Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 13. Phần II – Chương 1 – Tám Pháp Ba La Di

Ngũ Phần Luật – 13. Phần II – Chương 1 – Tám Pháp Ba La Di

CHƯƠNG I :TÁM PHÁP BA-LA-DI

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

A. THÔNG GIỚI
I. BẤT TỊNH HẠNH*[2]

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ.[3] Bấy giờ, Trưởng lão Ưu-ba-ly[4] thưa hỏi đức Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới:[5] “Tỳ-kheo nào cùng các Tỳ-kheo đồng học giới pháp, [77c01] giới sút kém, không xả mà hành pháp dâm dục,… cho đến cùng với loài súc sanh. Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung.”
Giới này con nên thọ trì thế nào? Là nên thọ trì cho một bộ Tăng hay hai bộ Tăng?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ trì cho cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, cùng các Tỳ-kheo-ni đồng học giới pháp, giới sút kém, không xả, tùy ý hành dâm, cho đến cùng với loài súc sanh. Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di không được sống chung.”

II. BẤT DỮ THỦ*
Bấy giờ, Trưởng lão Ưu-ba-ly6 lại hỏi Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào nơi tụ lạc hoặc nơi đất trống, với tâm trộm cắp lấy vật không cho… cho đến không được sống chung.” Con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ trì cho cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, nơi thôn xóm hoặc nơi đất trống, với tâm trộm cắp lấy vật không cho, hoặc bị vua hay đại thần bắt, hoặc trói, hoặc giết hoặc bị đuổi, nói: ‘Cô là kẻ giặc, cô là người ngu si.’ Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung.”

III. ĐOẠN NHÂN MẠNG*
Trưởng lão Ưu-ba-ly7 lại thưa hỏi đức Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào đối với người hoặc tương tợ người, hoặc tự giết,… cho đến không được sống chung.” Con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ trì cho hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, hoặc người, hoặc tương tợ người, hoặc tự sát, hoặc đưa dao hay thuốc độc để giết; hoặc dạy người giết, hoặc dạy người tự sát, khen ngợi sự chết, khích lệ cho chết, nói: ‘Chà! Cuộc sống con người là xấu ác, chết hơn là sống’ tác tâm như vậy và, tùy theo tâm mà sát, dùng mọi cách như thế, người kia do vậy mà chết; Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung”.

IV. ĐẠI VỌNG NGỮ*
Trưởng lão Ưu-ba-ly8 lại thưa hỏi đức Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào không biết, không thấy pháp hơn người,… cho đến không được sống chung.” Con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ trì cho cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, không biết, không thấy pháp hơn người, thánh lợi đầy đủ, tự xưng là tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy. Sau đó, Tỳ-kheo-ni này, hoặc bị người cật vấn, hoặc không bị người cật vấn, vì [78a01] muốn khỏi tội cầu thanh tịnh nên tự nói như vầy: ‘Tôi không biết nói biết, không thấy nói thấy, nói lời hư cuống vọng ngữ,’ trừ tăng thượng mạn’. Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung”.

