Ngũ Phần Luật – 10. Phần I – Chương 7 – Pháp Chúng Học

CHƯƠNG VII : PHÁP CHÚNG HỌC

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

Điều 1 đến điều 7[6]
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá.[7] Bấy giờ, các Tỳ-kheo[8] mặc hạ y,[9] hoặc cao quá, hoặc thấp quá, hoặc so le, hoặc như lá Đa-la, hoặc như vòi con voi, hoặc như vòng tròn [74a01], hay xếp nhỏ. Cư sĩ thấy hiềm trách, nói:
“Các Sa-môn này mặc Hạ y hoặc giống như phụ nữ, hoặc giống như kỹ nữ, lấy đó làm điều tốt, không có tác phong. Mặc y còn không biết huống nữa là đối với chơn lý.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết Pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
1- Mặc hạ y không cao,6
2- không thấp,7
3- không so le,8
4- không như lá cây Đa-la,9
5- không như mũi con voi,10
6- không như vòng tròn,11
7- không xếp nhỏ,12 cần phải học”.
C. THÍCH TỪ
Mặc cao:13 Nửa ống chân trở lên.
Mặc thấp: Từ nửa ống chân trở xuống.
Mặc so le: Là bốn góc không bằng nhau.
Mặc như lá cây Đa-la:14 Là mặc trước cao sau thấp.
Như mũi con voi: Là thòng một góc phía trước.
Như vòng tròn (viên nại): Túm phía trước cho tròn, để vén trước bụng.
Xếp nhỏ: Quấn chỗ eo lưng thành từng lằn nhỏ.
Nếu không biết, không hỏi, mà mặc như vậy, Đột-kiết-la. Nếu hiểu rõ mà không cẩn thận mặc như vậy cũng Đột-kiết-la. Nếu hiểu rõ mà khinh giới, khinh người nên mặc như vậy, Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu khi có bệnh, hoặc lúc trời mưa dính bùn thì không phạm.
Điều 8 đến điều 10
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo mặc y15 hoặc quá cao, hoặc quá thấp, hoặc so le. Cư sĩ cơ hiềm… cho đến câu: Vì các Tỳ-kheo kết pháp nên học… Đều như trước đã nói.
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
8- Mặc y không cao,16
9- không thấp,17
10- không so le,18 cần phải học”.
Cao thấp so le như nghĩa trên đã nói.
Điều 11 đến điều 50
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo không khéo che19 thân vào nhà bạch y, hoặc mặc như vậy ngồi nhà bạch y; hoặc lật ngược y lên vai bên tả vào nhà bạch y, hoặc mặc như vậy ngồi nhà bạch y; hoặc lật ngược y lên vai bên hữu vào trong nhà bạch y, hoặc mặc như vậy ngồi nhà bạch y; hoặc lật ngược y lên cả hai vai vào nhà bạch y, hoặc mặc như vậy ngồi nhà bạch y; hoặc lắc mình,20 lắc đầu,21 hoặc nhún vai, hoặc dắt tay22 nhau, hoặc trùm kín cả người, hoặc chống nạnh,23 hoặc chống cằm, hoặc vung cánh tay (thòng cánh tay đưa ra trước bước đi) vào nhà bạch y; hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà Bạch y; hoặc nhìn lên, hoặc quay nhìn hai bên vào nhà bạch y; hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y; hoặc đi nhón chân vào nhà bạch y, hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y; [74b01] hoặc đi chồm hổm24 vào nhà bạch y, hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y; hoặc trùm đầu25 đi vào nhà bạch y; hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y; hoặc đùa giỡn26 vào nhà bạch y; hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y; hoặc nói lớn tiếng vào nhà bạch y, hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y; hoặc không chững chạc vào nhà bạch y; hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y. Các cư sĩ thấy cơ hiềm như trước.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
Thật sự các ông có như vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
11- Khéo che thân27 vào nhà bạch y, cần phải học,
12- (hoặc mặc như vậy ngồi28 nhà bạch y;
13- hoặc lật ngược y lên vai bên tả29 vào nhà bạch y,
14- hoặc mặc như vậy ngồi nhà bạch y;
15- hoặc lật ngược y lên vai bên hữu vào trong nhà bạch y,
16- hoặc mặc như vậy ngồi nhà bạch y;
17- hoặc lật ngược y lên cả hai vai vào nhà bạch y,
18- hoặc mặc như vậy ngồi nhà bạch y;
19- hoặc lắc mình,30 vào nhà bạch y,
20- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
21- Hoặc lắc đầu31 vào nhà bạch y,
22- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
23- hoặc nhún vai32 vào nhà bạch y,
24- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch;
25- hoặc dắt tay nhau33 vào nhà bạch y,
26- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
27- hoặc trùm kín cả người34 vào nhà bạch y,
28- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
29- hoặc chống nạnh35 vào nhà bạch y,
30- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
31- hoặc chống cằm36 vào nhà bạch y,
32- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
33- hoặc vung cánh tay37 vào nhà bạch y,
34- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
35- hoặc nhìn lên38 vào nhà bạch y,
36- hoặc với dáng điệu đó ngồi nhà bạch y;
37- hoặc quay nhìn hai bên39 vào nhà bạch y,
38- hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y;
39- hoặc đi nhón chân40 vào nhà bạch y,
40- hoặc với oai nghi này ngồi nhà Bạch y;
41- hoặc đi chồm hổm41 vào nhà bạch y,
42- hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y;
43- hoặc trùm đầu đi42 vào nhà bạch y,
44- hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y;
45- hoặc giỡn cười43 vào nhà bạch y,
46- hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y;
47- hoặc nói lớn tiếng44 vào nhà bạch y,
48- hoặc với oai nghi này ngồi nhà bạch y;
49- hoặc không chững chạc45 vào nhà bạch y, )*
…. cho đến câu:
50 – Với oai nghi này ngồi nhà Bạch y, cần phải học”.
