳ 15, tr. 349c12: Ba-dật-đề 29. Tứ phần 13, tr. 651a19: Ba-dật-đề 25; Thập tụng 12, tr. 84b22: Ba-dật-đề 27. Căn bản 33, tr. 805b27: Ba-dật-đề 25. Vin. iv. 61. Pāc. 26,cīvarasibbana.
140 Tăng-kỳ 15, tr. 349c12; Tứ phần 13, tr. 651a19; Thập tụng: 12, tr. 84b22 Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) cũng như Ngũ phần. Căn bản 33, tr. 805b28: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
141 Tăng-kỳ: Tỳ-kheo-ni Thiện Sinh 善生比丘尼, vợ cũ của Ưu-đà-di. Tứ phần: Không tên như Ngũ phần. Thập tụng: Quật-đa Tỳ-kheo-ni 掘多比丘尼, quen biết cũ với Ca-lưu-đà-di. Căn bản: Cấp-đa bí-sô-ni 笈多苾芻尼.
142 Tứ phần: Tôn giả Ca-lưu-đà-di 尊者 迦留陀夷. Pāli: Udāyin khéo may y.
143 Pāli: sibbeyya vā sibbāpeya vā, may và khiến (người khác) may.
144 Tăng-kỳ 15, tr. 348bo1: Ba-dật-đề 26. Tứ phần; Thập tụng: Ba-dật-đề 27. Căn bản 33, tr. 805b27: Ba-dật-đề 25. Vin. iv. 61. Pāc. 26, cīvarasibbana.
145 Tăng-kỳ 15, tr. 348b01. Tứ phần 13, tr. 653a20. Thập tụng 12, tr. 84b22: Xá-vệ thành (quốc) 舍衛城(國) cũng như Ngũ phần. Căn bản 33, tr. 805b28: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
146 Tứ phần: Tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian.
147 Tụ lạc: Xem cht. 103, Ch. i, Ba-la-di 2.
148 Tứ phần: Cùng đi với khách buôn; hoặc khi có nghi ngờ, có kinh sợ.
149 Do-tuần: Xem cht. 104, Ch. i, Ba-la-di 2.
150 Tăng-kỳ 15, tr. 349a02: Ba-dật-đề 27; Tứ phần 13, tr. 652c12: Ba-dật-đề 28; Thập tụng 12, tr. 83c11: Ba-dật-đề 25; Căn bản 33, tr. 806a19: Ba-dật-đề 27. Vin. iv. 62. Pāc. 27,saṃvidhāna.
151 Tăng-kỳ 15, tr. 349a02; Tứ phần 13, tr. 652c12; Thập tụng 12 tr. 83c11: Xá-vệ thành(quốc) 舍衛城(國). Căn bản 33, tr. 806a19: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
152 Thập tụng 12: Các Tỳ-kheo-ni đồng bọn của Đề-bà-đạt-đa.
153 Sông A-di-la: Xem cht. 126, Ch. iv, Ni-tát-kỳ 17.
154 Căn bản: hoặc duyên ba 沿波, hoặc tố lưu 泝流. Giải thích: duyên ba, đi xuôi dòng; tố lưu, đi ngược dòng.
155 Trừ đò ngang, Hán: Trừ trực 除直. Tứ phần 13, tr. 653a18: Trừ trực độ 除直渡.
156 Tứ phần 13, tr. 653a29: Ba-dật-đề 29. Pāli. Pāc. 29, bhikkhuniparipācitaṃ. Các bộ khác, Ba-dật-đề 30.
157 Tăng-kỳ 15, tr. 350a01; Tứ phần: 13, tr. 653a29; Thập tụng:12, tr. 85b08: Xá-vệ quốc (thành) 舍衛城(國). Căn bản 33, tr. 808b04: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
158 Thâu-la-nan-đà 偷羅難陀. Pāli: Thullanandā.
159 Tứ phần: Đề-bà-đạt 提婆達, Tam-văn-đà-la-đạt 三聞陀羅達, Khiên-đà-la-đạt-bà 騫駄羅達婆, Cù-bà-ly 瞿婆離, Ca-lưu-la-đề-xá 迦留羅提舍. Xem Ch. ii. Tăng-già-bà-thi-sa 10.
160 Hán: Tác thử phản phúc 作此反覆, làm việc phản phúc này.
161 Hán: Trừ đàn-việt tiên phát tâm tác 除檀越先發心作. Tứ phần: Trừ đàn-việt có chủ ý trước 除檀越先有意.
162 Có thể trong chánh văn viết nhầm: Tỳ-kheo-ni là Sa-di. Tứ phần tr. 654a17: Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
163 Tăng-kỳ 16, tr. 352a5; Tứ phần 13, tr. 655b10: Ba-dật-đề 32; Thập tụng 12, tr. 86c29, Căn bản: 34, tr. 810c223: Ba-dật-đề 31; Pāli, Pāc. 33, paramparabhojana.
164 Tứ phần: La-duyệt-kỳ 羅閱祇; Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành 舍衛城(國); Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
165 Tứ phần 13: Có người Bà-la-môn tên Sa-nậu 沙㝹. Thập tụng 12: Một tiểu nhi mồ côi làm thuê. Pāli (Vin. iv. 75): aññatarassa daliddassa kammakārassa, một người làm thuê nghèo.
166 Tứ phần: Có năm trăm hành khất…
167 Ưu-thiền-na quốc 優禪那國. Pāli: Ujjenī.
168 Ngũ phần, Thập tụng: Sác sác thực 數數食. Tứ phần: Triển chuyển thực 展轉食, ăn luân phiên, ăn nhiều lần. Tăng-kỳ: Xứ xứ thực 處處食, ăn nhiều chỗ. Pāli:Paraṃparabhojana, ăn từ chỗ này đến chỗ khác.
169 Hán: Thí y thời 施衣時. Pāli: Cīvaradānasamaya. Tứ phần: Thí y, sau tự tứ, không thọ y ca-thi-na là một tháng, có thọ y ca-thi-na thì năm tháng.
170 Tăng-kỳ 17: Ba-dật-đề 40, lời chú (tr. 362b24) nói: bản Phạn lưu trong tinh xá Kỳ-hoàn bị mọt ăn mất điều 40 “Biệt chúng thực”; Tứ phần 14, tr. 657b14: Ba-dật-đề 33; Thập tụng13, tr. 93b11, Căn bản 36, tr. 823b12: Ba-dật-đề 36. Pāli, Pāc. 32, gaṇabhojana.
171 Tứ phần: La-duyệt-kỳ 羅閱祇; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
172 Điều-đạt 調達. Tứ phần; Căn bản: Đề-bà-đạt-đa 提婆達多; Thập tụng: Đề-bà-đạt 提婆達.
173 Tứ phần: Đề-bà-đạt-đa cùng với năm Tỳ-kheo đi khất thực từng nhà. Năm Tỳ-kheo này tên là: Tam-văn-đà-la-đạt, Khiên-đà-la-đạt-bà, Cù-bà-ly, Ca-lưu-la-đề-xá. Thập tụng: Đề-bà-đạt-đa cùng các niên thiếu Tỳ-kheo mới xuất gia. Căn bản: Đề-bà-đạt-đa cùng nhiều Tỳ-kheo ở chùa gần đó ăn riêng chúng.
174 Thỉnh ăn riêng chúng, Hán: Biệt thỉnh chúng thực 別請眾食. Pāli: Gaṇabhojana. Tứ phần: Biệt chúng thực 別眾食.
175 Thời của y: Xem cht. 134, Ch. iv, Ni-tát-kỳ 18.
176 Khi thí y (thí y thời 施衣時): Xem cht. 169 trước.
177 Tứ phần (tr. 658c20): Khi đại chúng tập hợp (đại chúng tập 大眾集), là thức ăn đủ cho bốn người mà dư một người là có sự khốn đốn. Năm người, mười người, cho đến trăm người mà dư một người là khốn đốn.
178 Bình-sa vương 瓶沙王. Xem Ch. i, Ba-la-di 2; Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 10.
179 Tứ phần (tr. 658b16): Con của chị vua Bình-sa tên là Ca-la 迦羅. Thập tụng 13 (tr. 94c25), Căn bản 36 (tr. 824a01): Cậu của vua. Pāli, Vin. iv. 747, một người thân tộc của vua Seniya Bimbisāra xuất gia theo nhóm lõa hình tà mạng (Ājīvaka); không nói tên.
180 Khi Sa-môn hội 沙門會時. Tứ phần: Sa-môn thí thực, là chỉ cho những người xuất gia theo ngoại đạo bên ngoài Sa-môn Thích tử. Pāli: Samaṇabhattasamaya, được giải thích: “Bữa ăn của Sa-môn, nghĩa là bữa ăn được làm bởi Sa-môn.” (Vin. iv. 475).
181 Khi may y 作衣時. Tứ phần: Thời may y, sau tự tứ, nếu không thọ y ca-thi-na thì khoảng một tháng; nếu có thọ y ca-thi-na thì khoảng năm tháng, cho đến trên y chỉ may một đường khâu răng ngựa.
182 Khi đi đường 行路時. Tứ phần: Cho đến chỉ đi trong nửa do-tuần gồm cả đi tới và đi lui.
183 Khi đi thuyền 舡上行時. Tứ phần: Cho đến nương trên thuyền xuôi hay ngược dòng nước trong vòng nửa do-tuần.
184 Khi đại hội 大會時. Pāli: Mahāsamaya, bản Anh dịch hiểu là sự khan hiếm cực kỳ, do Pāli samaya có nghĩa: thời tiết, cơ hội. Trong Skt. samaya còn có nghĩa “tập hội.” Thậptụng: Đại tập hội 大集會. Căn bản: Đại chúng thực 大眾食. Tứ phần: Đại chúng tập 大眾集, xem cht. 177 trước.
185 Khi Sa-môn hội: Xem cht. 180 trước.
186 Tăng-kỳ 16, tr. 351b07; Tứ phần 13, tr. 654c21: Ba-dật-đề 31; Thập tụng 12, tr.89b27, Căn bản 35, tr. 816a14: Ba-dật-đề 32. Pāli, Pāc. 31, āvasathapiṇḍa.
187 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
188 Cái nhà nhỏ, Hán: Tiểu ốc 小屋. Thập tụng 12: Phước đức xá 福德舍 (nhà từ thiện), với phụ chú (T23n1435, tr. 89c25): “Chính xác, gọi là nhất túc xứ 一宿處 (chỗ ngủ trọ một đêm)”. Pāli: āvasaṭhapiṇḍa, lữ xá có bố thí thức ăn.
189 Hán: Thí nhất thực xứ 施一食處. Pāli: āvasaṭhapiṇḍa; xem cht. 188 trên.
190 Tăng-kỳ 17, tr. 360c13: Ba-dật-đề 38; Tứ phần 14, tr. 659a08: Ba-dật-đề 34; Thập tụng 13, tr. 90a24, Căn bản 35, tr. 819b6: Ba-dật-đề 33. Pāli, Pāc. 34, Dvattipattapūrā(Kāṇamātusikkhāpada).
191 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
192 Tứ phần: Có người nữ tên Già-nhã-na 伽若那. Tăng-kỳ: Hạt Nhãn 瞎眼; Thập tụng: Lai Nhãn 睞眼; nghĩa là người nữ mắt lé. Pāli: Kāṇamātā, người nữ mù một mắt.
193 Khư-xà-ni 佉闍尼 (Kha-đãn-ni 珂但尼). Pāli: khādanīya, thức ăn loại cứng (cần phải cắn); được giải thích (Vin. iv. 83): trừ 5 loại thức ăn chính (bhojanīya, loại mềm), trừ thực phẩm loại để qua đêm, 7 ngày, và suốt đời, còn lại đều là thức ăn loại cứng. Thập tụng 13 (tr. 91b11), 5 loại khư-đà-ni 佉陀尼: rễ, cọng, lá, mài, quả 根莖葉磨果.
194 Pāli: Ba lần cô chuẩn bị lương thực đi đường đều lần lượt bố thí hết cho ba Tỳ-kheo, nên trễ chuyện về nhà chồng. Các bộ khác cũng vậy.
195 Hán: Hạt nữ 瞎女, xem cht. 192 trước.
196 Hán: Bính 餅, Pāli. pūva, bánh để làm quà.
197 Hán: Xiếu 麨, mạch yến mài nát vụn (Khang Hy). Hoặc đọc là khứu 糗, lương khô (Thiều Chửu). Từ nguyên: xiếu 麨, tức khứu糗; gạo, lúa mạch các thứ rang chín sau đó nghiền thành bột làm lương khô. Pāli. mantha, lương khô để đi đường.
198 Hán: Tự tứ dữ thực 自恣與食. Tứ phần: Thỉnh Tỳ-kheo cúng thức ăn 請比丘與食.
199 Tứ phần 14, tr. 660a12: Ba-dật-đề 35. Tăng-kỳ 16, tr. 354b4: Ba-dật-đề 33; Thập tụng 13, tr. 91a16, Căn bản 36, tr. 821a24: Ba-dật-đề 34. Pāli, Pāc. 35, Pavāraṇā.
200 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
201 Các bộ giống Ngũ phần, gọi là tàn thực pháp 殘食法 (pháp tàn thực). Tứ phần: Dư thực pháp 餘食法.
202 Khư-đà-ni 佉陀尼: Xem cht. 193, Ba-dật-đề 34.
203 Xa-đà-ni 賒陀尼: Pāli. bhojanīya, là loại thức ăn mềm. Xem cht. 193, Ba-dật-đề 34, và cht. 204 dưới.
204 Cf. Căn bản 36: Năm loại thức ăn không thành túc thực, đó là 5 loại kha-đản-ni (Pāli: khādaniya): thức ăn từ rễ củ, thân cọng, lá, hoa, quả). Năm loại thành túc thực, đó là năm loại bồ-thiện-ni (Pāli: bhojanīya): cơm, cơm đậu mạch, cơm khô, thịt và bánh. Tứ phần 14: Có năm loại ăn đủ: Biết là cơm, biết được đem đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi (nghĩa là, không còn “đang đi” nữa). Pāli, Vin. iv. 82, 5 yếu tố để thành túc thực: 1. được biết là đang ăn (asanaṃ paññāyati), 2. được biết là có thức ăn (bhojanaṃ paññāyati), 3. đứng gần trong tầm tay (hatthapāse ṭhito), 4. mang đến cho (abhiharati), 5. được biết là đã từ chối, vì đã ăn no (paṭikkhepo paññāyati).
205 Hán: Phạn can 飯乾. Pāli: Odana, thức ăn khô.
206 Hán: Phạn bính 飯餅. Pāli: Kummāsa, cháo; thực phẩm sữa đông đặc
207 Hán: Xiếu 麨. Pāli: Sattu, bột khô, bột lúa mạch. Xem thêm cht. 197 trước.

XXXVI. MỜI NGƯỜI TÚC THỰC208

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.209 Bấy giờ, có hai Tỳ-kheo là bạn thân với nhau; một người thông minh, một người ám độn. Người ám độn thường phạm tội ác, người thông minh luôn luôn nêu tội người kia, và khuyên bạn phải sám hối. Lòng người ám độn kia đâm ra giận hờn, nghĩ như vầy: “Nay ta cũng nên tìm tội lỗi của anh ta.” Nhưng tìm không được, bèn chờ người bạn ăn xong, không làm pháp tàn thực, bảo bạn ăn. Tỳ-kheo kia vì tình bạn thân nên không hoài nghi gì cả, bèn ăn liền, ăn xong (ông bạn ám độn)* mới nói:
“Thầy ăn mà không làm pháp tàn thực, [53a01] phạm tội cần phải sám hối, đừng để vi phạm Phạm hạnh, mãi mãi chịu khổ.”
Lúc ây, Tỳ-kheo kia quở trách:
“Vì tôi muốn ích lợi cho thầy nên cùng nhau chỉ vẻ, tại sao vì việc này mà hận và, lừa tôi đến chỗ phạm tội?”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng nhiều cách quở trách, rồi do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng nhiều cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không làm pháp tàn thực, đã ăn cố nài nỉ Tỳ-kheo ăn, vì muốn khiến cho người kia phạm tội, Ba-dật-đề.”
Có Tỳ-kheo ăn đủ rồi, các Tỳ-kheo không biết lại mời khiến cho ăn. Tỳ-kheo kia nói: “Tôi ăn đã rồi.” Các Tỳ-kheo liền sanh nghi: “Ta cố (nài nỉ)*, sẽ không phạm Ba-dật-đề chứ!”
Do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Nếu không biết người kia đã ăn rồi, mời họ ăn, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết Tỳ-kheo kia đã ăn rồi, không làm pháp tàn thực, cố nài nỉ khiến ăn, vì muốn cho người kia phạm tội, Ba-dật-đề.”
Nếu đã ăn mà nài nỉ, Tỳ-kheo ăn, không làm pháp tàn thực; nếu lúc người kia ăn, mỗi một miếng Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la.

XXXVII. BỎ VÀO MIỆNG VẬT KHÔNG ĐƯỢC CHO210

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.211 Bấy giờ, đức Thế Tôn chưa cấm Tỳ-kheo thọ thực212 mới ăn. Các Tỳ-kheo đối với các gia đình quen biết, không thọ thực mà ăn, các bạch y cơ hiềm, nói:
“Chúng tôi không thích thấy người ác này, mặc y hoại sắc cắt rọc, không thọ213 thực mà ăn. Ăn thức ăn không được người mời tức là lấy của không cho.”
Bấy giờ, Đại Ca-diếp214 mặc y phấn tảo, nhặt những thức ăn đã bỏ ở các ngõ hẽm mà ăn, các Cư sĩ thấy chê trách rằng:
“Sa-môn này thật giống chó, đi rảo được đồ ăn thì ăn không kể sạch dơ, làm sao để cho họ, vào nhà chúng ta.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe hai việc như vậy rồi, do vậy bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, trước hết hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ông có việc không thọ thực mà ăn hay không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng nhiều cách quở trách rồi nói với Ca-diếp:
“Tuy là thầy thiểu dục song làm cho người ta căm ghét coi thường, không nên ăn thức ăn bị vất bỏ, nếu ăn thì Đột-kiết-la.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không thọ thực215 mà để (thức ăn)* vào trong miệng, Ba-dật-đề.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo vì người làm, làm thức ăn, không dám nếm, [53b01] nên khi mặn, khi lạt; người làm giận dỗi không chịu phục vụ nữa. Do vậy bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép vì người nấu thức ăn, nếm thức ăn, nhưng không được nuốt vào. Từ nay giới này được nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không thọ thực mà để thức ăn vào miệng, trừ nếm thức ăn, Ba-dật-đề.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo chưa nhận được (bất thọ) tăm xỉa răng216 và nước (người trao)*, nên không dám xỉa răng và súc miệng; miệng hôi, mắt mờ. Khi nói chuyện với người, họ nghe mùi hôi, hỏi:
“Tại sao miệng Đại đức hôi?”
Các Tỳ-kheo rất xấu hổ, bèn xin nhận nhành dương (tăm xỉa răng) và nước, mọi người nói:
“Tự Thầy lười lấy, chứ ai vì Thầy mà tham tiếc tăm xỉa răng và nước đâu!?”
Do vậy, các Tỳ-kheo bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép không phải thọ tăm xỉa răng và nước, Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, không thọ thực, mà để thức ăn vào trong miệng, trừ nếm thức ăn, tăm xỉa răng và nước, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bị trúng gió, Tôn giả Mục-liên đến hỏi:
“Khi thầy còn ở nhà đã từng có bệnh này chưa?”
Xá-lợi-phất đáp:
“Có bị rồi.”
“Trị bằng cách nào để lành?”
Trả lời: “Ăn ngó sen.”
Thế là Mục-liên đến hồ A-nậu-đạt217 lấy ngó sen đem về cho Xá-lợi-phất.
Xá-lợi-phất hỏi: “Lấy nó ở đâu?”
Trả lời: “Ao A-nậu-đạt.”
Lại hỏi: “Nhận từ ai?”
Trả lời: “Từ rồng.”
(Xá-lợi-phất)* không dám ăn, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép nhận thức ăn từ rồng.”
Khi ấy, Đại Ca-diếp đến khất thực nơi nhà người nghèo, Thích Đề-hoàn Nhân218 nghĩ như vầy: “Nay Đại đức Ca-diếp đến nhà nghèo khất thực, nay ta nên tạo phương tiện để cho ngài nhận thức ăn nơi ta.” (Thích Đề-hoàn Nhân)* liền theo thứ lớp từng nhà mà ngài Ca-diếp khất thực, hoá làm một người thợ dệt ở trên khung cửa, lại hoá một người con gái đưa thoi (sợi ngang)*.
Theo thứ tự, Ca-diếp đến (chỗ thợ dệt)*, (người con gái)* liền lấy bình bát cho đầy thức ăn trăm vị. Sau khi nhận lại bình bát, Ca-diếp nghĩ như vầy: “Người bần cùng này, từ đâu có được thức ăn thế này?” Liền nhập định quán sát, biết là Đế Thích, bèn nói:
“Này Kiều-thi-ca! Sau này đừng làm như vậy.”
Do vậy, Ca-diếp không dám ăn, bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận thức ăn từ trời.”
Bấy giờ, buổi chiều Đức Thế Tôn đi trở lai con đường đến thôn quỷ Khoáng Dã. Lúc ấy, quỷ thần kia thấy Phật vui mừng, liền thỉnh Phật và Tăng thọ trai vào ngày mai. Đức Phật im lặng nhận lời. Suốt đêm, quỷ sửa soạn các thứ đồ ăn, nước uống. Sáng sớm, trải chỗ ngồi thỉnh Phật và Tăng. Phật ra lệnh cho các Tỳ-kheo phải cùng nhận lời mời kia. (Phật và Tăng)* liền đến ngồi. Quỷ thần tự tay san sớt thức ăn. Các Tỳ-kheo không dám thọ, do đó bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận thức ăn từ loài quỷ.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn [53c01] đi đến rừng cây Sa-la,219 khi ấy có một con khỉ từ trên cây nhảy xuống lấy bình bát Phật đem đi. Các Tỳ-kheo nắm chặt không cho, đức Phật bảo các Tỳ-kheo, cứ để cho khỉ lấy bát. Khỉ cầm bát leo lên một cây, lấy đầy bát mật ong dâng lên Phật. Đức Phật thấy có trùng không nhận. Khỉ nhìn kỹ thấy trùng liền bắt bỏ rồi dâng Phật. Đức Phật vì khỉ nhận bát mật. Lúc ấy, khỉ vui mừng nhảy múa hớn hở rồi cáo từ mà lui. Đức Phật đem bình bát mật ong này cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không dám ăn, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép nhận thức ăn từ loài khỉ trao.”
Bấy giờ, có người buôn ngựa thỉnh Phật và Tăng dùng nước rồi, có người đến báo: “Chuồng ngựa bị cháy.” Vì vậy họ không tự trao thức ăn được, nói với cácTỳ-kheo: “Xin quí vị tự lấy thức ăn cho!” Nói xong liền đi. Các Tỳ-kheo nghi, không dám ăn, do vậy bạch lên Phật, Phật dạy:
“Nếu không có tịnh nhân, cho phép các Tỳ-kheo theo lời thí chủ, tự lấy thức ăn để ăn.”
Lại có các bạch y, từ xa ném thức ăn cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật, đức Phật dạy:
“Không được nhận thức ăn từ xa ném đến.”
Có các Tỳ-kheo già bệnh mắt lại mờ, khi nhận được thức ăn xúc chạm tay tịnh nhân, phải rửa tay nhiều lần cực nhọc, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nên lấy lá cây trải (trên mặt đất)*, dùng tay đè xung quanh, khiến để thức ăn lên, đó cũng gọi là nhận.”
Các Tỳ-kheo bèn trải rộng lá cây ra. Đem điều này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Không nên trải rộng, chỉ trải trong phạm vi ngang tầm tay với tới.”
Có các bạch y khinh ghét Tỳ-kheo không chịu đích thân trao, bỏ thức ăn trên đất trước mặt Tỳ-kheo và bảo khiến tự lấy! Các Tỳ-kheo không biết nên như thế nào, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu thí chủ khinh ghét không chịu trao thức ăn, cũng cho phép theo lời bảo lấy của họ mà nhận thức ăn.”
Có bốn cách thọ: Thân trao thân nhận, vật trao vật nhận, tay trao tay nhận, bảo lấy mà nhận.
Có nước muối, Tỳ-kheo không nhận, không dám uống, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu không bỏ muối, mà tánh nó lại mặn thì cho phép không nhận mà được uống.”
Tỳ-kheo-ni cùng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.220

XXXVIII. PHI THỜI THỰC221

A. DUYÊN KHỞI
[54a7] Đức Phật ở tại thành Vương Xá.222 Bấy giờ, Thế Tôn chưa vì Tỳ-kheo cấm ăn phi thời.223 Các Tỳ-kheo đi khất thực vào đêm tối, hoặc bị rơi xuống hào, rảnh; hoặc đụng phải người nữ, hoặc gặp giặc trấn lột; hoặc bị các loại thú, trùng làm hại, ăn bất kể ngày đêm, chểnh mảng việc tu Phạm hạnh. Khi ấy, Ca-lưu-đà-di224 mặt y tạp sắc, mặt đen, mắt đỏ, khất thực trong đêm tối. Có một người phụ nữ mang thai, thấy (Ca-lưu-đà-di)* qua ánh sáng trời chớp, hoảng hồn, la lên: “Tỳ-xá-giá! Tỳ-xá-giá! (ma! ma!)”
Ca-lưu-đà-di nói:
“Tôi là Sa-môn khất thực, chứ không phải là Tỳ-xá-giá.”
(Người phụ nữ)* liền mắng nặng lời:
“Tại sao ông không lấy dao mổ bụng đi, mà khất thực trong đêm tăm tối! Các Sa-môn, Bà-la-môn khác chỉ ăn một lần là đủ, tại sao ông ăn không kể ngày đêm!?”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ăn phi thời, phạm Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, có Tỳ-kheo uống thuốc xổ không cầm ra hết, khi ăn vào thì bụng lại trống nên buồn nôn. Các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Dùng bơ thoa vào thân,” vẫn không thuyên giảm.
Phật dạy:
“Dùng bột gạo thoa nơi thân,” vẫn không lành.
Phật dạy: “Lấy bơ hòa với bột gạo thoa nơi thân,” cũng không lành.
Phật dạy: “Lấy nước nóng xoa rửa,” vẫn không lành.
Phật bảo: “Thì cho uống nước nóng,” vẫn không lành.
Đức Phật bảo: “Lấy cái chậu đựng đầy nước thịt mỡ, rồi đặt ngồi trong đó.”
Dùng các phương thức như vậy đủ để cho đến sáng. Dứt khoát không được ăn phi thời.
Phi thời: Là từ giữa trưa cho đến khi tướng mặt trời chưa xuất hiện gọi là phi thời.
Nếu Tỳ-kheo phi thời, tưởng là phi thời, nghi là phi thời; phi thời tưởng là thời đều Ba-dật-đề. Thời, tưởng là phi thời, nghi là thời, Đột-kiết-la.