B. BẤT CỘNG GIỚI
V. MA XÚC9
a. Duyên khởi
Bấy giờ, người rể của bà Tỳ-xá-khư tên là Lộc Tử. Lộc Tử kính mến bà Tỳ-xá-khư như kính mến mẹ đẻ của mình. Người bấy giờ gọi bà là Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu. Lộc Tử có người cháu tên là Thi-lợi-bạt,10 thường để ý Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà.11 Sau đó, (Thi-lợi-bạt)* thỉnh Tỳ-kheo-ni Tăng (thọ trai)*, Thâu-la-nan-đà cáo bệnh không đến, ở nhà coi phòng Tăng cùng một Sa-di-ni nhỏ. Đến giờ thụ trai, Tỳ-kheo-ni Tăng đều đến nhà Thi-lợi-bạt.
Thi-lợi-bạt tự tay dâng thức ăn, rồi hỏi:
“Tại sao Thâu-la-nan-đà không đến?”
Tỳ-kheo-ni đến trả lời:
“Vì cô bị bệnh, Tăng sai giữ phòng, cho nên không đến.”
Thi-lợi-bạt dâng cơm cho quí Thượng tọa xong, bèn vội đến chùa, hỏi:
“Cô bị bệnh thế nào?”
Thâu-la-nan-đà trả lời:
“Xương cốt đều bị đau nhức!”
Thi-lợi-bạt liền đấm bóp.
Tỳ-kheo-ni nói:
“Cho phép ông đấm bóp toàn thân thể, nhưng không được hành dục.”
Đấm bóp xong, Thi-lợi-bạt hỏi:
“Cô cần thứ gì?”
Cô ni trả lời:
“Tôi cần táo khô.”
Ông liền mua cho cô. Tỳ-kheo-ni lấy tay cầm táo, hỏi:
“Ông thấy trái táo khô này không?”
Trả lời:
“Thấy.”
Tỳ-kheo-ni nói:
“Người nào buộc tâm vào nơi không thể hành dục được thì tinh thần bị teo khô cũng như trái táo này.”
Ngay lúc đó, Thi-lợi-bạt cùng Tỳ-kheo-ni hai thân xúc chạm nhau đủ mọi cách, rồi liền ra về.
Các Tỳ-kheo-ni thọ trai xong trở về đến cửa, từ xa thấy (Thi-lợi-bạt đi ra)*, đều sanh nghi là (ông ta)* đã cùng với Thâu-la-nan-đà làm hạnh bất tịnh.
(Các Tỳ-kheo-ni)* hỏi:
“Cô đã phá phạm hạnh phải không?”
Thưa:
“Tôi không phá phạm hạnh, chỉ cùng với nam tử hai thân xúc chạm nhau thôi.” Sa-di-ni nhỏ cũng nói như vậy.
Các Tỳ-kheo-ni bằng mọi cách quở trách:
“Đức Phật bằng nhiều phương tiện chê trách cùng thân người nam xúc chạm nhau, và bằng nhiều phương tiện khen ngợi không xúc chạm thân người nam, nay tại sao cô lại làm việc xấu này?!”
Quở trách xong đến chỗ đức Phật, đem sự việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng,12 hỏi Thâu-la-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn”.
Đức Phật bằng mọi cách quở trách như trên, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì mười điều lợi nên nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vì dục thạnh biến tâm, nhận lấy mọi sự xúc chạm của nam tử, từ mái tóc trở xuống, đầu gối trở lên, khuỷu tay trở ra sau.13Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di không được sống chung”.
c. Thích từ
Tỳ-kheo-ni: Là (hàng Tỳ-kheo-ni)* bạch tứ Yết-ma để thọ giới Cụ túc.
Từ câu: Vì dục thạnh biến tâm trở xuống, giải thích như trong giới “Tỳ-kheo xúc chạm thân người nữ” đã nói.

VI. TÁM VIỆC14
a. Duyên khởi
[78b01] Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni nhận sự nắm tay, nắm y của nam tử, hẹn với nhau, một mình cùng đi, cùng đứng, cùng nói, cùng ngồi một chỗ, hai thân gần kề với nhau, do tâm nhiễm dục này nên không thích sống đạo, hoặc có người hoàn tục, hay làm ngoại đạo.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà mặc áo mới nhuộm, thoa chà thân thể, kẽ mí mắt, đến chỗ đông người, có các nam tử15 nắm tay, nắm y cô, nói: Tay cô mềm mại đẹp quá, áo cô trơn láng tốt quá!
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng,16 hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô có thật sự hành tám pháp trên không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

b. Giới tướng
“Tỳ-kheo-ni nào, vì dục thạnh biến tâm, nhận lấy mọi sự nắm tay, nắm y của nam tử, hẹn nhau, một mình cùng đi, cùng đứng, cùng nói,17cùng ngồi một chỗ, thân gần kề nhau nam tử. Đủ tám pháp18 thì Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung”.
c. Thích từ
Nắm Tay: Nắm từ khuỷ tay ra trước.19
Nắm y: Nắm y đang mặc.
Hẹn nhau: Hẹn đến chỗ nào đó để làm phép hành dục hoặc để xoa chà nơi thân.
Cùng đi: Một mình cùng nam tử đi một đường.
Cùng đứng: Một mình cùng nam tử đứng một chỗ.
Cùng nói: Cùng nam tử nói chuyện.
Cùng ngồi: Cùng nam tử ngồi một giường một ghế.
Hai thân gần kề: Ngồi một chỗ, khi nghiêng mình thì đụng thân nam tử.20
Nếu phạm việc nắm tay, cho đến hai thân gần kề nhau, mỗi hành động đều mắc Thâu-lan-giá. Nếu phạm bảy việc, tuy đã tuỳ theo đó sám hối, sau phạm một việc nữa là đủ tám, cũng thành tội Ba-la-di.21
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