Điều 5146
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật du hoá tại nước Bà-già,47 cùng đầy đủ năm trăm vị đại Tỳ-kheo Tăng, đến núi Thủ-ma-la,48 trú tại rừng Khủng Bố. Bấy giờ, có thái tử Bồ Đề Vương vừa xây một giảng đường mới tại núi này, chưa có Sa-môn, Bà-la-môn nào vào ngồi trong đó. Thái tử kia nghe đức Phật đến núi này trú tại rừng Khủng Bố, bảo Ma-nạp Tát-xà Tử:49 Ngươi nhân danh Ta đến thăm hỏi đức Thế Tôn, xem Ngài có được khỏe, ít lo ít phiền, cuộc sống có được nhẹ nhàng không và thưa, ta đã lập được một giảng đường mới tại núi này, chưa có Sa-môn, Bà-la-môn nào vào ngồi trong đó; cúi xin đức Thế Tôn cùng chúng Tăng, trước hết, ghi nhận giảng đường này và tại đây ta xin thiết lễ bạc cúng dường, để cho ta được an ổn lâu dài. Nếu đức Phật dạy thế nào, ta sẽ phụng hành. Ngươi đem việc này bạch lên Phật rồi trở về gấp báo cáo với ta.
Ma-nạp vâng lời, đến rồi đầu diện đảnh lễ sát chân, đứng lui qua một bên, trình bày đầy đủ ý của thái tử. Đức Phật nhận lời bằng cách im lặng.
Lúc ấy, Tát-xà Tử biết Phật đã hứa khả, liền trở về tâu với thái tử. Suốt đêm, thái tử chuẩn bị nhiều thức ăn ngon bổ, sáng ngày tự đưa đến giảng đường. Bên trong và bên ngoài giảng đường đều trải bằng vải nhiều sắc màu. Đến giờ bạch Phật, xin oai đức giũ lòng (quang lâm)*. Đức Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo kẻ trước người sau vây quanh đến đứng dưới cấp của đường đi.
Thái tử để trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch Phật: Kính thỉnh đức Thế Tôn bước lên giảng đường chật hẹp này để con nhận được sự an lạc lâu dài.
Đức Phật vẫn không bước lên, cho đến ba lần, lần thỉnh cuối cùng; đức Phật quay lại nhìn Tôn giả A-nan. Tôn giả hiểu được ý chỉ của Phật, nói với thái tử: Nên cuốn vải nhiều màu này, đức Phật không bước lên trên, vì lòng thương đối với đời sau.
Thái tử liền ra lệnh cuốn vải, [74c01] rồi như lần trước, thỉnh Phật. Khi ấy, đức Thế Tôn cùng Chúng Tăng đều bước lên, đến tòa an toạ. Thái tử tự tay dâng thức ăn. Các Tỳ-kheo dùng một ngón tay hoặc hai ngón tay cầm bình bát nhận thức ăn dâng đặt vào, tất cả bát đều rơi, đồ ăn uống đổ xuống nhớp cả nền nhà bằng thuỷ tinh. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo này giống như những kẻ kiêu căn, giảo hoạt.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: “Các ngươi, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
51- Nhận thức ăn nên chú tâm,50 cần phải học”.
Chú tâm tức là tay bên tả nhất tâm bưng bình bát, tay bên hữu đỡ nơi cái miệng bát.
Điều 52 đến điều 57
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo nhận thức ăn đầy bát, tràn ra ngoài làm tốn cơm canh, các bạch y chê trách:
“Các Tỳ-kheo này ham nhận (thức ăn)*, không biết nhàm chán, như kẻ đói khát.”
Lại có các Tỳ-kheo ở nhà bạch y, nhận được cơm, ăn hết không đợi canh, nhận được canh lại ăn hết, không đợi cơm. Các bạch y chê trách, nói:
“Các Tỳ-kheo này ham ăn như chó!”
Lại có các Tỳ-kheo moi lấy thức ăn khắp trong bát. Lại có các Tỳ-kheo khoét chính giữa bát để (lấy thức)* ăn. Lại có các Tỳ-kheo cong ngón tay để vét (thức ăn trong)* bát để ăn. Lại có các Tỳ-kheo ngửi thức ăn khi ăn. Các cư sĩ thấy, đều chê trách.
Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo chế pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
52- Không được nhận thức ăn đầy bát.51
53- Ăn canh và cơm đồng đều.52
54- Không moi khắp trong bát để lấy thức ăn.53
55- Không được khoét giữa bát để (lấy thức ăn)* ăn.54
56- Không được cong ngón tay để vét (thức ăn trong)* bát.55
57- Khi ăn không được ngửi thức ăn, cần phải học.”
Điều 58-59
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo xoay qua hai bên trông thức ăn. Các bạch y (thấy)* chê trách:
“Các Tỳ-kheo này như chó, như chim, tự mình ăn lại nhìn người, phép ăn còn không biết, huống là lý thâm sâu khác!”
Các Trưởng lão nghe, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Khi ăn không nên nhìn ngó hai bên.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo không dám nhìn ngó, [75a01] nhắm mắt mà ăn, nên không thấy thêm cơm canh. Nhóm sáu Tỳ-kheo lấy thức ăn ấy ăn. Khi mở mắt ra, hỏi:
“Ai lấy thức ăn của tôi?”
Trả lời:
“Các thầy không có con mắt để ngó hay sao, mà hỏi lại người ngồi gần?”
Tỳ-kheo khác quở trách rồi, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
58- Khi ăn nên nhìn kỹ vào bình bát,56 cần phải học.”
Nhìn kỹ vào bình bát: Là buộc sự nhìn vào bình bát, nhìn khi thêm thức ăn.
Điều 5957
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo ăn còn thừa thức ăn, các cư sĩ cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo này ăn như con nít.”
Lại có năm trăm Tỳ-kheo thọ trai tại một nhà cư sĩ, trong số những người bạch y, có người nói, Tỳ-kheo ăn đều không để thừa thức ăn; có người nói bỏ thừa. Hai người cá nhau. Hôm ấy, ngẫu nhiên các Tỳ-kheo lại không để thừa thưc ăn; sau đó, thấy ở chỗ khác ăn để thừa thức ăn, nên họ cơ hiềm như trên.
Các Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
59- Không được bỏ thừa thức ăn, cần phải học”.
Điều 6058
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo dùng tay đang (bốc) ăn, cầm đồ đựng cơm sạch, dầu mỡ dính nhơ nhớp, Tỳ-kheo khác thấy gớm, các cư sĩ thấy chê trách, nói:
“Tại sao lấy tay đang (bốc)* ăn cầm đồ đựng cơm sạch?”
Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem vệc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Khi ăn không nên dùng tay bên mặt cầm đồ đựng cơm sạch.”
Sau đó, các bạch y đem cơm đến, Tỳ-kheo dùng tay bên trái nhận, Bạch y không trao cho lại còn nói như vầy:
“Không mời các Tỳ-kheo.”
Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân đây, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nên rửa tay sạch cầm đồ đựng cơm.”
Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học.
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
60- Không nên dùng tay bốc thức ăn mà cầm đồ đựng cơm sạch, cần phải học”.
Tay bốc thức ăn: Tay đang bốc thức ăn bị dính dầu mỡ nhớp.
Điều 61 đến điều 62
A. DUYÊN KHỞI
[75b01] Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo ăn bằng cách húp thức ăn. Lại có các Tỳ-kheo nhai thức ăn có tiếng. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo này ăn như chó uống nước.”
Lại có các Bà-la-môn mời các Tỳ-kheo dùng cháo, các Tỳ-kheo húp cháo có tiếng. Có một Tỳ-kheo nói:
“Nay các Tỳ-kheo ăn cháo như khi chiến đấu với cái lạnh! Nói như vậy rồi tâm sanh nghi hối: Nay ta đã huỷ báng Tăng, không biết làm sao? Đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tỳ-kheo kia:
“Ông vì ý gì để nói ra những lời này?”
Thưa:
“Vừa có ý giận vừa có ý vui.”
Đức Phật dạy:
“Với tâm giận thì nên tự quở trách, chứ không phạm, còn với ý vui thì quở trách, Đột-kiết-la. Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
61- Không nên húp thức ăn59 khi ăn,
62- không nên nhai thức ăn có tiếng,60 cần phải học”.
Điều 63
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, có các Tỳ-kheo dùng lưỡi lấy thức ăn. Các cư sĩ thấy cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo này ăn giống như trâu.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các người, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
63- Không được dùng lưỡi lấy thức ăn,61 cần phải học”.
Điều 64 đến điều 68
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo (bốc cơm)* đầy tay nên thức ăn rơi xuống đất. Lại có các Tỳ-kheo hả miệng quá lớn để ăn. Lại có các Tỳ-kheo cơm chưa đến mà đã hả miệng để chờ, ruồi bay vào miệng, ăn xong bị ói ra hết. Lại có các Tỳ-kheo cúi mặt xuống mà ăn. Các cư sĩ thấy đều chê trách.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các người, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
64- Không được (bốc)* thức ăn đầy tay,62 cần phải học.
65- Không được hả miệng quá lớn để ăn,63 cần phải học.
66- Cơm chưa đến không được hả miệng lớn để chờ, cần phải học.
67- Không được cúi mặt để ăn, cần phải học”.
Các Tỳ-kheo cơm đến rồi mà miệng còn chưa dám hả miệng nên cơm dính nhớp hai bên miệng, rơi xuống đất. Đem việc này bạch lên Phật, đức Phật dạy:
68- (Không xa, không gần, mới nên mở miệng, cần hải học)*.
Điều 69-70
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo vừa ngậm thức ăn vừa nói chuyện, hoặc cơm rơi xuống đất, hoặc cơm bị rớt trên y, hoặc rớt vào trong bát. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm chê trách.
[75c01] Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các người, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách, đức Phật quở trách các Tỳ-kheo, rồi nói:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
69- Không được ngậm thức ăn mà nói chuyện,64 cần phải học”.
Sau đó, bạch y thêm thức ăn hỏi các Tỳ-kheo cần không? (Các Tỳ-kheo)* không dám trả lời, bèn bị (bạch y)* chê trách nói:
“Các Tỳ-kheo kiêu mạn, không nói chuyện cùng người. Họ đem việc này bạch lên Phật, đức Phật dạy:
70- (Khi thêm thức ăn, cho phép nói: ‘Cần hay không cần’, cần phải học)*
Điều 71 đến điều 77
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo miệng đầy thức ăn khiến hai má trương lên. Các cư sĩ cơ hiềm, nói:
“Các Tỳ-kheo này ăn như khỉ.”
Lại có các Tỳ-kheo cắn phân nửa thức ăn, phần thừa trở lại trong bát. Các cư sĩ cơ hiềm, nói:
“Các Tỳ-kheo này ăn uống dơ dáy.”
Lại có các Tỳ-kheo duổi cánh tay lấy thức ăn. Các cư sĩ thấy cơ hiềm, nói:
“Các Tỳ-kheo này như voi dùng vòi.”
Lại có các Tỳ-kheo lắc tay mà ăn. Các cư sĩ thấy cơ hiềm, nói:
“Các Tỳ-kheo này con voi lắc vòi.”
Lại có các Tỳ-kheo dùng lưỡi liếm đồ ói ra rồi ăn lại. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm, nói:
“Các Tỳ-kheo này như chó liếm đồ ói ra.”
Lại có các Tỳ-kheo nuốt trộng luôn cả miếng ăn, lại có các Tỳ-kheo vò cơm từ xa quẳng vào miệng. Các cư sĩ thấy, đều cơ hiềm.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thât vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
71- Không được ăn phình hai má,65
72- không được cắn phân nửa thức ăn,66
73- không được duỗi cánh tay lấy thức ăn,
74- không được lắc tay67 ăn,
75- không được dùng lưỡi liếm đồ ói68 ăn lại,
76- không được ăn nuốt trộng,69
77- không được vò cục cơm từ xa ném vào miệng70 là những điều cần phải học”.
Điều 78-79
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo đem nước rửa bát đổ vào trong nhà bạch y. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm, nói:
“Các Tỳ-kheo này không biết nước rửa bát dơ nên đổ chỗ nào, huống là biết việc gì xa xôi!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các người, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, [76a01] bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên đem nước rửa bát đổ vào trong nhà Bạch y.”
Có các Bạch y mới cất nhà xong, (tin rằng)* được nước trong bát (nước rửa bát)* của các Tỳ-kheo rưới vào nền nhà, sẽ được may mắn. Các Tỳ-kheo không dám rưới. Các cư sĩ nói:
“Các Tỳ-kheo này không kham nhận sự cung kính của người!”
Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cho phép các Tỳ-kheo dùng nước rửa bát, không có thức ăn, rưới trên nền nhà. Nay ta vì các Tỳ-kheo kết giới nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
78- (Không nên đem nước rửa bát đổ vào trong nhà bạch y)*.
79- Không được dùng nước rửa bát có thức ăn71 rưới trên nền nhà bạch y, cần nên học”.
418 Tứ phần 19, tr. 694a12, Căn bản 49, tr. 895c17: Ba-dật-đề 87; Tăng-kỳ 20, tr.392b19: Ba-dật-đề 86; Thập tụng 18, tr. 130a02: Ba-dật-đề 89. Pāli, Pāc. 89, Nisīdana.
419 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Duy-da-ly維耶離舍; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
420 Hán: Tu-già-đà trách thủ 修伽陀磔手. Tứ phần: Phật trách thủ 佛搩手. Căn bản: Phật trương thủ 佛張手; giải thích: 1 gang tay Phật bằng ba gang tay người trung bình. Pāli:sugatavidatthiyā, gang tay (tiêu chuẩn) được chấp nhận (theo bản Anh); (xem cht. 50, Ch. ii, Tăng tàn 6. cht. 412, Ba-dật-đề 86).
421 Tăng-kỳ 20, tr. 393a22: Ba-dật-đề 86; Tứ phần 19, tr. 694c05, Thập tụng 18, tr.129c03, Căn bản 49, tr. 896a14: Ba-dật-đề 88. Pāli, Pāc. 90, Kaṇḍupaṭicchādi.
422 Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) xá 舍衞城(國); Thập tụng: Duy-da-ly quốc維耶離國; Căn bản: Vườn Cấp Cô Độc 給孤獨園.
423 Tỳ-la-trà 毘羅荼: Các bộ khác chỉ nói các Tỳ-kheo bị mụt ghẻ lở, mủ máu ra nhớp cả y áo ngọa cụ…. nhân đây đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo dùng Phú sang y chứ không nói tên Tỳ-kheo như Ngũ phần.
424 Hán: Phú sang y 覆瘡衣. Pāli: Kaṇḍupaṭicchādī.
425 Tăng-kỳ: Nếu quá, sau khi cắt bỏ (rồi sám ba-dật-đề). Căn bản: Nếu quá, cần phải cắt bỏ. Pāli: taṃ atikkāmayato chedanakaṃ, nếu quá, phải cắt bỏ.
426 Tăng-kỳ 20, tr. 393b24: Ba-dật-đề 88; Thập tụng 18, tr. 128a11: Ba-dật-đề 87; Tứ phần 19, tr. 695a09, Căn bản 49, tr. 896a22: Ba-dật-đề 89; Pāli, Pāc. 91 Vassikasāṭikā.
427 Tăng-kỳ; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ thành (quốc); Căn bản: Thất-la-phạt thành.
428 Hán: Vũ dục y 雨浴衣. Pāli: Vassikasāṭikā. Xem Thích từ Ch. iii, Ni-tát-kỳ 17.
429 Tăng-kỳ 393c007; Tứ phần 19, tr. 695b4; thập tụng 129b20; Căn bản; 896c29: “Đúng lượng là dài sáu gang tay, rộng hai gang rưỡi tay Phật”.
430 Tăng-kỳ 20, tr. 394a12: Ba-dật-đề 88; Tứ phần, tr. 695b15; Thập tụng, tr.130b28; Căn bản, tr. 897a06: Ba-dật-đề 90. Pāli, Pāc. 92, Nanda.
431 Tăng-kỳ: Vương Xá thành王舍城; Tứ phần: Thích-sí-sấu Ni-câu-loại viên trung 釋翅搜尼拘類園中 (Trong vườn Ni-câu-loại, giữa những người họ Thích); Thập tụng: Ca-duy-la-vệ quốc 迦維羅衛國; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
432 Tăng-kỳ 21, tr. 395c20: Ba-dật-đề 91. Các bộ khác không có.
433 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành舍衞城.
434 Bản Hán, hết quyển 9.
[1] Pháp hối quá 悔過法, còn gọi là đối tha thuyết, hướng bỉ hối v.v…, nghĩa là phạm giới này phải hướng vào một Tỳ-kheo thanh tịnh khác để giải bày sám hối. Từ Phạn “pratideśanīya”, Pāli “pāṭidesanīya”. Cách dịch âm như các bộ: Tăng-kỳ 21, tr. 396b16, Tứ phần 19, tr. 695c17: Đề-xá-ni 提舍尼. Thập tụng 19, tr. 131a05: Ba-la-đề-xá-ni pháp 波羅提舍尼法. Căn bản 49, tr. 897a18: Ba-la-để đề-xá-ni pháp 波羅底提舍尼法. Pāli, Vin. iv. 175: cattāro pāṭidesanīyā.
[2] Tăng-kỳ 21, tr. 3397a14: Đề-xá-ni 2. Tứ phần 19, tr. 695c17; Thập tụng 19, tr.131a06; Căn bản 49, tr. 897a23: Đề-xá-ni 1 như Ngũ phần.
[3] Tăng-kỳ: Tỳ-xá-ly毘舍離; Tứ phần; Thập tụng: Xá-vệ quốc 舍衞國; Căn bản: Vương Xá thành王舍城.
[4] Hoà-già-la-mẫu 和伽羅母. Tăng-kỳ: Thi-lợi-ma Tỳ-kheo-ni 尸利摩比丘尼; Tứ phần: Liên Hoa Sắc Tỳ-kheo-ni 蓮花色比丘尼; Thập tụng: Hoa sắc Tỳ-kheo-ni 華色比丘尼; Căn bản: Thanh Liên Hoa bí-sô-ni 青蓮花苾芻尼.
5 Các Tỳ-kheo bệnh dìu Tỳ-kheo bệnh khất thực (chư bệnh Tỳ-kheo khiên bệnh khất thực 諸病比丘牽病乞食[?]). Có thể dư chữ “bệnh” trước chữ Tỳ-kheo! (Để bản: Ngũ phần 10, T22n1421, tr. 72a15), nghĩa là “các Tỳ-kheo dìu Tỳ-kheo bệnh khất thực.”