XXXIX. THỨC ĂN CÁCH ĐÊM225

A. DUYÊN KHỞI
[54b01] Đức Phật ở tại thành Vương Xá.226 Bấy giờ, Đức Thế Tôn chưa chế giới cấm Tỳ-kheo ăn thức ăn cách đêm.227 Có miếu Thần nọ là nơi du ngoạn, mọi người đua nhau mang theo thức ăn ngon đến đây để chiêm ngưỡng, hoặc trải qua đêm, với nhiều thức ăn béo bổ. Các Tỳ-kheo ở đây nhận được nhiều thức ăn, ăn không thể hết, chứa đầy trong phòng, không chỗ nào không có. Trùng, chuột tìm đến, đục khoét, phá hoại làm hỏng cả vách tường nhà. Các cư sĩ thấy hỏi:
“Ai cất thức ăn này?”
Có người nói:
“Sa-môn Thích tử.”
Họ liền cơ hiềm: “Bọn trọc đầu này chỉ biết tham nhận, không kể tới việc phí phạm tổn hao, không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Lại có một Tỳ-kheo A-lan-nhã ở chỗ vắng vẻ, nghĩ như vầy: “Ngày nào cũng đi khất thực, phế bỏ việc hành đao”, bèn xin các loại thức ăn để dành, hoặc đem chúng cất, hoặc phơi cho khô. Khi ấy, các Tỳ-kheo du hành thấy vậy bảo rằng:
“Đức Thế Tôn không dạy: ‘Áo mặc mục đích là để che thân, thức ăn mục đích là để nuôi sống hay sao? Tại sao dồn chứa nhiều đồ ăn thức uống, hong phơi bừa bãi vậy?”
Tỳ-kheo kia trả lời:
“Chỗ này cách xa làng xóm, ngày nào cũng đi khất thực phế bỏ việc hành đạo, cho nên tôi xin để dành cho khỏi phiền bận.”
Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ngươi có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, ăn thức ăn cách đêm,228 Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Thức ăn cách đêm: Thức ăn nhận rồi để lại đến ngày mai, gọi là thức ăn cách đêm. Nếu Tỳ-kheo ăn thức ăn này, mỗi miếng ăn đều phạm Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

XL. CHO NGOẠI ĐẠO ĂN229

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.230 Bấy giờ, nước này bị mất mùa, khất thực khó được, hai mươi tám vị tướng quân quỉ thần, đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, bạch Phật:
“Kính bạch đức Thế Tôn! Hiện nay, đời bị đói khát, xin đức Phật du hành trong nhân gian, chúng con sẽ giáo hoá mọi người, khiến họ phát thiện tâm.”
Đức Thế Tôn hứa khả bằng cách im lặng. Lúc này, Tứ thiên vương, Thích Đề-hoàn Nhân, Phạm thiên vương chủ thế giới Ta-bà cũng đến đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng lui qua một bên và, cũng thưa với Phật như trên. Đức Phật cũng hứa khả bằng cách im lặng.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn từ thành Vương Xá cùng một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ-kheo Tăng, lại có năm trăm Tỳ-kheo-ni, năm trăm Ưu-bà-tắc, năm trăm Ưu-bà-di, cùng du hành đến nước Ma-kiệt. Lại có một ngàn nam nữ ngoại đạo, năm trăm người ăn xin, cùng tháp tùng theo sau đức Phật để xin thức ăn dư. Chỗ nào đức Thế Tôn đến, không nơi nào là không dốc lòng [54c01] cúng dường hết, người bốn phương mang (phẩm vật)* đến cúng dường, đều không thể nào thiết cỗ được, vì thế đồ ăn thức uống gom lại nhiều không cách nào dùng hết. Các Tỳ-kheo đem thức ăn dư cho nam nữ ngoại đạo và người ăn xin. Các cư sĩ thấy cơ hiềm nói:
“Sa-môn Thích được thì nhận hết, ăn chúng không hết đem cho bọn tà kiến. Không như người vắt sữa, còn biết lưu lại sữa cho bê con!”
Hoặc có người lại nói:
“Sa-môn Thích tử còn cúng dường ngoại đạo, tại làm sao chúng ta không phụng sự họ!?”
Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến ấp An-na-tần-đầu,231 thời có đại Bà-la-môn tên là Sa-môn,232 dùng năm trăm cổ xe chở đầy đồ ăn thức uống đi theo Phật. Hơn năm tháng, chờ ngày đến phiên mình được cúng dường, cuối cùng vẫn chưa thể được, trong khi người nhà đuổi theo báo: Thời vụ muốn quá hạn, hãy trở về lo phụ làm việc. Lúc này, người Bà-la-môn đến chỗ A-nan, thưa với A-nan rằng:
“Năm trăm chiếc xe của tôi chở đầy đồ ăn thức uống, muốn cúng dường Phật và Tăng, theo Phật đến nay đã hơn năm tháng mà vẫn chưa thiết trai được, nay người nhà đuổi theo báo tin, không thể ở lại được. Tôi muốn đem thức ăn trải giữa đường để Phật và Tăng bước ngang qua, cho lòng tôi được an và được mãn nguyện.”
Tôn giả A-nan nói:
“Phải bạch Phật đã.”
A-nan bạch Phật, Phật dạy:
“Ngươi có thể dẫn người Bà-la-môn ấy xem xét thức ăn nhà cúng dường, nếu những thứ nào thiếu thì làm.”
Vâng lời Phật, A-nan dẫn người Bà-la-môn xem thức ăn nhà cúng dường. (Người Bà-la-môn)* thấy không có cháo và bánh ram dầu, mật. Ông ta cho nấu bảy thứ cháo và làm hai thứ bánh. Sáng sớm, đến bạch:
“Bạch Thế Tôn! Bánh và cháo đã làm xong.”
Đức Phật bảo A-nan:
“Ngươi nên tiếp tay dọn ra.”
A-nan vâng lời Phật, dọn bày bánh và cháo.
Khi ấy, có ngoại đạo, người mẹ bồng một đứa con gái nhỏ,233 A-nan, vì bà có đứa nhỏ nên cho bà ta hai cái bánh. Các ngoại đạo nói:
“Tỳ-kheo này đã nhiễm tâm đối với người mẹ nên thiên vị cho hai cái bánh.”
Có người lại nói:
“Chính là vì đứa bé bà bồng (cho đứa nhỏ)*, chứ không phải thiên vị.”
Họ cãi nhau lôi thôi, làm náo động nơi chỗ ngồi. Tôn giả A-nan thấy vậy, tự thấy lòng mình không yên, bèn đến chỗ Phật, và đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi A-nan:
“Ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đem thức ăn cho nam nữ ngoại đạo, Ba-dật-đề.”
Lại có các Tỳ-kheo đem thức ăn cho ngoại đạo lõa thể. Ngoại đạo kia gói một gói bánh đem vào thành Vương Xá. Mọi người hỏi:
“Từ đâu đến?”
Trả lời: “Từ chỗ bọn cư sĩ trọc đầu234 đến.”
Lại hỏi: “Vật gì trong gói đó?” [55a01] Trả lời: “Là bánh ram mật.”
Lại hỏi: “Được từ ai?”
Trả lời:
“Các cư sĩ thì lấy Sa-môn làm ruộng phước, Sa-môn Thích tử lại lấy tôi làm ruộng phước, nên nhận được từ họ đây.”
Mọi người bèn cơ hiềm nói:
“Sa-môn Thích tử không biết tự lượng, ham thọ nhận không nhàm chán. Chúng tôi giảm bớt phần ăn của vợ con dùng để cúng dường, lại đem cho bọn người ác tà kiến này. Nếu cần cúng dường thì chúng tôi sẽ cúng dường, phiền chi phải nhờ Sa-môn!?”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Có y, không y thì có khác nhau những gì?”
Bằng mọi cách quở trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đem thức ăn cho ngoại đạo lõa hình nam hay nữ, Ba-dật-đề.”
Khi ăn, có các ngoại đạo đến xin. Các Tỳ-kheo không dám cho, liền nổi giận mắng:
“Sa-môn Thích tử dạy người bố thí mà chính mình lại tham lận, keo kiệt thì làm gì có đạo!”
Các bạch y có lòng tín kính nghe vậy, cũng cơ hiềm nói:
“Tại sao Sa-môn thường đến xin người, mà lại không (cho)* người xin?”
Lại có ngoại đạo quen với Tỳ-kheo đến xin, (Tỳ-kheo)* cũng không dám cho, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo cho ngoại đạo ăn, nhưng đừng tự tay mình đưa. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự tay cho ngoại đạo lõa thể nam hay nữ235 ăn, Ba-dật-đề.”
Nếu ngoại đạo đến xin nên dùng một vắt (cơm)* riêng của mình đặt một chỗ nào đó, khiến họ tự lấy, không nên đem thức ăn của Tăng cho. Nếu có người xin, trẻ nít xin, chó xin, chim xin, nên lượng lấy phần thức ăn của mình nhiều hay ít, sau đó giảm bớt để cho, chứ không được lấy ngoài phần mình để cho. Sa-di, Đột-kiết-la.
Nếu cha mẹ mình là ngoại đạo, tự tay mình trao thì không phạm.

XLI. ĐÒI THỨC ĂN NGON236

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.237 Bấy giờ, có các bạch y đến nơi Tăng phường, hỏi các Tỳ-kheo: “Tăng có bao nhiêu vị?”
Các Tỳ-kheo trả lời: “Tăng có… vị.”
Các bạch y thưa: “Sáng mai, chúng con xin thỉnh hết chúng Tăng hạ cố (đến nhà)* thọ trai đạm bạc.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói: “Nếu quí vị cho chúng tôi sữa, bơ, bơ trong, dầu, cá, thịt thì sẽ nhận lời mời của quí vị.
Mọi người thưa: “(Chúng con)* sẽ nhờ người ra chợ mua sắm.”
Thưa xong, họ trở về nhà mình. Hoặc (có người)* vay mượn không được, hoặc ra chợ mua không có (những đồ ăn thức uống như yêu cầu)*. Sáng hôm sau, sửa soạn thức ăn đã đầy đủ, họ đến mời đã đến giờ. Chúng Tăng khoác y, mang bát đến nhà thí chủ, tới an tọa nơi chỗ ngồi. [55b01] Họ lấy nước rửa và dọn thức ăn. Nhóm sáu Tỳ-kheo hỏi:
“Tại sao không có sữa, bơ, bơ trong, dầu, cá, thịt?”
Thưa: “(Chúng con)* vay mượn không được, mua cũng không có.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo liền úp bát mà về. Các bạch y đều nói như vầy:
“Những người này, không có thức ăn ngon, úp bát mà về, làm như là quốc vương hay đại thần. Phàm người xuất gia là cầu giải thoát, xin ăn đủ sống, mà tại sao nay ngược lại, đắm vào mỹ vị, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đến nhà bạch y, yêu cầu sữa, bơ, bơ trong, dầu, cá, thịt, Ba-dật-đề.”
Sau đó, các Tỳ-kheo được thức ăn ngon không dám ăn, hoặc ăn rồi sám hối xuất tội. Đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu không đòi hỏi thức ăn ngon238 tự nhận được để ăn, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đến các nhà bạch y yêu cầu sữa, bơ, bơ trong, dầu, thịt, cá, những thức ăn ngon như vậy; nếu nhận được mà ăn, Ba-dật-đề.”
Trường hợp các Tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo ăn thức ăn ngon, các Tỳ-kheo nói: “Đức Phật không cho phép chúng tôi đòi hỏi (các thức ăn này)*, làm sao có được?!”
Rồi nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép chúng ta, đòi các thức ăn này bệnh mới có thể lành,” thì nên đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo bệnh được đòi xin thức ăn ngon. Từ nay giới này được nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Nếu trong các gia đình có các thức ăn ngon239 như sữa, bơ, bơ trong, dầu, cá, thịt như vậy, Tỳ-kheo nào không bệnh mà vì mình đòi để được ăn, Ba-dật-đề.”
Nếu vì Tỳ-kheo bệnh mà đòi xin, hoặc từ nhà bà con, hoặc nơi nhà quen biết hỏi xin, đều không phạm. Sa-di, Đột-kiết-la.

XLII. NGỒI VỚI NGƯỜI NỮ TRONG NHÀ CÓ THỨC ĂN240

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.241 Bấy giờ, Bạt-nan-đà242 thường nhận sự cúng dường của một Bà-la-môn. Sau đó, một hôm khoác y bưng bát đến nhà đó, Bà-la-môn không có ở nhà, bèn ngồi chỗ riêng nói chuyện với người vợ ông. Giữa đường, Bà-la-môn, lúc này dâm dục tâm phát khởi liền trở về, thấy Bạt-nan-đà cùng vợ mình đang nói chuyện, liền nghĩ như vầy: “Hiện nay, Tỳ-kheo này nói pháp, chẳng phải lúc hành dục.” liền trở ra ngoài, nhưng tâm dục càng tăng, trong khoảnh khắc vào lại. Bạt-nan-đà vẫn chưa đi. Ông ta lại nghĩ như trước, chịu ức chế, mà ra. Trong chốc lác vào lại, [55c01] nói với vợ:
“Cho Tỳ-kheo ăn mau, biểu lộ khiến cho đi, chớ để ông ta phế bỏ hành đạo.”
Người vợ biết ý chồng, không muốn để cho chồng vì dục tâm mà trái với đạo, nên trả lời:
“Để Tỳ-kheo ăn từ từ, chứ có việc gì đâu gấp?”
Người chồng lập lại ba lần như vậy, Bạt-nan-đà vẫn không chịu đi.
Bà-la-môn bèn nói:
“Chúng tôi là bạch y, thì duyên sự rất nhiều, đối với thời gian rảnh rỗi thì nên đến nhà bên cạnh. Thầy ngồi mà không biết giờ, không chịu đi, ai biết các người đối Phạm hạnh có tu?”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: “Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, trong nhà có thức ăn,243 cùng ngồi với người nữ, Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Thức ăn: Là nam nữ dùng tình ái giao cảm nhau.
Ngồi: Biết trở ngại việc làm của họ mà vẫn ngồi.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu nhiều người cùng ngồi, hoặc có vật ngăn che, hoặc trong ngày đó vợ chồng thọ tám giới thì không phạm.

XLIII. NGỒI VỚI NGƯỜI NỮ Ở CHỖ KHUẤT244

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.245 Bấy giờ, Bạt-nan-đà246 thường nhận sự cúng dường của một người Bà-la-môn. Sau đó, đến nhà họ. Bà-la-môn không có ở nhà, cùng với bà vợ ông ngồi ở chỗ khuất. Bà-la-môn trở về, nói với bà vợ:
“Bà cùng với Tỳ-kheo ngồi chỗ khuất, tôi thành thật tôi không nghi ngờ, nhưng người ta thấy, chắc chắn họ sẽ nói bà làm điều ác, tổn thương đến Sa-môn và, nhục cho gia môn mình.”
Lại nói với Bạt-nan-đà:
“Thành thật tôi không nghi Đại đức, Đại đức nên cẩn thận về ác danh này.”
Vợ ông ỷ mình có sức mạnh về nhan sắc đẹp, về nhiều con, về giàu có và, khéo léo nên quở trách chồng:
“Tôi cùng ngồi với Tỳ-kheo, cốt yếu là không hệ luỵ đến ông, nay ông không cần phải nói những lời tội lỗi như thế!”
Bà-la-môn nổi sân nhuế, trách Bạt-nan-đà:
“Chúng tôi là bạch y còn không cùng với vợ người khác ngồi chỗ vắng, huống chi Sa-môn các thầy làm việc ngược lại như vậy, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, một mình cùng với người nữ ngồi chỗ khuất,247 Ba-dật-đề.”
Sa-di, Đột-kiết-la.

XLIV. NGỒI VỚI NGƯỜI NỮ Ở CHỖ TRỐNG248

A. DUYÊN KHỞI
[56a01] Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.249 Bấy giờ, Bạt-nan-đà250 thường nhận sự cúng dường của một Bà-la-môn. Sau đó, đến nhà họ. Bà-la-môn không có ở nhà, Bạt-nan-đà cùng với người vợ Bà-la-môn ngồi chỗ trống… cho đến câu Đức Phật bằng mọi cách quở trách… như trong giới ngồi chỗ khuất đã nói… Bảo các Tỳ-kheo.
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, một mình cùng với người nữ ngồi chỗ trống,251 Ba-dật-đề.”
Sa-di, Đột-kiết-la.

XLV. XEM QUÂN TRẬN252

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.253 Bấy giờ, biên cương có giặc, vua Ba-tư-nặc254 nghiêm giá bốn binh chủng để đi thảo phạt. Nhóm sáu Tỳ-kheo cùng nhau bàn tán:
“Ta nghe nhà vua Quán Đảnh,255 mỗi khi đi chinh phạt, thời nghi thức xuất quân hết sức trang nghiêm, lộng lẫy. Chúng ta chưa thấy, có thể cùng đến xem.”
(Nhóm sáu Tỳ-kheo)* liền đến bên đường, quân tiên phong thấy, tất cả đều giận nói:
“Hôm nay, tại sao chúng ta gặp người không tốt? Chúng ta ở tại gia chán thấy hạng người này, hôm nay hành quân lại không thoát được. Nếu nhà vua không tín kính thì sẽ chặt đầu hết bọn này.”
Khi ấy, từ xa trông thấy nhóm sáu Tỳ-kheo, nhà vua cũng không hài lòng, liền bảo người hỏi:
“Tại sao các Đại đức có mặt nơi đây?”
Nhóm sáu Tỳ-kheo trả lời: “Chúng tôi nghe, khi vua Quán Đảnh khi xuất quân thì nghi thức xuất quân hết sức oai nghiêm lộng lãy. Vì cúng tôi chưa từng thấy nên đến xem!”
Vua nghĩ như vầy: “Ai có thể đem việc này bạch lên Phật!” Rồi lại nghĩ như vầy: “Bạch không bạch, đức Phật tự sẽ biết.” Nhà vua liền lấy đường phèn và gừng khô gởi cho nhóm sáu Tỳ-kheo và nói:
“Đại đức vì tôi mang vật này về dâng lên đức Phật, với tất cả lòng chí kính vô lượng của tôi.”
Sau khi lễ xuất quân tàn, các vị mới trở về chỗ ở, đem những phẩm vật nhà vua gởi, dâng lên đức Phật, thưa:
“Với tất cả lòng chí kính vô lượng của vua (dâng lên cúng dường Thế Tôn.)*”
Đức Phật hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo: “Lý do gì các ông gặp nhà vua?”
(Nhóm sáu Tỳ-kheo)* trình bày đầy đủ sự việc.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bằng mọi cách quở trách nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ông ngu si, làm điều phi pháp. Khi xuất trận hành quân mà gặp Sa-môn là điềm không tốt. Điều này chắc các binh chủng giận giữ, cơ hiềm, nhà vua cũng bực mình các ông, cho nên mới gởi vật này đến ta.”
Quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, xem quân ra trận,256 Ba-dật-đề.”
Nếu mống tâm muốn xem, chuẩn bị, đã bắt đầu bước đi, nếu thấy mà không nghe, hoặc nghe mà không thấy, đều Đột-kiết-la. Hoặc nghe hoặc thấy riêng từng binh chủng trang bị, tiến về phía trước hay lui phía sau đều Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu trên đường đi, hoặc chỗ kinh hành gặp mà không đứng lại xem thì không phạm.

XLVI. NGỦ LẠI TRONG QUÂN257

A. DUYÊN KHỞI
[56b01] Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.258 Bấy giờ, kẻ dị đạo bàn như vầy:
“Nay vua Ba-tư-nặc và các vị đại thần có lòng tin chánh pháp đều không có ở nhà và, nay không ai có thể làm trở ngại cho chúng ta. Chúng ta sẽ cùng chung sức đào cống thông nước qua Kỳ-hoàn.”
Các Tỳ-kheo nghe tin, nói với Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di:
“Quí vị có thể đến tâu với vua, chứ chúng tôi không thể ra sức ngăn cấm được.”
Bấy giờ, vua và đại thần Ất-sư-đạt-đa, Phú-la-na, Tu-đạt-đa v.v… lâu ngày không gặp các Tỳ-kheo, sai người đến đón mời. Các Tỳ-kheo bàn nói:
“Nếu đức Phật cho phép chúng ta đến nơi quân trận, chắc chắn không khiến kẻ dị đạo đào cống thông nước qua Kỳ-hoàn.”
Đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo đến trong quân trận.”
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, bèn nhận lời mời của vua. Khi đến nơi, đem việc này tâu hết với vua. Vua liền ra lệnh, nếu ai đào cống thông nước qua Kỳ-hoàn sẽ bị giết cả họ. Sau đó, vì các Tỳ-kheo thiết lễ cúng dường. Các Tỳ-kheo đã nhận được thức ăn ngon bổ rồi lại không chịu về. Các quân nhân cơ hiềm, nói:
“Nơi đây không phải là trú xứ A-lan-nhã, chúng tôi là bạch y không thể thoát khỏi nơi này, còn Sa-môn vì lý do gì lại ở nơi đây?” Hoặc có người lại nói:
“Bọn Tỳ-kheo này không tin ưa Phật pháp, chỗ nào có được thức ăn ngon bổ bèn ở, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, có nhân duyên đến trong quân trận cho đến hai, ba đêm; nếu quá, Ba-dật-đề.”
Tuy có nhân duyên mà dùng thư tín được thì nên dùng thơ tín; trường hợp cần phải đích thân đi, sau đó được đi. Sự việc xong nên trở về liền, không được ở lại đêm. Nếu chưa xong nên ở lại một đêm; một đêm không xong nên ở lại đêm thứ hai; nếu lại không xong nên ở lại đến đêm thứ ba; nếu việc xong hay không xong, ở quá đêm thứ ba, Ba-dật-đề. Việc xong liền phải trở về không nên ở lại đêm, ở đêm thì Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

XLVII. XEM QUÂN ĐỘI CHIẾN ĐẤU259

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.260 Bấy giờ, các Tỳ-kheo đến trong quân trận ở lại ba đêm, xem binh lính cầm binh trượng dàn trận cho đến lúc chiến đấu. Các chiến sĩ thấy Tỳ-kheo đều nổi giận nói:
“Hạng người không tốt này lại đến đây. Nếu nhà vua không tin ưa Phật pháp thì [56c01] trước hết ta sẽ chặt đầu bọn này sau đó mới giết giặc.”
Sau đó, nhân binh sĩ loạn chiến, bắn nhằm các Tỳ-kheo, bị thương hại nhiều. Các Tỳ-kheo cùng dìu nhau về lại chỗ ở. Người đi đường thấy vậy cũng giận nói:
“Như các Sa-môn này bị bắn giết là phải, không có cớ gì mà đi xem quân trận làm chi, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, có nhân duyên261 vào trong quân trận hai, ba đêm, để xem quân trận hợp chiến,262 Ba-dật-đề.”
Nếu xem chim, thú đấu đá, Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

XLVIII. KIÊN TRÌ ÁC KIẾN263

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.264 Bấy giờ, có Tỳ-kheo tên là A-lê-tra265 phát sanh ác tà kiến,266 nói:
“Tôi hiểu rõ lời Phật dạy, Phật nói pháp chướng đạo, thật sự không chướng đạo.”267
Các Tỳ-kheo hỏi:
“Thật sự ngươi có nói những lời này: ‘Ta hiểu rõ lời Phật dạy, Phật nói pháp chướng đạo, thật sự không chướng đạo hay không’?”
Trả lời:
“Đúng vậy.”
Các Tỳ-kheo lại hỏi:
“Tại sao ngươi hiểu vậy?”
Trả lời:
“Trường hợp này có hai gia chủ: Chất-đa và, Tu-đạt-đa cùng các Ưu-bà-tắc đều sống với ngũ dục, bị dục chi phối, bị dục thiêu đốt, nay đều đắc đạo quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm; lại có các ngoại đạo không bỏ kiến giải cũ, xuất gia trong chánh pháp cũng được bốn quả Sa-môn. Do vậy, cho nên tôi hiểu vậy.”
Các Tỳ-kheo muốn cho bỏ ác tà kiến này nên can gián, nói:
“Ngươi chớ nói những lời này, chớ huỷ báng Đức Thế Tôn, chớ vu khống đức Thế Tôn, đức Thế Tôn không nói những lời này. Nên bỏ ác tà kiến này. Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách dục, nói dục như đống xương khô, cho đến như chất độc. Nếu thụ hưởng ngũ dục, bị dục thiêu đốt, bị dục giác làm mê loạn và, các ngoại đạo không bỏ kiến giải của mình mà đặng bốn quả Sa-môn đều là những việc không thể có.”
Các Tỳ-kheo can gián như vậy, song lại tăng thêm tà kiến, kiên trì không bỏ. Các Tỳ-kheo bèn đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, bạch:
“Bạch Đại đức, A-lê-tra khởi tà kiến như vầy… trình bày đầy đủ như trên. Cúi xin Tôn giả rủ lòng thương xót khuyến dụ can gián cho bỏ việc này.
Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng hứa khả. Tôn giả liền đến ngay chỗ A-lê-tra, chào hỏi thăm viếng rồi ngồi qua một bên, hỏi:
“Thật sự ông có nói như vậy không?”
Trả lời:
“Đúng như vậy, liền nói đầy đủ như trước.”
[57a01] Tôn giả Xá-lợi-phất can gián:
“Ông chớ nên nói những lời như vậy. Những điều thầy nói là phi pháp, phi luật…”, bằng mọi cách Tôn giả quở trách.
Tỳ-kheo kia vẫn kiên trì không bỏ. Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, đến chỗ đức Phật, trình bày đầy đủ rồi thưa:
“Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng lân mẫn khuyến dụ Tỳ-kheo này xả bỏ ác tà kiến.”
Đức Phật liền bảo một Tỳ-kheo:
“Ông kêu A-lê-tra đến đây.”
Vị kia vâng lời đến bảo:
“Đức Đạo sư gọi thầy.”
A-lê-tra liền đến, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng qua một bên. Đức Phật hỏi A-lê-tra:
“Thật sự ông có nói những lời này không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật lại hỏi:
“Ngươi hiểu những lời dạy của Ta thế nào?”
Thưa lại như trước.
Đức Phật nói:
“Ngươi là người ngu si. Chớ nên hủy báng Như Lai, chớ nên vu khống Như Lai. Tại sao vậy? Ta nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Nếu thụ hưởng ngũ dục, sẽ bị lửa dục thiêu đốt, bị dục giác mê loạn và, ngoại đạo không xả kiến giải cũ mà chứng đặng bốn quả Sa-môn là điều không thể có.”
Đức Thế Tôn vì ông khuyên dạy, nhưng ông vẫn không bỏ. Đức Phật lại nói:
“Ta đã thấy ngươi tạo ác tà kiến, đó là huỷ báng Ta, là vu khống Ta, ngươi hãy trở về lại trú xứ. Ta tự hỏi lại các Tỳ-kheo khác.”
A-lê-tra đi rồi, đức Phật muốn biết rõ ác tà kiến của Tỳ-kheo kia, nên hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi hiểu những lời dạy của Ta có như A-lê-tra hay không?”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Chúng con không hiểu như vậy.”
Lại hỏi:
“(Hiểu)* thế nào?”
Thưa:
“Phật nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Nói rộng như trên.”
Đức Phật dạy:
“Lành thay! Các ông đã khéo hiểu ý của Ta.”
(Đức Phật)* bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo thân thiện với A-lê-tra, nơi chỗ vắng dùng lời mềm mỏng can gián, rằng: ‘Người chớ nên nói những lời như vậy, chớ nên hủy báng Phật, chớ nên vu khống Phật. Đức Phật dạy pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. người nên bỏ ác tà kiến này.’ Nếu bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì số đông Tỳ-kheo đến can gián như trên. Nếu bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì Tăng lại nên đến can gián như trên, nếu bỏ thì tốt.”
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy ba phen (can gián)* như vậy, A-lê-tra vẫn kiên trì không bỏ. Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, chuyển lời quở trách A-lê-tra rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói như vầy: ‘Như chỗ tôi hiểu, những gì đức Phật dạy là pháp chướng đạo thì thật sự không chướng đạo.’268 Các Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo này: ‘Thầy chớ nói như vậy, chớ hủy báng Phật, chớ vu khống Phật. Đức Phật nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo. Thầy nên bỏ ác tà kiến đó.’ Khi can gián như vậy đương sự kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián [57b01] bỏ việc này thì tốt, không bỏ, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo kia không bỏ ác tà kiến, các Tỳ-kheo hoặc thấy hoặc nghe, sai một Tỳ-kheo can gián nơi chỗ vắng, nếu họ bỏ thì trao cho một Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì số đông Tỳ-kheo đến can gián, nêu họ chịu bỏ, thì trao cho hai Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì Tăng đến can gián, nếu họ bỏ, thì trao cho ba Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì nên bạch tứ Yết-ma để can gián. Một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo tên là… sanh ác tà kiến nói những lời như vầy: ‘Như chỗ tôi hiểu, những gì đức Phật dạy là pháp chướng đạo, sự thật không chướng đạo.’ Tăng đã can gián: ‘Chớ nói như vậy, chớ hủy báng Phật, chớ vu khống Phật. Đức Phật nói pháp chướng đạo, thật sự là chướng đạo.’ Tăng can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ. Nay Tăng Yết-ma can gián. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi nên nói:
“Tăng đã bạch rồi, người nên bỏ ác tà kiến này.”
Nếu họ bỏ thì trao cho bốn Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ thì nên xướng:
“Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là … nói những lời như vầy: ‘Theo chỗ tôi hiểu, những gì đức Phật nói, là pháp chướng đạo, sự thật không chướng đạo.’ Tăng đã can gián: ‘Chớ nói như vậy, chớ hủy báng Phật, chớ vu khống Phật. Phật nói pháp chướng đạo, sự thật là chướng đạo.’ Tăng can gián như vậy, họ vẫn kiên trì không bỏ. Nay Tăng Yết-ma can gián. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Xướng rồi nên nói:
“Tăng đã Yết-ma lần thứ nhất rồi, người nên bỏ ác tà kiến này đi.”
Nếu họ bỏ thì trao cho năm Đột-kiết-la hối quá. Nếu không chịu bỏ thì lại xướng lần thứ hai cũng như trên. Xướng xong lại nói:
“Tăng đã Yết-ma lần thứ hai rồi, ngươi nên bỏ ác tà kiến này đi.”
Nếu họ bỏ thì trao cho sáu Đột-kiết-la hối quá. Nếu không bỏ lại nên xướng lần thứ ba. Xướng lần thứ ba chưa xong mà bỏ cũng trao cho sáu Đột-kiết-la hối quá. Yết-ma lần thứ ba xong, nếu bỏ hay không bỏ cũng Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

XLIX. HỖ TRỢ TỲ-KHEO BỊ XẢ TRÍ269

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.270 Bấy giờ, có Tỳ-kheo biết A-lê-tra không bỏ tà kiến, mà cùng ngồi, cùng nói, cùng ngủ, cùng làm việc. Các Tỳ-kheo quở trách, nói:
“A-lê-tra không bỏ ác tà kiến, Tăng đã Yết-ma rồi, tại sao các thầy cùng ngồi, cùng chuyện vãn, cùng ngủ, cùng làm việc?”
Các Tỳ-kheo nghe không để ý lắm, còn các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, [57c01] hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết Tỳ-kheo kia không như pháp sám hối,271 không bỏ ác tà kiến, mà cùng ngồi, cùng nói, cùng ngủ, cùng làm việc, Ba-dật-đề.”
Tuỳ theo nói chuyện lâu hay mau, mỗi lời nói một Ba-dật-đề; cùng ngồi, mỗi một lần ngồi một Ba-dật-đề; cùng ngủ, mỗi một lần ngủ một Ba-dật-đề; cùng làm việc, mỗi một việc làm một Ba-dật-đề. Tuy xả ác tà kiến, Tăng chưa giải Yết-ma, cũng Ba-dật-đề.
Nếu tạo ác tà kiến, Tăng chưa Yết-ma, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu không biết, cho đến Yết-ma không như pháp thì không phạm.

