Ngũ Phần Luật – 14. Phần II – Chương 2 – Pháp Tăng Tàn

CHƯƠNG II : PHÁP TĂNG TÀN

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. MAI MỐI*
Bấy giờ, Trưởng lão Ưu-ba-ly[7] hỏi đức Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới:
“Nếu Tỳ-kheo hành pháp mai mối, cho đến chỉ một lần giao hội thì, Tăng-già-bà-thi-sa”. Nay con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ trì cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, hành pháp mai mối, hoặc vì việc tư thông, đem ý người nam nói với người nữ, đem ý người nữ nói với người nam, cho đến chỉ một lần giao hội. Tỳ-kheo-ni này vừa làm là phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”[8]
II. VÔ CĂN BÁNG*
Trưởng lão Ưu-ba-ly4 lại hỏi, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào tự mình không như pháp, do giận dữ nên dùng pháp Ba-la-di không căn cứ huỷ báng Tỳ-kheo không phải Ba-la-di, cho đến Tăng-già-bà-thi-sa.” Nay con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình không như pháp, do giận hờn nên dùng pháp Ba-la-di không căn cứ, huỷ báng Tỳ-kheo-ni không phạm Ba-la-di; vì muốn phá hoại phạm hạnh của vị ấy. Tỳ-kheo-ni kia, sau thời gian hoặc bị cật vấn, hay không bị cật vấn, nói: ‘Việc này không căn cứ, vì tôi giận hờn nên huỷ báng. Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm là phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
III. GIẢ CĂN BÁNG*
Trưởng lão Ưu-ba-ly5 lại hỏi đức Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào tự mình không như pháp, vì giận hờn nên lấy một phần của phận sự khác, hoặc một phần tương tợ, cho đến câu: Tăng-già-bà-thi-sa.” Nay con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Cả hai bộ Tăng nên thọ trì. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, [79b01] tự mình không như pháp, vì giận hờn nên lấy một phần của phận sự khác, hoặc một phần tương tợ làm Ba-la-di, huỷ báng Tỳ-kheo-ni không Ba-la-di, vì muốn phá phạm hạnh của vị ấy. Tỳ-kheo-ni ấy, sau đó, hoặc bị cật vấn hay không bị cật vấn, nói: Việc này, tôi lấy một phần của phận sự khác, hoặc một phần tương tợ vì giận hờn nên huỷ báng. Tỳ-kheo-ni này vừa làm là phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
IV. ĐỘ NỮ TẶC6
a. Duyên khởi
Bấy giờ, mọi người trong dòng họ Thích cùng lập qui ước: Chúng ta không cùng thứ dân làm hôn nhân. Nếu ai vi phạm sẽ bị trọng tội. Bấy giờ, trong dòng họ Thích có người đàn bà Hắc Ly-xa7 chồng mất. Em chồng muốn lấy làm vợ, bà ta không chịu. Qua ba lần ngõ xin đều không được bà chấp thuận, nên nghĩ như vầy: Chắc cô này có ngoại tình, ta sẽ giết cô ta. (Ông ta)* giả bộ vì anh tổ chức cuộc lễ và nói, vì chồng cô mà tổ chức cuộc lễ, cô nên đến để hành hương. Sau khi cô ta đến rồi, bị phục rượu cho say và cùng làm hạnh bất tịnh, rồi dùng tay, móng tay đánh cào vào thịt gây thương tích cô và báo cáo với nhà quan rằng: “Hắc Ly-xa là vợ của tôi, nay cùng tư thông với người ngoài.”
Nhà quan liền truy bắt. Sau khi tỉnh ruợu, bà ta thấy thân thể mình chỗ nào cũng bị thương tích, bèn nghĩ như vầy: Người này sẽ bắt giết mình. Bà ta liền trốn thoát, chạy về thành Xá-vệ, đến chỗ Tỳ-kheo-ni, xin xuất gia học đạo. Nhà quan bắt không được, nhưng biết (phạm nhân)* đã chạy đến thành Xá-vệ, bèn gởi công hàm đến vua Ba-tư-nặc nói: Người đàn bà nước tôi có phạm tội đáng chết, đã trốn thoát vào nước ngài, xin ngài giao hoàn lại cho tôi. Nếu quí quốc có kẻ phạm tội, trốn thoát qua nước tôi, cũng sẽ giao trả.
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc liền hỏi các quan tả hữu:
“Có người đàn bà như vậy vào nước Ta không?”
Tâu:
“Thưa có, nhưng đã được các Tỳ-kheo-ni độ cho học đạo. Trước đây, vua có ra lệnh: Trong nước ta, nếu ai xâm phạm vào Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni sẽ bị tội nặng. Nay họ đã xuất gia nên không dám huỷ nhục.”
Nhà vua bèn gởi thư phúc đáp:
“Sự thật có người đàn bà này chạy vào nước tôi, nhưng nay đã xuất gia, không thể truy tội. Nếu có trường hợp khác, xin sẽ đáp ứng lại”.
Những người họ Thích liền cơ hiềm, nói:
“Phàm người có tội như vậy mà không thu phục được để trị, nước ta sẽ loạn vậy! Các Tỳ-kheo-ni tại sao không biết người nào có thể độ, người nào không thể độ, mà lại độ như vậy! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách, đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
[79c01] “Tỳ-kheo-ni nào, biết người nữ có tội mà độ cho làm Tỳ-kheo-ni, Tỳ-kheo-ni ấy lần đầu làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
Lại có những người nữ giặc, nữ trộm, người nữ đáng chết, các Cư sĩ nói:
“Nếu có thể xuất gia thì tôi có thể cho họ sống.”
Họ liền bạch các Tỳ-kheo-ni cầu xin xuất gia, cầu xin độ thoát.
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi độ hạng người như vậy.” Rồi đem việc này bạch lên Phật, Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu người chủ cho phép thì chư Tỳ-kheo-ni được quyền độ họ. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, biết người nữ có tội, người chủ không cho phép mà độ, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
Lại có người nữ phạm tội, không được xuất gia ở trong giáo pháp của Phật, bèn vào ngoại đạo. Sau đó, các cư sĩ thấy, nói: Đây là người nữ phạm tội đối với chúng ta, nên đoạt y phục ngoại đạo của họ. Hoặc có người nói: “Xuất gia trong ngoại đạo đã là một hình phạt nặng, có thể bỏ qua”, bèn phóng thích.
Sau đó, những người nữ này đến nương nhờ các Tỳ-kheo-ni, thưa: Tỷ muội! Chúng con vốn không phải là không kính tín Phật pháp mà xuất gia nơi ngoại đạo, nhưng vì các cô không chịu độ, cho nên không giữ được đành phải vào ngoại đạo thôi! Nay chỗ sợ của chúng con đã cho phép chúng con xuất gia, xin các cô rủ lòng thương, độ chúng con.
Các Tỳ-kheo-ni không biết nên như thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu người nữ có tội, trước đã xuất gia, nay cho phép được độ. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, biết người nữ có tội,8 người chủ chưa cho phép9 mà độ, trừ trước đã xuất gia, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
c. Thích từ
Có tội: Hoặc phạm gian dâm, dối trá hoặc ăn trộm cắp đó gọi là có tội.
Chủ: Sống chết do người ấy, đó gọi là chủ.
Nếu Tỳ-kheo-ni phát khởi ý muốn độ người nữ như vậy, từ khi chuẩn bị cho đến tập Tăng, ba lần Yết-ma chưa xong đều Đột-kiết-la; ba lần Yết-ma xong, Hòa thượng Tăng-già-bà-thi-sa, các Ni sư tăng khác đều Thâu-lan-giá.
V. TỰ Ý GIẢI TỘI10
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Ưu-ta11 thường phạm tội, lên giường, xuống giường đều không như pháp, ăn luôn luôn, ăn riêng chúng, vào nhà người phi thời. Tỳ-kheo-ni Tăng trao cho pháp “Không thấy tội, tẫn xuất”.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà biết Ưu-ta tâm chưa điều phục, không kính thuận Tăng, không theo lệnh của chúng; tự tiện cùng với người quen thuộc, ở ngoài giới, vì cô ta giải tội tẫn xuất. Tỳ-kheo-ni Ưu-ta đã được giải tội tẫn xuất rồi càng thêm kiêu mạn [80a01] không kính chúng Tăng. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi Thâu-la-nan-đà:
“Cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, biết Tăng đã như pháp tẫn xuất12 Tỳ-kheo-ni; Tỳ-kheo-ni tâm chưa được điều phục, không tuỳ thuận Tăng, mà tự mình cùng với bè đảng, ở ngoài giới giải tội cho cô ấy. Tỳ-kheo-ni này vừa làm phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
Muốn giải tội, tạo phương tiện, cho đến ba phen Yết-ma chưa xong, đều Đột-kiết-la; ba phen Yết-ma xong, vị Sư tăng Yết-ma, Tăng-già-bà-thi-sa, các Ni tăng khác đều Thâu-lan-giá.
VI. TỨ ĐỘC13
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni một mình đi trên đường lộ, các Bạch y thấy chọc ghẹo bằng nói lời thô ác dâm dục; hoặc nắm rờ hoặc muốn cùng làm việc bất tịnh.
Lại có số đông Tỳ-kheo-ni làm bạn với con buôn cùng đi. Thâu-la-nan-đà thấy một nam tử, tâm sanh nhiễm trước, từ từ bước chậm lại ở sau, các Tỳ-kheo-ni nói:
“Tại sao cô không đi mau cho kịp bạn? Đây là chỗ đáng sợ sệt đừng để kẻ ác xâm đoạt!”
(Thâu-la-nan-đà)* nói:
“Các cô có thấy người đi sau kia không?”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Có thấy.”
Thâu-la-nan-đà nói:
“Tôi thấy người ấy, lòng rất thích đắm trước.”
Các Tỳ-kheo-ni quở trách nói:
“Tại sao trên đường đi cô lại nhiễm trước với nam tử?”
Lại có số đông Tỳ-kheo-ni lội qua sông để lấy phân bò, khi lội qua rồi, nước lớn không thể lội trở lại, bị giặc cướp đoạt.
Lại có các Tỳ-kheo-ni ngủ đêm một mình, bị mất y bát, phá phạm hạnh.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe thấy, bằng mọi cách quở trách rồi đem những việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, đi một mình, ngủ đêm một mình, lội nước một mình, một mình đi sau vì nhiễm tâm với nam tử, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
Khi ấy, có các Tỳ-kheo-ni đi trên đường, có sự nghi ngờ bị khủng bố, bèn chạy vào trong xóm làng, đến nhà quen thân.
Lại có các Tỳ-kheo-ni đi đường bị nhọc mệt. Lại có vị già bệnh nên đi không kịp, hoặc có chỗ chỉ có một ít nước, hoặc có cầu đò mà không dám đi một mình qua; hoặc có [80b01] chỗ nghỉ đêm sợ các nam tử mà không dám một mình ngủ các chỗ khác. Các Tỳ-kheo-ni không biết nên như thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có nhân duyên thì cho phép tùy ý đi một mình. Từ nay giới này nên nói nhưa vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đi một mình, ngủ đêm một mình, lội nước một mình, ở giữa đường một mình đi sau vì nhiễm tâm với nam tử,14 trừ nhân duyên, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
c. Thích từ
Nhân duyên: Khi sợ sệt phải chạy, già bệnh nhọc mệt đi không kịp bạn, chỗ nước cạn có cầu đò, chỗ sợ có nam tử, đó gọi là có nhân duyên.
Nếu đi một mình, chỗ không có xóm làng thì nửa do-tuần, chỗ có xóm làng thì từ xóm làng này đến xóm làng kia đều Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu đi đằng sau, từ xa trông thấy Tỳ-kheo-ni nhưng không nghe tiếng hoặc nghe tiếng mà không thấy hình đều Đột-kiết-la. Nếu không thấy, không nghe thì Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu lội nước một mình, mà bề rộng của nước bằng mười khuỷu tay, bề sâu của nước đến nửa đùi vế thì Tăng-già-bà-thi-sa; nếu cạn hơn thì Đột-kiết-la. Nếu ngủ đêm, đưa tay ra phải đụng nhau; nếu tay không đụng nhau thì đầu đêm và nửa đêm Thâu-lan-giá, tướng mặt trời xuất hiện Tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
VII. TỐ TỤNG15
a. Duyên khởi
Bấy giờ, có một gia chủ đem một căn nhà cúng cho Tỳ-kheo Tăng, Tỳ-kheo Tăng lại đổi cho Tỳ-kheo-ni để lấy khu rừng An-đà. Sau đó, Mạt-lợi phu nhân lại đem vườn của vua cúng cho Tỳ-kheo-ni Tăng. Tỳ-kheo-ni Tăng giở cái nhà cũ kia đem cất nơi vườn của nhà vua. Nơi ngôi nhà cũ trở thành đất trống.
Khi ấy, con gia chủ cúng nhà, lại nghĩ như vầy: “Xưa kia cha ta đem cúng cho Tăng, Tăng đem đổi cho Ni, nhưng nay các Tỳ-kheo-ni lại không ở nơi đó, ta có thể lấy lại để canh tác ở trong đó. (Ông ta)* liền lấy đất lại.
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Ông đừng có lấy đất của Tăng.”
Trả lời:
“Tuy (xưa kia)* cha tôi đem cúng cho Tăng, nhưng Tăng lại không sử dụng, nên nay thuộc về lại tôi.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Chúng tôi không bỏ miếng đất này. Nếu không, khiến đến cửa quan kiện thì ông lại bị tịch thu tài sản hết!”
Ông ta không bằng lòng hoàn trả. (Chư ni)* liền đến quan kiện, ông ta lại bị tịch thu tài sản hết.
Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói:
“Tại sao các Tỳ-kheo-ni này đến quan kiện người, làm cho bị tịch biên tài sản hết! Bọn người này nhận của cúng dường người ta mà còn kiện như thế, huống là đối với người khác, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng,16 hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các [80c01] Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đến quan kiện người khác,17 Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
Nếu Tỳ-kheo-ni nào, bị người khinh mạ thì nên nói với cha mẹ họ, nếu không có cha mẹ thì nói với bà con, không có bà con thì nói với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.
Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni có thế lực mà không bảo hộ thì Đột-kiết-la. Khi nói, nên nói: Người kia khinh tôi, vì tôi can gián giùm. Nếu đến cửa quan để kiện thì mỗi một lần đi về là một Tăng-già-bà-thi-sa.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
VIII. NHẬN CỦA NAM NHIỄM TÂM18
a. Duyên khởi
Bấy giờ, có một người khách buôn, vợ chết, lại nghĩ như vầy: Nay ta nên tìm kiếm người vợ hiền ở nơi nào? Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na có người đệ tử tên là Tu-ma,19 nhan sắc tuyệt vời, người khách buôn nhìn thấy Tu-ma, liền đem lòng say đắm và lòng tự nghĩ như vầy: Nên dùng thức ăn để dụ, có thể đạt được kết quả.
(Người khách buôn)* liền nói:
Nếu cô cần tô, du, mật, thạch mật, Bổ-xà-ni, Khư-xà-ni, thì cứ đến tôi lấy.
Tỳ-kheo-ni Tu-ma bèn đến lấy.
Sau khi đã quen thân nhau, liền hỏi Tỳ-kheo-ni:
“Cô có biết tôi cho cô thức ăn là có ý gì không?”
Trả lời:
“Ông vì cầu phúc nên cho tôi ăn.”
Người khách buôn nói:
“Tôi không vì việc này, mà là vì vợ tôi chết, thấy cô tu hành thanh tịnh nên rất đem lòng ham thích. Cô có thể đồng ý không?”
Trả lời:
“Không thể được.”
Người kia lại nói:
“Cô làm vợ tôi, sẽ cho cô những đồ quí báu, y phục đẹp đẽ, ăn uống tùy thời không bao giờ thiếu thốn!”
(Cô ni)* vẫn trả lời như lần đầu.
Những người khách buôn khác nói hùa theo giúp ông ta:
“Nếu cô không muốn làm vợ người ta sao lại nhận đồ ăn thức uống người ta? Nếu quả thật không thể thì, (chúng tôi)* sẽ đoạt hết y bát cô.”
Hoặc có người lại nói:
“Hãy đi, giải tán mau, đừng để người ta nghe. Nếu vua biết được, chắc chúng ta sẽ bị trị nặng.”
Các cư sĩ nghe, cơ hiềm nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni lại nhận thức ăn của người nam tử có nhiễm tâm, hạng người này không có hạnh Sa-môn, phá pháp của Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi Tỳ-kheo-ni Tu-ma:
“Cô, có thật vậy không?
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“ Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, nhận thức ăn của nam tử có tâm nhiễm trước, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm [81a01] Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
Có các nam tử mời Tỳ-kheo-ni vào bữa ăn trước, vào bữa ăn sau, giữa thời gian sanh tâm nhiễm trước, các Tỳ-kheo-ni biết, không dám ăn, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo-ni không có tâm nhiễm trước, nhận thức ăn của nam tử có tâm nhiễm, mà phạm Tăng-già-bà-thi-sa là điều không thể có. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, có tâm nhiễm trước, nhận thức ăn của nam tử có tâm nhiễm trước, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải sám hối.”
Lại có một Tỳ-kheo-ni có tâm nhiễm trước nhận thức ăn từ một nam tử có tâm nhiễm trước, nhận rồi sanh nghi: “Ta sẽ không phạm Tăng-già-bà-thi-sa chứ!”, liền đem cho Tỳ-kheo-ni khác. Tỳ-kheo-ni khác hỏi:
“Thức ăn ngon thế này tại sao cô không dám ăn?”
Cô đem việc này trả lời đầy đủ. Tỳ-kheo-ni khác nói:
“Chỗ cô sợ thì tôi cũng nên sợ!”
Đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo-ni nào, có tâm nhiễm trước, tự tay nhận lấy thức ăn của nam tử có tâm nhiễm trước, rồi không ăn, đem cho người khác ăn đều không phạm. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, có tâm nhiễm trước,20 tự tay nhận lấy thức ăn của nam tử có tâm nhiễm trước, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm là phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
IX. TÁN TRỢ NI KHẤT THỰC BẤT CHÍNH21
a. Duyên khởi
Bấy giờ, người khách buôn lại nghĩ như vầy: Trước đây ta dùng thức ăn để dụ Tỳ-kheo-ni kia, với thời gian ngắn ngủi nên không kết quả. Nay ta dùng thức ăn dụ lại lâu dài có thể làm xiêu lòng.
(Ông ta)* liền đến chỗ cô nói:
Trước đây tôi nói vui đùa, đưa đến thiếu nhã nhặn, xin cô nhận sự sám hối của tôi. Từ nay cứ như trước đây, cô đến nhận thức ăn nơi tôi.
Tỳ-kheo-ni kia nói:
“Thôi, thôi! Ông ơi! Trước đây ông đã gây phiền tôi nên bị đức Phật quở trách nặng và Ngài vì các Tỳ-kheo-ni kết giới, ngày nay cớ gì ông lại muốn đếm nhục tôi nữa!”
Hòa thượng của Tỳ-kheo-ni này lại nói:
“Trước đây thường được nhiều thức ăn ngon bổ, tại sao nay lại không được?”
(Tỳ-kheo-ni Tu-ma)* thưa:
“Trước đây, ông ấy gây xúc não con, nhơn đó Phật chế giới cấm nên không dám nhận trở lại.”
Hòa thượng lại nói:
“Cô chỉ cần không sanh nhiễm đắm thì nhận thức ăn có khó nào? Dù ông ta sanh nhiễm đắm thì đâu có can gì đến việc cô?”
Tỳ-kheo-ni Tu-ma cơ hiềm Hòa thượng, nói:
“Đức Phật bằng mọi cách quở trách gần gũi nam tử, khen ngợi sự xa lìa, tại sao thầy lại bảo con nhận thức ăn của nam tử có tâm nhiễm trước?!”
Các Tỳ-kheo-ni nghe, quở trách vị thầy kia:
[81b01] “Tại sao lại bảo đệ tử nhận thức ăn của nam tử có tâm nhiễm trước!”
Bằng mọi cách quở trách rồi, rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi Chiên-trà-tu-ma-na:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, bảo Tỳ-kheo-ni khác nói như vầy: ‘Chỉ cần cô không sanh đắm nhiễm thì, nhận thức ăn của nam tử sanh tâm đắm nhiễm nào có khó gì?’ Tỳ-kheo-ni này vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”22
Tỳ-kheo-ni bảo như thế, thì mỗi một lời nói, một Tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni Đột-kiết-la.
X. PHÁ HÒA HỢP TĂNG*
a. Duyên khởi
Ưu-ba-ly23 lại thưa hỏi đức Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào làm việc phá hòa hợp Tăng, siêng năng, tạo phương tiện…cho đến câu: Tăng-già-bà-thi-sa.” Con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Cả hai bộ tăng nên thọ trì. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, thường hay tìm cách phá hòa hợp Tăng thì, các Tỳ-kheo-ni nên nói với Tỳ-kheo-ni ấy: ‘Cô chớ nên thường hay tìm cách phá hòa hợp Tăng, nên cùng Tăng hòa hợp. Vì Tăng hòa hợp nên hoan hỷ không tranh chấp, một lòng cùng học (một thầy)* như nước hòa với sữa; cùng nhau rao giảng lời dạy của thầy, sống an lạc.’ Can gián như vậy mà cô kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián mà bỏ thì tốt, bằng không bỏ thì Tỳ-kheo-ni ấy, sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”24
XI. TUỲ THUẬN PHÁ TĂNG*
a. Duyên khởi
Ưu-ba-ly25 lại thưa hỏi đức Phật, Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào trợ giúp vào việc phá hòa hợp Tăng, cho đến câu: Tăng-già-bà-thi-sa.’ Con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Cả hai bộ Tăng đều thọ trì. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, trợ giúp phá hòa hợp Tăng, hoặc một, hoặc hai cho đến số đông, nói với các Tỳ-kheo-ni rằng: ‘Những gì Tỳ-kheo-ni này nói, là biết mà nói, chứ không phải không biết mà nói; nói đúng pháp chứ không phải nói phi pháp, nói đúng luật chứ không phải nói phi luật, tâm chúng tôi đều ưa thích.’ Các Tỳ-kheo-ni nên nói với Tỳ-kheo-ni kia rằng: ‘Cô chớ nên nói như vầy: Những gì Tỳ-kheo-ni này nói, là biết mới nói chứ không phải không biết mà nói; nói đúng pháp chứ không phải nói phi pháp, nói đúng luật chứ không phải nói phi luật; tâm chúng tôi đều ưa thích.’ Tại sao vậy? Vì Tỳ-kheo-ni này chẳng phải biết mà nói, chẳng phải nói đúng pháp, chẳng phải nói đúng luật. Cô không nên thích giúp phá hòa hợp Tăng, mà nên thích giúp Tăng hòa hợp. Vì Tăng hòa hợp cho nên hoan hỷ không tranh chấp, một lòng cùng học (một thầy)* như nước hòa với sữa; cùng rao truyền lời dạy của Thầy, [81c01] sống an lạc. Khi can gián như vậy mà cô ta kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ thì tốt, không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy, sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
XII. ÁC TÁNH BẤT THỌ GIÁN NGỮ*26
a. Duyên khởi
Ưu-ba-ly27 lại thưa hỏi, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào có tánh xấu khó dạy, cùng các Tỳ-kheo đồng học Giới Kinh, thường phạm tội, cho đến câu: Tăng-già-bà-thi-sa.” Con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ trì cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, có tánh xấu khó dạy, cùng các Tỳ-kheo-ni đồng học Giới Kinh, thường phạm tội. Các Tỳ-kheo-ni như pháp như luật can gián sự phạm tội của vị kia. Vị kia nói: ‘Này các cô! Các cô đừng nói với tôi điều gì hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không nói các cô điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Các Tỳ-kheo-ni nên nói lại: ‘Cô đừng tự mình không nói với ai, mà cô nên vì các Tỳ-kheo-ni nói lời như pháp, các Tỳ-kheo-ni cũng vì cô nói lời như pháp. Như vậy cùng nhau trao đổi dạy bảo nhau, xuất tội cho nhau, mới thành chúng của Như Lai. Can gián như vậy vẫn kiên trì không bỏ thì, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián, bỏ thì tốt, nếu không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy, sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
XIII. Ô THA GIA*28
a. Duyên khởi
Ưu-ba-ly29 lại thưa hỏi, Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào nương ở nơi xóm làng, làm hạnh ác, hoen ố nhà người, cho đến câu: Tăng-già-bà-thi-sa.” Con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
“Cả hai bộ Tăng nên thọ trì. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nương sống nơi làng xóm có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Có hành vi xấu mọi người đều thấy, đều nghe, đều biết. Việc làm hoen ố nhà mọi người đều thấy, đều nghe, đều biết. Các Tỳ-kheo-ni nên nói Tỳ-kheo-ni ấy rằng: ‘Việc Cô có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Có hành vi xấu mọi người đều thấy, đều nghe, đều biết; việc làm hoen ố nhà người mọi người đều thấy, đều nghe, đều biết.’ Cô nên đi khỏi chỗ này không nên ở nơi đây nữa.
Tỳ-kheo-ni kia nói: ‘Các đại tỷ tuỳ theo thương, ghét, si, sợ. Tại sao vậy? Vì có những Tỳ-kheo-ni đồng tội như vậy, có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Các Tỳ-kheo-ni nên nói với Tỳ-kheo-ni ấy rằng, Cô đừng nói những lời này: ‘Các đại tỷ tuỳ theo thương, ghét, si, sợ; vì có những Tỳ-kheo-ni đồng tội như vậy, có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Cô có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Việc có hành vi xấu mọi người đều thấy, nghe, biết; việc làm hoen ố nhà người mọi người đều thấy, nghe, biết; cô nên bỏ câu nói: ‘Các đại tỷ tuỳ theo thương, ghét, si, sợ. Cô nên [82a01] đi khỏi chỗ này, không nên ở nơi đây nữa.’ Khi can gián như vậy mà kiên trì không bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ việc này thì tốt, còn không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
XIV. TƯƠNG THÂN TƯƠNG TRỢ ÁC HÀNH30
a. duyên khởi
Bấy giờ Tỳ-kheo-ni Tu-hưu-ma và Tỳ-kheo-ni Bà-phả31 cùng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang. Lại cùng nhau che giấu tội lỗi, xúc não chúng Tăng. Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Các cô có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang. Các cô nên xa lìa nhau, bỏ hành vi ác, việc xúc não chúng tăng này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm.”
Hai Tỳ-kheo-ni nói:
“Chúng tôi không có hành vi ác, không có tiếng xấu đồn vang, cũng không xúc não chúng Tăng. Trong đây có hai Tỳ-kheo-ni khác cùng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, xúc não chúng Tăng.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Các cô đừng nói vậy! Tại sao? Vì trong đây không có hai Tỳ-kheo-ni nào khác làm điều ác, xúc não Tăng. Chỉ có hai cô, đáng xa nhau, nên bỏ hành vi ác, và việc xúc não chúng Tăng thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới tăng rộng thêm.”
Can gián như vậy, vẫn kiên trì không bỏ, các Tỳ-kheo-ni đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi hai Tỳ-kheo-ni kia:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Nên sai một Tỳ-kheo-ni nào, thân quen với hai Tỳ-kheo-ni kia, đến chỗ vắng khuyên can. Nếu họ chấp thuận thì tốt, bằng không chấp thuận thì số đông Tỳ-kheo-ni nên đến khuyên can. Nếu họ chấp nhận thì tốt, bằng không thì Tăng Tỳ-kheo-ni nên đến can gián.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, liền sai các Tỳ-kheo-ni đến can gián, cả ba lần đều không được chấp nhận. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bằng mọi cách nhắn trách hai Tỳ-kheo-ni kia rồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Nếu hai Tỳ-kheo-ni cùng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, lại che giấu tội lỗi cho nhau, xúc não chúng Tăng. Các Tỳ-kheo-ni nói: ‘Hai cô là Tỳ-kheo-ni có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, lại che giấu tội lỗi cho nhau, xúc não chúng Tăng. Hai cô nên xa lìa nhau, đừng có hành vi ác, đừng xúc não chúng Tăng thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm.’ Hai Tỳ-kheo-ni kia nói: ‘Chúng tôi không có hành vi ác, không có tiếng xấu đồn vang, không che giấu tội cho nhau, không xúc não chúng Tăng, mà nơi đây có hai Tỳ-kheo-ni khác cùng có hành vi ác, xúc não chúng Tăng.’ Các Tỳ-kheo-ni lại nói: [82b01] ‘Hai cô đừng nói vậy. Tại sao? Vì trong đây không có hai Tỳ-kheo-ni nào khác có hành vi ác, xúc não chúng tăng. Chỉ có hai cô đáng xa lìa nhau, nên bỏ hành vi ác và việc xúc não chúng Tăng này, thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm.’ Khi can gián như vậy vẫn kiên trì không bỏ, thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ thì tốt, còn không bỏ thì hai Tỳ-kheo-ni kia sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
c. Thích từ
Lại che giấu tội cho nhau: Tức tội Tăng-già-bà-thi-sa, Thâu-lan-giá, Ba-dật-đề, Ba-la-đề đề-xá-ni, Đột-kiết-la, hoặc không phòng hộ miệng.
Não Tăng: Tức khi Bố-tát, Tự tứ, hay lúc tác các Yết-ma, như trong giới “Điều-đạt phá Tăng” đã nói.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
XV. CÙNG NHAU GÀN BƯỚNG, KHÔNG NHẬN LỜI CAN GIÁN32
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tu-hưu-ma Tỳ-kheo-ni và Bà-phả Tỳ-kheo-ni cùng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, cho đến câu, ở trong Phật pháp, nếp sống an lạc được Tăng rộng thêm (cũng như giới trên đã nói).
Hai Tỳ-kheo-ni nói:
“Chúng tôi không có hành vi xấu, không xúc não chúng Tăng. Tăng thấy chúng tôi yếu thế, khinh dễ chúng tôi nên nói như vậy.”
Các Tỳ-kheo-ni lại nói:
“Các cô đừng nói vậy! Tại sao? Vì Tăng không thấy các cô yếu thế mà khinh dễ các cô, mà tự các cô có hành vi xấu, xúc não chúng Tăng. Cần phải xa lìa nhau, nên bỏ hành vi xấu này và việc xúc não chúng Tăng này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm. Can gián như vậy vẫn kiên trì không bỏ.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão quở trách, cho đến câu: Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới (cũng như trong giới trên đã nói). Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Hai Tỳ-kheo-ni nào, cùng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, lại che giấu tội lỗi cho nhau, xúc não chúng Tăng. Các Tỳ-kheo-ni nói: ‘Tỳ-kheo-ni hai cô, đừng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, lại che giấu tội cho nhau, xúc não chúng Tăng. Hai cô nên xa nhau, bỏ hành vi ác, việc xúc não chúng Tăng này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm.’ Hai Tỳ-kheo-ni ấy nói: ‘Chúng tôi không có hành vi ác, không có tiếng xấu đồn vang, không che tội cho nhau, không xúc não chúng Tăng, mà tự Tăng thấy chúng tôi yếu thế, khinh dễ chúng tôi nên nói như vậy.’ Các Tỳ-kheo-ni lại nói: ‘Đừng nói vậy! Tại sao? Vì Tăng không phải thấy các cô yếu thế khinh dễ các cô. Các cô cần phải xa lìa nhau, bỏ hành vi ác và, việc xúc não chúng Tăng này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm.’
Khi can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ thì tốt, [82c01]còn không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
Ngoài ra như giới trước đã nói. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni Đột-kiết-la.
XVI. VU TĂNG THIÊN VỊ33
a. Duyên khởi
Bấy giờ, mẹ của Xiển-đà tên là Tu-ma-na, là người có tánh ác. Người thời ấy gọi bà là Chiên-trà Tu-ma-na,34 ưa đấu tranh cùng người khác. Tăng xử đoán việc nọ, lại cho rằng Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Cô đừng ưa thích đấu tranh với người khác và cô đừng nói như vầy: ‘Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.’ Tại sao vậy? Vì Tăng không làm việc theo sự ưa ghét, si, sợ. Cô nên bỏ câu nói này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm. Can gián như vậy vẫn kiên trì không bỏ, cho đến câu: Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới (cũng như giới trên đã nói). Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ưa đấu tranh35 cùng người khác. Tăng xử đoán việc nọ, lại nói: ‘Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.’ Các Tỳ-kheo-ni nói: ‘Cô đừng ưa đấu tranh với người khác. Cô đừng nói: ‘Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.’ Tại sao vậy? Vì Tăng không làm việc theo sự yêu, ghét, si, sợ. Cô bỏ lời nói ấy thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm. Can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ thì, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ thì tốt, còn không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy, sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
Ngoài ra như giới trước đã nói.
XVII. DỌA BỎ ĐẠO36
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na ưa đấu tranh cùng người khác. Tăng xử đoán việc nọ, bèn giận dữ nói:
“Tôi xả Phật, xả pháp, xả Tăng, xả giới làm ngoại đạo. Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng có học giới, cũng có tàm quí, tôi sẽ theo họ tịnh tu phạm hạnh.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Cô đừng ưa đấu tranh với người khác, cô đừng nên nói lời này: ‘Tôi xả Phật,cho đến câu: Tôi sẽ theo họ tịnh tu phạm hạnh.’ Tại sao vậy? Vì Sa-môn, Bà-la-môn không có học giới, không có tàm quí, cô làm sao theo họ để tu phạm hạnh được! Cô nên bỏ ác kiến ấy thì, sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm. Khi can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ,cho đến câu: Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới (cũng như trong giới trên đã nói). Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ưa đấu tranh với kẻ khác, Tăng xử đoán việc nọ, bèn nói: ‘Tôi xả Phật, xả pháp, xả Tăng, xả giới làm ngoại đạo. Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng có học giới, cũng có tàm quí, tôi sẽ theo họ tịnh tu phạm hạnh.’ Các Tỳ-kheo-ni nên nói: ‘Cô đừng nên ưa đấu tranh với người khác, cô đừng nên nói vầy: ‘Tôi xả Phật, xả pháp, xả Tăng.’ Tại sao vậy? [83a01] Vì Sa-môn Bà-la-môn khác không có học giới, không có tàm quí, làm sao cô theo họ mà tịnh tu phạm hạnh được! Cô nên bỏ ác kiến ấy thì, sống ở trong Phật pháp, an lạc mới có được tăng rộng thêm. Can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ thì tốt, còn không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
Ngoài ra như trong giới trên đã nói. Các pháp Tăng tàn đã nói xong.
[1] Bản Hán, Ngũ phần 11 (tr. 77b27): Phần II. Ni luật. Tăng-kỳ 36 (tr. 514a25). Tứ phần 22 (tr. 714a1). Thập tụng 42 (tr. 302c15): Ni luật. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ Bí-sô-ni Tỳ-nại-da (vt. Căn bản ni) 1 (tr. 907a1, T23n1443). Pāli: Bhikkhunīvibhaṅga, Vin. iv. 206. Các bộ đều có 8 điều. Trong đó, 4 điều thuộc thông giới. Những học xứ, tuy duyên khởi từ Tỳ-kheo, chung cho cả hai bộ. Duyên khởi, giới tướng, giải thích từ ngữ, của những học xứ này đại thể giống nhau. Xem Phần I, các điều liên hệ. Các thông giới sẽ được đánh dấu hoa thị (*).
[2] Thông giới. Các bộ trong Hán tạng đều có nguyên nhân kết, và giới văn của 4 thông giới. Thập tụng và luật Pāli không có giới văn của 4 thông giới này.
[3] Tăng-kỳ: Ca-duy-la-vệ thành迦維羅衞城; Tứ phần Tỳ-xá-ly毘舍離.
[4] Tăng-kỳ: Đại Ái Đạo thưa thỉnh; Tứ phần: Phật tự nói. (Xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di 1).
[5] Nguyên nhân bởi Tỳ-kheo Tu-đề-na; xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di 1.
6 Tăng-kỳ: Đại Ái Đạo thưa thỉnh; Tứ phần: Phật tự nói. (Xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di 2).
7 Tăng-kỳ: Đại Ái Đạo thưa thỉnh; Tứ phần: Phật tự nói. (Xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di 3).
8 Tăng-kỳ: Đại Ái Đạo thưa thỉnh; Tứ phần: Phật tự nói. (Xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di 4).
9 Tăng-kỳ 36 (tr. 515a17). Tứ phần 22 (tr. 715a06); Thập tụng 42 (tr. 302c16). Căn bản ni 5 (tr. 929a29). Pāli, Vin. iv. 211.
10 Tăng-kỳ: Phật tại Ca-duy-la-vệ; nhân duyên bởi Tỳ-kheo-ni Lại-tra.; Tứ phần: Phật tại nước Xá-vệ: Đại Thiện Lộc Lạc 大善鹿樂; Thập tụng: Phật tại nước Xá-vệ: Lộc Tử cư sĩ nhi 鹿子居士兒, con trai ông Lộc Tử; Căn bản: Phật tại Thất-la-phạt thành: Tỳ-xá-khư毘舍佉, mà nguyên nhân do Bí-sô-ni Châu Kế Nan-đà 苾芻尼珠髻難陀.
11 Tăng-kỳ: Lại-tra Tỳ-kheo-ni 賴吒比丘尼, dạy kinh cho một thiếu niên họ Thích. Tứ phần: Thâu-la-nan-đà 偷羅難陀. Thập tụng: Châu-na-nan-đà 周那難陀. Căn bản: Bí-sô-ni Châu Kế Nan-đà 苾芻尼珠髻難陀. Pāli: Thullanandā. Cf. Vin. iv. 212, bốn chị em xuất gia: Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā, Thullanandā. Trong đó, chuyện xảy ra giữaThullanandā và Sāḷha.
12 Tăng-kỳ: Tập hợp tất cả Tỳ-kheo-ni tại Ca-duy-la-vệ. Tứ phần: Tập hợp Tăng Tỳ-kheo. Thập tụng: Tập hợp hai bộ Tăng. Căn bản: Tập hợp các Tỳ-kheo-ni.
13 Tăng-kỳ: Từ bờ vai (giải thích: từ vú) trở xuống, từ đầu gối trở lên (giải thích: đến rốn). Tứ phần: Từ nách trở xuống, từ đầu gối trở lên. Thập tụng: Từ chân tóc trở xuống, từ đầu gối trở lên. Căn bản: Từ con mắt trở xuống, từ đầu gối trở lên. Pāli: adhakkhakaṃ ubbhajāṇumaṇḍalaṃ, từ xương cổ (xương đòn gánh) trở xuống, từ đầu gối trở lên.
14 Pāli, bất cộng giới thứ tư.
15 Tứ phần: Sa-lâu Lộc Lạc 沙樓鹿樂. Cùng nhân vật như trên, Đại Thiện Lộc Lạc, nhưng âm nghĩa có khác. Pāli: Sādhu Migāraratta; Hán đọc là Đại Thiện Lộc Lạc.
16 Như Ba-la-di 5.
17 Tăng-kỳ: “cùng đứng nói chuyện trong tầm tay với.”
18 Tăng-kỳ, không có câu này. Tứ phần: Vi phạm tám sự vậy. Thập tụng: “Biểu lộ tướng tham trước bằng tám việc này.” Căn bản ni: “Cùng nhau lãnh thọ tám việc như vậy.”Pāli:aṭṭhavatthukā, “vì phạm tám sự.”
19 Tứ phần: Nắm bàn tay cho đến cổ tay.
20 Tám việc, Tứ phần (tr. 716a25): nắm tay, nắm áo, vào chỗ vắng, cùng đứng chỗ vắng, cùng nói, cùng đi, thân dựa nhau, hẹn nhau. Thập tụng (tr. 303c20): cho nắm tay; cho nắm áo; cùng đứng; cúng nói; cùng hẹn; vào chỗ khuất; chờ đàn ông đến; trao thân như nữ bạch y. Căn bản ni (tr. 930c13): 1. trạo cử; 2. đùa giỡn; 3. cười cợt; 4. chỉ định chỗ; 5. hẹn giờ; 6. ước tín hiệu; 7. đi đến chỗ đàn ông; 8. cùng ở chỗ có thể hành sự. Pāli, aṭṭhavatthukā: hatthaggahaṇaṃ, cho nắm tay, saṅghāṭikaṇṇaggahaṇaṃ, cho nắm vạt áo Tăng-già-lê, santiṭṭheyya (…purissa hatthapāse), đứng (trong tầm tay với của đàn ông), sallapeyya (…purissa hatthapāse), nói chuyện (trong tầm tay với…), saṅketam vā gaccheyya, đi đến chỗ hẹn, purissa vā abbhāgamanaṃ, cho đàn ông đến gần, channaṃ vā anupaviseyya, đi theo vào chỗ khuất, kāyaṃ vā tadatthāya upasaṃhareyya, trao thân cho mục đích ấy.
21 Tứ phần (tr. 716b07): phạm trong bảy sự này, nếu không phát lồ sám hối, tội chưa trừ, mà phạm đến việc thứ tám thì phạm Ba-la-di. Pāli, Sớ giải: Phạm đủ tám sự, mất giới Tỳ-kheo-ni. Phạm từ một sự, cho đến bảy sự, dù cho đến trăm lần, vẫn chưa mất giới Tỳ-kheo-ni (yā pana ekaṃ vā vatthuṃ satta vā vatthūni satakkhattumpi pūreti, neva assamaṇī hoti).
22 Tứ phần, Ba-la-di thứ 8. Pāli, bất cộng giới thứ ba.
23 Hán: bất kiến tội yết-ma 不見罪羯磨. Cf. Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 13. Tăng-kỳ: bất kiến tội cử yết-ma 不見罪舉羯磨. Tứ phần: Tôn giả Xiển-đà bị Tăng cử tội. Thập tụng: Ca-lưu-la Đề-xá 迦留羅提舍 bị Tăng tác yết-ma bất kiến tẫn 不見擯. Pāli: Tỳ-kheo Ariṭṭha bị Tăng xả trí (samaggena saṅghena ukkhitta). Cf. Phần I, Ch. v, Ba-dật-đề 68; Pāli, Pāc. 69.
24 Ưu-ta 優蹉. Tăng-kỳ: Xiển-đà có mẹ 闡陀母, là Tỳ-kheo-ni bênh vực chống lại Tăng. Tứ phần: Tỳ-kheo-ni tên là Úy-thứ 慰次. Thập tụng: Tỳ-kheo Ca-lưu-la Đề-xá 迦留羅提舍bị Tăng tác yết-ma bất kiến tẫn 不見擯 (bị xả trí, vì không nhận tội); có 7 cô em gái đều là Tỳ-kheo-ni tùy thuận chống lại Tăng. Pāli: Thullanandā a tòng theo Ariṭṭha.
25 Tứ phần: Tăng chưa tác pháp ở chung.
26 Tứ phần (tr. 716b24) Ba-la-di 7. Pāli, bất cộng giới thứ hai.
27 Hai Tỳ-kheo-ni này, theo Tứ phần chỉ cho hai chị em Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà 偷羅難陀 và Đề-xá-nan-đà 坻舍難陀; Thập tụng: hai chị em, Tỳ-kheo-ni Di-đa-la 彌多羅 phạm giới dâm; em gái là Tỳ-kheo-ni Di-đế-lệ 彌帝隸, thanh tịnh, biết nhưng giấu tội cho chị. Pāli: Sundarīnandā. (Thullanandā. Cf. Vin. iv. 212, bốn chị em xuất gia: Nandā, Nandavatī,Sundarīnandā, Thullanandā. Trong đó, chuyện xảy ra giữa Thullanandā và Sāḷha).
28 Tăng-kỳ: Nếu Tỳ-kheo-ni có tâm tương ưng với: “Hễ gây nghiệp thì có quả báo, họ tự biết lấy. Ví như hỏa hoạn xảy ra cháy nhà, ta chỉ nên tự cứu mình, hơi đâu mà lo việc người.” Thì không tội. Tứ phần: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. Thập tựng: Nếu Tỳ-kheo-ni này tâm cuồng, tâm loạn, tâm bệnh hoạn, lúc ấy che dấu thì không phạm.
[6] Tăng-kỳ: 19 điều, 6 thông giới. Tứ phần: 17 điều, trong đó, 7 thông giới. Căn bản: 20 điều. Thập tụng, Pāli, 17 điều, trong đó 7 thông giới, đều không có giới văn của các thông giới.
[7] Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Chương ii, Tăng-già-bà-thi-sa 5.
[8] “….Tỳ-kheo-ni này vừa làm là phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”. Tứ phần: Phạm sơ pháp ưng xả Tăng-già-bà-thi-sa 犯初法應捨僧伽婆尸沙. Tăng-kỳ: Thị pháp sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa 是法初罪僧伽婆尸沙. Thập tụng: Thị pháp sơ phạm Tăng-già-bà-thi-sa khả hối quá 是法初犯僧伽婆尸沙可悔過. Vin. i. 224: ayaṃ bhikkhunī paṭhamāpattikaṃ dhammaṃ āpannā nissāranīyaṃ saṅghā-disesam, “Tỳ-kheo-ni này phạm pháp lần thứ nhất, Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải bị xả ly.” Nghĩa là, ngay khi vi phạm lần đầu, tức thành Tăng-già-bà-thi-sa với hình phạt là bị cách ly với Tăng (saṅghamhā nissārīyati) mà không kinh qua sự khuyến cáo (asamanubhāsanāya).
4 Duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 8.
5 Duyên khởi, xem Phần I, Ch.ii, Tăng-già-bà-thi-sa 9.
6 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 8. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 5. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 8. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 10. Pāli, biệt giới 2.
7 Hán: Hắc Ly-xa nữ 黑離車女. Phiên Phạn ngữ 5, T54n2130, tr. 1018a20: giải thích, “Ly-xa còn gọi là Ly-xa-tỳ, dịch là da trơn láng mịn màng”. Nghĩa là người nữ da đen mịn màng.
8 Pāli: corī, nữ tặc. Phân biệt ăn trộm (adinnadāna: bất dữ thủ, lấy trộm vật dưới 5 māsaka), và trộm cướp (cora), trộm vật có giá trên 5 māsaka.
9 Tăng-kỳ: chủ chưa cho. Thập tụng: vua và chúng sát-lợi chưa hủy án tử. Pāli, Vin. 226, “Chưa được phép của vua, của Tăng (saṅgha), của cộng đồng (gaṇa), của hội đoàn (seṇi), trừ phi hợp pháp (kappā).”
10 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 8. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 6. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 10. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 12. Pāli, biệt giới 4.
11 Xem Ch. i, Ba-la-di 8. Thập tụng 43 (tr. 310b19): Tỳ-kheo-ni Xiển-đề 闡提, em gái của Xa-nặc, tính ngang ngược, bị các Tỳ-kheo-ni tác yết-ma bất kiến tẫn (bị xả trí vì ngoan cố không nhận tội). Mẹ là Tỳ-kheo-ni Ưu-bà-hòa 憂婆和, vốn là người đoán sự của Tăng, tự ý ra ngoài giới tác pháp giải tội. Pāli, Vin. iv. 231: Tỳ-kheo-ni Caṇḍakālī bị các Tỳ-kheo xả trí vì không nhận tội (āpattiyā adassane ukkhipi). Tỳ-kheo-ni Thullanandā tự ý tập hợp Tỳ-kheo-ni giải tội cho Caṇḍakalī.
12 Pāli: saṅghena ukkhittaṃ, bị Tăng xả trí.
13 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 5-6-9. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 7. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 6, phân thành 4 khoản nhỏ cho 4 sự kiện. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 6, 7, 8, 9 (gồm 4 điều). Pāli, Tăng tàn biệt giới 3.
14 Bốn trường hợp Tỳ-kheo-ni không được phép đơn độc một mình: Đi một mình, ngủ đêm một mình, lội nước một mình, ở giữa đường một mình đi sau vì nhiễm tâm với nam tử, gọi là tứ độc. Hán: Độc hành, độc túc, độc độ thuỷ, ư đạo trung độc tại hậu nhiễm trước nam tử 獨行獨宿獨渡水於道中獨在後染著男子.
15 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 4. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 4. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 7. Pāli, biệt giới 1.
16 Tăng-kỳ: Phật bảo Tỳ-kheo-ni Đại Ái Đạo, tập hợp các Tỳ-kheo-ni; Tứ phần: Tập hợp các Tỳ-kheo. Thập tụng: Tập hợp hai bộ Tăng.
17 Tứ phần: Tương ngôn 相言. Tăng-kỳ: Tranh tụng tương ngôn 諍訟相言. Thập tụng: Thị thế ngôn nhân 恃勢言人. Pāli: ussaya-ādika, kiện cáo.
18 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 11. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 8. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 4. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 4. Pāli, biệt giới 5.
19 Tăng-kỳ: Tỳ-kheo-ni Thọ Đề 樹提比丘尼; Tứ phần: Tỳ-kheo-ni Đề-xá 提舍比丘尼; Thập tụng: Tỳ-kheo-ni Thi Việt 施越比丘尼; Căn bản: Tỳ-kheo-ni Châu Kế Nan-đà 珠髻難陀比丘尼.
20 Tăng-kỳ: Tỳ-kheo-ni không có lậu tâm 無漏心. Tứ phần: Tỳ-kheo-ni có Tâm nhiễm ô; Thập tụng: Tỳ-kheo-ni có lậu tâm, và người nam cũng vậy. Pāli: bhikkunī avassutā avassutassa purisapuggalassa, Tỳ-kheo-ni có tâm nhiễm ô, (nhận) của người nam có tâm nhiêm ô. Pāli: avassutā, bị rò rĩ (lậu tiết bởi dục); giải thích: ham muốn dục lạc (sārattā), mơ tưởng dục lạc (apekkavatī), tâm bị hệ lụy (paṭibaddhacittā).
21 Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 9. Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 12. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 5. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 5. Pāli, biệt giới 8.
22 Các bộ giống nhau. Tăng-kỳ (tr. 521c5): Tỳ-kheo-ni (nói như vậy), sau ba lần được can gián mà không bỏ, Tăng-già-bà-thi-sa.
23 Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 10.
24 Tứ phần: Phạm tam pháp ưng xả Tăng-già-bà-thi-sa 犯三法應捨僧伽婆尸沙. Pāli, không có giới văn cho thông giới này. Tham khảo biệt giới 7 (Vin. iv. 236): yāvatatiyakaṃdhammaṃ āpannā nissaraṇīyaṃ saṅghādisesaṃ, phạm pháp này, (được can gián) cho đến lần thứ ba, Tăng-già-bà-thi-sa cần xả trí.
25 Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 11.
26 Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 13.
27 Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 12.
28 Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 12.
29 Thông giới, duyên khởi, xem Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 13.
30 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 17. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 15. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 16. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 15. Pāli, biệt giới 9.
31 Tăng-kỳ: Chân-đàn 真檀, Uất-đa-la 欝多羅. Tứ phần: Tô-ma 蘇摩, Bà-phả-di 婆頗夷. Thập tụng: Đạt-ma 達摩, Đàm-di 曇彌. Căn bản: Khả Ái 可愛, Tùy Ái 隨愛. Pāli: Thullanandā với các Tỳ-kheo-ni đệ tử.
32 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 18. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 15. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 17. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 16. Pāli, biệt giới 10.
33 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 15. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 17. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 15. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 14. Pāli, biệt giới 8.
34 Chiên-trà Tu-ma-na 旃荼修摩那. Chiên-trà, còn gọi là Chiên-trà-la, Chiên-đồ-la, Chiên-đà-la, Skt=Pāli: caṇḍāla, dịch là người ác. Tứ phần: Hắc 黑, Thập tụng: Tỳ-kheo-ni Ca-la迦羅比丘尼. Căn bản: Thổ-la-nan-đà 吐羅難陀. Pāli: Caṇḍakāḷī.
35 Hán: Đấu tránh 鬥諍. Pāli: adhikaraṇa, tránh sự, có 4.
36 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 19. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 16. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 14. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 13. Pāli, biệt giới 7.
37 Bản Hán, hết quyển 11.



  • Leave a Comment