6 Đát-bát-na: Xem cht. 107, Ch. iv, Xả đọa, Ni-tát-kỳ 15.
7 Căn bản: Ư thôn lộ trung 於村路中, “ở đường trong thôn xóm.” Tứ phần: nhập thôn trung 入村中 “vào trong thôn xóm…” Tăng-kỳ: A-luyện-nhã xứ trú 阿練若處住 “ở A-luyện-nhã…” Pāli: (bhikkuniyā) antaragharaṃ paviṭṭhāya, “(Tỳ-kheo-ni) sau khi đã đi vào nhà trong.” và giải: nhà (gharam) ở đây cũng chỉ luôn đường xe đi, đường hẻm, đường chữ thập…” Trong văn Hán, được hiểu là Tỳ-kheo vào. Trong văn Pāli, nên hiểu là Tỳ-kheo-ni đã vào.
8 Tăng-kỳ 21, tr. 398a02: Đề-xá-ni 3. Tứ phần 19, tr. 696b14; Thập tụng 19, tr.131b19; Căn bản 49, tr. 899b19: Đề-xá-ni 2 như Ngũ phần.
9 Tăng-kỳ: Vương Xá thành王舍城; Tứ phần: Xá-vệ quốc 舍衞國; Thập tụng: Vương Xá thành 王舍城; Căn bản: Thất-la-phạt thành 室羅伐城.
10 Canh 羹. Pāli: Sūpa – canh, cháo, cà-ry.
11 Tăng-kỳ, tr. 398b06: Đề-xá-ni 4. Tứ phần, tr. 696c19; Thập tụng, tr. 131c23; Căn bản, tr. 900a08: Đề-xá-ni 3.
12 Tăng-kỳ: Xá-vệ thành舍衞城; Tứ phần: La-duyệt tành羅閱城; Thập tụng: Duy-da-ly 維耶離; Căn bản: Quảng nghiêm thành 廣嚴城.
13 Tăng-kỳ: Đại thần Tỳ-xà bố thí thái quá, gia sản khánh tận. Tăng tác yết-ma học gia. Tứ phần: Vợ chồng cư sĩ đều có tín tâm, đã kiến đế, đối với các Tỳ-kheo không có cái gì tiếc nuối, kể cả thịt trong thân mình. Cúng dường như vậy cho đến nỗi nghèo khổ, cơm áo đều thiếu thốn. Thập tụng: Tượng sư Thủ-la, thấy bốn đế, đắc Sơ đạo. Căn bản: Trưởng giả Sư Tử, đắc Sơ quả.
14 Học gia 學家. Thập tụng: Chỉ gia đình đã đắc Sơ quả. Pāli: sekkhasammatāni kulāni, những gia đình đã được xác nhận là hữu học; giải thích: đó là gia đình tăng trưởng với tín, nhưng tổn giảm với tài sản.
15 Yết-ma học gia; Pāli: sekkhasammuti, xác nhận là học gia, cư sĩ thuộc hàng Hữu học.
16 Tăng-kỳ, tr. 396b17: Đề-xá-ni 1; Tứ phần, tr. 697c01; Thập tụng, tr. 132c02; Căn bản, tr. 900c22: Đề-xá-ni 4.
17 Ni-câu-loại 尼拘類. Tăng-kỳ: Thích thị 釋氏; Tứ phần: Ni-câu-luật 尼拘類; Thập tụng: Ca-duy-la-vệ迦維羅衞; Căn bản: Tốt Đỗ thành 窣覩. Pāli: Nigrodha.
18 Tăng-kỳ: Bị những người được sai mang thức ăn đi, ăn hết, hoặc một nửa hay hai phàn ba. Tứ phần: Bọn giặc cướp. Thập tụng: Giặc trong rừng Ni-câu-đà. Căn bản: Giữa đường bị giặc cướp. Pāli: tena kho pana samayena sākiyadāsakā avaruddhā honti, vào lúc đó, các nô lệ của dòng họ Sakka nổi loạn.
19 Tăng-kỳ: Cha mẹ, chị em, bà con dòng họ Thích; Tứ phần: Các phụ nữ trong thành Xá-di và các phụ nữ Câu-lê; Thập tụng: Các phụ nữ dòng họ Thích; Căn bản: Các Thích tử cùng các nữ tùy tùng. Pāli: Sākiyāniyo.
20 Tứ phần: Giặc biết được chặn đường nhiễu hại. Pāli: Các Tỳ-kheo biết có giặc chặn đường, nhưng không báo cho các phụ nữ họ Thích biết để đừng đi.
[5] Tứ phần 19, tr. 698a07: Thức-xoa-ca-la-ni式叉迦羅尼法, phiên âm Phạn: śikṣā karaṇīyā, “điều cần phải học.” Tăng-kỳ 21, tr. 399b07; Thập tụng 19, tr. 133b14; Căn bản 50, tr. 901b16: Đều gọi Chúng học pháp 眾學法. Pāli: sekhiyā dhammā (sikkhā karaṇīyā).
[6] Các bản khác đều có riêng Giới tướng mỗi điều; nhưng chỉ Ngũ phần, Căn bản gom lại ghi một lần nhiều giới điều. Nhưng 7 điều cần phải học này theo Tăng-kỳ, Tứ phần, Căn bản (điều 1), Thập tụng (điều 12) thì là điều mặc nội y, Niết-bàn-tăng, Nê-hoàn-tăng hay Nê-bà-san cho tề chỉnh.
[7] Skt: Rājagṛha Pāli: Rājagaha, Tăng-kỳ; Tứ phần: Xá-vệ thành (quốc) 舍衞城(國); Thập tụng: Vương xá thành 王舍城; Căn bản: Bà-la-nê-tư, Tiên nhân đọa xứ thi lộc lâm trung婆羅泥斯仙人墮處施鹿林中.
[8] Tăng-kỳ, Tứ phần, Căn bản: Lục quần Tỳ-kheo六群比丘, Thập tụng như ngũ phần.
[9] Tăng-kỳ: Nội y内衣; Tứ phần: Niết-bàn-tăng 涅槃僧; Thập tụng: Nê-hoàn-tăng 泥洹僧; Căn bản: (trước) y (著)衣.
6 Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, điều 1; Căn bản, điều 2. Pāli, Sikkhā 2.
7 Tăng-kỳ, Tứ phần, điều 1. Thập tụng, điều 2. Căn bản, điều 3. Pāli, Sikkhā 2.
8 Thập tụng, điều 3. Căn bản, điều 7.
9 Tứ phần, điều 1. Thập tụng, điều 6. Căn bản, điều 6.
10 Tứ phần, điều 1. Thập tụng, điều 5. Căn bản, điều 4.
11 Căn bản, điều 7.
12 Tứ phần, điều 1. Thập tụng, điều 8.
13 Pāli: puratopi pacchatopi olambentā, quấn nội y để phía trước, phía sau thòng xuống.
14 Cây Đa-la: Xem cht. 81, Ch. i, Ba-la-di 1.
15 Tăng-kỳ; Tứ phần: Trước y 著衣. Điều 2. Thập tụng: Bị y 被衣, điều 12; Căn bản: Trước y 著衣(ba y), điều 8. Pāli: pārupanti, quấn (thượng) y, phân biệt với nivāsenti, quấn nội y.
16 Tăng-kỳ, Tứ phần, điều 2; Thập tụng, điều 13; Căn bản, điều 9.
17 Tăng-kỳ, Tứ phần, điều 2; Thập tụng, điều 14; Căn bản, điều 10.
18 Thập tụng, điều 15.
19 Hán: Hảo phú 好覆, Pāli: Supaṭicchanna.
20 Dao thân 搖身, Pāli: Kāyappacālaka.
21 Dao đầu 搖頭, Pāli: Sīsappacālaka.
22 Huề thủ 携手, Pāli: Bāhuppacālaka.
23 Xoa yêu 扠腰, Pāli: Khambhakata.
24 Tồn hành 蹲行, Pāli: Ukkutika.
25 Phú đầu 覆頭, Pāli: Oguṇṭhita.
26 Hí tiếu 戲笑, Pāli: Ujjhaggikā.
27 Tăng-kỳ, điều 3; Tứ phần, điều 18; Thập tụng, điều 17-18; Căn bản, điều 12. Pāli: Sikkhā 3.
28 Tứ phần, điều 19; Thập tụng, điều 18.
29 Ngũ phần, điều 13-14-15-16-17-18; Tăng-kỳ, điều 5; Tứ phần, điều 3-4; Thập tụng, điều 37-38: Tả hữu phản sao y 左右反抄衣, vắt ngược y hai bên; điều 39-40: thiên sao y 偏抄衣, vắt ngược y một bên; Căn bản, điều 16-17.
30 Ngũ phần, điều 19-20; Tăng-kỳ, điều 11; Tứ phần, điều 14-15; Thập tụng, điều 49-50; Căn bản, điều 25.
31 Ngũ phần, điều 21-22; Tăng-kỳ, điều 12; Thập tụng, điều 47-48; Căn bản, điều 27.
32 Ngũ phần, điều 23-24; Thập tụng, điều 45-46 .
33 Ngũ phần, điều 25-26; Thập tụng, điều 51-52; Căn bản, điều 29.
34 Ngũ phần, điều 27-28; Tăng-kỳ, điều 14; Tứ phần, điều 18-19.
35 Ngũ phần: Điều 29-30; Tăng-kỳ, điều 10-22; Tứ phần, điều 12-13; Thập tụng, điều 35-36; Căn bản, điều 18. Pāli, Sikkhā 21.
36 Ngũ phần: Điều 31-32; Thập tụng, điều 57.
37 Ngũ phần: Điều 33-34; Tăng-kỳ, điều 13; Tứ phần, điều 16-17; Thập tụng, điều 34-35; Căn bản, điều 26. Pāli, Sikkhā 17.
38 Ngũ phần: Điều 35-36; Thập tụng, điều 21-22; Căn bản, điều 14.
39 Ngũ phần: Điều 37-38; Tăng-kỳ, điều 4; Tứ phần, điều 20-21.
40 Ngũ phần: Điều 39-40; Tăng-kỳ, điều 9; Căn bản, điều 20. Pāli: ukkuṭikāya.
41 Ngũ phần: Điều 41-42; Tăng-kỳ, điều 20; Tứ phần, điều 11; Thập tụng, điều 27-28. Căn bản, điều 20. Pāli: ukkuṭikāya.
42 Ngũ phần: Điều 43-44; Tăng-kỳ, điều 7; Tứ phần, điều 7-8; Thập tụng, điều 29-30; Căn bản, điều 15. Pāli. Pāli, Sikkhā 23.
43 Ngũ phần: Điều 45-46; Tăng-kỳ, điều 6; Tứ phần, điều 24-25. Pāli, Sikkhā 11.
44 Ngũ phần, điều 47-48; Tăng-kỳ, điều 5; Tứ phần, điều 22-23; Thập tụng, điều 25; Căn bản, điều 13; Pāli, Sikkhā 13.
45 Ngũ phần, điều 49-50; Tăng-kỳ, điều 1-2; Tứ phần, điều 1-2; Thập tụng, điều 12, 16; Căn bản, điều 8; Pāli, Sikkhā 2.
46 Tăng-kỳ, điều 24; Tứ phần, điều 26; Thập tụng, điều 58; Căn bản, điều 37; Pāli, Sikkhā 27.
47 Bà-già quốc 婆伽國. Tăng-kỳ: Vương xá thành 王舍城; Tứ phần; Thập tụng: Xá Vệ quốc (thành) 舍衞國(城); Căn bản: Giang trư sơn 江猪山.
48 Núi Thủ-ma-la 首摩羅山.
49 Hán: Tát-xà Tử ma-nạp 薩闍子摩納. Ma-nạp: Pāli. Māṇava, thiếu niên.
50 Tăng-kỳ: Nhất tâm 一心; Tứ phần: Dụng ý 用意; Thập tụng: Nhất tâm 一心; Căn bản: Cung kính恭敬.
51 Tứ phần, điều 27-28; Thập tụng, điều 60; Căn bản, điều 38-39. Pāli, Sikkhā 30.
52 Tăng-kỳ, điều 25; Tứ phần, điều 29; Thập tụng, điều 61. Pāli. Sikkhā 34.
53 Tăng-kỳ, điều 26; Tứ phần, điều 30; Thập tụng, điều 83. Pāli, Sikkhā 33; Pāli: tahaṃ tahaṃ omasitvā piṇḍapātaṃ bhuñjanti, thọc chỗ này chỗ kia mà ăn.
54 Tứ phần, điều 31; Thập tụng, điều 62. Pāli, Sikkhā 35. Pāli: thūpakato omaditvā, moi trên chóp (bát). Sớ giải: thūpakatoti matthakato vemajjhato ti attho, moi chóp bát, tức moi giữa bát.
55 Tăng-kỳ, điều 34; Thập tụng, điều 75. Căn bản, điều 58.
56 Tăng-kỳ, điều 43; Tứ phần, điều 35; Thập tụng, điều 82; Căn bản, điều 60. Pāli, Sikkhā 32.
57 Thập tụng, điều 83. Tăng-kỳ, điều 47; Căn bản, điều 65.
58 Tăng-kỳ, điều 46; Tứ phần, điều 47; Thập tụng, điều 78. Căn bản, điều 62; Pāli, Sikkhā 55.
59 Tăng-kỳ, điều 38; Tứ phần, điều 43; Thập tụng, điều 69; Pāli, Sikkhā 51, surusurukārakaṃ khīraṃ pivanti, húp sữa thành tiếng “xu-ru-xu-ru.”
60 Tăng-kỳ, điều 37; Tứ phần, điều 42; Thập tụng, điều 70. Pāli, Sikkhā 50: capucapukārakaṃ, nhai có tiếng “cháp cháp.”
61 Tăng-kỳ, điều 28; Tứ phần, điều 44; Thập tụng, điều 74: thỉ thủ thực 舐手食, liếm tay mà ăn. Căn bản, điều 54. Pāli, Sikkhā 52: hatthanillehakaṃ, liếm tay. Cf. Sikkhā 49:jivhānicchārakaṃ, le lưỡi. Sikkhā 53: pattanillehakaṃ, liếm bát.
62 Tăng-kỳ, điều 29; Thập tụng, điều 64; Căn bản, điều 42. Pāli, Sikkhā 39.
63 Ngũ phần, điều 65-66-68; Tăng-kỳ, điều 30; Tứ phần, điều 37; Thập tụng, điều 66; Căn bản, điều 43.
64 Hán: Bất hàm thực ngữ 不含食語, Tăng-kỳ, điều 33; Tứ phần, điều 38; Thập tụng, điều 67; Căn bản, điều 44. Pāli: Na sakabaḷena mukhena byāharati.
65 Tăng-kỳ, điều 27; Tứ phần, điều 41; Căn bản, điều 52; Pāli, Sikkhā 46.
66 Tăng-kỳ, điều 32; Thập tụng, điều 68; Căn bản, điều 53;
67 Hán: Chấn thủ 振手, Tăng-kỳ, điều 41; Tứ phần, điều 45; Thập tụng, điều 76; Pāli: Sikkhā 47: Hatthaniddhunaka.
68 Liếm đồ ói, Hán: Thổ thiệt 吐舌; Thập tụng, điều 72. Pāli: Jivhānicchāraka.
69 Tăng-kỳ, điều 39; Thập tụng, điều 71.
70 Ngũ phần, điều 77; Tăng-kỳ, điều 31; Tứ phần, điều 39; Pāli, Sikkhā 44.
71 Tăng-kỳ, điều 47; Tứ phần, điều 48; Thập tụng, điều 84. (tr. 139a20): phải hỏi gia chủ chỗ đổ; Căn bản, điều 63; Pāli, Sikkhā 56: nước rửa bát có lẫn hạt cơm.
Điều 80
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo dùng cơm phủ canh lại, các bạch y tưởng là chưa có canh đem canh đến, sau khi biết có rồi nên chê trách, nói:
“Các Tỳ-kheo này như con nít, dùng cơm phủ canh lại.”
Các Tỳ-kheo trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên dùng cơm phủ canh.”
Có các Tỳ-kheo bệnh, không dám dùng cơm phủ canh nên trùng sa vào canh không thể bỏ được, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cho phép dùng cơm phủ canh, nhưng không nên hy vọng đặng thêm canh. Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
80- Không được dùng cơm phủ canh với hy vọng được thêm canh,72 cần phải học”.
Điều 81 đến điều 82
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, có các Tỳ-kheo đến nhà bạch y (thọ trai)* chê thức ăn. Lại có các Tỳ-kheo tự đòi thêm thức ăn. Các cư sĩ cơ hiềm.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên chê thức ăn, hay tự đòi thêm thức ăn.”
Các Tỳ-kheo, do vậy không dám vì Tỳ-kheo bệnh đòi thêm thức ăn, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cho phép vì Tỳ-kheo khác đòi thêm thức ăn, chứ không nên tự vì mình. Nay ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
81- Không nên chê thức ăn,73 cần nên học.
82- Không nên vì mình đòi thêm thức ăn,74 cần phải học.”
Điều 83-84
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo nhìn trong bát của vị ngồi gần có (thức ăn)* nhiều hay ít. [76b01] Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo này như con nít, xem trong bát của người khác, nói: ‘Thầy được nhiều, tôi được ít; Thầy được ít, tôi được nhiều.’”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách, đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên xem trong bát vị ngồi gần có (thức ăn)* nhiều hay ít.”
Bấy giờ, có năm trăm vị Tỳ-kheo thọ trai trong một gia đình. Ăn rồi, cùng nói với nhau: ‘Bữa ăn này rất hy hữu!’ Tỳ-kheo Hạ tọa nói: Thượng tọa được thức ăn ngon, chúng tôi không được. Các Tỳ-kheo lại nghĩ như vầy: ‘Nếu Phật cho phép chúng ta xem trong bát vị khác thì biết được vị nào nhận được (thức ăn)*, vị nào không nhận được. Vị nào không nhận được thì bảo họ đem đến. Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cho phép xem bát của vị ngồi gần, nhưng không được sanh tâm cơ hiềm. Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết giới cần nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
83- (Không nên xem trong bát vị ngồi gần (thức ăn)* nhiều hay ít.)*
84- Không được sanh tâm cơ hiềm xem bát vị ngồi gần,75 cần nên học”.
Điều 85-86
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo đứng đại tiểu tiện. Các Cư sĩ thấy, cơ hiềm nóí:
“Các Tỳ-kheo này giống như lừa, như ngựa.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi bạch Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Không được đứng đại tiểu tiện, cần nên học”.
Khi ấy, các Tỳ-kheo bệnh không thể ngồi xổm được, nên đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cho phép khi các Tỳ-kheo bệnh đứng để đại tiểu tiện.
Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
85- (Không được đứng đại tiểu tiện, cần nên học)*
86- Không được đứng đại tiểu tiện, trừ bệnh,76 cần nên học”.
Điều 87-88
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo đại tiểu tiện trong nước, các cư sĩ thấy, cơ hiềm.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Không nên đại tiểu tiện trong nước, cần phải học”.
Có các Tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo:
“Thầy có thể đại tiểu tiện trong nước, tôi sẽ tìm hiểu bệnh trạng mới có thể chữa trị chăng?”
Các Tỳ-kheo [76c01] không dám, bèn nói với thầy thuốc:
“Xin cho phương thuốc khác.”
Thầy thuốc nói: “Chỉ có cách này, sau đó mới biết được.”
Các Tỳ-kheo bệnh nghĩ như vầy: ‘Nếu đức Phật cho phép chúng ta đại tiểu tiện trong nước thì sẽ lành bệnh.’ Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo bệnh đại tiểu tiện trong nước. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
87- (Không nên đại tiểu tiện trong nước, cần phải học)*
88- Không được đại tiểu tiện trong nước sạch, trừ bệnh,77 cần phải học.”
Nếu đại tiểu tiện trên cây, nhân đó nó trôi vào trong nước thì không phạm.
Điều 89-90
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo đại tiểu tiện trên rau cỏ. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo này giống như trâu như dê.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
89- (Không được đại tiểu tiện trên rau cỏ, cần phải học)*
90- Không được đại tiểu tiện trên rau cỏ, trừ bệnh,78 cần phải học.”
Nếu đại tiểu tiện ở trên cây, từ đó nó trôi lên trên rau cỏ thì không phạm.
Điều 91 đến điều 94
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo vì người mang guốc dép nói pháp. Các cư sĩ thấy,cơ hiềm nói:
“Đây là giáo pháp tôn quí, vi diệu đệ nhất, mà các Tỳ-kheo vì người mang guốc dép nói, khinh mạng giáo pháp này.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Không vì người mang guốc nói pháp, cần phải học. Không vì người mang dép nói phá cần phải học.”
Có các người bệnh, cởi guốc dép ra không được mà muốn nghe pháp, các Tỳ-kheo không dám nói, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
Nay cho phép các Tỳ-kheo vì người bệnh nên cho họ mang guốc dép mà nói pháp. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
91- (Không vì người mang guốc nói pháp , cần phải học)*.
92- (Không vì người mang dép nói phápcần phải học)*.
93- Không nên vì người mang guốc,79 nói pháp, trừ bệnh, cần phải học.
94- Không nên vì người mang dép,80 nói pháp, trừ bệnh, cần phải học”.
Pháp: Những gì do đức Phật nói, Thanh văn nói, Tiên nhơn nói, Chư Thiên nói và tất cả những ai nói như pháp.
Nếu có nhiều người mang guốc dép mà không thể bảo họ cởi ra được, thì nhân nơi người nào [77a01] không mang đó mà nói thì không phạm.
Điều 95- 96
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo vì người để trống ngực, cho đến người cầm trượng nói pháp. Các Cư sĩ thấy, cơ hiềm như trên.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Người để trống ngực không nên vì họ nói pháp, cần phải học”.
Có các người bệnh muốn nghe pháp, các Tỳ-kheo không dám nói, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cho phép vì người bệnh để trống ngực nói pháp. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
95- (Người để trống ngực không nên vì họ nói pháp, cần phải học)*.
96- Người để trống ngực81 không nên vì họ nói pháp, trừ bệnh, cần nên học”.
Người ngồi, Tỳ-kheo đứng; người ngồi chỗ cao, Tỳ-kheo ngồi chỗ thấp; người nằm, Tỳ-kheo ngồi; người đứng trước, Tỳ-kheo đứng sau; người ở giữa đường, Tỳ-kheo ở gần bên đường; vì người che đầu,82 vì người lật ngược y; vì người lật ngược y cả hai bên; vì người cầm dù; vì người cuỡi ngựa;83 vì người cầm gậy,84 nói pháp đều như trên đã nói.
Điều 97 đến điều 98
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo vì người cầm đao, người cầm cung tên, nói sự khổ nơi địa ngục. Người kia nghe rồi nổi giận dữ dội chém, bắn Tỳ-kheo chết.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo kiết pháp nên học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
97- Không nên nói pháp cho người cầm đao,85 cần phải học.
98- Không nên nói pháp cho người cầm cung tên,86 cần phải học.”
Điều 99-100
A. DUYÊN KHỞI
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo vì nhóm mười bảy Tỳ-kheo nhận phần ăn nơi nhà được thỉnh. Nhóm sáu Tỳ-kheo cố ý trêu nhóm mười bảy Tỳ-kheo, nên không đem về sớm, để đợi gần qua ngọ mới đem về. Nhóm mười bảy Tỳ-kheo trèo lên cây cao để trông chừng.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão thấy đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo kết pháp cần phải học. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Cây cao quá đầu người, không được trèo, cần phải học”.
Khi ấy có Tỳ-kheo trên đường đến nước Câu-tát-la, gặp phải thú dữ, không dám trèo lên cây, bị thú làm hại. Các Tỳ-kheo đem việc này bạch lên Phật.[77b01] Đức Phật dạy:
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
99- (Không được leo, cây cao quá đầu người, cần phải học)*
100- Không được leo lên cây cao quá đầu người,87 trừ có nhân duyên lớn, cần phải học”.
Nhân duyên lớn: Là gặp thú hay các nạn, gọi là nhân duyên lớn.
Tỳ-kheo-ni, trừ đại tiểu tiện, trên rau cỏ sống, ngoài ra đều như Tỳ-kheo. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.



  • Leave a Comment