VII. TUỲ THUẬN BỊ XỬ22
a. Duyên khởi
Bấy giờ Tỳ-kheo Xiển-đà luôn luôn phạm tội, lên giường, xuống giường đều không như pháp, thường ăn nhiều lần, ăn biệt chúng; vào xóm làng phi thời không bạch với Thiện Tỳ-kheo. Tỳ-kheo Tăng trao cho pháp Yết-ma không thấy tội.23 Tỳ-kheo-ni, chị ông ta là Ưu-ta,24 tới lui nói chuyện và cung cấp y thực. Các Tỳ-kheo-ni thấy, nói:
Tỷ muội! Tỳ-kheo này đã được Tỳ-kheo tăng hòa hợp trao cho pháp Yết-ma không thấy tội. Các Tỳ-kheo đã không cùng ở chung, không cùng làm việc, không cùng nói chuyện, tại sao nay cô lại tới lui cùng nói chuyện và, cung cấp y thực cho ông ta?
Ưu-ta nói:
Đây là em tôi, nếu tôi [78c01] không chăm sóc thì ai chăm sóc!
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi Ưu-ta: “Cô có thật vậy không?
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo-ni thân thiện với Ưu-ta đến chỗ vắng khuyên can: ‘Cô không nên không tuỳ thuận Tỳ-kheo bị Tăng Yết-ma không thấy tội.’ Nếu cô nghe theo thì tốt, bằng không thì nhiều Tỳ-kheo-ni nên đến can. Nếu cô nghe theo thì tốt, bằng không thì Tỳ-kheo-ni Tăng nên đến can.
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy của đức Phật ra lệnh cho các Tỳ-kheo-ni, khiến một Tỳ-kheo-ni đến khuyên can…cho đến câu: Tỳ-kheo-ni Tăng đến can, đều không thuận nghe.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bằng mọi cách nhắn lời quở trách Ưu-ta, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, biết Tăng như pháp trao cho Tỳ-kheo pháp Yết-ma không thấy tội, các Tỳ-kheo không sống chung, không cùng làm việc, không cùng nói chuyện,25 mà tuỳ thuận Tỳ-kheo ấy. Các Tỳ-kheo-ni nói với Tỳ-kheo-ni ấy: Tỷ muội! Tỳ-kheo này, Tỳ-kheo Tăng đã trao Yết-ma không thấy tội, các Tỳ-kheo không sống chung, không cùng làm việc, không cùng nói chuyện, cô đừng tuỳ thuận. Can gián như vậy mà kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ việc này thì tốt, không bỏ thì Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung”.
Ngoài ra, như trong giới “Điều-đạt phá Tăng” đã nói.
Trường hợp không phạm cũng như trong giới đó.

VIII. PHÚ TÀNG TRỌNG TỘI26

a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Tu-hưu-ma và Tỳ-kheo-ni Bà-phả27 thường đi đứng với nhau. Sau đó, Tỳ-kheo-ni Bà-phả qua đời, Tỳ-kheo-ni Tu-hưu-ma vì cô buồn khóc. Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Cô đừng như vậy, tất cả pháp hữu vi đều phải tiêu mòn, như đức Phật đã dạy, ân ái biệt ly, không gì còn mãi. Nếu các pháp hữu vi mà không hoại, không tan rã là điều không thể có!”
Tu-hưu-ma nói:
“Hiện tại, tôi không phải vì cô ta mà khóc, (mà khóc)* tại vì lúc sanh tiền (cô ta)* không tu phạm hạnh!”
Các Tỳ-kheo-ni hỏi:
“Tại sao cô biết?”
Đáp:
“Vì cô ta cùng đi với tôi, chính tôi thấy, cô ta làm việc dâm dục với nam tử.”
Các Tỳ-kheo-ni quở trách rằng:
“Tại sao lúc cô ta còn sống, cô lại che dấu tội của cô ta, (cô ta)* chết rồi mới phát lồ?”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi Tu-hưu-ma:
“Cô, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.
Bằng mọi cách quở trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì [79a01] các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:

b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, thấy Tỳ-kheo-ni phạm Ba-la-di mà che giấu. Tỳ-kheo-ni kia, sau đó còn sống hay đã chết; hoặc đi xa hay bị tẫn xuất; hoặc thôi tu hay biến hình, khi ấy mới nói: ‘Trước đây chính tôi thấy (cô ni)* kia phạm Ba-la-di, thì Tỳ-kheo-ni ấy là kẻ Ba-la-di tội, không được sống chung”.

c. Thích từ
Che giấu: Từ sáng sớm cho đến phần đầu của đêm đầu, mỗi một giờ đều một Đột-kiết-la; từ phần đầu của đêm đầu cho đến tướng mặt trời chưa xuất hiện, mỗi một giờ đều một Thâu-lan-giá; khi tướng mặt trới xuất hiện, Ba-la-di.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu muốn nói mà không có Tỳ-kheo-ni nên chưa nói, hoặc khi nhập đại xả định hay khi tám nạn khởi28 đều không phạm.
Tám nạn: 1. bệnh, 2. vua, 3. giặc, 4. nước, 5. lửa, 6. y bát, 7. mạng sống, 8. phạm hạnh.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *