Ngũ Phần Luật – 15. Phần II – Chương 3 – Pháp Xả Đọa

CHƯƠNG III : PHÁP XẢ ĐỌA

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

A. THÔNG GIỚI[2]
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, Ưu-ba-ly[3] hỏi, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: “Tỳ-kheo nào ba y đã (may)* xong, y Ca-thi-na đã xả, y dư (được chứa)* cho đến mười ngày, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề,… cho đến câu: Tỳ-kheo nào, tự tay cầm vàng bạc và tiền, hoặc sai người cầm, hoặc mống tâm thọ nhận, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.” Chúng con nên thọ trì như thế nào?
Đức Phật dạy:
“Nên thọ trì cho cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:
ĐIỀU 1*
Tỳ-kheo-ni nào, ba y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, cất chứa y dư cho đến mười ngày, nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”[4]
ĐIỀU 2*
“Tỳ-kheo-ni nào, y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, lìa một trong năm y[5] mỗi một y nào, ngủ quá một đêm, trừ Tăng Yết-ma, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 3*
“Tỳ-kheo-ni nào, y đã xong, y Ca-thi-na đã xả, được vải phi thời; cần thì nhận phải nhanh chóng may thành để thọ trì. Nếu đủ thì tốt, không đủ, hy vọng xong có chỗ khiến cho đủ, chờ một tháng; nếu quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 4*
“Tỳ-kheo-ni nào, đến Cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải bà con xin y, trừ có nhân duyên, Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề.”
Nhân duyên là: Y bị đoạt, bị mất, bị cháy, bị trôi, bị hư hoại, như vậy gọi là nhân duyên.
ĐIỀU 5*
“Tỳ-kheo-ni nào, y bị đoạt, bị mất, bị cháy, bị trôi, bị hư hoại, đến nơi [83b01] cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải bà con xin y. Nếu cư sĩ, vợ cư sĩ muốn cúng nhiều y, Tỳ-kheo-ni ấy nên nhận hai y,6 nếu nhận quá hạn, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 6*
“(Tỳ-kheo-ni nào),* có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải bà con cùng nhau bàn: ‘Nên dùng số tiền y, may y như thế, cúng cho Tỳ-kheo-ni có tên…’ Tỳ-kheo-ni ấy trước không được mời tuỳ ý, bèn đến cư sĩ hay vợ cư sĩ hỏi: ‘Người vì tôi dùng số tiền y, may y như thế phải không?’ Họ trả lời đúng vậy. (Tỳ-kheo-ni)* liền nói: ‘Lành thay! Cư sĩ, vợ cư sĩ có thể may y như vậy, như vậy cho tôi.’ Vì muốn đẹp, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 7*
(Tỳ-kheo-ni nào),* có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải bà con cùng nhau bàn: ‘Mỗi người chúng ta nên dùng số tiền y, may y như thế, cho Tỳ-kheo-ni có tên…’ Tỳ-kheo-ni ấy trước không nhận lời mời tùy ý, mà đến cư sĩ, vợ cư sĩ hỏi: ‘Quí vị vì tôi dùng số tiền y, may y như thế cho tôi phải không?’ Họ trả lời, đúng vậy. Tỳ-kheo-ni bèn nói: ‘Lành thay! Cư sĩ vợ Cư sĩ có thể hợp lại may một cái cho tôi.’ Vì muốn đẹp, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 8*
Tỳ-kheo-ni nào, có Đại thần, Bà-la-môn, Cư sĩ vì Tỳ-kheo-ni nên sai sứ giả đem tiền may y đến. Sứ giả đến chỗ Tỳ-kheo-ni nói: Đại tỷ! Vua, đại thần… sai mang số tiền may y này đến, đại tỷ nhận cho. Tỳ-kheo-ni này nói: ‘Tôi không được phép nhận tiền để may y. Nếu được tịnh y sẽ tự nhận thọ trì.’ Sứ giả nói: ‘Đại tỷ, có người chấp sự không?’ Tỳ-kheo-ni liền chỉ chỗ. Sứ giả đến chỗ người chấp sự nói: ‘Vua, đại thần … sai đem số tiền may y này cho Tỳ-kheo-ni có tên… Ngươi vì sư cô nhận số tiền này để may y! Sứ giả liền giao cho, rồi trở lại chỗ Tỳ-kheo-ni thưa: ‘Đại tỷ! Người chấp sự mà sư cô chỉ, tôi đã giao rồi. Khi nào cần y, đại tỷ có thể đến lấy.’ Tỳ-kheo-ni này hai lần, ba lần đến chỗ người chấp sự nói: ‘Tôi cần y! Tôi cần y!’ Nếu nhận được thì tốt, bằng không được thì, lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu đến trước người chấp sự đứng im lặng. Nhận được thì tốt, nếu đến quá (sáu lần)*cầu được, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Trường hợp không nhận được y thì nên tự mình đến chỗ người cúng y, hoặc sai người đến nói: “Người vì Tỳ-kheo-ni… sai người đem tiền cúng y đến, cuối cùng Tỳ-kheo-ni này không nhận được; người tự trở lại lấy chứ đừng để mất.” Sự việc này nên (giải quyết)* như vậy.
ĐIỀU 9*7
“Tỳ-kheo-ni nào, tự đi xin tơ tầm, thuê thợ dệt dệt y, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 10*8
“Tỳ-kheo-ni nào, có cư sĩ vợ cư sĩ vì Tỳ-kheo-ni thuê thợ dệt, dệt y, Tỳ-kheo-ni ấy trước không nhận được lời mời tuỳ ý, mà đến thợ dệt nói:[83c01] ‘Người biết chăng? Y này họ vì tôi may, người nên vì tôi dệt cho tốt, cho rộng và kĩ, tôi sẽ trả ơn riêng. Sau đó (trả ơn)* bằng một bữa ăn hay trị giá bằng một bữa ăn. Nhận được y, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 11*9
“Tỳ-kheo-ni nào, cho y Tỳ-kheo-ni, sau vì giận hờn không vui, tự mình đoạt lại, hay sai người đoạt lại, nói: ‘Trả y lại cho tôi, tôi không cho cô’, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 12*10
“Tỳ-kheo-ni nào, biết đàn-việt muốn cúng vật cho Tăng, mà xoay về cho mình, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 13*11
“Tỳ-kheo-ni nào, bệnh được uống bốn thứ thuốc hàm tiêu: Tô, du, mật, thạch mật. Một lần nhận được để đến bảy ngày, nếu để quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 14*12
“Tỳ-kheo-ni nào, hoặc tiền hay hậu an cư, còn mười ngày mới đến lễ Tự tứ, nhận được y cấp thí. Nếu cần thì nhận, cho đến thời của y, nếu để quá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 15*13
“Tỳ-kheo-ni nào, bình bát bị chưa đủ năm chỗ vá, lại xin bát mới. Vì muốn đẹp, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 16*14
“Tỳ-kheo-ni nào, mua bán bằng mọi cách để cầu lợi, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 17*15
“Tỳ-kheo-ni nào, dùng vàng, bạc và tiền để trao đổi, mua bán các loại, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
ĐIỀU 18*16
“Tỳ-kheo-ni nào, tự tay cầm vàng, bạc, tiền, hoặc sai người cầm, hay mống tâm thọ nhận, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
B. BẤT CỘNG GIỚI
ĐIỀU 19. CẦN VẬT NÀY LẠI ĐÒI VẬT KIA17
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà đến xin bát18 nơi người bán hàng. Họ liền mua bát cho. Khi nhận được bát, liền nói: “Tôi không cần nữa, có thể cho tô.” Họ lại cho tô, rồi đem cái bát vừa mua bán lại. Người bán hàng kế bên thấy vậy nói:
“Bán các thứ hiện có nơi quán không đủ sống hay sao nay lại vì người bán bát?”
Trả lời:
“Thâu-la-nan-đà đến tôi xin bát, tôi mua bát cho. Cô ta lại nói không dùng, xin tôi tô, đem cho tô, nên bán cái bát này.”
Mọi người đều nói:
“Phàm người xin thì nên lấy những gì đã xin, vì lý do gì đã được mà không lấy, lại đòi vật khác!? Bọn người này thường nói thiểu dục tri túc, nhưng nay lại không hề biết chán, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi Thâu-la-nan-đà:
“Ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vật gì đã xin trước được rồi, không dùng, lại đòi xin thứ khác,19 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Tuỳ theo vật xin lại nhiều hay ít, mỗi thứ đều Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. [84a01] Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
ĐIỀU 20. DÙNG Y PHI THỜI LÀM THỜI Y20
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni thọ trì y phi thời làm thời y, nên các Tỳ-kheo-ni khách không thể nhận được y. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, thọ trì y phi thời làm thời y,21 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Y này nên xả cho Tăng. Không được xả cho một, hai hoặc ba Tỳ-kheo-ni.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
ĐIỀU 21. ĐỔI Y RỒI ĐOẠT LẠI22
a. Duyên khởi
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo-ni hạ tọa, ít người quen biết, nhận được vải chưa thành y, không biết may, mang đến chỗ các Tỳ-kheo-ni thưa:
“Con là hạng tối hạ toạ, không quen biết ai, nguyện xin vì con may giùm.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Chúng tôi công việc đa đoan, không thể may cho cô được. Cô có thể đến nơi Thâu-la-nan-đà hỏi xem sao! Cô ấy có nhiều y may đã thành, có thể trao đổi mua bán với cô ta.”
Tỳ-kheo-ni kia liền đem đến thưa hỏi Thâu-la-nan-đà. (Thâu-la-nan-đà)* liền lấy y đã may sẵn đổi lấy vải. Tỳ-kheo-ni kia nhận được y rồi đem về trú xứ.
Các Tỳ-kheo-ni hỏi:
“Cô được y chưa?”
Trả lời:
“Được rồi.”
Lại hỏi:
“Cô nhận được y từ vị nào?”
Thưa:
“Thâu-la-nan-đà.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Đem y đến để cùng xem với!”
Y liền được mang ra cho xem xét. Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Chiếc y này tốt hơn chỗ vải của cô gấp bội. Xưa nay không người nào được điều may mắn như thế này. Nay bỗng dưng cô được rất là hy hữu.
Khi ấy, Thâu-la-nan-đà cách vách nghe, bèn nói với Tỳ-kheo-ni kia:
“Hoàn y lại cho tôi, không trao đổi cho cô.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách cho đến câu:
“Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đổi y cho Tỳ-kheo-ni khác, sau hối hận đòi lại, nhận được y, Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu cả hai bên đều hối hận, nhận được y, không đúng như lời cam kết thì lấy lại, không phạm.
ĐIỀU 22. TRƯỚC NÓI KHÔNG DÙNG, SAU LẠI LẤY23
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu24 phát tâm cúng dường cho Tỳ-kheo-ni Tăng y ngăn che nguyệt thuỷ,25 sai người đáng tin đến đo kích cỡ. (Chư ni)* đều để đo, chỉ có Thâu-la-nan-đà không cho, lại nói với người đáng tin đến đo rằng:
“Tôi đã ly dục, không còn nguyệt thuỷ, nên không cần y này.”
Tỳ-xá-khư Mẫu may y xong, sai người đáng tin đến thưa với các Tỳ-kheo-ni:
“Y đã may xong, [84b01] xin các cô đến nhận.”
Các Tỳ-kheo-ni đều đến để nhận. Khi ấy, nhằm lúc Thâu-la-nan-đà đang có nguyệt thuỷ, bèn nhận y trước. Theo thứ tự các Tỳ-kheo-ni nhận y, y bị thiếu không đủ, một vị hạ toạ không được.
Tỳ-xá-khư Mẫu hỏi:
“Chư ni nhận đủ hết y chưa?”
Có vị đáp:
“Một vị hạ tọa không được.”
Hỏi:
“Tại sao vậy?”
Các cô nói:
“Vì Thâu-la-nan-đà trước đây nói không cần, nên không cho đo kích cỡ, nay lại lấy trước, vì vậy nên thiếu!”
Tỳ-xá-khư Mẫu nói:
“Tại sao trước nói không cần, gặp lúc liền lấy trước, làm cho người khác không được!”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão bằng mọi cách quở trách rồi,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, các Tỳ-kheo-ni nói: ‘Cô lấy y ngăn che (khi có)* nguyệt thuỷ,’ mà tự nói: ‘Không dùng’ khi gặp thời (kinh nguyệt)* lại lấy trước, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Y này nên xả cho Tăng, không được xả cho một, hai, ba vị Tỳ-kheo-ni. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Trường hợp tuy trước nói không dùng nhưng sau y có dư mà nhận thì không phạm.
ĐIỀU 23. XIN Y NẶNG26
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Thâu-la-nan-đà Tỳ-kheo-ni thường ra vào trong vương cung của vua Ba-tư-nặc.
Nhà vua nói:
“Đại tỷ, nếu cô có cần gì cứ đến tôi lấy.”
Cô ni nói: “Tôi cần y nặng (áo ấm).”
Nhà vua nói:
“Cô đến hậu cung lấy.”
Cô lại nói:
“Tôi muốn chiếc y khâm-bà-la27 vua đang mặc.”
Nhà vua liền cúng. Các quan cơ hiềm, nói:
Tỳ-kheo-ni này xuất gia trong pháp vô vi, mặc áo hoại sắc cắt rọc, mà nay tại sao lại đòi xin áo vua đang mặc. Tuy nhà vua không tiếc, nhưng người thọ nhận phải tự lượng chứ. Bọn người này thường nói thiểu dục tri túc mà nay không chán, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Hắc ly-xa được các Ly-xa28 ở Tỳ-xá-ly cung kính cúng dường, vì mọi người nếu bị việc quan (thưa kiện)*, có thể vì họ (mọi người) mà cứu giải, nên không ai là không hoan hỷ bảo:
“Chúng ta nhờ ân Đại tỷ nên được khỏi tội ách. Nay cô có cần những thứ gì chúng ta cùng nhau phụng sự.
Cô liền nói:
“Tôi cần y nặng.”
Lại hỏi:
“Cần y nặng, trị giá bao nhiêu?”
Trả lời:
“Tôi cần y hai lớp trị giá một ngàn tiền.”
Mọi người liền cơ hiềm nói: “Chúng ta dùng phí tổn cho việc kiện thưa này, dù có gấp năm, sáu lần hơn cũng không bằng giá tiền này. Bọn người này thường nói thiểu dục tri túc mà nay không chán!”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu: “Nay ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, xin y nặng29 thì nên nhận lấy loại kém giá trị nhất, ngang với bốn [84c01] đại tiền30 mà thôi, nếu nhận y quí giá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Y nặng: Là y mặc trong khi lạnh.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
ĐIỀU 24. XIN Y NHẸ31
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà lại đến vua Ba-tư-nặc xin chiếc y nhẹ (mỏng), mà nhà vua đang mặc và, Tỳ-kheo-ni Hắc ly-xa đến các người Ly-xa đòi y nhẹ, trị giá năm trăm tiền. Các quan và mọi người cơ hiềm… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới (cũng như trước). Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, xin y nhẹ32 chỉ nên nhận thứ kém giá trị, ngang với hai tiền rưỡi33 mà thôi, nếu nhận y quí giá, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề”.
Y nhẹ: Là loại y mặc lúc nóng. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
ĐIỀU 25. LẠM DỤNG VẬT CỦA ĐÀN-VIỆT34
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến thành Xá-vệ, Bố-tát nơi đất trống, bị gió mưa đất bụi mòng muỗi gây phiền toái.
Tỳ-kheo-ni cựu trú nói với một cư sĩ:
“Nay Tỳ-kheo-ni Tăng Bố-tát giữa trời, gặp phải những phiền toái như vậy, như vậy, như lời Phật dạy: Nếu cúng dường phòng xá cho Tăng là điều tốt nhất. Lành thay! Cư sĩ, có thể vì Tăng làm nhà Bố-tát.”
Trả lời:
“Tôi bận nhiều việc không thể tự mình làm được. Nay đem vật*35 này giao cho Đại tỷ liệu lý giùm, làm xong nói với tôi, tôi sẽ đích thân đến dâng cúng cho Tăng.”
Các Tỳ-kheo-ni sau khi đã nhận được vật* rồi cùng nhau bàn như vầy: ‘Y phục chúng ta bị rách nát, vật* này có thể chia cho nhau để may y phục, mọi người vẫn chịu phiền Bố-tát ngoài trời. Bàn xong, liền chia nhau may y, rồi nói với cư sĩ:
“Người nên hoan hỷ, y phục của các Tỳ-kheo ni bị rách nát, nên những vật* của người cúng được chia dùng để may y và, việc may y cũng đã xong rồi.”
Cư sĩ nghe qua, liền cơ hiềm, nói:
“Tôi không hoan hỷ được! Tại sao vậy? Vì trước đây cô nói, cúng dường nhà Bố-tát là điều tốt nhất, mà tại sao nay lại đem dùng may y phục?”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trước đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vì Tăng đến một cư sĩ xin (phương tiện)* làm việc này, mà dùng làm việc khác,36 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Nếu mống tâm muốn phân chia cùng tạo phương tiện đều, Đột-kiết-la.
Vật ấy nên xả cho Tăng, không được xả cho một, hai, ba Tỳ-kheo-ni.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Trường hợp tuy xin đàn-việt vì việc này, sau đó họ đồng ý làm việc khác thì không phạm.
ĐIỀU 26. LẠM DỤNG VẬT CỦA ĐÀN-VIỆT CÚNG CHO TĂNG37
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma38 Bố-tát giữa trời… cho đến câu: Bị mòng muỗi gây phiền toái [85a01] như trên đã nói.
Các Tỳ-kheo-ni cần làm nhà Bố-tát đi khắp nơi xin… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vì tăng đến nhà cư sĩ xin (phương tiện)* làm việc này, mà dùng làm việc khác, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trên đã nói.
ĐIỀU 27. XIN MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NGẢ, TỪ MỘT NHÀ39
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma không có chỗ để nghỉ ngơi, đến một cư sĩ nói:
“Tôi không có chỗ để nghỉ ngơi, làm cho tôi một tinh xá.”
Cư sĩ trả lời như trước, liền trao cho vật*. Khi nhận được phương tiện rồi, lại nghĩ như vầy: ‘Y phục ta xấu bị rách nát nên dùng (phương tiện này)* để may y, còn nơi nghỉ thì không thiếu gì, nên đã dùng nó may y, Sau khi may y, đến nói với cư sĩ… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni giới, cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình đi đến cư sĩ xin phương tiện để làm việc này, mà dùng làm việc khác,40 Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trên đã nói.
ĐIỀU 28. XIN VIỆC NÀY LÀM VIỆC KHÁC, TỪ NHIỀU NHÀ41
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma không có nơi để nghỉ ngơi, đến nhiều nhà cư sĩ xin… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới… cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình đến nhiều nhà cư sĩ xin (phương tiện)* làm việc này, rồi tự dùng làm việc khác,42 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trên đã nói.
ĐIỀU 29. CHỨA NHIỀU VẬT DỤNG43
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dồn chứa nhiều vật dụng. Trước, sau, trong nhà chỗ nào cũng đều có. Gặp lúc nhà bị cháy, mọi thứ đồ vật lôi ra nhiều vô số, các Cư sĩ chữa cháy thấy, hỏi:
Đây là đồ vật của ai?
Trả lời:
Đó là vật dụng của các Tỳ-kheo-ni.
Họ cơ hiềm nói:
Hạng người này thuộc loại đại bất lợi không tốt, xuất gia ở trong pháp vô vi, mặc áo hoại sắc, cắt rọc mà dồn chứa vật dụng nhiều như vua, đại thần. Họ thường nói thiểu dục tri túc mà nay lại dồn chứa không chán, không có hạnh của Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tích chứa vật dụng,44 Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”
c. Thích từ
Vật dụng: Tức là đồ dùng cho cuộc sống.
Luật chỉ cho phép chứa tô, du, mật, hương dược, mỗi thứ có một cái bình để đựng. Lại cho phép chứa vạc, thìa, bình sành; mỗi thứ một cái để đựng thức ăn, chứa quá mức định, Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
ĐIỀU 30. CHỨA BÁT DƯ45
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dồn chứa nhiều bình bát… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni [85b01] kết giới cũng như trước. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dồn chứa nhiều bình bát,46 Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề.”
Cho phép chứa bảy loại bát thô: 1. Dùng đựng cơm, 2. Dùng đựng hương, 3. Dùng đựng thuốc, 4. Dùng đựng thức ăn dư, 5. Dùng đựng nước, 6. Dùng đựng rác, 7. Dùng đựng nước tiểu.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.



  • Leave a Comment