L. BAO CHE SA-DI BỊ ĐUỔI272

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.273 Bấy giờ, Bạt-nan-đà có hai Sa-di274 sanh ác tà kiến, nói như vầy:
“Như chỗ tôi hiểu những gì đức Phật đã dạy, thì thọ hưởng ngũ dục không có gì chướng đạo…” cho đến câu Tôn giả Xá-lợi-phất đem việc này bạch lên Phật, như trong giới A-lê-tra sanh ác tà kiến đã nói.
Đức Phật liền ra lệnh một Tỳ-kheo:
“Ngươi kêu hai Sa-di kia đến.”
Liền vâng lời Phật dạy, đến nói:
“Đại sư kêu hai ngươi.”
Hai Sa-di vội theo lời dạy đến đảnh lễ sát chân Phật, rồi đứng lui qua một bên.
Đức Phật hỏi hai Sa-di:
“Các ngươi, có thật nói những lời này không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật hỏi hai Sa-di:
“Các ngươi hiểu những gì Ta đã thuyết pháp như thế nào?”
Hai Sa-di thưa cũng như những gì A-lê-tra đã nói.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Nên gọi hai Sa-di này đến giữa Tăng dạy bảo họ xả bỏ. Lần thứ hai, lần thứ ba dạy, nếu họ xả bỏ thì tốt, nếu họ không bỏ thì, Tăng nên bạch tứ Yết-ma diệt tẫn.”
Một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Sa-di tên là… không xả ác tà kiến. Nay Tăng trao cho pháp diệt tẫn. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.”
Lại xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Sa-di tên là… không bỏ ác tà kiến. Nay Tăng đã trao cho pháp diệt tẫn. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xướng như vậy.
“Tăng trao cho Sa-di tên… pháp diệt tẫn rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Hai Sa-di kia đã bị Tăng diệt tẫn rồi, bèn du hành trong nhân gian. Lúc ấy, Bạt-nan-đà vẫn nuôi hai Sa-di kia, cùng nói chuyện, cùng ngủ. Các Tỳ-kheo nói:
“Tăng đã Yết-ma diệt tẫn hai Sa-di này rồi, thầy chớ nên nuôi, chớ nên cùng nói chuyện, cùng ngủ.”
Bạt-nan-đà nói:
“Sa-di này là anh của tôi, nếu tôi không chăm sóc thì ai chăm sóc? [58a01] Ai có thể bảo hộ sự cô đơn, khổ sở, để họ được an lạc?”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: “Ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Sa-di nào, nói như vầy: ‘Như chỗ tôi hiểu, những gì Phật đã dạy, thì thụ hưởng ngũ dục, không trở ngại gì đối với đạo.’ Các Tỳ-kheo nói với Sa-di này: ‘Ngươi đừng nói như vậy, đừng hủy báng Phật, đừng vu khống Phật. Đức Phật dạy: Thụ hưởng ngủ dục thật sự có trở ngại đối với đạo. Này Sa-di! Ông nên xả bỏ ác tà kiến này.’ Khi dạy như vậy, Sa-di kiên trì không bỏ, nên dạy lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba dạy bảo, Sa-di bỏ thì tốt, nếu không bỏ, các Tỳ-kheo nên nói với Sa-di ấy rằng: ‘Ngươi đi đi! Từ nay ngươi đừng nói Phật là thầy của tôi, đừng đi theo sau Tỳ-kheo, như các Sa-di khác. Các Sa-di khác được cùng phòng Tỳ-kheo ngủ hai đêm, nhưng ông thì không được làm điều đó. Ông là người ngu si nên ra khỏi chỗ này, đừng ở nơi đây nữa.’ Nếu Tỳ-kheo biết Sa-di bị diệt tẫn như vậy mà nuôi dưỡng, cùng ở, cùng nói chuyện, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

LI. ĐOẠN SANH MẠNG275

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.276 Trưởng lão Ca-lưu-đà-di không thích thấy Tỳ-kheo xấu (trai), cũng không thích thấy quạ. Khi ấy, có bầy quạ tập trung đậu trên nóc nhà, các bạch y cầm cung đến canh bắn. (Ca-lưu-đà-di)* nói:
“Các loài chim quạ này có đầy đủ mười pháp của Tỳ-kheo tệ ác:277 1. Bỏn sẻn, 2. Tham lam, 3. Sung sức, 4. Chịu nhục, 5. Xấu xí, 6. Không từ bi, 7. Thèm muốn, 8. Không nhàm chán, 9. Tích chứa, 10. Thích quên. Loài chim này có đủ mười pháp như vậy, các người muốn giết không?”
Có người không tin tội phước nói: “Muốn giết.”
(Ca-lưu-đà-di)* liền lấy cây cung và hỏi mọi người:
“Muốn bắn chỗ nào?”
Có người nói:
“Bắn con mắt bên tả.”
(Ca-lưu-đà-di)* liền nhắm bắn ngay nơi con mắt bên tả, chim chết.
Lại có người nói:
“Bắn con mắt bên hữu.”
(Ca-lưu-đà-di)* liền nhắm bắn ngay nơi con mắt bên hữu, chim chết. Chỉ trong chốc lát mà lên đến chục con (chim bị chết)*. Những người không tin ưa Phật pháp liền cơ hiềm, nói:
“Bọn Sa-môn này thường nói từ bi, hộ niệm chúng sanh, mà nay tàn hại một cách vô đạo, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Ngươi có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
[58b01] Tỳ-kheo nào, đoạn mạng súc sanh, Ba-dật-đề.”
Trường hợp các Tỳ-kheo, trên đường đi, hoặc kéo đồ vật, hoặc xông bát. Lúc ấy, ngộ sát các loài trùng, sanh lòng tàm quí, cũng có người hối quá xuất tội, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Ngộ sát chúng sanh mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cố ý đoạt mạng súc sanh,278 Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Súc sanh: Trừ loài rồng, ngoài ra đều thuộc súc sanh.
Cố ý đoạt mạng: Trước đó có tâm sát mà đoạn mạng chúng. Nếu đoạt mạng súc sanh, tuỳ theo nhiều ít, tất cả đều Ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

LII. CỐ GIEO NGHI HỐI279

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.280 Bấy giờ, nhóm mười bảy Tỳ-kheo đến chỗ ở của nhóm sáu Tỳ-kheo. Nhóm sáu Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Số Tỳ-kheo này có tàm quí, ít muốn, biết đủ, nay đến đây chắc thấy lỗi lầm của ta. Chúng ta nên tạo ra mọi cách khiến cho họ sanh nghi hối, sanh nghi hối rồi chắc họ sẽ trở về nơi chỗ thầy họ.” Nghĩ vậy, liền nói:
“Quí vị có khéo thọ giới Cụ túc không? Thọ giới có giới trường hay không? Yết-ma có như pháp hay không? Không phạm Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dật-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Đột-kiết-la chứ? Có khéo phòng hộ thân khẩu không? Hòa thượng, A-xà-lê của quí vị trước kia có khéo thọ Cụ túc giới, cho đến khéo hộ thân khẩu không?”
(Nhóm mười bảy Tỳ-kheo)* thưa:
“Chúng con không tự biết, cũng không biết Hòa thượng, A-xà-lê thế nào? Nay chúng con xin thưa hỏi Đại đức, xin Đại đức chỉ vẽ cho chúng con: Khi chúng con thọ Cụ túc giới, và Hòa thượng, A-xà-lê, có như pháp không?”
(Nhóm sáu Tỳ-kheo)* nói:
“Nếu tôi nói thật thì các ông chắc cũng không tin. Các ông nên hỏi người nào mà các ông từng tin cậy.”
Khi ấy, nhóm mười bảy Tỳ-kheo bèn đến chỗ thầy để hỏi việc này.
Thầy trả lời:
“Mọi việc của các con đều như pháp và, xưa kia ta thọ giới cũng lại như pháp. Nhưng ai là những người gây sự nghi hối này?”
Thưa: “Nhóm sáu Tỳ-kheo.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, khiến Tỳ-kheo khác sanh nghi hối,281 Ba-dật-đề.”
(Trường hợp)* có Tỳ-kheo phạm tội, lòng sanh nghi hối, hỏi các Tỳ-kheo, phạm việc như vậy, như vậy, là mắc vào những tội gì? Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy:[58c01] “Đức Phật đã kết giới, không cho phép khiến Tỳ-kheo khác sanh nghi hối.” Nên liền trả lời: “Không biết,” rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu không muốn khiến cho người sanh nghi hối, mà nói chỗ phạm tội của họ, phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cố ý khiến Tỳ-kheo sanh nghi hối, nghĩ như vầy: Khiến Tỳ-kheo này buồn, dù chỉ trong chốc lát,282 Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Nghi hối: Nghi về chỗ sanh, nghi về thọ giới, nghi về phạm giới, nghi về y phục. Nếu làm cho Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nghi hối, Đột-kiết-la. Nếu Tỳ-kheo-ni khiến cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni sanh nghi hối, Ba-dật-đề; làm cho Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nghi hối, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni tạo ra nghi hối cho năm chúng đều Đột-kiết-la.

LIII. KHÔNG DỮ DỤC283

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.284 Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo có thế lực, ngăn Yết-ma và giải Yết-ma của Tăng, Tăng không tuỳ thuận liền đứng dậy đi. Khi đến chỗ Tỳ-kheo bị tẫn, nói:
“Thầy đừng buồn lo, tôi đã yểm trợ thầy, ngăn Yết-ma của Tăng. Tăng không theo ý tôi, tôi liền đứng dậy đi, vậy là Yết-ma không thành.”
(Nhóm sáu Tỳ-kheo)* lại đến chỗ Tỳ-kheo được giải Yết-ma, nói:
“Thầy đừng tưởng là Tăng đã giải Yết-ma cho thầy. Khi Tăng giải Yết-ma, tôi đã ngăn, Tăng không theo ý tôi, tôi liền đứng dậy đi. Vậy là Yết-ma giải không thành. Nay thầy có thể tự cầu Tăng để giải.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, khi Tăng đoán sự, đứng dậy đi, Ba-dật-đề.”
Bây giờ, các Tỳ-kheo có việc cần đi mà không dám, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, có việc cần, dữ dục,285 rồi đứng dậy đi.
Dữ dục là nói với một người: Trưởng lão nhất tâm niệm, nay Tăng đoán sự, tôi Tỳ-kheo tên là… như pháp Tăng sự, xin dữ dục.
Từ nay giới này được nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khi Tăng đoán sự, không dữ dục, đứng dậy đi,286 Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Tăng đoán sự: Bạch yết-ma, bạch nhị, bạch tứ Yết-ma. Nếu Yết-ma trong thất, thì tuỳ theo bao nhiêu lần ra khỏi thất, mỗi một lần ra đều Ba-dật-đề.[59a01] Nếu Yết-ma chỗ đất trống, mỗi lần đi cách Tăng một tầm, là Ba-dật-đề. Nếu người có Thần thông thì đi cách đất bốn ngón tay, Ba-dật-đề. Nếu Tăng không Yết-ma đoán sự mà ra đi thì Đột-kiết-la. Nếu nơi phòng riêng đoán sự, đến rồi bỏ ra đi, Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Nếu Tăng không Yết-ma đoán sự và đoán sự nơi phòng riêng, Sa-di được ở trong đó, nếu đứng dậy đi, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni cũng như vậy.
Nếu Tăng không như pháp Yết-ma, không giữ dục, đứng dậy bỏ đi, không phạm.

208 Tăng-kỳ 16, tr. 356b24: Ba-dật-đề 34; Tứ phần: Ba-dật-đề 36. Thập tụng 13, tr.92c10, Căn bản 36, tr. 822c11: Ba-dật-đề 35. Pāli, Pāc, 36, Dutiyapavāraṇā.
209 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
210 Tăng-kỳ 16, tr. 357a5: Ba-dật-đề 35; Tứ phần 15, tr. 663b18: Ba-dật-đề 39. Thập tụng 13, tr. 95c25, Căn bản 36, tr. 825a26: Ba-dật-đề 39. Pāli, Pāc. 40, dantapoṇa.
211 Tứ phần: La-duyệt thành 羅閱城; Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành(quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
212 Thọ thực受食: Nhận thức ăn từ người khác mời.
213 Hán: Bất thọ 不受. Thập tụng: Bất thọ 不受, không nhận từ người khác. Tăng-kỳ: Bất dữ thủ 不與取. Pāli: adinna, (vật) không được cho; giải thích: appaṭiggahitakaṃ, (vật) chưa được nhận lấy, hay chưa được tiếp nhận.
214 Tăng-kỳ 16 (tr. 357a05): A-na-luật sống hoàn toàn bằng phấn tảo: lượm giẻ rách làm y, nhặt cơm từ đống rác mà ăn; bị chỉ trích tranh ăn với chim chóc. Tứ phần: Có một Tỳ-kheo nghĩ rằng, “Ta nên thường đi khất thực với chiếc y phấn tảo.” Thập tụng 13 (tr. 95c25): Tỳ-kheo Ma-ha Ca-la; Căn bản 36 (tr. 825a27), cụ thọ Ca-la; nhân duyên tương tợ như các bộ, chỉ khác nhân vật. Pāli, Vin. iv. 89: aññataro bhikkhu sabbapaṃsukūliko susāne viharati, một Tỳ-kheo nọ, là vị trì phấn tảo toàn diện, sống trong khu mộ.
215 Bất thọ thực 不受食. Pāli: adinnaṃ mukhadvāraṃ āhāraṃ, thức ăn chưa được trao cho (chưa được bố thí). Tứ phần: Thức ăn, hoặc thuốc không được trao nhận.
216 Hán: dương chi 楊枝; Pāli. dantapoṇa.
217 Hồ A-nậu-đạt 阿耨達池: Skt. Anavatapta, Pāli. Anotatta, dịch là hồ Vô nhiệt (không nóng). Một trong bảy hồ lớn ở núi Himālaya (Tuyết sơn), được vây quanh bởi năm đỉnh núi: Sudassanakūṭa, Citrakūṭa, Kāḷakūṭa, Gandha-mādana và Kelāsa. Đỉnh Sudassanakūṭa lõm lòng chảo, có dạng mỏ quạ và phủ bóng trọn hồ, vốn cũng được che khuất bởi các đỉnh kia. Hồ dài 150 dặm, rộng 50 dặm và sâu 50 dặm. Mọi cơn mưa rơi trên năm đỉnh núi cùng các dòng suối bắt nguồn từ chúng đều đổ vào hồ. Ánh sáng từ mặt trời và mặt trăng chỉ phản chiếu chứ không bao giờ chạm trực tiếp vào nước hồ. Điều này có nghĩa là nước luôn lạnh và hồ có tên gọi từ đó.
218 Thích Đề-hoàn Nhân 釋提桓因: Skt. Śakra Devānām-indra, hay gọi trời Đế Thích (Đế Thích Thiên), Kiều-thi-ca… là chủ tầng trời Ba mươi ba.
219 Sa-la thọ lâm娑羅樹林 (Sālavana), rừng cây Sa-la.
220 Bản Hán, hết quyển 7.
221 Tăng-kỳ 17, tr. 359b11: Ba-dật-đề 36; Tứ phần 14, tr. 662b8, Thập tụng 13, tr.95a22, Căn bản 36, tr. 824b8: Ba-dật-đề 37. Pāli, Pāc. 37, vikālabhojana.
222 Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Tứ phần: La-duyệt thành羅閱城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
223 Hán: Phi thời thực 非時食, ăn phi thời. Pāli: Vikālabhojana, lấy (xin) thức ăn vào buổi chiều tối (đêm). Pāli: Hiểu là khất thực phi thời.
224 Tứ phần: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷. Cf. M. i. 437 (Bhaddālisutta): chuyện tôn giả Bhaddāli. Xem Trung A-hàm 51, kinh 194 Bạt-đà-hòa-lợi, T1, tr. 746.
225 Tăng-kỳ 17, tr. 359b11: Ba-dật-đề 37 (chung với phi thời thực); Tứ phần 14, tr.662c25: Ba-dật-đề 38; Thập tụng 13, tr. 95b26, Căn bản 36, tr. 824c21: Ba-dật-đề 38. Pāli, Pāc. 38, sannidhikāraka.
226 Tứ phần: 羅閱城; Tăng-kỳ, Thập tụng: 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
227 Hán: Tàn túc thực 殘宿食. Pāli: Sannidhikārakabhojana, thức ăn lưu trử qua đêm.
228 Tứ phần: Tàn túc thực 殘宿食. Tăng-kỳ: Đình thực 停食, thức ăn để dành. Căn bản 36: Tằng xúc thực 曾觸食. Pāli: sannidhikāraṃ khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā khādeyya vā bhuñjeyya vā, ăn các thức ăn được tích trữ.
229 Tăng-kỳ 18, tr. 373b25: Ba-dật-đề 52; Tứ phần 15, tr. 664b19: Ba-dật-đề 41; Thập tụng 14, tr. 98b28, Căn bản 37, tr. 829b5: 44. Pāli. Pāc. 41, acelaka.
230 Tứ phần: Câu-tát-la quốc 拘薩羅國; Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Vương Xá thành 王舍城 .
231 An-na-tần-đầu ấp 安那頻頭邑, nước Ma-kiệt.
232 Hán: Sa-môn 沙門. Pāli: Samaṇa.
233 Tứ phần: Lõa hình ngoại đạo (xuất) gia nữ 裸形外道家女. Bản Hán (Tứ phần) có sự chép nhầm. Chính xác, ngoại đạo xuất gia nữ (Pāli: paribbājikā). Trong giới văn Pāli, lõa hình acelakassa (Skt. acelakāya) thuộc nam tánh.
234 Ngốc đầu cư sĩ 禿頭居士 (Pāli: Muṇḍagahapati), cư sĩ đầu trọc. Những người ngoại đạo lõa thể không ưa các Sa-môn Thích tử nên gọi như thế.
235 Tăng-kỳ: Vô y ngoại đạo và xuất gia nam, nữ. Tứ phần: Trong văn kết giới thiếu hai chữ lõa hình 裸形 như lần kết thứ nhất. Căn bản: Vô y ngoại đạo, và các nam, nữ ngoại đạo khác. Pāli. acelakassa vā paribbājakassa vā paribbājikāya vā, cho các lõa hình (nam), hay xuất gia (ngoại đạo) nam hay xuất gia (ngoại đạo) nữ; không có lõa hình ngoại đạo nữ.
236 Tăng-kỳ 17, tr. 361c7: Ba-dật-đề 39. Tứ phần 15, tr. 664a12, Thập tụng 13, tr.96c2, Căn bản 37, tr. 827b20: Ba-dật-đề 40. Pāli, Pāc. 39, Paṇītabhojana.
237 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城國; Thập tụng: Ca-duy-la-vệ quốc 迦維羅衞國; Căn bản: Thích-ca trú xứ – Kiếp-tỉ-la thành 釋迦住處 – 劫比羅城.
238 Hán: Mỹ thực 美食. Pāli: Paṇītabhojana, thức ăn mỹ vị.
239 Căn bản: “Loại ẩm thực mà Thế tôn nói là mỹ diệu.” Pāli: pāṇitabhojanāni, liệt kê: sappi, bơ lỏng (trong) hay đề hồ, navanīta, bơ tươi (đặc) hay sanh tô, tela, dầu mè, madhu, mật ong, phāṇita, đường mía hay mật mía, maccha, cá, maṃsa, thịt, khīra, sữa, dadhi, sữa đặc.
240 Tăng-kỳ: Không có; Tứ phần 15, tr. 666a27: Ba-dật-đề 43; Thập tụng 14, tr.97c01, Căn bản 37, tr. 828c12: Ba-dật-đề 42. Pāli, Pāc. 43, Sabhojana.
241 Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
242 Tứ phần: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷; Thập tụng: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子; Căn bản: Ổ-đà-di 鄔陀夷.
243 Thực gia 食家; Thập tụng: hữu thực gia 有食家; giải thích: người nữ là thức ăn của người nam. Căn bản: tri hữu thực gia 知有食家, biết trong nhà nam nữ đang có dục tâm với nhau. Tăng-kỳ: biết nhà có ăn, ngồi chỗ hành dâm; giải thích: nam là thức ăn của nữ; nữ là thức ăn của nam. Pāli: Sabhojana, giải thích: nhà có nam và nữ; nam nữ đang có dục tâm với nhau (ubho avītarāgā).
244 Tăng-kỳ 19, tr. 384a1425: Ba-dật-đề 53; Tứ phần 15, tr. 666c16: Ba-dật-đề 44; Thập tụng 14, tr. 98a8, Căn bản 37, tr. 82914: Ba-dật-đề 43. Pāli, Pāc. 44, Rahopaṭicchanna.
245 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
246 Tăng-kỳ: Ưu-đà-di 優陀夷; Tứ phần: Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷; Thập tụng: Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子; Căn bản: Ổ-đà-di 鄔陀夷.
247 Tăng-kỳ: Ngồi với người nữ độc nhất tại chỗ khuất vắng. Tứ phần: “Trong nhà có ăn, có vật báu mà ngồi nơi khuất”. Căn bản: Ngồi tại chỗ khuất kín. Pāli, Pāc. 44:Mātugāmena saddhiṃ raho paṭicchanne āsane nisajjaṃ kappet, ngồi với người nữ tại chỗ vắng khuất được che kín (không có yếu tố thực gia như Tăng-kỳ và Tứ phần).
248 Tăng-kỳ 19, tr. 382b26: Ba-dật-đề 69; Tứ phần 15, tr. 667b3: Ba-dật-đề 45; Thập tụng 12, tr. 85a15: Ba-dật-đề 29; Căn bản: Không có. Pāli, Pāc. 45, Rahonisajja.
249 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國).
250 Tăng-kỳ: Ưu-đà-di 優陀夷; Tứ phần; Thập tụng: Ca-lư-đà-di 迦留陀夷.
251 Tăng-kỳ: Tại chỗ trống vắng 空靜處. Tứ phần: Lộ địa, hay lộ xứ 露地, 露處. Nhưng trong phần thích từ giải là bình xứ 屏處, chỗ khuất. Pāli: raho, tại chỗ vắng khuất; giải thích: Khuất mắt không thấy, khuất tai không nghe.
252 Tăng-kỳ 18, tr. 374b14: Ba-dật-đề 54; Tứ phần 15, tr. 669b11: Ba-dật-đề 48; Thập tụng 14, tr. 101a11, Căn bản 37, tr. 831a14: Ba-dật-đề 45. Pāli, Pāc. 48, Uyyuttasenā.
253 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
254 Ba-tư-nặc vương 波斯匿王. Pāli: Pasenadi.
255 Vua Quán Đảnh灌頂王: Xem cht. 99, Ch. i, Ba-la-di 2, Pāli: Abhisekarājan.
256 Pāli: uyyuttaṃ senaṃ dassanāya, xem quân đội xuất chinh; giải thích: hoặc ra khỏi làng (gāmato kikkhamitvā), hoặc đồn trú (niṭṭhitvā), hoặc xuất phát (payātā).
257 Tăng-kỳ 18; tr. 374b16: Ba-dật-đề 56; Tứ phần 15, tr. 671a07: Ba-dật-đề 49; Thập tụng 14, tr. 101b27; Căn bản 37, tr. 831c16: Ba-dật-đề 46. Pāli, Pāc. 49, Senāvāsa.
258 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
259 Tăng-kỳ 18, tr. 374b14: Ba-dật-đề 54; Tứ phần 16, tr. 671a07: Ba-dật-đề 50; Thập tụng 14, tr. 101c13; Căn bản 37, tr. 832b11: Ba-dật-đề 47; Pāli, Pāc. 50, Uyyodhika.
260 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành室羅伐城 .
261 Tăng-kỳ: Hữu duyên sự 有緣事, còn các bản khác không có đề cập đến sự kiện này.
262 Tứ phần: Xem quân đội chiến đấu, hoặc xem thế lực quân bộ, quân voi, quân ngựa. Thập tụng: Xem dụng binh khí, tù và, cờ xí, hai bên giao chiến. Căn bản: Xem chỉnh trang quân đội, cờ xí, bố trận.
263 Tăng-kỳ 17, tr. 367a3: Ba-dật-đề 45; Tứ phần 17, tr. 682a9: Ba-dật-đề 68; Thập tụng 15, tr. 106a3, Căn bản 39, tr. 840b21: Ba-dật-đề 55. Pāli, Pāc. 68, Ariṭṭha (Diṭṭhi [micchādiṭṭhi]).
264 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
265 A-lê-tra 阿梨吒, Skt. ariṣṭa, Pāli: Ariṭṭha. Vin. iv. 133; M.i. 130; S.v. 314. Căn bản: Vô Tướng 無相.
266 Ác tà kiến惡邪見. Skt. Dṛṣṭi, Pāli: Diṭṭhi (micchādiṭṭhi), tà kiến, dị đoan.
267 Tứ phần: “Tôi hiểu pháp mà đức Thế Tôn nói, theo đó phạm dâm dục chẳng phải là pháp chướng đạo.” Cf. Trung A-hàm 54, kinh 200 “A-lê-tra”, (T1. tr.763b). M. i. 130-2.
268 Tăng-kỳ: “Tôi biết, pháp Thế Tôn dạy, Thế Tôn nói pháp chướng đạo thì rõ ràng pháp này không chướng đạo.” Thập tụng: “Tôi biết nghĩa pháp Phật như vầy, pháp tạo chướng đạo thì không thể chướng đạo.” Căn bản: “Tôi biết những pháp đức Phật dạy thì dục là pháp chướng ngại thì rõ ràng khi thực hành nó không phải là chướng ngại.” Pāli: Pāc. 68, Ariṭṭha (Diṭṭhi [micchādiṭṭhi]). “Theo như tôi hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn dạy thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn dạy không thể đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.”
269 Tăng-kỳ 18, tr. 367c13: Ba-dật-đề 46; Tứ phần 17, tr. 683a16: Ba-dật-đề 69; Thập tụng 15, tr. 106b25, Căn bản 39, tr. 841b06: Ba-dật-đề 56. Pāli, Pāc. 69, Ukkhittasambhoga.
270 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
271 Hán: Bất như pháp hối 不如法悔. Pāli: Akaṭānudhamma, không thực hành việc trừ bỏ (sám hối) như pháp. Tăng-kỳ: “Đã bị Tăng tác cử yết-ma mà chưa như pháp giải.” Tứ phần: Chưa được tác pháp (giải).
272 Tăng-kỳ 18, tr. 368a14: Ba-dật-đề 47; Tứ phần 17, tr. 671a07: Ba-dật-đề 50; Thập tụng 15, tr. 106c29; Căn bản 39, tr. 841b28: Ba-dật-đề 57. Pāli, Pāc. 70, Kaṇḍaka.
273 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
274 Tăng-kỳ: Đệ tử của A-lê-tra là sa-di Pháp Dữ 法與. Tứ phần: Yết-na 羯那, và Ma-hầu-ca 摩睺迦, đệ tử của Bạt-nan-đà Thích tử. Thập tụng: Có (một) sa-di tên Ma-già 摩伽(không nói đệ tử vị nào). Căn bản: Lợi Thích 利刺 và Trường Đại 長大, đệ tử của Ổ-ba Nan-đà Thích tử. Pāli: Sa-di Kaṇḍaka.
275 Tăng-kỳ 19, tr. 377a26: Ba-dật-đề 60; Tứ phần 16, tr. 676c25, Thập tụng 16, tr.110b28, Căn bản 40, tr. 847c18: Ba-dật-đề 61. Pāli, Pāc. 61, Sañcicca (Pāṇaṃ jīvitā voropeti).
276 Tăng-kỳ: Tỳ-xá-ly 毘舍離; Tứ phần: Xá-vệ舍衞城; Thập tụng: Duy-da-ly quốc 維耶離國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
277 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng; Căn bản: Không có chi tiết này.
278 Hán: Súc sanh mạng畜生命, Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng như Ngũ phần; Căn bản: Bàng sanh mạng 傍生命. Pāli: pāṇaṃ jīvitā, sinh mạng của loài có hơi thở.
279 Tăng-kỳ 19, tr. 378a27: Ba-dật-đề 61; Tứ phần 17, tr. 677c24: Ba-dật-đề 63; Thập tụng 16, tr. 111a27; Căn bản 40, tr. 848a18: Ba-dật-đề 62. Pāli, Pāc. 77, Sañcicca.
280 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
281 Khiến Tỳ-kheo khác sanh nghi hối 令他比丘生疑悔. Pāli: Bhikkhussa kukkuccaṃ upadahati, cố ý khơi dậy sự hoang mang (hối tiếc) cho các Tỳ-kheo khác.
282 Tứ phần: Khiến cho không vui dù chỉ trong chốc lát; Tăng-kỳ, Căn bản: Khiến bất an chỉ trong chốc lát; Thập tụng: Khiến cho tâm không an ổn dù trong chốc lát, chỉ với mục đích ấy chứ không gì khác.
283 Tăng-kỳ 20, tr. 388b28: Ba-dật-đề 78; Tứ phần 18, tr. 687a15: Ba-dật-đề 75; Thập tụng 17, tr. 119b29, Căn bản 42, tr. 856b18: Ba-dật-đề 77. Pāli, Pāc. 80, Chandaṃadatvāgamana.
284 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
285 Dữ dục 與欲: Pāli. adatvā, tuỳ thuận.
286 Tăng-kỳ: “Không bạch Tỳ-kheo.” Tứ phần: “Không dữ dục, mà bỏ đi”; Thập tụng: “Im lặng, đứng dậy bỏ đi”; Căn bản: “Mặc nhiên đứng dậy (bỏ đi), không chúc thọ 不囑授.” Pāli: chandaṃ adatvā, không dữ dục.

LIV. THỌC CÙ NÔN287

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.288 Bấy giờ, nhóm mười bảy Tỳ-kheo đến chỗ ở của nhóm sáu Tỳ-kheo, cùng nhau thọc lét. Có một Tỳ-kheo bị nhiều người thọc lét, không ngăn được cơn cười, nên bị hết hơi mà chết. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo vì vậy thương khóc. Các Tỳ-kheo Trưởng lão hỏi:
“Vì cớ gì khóc kể?”
Thưa:
“Có một Tỳ-kheo bị cười giỡn (quá trớn)* mà chết, vì vậy nên chúng con thương khóc.”
Lại hỏi:
“Vì sao đưa đến sự việc như thế?”
Thưa:
“Chúng con cùng nhau thọc lét, vì không ngăn được cơn cười nên hết hơi.”
Các Tỳ-kheo quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm mười bảy Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, thọc lét (cù nôn)289 Tỳ-kheo khác, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo thọc lét Sa-di, cho đến súc sanh, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

LV. ĐÙA GIỠN TRONG NƯỚC290

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.291 Bấy giờ, nhóm mười bảy Tỳ-kheo đến sông A-di-la292 lấy nước, liền nhân đó xuống tắm rửa, bơi lặn vui đùa, cút bắt tát nước lên nhau. Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc cùng Mạt-lợi phu nhân,293 lên lầu, từ xa nhìn thấy. Vua nói với phu nhân rằng:
“Xem, ruộng phước của mình kia!”
Phu nhân tâu với vua:
“Đó là do đức Phật chưa chế giới, tuổi nhỏ xuất gia, chưa hiểu giáo pháp, bệ hạ đừng thấy vậy, sanh lòng không kính tín các Tỳ-kheo khác, để rồi mãi mãi chịu khổ!”
Nhóm mười bảy Tỳ-kheo vui chơi đủ kiểu rồi đứng trên nước mặc y. Phu nhân tâu với vua rằng:
“Bệ hạ thử xem kìa, ruộng phước của em thờ là đó.”
Mặc y xong, lấy cái bình nước ném lên hư không rồi bay theo nó, bay qua trên lầu, giống như nhạn chúa. Phu nhân lại tâu với vua:
“Dại vương lại xem ruộng phước của em thờ là đó.”
Nhà vua rất hoan hỷ, lòng kính tín càng tăng.
Ngay sau đó, phu nhân bảo Bà-la-môn Na-lân-già:
“Ngươi đến chỗ đức Phật [59b01] bạch việc này.”
(Ba-lân-già)* liền vâng lệnh đến (trình sự việc lên đức Phật)*. Đức Phật vì ông nói pháp, chỉ bày chỗ lợi ích, khiến cho vui mừng, rồi Phật cho về. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm mười bảy Tỳ-kheo: “Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, đùa giỡn trong nước, Ba-dật-đề.”
Nếu đùa giỡn trong nước cho đến dùng đồ đựng nước để tạt với nhau đều, Ba-dật-đề. Nếu vắt tuyết, cho đến thổi những hạt sương trên đầu ngọn cỏ để chơi đều, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu không nhằm mục đích đùa giỡn thì không phạm.

LVI. NGỦ CHUNG BUỒNG NGƯỜI NỮ294

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.295 Bấy giờ, đức Thế Tôn chưa cấm Tỳ-kheo cùng người nữ ngủ chung nhà296 nên, hoặc có một Tỳ-kheo và một người nữ, hoặc nhiều Tỳ-kheo và số ít người nữ, hoặc số ít Tỳ-kheo và nhiều người nữ ngủ chung nhà, do vậy sanh tâm đắm nhiễm, có người hoàn tục, có người làm ngoại đạo. Các cư sĩ thấy cơ hiềm, nói:
“Bọn Sa-môn này cùng người nữ ngủ chung một nhà, cùng bạch y khác nào đâu! Không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Khi ấy, có một người đàn bà tuổi còn trẻ, chồng chết, nghĩ như vầy: “Nay ta sẽ tìm người lương thiện hợp ý nơi nào?” Lại nghĩ như vầy: “Nay ta không thể tìm đến nhà cửa nào (tìm người hợp ý)*, sẽ làm một cái khách xá,297 để cho người tại gia hay xuất gia đến tạm nghỉ theo ý muốn của họ, rồi từ trong đó sẽ chọn lựa.” liền thực hiện nó. Bà thông báo khách đi đường, ai cần nghỉ đêm thì đến nghỉ.”
Khi ấy, A-na-luật đến thôn đó, trời đã sẩm tối, hỏi nhờ nơi nghỉ đêm. Có người nóí: “ Có nhà bà tên….. (A-na-luật)* liền đến xin nghỉ qua đêm. Trước đây, A-na-luật đã có dung mạo đẹp (đẹp trai), sau khi đắc đạo sắc tướng thường còn đẹp hơn gấp bội. Quả phụ kia trông thấy (A-na-luật)* nghĩ như vầy: “Nay ta có cơ hội được một người chồng đẹp trai rồi.” Liền chỉ chỗ, có thể vào trong đó nghỉ đêm. A-na-luật vào nhà trước ngồi kiết già. Ngồi chưa được bao lâu thì lại có đoàn khách buôn đến xin nghỉ lại đêm. Bà quả phụ nói:
“Tuy bình thường tôi là chủ khách xá, nhưng nay đã cho vị Tỳ-kheo, lại không do tôi nữa.”
Đoàn khách buôn theo lời người chủ khách xá, đến A-na-luật xin nghỉ qua đêm. A-na-luật nói với quả phụ:
“Nếu do tôi thì có thể cho phép hết, được nghỉ đêm.”
Đoàn buôn liền vào nhà trước. (Lúc này)* người quả phụ nghĩ như vầy: “Nên đón Tỳ-kheo vào trong,298 nếu không như vậy, sau ai đến bất ngờ thì sao?.” Liền vào trong trải giường tốt lại, đốt đèn rồi mời A-na-luật: “Thầy có thể vào nhà trong.” A-na-luật liền vào trong ngồi kiết già, buộc ý niệm trước mắt. Sau khi mọi người đã ngủ, Quả phụ đến nói với A-na-luật:
“Đại đức có biết mục đích và chủ ý của tôi (khi làm khách xá này)* không?”
A-na-luật nói:
[59c01] “Tỷ muội! Chủ ý của bà chính là muốn cầu phước đức.”
Người Quả phụ nói:
“Bổn ý của tôi không phải vậy, mà là chuẩn bị để tìm tình nhân (chồng).”
A-na-luật nói:
“Tỷ muội! Chúng tôi không thể làm điều tội lỗi này, Đức Thế Tôn chế pháp cũng không cho phép.”
Người quả phụ nói:
“Tôi là con nhà tộc tánh, ở độ tuổi dồi dào sức lực, lễ nghi hoàn bị, kể cả của báu dư dật, muốn vì Đại đức cung cấp mọi thứ cần dùng, nguyện Đại đức thuận ý cho.”
A-na-luật vẫn trả lời như ban đầu. Người quả phụ lại nghĩ như vầy: “Kẻ nam tử bị mê hoặc bởi sắc, ta cần khoả thân đến đứng trước mặt người.” Ngay lúc đó thoát y đến đứng trước vừa cười, vừa nói. A-na-luật nhắm mắt ngồi thẳng quán tưởng đống xương khô.
Người quả phụ lại nghĩ như vầy: “Ta tuy đã thể hiện như vậy, nhưng vẫn chưa thuyết phục được người, bèn leo lên giường cùng ngồi. Ngay tức thì, A-na-luật vụt bay lên hư không. Quả phụ quá thẹn thùng, tâm sanh hổ thẹn, vội vàng mặc lại y, chắp tay hối quá, thưa:
“Bạch Đại đức, con thật là ngu si, nay con không còn dám nghĩ đến những ý nghĩ đó nữa, nguyện Đại đức rủ lòng thương tha thứ, nhận sự sám hối của con.”
A-na-luật nói: “Tôi nhận sự sám hối của bà” và nhân đó vì bà nói các pháp vi diệu. Đoạn đầu, chặng giữa, đoạn sau đều thiện, nghĩa thiện và vị thiện, đầy đủ tướng thanh bạch Phạm hạnh.299 Bà quả phụ phụ nghe pháp xong liền xa trần cấu đặng con mắt pháp thanh tịnh.
Bấy giờ, A-na-luật liền dựng lại bối cảnh đã qua này đến chỗ đức Phật, luôn cả sự việc của Tỳ-kheo trước trình bày đầy đủ lên Đức Thế Tôn. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cùng người nữ ngủ chung nhà (buồng), Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Người nữ: Cho đến cả mới sinh và người nữ hai căn, ngủ chung nhà đều Ba-dật-đề.
Nhà:300 Như trong giới cùng người chưa thọ Cụ túc đã nói.
Nếu cùng phi nhơn nữ, súc sanh cái, huỳnh môn ngủ chung nhà đều Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu nhà có lợp và có ngăn cách, hoặc đại hội nói pháp, hoặc mẹ hay chị em thân thuộc có bệnh mà có người nam tử hiểu biết làm bạn, không nằm, đều không phạm.

LVII. UỐNG RƯỢU301

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại nước Câu-xá-di.302 Bấy giờ, đức Thế Tôn chưa cấm Tỳ-kheo uống rượu. Có các Tỳ-kheo ở trong quán rượu hay trong nhà bạch y, uống nhiều rượu say túy lúy. Có khi rớt xuống hầm, hào hoặc va vào vách, vào đồ vật; có khi làm cho y bát rách, vỡ, thương tổn đến thân thể. Các bạch y thấy cơ hiềm nói:
“Bạch y chúng tôi còn không có uống rượu, huống là Sa-môn Thích tử [60a01] bỏ đời303 cầu đạo mà lại say rượu nhiều còn hơn người đời, không xứng mặc y hoại sắc cắt rọc, không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ nước Câu-xá-di đến ấp Bạt-đà-việt.304 Khi ấy, nơi ở của Phạm-chí bối tóc có một con độc long, thường phun mưa đá lớn làm hại ruộng lúa. Các cư dân ở đây thường nghĩ như vầy: “Trong số Sa-môn, Bà-la-môn, ai là người có oai đức có thể hàng phục được con rồng này!”
Nghe đức Phật cùng một nghìn hai trăm năm mươi đệ tử đều đến ấp này, không ai là không vui mừng, tất cả đều ra nghinh đón, đảnh lễ sát chân Phật rồi thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, ấp này có một con độc long ác, thường phá hoại ruộng lúa, chúng con hằng mong có được một vị đại oai đức để hàng phục nó.”
Khi ấy, Sa-kiệt-đà305 ở sau quạt hầu Phật, đức Phật liền quay lại hỏi:
“Ông có nghe các cư sĩ này nói những gì không?”
Thưa:
“Có nghe.”
Lần thứ hai, lần thứ ba (Phật)* hỏi và (Sa-kiệt-đà)* trả lời cũng như vậy. Sa-kiệt-đà liền nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn ba lần hỏi lại là đã sai ta hàng phục độc long này.” Sa-kiệt-đà liền đến trước kính lễ sát chân Phật rồi nhiễu quanh mà đi. Đến chỗ con rồng kia, nghĩ như vầy: “Nay ta nên hàng phục con rồng này, nhưng không hoại thân hình, mà khiến thân nó nhỏ lại như cái que cây.” (Sa-kiệt-đà)* liền vào trong nhà Phạm-chí, ngồi lui qua một bên. Thân rồng bèn tuôn ra khói, thân Sa-kiệt-đà cũng tuôn ra khói. Cả thân con rồng thành lửa, cả thân Sa-kiệt-đà cũng thành lửa. Lửa rồng biến thành năm màu, lửa của Sa-kiệt-đà cũng biến thành năm màu. Lúc này, thân rồng biến nhỏ lại như cây que, bỏ vào trong bình bát đem đến chỗ Phật, thưa:
“Bạch đức Thế Tôn, Rồng ác độc này, nayđã bị hàng phục, nên để nó vào chỗ nào?”
Đức Phật dạy:
“Có thể để nó nơi trung gian thế giới.”
Sa-kiệt-đà vâng lời Phật dạy, trong chớp nhoáng như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, đem nó để nơi trung gian thế giới, chỉ trong chốc lác trở về. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn rời ấp Bạt-đà-việt trở về Câu-xá-di. Lúc này, các cư sĩ ấp Bạt-đà-việt nghe Sa-kiệt-đà nghe hàng phục con độc long, tất cả đều rất vui mừng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Vị nào là Sa-kiệt-đà?”
Khi ấy, Sa-kiệt-đà đang đứng phía sau Phật. Các Tỳ-kheo nói: “Là người đang đứng hầu phía sau Phật đó.”
Các cư sĩ đến trước mặt kính lễ sát chân và thưa: “Xin ngài nhận lời thỉnh mời của chúng con.”
(Sa-kiệt-đà)* im lặng nhận lời. Các Cư sĩ thưa:
“Đại đức cần những thức ăn gì?”
Trả lời:
“Khi tôi là bạch y, tánh ưa rượu thịt.”
Cư sĩ hoan hỷ, liền sắm sửa nó. Sa-kiệt-đà đến nhà họ, ăn thịt uống rượu hết sức đầy đủ, rồi trở về lại Câu-xá-di. Khi về đến ngoài Tăng phường, vì bị quá say, nằm bẹp, ói mửa, y bát vung vải lung tung. Bấy giờ, đức Thế Tôn với thiên nhãn từ xa nhìn thấy, bảo Tôn giả A-nan:
“Cùng Ta ra ngoài Tăng phường xem.”
[60b01] Vâng lời dạy, theo Phật ra ngoài chứng kiến hiện tượng này. Đức Phật cùng Tôn giả khiêng lại cạnh giếng nước. Đức Phật tự xách nước dội, còn A-nan thì lau rửa, rồi mặc y vào, để nằm trên giường dây, đầu hướng về đức Phật. Trong giây lát, Sa-kiệt-đà lại trở mình chân đạp Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Sa-kiệt-đà trước đây có kính trọng Như lai không?”
Thưa:
“Có kính trọng.”
Lại hỏi:
“Hiện nay còn kính hay không?”
Thưa:
“Bất kính vậy!”
Lại hỏi:
“Có nên uống rượu để rồi mất bản tính hay không?”
Thưa:
“Không nên.”
Lại hỏi:
“Trước đây, Sa-kiệt-đà có thể hàng phục độc long, nay có thể hàng phục được con ểnh ương hay không?”
Thưa:
“Không thể.”
Các Tỳ-kheo lại đem việc trước kia bạch đầy đủ với đức Phật. Do nhân duyên này, đức Phật bằng mọi cách quở trách các Tỳ-kheo, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, uống rượu,306 Ba-dật-đề.”
Khi đức Phật đã chế giới cấm rồi, nên Sa-kiệt-đà không dám uống rượu. Song vì thói quen trước đây, nên (cơn nghiện nổi lên)* đứt hơi muốn chết, ăn uống lại không tiêu, không biết phải thế nào, do vậy bạch lên Phật. Đức Phật bảo:
“Cho ngửi đồ đựng rượu. Ngửi đồ đựng rượu không lành. Đức Phật dạy: Dùng rượu cho vào trong bánh, hoặc trong cháo hay trong canh cho ăn, nếu ăn vẫn không khỏi. Phật dạy: Cho phép dùng rượu (để chữa bệnh)*.”
Sa-kiệt-đà đã được lành bệnh, liền đem bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Lành rồi nên từ từ bỏ rượu, kể cả việc ngửi đồ đựng rượu. Muốn không làm người xấu trở lại thì không được ngửi rượu nữa.”
Có loại rượu có sắc rượu, vị rượu, hương rượu. Có loại rượu thì có sắc rượu, hương rượu, mà không có vị rượu. Có loại rượu thì có sắc rượu, vị rượu, mà không có hương rượu. Có loại rượu không có cả sắc, hương, vị rượu, uống vào khiến người say; nếu uống chúng đều Ba-dật-đề. Có loại chẳng phải rượu, nhưng có sắc rượu, vị rượu, hương rượu, uống vào khiến người say; nếu uống Đột-kiết-la. Có loại chẳng phải rượu, nhưng có sắc rượu, hương rượu, vị rượu, nhưng không khiến cho người say; cần uống thì cho phép uống nơi chỗ vắng. Nếu Tỳ-kheo uống rượu, mỗi lần nuốt một Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la.

LVIII. BẤT KÍNH307

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.308 Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo không kính Hòa thượng, A-xà-lê, không kính giới, có các Tỳ-kheo cũng bắt chước như vậy. CácTỳ-kheo Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu và cácTỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khinh thầy,309 Ba-dật-đề.”
[60c01] Tỳ-kheo nào khinh ba thầy310 và giới đều Ba-dật-đề. Nếu khinh Tỳ-kheo khác Đột-kiết-la… cho đến thầy sai quét đất mà không quét, bảo quét xuôi gió mà quét ngược gió đều Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

LIX. ĐÀO PHÁ ĐẤT311

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại nước Câu-tát-la,312 cùng đại Tỳ-kheo Tăng năm trăm vị đầy đủ, đến ấp A-trà-tỳ. Bấy giờ, các Tỳ-kheo nơi ấp này nghe đức Phật sẽ đến, mà không có nhà giảng đường, bèn cùng nhau phát cỏ đào đất để làm… cho đến câu: Đức Phật bằng mọi cách quở trách, như trong giới cất giảng đường313 đã nói như trên. Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, tự mình đào đất lấy đất, phạm Ba-dật-đề.”
Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo sai người giữ vườn, Sa-di đào đất lấy đất. Các Tỳ-kheo thấy, nói:
“Đức Phật cấm không được đào đất, tại sao nay các người làm nghiệp ác này?”
Trả lời:
“Tôi sai người đào.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Sai người đào với tự mình đào có gì khác nhau?!”
Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, tự mình đào đất hoặc sai người đào, Ba-dật-đề.”
Có các bạch y cúng vật liệu để làm nhà cho Tăng. Sau thời gian khá lâu đến thăm, thấy không thành, hỏi Tỳ-kheo phụ trách việc xây cất:
“Tại sao không làm, để tôi mau hoàn thành phước đức này?”
Trả lời: “Đức Phật không cho phép chúng tôi tự đào đất hay sai người đào đất thì, làm sao thành được?”
(Các Tỳ-kheo)* đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu cần đất thì nên nói với tịnh nhơn: Biết việc này, xem việc này; tôi cần cái này, cho tôi cái này. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự tay đào đất hoặc sai người đào, nói đào chỗ này,314 Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, không có việc gì mà đào đất, Đột-kiết-la.
Nếu lấy đất khô thì không phạm.

LX. NGHE LÉN ĐẤU TRANH315

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.316 Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo cùng các Tỳ-kheo đấu nhau. Đấu nhau rồi, ở ngoài cửa lén nghe. Nghe rồi, nói với các Tỳ-kheo:
“Tại sao người nói như vậy?”
Hỏi:
“Người nghe ai nói như vậy?”
Trả lời:
“Tôi đứng ngoài cửa nghe.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo biết việc này, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
[61a01] Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, chỗ khuất nghe lén Tỳ-kheo khác nói, Ba-dật-đề.”
Khi ấy, có các Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo tranh biện lý sự phải quấy, có Tỳ-kheo cách vách nghe, sanh nghi: ‘Ta cố ý (nghe)* sẽ không phạm Ba-dật-đề? Có làm xuất tội hối quá, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo lén nghe tranh biện lý sự phải quấy mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tranh đấu nhau rồi lén nghe, nghĩ như vầy: Những gì các Tỳ-kheo nói, ta sẽ ghi nhớ, Ba-dật-đề.”317
Lén nghe Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nói, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni nghe Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nói, Ba-dật-đề; nghe Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nói, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni nghe lén năm chúng nói, Đột-kiết-la.

LXI. TRUYỀN CỤ TÚC CHO NGƯỜI CHƯA ĐỦ TUỔI 20318

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.319 Bấy giờ, nhóm mười bảy đồng tử,320 cha mẹ rất mực thương yêu. Người mẹ nói như vầy:
“Con ta không quen chịu khó nhọc, thể tánh yếu đuối, nên bảo nó học nghề nào cho được sung sướng trọn đời.”
Người cha nói:
“Nên bảo nó học kế toán, hội họa.”
Người mẹ nói:
“Bảo nó học hội họa sợ nó hư con mắt, bảo nó học kế toán sợ nó đau ngón tay, rồi đi đến đau tim.”
Cha mẹ chúng cùng bàn tính:
“Nên bảo nó xuất gia trong dòng họ Thích, đời này khỏi phải làm gì, đời sau được sướng mãi mãi.”
Nhóm mười bảy đồng tử đều muốn xuất gia, chúng cùng nhau bàn:
“Chúng ta cần chờ Ưu-ba-ly đến để từ biệt nhau.”
Khi Ưu-ba-ly đi trở về đến chỗ các đồng tử, các đồng tử nói:
“Bạn có biết chăng! Chúng tôi muốn xuất gia trong giáo pháp của Như Lai, chờ bạn để từ biệt.”
Ưu-ba-ly nghe, cũng thích cùng đi xuất gia, liền trở về xin cha mẹ. Cha mẹ liền cho phép, và nghĩ như vầy: “Nay ai sẽ làm thầy nó?”
Lại nghĩ như vầy: “Tất-lăng-già-bà-ta đem nó từ trong tay giặc trở về, nay nên cho làm đệ tử.”
Họ liền đưa con mình đến Tất-lăng-già-bà-ta thưa rằng:
“Bạch Đại đức, Đại đức đối với đứa nhỏ này có đại ân, nay xin dâng cho ngài, ngài hãy nhận làm đệ tử.”
Tất-lăng-già-bà-ta liền độ nó, cho thọ giới Cụ túc. Thọ giới rồi, ban đêm không thể một mình đến nhà vệ sinh và nơi rửa tay, thường tự (Tất-lăng-già-bà-ta)* dẫn nó. Có khi trong tối, thấy thầy mà không biết, liền gọi là quỉ, thất thanh kêu lớn:
[61b01] “Tỳ-xá-giá! Tỳ-xá-giá! (ma! ma!)”
Thầy nói:
“Đừng sợ, ta chứ không phải ma đâu.”
Hoặc ban đêm đòi ăn, thầy nói:
“Tăng có thức ăn, sáng sớm sẽ cho con.”
Đồng tử hỏi:
“Nếu Tăng không có thức ăn thì sẽ có được ở đâu?”
Thầy nói:
“Nếu Tăng không có thì sẽ đi xin.”
Nghe những lời này rồi, bèn khóc lớn, nói:
“Tỳ-kheo khất thực trở về thì chúng con đã chết rồi.”
Ban đêm, đức Phật nghe tiếng khóc, thời hỏi Tôn giả A-nan:
“Đó là tiếng khóc của ai?”
Tôn giả trình bày đầy đủ việc này lên đức Phật. Nhân việc này, sáng sớm đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tất-lăng-già-bà-ta:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách:
“Ngươi không nên cho người chưa đủ hai mươi tuổi thọ giới Cụ túc. Người chưa đủ hai mươi tuổi phần nhiều không thể kham nhẫn, có thể đưa đến việc phá giới.”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cho người chưa đủ hai mươi tuổi thọ giới Cụ túc, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, đồng tử Ca-diếp không đủ hai mươi tuổi thọ Cụ túc giới, sau đó mới sanh nghi, không biết giải quyết thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Đồng tử Ca-diếp có sở đắc gì không?”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Đắc Tu-đà-hoàn.”
Đức Phật dạy:
“Người này mới là thọ giới Cụ túc đệ nhất, song không gọi là bạch tứ Yết-ma như pháp thọ giới. Nay cho phép tính tuổi trong thai để đủ hai mươi tuổi. Nếu vẫn chưa đủ thì cho phép tính tháng nhuần để cho đủ. Nếu lại không đủ thì lại cho phép dùng đến tuổi Sa-môn(?) cho đủ.321 Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết người chưa đủ hai mươi tuổi mà trao cho giới Cụ túc,322 Ba-dật-đề.”
Người ấy (chưa đủ hai mươi tuổi mà cho thọ giới Cụ túc)* không đắc giới, các Tỳ-kheo cũng bị quở trách, pháp ấy phải như vậy.323 Chưa đủ hai mươi, tưởng là chưa đủ hai mươi, nghi là chưa đủ hai mươi, Ba-dật-đề. Đủ hai mươi, tưởng là chưa đủ, đủ hai mươi mà nghi, Đột-kiết-la. Nếu biết không đủ hai mươi, khởi ý niệm muốn cho thọ Cụ túc giới, và tạo phương tiện, đến Yết-ma lần thứ tư chưa xong, đều Đột-kiết-la. Yết-ma lần thứ tư xong, Hòa thượng Ba-dật-đề, Sư Tăng khác Đột-kiết-la.

LXII. THUỐC BỐN THÁNG324

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở nước Câu-tát-la,325 cùng năm trăm vị đại Tỳ-kheo Tăng đi đến thành Ca-duy-la-vệ. Những người họ Thích nghe Phật từ nước Câu-tát-la đến, cùng lập ra định chế: “Nếu không ra nghinh đón Phật sẽ bị phạt năm trăm kim tiền.” Do đó, lớn bé mọi nhà đều ra nghinh đón đức Thế Tôn, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật vì họ nói pháp chỉ bày sự lợi ích, khiến cho hoan hỷ, cùng nhau thỉnh Phật và Tăng an cư bốn tháng mùa Hạ. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Mỗi người đều [61c01] tùy theo khả năng cúng dường; hoặc một gia đình cúng một ngày cho đến mười ngày, hoặc hai gia đình cùng cúng một ngày, cho đến mười gia đình; hoặc bữa ăn trước, hay bữa ăn sau, hoặc chỉ cúng đát-bát-na,326 hoặc chỉ cúng cháo, hoặc chỉ cúng nước tắm, hoặc chỉ cúng nước uống buổi chiều, hoặc cúng dầu thoa thân, thoa chân, dầu thắp đèn.
Bấy giờ, Thích Ma-nam327 không có ở nhà, nên chưa có ai nhận được sự cúng dường của ông, hỏi người xung quanh:
“Có vị nào nhận vật cúng dường của tôi?”
“Chưa có ai nhận.”
Ông lại hỏi:
“Những tài vật cúng dường nào, đức Phật và Tăng chưa nhận được?”
Trả lời:
“Chỉ có thuốc (trị bệnh, Phật và Tăng)* chưa nhận được.”
Thích-ma-nam liền xin cúng thuốc bốn tháng mùa Hạ328 cho Phật và Tăng, hoặc tự dâng, hoặc sai người dâng. Ông lại đến chỗ nhóm sáu Tỳ-kheo nói:
“Đại đức cần thuốc gì tùy ý đến lấy.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nay vua xin cúng thuốc cho Phật và Tăng trong bốn tháng an cư, hoặc sai người đến dâng cho đến tự dâng lên, mà lại bảo ta tự đến nhận, xem ra tâm nhà vua này có sự khinh thường chúng ta. Chúng ta sẽ chờ khi năm thân tộc họp, đến xin thứ thuốc hiếm khó có được, chắc nhà vua không có, khiến ông ta phải hổ thẹn!” Họ lại nghĩ như vầy: “Nhà vua này phước đức, cũng có thể là, không thứ thuốc nào là không có. Trước hết ta nên tìm hỏi mọi người những loại nào không có, sau đó sẽ đến xin.” Họ liền đi tìm hỏi thì chỉ một loại không có. Lúc này, họ chờ ngày năm thân tộc của vua họp, liền đến xin thuốc. Nhà vua sai người đi tìm khắp trong nước nhưng không có. Vua nói với nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Tìm kiếm khắp nơi mà tuyệt không thể có.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói với vua:
“Nhà vua tự thỉnh Phật và Tăng cúng thuốc chữa bệnh trong bốn tháng mà nay không cho tôi một thứ nào!”
Nhà vua nói:
“Thưa Đại đức! Không phải là không muốn cúng, cũng không phải là không có thuốc, chỉ vì thứ thuốc mà thầy cần, trẫm tìm hỏi tuyệt nhiên không có; hơn nữa bốn tháng đã qua sao phải làm khổ cho nhau!”
Nhóm sáu Tỳ-kheo lại làm nhục nhà vua trước công chúng:
“Trước đây nói với chúng tôi cứ đến lấy thuốc theo nhu cầu, mà nay không nhận được một thứ nào!”
Các Tỳ-kheo nghe, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các thầy nói những gì?”
Nhóm sáu Tỳ-kheo đem sự thật mà trả lời.
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận sự cúng dường tùy ý trong bốn tháng,329 nếu nhận quá thời hạn ấy, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo, thường mắc phải bệnh mùa Thu, Thích Ma-nam đến tận phòng thăm hỏi:
“Đại đức mắc phải bệnh gì?”
Trả lời:
[62a01] “Chúng tôi mắc phải bệnh mùa Thu.”
(Ma-ha-nam)* liền thưa với Tỳ-kheo:
“(Quí ngài)* có thể đến tôi lấy thuốc.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Trước đây vua cúng bốn tháng, nay đã qua, đức Phật không cho phép chúng tôi nhận thuốc quá thời gian này.”
Vua liền xin cúng lại thêm một tháng.
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận lại.”
(Nhà vua)* không biết làm thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận sự mời cúng lại một tháng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận sự cúng dường tùy ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ thỉnh lại, Ba-dật-đề.”
Có các cư sĩ lại đến thăm phòng Tăng, thấy các Tỳ-kheo mắc bệnh mùa Thu, hỏi:
“(Các thầy)* cần những thuốc gì con sẽ đem đến?”
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật chưa cho chúng tôi nhận (cúng dường)* thuốc từ thí chủ mang đến.”
Họ không biết làm sao, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận sự mời (cúng dường)* từ thí chủ mang đến. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận sự mời tuỳ ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ thỉnh lại, tự đem đến, Ba-dật-đề.”
Khi ấy, Thích-ma-nam nghĩ như vầy: “Nhóm sáu Tỳ-kheo vì thuốc nên đã mạ nhục ta trước mọi người. Nay ta cần tập trung nhiều thứ thuốc.” Nay ta nên gom các loại thuốc về. Khi đã gom các loại thuốc rồi, ông lại nghĩ như vầy: “Như số thuốc này ta dùng trọn đời cũng không hết, nay ta nên thỉnh các Tỳ-kheo để cúng thuốc trọn đời.” Vua liền đến các Tỳ-kheo thỉnh (cúng thuốc)* lâu dài.
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận sự thỉnh (cúng)* lâu dài.”
Không biết phải làm thế nào, (Ma-ha-nam)* đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nhận sự thỉnh lâu dài. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nhận sự thỉnh tuỳ ý bốn tháng, nếu nhận quá, trừ thỉnh lại, tự đem đến, thỉnh lâu dài,330 Ba-dật-đề.”
Nếu người cúng thuốc cho Tăng thì Tỳ-kheo giúp việc cho Chúng nên hỏi:
“Thuốc này nên để trong tụ lạc (thôn xóm) hay để trong Tăng phường?”
Nếu nói để trong tụ lạc thì khi cần nên bảo:
“Tôi cần thứ thuốc như vậy, vì tôi mà chuẩn bị cho đừng để thiếu thốn.”
Nếu nói để trong Tăng phường thì nên để phòng giữa cho dễ lấy được. Tăng nên tác pháp bạch nhị Yết-ma, sai một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay dùng phòng… để thuốc cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay dùng phòng… để thuốc cho Tăng. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý dùng phòng… để đựng thuốc cho Tăng rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Các Tỳ-kheo không biết ai nên giữ thuốc cho Tăng, [62b01] đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Tăng nên bạch nhị Yết-ma sai một Tỳ-kheo giữ thuốc. Một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo tên là… vì Tăng làm người giữ thuốc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo tên… vì Tăng làm người giữ thuốc. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã sai Tỳ-kheo tên… làm người giữ thuốc rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Lúc ấy, các Tỳ-kheo sai Tỳ-kheo vô trí, không kham việc giữ thuốc, nên đem việc này bạch lên Phật.
Đức Phật dạy:
“Không nên sai Tỳ-kheo vô trí. Nếu (vị nào)* thành tựu năm pháp thì mới sai làm người giữ thuốc cho Tăng. Những gì là năm? Không làm theo ái, giận, si, sợ, biết rõ thuốc hay chẳng phải thuốc. Tỳ-kheo giữ thuốc cho Tăng kia nên dùng vật dụng mới để đựng Ha-lê-lặc,331 A-ma-lặc,332 Tỳ-hê-lặc,333 Tất-bạt-la,334 gừng khô, đường mía, mật mía. Nếu đồ đựng không rỉ chảy nên đựng bơ trong, dầu, mật, nên dùng da bịt miệng, để tên thuốc vào. Nếu Tỳ-kheo nào bệnh cần thứ gì nên hoan hỷ đưa. Nếu người bệnh tự biết nên dùng thuốc gì thì tự lấy dùng. Nếu không biết thì nên hỏi thầy thuốc. Không có thầy thuốc thì nên hỏi Hòa thượng, A-xà-lê rằng: ‘Con bệnh như vậy, như vậy, nên uống thuốc gì?’ Nếu Hòa thượng, A-xà-lê không biết thì nên lấy thuốc uống thử ba lần, không bớt, thì lấy thứ thuốc khác uống. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.”

LXIII. KHÔNG CHỊU HỌC GIỚI335

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.336 Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo thường xuyên phạm giới, các Tỳ-kheo can gián:
“Các người thường xuyên phạm giới, nên tự mình thấy tội, như pháp sám hối, đừng nên để việc làm này phụ lòng tin của tín thí, phải thọ khổ lâu dài.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói: “Chúng tôi không học giới này. Trước hết chúng tôi sẽ hỏi vị trì pháp, trì luật trí tuệ phải hơn thầy.”
Các Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ngươi là những người ngu si, không nên tạo ra các ác nghiệp này. Các Tỳ-kheo vì muốn không cùng các ngươi Bố-tát, Tự tứ, làm các Yết-ma; mẫn niệm các ngươi nên như pháp can gián các ngươi. Tại sao các ngươi nói: ‘Chúng tôi không học giới này! Trước hết chúng tôi sẽ hỏi vị trì pháp, trì luật có trí tuệ hơn thầy đã!’”
Quở trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
[62c01] Tỳ-kheo nào, thường xuyên phạm tội,337 các Tỳ-kheo như pháp can gián, lại nói như vầy: ‘Tôi không học giới này, sẽ nạn vấn Tỳ-kheo trì pháp, trì luật khác đã’, Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Tỳ-kheo muốn tìm hiểu thì nên hỏi vị trì pháp, trì luật, điều này nên như vậy.
Trì pháp: Là người trì tụng những pháp do Phật nói.
Người trì luật có năm hạng: Một là tụng bốn việc cho đến hai bất định. Hai là tụng bốn việc cho đến ba mươi việc. Ba là tụng hết hai trăm năm mươi giới. Bốn là tụng hết hai bộ luật. Năm là tụng hết tất cả luật.
Nếu Tỳ-kheo không tụng giới, chẳng phải mùa an cư thì nên nương vào bốn hạng trì luật trước; trong mùa an cư nên nương vào vị tụng hết tất cả luật. Nếu không nương vào thì Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.338

LXIV. VÔ TRI HỌC GIỚI339

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.340 Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo thường xuyên phạm giới. Các Tỳ-kheo can gián, như giới trên đã nói,cho đến câu: “Đừng để phải chịu khổ lâu dài.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo hỏi:
“Đối với giới (pháp) này đức Phật chế ở đâu?”
Các Tỳ-kheo nói:
“Người không biết sao?”
Trả lời:
“Không biết.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Nay, sẽ nói cho các người, nơi chốn chế giới (pháp).”
Trong khi thuyết giới liền nói rằng:
“Ở nơi đây, Ta (Phật) chế giới (pháp).”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:
“Nay tôi mới biết giới (pháp) này, mỗi nửa tháng Bố-tát, nói ra từ giới kinh.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khi thuyết giới, nói như vầy: ‘Nay tôi mới biết pháp này, mỗi nửa tháng Bố-tát, nói ra từ trong giới kinh.’ Các Tỳ-kheo [63a01]biết Tỳ-kheo này đã 2, 3 lần khi nói giới ngồi nghe. Tỳ-kheo này không phải do vì không biết mà thoát khỏi tội.341 Tuỳ theo chỗ phạm tội như pháp trị; nên quở trách điều không biết kia là không tốt. Khi thuyết giới không nhất tâm để nghe, không để ý, Ba-dật-đề.”342
Nếu Tỳ-kheo cho người thọ Cụ túc giới để thành Tỳ-kheo thì liền nên vì họ dạy đầy đủ luật.343 Nếu 2, 3 lần họ đã ngồi nghe giới, biết hay không biết, mà nói như vậy, phạm Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.

LXV. THÂM NHẬP VƯƠNG CUNG344

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.345 Bấy giờ, các Tỳ-kheo thường vào trong cung vua Ba-tư-nặc, thấy các mỹ nữ, sanh tâm đắm nhiễm, không thích tu Phạm hạnh, hoặc có vị ra đời làm ngoại đạo. Các đại thần thấy, nói như vầy:
“Tại sao nhà vua không để các cung nữ nơi chỗ kín đáo, (mà cứ để nơi trống trải)* khiến cho ai cũng thấy được?”
Bấy giờ, Tôn giả A-nan thường nhận được sự cúng dường của vua, sáng sớm, khoác y bưng bát vào trong hậu cung. Khi ấy, vua cùng Mạt-lợi phu nhân còn đang ngủ chưa dậy. Mạt-lợi phu nhân thấy Tôn giả đến, vội vàng luống cuống áo ngủ rớt xuống giường. Vì áo ngủ rất mịn và trơn, vô tình tuột xuống, nên (phu nhân)* xấu hổ ngồi sụp xuống đất.
Vua liền cơ hiềm nói:
“Vì việc triều đình ta nhọc nhằn đến đêm tối mới ngủ nghỉ, không thể dậy sớm được. Tỳ-kheo sáng sớm đi thẳng vào đây là thế nào!?”
Tôn giả xấu hổ liền trở về chỗ Phật, trình bày việc các Tỳ-kheo vào cung đầy đủ, cùng đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheoTăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật lại tự nói lên việc của Tôn giả A-nan. Bằng mọi cách quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Vào trong hậu cung vua sẽ phát sanh 10 điều lỗi lầm:
– Một, nếu khi vua say gần gủi với cung nữ khác, hết say liền quên; nếu chợt có cung nữ nào đó mang thai, tất Tỳ-kheo sẽ bị nghi.
– Hai, cung nữ thấy Tỳ-kheo lại có ý vui đùa, (Tỳ-kheo)* sẽ bị nghi là có tình ý.
– Ba, nếu vua có cơ mật nào bị người biết được, thì Tỳ-kheo sẽ bị nghi là người đưa tin.
– Bốn, nếu trong cung vua mất bảo vật, thì (Tỳ-kheo)* sẽ bị nghi là người lấy.
– Năm, nếu vị quan nào bị mất chức, người ngoài ắt nói do Tỳ-kheo (sàm tấu).
– Sáu, nếu có người gặp tội, thì người ngoài ắt nghi là do Tỳ-kheo làm.
– Bảy, nếu có người chưa đáng ban chức quan mà vua ban cho, (người ngoài)* cũng lại nghi là do thế lực của Tỳ-kheo.
– Tám, nếu vua ưa đi du ngoạn phí công sức nhiều việc, thì Tỳ-kheo cũng lại bị nghi hiềm là xúi sử.
– Chín là trong cung nhiều các mỹ sắc, phục sức quí báu, Tỳ-kheo thấy sinh tâm nhiễm trước, bỏ đạo.
– Mười, nếu trong vương tử có người phản nghịch [63b01], thì Tỳ-kheo ắt lại bị nghi là người bày vẽ.”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, vào trong cung vua, quá ngạch cửa, Ba-dật-đề.”
Sau khi Phật đã chế giới cấm, các Tỳ-kheo vì vậy không dám bước qua cửa thành để khất thực, nên không biết làm thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép vào cung, nhưng không được đi quá cửa hậu cung. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, vào cung vua, quá hạn cửa hậu cung, Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc thường năm cùng các cung nữ xuất hành khắp nước, nơi nào cũng đều có Biệt quán (nơi nghỉ riêng của vua) khi lìa cung. Có các Tỳ-kheo vào buổi chiều đi đến thôn xóm, tìm xin nơi nghỉ lại đêm. Các cư sĩ nói:
“Cung này (biệt quán), nay không có vua, có thể vào trong nghỉ đêm. Vua tin kính Phật pháp, nếu có nghe tất cũng hoan hỷ.”
Các Tỳ-kheo không dám vào nên không có chỗ nghỉ đêm. Đem việc này được bạch Phật. Nhân đó, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo vào cung trống của vua nghỉ đêm. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khi vua346 chưa ra khỏi (chỗ để)* đồ báu, đồ báu chưa được thu cất; nếu vào quá hạn cửa hậu cung, Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Đồ báu: Vật quí trọng và các nữ sắc đều gọi là báu.
Chưa ra: Nghĩa là người nữ còn ở trong cung.
Chưa cất: Nghĩa là người nữ ở trong cung chưa ẩn giấu.
Khi ấy, nếu vào quá hạn cửa hậu cung, cả hai chân, Ba-dật-đề. Tùy theo sự vào trong xa hay gần mỗi bước phạm một Ba-dật-đề. Nếu bước qua một chân, Đột-kiết-la. Vào các nhà đại thần, trưởng giả, vào quá bên trong cửa, Đột-kiết-la. Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Nếu vua mời vào thì không phạm.

LXVI. ĐI CHUNG VỚI CƯỚP347

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.348 Bấy giờ, hai nước Câu-tát-la và Ma-kiệt xâm lược nhau.349 Đường sá đi lại giữa hai nước bị cắt đứt. Tỳ-kheo thành Vương Xá an cư xong, nghĩ như vầy: “Nay ta cần phải cùng với bọn giặc350 làm bạn, mới tự mình đến viếng thăm Đức Thế Tôn được. Dù lính tuần canh đóng chốt, cho là ta cùng làm bạn với giặc mà bắt thì, vua Ba-tư-nặc tin ưa Phật pháp tất cũng không thấy có tội.” Liền cùng bọn giặc đi đến biên giới kia, quả nhiên bị bắt giải đến đồn chỉ huy tuần canh. báo cáo:
“Đây là giặc.”
Tướng (chỉ huy) tuần canh hỏi:
“Những người mặc áo cà sa lại là những ai?”
Trả lời: “Cũng là giặc.”
Các Tỳ-kheo bèn tự nói:
“Chúng tôi không phải là giặc, là Sa-môn Thích tử, an cư nơi thành Vương Xá xong, cần đến viếng thăm đức Thế Tôn, vì trên đường nguy hiểm nên cùng làm bạn với họ vậy.”
Tướng (chỉ huy) tuần canh nói:
[63c01] “Các ngươi không phải là Sa-môn Thích tử, chắc là đội lốt này đến làm mật vụ.”
Liền áp giải về triều đình. Các Tỳ-kheo tự khai như trước. Vua liền phóng thích họ. Các quan tả hữu, có người không tin là Sa-môn, nói:
“Đây là giặc, giả mặc y phục Tỳ-kheo, vì vua tin ưa Phật pháp nên vua phóng thích họ.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng giặc làm bạn đồng hành, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo cùng giặc đi chung một đường mà không biết là giặc, khi đã biết liền hổ thẹn và cho rằng phạm Ba-dật-đề, hoặc tránh bên đường, hoặc đi sau.
Giặc liền hỏi:
“Tại sao các ông làm như vậy?”
Trả lời:
“Đức Phật cấm không cho chúng tôi cùng làm bạn đi với các ông.”
Bọn giặc nghe những lời này, liền nổi giận dữ, đánh các Tỳ-kheo rồi lột hết y áo. Khi trở lại trú xứ, các Tỳ-kheo đem sự việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Không biết là giặc, cùng đi với họ, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, biết là giặc mà làm bạn đồng hành, phạm Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo, trên đường đi, tình cờ gặp giặc, bèn sanh hổ thẹn, cho rằng phạm Ba-dật-đề, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu không hẹn, tình cờ gặp giặc trên đường đi mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, hẹn với giặc làm bạn đồng hành, phạm Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo hẹn cùng giặc đồng hành đường gần, nhưng có người không đi, có người đi đường khác, họ đều sanh nghi: Chúng ta sẽ không phạm Ba-dật-đề chứ!” Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
Tuy cùng giặc hẹn đồng hành đường gần, cuối cùng không đi, hoặc đi đường khác, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cùng hẹn giặc đồng hành một đường, từ tụ lạc này đến tụ lạc kia, Ba-dật-đề.”
Nếu hẹn cùng Tỳ-kheo ác đồng hành, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu có các nạn khởi, hẹn cùng đi thì không phạm.

LXVII. ĐI CHUNG VỚI NGƯỜI NỮ351

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.352 Bấy giờ các Tỳ-kheo cùng người nữ đi chung đường, [64a01] hoặc một Tỳ-kheo cùng một người nữ, cho đến số đông; hoặc hai Tỳ-kheo, cho đến số đông cùng đi với một người nữ, cho đến số đông cùng lội qua sông, thấy hình lẫn nhau nên sanh tâm đắm nhiễm, hoặc có vị hoàn tục làm ngoại đạo. Các Cư sĩ thấy cơ hiềm nói:
“Sa-môn Thích tử cùng người nữ đi chung đường, có gì là khác với dẫn vợ đi, ai biết bọn này hành Phạm hạnh, không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Bấy giờ, có một cư sĩ thường đánh vợ mình, đánh vợ rồi bỏ đi. Người vợ nghĩ như vầy: “Chồng thường đánh mình, hoặc là có thể bị giết, nay nên trốn đi.” Thế là liền lìa bỏ xóm làng ra ngoài. Gặp một Tỳ-kheo, bà đến hỏi:
“Đại đức đi đâu?”
Trả lời: “Muốn đến chỗ đó.”
Lúc này, người nữ bèn đi theo sau. Chồng bà ta, (sau khi ra đi)* lại nghĩ như vầy: “Vừa rồi ta đánh vợ, hoặc có thể nó tự tử.” Liền vội trở về nhà tìm vợ, không thấy, hỏi người hàng xóm:
“Có thấy vợ tôi không?”
Mọi người đều đáp:
“Không thấy.”
Ông liền đi ra ngoài thôn xóm, gặp một nữ ngoại đạo, hỏi:
“Có thấy người đàn bà như vậy như vậy hay không?
Trả lời: “Thấy Sa-môn Thích tử dẫn đi.”
Người này liền vội vã đuổi theo, khi đuổi theo kịp, nói Tỳ-kheo:353
“Vì sao dẫn vợ tôi tẩu thoát?”
Tỳ-kheo nói:
“Tôi không làm nghiệp ác, vợ ngươi đi cùng đường với tôi mà thôi.”
Người vợ lại nói với ông chồng:
“Chớ sanh ác tâm đối với Tỳ-kheo này, tôi cùng đi đồng đường, như thân thuộc không gì khác.”
Ông chồng nghe vợ nói liền nghĩ như vầy: “Nhà ngươi lại lừa dối, chắc đã có ác sự.” Ông ta liền đánh Tỳ-kheo gần chết mới thôi.
Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: “Nay ta quả thật đã kiệt sức không thể tiếp tục lên dường, cần nhập hỏa quang tam-muội tự vận dụng hơi thở để lấy lại sức khoẻ, rồi sẽ tiến lên trước.” Nghĩ xong, liền thu xếp y bát, nhập hỏa quang tam-muội, trong thân tuôn ra khói.
Người đàn bà kia thấy vậy nói với chồng bà:
“Ông không tin lời nói của tôi, ông xem những gì từ thân Tỳ-kheo tuôn ra?”
Trong chốc lát cả thân của vị Tỳ-kheo kia bay lên rổng suốt. Người vợ lại nói:
“Ông không tin lời của tôi! Ông xem lại thân của Tỳ-kheo kia thế nào?”
Vị Tỳ-kheo kia liền dùng sức tam-muội này, đến nơi chỗ đức Phật, cùng đem việc đã xảy ra bạch hết với Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đi cùng đường với người nữ, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo cùng đi, trên đường gặp các người nữ cùng đi đường này, tâm sanh nghi hối: [64b01] “Chúng ta sẽ không phạm Ba-dật-đề chăng? Đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo nào, không hẹn với người nữ mà đi cùng đường, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, hẹn với người nữ, cùng đi chung đường, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo hẹn cùng người nữ cùng đi chung đường, rồi sau không dám đi, hoặc đi đường khác, cũng sanh nghi hối, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo nào, tuy trước đó đã hẹn cùng người nữ cùng đi chung đường, cuối cùng không đi, hoặc đi đường khác, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, hẹn với người nữ cùng đi chung đường, từ thôn xóm này đến thôn xóm khác,354 Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

LXVIII. ĐỐT LỬA355

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại nước Câu-tát-la,356 cùng đại Tỳ-kheo Tăng một nghìn hai trăm năm mươi vị, du hành trong nhân gian. Các Tỳ-kheo hoặc ở trong nhà, hoặc ở bên gốc cây, hoặc ở nơi đất trống. Khi ấy nhóm sáu Tỳ-kheo cùng nhóm mười bảy Tỳ-kheo tập trung một đống củi, cỏ lớn nơi đất trống rồi đốt lửa ngồi xung quanh sưởi ấm. Lúc ấy, có một con rắn từ trong bộng cây bò ra, các Tỳ-kheo thấy, lấy đồ ném nó. Con rắn liền trở vô, bị nóng lại bò ra, các Tỳ-kheo lại ném nó nữa, con rắn lại bò vô. Trong chốc lát, nó bò ra lại, cắn vị Tỳ-kheo ném nó, chết ngay. Các Tỳ-kheo vây quanh khóc kể.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão hỏi:
“Tại sao các thầy khóc kể vậy?”
Thưa:
“Tỳ-kheo này bị rắn qua đời!” Họ trình bày đầy đủ sự việc trên.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao các thầy thấy rắn bò ra ba lần, vẫn cố không tránh, để đưa đến khiến nó cắn chết?!”
Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đốt lửa, Ba-dật-đề.”
Một hôm, nhóm sáu Tỳ-kheo sai người giữ vườn, Sa-di đốt lửa. Các Tỳ-kheo Trưởng lão thấy quở trách:
“Các thầy há không nghe, đức Phật cấm, không được đốt lửa?!”
Thưa:
“Chúng tôi bảo người giữ vườn, Sa-di đốt thì đâu có phạm.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Tự mình đốt, sai người đốt có khác nhau những gì?!”
(Các Tỳ-kheo)* đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
[64c01] “Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đốt lửa, hay sai người đốt lửa, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo bệnh hỏi thầy thuốc, thầy thuốc nói:
“Nên uống thứ thuốc như vâỵ và đun nước nóng tắm rửa.”
Tỳ-kheo bệnh nói:
“Đức Phật không cho phép chúng tôi tự đốt lửa và sai người đốt, xin chỉ lại cho tôi uống thứ thuốc khác.”
Thầy thuốc nói:
“Đại đức, phải uống thứ thuốc này và đun nước nóng tắm rửa.”
Các Tỳ-kheo lại nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép chúng ta tự đốt lửa hay sai người đốt thì bệnh mới lành được.” Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo bệnh được đốt lửa hoặc sai người đốt. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, tự mình đốt lửa, hoặc sai người đốt, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo cần nấu canh, nấu cháo, không dám nhóm lửa, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo nấu canh, nấu cháo, chứ không được vì sưởi ấm mà đốt lửa. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, vì sưởi ấm mà đốt lửa, Ba-dật-đề.”
Các Tỳ-kheo muốn đốt lửa để xông bát và đốt đèn đuốc ngăn thú dữ, không biết làm thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo có nhân duyên như vậy tự đốt lửa hay bảo người đốt. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, không bệnh, vì sưởi ấm mà tự mình đốt lửa hoặc sai người đốt, Ba-dật-đề.”
Nếu vì sưởi ấm mà đốt lửa, ngọn lửa lên cao cho đến bốn ngón tay, Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

287 Tăng-kỳ 19, tr. 380c24: Ba-dật-đề 66; Tứ phần 16, tr. 673a01: Ba-dật-đề 53; Thập tụng 16, tr. 112a28; Căn bản 40, tr. 848c19: Ba-dật-đề 63. Pāli, Pāc. 52, Aṅgulipatodaka.
288 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
289 Tăng-kỳ: “Dùng ngón tay chỉ trỏ nhau”; Tứ phần: “Dùng ngón tay thọc lét nhau” Thập tụng, Căn bản: “Dùng ngón tay thọc lét người khác.”
290 Tăng-kỳ 19, tr. 380a23: Ba-dật-đề 65; Tứ phần 16, tr. 672b20: Ba-dật-đề 52; Thập tụng 16, tr. 112b11; Căn bản 40, tr. 849a08: Ba-dật-đề 64. Pāli, Pāc. 53, Udake hasadhammo.
291 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
292 Sông A-di-la 阿夷羅河. Skt=Pāli: Aciravatī. Con sông này chảy ngang qua Kosala, và tại Sāvatthi một rừng cây ưu-đàm (udumbara) mọc bên bờ sông; có thể nhìn thấy nó từ sân thượng của cung điện của vua Ba-tư-nặc (Pasenadi). (xem thêm cht. 126, Ch. iv, Ni-tát-kỳ 17).
293 Mạt-lợi phu nhân 末利夫人. Pāli: Mallikā.
294 Tăng-kỳ 19, tr. 382b26: Ba-dật-đề 69; Tứ phần 11, tr. 637a29: Ba-dật-đề 04; Thập tụng 16, tr. 112c22, Căn bản 40, tr. 849b26: Ba-dật-đề 65. Pāli, Pāc. 6, Mātugāmena sahaseyyaṃkuppeti.
295 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
296 Hán: Đồng thất 同室, chung nhà. Chính xác là chung buồng, chung phòng. Pāli: sahaseyya, ngủ cùng phòng.
297 Khách xá 客舍. Pāli: Một người nữ có dựng một phúc đức xá (āvasathāgāra), nhà trọ miễn phí.
298 Hán: Nhập nội 入內. Tứ phần: Xá nội 舍內; chính xác, nên hiểu là buồng trong. Pāli: mañcakaṃ abbhantaraṃ, giường ở buồng trong.
299 Tứ phần: “Nói các pháp vi diệu, như ý nghĩa về bố thí, về trì giới, về ý nghĩa sanh thiên. Tôn giả chê trách dục là bất tịnh, là thấp hèn, là hữu lậu, là kết phược. Tôn giả khen ngợi sự an lạc của xuất ly, ích lợi của giải thoát.
300 Nhà, Hán: thất 室. Thập tụng: Xá 舍. Các bộ khác đều nói là thất. Pāli: seyya, buồng ngủ; định nghĩa: hoặc được che lợp kín; hoặc được bao che kín; hoặc che lợp một phần; hoặc bao quanh một phần.
301 Tăng-kỳ 20, tr. 386c13: Ba-dật-đề 75; Tứ phần 16, tr. 671b21: Ba-dật-đề 51; Thập tụng 17, tr. 120b29, Căn bản 42, tr. 857a13: Ba-dật-đề 79. Pāli, Pāc. 51, Surāmerayapāna.
302 Tăng-kỳ: Câu-thiểm-di 拘睒彌; Tứ phần: Chi-đà quốc 支陀國; Thập tụng: Chi-đề quốc 支提國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
303 Hán: Xả luỵ 捨累.
304 Ấp Bạt-đà-việt 跋陀越邑: Pāli. Bhaddavatikā, gần nước Câu-xá-di.
305 Sa-kiệt-đà 沙竭陀. Tăng-kỳ, Căn bản: Thiện Lai 善來. Tứ phần: Sa-già-đà 娑伽陀. Thập tụng: Sa-già-đà 莎伽陀. Pāli: Sāgata.
306 Pāli: Surāmerayapāna, uống rượu mạnh, uống chất gây say.
307 Tăng-kỳ 20, tr. 487b25: Ba-dật-đề 76; Tứ phần 16, tr. 673a24: Ba-dật-đề 54; Thập tụng 17, tr. 120a02, Căn bản 42, tr. 856c22: Ba-dật-đề 78. Pāli, Pāc. 54, Anādariya.
308 Tăng-kỳ: Câu-thiểm-di quốc 拘睒彌國; Tứ phần: Câu-thiểm-tỳ quốc 拘睒毘國; Thập tụng: Câu-xá-di 俱舍彌國; Căn bản: Vương-xá thành 王舍城.
309 Hán: Khinh sư 輕師; Tăng-kỳ: Khinh tha 輕他, coi thường các Tỳ-kheo, khi Tăng gọi thì không đến. Thập tụng, Căn bản: Bất cung kính 不恭敬, coi thường đại chúng Tỳ-kheo. Pāli: anādariya, bất kính. Tứ phần: Bất thọ gián 不受諫, không nhận lời can gián.
310 Ba thầy 三師: Thầy Hòa thượng, thầy Yết-ma (A-xà-lê), thầy Giáo thọ.
311 Tăng-kỳ 19 tr. 384c10: Ba-dật-đề 72; Tứ phần 11, tr. 641a11: Ba-dật-đề 10; Thập tụng 16, tr. 117b16, Căn bản 41, tr. 854a07: Ba-dật-đề 73; Pāli, Pāc. 10, Pathavīkhaṇana.
312 Tăng-kỳ; Tứ phần: Khoáng Dã thành曠野城; Thập tụng: A-la-tỳ阿羅毘國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
313 Xem Ba-dật-đề 11: Phá hoại thực vật.
314 Tăng-kỳ: “Sai người đào, hoặc chỉ điểm chỗ đào.” Thập tụng: “Chỉ dạy người khác đào, bảo, ‘Ngươi hãy đào chỗ này’.”
315 Tăng-kỳ 20, tr. 588a: Ba-dật-đề 77; Tứ phần 18, tr. 688a01: Ba-dật-đề 77; Thập tụng 17, tr. 119a27, Căn bản 41, tr. 855c20: Ba-dật-đề 76. Pāli, Pāc. 78, Upassuti.
316 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
317 Tứ phần: Tỳ-kheo nào, sau khi các Tỳ-kheo cùng tranh cãi nhau, nghe lời người này đem qua nói với người kia, Ba-dật-đề.
318 Tăng-kỳ 19, tr. 383a12: Ba-dật-đề 70; Tứ phần 17, tr. 679a21: Ba-dật-đề 65; Thập tụng 16, tr. 116b07, Căn bản 41, tr. 853a09: Ba-dật-đề 72. Pāli, Pāc. 65, Ūnavīsativassa.
319 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành舍衛城; Tứ phần: La-duyệt thành羅閱城; Thập tụng: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
320 Tăng-kỳ 19 (tr.383a14): Nhân duyên bởi “Thập lục quần Tỳ-kheo,” và cha con Ma-ha-la. Các bộ khác như Ngũ phần.
321 Theo Tứ phần 17, Ba-dật-đề 65: Cho phép tính năm tháng trong thai, tính tháng nhuần, hoặc tính tất cả 14 ngày thuyết giới để làm niên (Tính tất cả các tháng âm lịch thiếu) số thì không phạm.
322 Tứ phần 17: “…. nếu biết người chưa đủ hai mươi tuổi mà cho thọ đại giới, thì người này không đắc giới, Tỳ-kheo kia bị quở trách là người si (si cố 癡故), phạm Ba-dật-đề.”
323 Pháp ấy phải như vậy 是法應爾. Tăng-kỳ 19, “Các Tỳ-kheo phải bị khiển trách”. Thập tụng 16: “Sự việc ấy phải như vậy 是事應爾.” Pāli: te ca bhikkhū gārayhā, idaṃ tasmiṃ pācittiyan’ti, “Các Tỳ-kheo ấy đang bị khiển trách; cái này trong đây Ba-dật-đề.” Bản Skt. ayaṃ tatra samaya, “Trong đây sự việc này là hợp thức.”
324 Tăng-kỳ 20, tr. 385b28: Ba-dật-đề 73, Tứ phần 15, tr. 668b03: Ba-dật-đề 47; Thập tụng 17, tr. 117c06, Căn bản 41, tr. 854b17: Ba-dật-đề 74. Pāli, Pāc. 47 Mahānāma.
325 Tăng-kỳ: Câu-thiểm-di quốc 拘睒彌國; Tứ phần: Thích-sí-sấu 釋翅搜; Thập tụng: Thích Thị quốc 釋氏國; Căn bản: Thích-ca xứ 釋迦處.
326 Đát-bát-na 怛鉢那: Xem cht. 107, Ni-tát-kỳ 15.
327 Thích Ma-nam 釋摩男. Pāli: Mahānāma Sakka. Ma-ha-nam giòng họ Thích.
328 Hán: Hạ tọa dược 夏坐藥.
329 Nhận sự cúng dường tuỳ ý trong bốn tháng, Hán: Tứ nguyệt tự tứ thỉnh 四月自恣請. Tứ phần: Tứ nguyệt nhân duyên thỉnh dữ dược 四月因緣請與藥. Từ nhân duyên 因緣tức Pāli paccaya, duyên; đây chỉ một trong bốn duyên hay bốn nhu yếu của Tỳ-kheo là thuốc. Tăng-kỳ: Tứ nguyệt biệt tự tứ thỉnh 四月別自恣請. Thập tụng: tứ nguyệt tự tứ thỉnh 四月自恣請. Pāli: cātumāsapaccaya-pavāraṇā, được yêu cầu tuỳ ý đối với các nhu yếu trong bốn tháng.
330 Trừ thỉnh lại, tự đem đến, thỉnh lâu dài, Hán: Cánh thỉnh, tự tống thỉnh, trường thỉnh 除更請自送請長請. Căn bản, bốn ngoại trừ: biệt thỉnh, cánh thỉnh, ân cần thỉnh, thường thỉnh. Thập tụng, trừ ba: thường thỉnh, sác sác thỉnh, biệt thỉnh. Tăng-kỳ, trừ hai: cánh thỉnh và trường thỉnh. Pāli, trừ hai: yêu cầu thêm nữa (punapavāraṇa) và yêu cầu thường xuyên (niccapavāraṇa).
331 Ha-lê-lặc 呵梨勒: Skt=Pāli. harīṭaka; Thiện kiến luật 17, T24n1462, tr. 795a20: Ha-lê-lặc, to như trái táo lớn, có vị chua đắng, dùng làm thuốc tiện lợi. Tứ phần (chú thích bản Việt): một loại trái chua, tên khoa học Myrobalan vàng, dùng để nhuộm màu vàng hay để xổ.
332 A-ma-lặc 阿摩勒: Skt. āmala, Pāli. āmalaka, quả xoài. Thiện kiến luật 17, Yêm-ma-lặc (A-ma-lặc) là trái Dư cam tử 余甘子, ở đất Quảng Châu có trái này, hình dáng như trái Nhuy tử lớn (một thứ cây nhỏ có quả ăn được, hột dùng làm thuốc), ăn trừ bệnh phong.
333 Tỳ-hê-lặc 鞞醯勒: Skt=Pāli. vibhītaka, Thiện kiến luật 17, Tỳ-hê-lặc, hình dáng như trái táo, có vị ngọt dùng làm thuốc, có thể trị bệnh ho. Tứ phần (chú thích bản Việt): quả xuyên luyện 川練, dùng làm thuốc.
334 Tất-bạt-la 畢跋羅: tức trái củ tương (trầu cay).
335 Tăng-kỳ 20, tr. 386a26: Ba-dật-đề 74; Tứ phần 18, tr. 685b07: Ba-dật-đề 71; Thập tụng 17, tr. 118b24, Căn bản 41, tr. 854b17: Ba-dật-đề 75; Pāli, Pāc. 71, Sahadhammika.
336 Tăng-kỳ: Câu-thiểm-di 拘睒彌國; Tứ phần: Câu-thiểm-tỳ 拘睒毘國; Thập tụng: Xá-vệ quốc 舍衞國; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
337 Phạm tội 犯罪. Pāli: Anācāram ācarati, hành vi bất chánh, phi pháp (phạm tội).
338 Bản Hán, hết quyển 8.
339 Tăng-kỳ 21, tr. 395c20: Ba-dật-đề 91; Tứ phần 18, tr. 686a19: Ba-dật-đề 73; Thập tụng 18, tr. 126c18, Căn bản 49, tr. 893c19: Ba-dật-đề 83. Pāli, Pāc. 73, Mohana.
340 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Câu-xá-di quốc俱舍彌國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
341 Tỳ-kheo này không phải do vì không biết mà thoát khỏi tội (bất dĩ bất tri cố đắc thoát 不以不知故得脫). Tứ phần: Không phải do vì không rõ (vô như vô giải 無如無解). Các bộ cũng đồng. Pāli: na ca tassa bhikkhuno aññakena mutti atthi, nghĩa như các bản Hán.
342 Tứ phần: “…khi tụng giới ngài không dụng tâm suy nghĩ, không một lòng nhiếp niệm để nghe pháp. Vị kia, là kẻ vô tri, Ba-dật-đề.”
343 Hán: Quảng thuyết 廣說.
344 Tăng-kỳ 20, tr. 390b16: Ba-dật-đề 81; Tứ phần 18, tr. 689b18: Ba-dật-đề 81; Thập tụng 18, tr. 124c10, Căn bản 44, tr. 866c06: Ba-dật-đề 82. Pāli, Pāc. 83, Antepura.
345 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
346 Tứ phần: Vua thuộc hàng Sát-lợi Quán đảnh. Tăng-kỳ: Vua không phải dòng Sát-lợi; hoặc dòng Sa-lợi nhưng không phải Quán đảnh; đều không phạm.
347 Tăng-kỳ 19, tr. 383c23: Ba-dật-đề 71; Tứ phần 17, tr. 681b18: Ba-dật-đề 67; Thập tụng 16, tr. 116a02, Căn bản 41, tr. 852c15: Ba-dật-đề 71. Pāli, Pāc. 66, Theyyasattha.
348 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Duy-da-ly 維耶離; Căn bản: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
349 Tăng-kỳ: Hai nước Xá-vệ và Tỳ-xá-ly có sự hiềm khích nhau. Tứ phần: Các Tỳ-kheo từ nước Xá-vệ muốn đến Tỳ-xá-ly. Thập tụng: Từ nước Bạt-kỳ du hành đến Duy-la-ly.Căn bản: Từ thành Vương Xá….. muốn đến thành Thất-la-phiệt đảnh lễ đức Thế Tôn. Tỳ-kheo đi chung với bọn cướp để khỏi lạc đường.
350 Pāli: Theyyasattha, giặc cướp.
351 Tăng-kỳ 19, tr. 381b06: Ba-dật-đề 67; Tứ phần 13 tr. 654a23: Ba-dật-đề 30; Thập tụng 16. tr. 115b26, Căn bản 41, tr. 852b11: Ba-dật-đề 70; Pāli. Pāc. 67, Saṃvidhāna.
352 Tăng-kỳ: Tỳ-xá-ly 毘舍離; Tứ phần: Xá-vệ quốc 舍衞國; Thập tụng: Duy-da-ly 維耶離; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
353 Tăng-kỳ: Một Tỳ-kheo đi khất thực về. Tứ phần: Tôn giả A-na-luật. Thập tụng: Tỳ-kheo Ca-lưu-la Đề-xá. Căn bản: Có một Tỳ-kheo. Pāli: Một Tỳ-kheo nào đó (aññataro bhikku).
354 Từ thôn xóm này đến thôn xóm khác, Pāli: antamaso gāmantarampi. Tăng-kỳ: Nãi chí tụ lạc trung gian 乃至聚落中間, và Tứ phần, Căn bản: Nãi chí thôn gian 乃至村間: nghĩa là đến trong khoảng giữa hai thôn. Thập tụng: Nãi chí nhứt tụ lạc 乃至一聚落: đi đến một thôn.
355 Tăng-kỳ 17, tr. 362b25: Ba-dật-đề 41; Tứ phần 16: Ba-dật-đề 57, tr. 675a17; Thập tụng 15, tr. 104a20, Căn bản 38, tr. 835a02: Ba-dật-đề 52; Pāli, Pāc. 56, Joti.
356 Tứ phần: Khoang dã thành 曠野城; Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.

LXIX. CẦM NẮM BẢO VẬT357

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.358 Bấy giờ, các Tỳ-kheo đến nhà tri thức, thấy đồ trang sức quí báu, cầm xem, rồi để lại chỗ cũ. Sau bị người lấy, người chủ tìm trở lại, không biết ở đâu!
Có người nói:
“Tôi thấy Tỳ-kheo cầm.”
(Người chủ)* liền đến hỏi Tỳ-kheo:
“Tôi bị mất đồ báu như vậy, như vậy, thầy có thấy không?”
Tỳ-kheo nói:
“Vừa rồi tôi có cầm xem, rồi để trở lại chỗ cũ.”
Người chủ nói:
“Từ khi Thầy cầm, sau đó tôi không thấy nữa. Vậy thầy có thể đem trả lại tôi.”
Tỳ-kheo nói:
“Thật sự tôi không lấy.”
Người chủ không tin, bèn gán cho Tỳ-kheo tiếng xấu. Bấy giờ, có một ngoại đạo mang một túi đựng năm trăm tiền vàng, đến bên bờ sông uống nước, khi đi quên không mang theo.
Có một Tỳ-kheo đến sau thấy, liền nghĩ như vầy: “Vật này là của ai?” [65a01] Liền nhìn xung quanh, thấy một người phía trước, bèn nghĩ như vầy: “Chắc là họ đang mong, ta nên mang trả cho họ.” Liền lấy mang đi theo. Người kia đi chưa xa, nhớ túi vàng, liền vội quay trở lại.
Tỳ-kheo, hỏi:
“Vì sao ông trở lại?”
Người kia liền giận, nói:
“Loại người không cát lợi, hỏi tôi làm gì?”
Tỳ-kheo nói:
“Dù cho tôi là không cát lợi, ông nên cho tôi biết ý (tại sao)* trở lại?”
Người kia nói:
“Tôi quên một túi nơi bờ sông, nên trở lại tìm!”
Tỳ-kheo liền đưa ra hỏi:
“Đây có phải cái túi của ông không?”
Người kia nhận ra cái túi của mình rồi lại nổi giận, nói:
“Thứ người không cát lợi, tại sao lại cầm cái túi của tôi? Ông đứng chờ một chút để tôi kiểm tra lại các vật trong túi đã!”
Tỳ-kheo nói:
“Tôi hoàn toàn không biết (thứ gì đựng trong)* túi này, cũng không xem đến chúng. Nếu tôi muốn lấy thì đâu có đưa ông xem. Vì sợ ông mất nó nên mới đem đến trả cho ông.”
Người kia lại nói:
“Trong cái túi của tôi có một ngàn tiền vàng, nay thiếu năm trăm, hãy trả lại cho tôi.”
Tỳ-kheo trả lời như ban đầu. Người kia cưỡng bức đòi Tỳ-kheo, rồi đưa đến chỗ người đoán sự. Lúc này, người đoán sự vì không tin ưa Phật pháp nên xử đoán một cách phi lý, liền bắt lấy trói ngược, đánh lừa (con lừa ?), gióng trống, áp giải đền ngã tư đường để hành quyết.
Khi ấy, vua Ba-tư-nặc ở trên lầu cao, từ xa nhìn thấy hỏi các quan tả hữu:
“Người đó là ai?”
Các quan tâu:
“Là Sa-môn Thích tử.”
Nhà vua liền ra lệnh:
“Đem về lại chỗ đoán sự, ta sẽ đích thân đến đó.”
Vua vội vàng đến và hỏi người kia:
“Tại sao ngươi tố khổ Tỳ-kheo này?”
Quan đoán sự tâu rõ sự việc như trên.
Nhà vua lại hỏi Tỳ-kheo. (Tỳ-kheo)* cũng tâu vua như trên.
Vua hỏi người kia (chủ của cái túi đựng tiền vàng):
“Đây có thật là túi của ngươi không?”
Trả lời: “Dạ phải.”
Nhà vua liền lấy năm trăm tiền vàng bỏ thêm vào trong túi kia, nhưng túi không chứa hết.
Nhà vua lại hỏi:
“Ngươi nói trong cái túi đó có một ngàn tiền vàng, tại sao bây giờ nó không đựng hết?”
Người kia liền tự thú tội nói:
“Thật sự chỉ có năm trăm, tôi giận nên vu khống cho Tỳ-kheo.”
Nhà vua hỏi vị quan đoán sự:
“Nếu có người ra mặt khi vua thì nên xử tội thế nào?”
Quan đoán sự tâu:
“Người ấy đáng chết và (tịch thu)* tài sản nhập vào cửa quan.”
Nhà vua liền cho dụng pháp này: Tịch thu tài sản, trói ngược ra sau (trói cánh gà) người này, đánh lừa (con lừa), gióng trống áp giải đến ngả tư đường hành quyết. Có người nói:
“Ông vu khống Sa-môn Thích tử, nên chịu tội này, nếu lại vu khống hủy báng, sau sẽ mắc tội nặng hơn.”
Hoặc lại có người nói:
“Sa-môn Thích tử, có lần đã từng lấy báu vật của tôi, nay e là có thật!”
Khi ấy Tỳ-kheo tâu với vua:
“Xin cho người này được sống, chớ khiến Phật pháp bị mang tiếng xấu.”
Nhà vua liền phóng thích và, quở trách quan đoán sự:
“Nếu sau này còn đoán việc như vậy, sẽ trị phạt ngươi.”
Những người không tin Phật pháp bằng mọi cách quở trách:
[65b01] “Chúng ta là người thế tục còn biết xấu hổ, khi cầm vật báu còn là Sa-môn Thích tử, tại sao lại như vậy? Không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem cả việc trước sau bạch đầy đủ lên đức Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vật, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cầm nắm báu vật, hoặc (những đồ trang sức bằng)* các bảo vật,359 Ba-dật-đề.”
Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu mặc áo quí báu nhất, trang điểm thân thể, cùng nhiều người thân du ngoạn nơi lâm viên, rừng gần Kỳ-hoàn. Thấy mọi người đang vui chơi, bà liền nghĩ như vầy: “Nay ta không nên cùng phóng dật với họ. Nhân dịp may này có thể viếng thăm đức Thế Tôn.” Bà liền dẫn các tỳ nữ đến Kỳ-hoàn. Khi đến cửa Kỳ-hoàn, bà lại nghĩ như vầy: “Nay, ta không nên mặt đồ trang sức đẹp sang này, đến hầu đức Thế Tôn.” Bà liền cởi áo quí báu, để nơi cạnh hào. Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất đang đi kinh hành, từ xa thấy. Tỳ-xá-khư Mẫu đến trước Phật đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật vì bà nói pháp, chỉ bày những lợi ích, khiến vui mừng. Không bao lâu, bà lui về, vì mãi suy nghĩ những điều vừa được nghe, nên quên chỗ để chiếc áo quí.
Bà trở về, sau khi cửa thành đóng, mới nhớ lại chiếc áo, bà nghĩ như vầy: “Nếu ta nói với ai là đã mất chiếc áo quí báu này, thì sẽ làm tổn thương đến Phật pháp, nên im lặng đến sáng hôm sau.”
Lúc này, Tôn giả Xá-lợi-phất đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Ông đến lấy lại.”
Tôn giả vâng lời liền đi lấy.
Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất: “Sáng sớm ngày mai, đích thân ông đem đến trả cho bà ta.”
Vâng lời liền đem đến đi. Tỳ-xá-khư Mẫu cảm thán hết lời:
“Lành thay! tôi có vị Đại sư và đồng Phạm hạnh như vậy. Nếu ngoại đạo khác lấy được vật này thì đâu có chuyện trả lại cho tôi. Đêm vừa rồi, tôi đã xả, nay nên thõa nguyện đó.”
Bà liền đem dâng cúng cho tứ phương Tăng. Bà yêu cầu Tôn giả Xá-lợi-phất dùng của này cất nhà Chiêu-đề Tăng.360 Tôn giả không dám nhận, đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Nên nhận.”
Lại có các cư sĩ, cứ năm ngày là đến Tăng phường thăm viếng một lần. Có người cởi nhẫn, có người cởi bông tai (trước khi vào Tăng phường,)* khi về đều quên. Các Tỳ-kheo thấy không dám lấy, có người khác thấy, liền lấy đem đi.
Các cư sĩ, khi trở lại tăng phường tìm, hỏi các Tỳ-kheo:
“Tôi mất vật báu như vậy, như vậy, thầy có thấy không?”
Trả lời:
“Tôi thấy, mà không dám lấy.”
Các Cư sĩ nói:
“Đại đức thấy nó, tại sao không lấy? (Đại đức)* có thể đem trả lại cho tôi, người xuất gia nào cần vật này!”
Trả lời:
“Thật sự tôi không lấy.”
Họ dứt khoát không tin, bèn gán tiếng xấu cho Tỳ-kheo.
[65c01] Lại có các Tỳ-kheo đi cùng bạn đi đường, đến nơi ký túc. Trong số bạn có người ra đi quên vật. Tỳ-kheo thấy không dám lấy, bị người khác lấy nó.
Các người bạn hỏi Tỳ-kheo:
“Tôi mất vật như vậy, như vậy, Đại đức có thấy không?”
Tỳ-kheo nói:
“Tôi thấy mà không dám lấy.”
Các người bạn nói:
“Đại đức thấy nó, tại sao không lấy? Có thể đem trả lại cho tôi, người xuất gia nào cần vật này!”
Trả lời:
“Thật sự tôi không lấy.”
Người kia dứt khoát không tin, liền gán tiếng xấu cho Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo lại nghĩ như vầy: “Nếu Đức Thế Tôn cho phép chúng ta tự mình cầm lấy hoặc sai người cầm lấy vật báu nơi Tăng phường hay chỗ ký túc thì cư sĩ đã không mất đồ, chúng ta cũng khỏi bị tiếng xấu.” (Các Tỳ-kheo)* đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, tự mình cầm hay sai người cầm lấy vật báu nơi Tăng phường hoặc chỗ nghỉ lại đêm. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, đối với báu vật hoặc (đồ trang sức bằng)* các bảo vật, tự mình lấy hay dạy người lấy, trừ trong Tăng phường hay chỗ ký túc,Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Nơi tăng phường và chỗ ký túc, cầm lấy báu vật hoặc các báu vật (đồ trang sức)*, sau có người chủ đòi nên trả lại. Việc này như vậy, phải giải quyết như vậy.
Báu vật: Chân châu, ma-ni, lưu ly, ngọc kha, kim ngân.
Các vật báu: Là chỉ cho các vật quí khác.
Trong Tăng phường: Là chỗ Tăng ở, đất thuộc về Tăng.
Chỗ ký túc: Tức ngoài Tăng phường, nghỉ đêm nơi nhà người khác và, chỗ nghỉ đêm cùng bạn khi đi dã ngoại.
Tỳ-kheo thấy vật (báu)* nơi Tăng phường, nên sai tịnh nhân lấy, nếu không có tịnh nhân thì tự mình lấy cất. Nếu có người đòi, nên họp Tăng hỏi tướng trạng của vật bị mất kia, sau đó hoàn trả nó. Nếu lấy cất rồi, muốn đi đâu, phải dặn người ở sau.
Nếu Tỳ-kheo đến nhà người, thấy có vật, nên sai tịnh nhân cất, không có tịnh nhân thì tự mình lấy cất, có người, nên dặn người ấy, sau mới đi. Nếu không có người, nên kêu người chủ ra giao cho họ, rồi sau mới đi.
Tỳ-kheo cùng bạn đồng hành chung đường, nếu thấy vật nên sai tịnh nhân lấy, không có tịnh nhân nên tự mình lấy để trả lại cho họ. Khi trả lại nên tập trung mọi người hỏi trước: “Ông mất vật phải không?”
Nếu nói có mất thì nên hỏi vật gì? Người đúng như lời họ, sau đó mới trả lại. Nếu cùng bạn đi khác đường, mà không gặp nhau, đến xóm làng nên gửi cho Ưu-bà-tắc tin cậy để trả lại.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

LXX. NỬA THÁNG TẮM361

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.362 Bấy giờ, các Tỳ-kheo một ngày tắm ba lần, dùng nhiều bột đậu tắm.363 Các Cư sĩ thấy, [66a01] cơ hiềm nói: “Các Tỳ-kheo này tắm hoài, dùng bột đậu tắm như vua như đại thần. Mục đích họ xuất gia là muốn cầu giải thoát, song không tụng niệm kinh, lại không quán những thứ nước dơ bẩn,364 mà ngày đêm chỉ lo trang điểm thân thể, không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Bấy giờ, có vị thầy tướng365 nói với vua Bình-sa rằng:
“Thiên văn cho biết, lại sắp có một ngôi sao bất thường xuất hiện, nhà vua nên tắm nơi suối nước đó để tẩy trừ tai ương kia. Nếu không như vậy hoặc đưa đến mất nước, hay lo về thân mệnh. Nhà vua liền ra lệnh các quan tả hữu xử lý con suối kia.”
Họ vâng lệnh đến nơi thì thấy các Tỳ-kheo tắm rửa đầy cả suối. Các quan quay trở về tâu với vua, vua nói: “Chờ Tỳ-kheo tắm xong.”
Như vậy cả ngày đêm, ba lần đến xem, một lần đi một lần về đều không lúc nào là không vắng.
Thầy tướng)* Bà-la-môn lại tâu với vua:
“Hung tinh kia sắp xuất hiện, sau khi nó xuất hiện mới tắm thì không có ích gì.”
Nhà vua nghe nói vậy liền bảo chuẩn bị xa giá xuất hành đến chỗ nước suối. (Vua phải)* tắm cuối nguồn nước, vì vậy, các quan cơ hiềm:
“Sa-môn Thích tử không biết thời nghi, không siêng năng, không quán niệm các thứ nước dơ nơi thân, mà chỉ lo tắm rửa trang điểm thân thể, không có hạnhSa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe được, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, trong nửa tháng nên tắm (một lần, nếu quá),366 Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo, phải tắm rửa mới lành. Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật không cho phép chúng tôi lúc nào cũng tắm, xin nghĩ tìm phương pháp khác.”
Thầy thuốc nói:
“Chỉ có cách tắm rửa, chứ không có cách nào khác.”
Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép khi có bệnh thường được tắm thì bệnh của chúng ta lành liền.”
Lại có các Tỳ-kheo làm nhiều việc, bị đất bùn nhớp áo, nhơ thân, vì thế càng mệt, bèn nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép khi làm việc luôn tắm giặt, cực nhọc chắc bớt, áo quần sạch sẽ.”
Lại có các Tỳ-kheo đi đường cực nhọc, muốn tắm giặt mà không dám, lại nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép khi đi đường luôn được tắm rửa thì cực nhọc sẽ bớt đi.”
Lại có các Tỳ-kheo khi trời mưa gió, bụi, đất, bùn làm nhớp y phục, lại nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép khi trời mưa gió, thường tắm giặt thì có thể không bị bụi bùn làm nhớp.” Mùa Xuân còn một tháng rưỡi, và một tháng đầu mùa Hạ, các Tỳ-kheo vì nóng bức, nên ra mồ hôi, lại nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép lúc nóng nực, thường tắm giặt thì có thể không bị hoạn khổ này.” Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật [66b01] tập hợpTỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo khi bệnh, khi làm việc, khi đi đường, khi mưa gió, khi nóng bức được tắm rửa không phạm. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, trong nửa tháng nên tắm (một lần; nếu quá)* trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.”

C. THÍCH TỪ
Nhân duyên: Là khi bệnh, khi làm việc, khi đi đường, khi mưa gió, khi nóng bức. Đó gọi là nhân duyên.
Khi bệnh: Là khi có những bệnh tật cần tắm.
Khi làm việc: Là khi xừ lý mọi công việc, cho đến việc quét đất trong Tăng phường.
Khi đi đường: Là khi đi một do-tuần, hai do-tuần, cho đến chỉ nửa do-tuần.367
Khi mưa gió: Là khi mưa gió đất bùn làm nhơ nhớp.368
Khi nóng bức:369 Là lúc nóng bức làm đổ mồ hôi.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Đột-kiết-la. Nếu khi tắm rửa cho thầy, hoặc cho người bệnh, thân hình mình bị ướt, bị nhớp thì tắm rửa không phạm.

LXXI. SÂN ĐÁNH TỲ-KHEO370

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.371 Bấy giờ, nhóm mười bảy Tỳ-kheo vừa cất xong phòng mới. Nhóm sáu Tỳ-kheo muốn ở trong đó, đuổi nhóm mười bảy Tỳ-kheo. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo không chịu ra liền bị đánh, nên họ kêu khóc inh ỏi.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo nghe, hỏi tại sao kêu la lớn tiếng vậy?”
Thưa:
“Nhóm sáu Tỳ-kheo đánh chúng con.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đánh Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”
Có Tỳ-kheo ăn bị nghẹn, nhờ Tỳ-kheo khác đấm lưng, các Tỳ-kheo không dám đấm, vì vậy nên chết, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo không vì lòng giận mà đánh Tỳ-kheo, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, vì nóng giận đánh Tỳ-kheo khác, Ba-dật-đề.”
Nếu Tỳ-kheo đánh Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, người khác, hay súc sanh, Đột-kiết-la. Nếu Tỳ-kheo-ni đánh Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề; đánh Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, người khác, hay súc sanh Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, đánh năm chúng, người khác, hay súc sanh, Đột-kiết-la.

LXXII. NHÁ ĐÁNH TỲ-KHEO372

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.373 Bấy giờ nhóm sáu Tỳ-kheo lại đến phòng nhóm mười bảy Tỳ-kheo tìm chỗ ở. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo không chịu ra, (nhóm sáu Tỳ-kheo)* đưa tay nhá như giống đánh.374 [66c01] Nhóm mười bảy Tỳ-kheo lại la lớn.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, ra hỏi:
“Tại sao các ông la lớn vậy?”
Thưa:
“Nhóm sáu Tỳ-kheo muốn đánh chúng con.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Lục quần Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, dùng tay nhá (dọa đánh)* Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo khi nói pháp dùng tay diễn tả, hoặc chỉ nơi chốn, bèn sanh nghi hối: “Ta sẽ không phạm Ba-dật-đề chứ!?” Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo không do lòng giận, nhá tay (doạ đánh) Tỳ-kheo, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, vì nóng giận dùng tay nhá (dọa đánh)* Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”
Nếu nhá tay đến thì Ba-dật-đề. Nếu nhá tay không đến Đột-kiết-la. Ngoài ra như trong giới đánh Tỳ-kheo đã nói.

LXXIII. DỌA NHÁT TỲ-KHEO375

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.376 Bấy giờ, nhóm mười bảy Tỳ-kheo hài lòng với cái phòng vừa nhận được. Nhóm sáu Tỳ-kheo lấy quyền Thượng tọa nên lần lượt vào ở trong đó. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo liền tránh qua phòng hai bên. Nhóm sáu Tỳ-kheo lại bàn bạc như vầy:
“Nhóm mười bảy Tỳ-kheo biết tàm quí, cẩn thận sợ tội lỗi, sống gần bên ta, chắc thấy được tội lỗi của ta. Chúng ta nên tạo phương tiện để họ tránh xa.”
Liền đến nói:
“Phòng này trước đây bỏ không, có nhiều việc đáng sợ hãi, các ông không nên ở trong đó.”
Nhóm mười bảy Tỳ-kheo nói:
“Chúng con đóng chặt cửa thì nào có sợ gì để sợ?”
Trong đêm tối hôm đó, nhóm sáu Tỳ-kheo tạo ra nhiều cảnh tượng để khủng bố. Sáng hôm sau, họ hỏi nhóm mười bảy tỳ-kheo:
“Đêm hôm qua, các ông ngủ an giấc không?”
Trả lời:
“Chúng con nghe tiếng đáng sợ sệt, nhưng đã đóng cửa, tư duy nên không có gì phải sợ.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo lại cùng nhau bàn luận:
“Chúng ta không thể dùng cách này để khủng bố chúng, (chúng ta)* nên chờ chúng nó ra ngoài, rồi vào dưới giường của chúng.”
(Nhóm sáu Tỳ-kheo)*liền đột nhập vào, chờ lúc đêm tối, hoặc kéo áo, kéo chân chúng, hoặc khiêng giường chúng di chuyển để chỗ khác. Lúc này, nhóm mười bảy Tỳ-kheo hoảng hồn, lớn tiếng kêu la.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão đến hỏi:
“Vì sao lớn tiếng vậy?”
Thưa:
“Nơi đây không có giặc cướp mà không biết ai kéo áo, kéo chân chúng con, ai đã khiêng giường chúng con di chuyển đến để chỗ khác.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão liền mang lửa đến soi, thấy nhóm sáu Tỳ-kheo đang ngồi xổm dưới giường, hỏi:
“Các thầy tại sao ở đây?” [67a01] Thưa: “(Chúng tôi)*muốn khủng bố nhóm mười bảy Tỳ-kheo.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, khủng bố Tỳ-kheo khác, Ba-dật-đề.”
Có khách Tỳ-kheo hỏi cựu Tỳ-kheo:
“Trong phòng này có điều gì đáng sợ sệt không?”
(Vị kia)* hoặc không dám nói, hoặc nói rồi sanh nghi, sợ phạm tội Ba-dật-đề, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo không cố ý khủng bố Tỳ-kheo khác mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, cố ý khủng bố Tỳ-kheo khác, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trong giới đánh Tỳ-kheo khác, đã nói.

LXXIV. CHE DẤU THÔ TỘI377

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.378 Bấy giờ, Tỳ-kheo Đạt-ma nghĩ như vầy: “Trước đây Bạt-nan-đà đoạt y của ta, do đó đức Phật quở trách ta, rồi vì các Tỳ-kheo kết giới. Nay ta nên ở giữa Tăng nói thầy ấy phạm Tăng-già-bà-thi-sa.”
Nghĩ rồi, liền đến chỗ Tỳ-kheo Thượng tọa thưa:
“Bạt-nan-đà cùng người nữ, hai thân đụng chạm nhau, nói lời thô ác, khen ngợi sự cung phụng xác thân.”
Các Tỳ-kheo hỏi:
“Tại sao thầy biết?”
Thưa: Tôi cùng đi, thấy thầy làm việc này.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão quở trách nói:
“Tại sao lúc không giận nhau thầy che giấu, lúc giận liền tố cáo?”
Họ quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Đạt-ma:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách quở trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, che giấu thô tội của Tỳ-kheo khác, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo không biết vị khác phạm tội thô ác, sau mới biết, bèn sanh nghi hối: “Ta sẽ không phạm Ba-dật-đề chăng?!” Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu không biết Tỳ-kheo khác phạm thô tội thô, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết Tỳ-kheo khác phạm thô tội mà che giấu qua một đêm,379 phạm Ba-dật-đề.”
Nếu từ lúc vừa sáng cho đến lúc mặt trời chưa xuất hiện, mỗi giờ phạm Đột-kiết-la, mặt trời xuất hiện, phạm Ba-dật-đề, Sa-di phạm Đột-kiết-la.
Nếu muốn nói mà không có người để nói, hoặc sợ nạn khởi nên che giấu thì không phạm.

LXXV. VU KHỐNG TĂNG TÀN380

A. DUYÊN KHỞI
[67b01] Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.381 Lúc bấy giờ Bạt-nan-đà nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo Đạt-ma hứa với ta cùng đi, lấy y của ta cho, rồi không chịu đi. Ta phải lấy y kia trở lại, vì việc này bị đức Thế Tôn quở trách, rồi vì các Tỳ-kheo kết giới. Sau đó, Đạt-ma lại tố cáo tội lỗi của ta. Nay ta nên dùng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ để hủy báng ông ta.”
Nghĩ như vậy rồi, (Bạt-nan-đà)* nói với các Tỳ-kheo Trưởng lão:
“Thật sự tôi có xúc chạm thân người nữ, có nói lời thô ác, có tự khen mình để đòi hỏi sự cung phụng xác thân, Tỳ-kheo Đạt-ma cũng lại như vậy.”
Các Tỳ-kheo hỏi:
“Tại sao thầy biết?”
Bạt-nan-đà nói:
“Tôi cùng đi cho nên thấy.”
Các Tỳ-kheo quở trách, nói:
“Tại sao thầy dùng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ để hủy báng Tỳ-kheo khác?”
Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, dùng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ để hủy báng Tỳ-kheo khác, Ba-dật-đề.”
Hủy báng Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni huỷ báng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề; hủy báng Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni huỷ báng năm chúng, Đột-kiết-la.

LXXVI. ĐUỔI ĐI KHÔNG CHO THỨC ĂN382

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.383 Bấy giờ, Bạt-nan-đà nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo Đạt-ma hứa với ta cùng đi… cho đến câu Lại tố cáo tội của ta cũng như trên đã nói. Ta dùng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ để huỷ báng, cũng không thể làm tổn hại được. Nay ta lại nên dùng cách khác để trị ông ta.”
(Bạt-nan-đà)* bèn đến chỗ Đạt-ma nói:
“Ông là đệ tử của tôi. Tôi là thầy của ông. Trước đây ông vu khống384 tôi, tôi cũng vu khống* ông. Nay chúng ta hòa giải nhau, đừng hiềm khích nhau nữa; nhân đây (chúng ta)* có thể như trước đây, cùng nhau đến các gia đình cho ăn nhiều thức ăn ngon.”
Đạt-ma liền hòa giải, theo thầy mà đi. Bạt-nan-đà liền dẫn đến nơi không có thức ăn, nếu có ai đến mời thì nháy mắt ra hiệu bảo họ đi. Bạt-nan-đà tính toán trở về chùa trở lại là không kịp giờ.
Liền sai khiến Đạt-ma, nói:
“Nay chỗ này không có thức ăn, ông có thể về chùa.”
Đạt-ma đã đi rồi, (Bạt-nan-đà)* đến gia đình đã mời, ăn nhiều thức ăn ngon. Đạt-ma về đến chùa thì đã quá ngọ.
Sau khi Bạt-nan-đà ăn xong, là đi trở về lại chùa hỏi Đạt-ma:
“Ông (về)* có kịp ăn không?”
Thưa:
“Không kịp.”
(Bạt-nan-đà)* lại giả an ủi nói:
“Nay ông tuy mất một bữa ăn, ngày mai ta sẽ cho ông được (một bữa ăn)* cực ngon.” [67c01] Sáng mai, Bạt-nan-đà lại cũng đến nói như trên, cho đến ba lần như vậy, rồi nói với Đạt-ma:
“Những chỗ mà tôi dẫn ông đến, đều là những nơi nhận được thức ăn ngon, mà không nhận được, sợ là ông đã bị ‘kẻ bề trên’ quở trách hay Thiên thần nổi giận, hoặc là do tội nghiệp của ông đưa đến, ông đừng oán tôi. Ông có thể mau trở về chùa để kịp giờ ăn.”
Đạt-ma vội trở về chùa, vẫn không kịp giờ. Mấy ngày liền đói lã không thể đứng dậy được.
Bạt-nan-đà sau khi ăn xong quay về đến chỗ ở, lại hỏi:
“Ông về có kịp ăn không?”
Trả lời:
“Không kịp.”
(Bạt-nan-đà)* liền nói:
“Ông đã lừa dối thầy, nên phải bị trị như vậy. Sau này nếu ông còn làm nữa sẽ bị trị nặng hơn.”
Khi ấy, Đạt-ma mới biết bị thầy dối gạt, liền nổi giận la lớn:
“Tại sao Tỳ-kheo lại làm việc lừa dối này, khiến cho tôi ba ngày tuyệt thực gần chết!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão hỏi:
“Tại sao thầy la lớn vậy?”
Thưa:
“Bạt-nan-đà ba ngày gây não con, khiến cho con bị đói.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói với Tỳ-kheo khác: ‘Cùng tôi đến các gia đình, tôi sẽ cho thầy nhiều thức ăn ngon.’ Nhưng rồi không cho mà lại bảo trở về, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo dẫn các Tỳ-kheo đến các gia đình mà không nhận được thức ăn, sanh tâm xấu hổ, bèn nghĩ như vầy: Ta sẽ không phạm Ba-dật-đề chăng?!” Đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo không vì gây não người khác, không nhận được thức ăn, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói với Tỳ-kheo khác: ‘Cùng tôi đến các gia đình, sẽ cho thầy nhiều thức ăn ngon’, vì cố ý gây xúc não, nên không cho, lại khiến đi về, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo, dẫn Tỳ-kheo nuôi bệnh đến các gia đình, vì Tỳ-kheo bệnh để xin thức ăn, sợ người bệnh quá giờ ăn, khiến trở về mau; sau khi đã sai khiến rồi, liền sanh xấu hổ: “Ta cố ý (bảo về)*, sẽ không phạm Ba-dật-đề chăng?!” Đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo nào không vì để ăn một mình, nên sai khiến Tỳ-kheo khác về, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói với Tỳ-kheo kia: ‘Cùng tôi đi đến các gia đình, sẽ cho thầy nhiều thức ăn ngon.’ Đã đến mà không cho, lại nói như vầy: ‘Ông đi đi! Cùng ông hoặc ngồi hoặc nói không vui, để tôi ngồi một mình, nói một mình vui hơn’, vì muốn [68a01] gây não385 người kia, Ba-dật-đề.”
Nếu Tỳ-kheo gây não Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, cho đến súc sanh theo kiểu này, Đột-kiết-la. Nếu Tỳ-kheo-ni gây não Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni theo kiểu này, Ba-dật-đề; gây não Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, cho đến súc sanh theo kiểu này, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni gây não năm chúng theo kiểu này, Đột-kiết-la.

LXXVII. HOẠI SẮC Y MỚI386

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.387 Bấy giờ, số đông Tỳ-kheo cùng bạn đi vào nước Câu-tát-la, gặp giặc cướp đoạt hết y bát. Sau đó, đến chỗ một trạm tuần canh, vị chỉ huy tuần canh hỏi:
“Các Đại đức gặp giặc cướp ở chỗ nào?”
Trả lời:
“Gặp giặc cướp ở chỗ đó.”
Những người tuần canh cùng nhau bàn:
“Nếu nhà vua nghe, các Tỳ-kheo gặp giặc cướp (bị đoạt y bát)* trong phạm vi trách nhiệm chúng ta, chắc chắn ta sẽ bị tội.”
Liền nói với Tỳ-kheo:
“Đại đức ở lại một chút, chúng tôi sẽ truy tầm bọn giặc này. Lính liền xuất quân truy tầm trong chốc lát đến chỗ đó, liền bao vây hai lớp, lục tìm thu lại được toàn bộ những y vật đó, nào là nhiễm y, bạch y, các loại gom lại một chỗ.”
Những người tuần canh bàn nói:
“Nên trả lại cho ai trước?”
Có người nói:
“Trước tiên nên trả lại cho các Tỳ-kheo. Nhà vua tin ưa Phật pháp nghe được chắc hài lòng.”
Họ liền nói với Tỳ-kheo:
“Các thầy có thể tự lấy y (bát của mình đi)*!”
Các Tỳ-kheo nhìn lên y (không nhớ rõ của mình)* sanh nghi? Hoặc có vị nói đây là y của tôi, hoặc nói là không phải y của tôi, cho nên không dám lấy.
Những người tuần canh hỏi:
“Tại sao không lấy?”
Trả lời:
“Tôi không nhớ y của mình vì vậy không lấy.”
Người tuần canh nói:
“Lần lượt ai nhớ thì lấy.”
Ngay khi ấy, các ngoại đạo bèn lấy y tốt của Tỳ-kheo. Vì Tỳ-kheo lấy sau nên phải lấy y xấu của ngoại đạo. Những người tuần canh biết Sa-môn Thích tử đều mặc y tốt, mà nay lại nhận được y phục xấu của ngoại đạo, nên nói:
“Các thầy là Sa-môn có cái gì đặt biệt đâu? Hình tướng y của mình còn không biết thì làm sao biết tâm của mình! Nếu biết hình tướng y của mình thì ngoại đạo đâu có lý do gì mà lấy được y phục tốt của các thầy!?”
Các Tỳ-kheo khi về đến chỗ Phật đem việc này bạch lên Ngài. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo, hỏi:
“Thật sự các ông không biết hình tướng y mình phải không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách xong, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, được y mới, nên dùng ba loại màu để làm dấu: Hoặc màu xanh, màu đen, hay màu mộc lan;388 nếu không dùng ba màu đó để làm dấu, Ba-dật-đề”.
Nếu không làm dấu mà mặc thì mỗi một lần mặc, một Ba-dật-đề. Nếu không mặc mỗi một đêm, một Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu y mới nhận được đã làm dấu rồi, thì không làm, không phạm.

LXXVIII. GIẤU VẬT DỤNG CỦA TỲ-KHEO389

A. DUYÊN KHỞI
[68b01] Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.390 Bấy giờ nhóm mười bảy Tỳ-kheo đem y bát và các đồ vật lặt vặt vất bỏ lung tung, không thu dọn, nhóm sáu Tỳ-kheo lấy giấu chúng.
Khi nhóm mười bảy Tỳ-kheo biết mất, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Vật (Y, bát, đồ lặt vặt)* của chúng con như vậy, như vậy, để chỗ này, ở chỗ kia, ai đem đi đâu?”
Trả lời: “Người đến đây chẳng phải là một, nên có chắc là không (ai)* mang đi chăng?”
Liền hỏi:
“Người vừa đến đây, họ đi hướng nào?”
Trả lời: “Họ đi bốn phương biết là nơi nào!”
Lúc ấy, nhóm mười bảy Tỳ-kheo tỏa ra bốn hướng đuổi kịp người vừa đến (rồi đi)*, liền hỏi:
“Tôi mất y bát, tọa cụ, ống đựng kim, có thể đem trả lại cho tôi.”
Mấy người ấy nói:
“Thưa Đại đức! Tôi đến vì Chánh pháp chứ đâu đến để ăn trộm!”
Nhóm mười bảy Tỳ-kheo, bị những lời nói này rồi, xấu hổ liền trở về.
Nhóm sáu Tỳ-kheo hỏi:
“Rốt cuộc, các ngươi có gặp được những người vừa đến không?”
Trả lời: “Có gặp.”
(Hỏi)*: “Có được lại y không?”
Trả lời: “Không được.”
Khi ấy nhóm sáu Tỳ-kheo đem y bát ra và bảo:
“Đây, có phải y bát của các ông không?”
Trả lời: “Phải rồi.”
Các Tỳ-kheo thấy, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách, đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, tự mình giấu y, hoặc bát, tọa cụ, ống đựng kim của Tỳ-kheo khác; tất cả mọi dụng cụ sinh hoạt, hoặc sai người giấu, Ba-dật-đề”.
Lại có Tỳ-kheo không thu cất y bát vật dụng (của mình)*, các Tỳ-kheo không dám vì ông thu cất nên bị mất đi, do đó bị nghi, mang tiếng xấu, bèn nghĩ như vầy: “Nếu đức Phật cho phép chúng ta vì người thu cất đồ vật thì vị kia đã không bị mất, và không đưa chúng ta đến việc mang tiếng xấu này.” Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu không vìa cố ý giấu, vì người cất y, mà phạm Ba-dật-đề là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, vì cố ý vui đùa, giấu y bát, tọa cụ, ống đựng kim của Tỳ-kheo khác; tất cả mọi dụng cụ sinh hoạt hằng ngày, hoặc sai người giấu, Ba-dật-đề”.
Nếu giấu vật dụng của Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, cho đến súc sanh, Đột-kiết-la. Nếu Tỳ-kheo-ni giấu vật của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề; giấu vật của người khác, Đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni giấu vật của năm chúng, Đột-kiết-la.

LXXIX. DỮ DỤC RỒI HỐI391

A. DUYÊN KHỞI
Đức Thế Tôn ở tại thành Xá-vệ.392 Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo có thế lực, các thiện Tỳ-kheo [68c01] không có thế lực, nhóm sáu Tỳ-kheo ngăn các thiện Tỳ-kheo Yết-ma… cho đến câu đức Phật bằng mọi cách quở trách như trong giới “Như pháp đoán sự” trước kia đã nói.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khi Tăng đoán sự, như pháp dữ dục rồi, sau lại chỉ trích (phê phán),393 Ba-dật-đề”.

C. THÍCH TỪ
Sau lại chỉ trích: Tức là nói tôi không dữ dục như vậy.
Nếu Tăng không làm Yết-ma đoán sự, mà sau lại chỉ trích thì Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

LXXX. PHỦ NHẬN YẾT-MA394

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.395 Bấy giờ, các Tỳ-kheo cần thứ y nào thì chúng Tăng đã cung cấp đủ, sau đó lại được thêm, hiện thành ba y, cùng nhau bàn nói:
“Y này nên cúng cho ai?”
Có vị nói: “Trước tiên, nên cúng cho đức Thế Tôn.”
Có vị lại nói: “Trước hết, nên cúng cho Đại Ca-diếp. Đại Ca-diếp thường được đức Thế Tôn khen ngợi, lại nữa là bậc Thượng tọa.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói:
“Trước hết, nên cúng cho Cù-già-lê.”
Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật. Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo:
“Ca-diếp có cầu y nhiều hay ít không?”
Thưa: “Ca-diếp không cầu, có cho sau mới nhận.”
Nhân đó đức Phật nói kệ:
Y này, y vô dục,
Không cho người có dục.
Người không điều phục ý,
Không nên mặc cà sa.
Người đã lìa tham dục,
Thường nhất tâm nơi giới.
Người điều tâm như vậy,
Mới nên mặc y này.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo, nên đem y này cúng cho Ca-diếp. Họ liền vâng lời.
Lúc ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo nói như vầy:
“Nay các Tỳ-kheo xoay vật của Tăng cho người mình quen biết.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nói như vầy: ‘Các Tỳ-kheo xoay vật của Tăng cho người quen biết’, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

LXXXI. TỊNH THÍ Y RỒI ĐOẠT LẠI396

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.397 Bấy giờ, Tỳ-kheo Đạt-ma nghĩ như vầy: “Bạt-nan-đà trước đây đoạt cái y của ta, đức Phật quở trách ta, vì các Tỳ-kheo kết giới. Ta nói ông ấy [69a01] phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Ông ấy lại dùng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ hủy báng ta, và dứt phần ăn của ta cho đến ba ngày. Ta nên làm cách nào để trả mối hận này.” Lại nghĩ như vầy: “Ông ấy đối với ta tác tịnh thí y, ta không hoàn nó lại, là đủ để trả cái mối nhục.” Nhân đó không hoàn trả lại. Sau đó, Bạt-nan-đà đến đòi y.
Đạt-ma nói:
“Trước đây thầy bố thí rồi, sao nay đòi lại?”
Bạt-nan-đà nói:
“Ta tác tịnh thí, chứ ta đâu bố thí!”
(Dù vậy, Đạt-ma)* vẫn không hoàn lại. Bạt-nan-đà bèn cưỡng bức đoạt lấy. Đạt-ma liền la lớn.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe đều ra hỏi:
“Chuyện gì la to vây!?”
(Đạt-ma)* trả lời:
“Bạt-nan-đà đoạt lấy y của con!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão quở trách Bạt-nan-đà:
“Tại sao tịnh thí cho người không đáng tin, để rồi phải đoạt lại?”
Lại quở trách Đạt-ma:
“Người tịnh thí y, tại sao ngươi không hoàn lại?”
Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ông là người ngu si, thật sự ông có tịnh thí y cho người không đáng tin hay không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Lại hỏi Đạt-ma:
“Ông là người ngu si, thật sự người ta tịnh thí cho ngươi, ngươi không chịu hoàn lại phải không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên tịnh thí cho năm hạng người này:
– Một là không biết nhau.
– Hai là kém hiểu biết nhau.
– Ba là chưa quen thân.
– Bốn là không phải thân hữu hay đồng sư.
– Năm là hay thay đổi.
Không phải năm hạng người này thì sau đó nên tịnh thí cho. Lại có hai pháp không nên tịnh thí:
– Một là hay khen ngợi người.
– Hai là hay tạo tiếng tốt cho người.
Lại có hai pháp không nên tịnh thí:
– Một là không hay vì người nhận trọng vật tịnh thí, rồi bảo vệ như mình có.
– Hai là mình có trọng vật không hay tịnh thí, người dùng không hận.
Lại có hai pháp không nên tịnh thí:
– Một là không biết họ còn sống hay không.
– Hai là không biết họ còn tu hay không.”
Các Tỳ-kheo lại nghĩ: “Đức Phật cho chúng ta tịnh thí, nên tịnh thí cho cha mẹ, anh em, chị em.” Rồi đem việc này bạch lên Phật, đức Phật dạy:
“Không nên tịnh thí cho bạch y, nên tịnh thí cho năm chúng.”
Có các Tỳ-kheo ở một mình trong phòng, có y dư không biết tịnh thí thế nào, đem việc này bạch lên Phật, Phật dạy:
“Nên biểu hiện tác tịnh thí từ xa (hướng đến người ở xa mà tác tịnh thí)*. Nếu đối với ba y, cần trao đổi (y nào)* thì nên để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối, tay cầm y, tâm nghĩ, miệng nói:
“Y này là của tôi, gồm có bao nhiêu điều, nay tôi xin xả.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Sau đó, mới nhận cái y dư, cũng như pháp trước, tâm nghĩ, miệng nói:
[69b01] “Tôi có cái y này, gồm bao nhiêu điều, nay tôi xin thọ.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Chiếc y được xả, cũng nên tịnh thí, lại theo như pháp trước: Tâm nghĩ, miệng nói:
“Đây là chiếc y dư của tôi, xin tịnh thí cho thầy… xin đến đó lấy dùng.”
Nếu không cần thay đổi người thọ, thì chiếc y dư kia liền nên tịnh thí như vậy. Pháp tịnh thí riêng, đến ngày thứ mười một, lại phải như pháp trước, tâm nghĩ, miệng nói:
“Đây là chiếc y dư của tôi, đến nơi thầy…lấy trở lại.”
Sau đó, lại như pháp trước thọ trì tịnh thí. Nếu đối với người tịnh thí thì nên tác pháp triển chuyển tịnh thí như trước: Tay cầm y, nói như vầy:
“Đây là y dư của tôi, xin đối với Trưởng lão… làm pháp tịnh thí.”
Tỳ-kheo kia nên hỏi:
“Y này của Trưởng lão, tác tịnh thí đối với tôi, tôi nên đem cho vị nào?”
Trả lời: “Trong năm chúng, tuỳ ý ngài cho ai cũng được.”
Tỳ-kheo kia (Trưởng lão thọ tịnh thí)* nên nói liền:
‘Nay tôi cho thầy… Nếu Trưởng lão cần cứ đến vị ấy lấy dùng và, nên bảo vệ nó cho tốt.’
Vị Tỳ-kheo thọ pháp tác tịnh, sau đó, đem việc này nói với vị Tỳ-kheo được xưng tên. Tỳ-kheo được xưng tên sợ phạm tội chứa y dư nên không dám thọ nhận, không biết phải thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên nói với Tỳ-kheo được xưng tên. Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, đã tịnh thí y cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni rồi đoạt lấy lại, Ba-dật-đề”.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Nếu cho y vị kia, sau đó xin lại, vị kia cho, mình nhận thì không phạm.

LXXXII. TRƯỚC SAU BỮA ĂN ĐI ĐẾN NHÀ KHÁC KHÔNG BÁO398

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.399 Bấy giờ, Bạt-nan-đà thường thọ sự cúng dường của một gia đình, sau đó, gia đình kia thỉnh Tăng. Sáng sớm hôm đó, Bạt-nan-đà, khoác y mang bát vào thành, đến các gia đình để chuyện vãn… Đến giờ, họ đến mời, các Tỳ-kheo khoác y bưng bát đến nhà kia, và cả chúng ngồi (chờ)* đã lâu.
(Các Tỳ-kheo)* nói người chủ:
“Giờ ngọ đã gần qua, tại sao không mời thọ thực.”
Thưa:
“Tôi vì Bạt-nan-đà nên thỉnh Tăng, vậy phải chờ vị ấy đến.”
Khi ấy, đã gần quá ngọ Bạt-nan-đà mới đến. Các Tỳ-kheo có vị ăn được, có vị ăn được ít, có vị không ăn được gì. Do đó, người chủ cơ hiềm Bạt-nan-đà:
“Sa-môn Thích tử có chuyện gì gấp đâu, trước đã nhận lời mời của tôi, lại đi đến các nhà khác, gần quá ngọ mới đến, khiến các Tỳ-kheo không ăn được những thức ăn do tôi cúng dường, khiến chúng tôi sửa soạn nhiều thức ăn mà trở thành vô dụng.”
Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách Bạt-nan-đà:
[69c01] “Thầy không thể đem lại lợi ích cho Phật pháp nên mới gây khổ não cho chúng Tăng như vậy!”
Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vật, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận lời mời của người, trước bữa ăn, đến nhà khác, Ba-dật-đề”.
Sau đó, người thí chủ của Bạt-nan-đà tự gánh thức ăn nấu rồi đến Tăng phường để cúng dường Tăng và Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà ăn xong trước lại đến nhà khác. Gia chủ muốn tập Tăng để cúng dường một thức ăn khác. Do Bạt-nan-đà không có mặt, chờ lâu mà không dọn thức ăn. Các Tỳ-kheo nói:
“Giờ ngọ gần qua sao không dọn thức ăn?”
Thưa:
“Tôi vốn vì Bạt-nan-đà, chờ thầy đến sẽ dọn.”
Cuối cùng Bạt-nan-đà không lại nên thức ăn ấy không được dọn. Gia chủ dùng nhiều lời trách cứ Bạt-nan-đà, các Tỳ-kheo cũng chê trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận lời mời của người, trước bữa ăn,400 sau bữa ăn,401 đến nhà khác, Ba-dật-đề”.
Có các Tỳ-kheo, có việc của Tăng, việc của Tháp, việc riêng cần đến nhà khác mà không dám đi, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo báo cáo với các Tỳ-kheo khác trước khi đi. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận lời mời của người, trước bữa ăn, sau bữa ăn mà đến nhà khác, không báo cáo với Tỳ-kheo khác, Ba-dật-đề”.
Hoặc có các Tỳ-kheo hiềm nhau không nói chuyện với nhau, hoặc ngồi thiền hay ngủ mê, không biết bạch lại ai, khi ra ngoài cửa ngõ, thấy các Tỳ-kheo bèn chạy đuổi theo, từ xa kêu lớn để thưa. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo chạy như nai, như thỏ, kêu la như chim cú trọc đầu, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên từ xa thưa bạch. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhận lời mời của người, trước bữa ăn, sau bữa ăn, mà đi đến nhà khác; không bạch với Tỳ-kheo khác ở gần, Ba-dật-đề”.
Các Tỳ-kheo lại nghĩ như vầy: “Thời của y có nên bạch hay không?”
Họ đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Trừ thời (gian)* của y. Từ nay giới này [70a01] nên nói như sau:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, nhận lời mời của người, trước bữa ăn, sau bữa ăn mà đi đến nhà khác; không bạch với Tỳ-kheo khác ở gần, trừ nhân duyên,Ba-dật-đề”.
C. THÍCH TỪ
Nhân duyên: Là thời (gian)* của y gọi là nhân duyên.
Nếu thưa bạch đến nhà A mà đến nhà B, thì không gọi là thưa bạch. Nếu không thưa mà đến các gia đình, một chân vào trong cửa, Đột-kiết-la; hai chân vào trong cửa, Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu bạch đến một nhà, nhân đó đến một nhà khác thì không phạm. Nếu không có Tỳ-kheo để có thể thưa bạch cũng không phạm.

LXXXIII. PHI THỜI VÀO XÓM402

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật du hóa tại nước Câu-tát-la403 cùng đầy đủ đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi người. Các Tỳ-kheo, hoặc nhận được phòng để ngủ, hoặc dưới bóng cây, hoặc nơi đất trống. Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo vừa sáng sớm đã khoác y bưng bát, ở trong đường hẻm, nói chuyện thế sự với các bạch y404 cho đến sẩm tối. Người đi đường thấy, cơ hiềm nói:
“Chỗ này không phải là chỗ người xuất gia bàn chuyện, sao không ở nơi A-lan-nhã thủ nhiếp các căn.”
Hoặc có người nói: “Những vị này không ưa Phật pháp, không kính giới luật, được nơi nói chuyện vui đùa là quên cả thời gian.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, vào tụ lạc phi thời, Ba-dật-đề”.
Có các Tỳ-kheo có duyên sự cần vào tụ lạc lúc phi thời mà không dám vào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Nay cho phép có duyên sự, được vào tụ lạc lúc phi thời. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào,405 phi thời vào tụ lạc, không báo cáo với thiện Tỳ-kheo ở gần, trừ nhân duyên,406 Ba-dật-đề”.

C. THÍCH TỪ
Nhân duyên: Là khi có nạn, đó gọi là nhân duyên.
Sa-di Đột-kiết-la. Nếu trên đường đi, đi qua tụ lạc, hoặc chiều tối cần phải nghỉ đêm, hay là có tám nạn khởi, đều không phạm.

LXXXIV. ĐỆM BÔNG407

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.408 Bấy giờ, cách thành không xa có một cây Thần,409 nhiều người phụng thờ. Thời gian tiết hội, đến bảy ngày mới xong, có bốn loại bông Đâu-la dùng để nhồi độn khi (ngồi) dâng lễ, họ vất nó mà đi. Sau đó các Tỳ-kheo thâu lấy để độn vào giường dây, giường cây, và làm gối làm nệm. Các bạch y thấy, cơ hiềm nói:
“Những vật này hôi thúi, dễ sanh các loài trùng, tại sao các Tỳ-kheo lại ngồi nằm trên đó, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp Sa-môn!”
[70b01] Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách xong, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, dùng bông Đâu-la độn vào dụng cụ ngồi nằm, Ba-dật-đề”.

C. THÍCH TỪ
Bông Đâu-la: Là chỉ cho hoa liễu, hoa Bạch dương, hoa Bồ-lê, hoa Diệm-bà.410
Nếu khởi tâm và tạo phương tiện độn đều Đột-kiết-la, làm thành Ba-dật-đề. Nếu không phá bỏ mà ngồi thì mỗi lần ngồi, Ba-dật-đề. Nếu nằm mỗi lần nằm, Ba-dật-đề. Người khác cho mà nhận, Ba-dật-đề. Chủ yếu là trước hết phải xả bỏ, rồi mới sám hối. Không làm như vậy thì mắc tội càng nặng. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

LXXXV. GIƯỜNG CAO QUÁ LƯỢNG411

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.412 Bấy giờ, các Tỳ-kheo sử dụng loại giường cao chân, Tỳ-kheo già bệnh, khi leo lên leo xuống, té xuống đất bị thương, hoặc bị lộ hình, các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Các Sa-môn này như vua, như các người quí phái hào tộc, không biết tiết kiệm.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc đem chiếc giường nằm ngồi của mình cúng cho Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà nhận được rồi đem trưng bày trong phòng của mình.
Thường pháp, đức Thế Tôn cứ năm ngày là một lần đi xem xét các phòng (Tỳ-kheo)*.
Bạt-nan-đà bạch Phật:
“Ngài xem chiếc giường của con!”
Đức Phật liền quở trách:
“Ngươi là kẻ ngu si, tại sao muốn ở yên trong hầm sanh tử, mà không có ý mong cầu ra khỏi?! Ngươi không nên tự sử dụng giường cao sang, trang sức bằng gấm vóc. Ai phạm, Đột-kiết-la.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, tự mình làm ngọa cụ, giường dây, giường gỗ, chân nên cao bằng tám ngón tay của Tu-già-đà,413 trừ khúc vào lỗ mộng, nếu quá, Ba-dật-đề”.
Nếu tự mình làm giường hay sai người làm, nếu cao (hơn mức qui định)* đều phải cắt bỏ, rồi mới sám hối tội. Nếu nhận được giường cho, mà cao thì khi nhận phải nghĩ như vầy: “Giường này không như pháp, ta sẽ cắt bỏ. Nếu không nghĩ như vậy mà nhận, Ba-dật-đề. Trước hết, nên cắt bỏ, rồi sau mới sám hối.
Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

LXXXVI. ỐNG ĐỰNG KIM414

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở thành Vương Xá.415 Bấy giờ, các Tỳ-kheo dùng xương, răng, sừng làm ống đựng kim. Họ tìm kiếm khắp nơi, kể cả trong rác rưởi thu dụng để tạo ra nó. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Các Sa-môn này giống như chó, như chim, như thợ tiện răng, sừng, nhơ nhớp, đáng gớm.”
[70c01] Lại có các Tỳ-kheo đến nơi lò sát sanh, thấy lúc giết (bò trâu)* thích muốn đến xin. Các tên đồ tể hiềm khích nói:
“Xem các Sa-môn này chỉ muốn giết nhiều, thấy giết liền thích. Ngày đêm họ thường rao giảng nói từ mẫn hộ niệm chúng sanh, mà nay không hề có tâm trắc ẩn nhân từ.”
Lúc ấy, có người thợ tiện răng, sừng tin ưa Phật pháp, thường cung cấp cho các Tỳ-kheo, hoặc tự xuất răng, sừng để làm, hoặc tìm kiếm răng, sừng để làm. Vì việc này đưa đến sự tệ hại là (người thợ)* không làm được cho người khác. Người trong nhà tự nói với nhau:
“Nếu cứ mãi làm đầy tớ cho các Sa-môn thì chúng ta mỗi người nên tự lo lấy sự sống.”
Người láng giềng nói:
“Vì Ông tin kính Sa-môn nên mới khốn cùng!”
Các Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: “Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, dùng xương, răng,416 sừng làm ống đựng kim, Ba-dật-đề”.
Nếu Tỳ-kheo móng tâm và tạo phương tiện muốn làm, Đột-kiết-la; làm thành rồi, Ba-dật-đề. Trước hết, nên phá hủy, sau mới sám hối tội đọa.
Nếu làm ống để nhỏ vào mũi417 thì không phạm. Ngoài ra như trong giới làm giường nằm đã nói.

357 Tăng-kỳ 18, tr. 369c18: Ba-dật-đề 49; Tứ phần 18, tr. 691b13: Ba-dật-đề 82; Thập tụng 15, tr. 107b29: Ba-dật-đề 58; Căn bản 40, tr. 845b06: Ba-dật-đề 59. Pāli, Pāc. 84, Ratana.
358 Tứ phần: Xá-vệ quốc 舍衞城(國); Tăng-kỳ; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
359 Thập tụng: “hoặc bảo, hoặc tợ bảo.” Giải thích, bảo: tiền, vàng bạc…; tợ bảo: đồng, thiếc, bạch lạp, chì,… Pāli: ratanaṃ vā ratanasammaṃ, bảo vật hay vật tương đồng bảo vật.
360 Nhà Chiêu-đề Tăng 招提僧堂: Skt. catur-diśa, Pāli: catu-disa, tức chỉ cho nhà khách mà Tăng chúng từ bốn phương (Chiêu-đề Tăng) đến đều có thể nghỉ lại qua đêm.
361 Tăng-kỳ 18, tr. 371c25: Ba-dật-đề 50; Tứ phần 16, tr. 674b06: Ba-dật-đề 56; Thập tụng 16, tr. 109c08, Căn bản 40, tr. 847a19: Ba-dật-đề 60. Pāli, Pāc. 57, Nahāna.
362 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
363 Bột đậu tắm (Tháo [táo] đậu 澡豆): Thập tụng 38, tr. 275c24 (T23n1435), “Ưu-ba-ly hỏi Phật, dùng vật gì làm đậu tắm (Tháo đậu)? Phật dạy: ‘Dùng đậu lớn, đậu nhỏ, đậu ma-sa, đậu uyển… mà làm (nghiền thành bột)’.”
364 Hán: Ác lộ 惡露, Pāli. asubha, những thứ nước lỏng (lộ) nhơ nhớp từ trong thân thể tiết ra như, mủ, máu, nước phẩn, nước tiểu v.v… đáng chán ghét (ác).
365 Hán: Tướng sư 相師. Pāli: Supinajjhāyaka, người chiêm tinh đón mộng.
366 “Một lần, nếu quá”: Trong Để bản không có cụm từ này, chúng tôi thêm vào cho đủ nghĩa.
367 Tứ phần: Lúc đi đường, cho đến chỉ đi trong vòng nửa do-tuần, kể cả đi tới và đi lui.
368 Tứ phần: Khi mưa gió, cho đến một trận gió lốc, một giọt mưa rơi trên thân.
369 Tứ phần: Thời gian nóng, bốn mươi lăm ngày cuối mùa xuân và tháng đầu mùa hạ là thời gian nóng bức.
370 Tăng-kỳ 18, tr. 375c28: Ba-dật-đề 57; Tứ phần 18, tr. 688b12: Ba-dật-đề 78; Thập tụng 14, tr. 102a14, Căn bản 37, tr. 832c23: Ba-dật-đề 48. Pāli, Pāc. 74, Pahāra.
371 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành 舍衞城; Tứ phần; Thập tụng: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
372 Tăng-kỳ 18, tr. 376c07: Ba-dật-đề 59; Tứ phần 18, tr. 688c09: Ba-dật-đề 79; Thập tụng 14, tr. 102b02, Căn bản 38, tr. 833b06: Ba-dật-đề 49. Pāli, Pāc. 75, Talasattika.
373 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành(quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Vương Xá thành王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
374 Đưa tay nhá như giống đánh, Hán: nghĩ như đả tướng 擬如打相. Tứ phần: Hán, bác 搏, đánh hay tát. Tăng-kỳ: Trắc chưởng đao nghĩ 側掌刀擬, nghiêng bàn tay làm bộ dao chém. Pāli: talasattikaṃ uggireyya, “đưa lòng tay lên,” nghĩa là dọa đánh.
375 Tăng-kỳ 19, tr. 379c12: Ba-dật-đề 64; Tứ phần 16, tr. 673b19: Ba-dật-đề 55; Thập tụng 16, tr. 113b22, Căn bản 41, tr. 850c07: Ba-dật-đề 66. Pāli. Pāc. 55, Bhiṃsāpeti.
376 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành 舍衞城; Tứ phần: Ba-la-lị-tỳ quốc 波羅離毘國; Thập tụng: Duy-da-ly quốc 維耶離國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
377 Tăng-kỳ 19, tr. 376c07: Ba-dật-đề 59; Tứ phần 17, tr. 678c10: Ba-dật-đề 64; Thập tụng 14, tr. 102b22, Căn bản 38, tr. 833b27: Ba-dật-đề 50; Pāli, Pāc. 64, Duṭṭhullaṃ.
378 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng:Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
379 Thập tụng: “Che dấu nhẫn đến một đêm.” Các bộ khác không có chi tiết này.
380 Tăng-kỳ 21, tr. 394c07: Ba-dật-đề 89; Tứ phần 18, tr. 689a07: Ba-dật-đề 80; Thập tụng 16, tr. 115a21, Căn bản 41, tr. 851c20: Ba-dật-đề 69. Pāli, Pāc. 76, Amūlaka.
381 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành quốc 舍衞城(國); Thập tụng: Duy-da-ly quốc維羅離國; Căn bản: Vương Xá thành王舍城.
382 Tăng-kỳ 17, tr. 366b28: Ba-dật-đề 43; Tứ phần 15, tr. 667c11: Ba-dật-đề 46; Thập tụng 15, tr. 104a20, Căn bản 38, tr. 834a27: Ba-dật-đề 51. Pāli, Pāc. 42, Uyyojana.
383 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành舍衞城; Căn bản: Thất-la-phạt thành室羅伐城.
384 Hán: Phạm 犯.
385 Tăng-kỳ; Tứ phần: “Cố tình đuổi đi.” Thập tụng, Căn bản: “Gây phiền não” như Ngũ phần.
386 Tăng-kỳ 18, tr. 368a14: Ba-dật-đề 47; Tứ phần 16, tr. 676b20: Ba-dật-đề 60; Thập tụng 15, tr. 108c28: Ba-dật-đề 59; Căn bản 39, tr. 842c27: Ba-dật-đề 58. Pāli, Pāc. 58,Dubbaṇṇakaraṇa.
387 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành 王舍城.
388 Mộc lan 木蘭: Màu mộc lan là màu của da cây mộc lan, pha trộn giữa màu đỏ và màu đen, là một trong ba màu hoại sắc (xanh, đen, mộc lan), dùng để nhuộm pháp phục Ca-sa cho các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni. Sự pha trộn này thì màu đỏ nhiều hơn màu đen, Người Ấn thường gọi màu này là màu Càn-đà (Pāli: Gandha, là hương thơm, hương liệu ), tên khoa học gọi là Hyperanthera moringa.
389 Tăng-kỳ 19, tr. 379b06: Ba-dật-đề 63; Tứ phần 16, tr. 675c08: Ba-dật-đề 58; Thập tụng 16, tr. 114a23, Căn bản 41, tr. 851a17: Ba-dật-đề 67. Pāli, Pāc. 60, Cīvaraapanidhāna.
390 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
391 Tăng-kỳ 17, tr. 366a21: Ba-dật-đề 43; Tứ phần 18, tr. 687b20: Ba-dật-đề 76; Thập tụng 15, tr. 105a05, Căn bản 38, tr. 837c28: Ba-dật-đề 53. Pāli, Pāc. 79, Kammapaṭibāhana.
392 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
393 Hán: Tăng đoán sự thời, như pháp dữ dục cánh, dữ cánh ha 僧斷事時如法與欲竟後更呵. Pāli: Dhammikānaṃ kammānaṃ chandaṃ datvā pacchā khīyadhammaṃ āpajjati.Hán: Ha呵. Tứ phần: Hối 悔. Pāli: Kammapaṭibāhana, phủ nhận việc làm của mình.
394 Tứ phần 18, tr. 686c04: Ba-dật-đè 64. Tăng-kỳ 14, tr. 338b01, Thập tụng 10 tr.74a20, Căn bản 27, tr. 774b27: Ba-dật-đề 9. Pāli, Pāc. 81 Dubbala.
395 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Tứ phần: La Duyệt thành 羅閱城; Thập tụng; Căn bản: Vương Xá thành王舍城.
396 Tăng-kỳ 19, tr. 379a02: Ba-dật-đề 62; Thập tụng 16, tr. 114b29, Căn bản 41, tr.851b25: Ba-dật-đề 68. Pāli, Pāc. 59, Vikappana. Tứ phần: Không có.
397 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành舍衞城; Thập tụng: Vương Xá thành王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
398 Tăng-kỳ 20, tr. 389c08: Ba-dật đề 80; Tứ phần 15, tr. 665a04: Ba-dật-đề 42; Thập tụng 17, tr. 123c26; Căn bản 43, tr. 865c28: Ba-dật-đề 81; Pāli, Pāc. 46 Cāritta.
399 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
400 Tứ phần: Trước bữa ăn, từ bình minh xuất hiện, đến khi ăn.
401 Tứ phần: Sau bữa ăn (Thực hậu 食後), từ khi ăn cho đến giữa ngày. Tăng-kỳ: ăn xong rồi, vẫn còn sớm, gọi là thực hậu. Thập tụng: trung tiền trung hậu 中前中後, trước và sau giữa trưa.
402 Tăng-kỳ 20, tr. 389a02: Ba-dật-đề 79; Tứ phần 19, tr. 692c11: Ba-dật-đề 83; Thập tụng 17, tr. 121c02, Căn bản 42, tr. 860a17: Ba-dật-đề 80. Pāli, Vin. iv. 164, Pāc. 85Vikālagāmappavisana.
403 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
404 Tứ phần: “Cùng các cư sĩ đánh cờ (Xu bồ 樗蒱)”. Pāli: sabhāyaṃ nisīditvā anekavihitaṃ tiracchānakathaṃ kathenti, ngồi ở hội trường, bàn đủ các đề tài súc sinh luận.
405 Tăng-kỳ: “Tỳ-kheo a-lan-nhã.” Điều luật áp dụng cho Tỳ-kheo sống trong rừng.
406 Tăng-kỳ: “Trừ dư thời.” Giải thích: Dư thời, những lúc có việc khẩn cấp (như có người bị rắn độc cắn). Pāli: aññatra tathārūpā accāyikā karaṇīyā, trừ có sự việc khẩn cấp nào đó.
407 Tăng-kỳ 20, tr. 392a08: Ba-dật-đề 84; Tứ phần 19, tr. 693b17: Ba-dật-đề 85; Thập tụng 18, tr. 127b22, Căn bản 49, tr. 895b28: Ba-dật-đề 86; Pāli, Pāc. 88 Tūlonaddha.
408 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ quốc; Thập tụng: Vương Xá thành; Căn bản: Thất-la-phạt thành.
409 Hán: Thần thọ 神樹. Pāli: Cetiyarukkha, miếu thờ thần cây.
410 Tăng-kỳ: Các loại Đâu-la: A-già đâu-la, Bà-ca đâu-la, Cưu-tra-xà đâu-la, Giác (sừng) đâu-la, Thảo (cỏ) đâu-la, Hoa đâu-la. Tứ phần: Đâu-la: Bông cây bạch dương, bông cây dương liễu, bông bồ đài. Thập tụng: Đâu-la miên: Hoa bạch dương, hoa liễu, hoa a-cưu-la, hoa ba-ưu-la, hoa cưu-xá-la, hoa gian-xà, hoa ba-ba, hoa li-ma. Căn bản: các thứ nhồi độn (trữ vật 貯物): bông cây, bông cỏ, bồ-đài, kiếp-bối, lông dê; độn năm thứ này làm nệm, ba-dật-đề. Pāli: Tūla, bông gòn, có loại: Rukkhatūla, bông của cây; latātūla, gòn dây leo; poṭakitūla, bông cỏ.
411 Tăng-kỳ 20, tr. 391b18: Ba-dật-đề 83; Tứ phần 19, tr. 694a17: Ba-dật-đề 84, Thập tụng 18, tr. 127b22, Căn bản 49, tr. 894b17: Ba-dật-đề 85; Pāli, Pāc. 87 Mañcapīṭha.
412 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Câu-xá-di quốc俱舍彌國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
413 Tám ngón tay của Tu-già-đà. Căn bản: của Phật; và giải thích: 8 ngón tay (chỉ 指) của Phật dài bằng 1 khuỷu (chẩu 肘) của người trung bình. Pāli: sugataṅgula: ngón tay củaSugata (Thiện Thệ). Cước chú của bản dịch Anh: sugata đây có nghĩa là “tiêu chuẩn” được chấp nhận (không phải chỉ cho ngón tay của Phật).
414 Tăng-kỳ 20, tr. 391a08: Ba-dật-đề 82; Tứ phần 19, tr. 693c09: Ba-dật-đề 86; Thập tụng 18, tr. 127a23, Căn bản 49, tr. 894a16: Ba-dật-đề 84. Pāli, Pāc. 86 Sūcighara.
415 Tứ phần: La-duyệt thành; Tăng-kỳ; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
416 Răng, Hán: Nha 牙. Thập tụng: Nha xỉ 牙齒; giải thích: Nha, chỉ ngà voi, răng nanh của ngựa, răng nanh heo; xỉ, chỉ răng voi, răng ngựa, răng heo. Pāli: danta, giải thích: dantonāma hatthidanto vuccati, răng, là nói răng của voi (ngà voi).
417 Pāli: dùng làm các thứ sau đây không phạm: gaṇṭhika, nút móc y; araṇka, dùi lửa; vidha, hộp nhỏ; añjani, hộp đựng thuốc bôi mắt; añjanisalāka, que bôi thuốc; vāsijaṭa, cán búa nhỏ; udakapuñchani, đồ chùi bụi.

LXXXVII. NI-SƯ-ĐÀN QUÁ LƯỢNG418

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.419 Bấy giờ, các Tỳ-kheo không trải tọa cụ mà ngồi trên giường của Tăng nên nệm bị bụi đất cáu bẩn. Lại có một Tỳ-kheo bị són mà tưởng là chỉ có gió ra. Khi biết được đem giặt, phơi trước phòng.
Đức Thế Tôn, hỏi A-nan:
“Đây là nệm của ai?”
(Tôn giả A-nan)* liền trình bày đầy đủ vấn đề. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên không trải tọa cụ mà ngồi trên giường nệm của Tăng, ai phạm, Đột-kiết-la. Nay cho phép các Tỳ-kheo, để bảo vệ thân, bảo vệ y, bảo vệ giường nệm của Tăng, được dùng (chứa)* tọa cụ.”
Các Tỳ-kheo lại nghĩ như vầy: “Đức Phật đã cho phép chúng ta làm tọa cụ. Vì vậy họ làm rộng lớn thòng xuống đất bị bùn nhơ, các cư sĩ thấy hỏi các Tỳ-kheo:
“Đây là cái y gì mà thòng phết đất?”
Trả lời: “Đây là cái tọa cụ của chúng tôi.”
Họ cơ hiềm nói: “Thưa Đại đức! Sao không làm cân xứng với thân? Tuy không phải xuất tiền nhà nhưng phải biết tiết kiệm chứ! Thích tử thường nói thiểu dục tri túc, nhưng nay như thế! Không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch với Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: [71a01] “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, làm Ni-sư-đàn, nên làm cho đúng lượng, dài hai gang tay của Tu-già-đà, rộng một gang rưỡi. Nếu quá, Ba-dật-đề”.
Trưởng lão Ưu-đà-di thân hình lớn, tọa cụ nhỏ, ngồi còn dư ra hai đầu gối. Khi đức Phật đến xét các phòng, Ưu-đà-di nắm kéo tọa cụ như cách kéo da. Đức Phật hỏi: “Tại sao làm thế?”
Ưu-đà-di thưa: “Bạch đức Thế Tôn, thân hình con lớn mà cái tọa cụ nhỏ, nên con kéo ra cho rộng.”
Đức Phật quở trách nói:
“Ông là người ngu si, khi nào cũng đóng kịch. Nay Ta cho phép thêm hai đầu một gang tay nữa.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm Ni-sư-đàn phải làm đúng lượng, dài hai gang tay, rộng một gang tay rưỡi của Tu-già-đà,420 rồi thêm vuông vức một gang. Nếu làm quá, Ba-dật-đề”.

C. THÍCH TỪ
Thêm vuông vức một gang tay: Rọc lấy ba phần nối vào đầu chiều dài, còn một phần điểm bốn góc, không điểm thì thôi. Trừ Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni; ngoài ra như trong giới làm giường đã nói.

LXXXVIII. PHÚ SANG Y421

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.422 Bấy giờ, Tỳ-kheo Tỳ-la-trà423 thân thể bị sanh ghẻ, máu mủ chảy đầy, khi cởi y phục đã mặc vết thương dính vào bóc ra đau. Đức Phật đi tuần hành các phòng thấy, hỏi Tỳ-kheo kia: “Bệnh của ngươi có thuyên giảm chút nào không? Có đau nhức khó chịu không?”
(Tỳ-kheo bệnh)* thưa: “Bệnh của con không thuyên giảm, đau nhức không chịu nổi! Khi cởi y phục đã mặc vết thương dính vào bóc ra đau.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo, vì hộ thân, hộ y, hộ nệm ngồi của Tăng, được dùng y che ghẻ,424 dùng vải mỏng mịn để làm.”
Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Đức Phật cho phép chúng ta làm y che ghẻ, bèn làm lớn, trùm cả trên đầu cho đến chân, kéo lê dưới đất dính bụi nhơ. Các cư sĩ thấy, bằng mọi cách quở trách như trong giới Ni-sư-đàn đã nói.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: “Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm y che ghẻ, nên làm đúng lượng, dài bốn gang tay, rộng hai gang tay Tu-già-đà. Nếu quá lượng,425 Ba-dật-đề”.
Y che ghẻ, mặc khi có ghẻ, ghẻ lành, nên tịnh thí. Ngoài ra như trong giới tọa cụ đã nói.

LXXXIX. ÁO TẮM MƯA426

A. DUYÊN KHỞI
[71b01] Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.427 Bấy giờ, đức Phật cho phép Tỳ-xá-khư Mẫu dâng cúng áo tắm mưa428 cho Tăng. Các Tỳ-kheo làm vừa rộng vừa dài, các cư sĩ cơ hiềm… Cho đến các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật, như giới trên đã nói. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, làm áo tắm mưa, nên làm cho đúng lượng, dài năm gang tay, rộng hai gang rưỡi tay của Tu-già-đà,429 nếu quá, Ba-dật-đề”.
Ngoài ra như trong giới làm y che ghẻ đã nói.

XC. LƯỢNG Y NHƯ LAI430

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.431 Bấy giờ, các Tỳ-kheo may y của mình bằng hay hơn y của Tu-già-đà. Cư sĩ cơ hiềm nói… cho đến câu: Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật, đều như giới trên đã nói. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, may y của mình bằng hay hơn y của Tu-già-đà, Ba-dật-đề”.

C. THÍCH TỪ
Lượng của y mình bằng y của Tu-già-đà: Tức là chiều dài bằng chín gang tay, chiều rộng bằng sáu gang tay của Tu-già-đà. Đó gọi là lượng y của mình bằng y của Tu-già-đà.
Nan-đà thấp hơn đức Phật bốn ngón tay, không biết nên may y theo lượng nào, đem việc này bạch lên Phật, đức Phật dạy:
“Cho phép Nan-đà may y ngắn hơn y Phật hai ngón tay.”
Lại có các Tỳ-kheo thấp hơn, không biết may y theo lượng nào, bạch Phật, đức Phật dạy:
“Cho phép tuỳ theo thân hình người cao hay thấp để may y.”
Ngoài ra, như trong giới y tắm mưa đã nói.

XCI. XOAY VẬT CỦA TĂNG VỀ CHO NGƯỜI KHÁC432

A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.433 Bấy giờ Nan-đà, Bạt-nan-đà cùng nhau bàn nói:
“Đức Thế Tôn đã dạy xoay vật của Tăng về cho mình, phạm Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay chúng ta nên xoay về cho nhau.”
Hai vị liền nói với đàn việt, để rồi cùng nhau thủ lợi. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Nan-đà, Bạt-nan-đà:
“Các ngươi, có thật vậy?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, biết vật đàn việt muốn cúng cho Tăng mà xoay về cho người khác, Ba-dật-đề”.
Ngoài ra, như trong giới xoay vật của Tăng về cho mình đã nói.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *