Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 16. Phần II – Chương 4 – Pháp Đọa

Ngũ Phần Luật – 16. Phần II – Chương 4 – Pháp Đọa

CHƯƠNG IV : PHÁP ĐỌA

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

A. THÔNG GIỚI[6]

Đức Phật ở tại thành Xá-vệ, bấy giờ Ưu-ba-ly hỏi Phật, đức Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào cố ý nói dối, Ba-dật-đề…cho đến giới: Tỳ-kheo nào, biết đàn-việt muốn cúng vật cho Tăng mà xoay về cho người khác, Ba-dật-đề’. Chúng con nên thọ trì thế nào?
Đức Phật dạy:
Nên thọ trì cho cả hai bộ Tăng. Từ nay giới này nên nói như vầy:

ĐIỀU 1*
Tỳ-kheo-ni nào, cố ý nói dối, Ba-dật-đề.[7]

ĐIỀU 2*
Tỳ-kheo-ni nào, hủy báng Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề.[8]

ĐIỀU 3*
Tỳ-kheo-ni nào, nói hai lưỡi đấu loạn Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề.4

ĐIỀU 4*
Tỳ-kheo-ni nào, vì người nam nói pháp quá năm, sáu lời, trừ có người nữ hiểu biết việc tốt hay xấu, Ba-dật-đề.5

ĐIỀU 5*
Tỳ-kheo-ni nào, biết Tăng như pháp đoán sự rồi, phát khởi trở lại, Ba-dật-đề.6
ĐIỀU 6*
Tỳ-kheo-ni nào, dạy người nữ chưa thọ Cụ túc học kinh và tụng, Ba-dật-đề.7

ĐIỀU 7*
Tỳ-kheo-ni nào, cùng người nữ chưa thọ Cụ túc cùng ngủ một nhà, quá hai đêm, Ba-dật-đề.8
ĐIỀU 8
Tỳ-kheo-ni nào, hướng đến người nữ chưa thọ Cụ túc nói mình được pháp hơn người, như nói tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy, dù là sự thật, Ba-dật-đề.9

ĐIỀU 9
Tỳ-kheo-ni nào, biết tội thô ác của Tỳ-kheo-ni, đến nói với người nữ chưa thọ đại giới, trừ Tăng Yết-ma, Ba-dật-đề.10

ĐIỀU 10
Tỳ-kheo-ni nào, nói như vầy: ‘Phiền gì phải tụng những giới vụn vặt, khi tụng giới này khiến người ưu não, chê bai giới như vậy, Ba-dật-đề.11
Xong mười việc.
ĐIỀU 11
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình chặt phá thôn xóm của quỉ thần, hoặc sai người chặt hay nói: Chặt cây này, Ba-dật-đề.12

ĐIỀU 12
Tỳ-kheo-ni nào, cố ý không trả lời câu hỏi, Ba-dật-đề.13
ĐIỀU 13
Tỳ-kheo-ni nào, vu khống người được Tăng sai, Ba-dật-đề.14
ĐIỀU 14
Tỳ-kheo-ni nào, nơi đất trống, tự mình trải toạ cụ của Tăng, hoặc sai người trải, hoặc người khác trải mà mình nằm ngồi; khi đi không dọn, không bảo người dọn, không dặn ai dọn, Ba-dật-đề.15

ĐIỀU 15
Tỳ-kheo-ni nào, trong phòng của Tăng, tự mình trải ngoạ cụ của Tăng, hoặc sai người trải, hoặc người khác trải mà mình nằm ngồi, [85c01]khi đi không dọn, không bảo người dọn, không dặn ai dọn, Ba-dật-đề.16

ĐIỀU 16
Tỳ-kheo-ni nào, vì giận, không vui, ở trong phòng của Tăng tự mình kéo Tỳ-kheo-ni ra, hoặc sai người kéo, nói như vầy: Cô đi khỏi chỗ này cho khuất mắt, đừng ở nơi đây nữa, Ba-dật-đề.17

ĐIỀU 17
Tỳ-kheo-ni nào, biết người khác đã trải ngọa cụ trước, mình đến sau cưỡng bức tự trải, hay bảo người trải, có ý nghĩ: Nếu họ không vui sẽ tự bỏ đi chỗ khác, Ba-dật-đề.18
ĐIỀU 18
Tỳ-kheo-ni nào, trên nhà gác của Tăng mà ngồi mạnh trên giường dây, giường cây có chân nhọn, Ba-dật-đề.19

ĐIỀU 19
Tỳ-kheo-ni nào, biết nước có trùng mà nhồi đất, tưới cây, hay dùng trong việc ăn uống, Ba-dật-đề.20

ĐIỀU 20
Tỳ-kheo-ni nào, ăn mãi ăn hoài, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.21
Nhân duyên: Khi bệnh, khi thời y, khi dâng y gọi là nhân duyên.
Xong hai mươi việc.

ĐIỀU 21
Tỳ-kheo-ni nào, nhận ăn riêng chúng, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.22
Nhân duyên: Là khi bệnh, khi thời y, khi dâng y, khi may y, khi đi đường, khi đi trên thuyền, khi đại hội, đó gọi là nhân duyên.

ĐIỀU 22
Tỳ-kheo-ni nào, không bệnh, nơi chỗ cúng một bữa ăn, mà nhận quá một bữa, Ba-dật-đề.23

ĐIỀU 23
Tỳ-kheo-ni nào, đến nhà Bạch y, họ cho nhiều thức ăn như bánh như bún, nếu không ở tại nhà đó ăn, nhận hai, ba bát đem về, nên chia cho các Tỳ-kheo-ni khác cùng ăn. Nếu không có bệnh mà nhận quá và không chia cho các Tỳ-kheo-ni khác cùng ăn, Ba-dật-đề.24

ĐIỀU 24
Tỳ-kheo-ni nào, ăn rồi, không làm pháp tàn thức mà ăn, Ba-dật-đề.25

ĐIỀU 25
Tỳ-kheo-ni nào, biết Tỳ-kheo-ni ăn xong, không làm pháp tàn thực, cố sức nài nỉ bảo ăn, muốn cho cô kia phạm, Ba-dật-đề.26

ĐIỀU 26
Tỳ-kheo-ni nào, chưa được mời ăn mà để thức ăn vào miệng, trừ nếm, tăm xỉa răng và nước uống, Ba-dật-đề.27

ĐIỀU 27
Tỳ-kheo-ni nào, ăn phi thời, Ba-dật-đề.28

ĐIỀU 28
Tỳ-kheo-ni nào, ăn thức ăn cách đêm, Ba-dật-đề.29
ĐIỀU 29
Tỳ-kheo-ni nào, trong nhà ăn, cùng nam tử ngồi chỗ vắng, Ba-dật-đề.30

ĐIỀU 30
Tỳ-kheo-ni nào, xem quân trận khởi hành, Ba-dật-đề.31
Xong ba mươi việc.

ĐIỀU 31
Tỳ-kheo-ni nào, có nhân duyên đến trong quân đội, cho đến hai, ba đêm, nếu ở quá, Ba-dật-đề.32

ĐIỀU 32
Tỳ-kheo-ni nào, có nhân duyên đến trong quân đội hai, ba đêm mà xem quân chiến đấu, Ba-dật-đề.33

ĐIỀU 33
Tỳ-kheo-ni nào, nói như vầy: “Như chỗ tôi hiểu, những gì Phật dạy pháp chướng đạo thì không thể là chướng đạo.” Các Tỳ-kheo-ni nên nói với Tỳ-kheo-ni ấy: “Cô đừng nói như vậy, đừng huỷ báng Phật, đừng vu khống Phật. Phật nói [86a01] pháp chướng đạo, thật hay chướng đạo. Cô nên bỏ ác tà kiến đó đi.” Can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián, bỏ việc này thì tốt, không bỏ, Ba-dật-đề.34

ĐIỀU 34
Tỳ-kheo-ni nào, biết Tỳ-kheo-ni này, không như pháp sám hối, không bỏ ác tà kiến mà cùng chuyện vãn, cùng ngồi, cùng ngủ, cùng làm việc, Ba-dật-đề.35

ĐIỀU 35
(Tỳ-kheo-ni nào, biết)* Sa-di-ni nói như vầy: “Như chỗ tôi hiểu, những lời đức Phật dạy về thọ năm dục, không thể chướng ngại đạo.” Các Tỳ-kheo-ni nói với Sa-di-ni ấy rằng: “Cô không nên nói vậy, chớ huỷ báng Phật, chớ vu khống Phật. Đức Phật nói năm dục chướng đạo là thật hay chướng đạo.” Này Sa-di-ni! Cô nên bỏ ác tà kiến đó đi. Khi khuyên can như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, nên khuyên can lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba khuyên can bỏ việc này thì tốt; nếu không bỏ, các Tỳ-kheo-ni nên nói với Sa-di-ni ấy: “Cô nên đi khỏi chỗ này, từ nay đừng nói, đức Phật là thầy của tôi nữa; cô đừng nên đi sau các Tỳ-kheo-ni như các Sa-di-ni khác, hay được phép cùng phòng ngủ với các Tỳ-kheo-ni hai đêm, còn cô không được việc ấy. Cô là kẻ ngu si nên cút đi khỏi chỗ này, chớ ở nơi đây nữa.” Tỳ-kheo-ni nào, biết Sa-di-ni đã bị tẫn như pháp, mà đem về nuôi, cùng ở, cùng nói chuyện, Ba-dật-đề.36

ĐIỀU 36
“Tỳ-kheo-ni nào, cố ý nghĩ như vầy: ‘Làm cho Tỳ-kheo-ni khác sanh nghi hối, cho đến khiến cho Tỳ-kheo-ni kia bị phiền trong chốc lát’, Ba-dật-đề.37

ĐIỀU 37
Tỳ-kheo-ni nào, khi Tăng đoán sự, không dữ dục mà đứng dậy bỏ đi, Ba-dật-đề.38

ĐIỀU 38
Tỳ-kheo-ni nào, thọc lét Tỳ-kheo-ni khác, Ba-dật-đề.39

ĐIỀU 39
Tỳ-kheo-ni nào, giỡn trong nước, Ba-dật-đề.40
ĐIỀU 40
Tỳ-kheo-ni nào, cùng nam tử ngủ chung một nhà, Ba-dật-đề.41
Xong bốn mươi việc.

ĐIỀU 41
Tỳ-kheo-ni nào, uống rượu, Ba-dật-đề.42

ĐIỀU 42
Tỳ-kheo-ni nào, khi thầy, Ba-dật-đề.43
ĐIỀU 43
Tỳ-kheo-ni nào, tự đào đất, hoặc sai người đào, nói: Đào chỗ này, Ba-dật-đề.44

ĐIỀU 44
Tỳ-kheo-ni nào, cùng cãi lộn, rồi nín thinh, nghĩ như vầy: ‘Những gì các Tỳ-kheo-ni đã nói, ta sẽ nhớ mãi, Ba-dật-đề.45

ĐIỀU 45
Tỳ-kheo-ni nào, nhận lời mời tùy ý bốn tháng, nhận quá hạn; trừ mời lại, mời tự đưa (thức ăn)* đến và mời (thời gian)* lâu, Ba-dật-đề.46

ĐIỀU 46
Tỳ-kheo-ni nào, thường xuyên phạm tội, các Tỳ-kheo-ni như pháp can gián, lại nói như vầy: ‘Tôi không học giới này, sẽ hỏi Tỳ-kheo-ni trì pháp trì luật khác, Ba-dật-đề.47

ĐIỀU 47
Tỳ-kheo-ni nào, khi thuyết giới, nói như vầy: ‘Nay tôi mới biết pháp này rút ra từ Giới Kinh, mỗi nửa tháng thuyết một lần.’ CácTỳ-kheo-ni biết Tỳ-kheo-ni này đã ba lần ngồi Bố-tát. Tỳ-kheo-ni này không vì không biết [86b01] mà thoát tội. Tuỳ theo chỗ phạm tội như pháp xử trị và, nên quở trách việc không biết kia, nói: ‘Điều cô đã làm không tốt, khi thuyết giới, không một lòng lắng nghe, không lưu tâm để ý, Ba-dật-đề.48

ĐIỀU 48
Tỳ-kheo-ni nào, hẹn với bọn giặc cùng đi chung đường, từ tụ lạc này đến tụ lạc kia, Ba-dật-đề.49

ĐIỀU 49
Tỳ-kheo-ni nào, hẹn cùng nam tử đi chung đường, từ tụ lạc này đến tụ lạc kia, Ba-dật-đề.50

ĐIỀU 50
Tỳ-kheo-ni nào, không bệnh mà vì sưởi ấm, tự mình cố ý đốt lửa, hoặc sai người đốt, Ba-dật-đề.51
Xong năm mươi việc.

ĐIỀU 51
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình cầm lấy hay sai người cầm vật báu hay các đồ trang sức bằng vật báu, trừ trong Tăng phường hay nơi ký túc (nghỉ đêm), Ba-dật-đề.52
Trong Tăng phường hay nơi ký túc cầm lấy vật báu hay các đồ trang sức báu, sau có người chủ đến đòi thì trả lại. Việc này nên giải quyết như vậy.

ĐIỀU 52
Tỳ-kheo-ni nào, mỗi nửa tháng tắm một lần, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.53
Nhân duyên: Là khi bệnh, khi làm việc, khi đi đường, khi mưa gió, khi nóng bức, đó gọi là nhân duyên.

ĐIỀU 53
Tỳ-kheo-ni nào, vì giận hờn nên đánh Tỳ-kheo-ni khác, Ba-dật-đề.54

ĐIỀU 54
Tỳ-kheo-ni nào, vì giận hờn nên dùng tay định đánh Tỳ-kheo-ni khác, Ba-dật-đề.55

ĐIỀU 55
Tỳ-kheo-ni nào, cố ý khủng bố Tỳ-kheo-ni khác, Ba-dật-đề.56

ĐIỀU 56
Tỳ-kheo-ni nào, dùng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không căn cứ, vu khống Tỳ-kheo-ni khác, Ba-dật-đề.57

ĐIỀU 57
Tỳ-kheo-ni nào, nói với Tỳ-kheo-ni kia cùng đến các nhà (tôi)* sẽ cho cô thức ăn ngon; khi đến rồi không cho, lại nói như vầy: ‘Cô đi chỗ khác, cùng cô hoặc ngồi hoặc nói chuyện không vui, tôi ngồi một mình nói chuyện một mình vui hơn, vì cố ý muốn gây phiền, Ba-dật-đề.58

ĐIỀU 58
Tỳ-kheo-ni nào, nhận được y mới, nên dùng ba loại màu hoặc xanh hoặc đen hoặc mộc lan để làm dấu; nếu không dùng ba màu làm dấu, Ba-dật-đề.59

ĐIỀU 59
Tỳ-kheo-ni nào, vì đùa giỡn nên giấu, hoặc sai người giấu y, bát, toạ cụ, ống đựng kim cho đến tất cả những tư cụ sinh hoạt hàng ngày của Tỳ-kheo-ni khác, Ba-dật-đề.60

ĐIỀU 60
Tỳ-kheo-ni nào, khi Tăng đoán sự như pháp, dữ dục rồi, sau lại trách cứ, Ba-dật-đề.61
Xong sáu mươi việc.

ĐIỀU 61
Tỳ-kheo-ni nào, nói như vầy: “Các Tỳ-kheo-ni tuỳ theo sự quen biết xoay vật của Tăng cho người khác, Ba-dật-đề.62

ĐIỀU 62
Tỳ-kheo-ni nào, đã tịnh thí y cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni rồi, cưỡng đoạt lấy lại, Ba-dật-đề.63

ĐIỀU 63
Tỳ-kheo-ni nào, nhận lời mời của người khác, trước bữa ăn, sau bữa ăn đi đến các nhà khác, không báo cáo Tỳ-kheo-ni khác kế bên, trừ nhân duyên, Ba-dật-đề.64
Nhân duyên: Là thời gian của y, gọi là nhân duyên.

ĐIỀU 64
Tỳ-kheo-ni nào, dùng bông đâu-la65 để dồi tọa, ngọa cụ, Ba-dật-đề.66

ĐIỀU 65
[86c01] Tỳ-kheo-ni nào, tự làm vật dụng nằm ngồi, giường dây, giường cây thì, chân nên cao tám ngón tay Tu-già-đà,67 trừ phần vào lỗ mộng; nếu cao quá, Ba-dật-đề.68
ĐIỀU 66
Tỳ-kheo-ni nào, dùng xương, răng, sừng làm ống đựng kim, Ba-dật-đề.69

ĐIỀU 67
Tỳ-kheo-ni nào, may y nên may lượng y của Tu-già-đà; nếu quá, Ba-dật-đề.70
Lượng y của Tu-già-đà: Là dài chín ngang tay, rộng sáu gang tay của Tu-già-đà. Đó gọi là lượng y của Tu-già-đà.

ĐIỀU 68
Tỳ-kheo-ni nào, biết đàn-việt muốn cúng vật cho Tăng mà xoay về cho người khác, Ba-dật-đề.71
(Xong sáu mươi tám việc.)

B. BẤT CỘNG GIỚI

ĐIỀU 69. ĂN TỎI72
a. Duyên khởi
Bấy giờ, trước giờ ngọ, sau giờ ngọ các Tỳ-kheo-ni ăn tỏi sống, tỏi chín; hoặc ăn riêng tỏi hoặc ăn với thức ăn, mùi tỏi làm hôi hám phòng xá. Các cư sĩ đến thăm, nghe hôi mùi tỏi, cơ hiềm nói:
“Giống như nơi ăn của Bạch y.”
Lại có các Tỳ-kheo-ni đến nhà Gia chủ, Gia chủ nghe mùi hôi của tỏi, liền nói rằng:
“Đại tỷ, đi xa ra, trong miệng hôi tỏi.” Các Tỳ-kheo-ni xấu hổ.
Lại có một người buôn tỏi, xin cúng tỏi cho các Tỳ-kheo-ni, do việc làm này, đưa đến việc ăn uống sa sút không vực dậy được. Mọi người nói rằng:
“Nếu không thể cung cấp thức ăn cho chúng tôi thì cho chúng tôi đi khỏi đây, ông bà hãy tự làm đầy tớ mãi mãi cho Tỳ-kheo-ni!”
Người hàng xóm nghe thế đều chê trách nói:
“Nhà ông bà tự không đủ thức ăn, tại sao phải góp phần cho các Tỳ-kheo-ni?”
Nhà buôn kia trình bày hết mọi việc. Có người không tin ưa Phật pháp nói:
“Do ông gần gũi Tỳ-kheo-ni nên đưa đến tình trạng khổ như thế; nếu còn tiếp tục gần gũi sẽ còn hơn đây nữa. Những người xuất gia này chủ yếu là cầu giải thoát, mà nay tham đắm của ngon vật lạ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ăn tỏi, phạm Ba-dật-đề. Nếu ăn tỏi sống thì mỗi một lần nuốt, một Ba-dật-đề.”73
Ăn tỏi chín, Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu khi bệnh ăn hay cường lực bắt ăn thì không phạm.

ĐIỀU 70. VỖ NỮ CĂN74
a. Duyên khởi
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni dùng tay vỗ nữ căn, sanh tâm ái dục, nên có người hoàn tục làm ngoại đạo.
Thâu-la-nan-đà cũng dùng tay vỗ nữ căn, nữ căn sưng lớn không thể đi lại được. Đệ tử vì cô đến những gia đình thường cúng dường nói:
“Thầy bệnh đòi xin thức ăn.
Họ liền cung cấp cho. Giới phụ nữ trong gia đình ấy tìm đến thăm hỏi:
“Đại tỷ bệnh đau chỗ nào?”
Trả lời:
“Tôi bị bệnh.”
Lại hỏi:
“Chứng bệnh ấy như thế nào? Chúng ta đồng là nữ giới tại sao không tỏ bày?”
(Thâu-la-nan-đà)* bèn nói sự thật. Thế là các cư sĩ nữ [87a01] cơ hiềm nói:
“Những người này thường chê trách dục, dục tưởng, dục nhiệt, dục giác, mà nay lại làm việc như vậy? Sao không thôi tu để thọ hưởng năm dục lạc đi! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dùng tay vỗ nữ căn, Ba-dật-đề.”
Dùng tay vỗ thì mỗi một lần vỗ, Ba-dật-đề, xuất bất tịnh, Thâu-lan-giá.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
(Xong bảy mươi việc.)

ĐIỀU 71. HỒ GIAO75
a. Duyên khởi
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni dùng hồ giao76 làm nam căn để vào nữ căn, sanh tâm ái dục, nên có vị hoàn tục làm ngoại đạo.
Lại có một Tỳ-kheo-ni cột nam căn (hồ giao)* vào ống chân rồi đặt vào nữ căn. Lúc ấy, một Thức-xoa-ma-na khử dầu bị phát hỏa cháy nhà, Tỳ-kheo-ni kia hoảng hồn quên mở vật cột ống chân, chạy ra ngoài. Mọi người chữa lửa, thấy hỏi:
Đại tỷ, cái gì bên ống chân vậy?
Cô đem việc này nói thật. Liền bị người cơ hiềm nói…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, làm nam căn để vào nữ căn,77 Ba-dật-đề.”
Xuất bất tịnh, Thâu-lan-giá.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 72. RỬA CĂN78
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni hoặc dùng một ngón tay hoặc cả năm ngón tay để rửa bên trong nữ căn, nên bị tổn thương, ra máu, đưa đến bệnh hoạn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dùng nước rửa nữ căn, Ba-dật-đề”.

ĐIỀU 73. TẨY TỊNH QUÁ PHẦN79
a. Duyên khởi
Đức Phật đã chế cấm không cho rửa, nên khi trời nóng, (nữ căn)* bất tịnh hôi thúi sanh trùng. Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề80 cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đến chỗ đức Phật, thưa Phật rằng:
“Kính bạch đức Thế Tôn, người nữ chúng con hình thể hôi thúi, phải nhờ nước để rửa,81 xin Ngài hứa khả cho.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni dùng nước tác tịnh.”
Đức Phật đã cho phép rồi, (các Tỳ-kheo-ni)* lại dùng phương pháp như trước.
Các Tỳ-kheo-ni thấy, bằng mọi cách quở trách, … cho đến câu: Bảo các Tỳ-kheo… cũng như trên đã nói.
“Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dùng nước rửa nữ căn, chỉ nên dùng hai ngón tay, đưa vào ngang bằng một đốt để rửa; nếu quá, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu trong căn có ghẻ, hoặc trùng, hoặc cỏ hay cát bụi vào thì dùng quá [87b01] một lóng tay không phạm.

ĐIỀU 74. CẠO LÔNG82
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cạo lông trên hai chỗ: Dưới nách và chỗ kín, sanh tâm ái dục, nên có người hoàn tục làm ngoại đạo.
Lúc ấy, Thâu-la-nan-đà cũng tự mình cạo lông chỗ kín. Người nhà thí chủ có người con gái sắp lấy chồng, cô muốn gặp Thâu-la-nan-đà, nên sai người đến mời. Tỳ-kheo-ni liền đến. Khi ấy, gia đình kia đang vì người con gái sửa soạn nước tắm.
Người con gái nói:
“Mời Tỳ-kheo-ni tắm trước. Họ liền mời Tỳ-kheo-ni tắm.
Cô ni nói: “Tôi không cần tắm.”
Các người nữ bèn cưỡng bức cởi y bắt cô ni tắm. Nhơn đó họ biết cô ni cạo lông chỗ kín, bèn hỏi:
Vì lý do gì cô cạo như vậy?
Cô liền hỏi lại:
“Vậy, vì lý do gì các em lại cạo?”
Các người nữ nói:
“Chúng em vì nam tử nên cạo.”
Tỳ-kheo-ni nói: “Tôi cũng vậy.”
Các người nữ bèn cơ hiềm nói:
Các cô thường chê trách dục, mà nay lại làm việc như vậy, không tu phạm hạnh! Tại sao không hoàn tục tha hồ thụ hưởng ngũ dục? Cô không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cạo lông nách và chỗ kín,83 Ba-dật-đề.”
Nếu cạo thì mỗi lưỡi dao cạo, một Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu vì có ghẻ mà phải cạo, hay bị cường lực bắt cạo thì đều không phạm.

ĐIỀU 75. MỘT MÌNH CÙNG VỚI TỲ-KHEO Ở CHỖ KHUẤT
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo một mình chỗ vắng cùng đứng nói chuyện nhau, nên sanh tâm nhiễm trước, có vị hoàn tục làm ngoại đạo. Các Bạch y thấy nghi ngờ rằng:
“Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni này một mình chỗ vắng cùng đứng nói chuyện với nhau, chắc chắn là nói việc dâm dục, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, thấy, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng Tỳ-kheo một mình ở chỗ vắng cùng đứng cùng nói chuyện, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu đông Tỳ-kheo-ni với một Tỳ-kheo, hoặc khi có tám nạn thì không phạm.

ĐIỀU 76. MỘT MÌNH CÙNG VỚI ĐÀN ÔNG Ở CHỖ KHUẤT
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng bạch y và ngoại đạo một mình cùng đứng chỗ vắng cùng nói chuyện, đưa đến việc thân thể đụng chạm, nói lời thô ác về dâm dục, hoặc cưỡng bức làm việc dâm dục.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này được nên nói như vầy:
b. Giới tướng
[87c01] Tỳ-kheo-ni nào, cùng bạch y và ngoại đạo một mình ở chỗ vắng, cùng đứng cùng nói chuyện, Ba-dật-đề”
(Ngoài ra như giới trước đã nói).

ĐIỀU 77. MỘT MÌNH CÙNG TỲ-KHEO Ở CHỖ TRỐNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo một mình đứng chỗ trống cùng nói chuyện, nên sanh tâm nhiễm trước, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng một Tỳ-kheo một mình đứng nơi chỗ trống cùng nói chuyện, Ba-dật-đề”
(Ngoài ra như giới trước).

ĐIỀU 78. MỘT MÌNH CÙNG VỚI ĐÀN ÔNG Ở CHỖ TRỐNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng bạch y và ngoại đạo một mình cùng đứng chỗ đất trống cùng nói chuyện, đưa đến việc thân thể đụng chạm nhau,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng Bạch y và ngoại đạo một mình cùng đứng chỗ đất trống cùng nói chuyện, Ba-dật-đề”.
(Ngoài ra như giới trước).

ĐIỀU 79. THÌ THẦM VỚI TỲ-KHEO NƠI NGÃ TƯ ĐƯỜNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo một mình cùng đứng nơi ngã tư đường, nói vừa đủ nghe, bảo Tỳ-kheo-ni bạn đi tránh xa. Các Cư sĩ cơ hiềm.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng Tỳ-kheo một mình đứng nơi ngã tư, đường, nói vừa đủ nghe, khiến Tỳ-kheo-ni bạn đi xa, Ba-dật-đề.”
(Ngoài ra như giới trước).

[1] Tăng-kỳ 37: tr. 524b04. Tứ phần 23: tr.727b29. Thập tụng 43: tr. 313b05. Căn bản ni 07 tr. 943b05. Pāli, Vin. iv. 243.
[2] Tứ phần: 30 điều, 18 thông giới. Duyên khởi, giới tướng, và các giải thích, xem các điều liên hệ trong Phần I, Ch. iv, Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề. Những điều thuộc thông giới có đánh dấu hoa thị (*). Tăng-kỳ, Thập tụng: 30 điều. Căn bản: 33 điều. Pāli, 30 điều, 18 thông giới.
[3] Duyên khởi các thông giới như Tỳ-kheo.
[4] Xem Phần I, Ch. iv, Ni-tát-kỳ 1.
[5] Tứ phần: Tỳ-kheo-ni phải đủ 5 y. Ba y, như Tỳ-kheo. Tỳ-kheo-ni có thêm Tăng-kỳ-chi 僧祇支 (Tăng-khước-kỳ) và phú kiên y覆肩衣. Pāli (Vin. ii. 272): saṅkacchika (Tăng-kỳ-chi hay phú kiên y, hay yếm che ngực), udakasāṭika (quyết-tu-la, thủy dục y, quần hay váy để tắm mưa). Ngũ phần 29 (tr. 187c20): phú kiên y 覆肩衣, thủy dục y 水浴衣. Các cô không trùm phú kiên y, đàn ông thấy vai và cánh tay của các cô bèn chọc ghẹo. Tăng-kỳ 30 (tr. 472b22): phú kiên y, vũ y 雨衣. Thập tụng 46 (tr. 331c05): phú kiên y 覆肩衣 và quyết-tu-la 厥修羅. Phú kiên y, dài 4 khuỷu, rộng 2 khuỷu rưỡi; quyết-tu-la, cũng vậy. Phiên Phạn ngữ 3 (tr. 5a29): “Tăng-kỳ-chi, cựu dịch là thiên đản 偏袒, trì luật gia gọi là trợ thân y 助身衣. Theo các nhà ngữ học, phiên âm đúng phải là tăng-cát-xỉ 僧割侈; dịch là phú kiên y 覆肩衣. Căn bản, 5 y của Tỳ-kheo-ni: Tăng-già-chi 僧伽胝 (tức tăng-già-lê), ốt-đát-la-tăng-già 嗢怛羅僧伽 (tức uất-đa-la-tăng), an-đát-bà-sa 安怛婆娑 (tức an-đà-hội), quyết-tô-lạc-ca 厥蘇洛迦 (tức quyết-tu-la, Skt. kusūlaka, không có Pāli tương đương), và Tăng-khước-kỳ 僧脚崎. Hữu bộ Bách nhất yết-ma (tr. 461b07): quyết-tô-lạc-ca, dịch là hạ quần. Tăng-khước-kỳ dịch yểm dịch 掩腋: che nách, cùng nghĩa phú kiên y.
6 Tứ phần, Tỳ-kheo-ni ấy nên biết đủ để nhận.
7 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 13.
8 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 14.
9 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 15
10 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 18
11 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 16.
12 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 17.
13 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 12.
14 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 11.
15 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 10.
16 Tứ phần: Ni-tát-kỳ 09.
17 Tứ phần, điều 19. Thập tụng, điều 25. Pāli, Niss. 4, Vin. iv 248; Cf. Niss. 5, Vin. iv 249.
18 Tứ phần: Tô 酥. Pāli, Thullanandā bịnh, cần thục tô tức bơ lỏng (sappina).
19 Tứ phần: “…cần vật này lại đòi vật kia .” Thập tụng: “… đã xin được cái này rồi, lại xin thêm cái khác.”
20 Tứ phần, điều 27. Thập tụng, điều 20, điều 21. Pāli, Niss. 2, Vin. iv 245.
21 Tứ phần, điều 27. Pāli, Niss. 2: Sau an cư, cư sĩ cúng cho các Tỳ-kheo-ni y phi thời (akālacīvarā) cho các Tỳ-kheo-ni có y rách. Tỳ-kheo-ni Thullanandā nói đó là thời y (kālacīvara’nti), bèn đem phân phối trong Tăng; do đó. các Tỳ-kheo-ni có y rách không nhận được y mới.”
22 Tứ phần, điều 28. Tăng-kỳ, điều 24. Thập tụng, điều 22. Căn bản: điều 17. Pāli, Niss. 3, Vin. iv. 246.
23 Tứ phần, điều 26.
24 Tỳ-xá-khư Mẫu, gọi đủ Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu. Xem thêm cht. 5, Phần I, Ch. iii, pháp Bất định.
25 Nguyệt thủy: Xem cht. 50, Phần I, Ch. i, Ba-la-di 1.
26 Tứ phần : Điều 29. Pāli, Niss. 11.
27 Y Khâm-bà-la: Xem cht. 15, Phần I, Ch. iv, Xả đọa.
28 Lê-xa, hoặc phiên âm Ly-xa 離車. Pāli: Licchavī. Chủng tộc Sát-đế-lợi ở thành Tỳ-xá-ly (Skt. Vaiśāli) thuộc Trung Ấn độ, là một bộ phận của chủng tộc Bạt-kì (Skt. Vṛji). Khi đức Phật còn tại thế, họ theo chế độ cộng hòa, nước mạnh dân giàu, sánh ngang với nước Ma-kiệt-đà.
29 Trọng y 重衣 (y dày), trái với khinh y (y nhẹ) được nói ở điều sau. Pāli, Niss.11, Vin.iv. 255: garupāvuraṇa, giải thích: yaṃ kiñci sītakāle pāvuraṇaṃ, loại áo choàng ngoài vào mùa lạnh.
30 Tăng-kỳ (điều 19): “…mua y nặng quá 4 yết-lị-sa-bàn 羯利沙槃…” Tứ phần (điều 29): Trương điệp 張疊. Thập tụng (điều 29): “…xin y nặng, nên xin y với giá 4 tiền, không được quá…” Pāli, ibid., catukaṃsaparamaṃ, 4 tiền đồng. Kaṃsa, tiền đúc bằng đồng thau hay đồng la. 1 kaṃsa bằng 4 kahāpaṇa. Không có ý kiến thống nhất về giá trị các đơn vị tiền tệ này.
31 Tứ phần, điều 30. Pāli, Niss. 12.
32 Khinh y 輕衣, y (vải) nhẹ hay mỏng; trái với trọng y, xem cht. 29 trước (Trọng y). Pāli, Pāc. 12, Vin. iv 256: lahupāraṇaṃ, áo choàng nhẹ mặc trong mùa nóng (uṇhakālepāvuraṇaṃ).
33 Tăng-kỳ (điều 20): “… y nhẹ, … quá 2 yết-lị-sa-bàn rưỡi…” Tứ phần: Trương điệp; xem cht. 30 trên, điều 23. Thập tụng: “… y nhẹ… 2 tiền rưỡi…”
34 Tứ phần, điều 22; Thập tụng, điều 26. Pāli, Nissaggi 6 & 8.
35 Hán: Vật 物, chỉ cho phương tiện để tạo ra phòng xá (có thể vàng, bạc, châu báu hay tiền …)
36 Tứ phần, Ni-tát-kỳ 20: “…vì Tăng… xin từ một cư sĩ mà dùng vào việc khác.” Thập tụng, Ni-tát-kỳ 26: “…vì Tăng, xin để làm việc này, đem dùng vào việc khác…” Pāli: vật chỉ định cho Tăng (saṅghikena saññācikena) cho việc này mà dùng vào việc khác.
37 Cf. Pāli, Niss. 7.
38 Tứ phần: Tỳ-kheo-ni An Ẩn 安隱.
39 Tứ phần, điều 23. Pāli, Cf. Niss. 7.
40 Phân biệt điều 27 này (vì tập thể) với điều 26 (vì Tăng). Tứ phân, Ni-tát-kỳ 23: “… tự mình vì Tăng… xin từ nhiều cư sĩ mà dùng vào việc khác (cho Tăng)” Pāli, nissaggi 9: vật chỉ định cho đại chúng, do cá nhân xin.
41 Tứ phần, Ni-tát-kỳ 21. Cf. Pāli, Niss. 7.
42 Tứ phần, Ni-tát-kỳ 21: “… vật được bố thí cho việc khác do tự mình xin, xoay dùng việc khác cho Tăng…” Thập tụng, Ni-tát-kỳ 28: “vì số đông (tập thể) 多人 mà xin cho việc này lại dùng vào việc khác.” Pāli, nissaggi 8: vật chỉ định cho đại chúng (mahājanikena saññācikena), không phải Tăng, phân biệt với điều 27.
43 Tứ phần, điều 25; Tăng-kỳ, điều 14, cf. điều 21; Thập tụng, điều 19; Căn bản: điều 20. Cf. Pāli, Niss. 1, Vin. iv 243.
44 Tích chứa vật dụng, Hán: tàng tích khí vật 藏積器物. Tứ phần: Đa súc hảo sắc khí 多畜好色器, chứa nhiều đồ dùng có màu sắc đẹp.
45 Tăng-kỳ, điều 14, cf. điều 21; Tứ phần, điều 24; Thập tụng, điều 19; Căn bản: điều 20. Cf. Pāli, Niss. 1, Vin. iv 243.
46 Tăng-kỳ, điều 14: “… chứa bát dư…”; điều 21: “…bát dư được phép chứa 10 ngày…” Tứ phần: Súc trưởng bát 畜長缽. Thập tụng: “chứa bát dư cho đến một đêm.” Căn bản: “được chứa bát dư qua một đêm.” Pāli: pattasannicayaṃ, tích chứa bát. Giải thích, Vin. iv. 243: nissaggiyo hotīti saha aruṇuggamanā nissaggiyo hoti, (cất chứa qua một đêm), khi mặt trời mọc, phạm Ni-tát-kỳ.
[6] Ngũ phần 12 (tr. 85b06): 207 Ba-dật-đề 波逸提 (Giới bản: 210), 68 điều thông giới, có giới văn nhưng không chép duyên khởi. Tăng-kỳ 37 (tr. 527b17): 141 ba-dạ-đề 波夜提, 70 thông giới và 71 biệt giới. Tứ phần 24 (tr. 734c06): 178 điều, có 69 thông giới, là những điều học chung cho cả hai bộ. Duyên khởi, từ các Tỳ-kheo. Xem Phần I, Ch. vi. Những điều thuộc thông giới có đánh dấu hoa thị (*). Thập tụng 44 (tr. 317a24): 178 Ba-dạ-đề 波夜提. Căn bản ni 11 (tr. 966a27): 180 Ba-dật-để-ca 波逸底迦. Pāli, pācittiyā, 166 điều; trong đó, 70 điều thuộc thông giới không có giới văn.
[7] Xem Phần I, Ch. v, Ba-dật-đề 1 (Tỳ-kheo). Văn cú có vài điểm bất đồng về hình thức; do hành văn của bản Hán.
[8] nt. Ba-dật-đề 2.
4 nt. Ba-dật-đề 3.
5 nt. Ba-dật-đề 4; Tứ phần, điều 9.
6 nt. Ba-dật-đề 5.
7 nt. Ba-dật-đề 6.
8 nt. Ba-dật-đề 7.
9 nt. Ba-dật-đề 8.
10 nt. Ba-dật-đề 9. Tứ phần, điều 7.
11 nt. Ba-dật-đề 10. Tứ phần, điều 56.
12 nt. Ba-dật-đề 11.
13 nt. Ba-dật-đề 12.
14 nt. Ba-dật-đề 13.
15 nt. Ba-dật-đề 14.
16 nt. Ba-dật-đề 15.
17 nt. Ba-dật-đề 16. Tứ phần, điều 17.
18 nt. Ba-dật-đề 17. Tứ phần, điều 16.
19 nt. Ba-dật-đề 18.
20 nt. Ba-dật-đề 19.
21 nt. Ba-dật-đề 20.
22 nt. Ba-dật-đề 21. Tứ phần, điều 22.
23 nt. Ba-dật-đề 22.
24 nt. Ba-dật-đề 23.
25 nt. Ba-dật-đề 24.
26 nt. Ba-dật-đề 25.
27 nt. Ba-dật-đề 26.
28 nt. Ba-dật-đề 27. Tứ phần, điều 24.
29 nt. Ba-dật-đề 28. Tứ phần, điều 25.
30 nt. Ba-dật-đề 29. Tứ phần, điều 30.
31 nt. Ba-dật-đề 30. Tứ phần, điều 33.
32 nt. Ba-dật-đề 31. Tứ phần, điều 34.
33 nt. Ba-dật-đề 32. Tứ phần, điều 35.
34 nt. Ba-dật-đề 33. Tứ phần, điều 52.
35 nt. Ba-dật-đề 34.
36 nt. Ba-dật-đề 35. Tứ phần, điều 54.
37 nt. Ba-dật-đề 36.
38 nt. Ba-dật-đề 37.
39 nt. Ba-dật-đề 38.
40 nt. Ba-dật-đề 39.
41 nt. Ba-dật-đề 40.
42 nt. Ba-dật-đề 41.
43 nt. Ba-dật-đề 42.
44 nt. Ba-dật-đề 43.
45 nt. Ba-dật-đề 44.
46 nt. Ba-dật-đề 45.
47 nt. Ba-dật-đề 46.
48 nt. Ba-dật-đề 47. Tứ phần, điều 57.
49 nt. Ba-dật-đề 48.
50 nt. Ba-dật-đề 49.
51 nt. Ba-dật-đề 50.
52 nt. Ba-dật-đề 51.
53 nt. Ba-dật-đề 52.
54 nt. Ba-dật-đề 53.
55 nt. Ba-dật-đề 54.
56 nt. Ba-dật-đề 55.
57 nt. Ba-dật-đề 56.
58 nt. Ba-dật-đề 57.
59 nt. Ba-dật-đề 58.
60 nt. Ba-dật-đề 59.
61 nt. Ba-dật-đề 60.
62 nt. Ba-dật-đề 61.
63 nt. Ba-dật-đề 62.
64 nt. Ba-dật-đề 63.
65 Bông Đâu-la 兜羅. Skt: Tūla. Xem cht. 409, Phần I, Ch. v, Pháp Đọa.
66 nt. Ba-dật-đề 64.
67 Tám ngón tay của Tu-già-đà: Xem cht. 412, Phần I, Ch. v, Pháp Đọa.
68 nt. Ba-dật-đề 65.
69 nt. Ba-dật-đề 66.
70 nt. Ba-dật-đề 67.
71 nt. Ba-dật-đề 68.
72 Giới bản, điều 70; Tăng-kỳ 38 (tr. 530b14): Điều 80; Tứ phần 25 (tr. 736c04): Điều 70; Thập tụng 44 (tr. 317a27): Điều 72; Căn bản ni 17 (tr. 997a08): Điều 73. Pāli, Pāc. 1, Vin. iv. 258.
73 Các bộ khác không có chi tiết này.
74 Tứ phần, điều 74. Thập tụng, điều 75. Căn bản ni, điều 76. Pāli, Pāc. 3.
75 Tứ phần, điều 73. Thập tụng, điều 85. Căn bản ni, điều 93. Pāli, Pāc. 4.
76 Hồ giao 胡膠; nhựa, hay cao su. Căn bản ni: thọ giao 樹膠.
77 Tứ phần: Dùng hồ giao làm nam căn.
78 Tứ phần: Dùng nước tác tịnh.
79 Tứ phần, điều 72; Thập tụng, điều 74; Căn bản ni, điều 75. Pāli, Pāc. 5.
80 Ma-ha Ba-xà-ba-đề 摩訶波闍波提; chỗ khác gọi là Đại Ái Đạo. Pāli: Mahāpajāpatī.
81 Tứ phần: Tác tịnh 作淨. Căn bản ni: Tẩy tịnh 洗淨. Pāli: udaka-suddhikaṃ, rửa sạch bằng nước.
82 Tứ phần, điều 71, Thập tụng, điều 73; Căn bản ni: điều 74. Pāli, Pāc. 2.
83 Pāli: sambāde lomaṃ saṃhārapeyya, bản dịch Anh (Horner) hiểu là “dưỡng lông chỗ kín (let the hair of the body grow); do động từ saṃharāpeti được hiểu là sưu tập (to cause to collect, PTS). Nhưng Luật sớ Pāli (iv. 920) nói: kattariyā vā saṇḍasakena vā khurena vā yena kenaci ekapayogena vā nānāpayogena vā ekaṃ vā bahūni vā saṃharāpentiyā, “…hoặc bằng dao nhỏ, hoặc bằng nhíp nhổ, hoặc bằng dao cạo, bất cứ bằng một hay nhiều phương tiện khác nhau nào… một hay nhiều (sợi lông)” Theo đây,saṃharāpeti nên được hiểu là “cạo” như trong các bản Hán. Tứ phần, điều 71: “Cạo lông ba chỗ”.

ĐIỀU 80. THÌ THẦM VỚI ĐÀN ÔNG NƠI NGÃ TƯ ĐƯỜNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni cùng bạch y và ngoại đạo một mình cùng đứng nơi ngã tư đường, nói vừa đủ nghe, khiến Tỳ-kheo-ni bạn đi xa.
Cư sĩ thấy cơ hiềm, cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng bạch y ngoại đạo một mình cùng đứng nơi ngã tư đường, nói vừa đủ nghe, khiến Tỳ-kheo-ni bạn đi xa, Ba-dật-đề.”
(Ngoài ra như giới trước đã nói).

ĐIỀU 81. LỘ HÌNH TẮM84
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni lõa hình tắm rửa, các bạch y thấy vậy vây quanh trêu chọc cười giỡn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, lõa hình tắm rửa, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu ngăn không cho người đến, hoặc tắm chỗ vắng, hoặc có y hay cây hoặc vật gì để ngăn che đều không phạm.
(Xong tám mươi việc.)

ĐIỀU 82. ĐI TẮM
a. Duyên khởi
[88a01] Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni (đi tắm)* không mang áo tắm theo, không biết mặc cái gì để tắm.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới, cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, (đi tắm)* không mang theo áo tắm,85 Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu áo tắm đang nhuộm, giặt, đập hoặc bị cháy hay nước trôi, hoặc hư hoại thì không phạm.

ĐIỀU 83. NHẬN CÚNG KHÔNG TRẢ LẠI
a. Duyên khởi
Bấy giờ, đệ tử của Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na, một lần nhận được năm chiếc y mới, bạch với thầy Hòa thượng:
“Thỉnh thầy, vì con mặc trước để con được phước.”
Thầy Hòa thượng mặc rồi không trả lại. Cô đệ tử phải mặc y thô tệ mà đi. Các Tỳ-kheo-ni thấy hỏi:
“Cô nhận được năm chiếc y mới, tại sao không mặc?”
Cô ni nói:
“Trước khi sử dụng, tôi cúng dường để Hòa thượng tôi dùng trước. Hòa thượng tôi không trả lại.”
Các Tỳ-kheo-ni chê trách Chiên-trà Tu-ma-na:
“Tại sao đệ tử nhận được y mới, cúng dường cho mình mặc trước, rồi không trả lại?”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão đem việc này bạch lên Phật, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, trước đó, nhận được y mới của Tỳ-kheo-ni đem cúng dường liền mặc mà không hoàn lại, Ba-dật-đề. Nếu Tỳ-kheo-ni, nhận được y mới cúng dường của Tỳ-kheo-ni kia. Tỳ-kheo-ni này nên mặc một ngày, nếu yêu cầu mặc thêm thì vì họ mặc lâu hay mau tùy ý người chủ; nếu mặc quá hạn, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

ĐIỀU 84. NGĂN TĂNG CHIA Y86
a. Duyên khởi
Bấy giờ, có Tỳ-kheo-ni ngăn Tăng chia y, Tỳ-kheo-ni khác vì đợi chia nên trở ngại việc tọa thiền, hành đạo. Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão quở trách:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni lại ngăn Tăng chia y, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ngăn Tăng chia y, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu bệnh không đến được hay không nghe thì không phạm.

ĐIỀU 85. MAY Y QUÁ NĂM NGÀY
a. Duyên khởi
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo-ni hạ toạ, nhận được vải chưa may thành y, tự mình không biết may mà cũng ít quen biết ai, nên mang đến chỗ Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà nhờ may. (Thâu-la-nan-đà)* trả lời là tôi bận nhiều việc không thể vì cô may được. (Cô ta)* lại mang đến chỗ Tỳ-kheo-ni khác, Tỳ-kheo-ni khác vì cô may thành y.
Thâu-la-nan-đà hỏi:
“Ai may y cho cô, lấy lại xem có là đúng pháp không?”
Cô liền đem y cho xem. (Thâu-la-nan-đà)* liền nói:
“Y này [88b01] không đúng pháp, hãy tháo hết nhanh lên, tôi sẽ may lại giùm cho cô.”
Cô ni liền tháo ra rồi mang đến. (Thâu-la-nan-đà)* lại không may. Tỳ-kheo-ni kia (vì may)* không thành được nên phải mặc y thô tệ đi. Những mảnh y bị tháo mượn mái nhà để phơi. Bấy giờ, vì bất cẩn để (nhà)* bị lửa thiêu, gió thổi bay rớt trên nhà bạch y cháy lây sang mọi nhà. Các Bạch y thấy lửa từ trú xứ của Tỳ-kheo-ni đến, bèn nổi giận nói:
“Chúng ta cúng dường cho các Tỳ-kheo-ni này nay trở lại thành oan gia.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, tự tháo y của Tỳ-kheo-ni khác hoặc sai người tháo, không may thành y lại, Ba-dật-đề.”
Lại có các Tỳ-kheo-ni tháo y của Tỳ-kheo-ni khác, một ngày không may lại thành y, phải đến bốn, năm ngày mới xong, nên đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni tháo y ra bốn, năm ngày phải may lại cho thành. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, tháo y của Tỳ-kheo-ni khác, hoặc sai người tháo, quá bốn, năm ngày, không may thành, Ba-dật-đề.”
Lại có Tỳ-kheo-ni tháo y của Tỳ-kheo-ni khác, rồi bị bệnh không thể may thành, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni tháo y của người khác rồi, vì bệnh được phép may không thành. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tháo y của Tỳ-kheo-ni khác rồi, không bệnh, quá bốn, năm ngày mà may không thành, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

ĐIỀU 86. KHÔNG MẶC NĂM Y
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni không mặc năm y mà mặc y thô tệ đến các tư gia.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không mặc năm y mà đi ra đường, Ba-dật-đề.”
Không mặc năm y: Từ một nhà đến một nhà, cho đến ra khỏi cửa trú xứ, Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu khi giặt, nhuộm, đập hay vá thì không phạm.

ĐIỀU 87. CHO NGOẠI ĐẠO NỮ Y TỲ-KHEO-NI87
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni lấy y của Tỳ-kheo-ni cho bạch y và ngoại đạo nữ.88 Họ mặc đi đường, Bạch y khác thấy hướng đến làm lễ, họ nói:
“Tôi là Bạch y, tôi là ngoại đạo.”
Các Bạch y bèn cơ hiềm, nói:
Tại sao Tỳ-kheo-ni lấy y của Tỳ-kheo-ni cho Bạch y và ngoại đạo nữ?”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới [88c01] cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dùng y Tỳ-kheo-ni89 cho bạch y và ngoại đạo nữ, Ba-dật-đề.”
Y của Tỳ-kheo-ni: Là có nẹp, có viền, có điểm tịnh.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Người kia có y của Tỳ-kheo-ni, dùng để đổi chác hay trả nợ thì không phạm.

ĐIỀU 88. CHUYỂN Y, VẬT CÚNG CÁ NHÂN VỀ CHO TĂNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma muốn đến thành Xá-vệ, Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na nghe Tỳ-kheo-ni Sai-ma muốn đến, bèn đến nhà thí chủ kia nói Tỳ-kheo-ni Sai-ma sắp đến, có thể vì (cô ta)* cúng dường ít nhiều gì không?
Trả lời:
“Tôi cũng nghe cô sắp đến, nên tự muốn hết lòng chuẩn bị thức ăn mỹ vị và y dâng cúng.”
Tỳ-kheo-ni kia liền nói:
“Sao không dùng y để cúng cho Tăng. Trong Tăng có vị chánh thú (sống chánh trực) và chánh hạnh, khó ai bì kịp, (sao không cúng)* mà lại cúng cho một Tỳ-kheo-ni làm gì?”
Người thí chủ nghe rồi liền chuyển cúng cho Tăng.
Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến, nhiều thức ăn mỹ vị được dâng cúng, tự tay người thí chủ hiến dâng. Ăn xong người thí chủ trộm nói:
“Giờ này, chính là lúc dâng y, mà Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na đã ngăn con làm việc này.”
Các Tỳ-kheo-ni hỏi:
“Các vị nói gì?”
Họ đem việc này trình bày đầy đủ.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao ngăn chận vật cúng cho cá nhân để chuyển cho Tăng? Từ dùng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ngăn vật thí cho cá nhân chuyển về cho Tăng, Ba-dật-đề.”
Vật thí cho cá nhân: Cúng riêng cho người nào trong Tăng, gọi là thí cho cá nhân.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.

ĐIỀU 89. BẢO HỘ90
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến thành Xá-vệ, Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na nói:
“Tôi sẽ giới thiệu thí chủ để họ chăm sóc cô.”
Sai-ma nói:
“Không cần cô làm giới thiệu.”
Chiên-trà Tu-ma-na lại nói:
“Cô nhận sự giới thiệu của tôi, cô đã được lợi dưỡng mà lại được phước độ người.”
Lúc ấy, Sai-ma im lặng chấp thuận. Chiên-trà Tu-ma-na bèn dẫn đến mọi nhà (giới thiệu)*. Tỳ-kheo-ni Sai-ma, vì hành từ tâm tam muội, do đó có nhiều quyến thuộc, không ai không cung kính; còn Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na không được ai cúng dường, bèn sanh tâm tật đố, nói: “Tôi giới thiệu (cô)* cho mọi nhà khiến cô ta nhận được nhiều sự cúng dường, mà cô ta lại nói xấu đối với tôi, khiến cho tôi không nhận được thức ăn.”91
Các Tỳ-kheo-ni bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni vừa bảo hộ lại vừa lẫn tiếc nhà người (thí chủ)*.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, [89a01] bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
“Tỳ-kheo-ni nào, bảo hộ mà lẫn tiếc nhà người,92 Ba-dật-đề.”
Bảo hộ lẫn tiếc nhà người: Nghĩa là muốn cho thí chủ chỉ cúng cho mình không cúng cho người khác.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.93

ĐIỀU 90. KHÔNG AN CƯ94
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni không an cư, du hành trong nhân gian, hoặc gặp bọn giặc tháng tám, hoặc gặp các nạn nước, lửa.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao gọi là Tỳ-kheo-ni mà không an cư kiết hạ,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không an cư, Ba-dật-đề.”
An cư: Có tiền an cư, hậu an cư. Nếu không có duyên sự gì mà đợi đến hậu an cư, Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu có tám nạn khởi thì không phạm.

ĐIỀU 91. AN CƯ NƠI KHÔNG CÓ CHÚNG TỲ-KHEO95
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni an cư chỗ không có chúng Tỳ-kheo, liền có các điều nghi ngờ là: Nên độ hay không nên độ, nên cho thọ giới hay không nên cho thọ giới, may y như pháp hay không như pháp. Đối với giới luật có những điều nghi ngờ như vậy, không biết hỏi ai, lại bị ác nhơn ngoại đạo khinh miệt lấn áp.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni: “Các cô, có thật vậy không?”
Thưa: “Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách:
“Trước đây, Ta đâu không nói Tám kính pháp, Tỳ-kheo-ni phải nương theo Tỳ-kheo chúng để an cư hay sao!”
Sau khi quở trách, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không nương theo chúng Tỳ-kheo an cư, Ba-dật-đề.”
Tuy nương tựa theo Tỳ-kheo chúng [89b01] mà không có người giáo giới, Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu khi an cư, chúng Tỳ-kheo dời đi, hoặc qua đời, hay thôi tu, hoặc bị cường lực cưỡng chế, hoặc bệnh đều không phạm.

ĐIỀU 92. TRONG AN CƯ MÀ VẪN DU HÀNH96
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tuy an cư nhưng vẫn du hành nên gặp các nạn lửa giặc.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở tráchcho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đang ở trong an cư mà du hành,97 Ba-dật-đề.”
Du hành: Từ tụ lạc này đến tụ lạc khác, nếu không có tụ lạc thì đi nửa do-tuần, Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Tám nạn khởi thì không phạm.

ĐIỀU 93. TỰ TỨ TRƯỚC HAI BỘ TĂNG98
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni an cư rồi, không đến trong Tỳ-kheoTăng thỉnh tội thấy, nghe, nghi, không có người giáo giới, không học được giới luật, nên ngu dốt không hiểu biết gì.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách, nói:
“Trước đây, ta đâu không nói Tám kính pháp, Tỳ-kheo-ni an cư rồi đến trong chúng Tỳ-kheo thỉnh tội thấy, nghe, nghi hay sao?”
Quở trách rồi đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, an cư xong, không đến trong Tỳ-kheo Tăng thỉnh tội thấy, nghe, nghi,99 Ba-dật-đề.”
Nếu Tăng không hòa hợp, không tập hợp được hoặc khi có tám nạn, không phạm.

ĐIỀU 94. AN CƯ XONG KHÔNG ĐI100
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các gia chủ mời Tỳ-kheo-ni Sai-ma an cư nơi thành Xá-vệ, với lời mời:
“Nếu nhận lời mời của con, (chúng con)* sẽ tùy thời cung cấp.”
(Sai-ma)* liền nhận lời mời kia, rồi đến ở luôn không đi nơi khác.
Các gia chủ kia cơ hiềm:
“Chúng tôi còn cần làm bao nhiêu việc khác, các Tỳ-kheo-ni không biết trù lượng nên không chịu đi.”
Những người này thường nói, thiểu dục tri túc, mà nay không nhàm chán.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, theo lời mời đến an cư rồi, ở lại một đêm không đi,101 Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bị bệnh hoặc bị khủng bố, hay chưa mãn thời hạn mời hoặc chẳng phải chỗ nhận sự mời an cư, không đi, không phạm.

ĐIỀU 95. DU HÀNH TRONG NƯỚC NƠI KHÔNG AN NINH102
a. Duyên khởi
[89c01] Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ở trong nước, du hành những nơi có sự khủng bố,103 không có kẻ cứu hộ, bị ác nhơn cướp đoạt.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ở trong nước, chỗ có sự khủng bố, không có người để nương nhờ, mà đi một mình, Ba-dật-đề.”
Tuy có số đông Tỳ-kheo-ni cùng đi mà không có Bạch y làm bạn có sức mạnh thì gọi là đi một mình. Từ một tụ lạc đến một tụ lạc, nếu không có tụ lạc thì đi nửa do-tuần là Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu có nạn gấp phải thoát chạy thì không phạm.

ĐIỀU 96. RA KHỎI BIÊN GIỚI NƠI KHÔNG AN NINH104
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ra khỏi biên giới đất nước,105 đi nơi có sự khủng bố, cũng không có người cứu hộ, bị kẻ ác cướp đoạt, cho đến câu.
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ra khỏi biên giới đất nước,106 nơi có sự khủng bố, không có người để nương tựa, đi một mình, Ba-dật-đề”
Ngoài ra như trên đã nói.

ĐIỀU 97. AN CƯ XONG, KHÔNG GỞI GẮM TINH XÁ
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni an cư tại tinh xá do Tỳ-xá-khư Mẫu làm, an cư xong, không gởi gắm cho ai, bỏ chùa không ra đi. Sau đó chùa bị cháy, có người thấy, đến báo với Tỳ-xá-khư Mẫu, Tinh xá bà cất cho Tỳ-kheo-ni đã bị cháy. Tỳ-xá-khư Mẫu liền cho người ở đến cứu chữa, nên chưa cháy hết. Sau đó, các Tỳ-kheo-ni trở về, Tỳ-xá-khư Mẫu hỏi:
“Các cô có bị cháy thứ gì không?”
Các ni đáp:
“Chúng tôi bị mất những vật như vậy, như vậy, cùng nói những vật dư dùng đều mất hết.”
Tỳ-xá-khư Mẫu chê trách, nói:
“Tại sao an cư tại tinh xá của tôi, mà đi không giao gởi cho ai, để đến nỗi khiến bị lửa cháy hết, mà còn nói những vật dư dùng đã mất hết!?”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, an cư xong, ra đi, không giao gởi tinh xá cho ai, Ba-dật-đề.”
Nếu không giao gởi mà bước một chân ra ngoài cửa ngõ, Đột-kiết-la; bước hai chân ra ngoài cửa ngõ, Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na,
Sa-di-ni phạm Đột-kiết-la.
Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đến ở, hoặc không có người giao gởi thì không phạm.

ĐIỀU 98. AN CƯ XONG, KHÔNG TRẢ LẠI TINH XÁ
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni an cư tại tinh xá của Tỳ-xá-khư Mẫu rồi, không trao trả tinh xá lại mà bỏ đi. Sau đó, (tinh xá)* bị cháy có người thấy nói với Tỳ-xá-khư Mẫu: [90a01] “Tinh xá của bà cất cho Tỳ-kheo-ni bị phát hỏa.”
Tỳ-xá-khư Mẫu nói:
“Để mặc cho nó cháy hết. Trước đây các Tỳ-kheo-ni ra đi đã không giao gởi cho ai, khiến mất hết vì lửa, sau đó trở về nói đồ dư dùng bị cháy hết, gây tiếng xấu cho tôi!”
Tỳ-kheo-ni kia sau đó trở lại, Tỳ-xá-khư Mẫu hỏi:
“Khi các cô đi có để vật gì trong tinh xá không?”
Các ni đáp:
“Không.”
(Thí chủ)* liền chê trách, nói:
“Tại sao đi không trả tinh xá lại cho tôi để bị cháy hết!? Nếu nói với tôi thì, tự tôi sẽ bảo vệ không đến nỗi này!”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, an cư xong, không trả tinh xá lại cho chủ, bỏ đi, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trên đã nói.

ĐIỀU 99. ĐI DẠO XEM MỌI THỨ (DU LÃM CUNG VUA)
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dạo xem cung vua và xem phòng họa, rồi lại du lãm các nơi vui đùa, đến cả vườn hoa, ao nước. Những chỗ này đông người tụ tập xem. Tỳ-kheo-ni nói với các nam tử rằng:
“Các ông có thể tránh ra một tý, đừng đến gần chúng tôi!”
Các nam tử nói:
“Hạng người trọc đầu xui xẻo này, đã mặc áo cắt rọc, thì không nên đến nơi đây, mà đã đến đây tức là muốn cầu nam tử tại sao lại bảo chúng ta tránh xa? Họ bèn nắm tay kéo lôi, nói lời thô ác dâm dục.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đi dạo xem mọi thứ, Ba-dật-đề.”
Mống tâm và tạo phương tiện, Đột-kiết-la. Nếu khởi sự đi thì mỗi bước, một Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu không vì sự xem coi mà đến xem thì không phạm.

ĐIỀU 100. NỬA THÁNG KHÔNG CẦU TĂNG GIÁO THỌ107
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cứ mỗi nửa tháng Bố-tát, không đến trong Tỳ-kheo Tăng cầu thỉnh thầy giáo giới, do không có người dạy giới nên ngu ám không biết gì, không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo-ni:
“Trước đây, ta đâu không nói Tám kính pháp, dạy các cô mỗi nửa tháng phải cầu thỉnh thầy giáo thọ hay sao?”
Quở trách rồi, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nửa tháng không đến trong Tăng cầu thỉnh thầy giáo giới,108 Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni không cầu thỉnh giáo giới, hối quá Đột-kiết-la.
[90b01] Nếu thỉnh mà không được hay bệnh thì không phạm.

ĐIỀU 101. VÀO TRÚ XỨ CỦA TỲ-KHEO
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma qua đời, các Tỳ-kheo-ni xây tháp thờ cốt trong Tăng phường Tỳ-kheo. Mỗi ngày ba lần, quyến thuộc cô đi nhiễu khóc kể: “Người cho tôi pháp, người cho tôi y thực sàng toạ, ngoạ cụ, y dược; một sớm mới đây, sao lại bỏ chúng tôi ra đi vĩnh viễn!”
Các Tỳ-kheo lo ngại việc tọa thiền sẽ bị trở ngại và hành đạo bị phế bỏ. Khi ấy, Ưu-ba-ly lại đến Tăng phường, hỏi cựu trú Tỳ-kheo:
“Đây là những tiếng gì?”
Có người trình bày việc này đầy đủ. Ưu-ba-ly liền sai người đập phá tháp. Các Tỳ-kheo-ni nghe, cùng nhau luận bàn: Mỗi người chúng ta cùng nhau cầm gậy đến đánh Tỳ-kheo kia. Nếu cô nào không đến sẽ bị khai trừ. Bàn xong, mọi người cầm gậy đến Tăng phường, thấy Tỳ-kheo, bèn bao vây muốn đánh; nhưng biết không phải nên thôi. Họ đến trước đường hẻm gặp Ưu Bà Ly, kẻ trước người sau, chặn đường đưa gậy lên muốn đánh. Ưu-ba-ly liền dùng Thần lực bay đến chỗ đức Phật, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách Đức Phật quở trách Tỳ-kheo-ni:
“Việc làm của các cô là phi pháp. Tại sao Tỳ-kheo-ni lại đánh Tỳ-kheo?”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo-ni nào, vào trong trú xứ Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo-ni trên đường đi thấy Tăng phường bỏ trống, muốn vào lễ bái mà không dám vào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo-ni vào trong Tăng phường bỏ trống. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo-ni nào, vào trong trú xứ có Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo-ni có nhân duyên vào trong Tăng phường mà không dám, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo-ni có nhân duyên cần vào Tăng phường thì bạch với Tỳ-kheo. Tỳ-kheo cho phép, sau đó, mới vào. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo-ni nào, vào trú xứ có Tỳ-kheo mà không bạch với Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo-ni có nhân duyên muốn vào Tăng phường mà các Tỳ-kheo hoặc đang toạ thiền hoặc ngủ, không bạch được, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni khi vào Tăng phường thấy Tỳ-kheo liền bạch. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo-ni nào, [90c01] vào trong trú xứ có Tỳ-kheo, thấy Tỳ-kheo mà không bạch, Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo-ni khi có cấp nạn muốn chạy vào Tăng phường tránh nạn mà không dám, hoặc bị giặc cướp đoạt, hoặc bị ác thú làm hại, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo-ni, nếu khi gặp nạn gấp được tùy tiện vào Tăng phường. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vào trú xứ có Tỳ-kheo, thấy Tỳ-kheo mà không bạch, trừ gặp nạn gấp, Ba-dật-đề.”
Nếu không thấy Tỳ-kheo, không thưa được mà vào, khi thấy Tỳ-kheo liền đến thưa. Tỳ-kheo kia nên tính toán, nếu khi có thể cho vào thì cho, nếu thấy không nên cho vào thì đừng cho. Thấy mà không bạch và không cho phép mà vào, Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 102. CHƯA ĐỦ 12 TUỔI HẠ MÀ NUÔI ĐỆ TỬ109
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni chưa đủ 12 tuổi (hạ)* mà nuôi đệ tử, không thể giáo giới, không thể nhiếp thủ, đệ tử ngu ám không biết gì, không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, chưa đủ mười hai tuổi (hạ) mà nuôi đệ tử, Ba-dật-đề.”
Không đủ mười hai tuổi: Là thọ giới chưa đủ mười hai năm. Nuôi đệ tử là vì người làm Hòa thượng. Nếu mống tâm muốn nuôi chúng, cho đến bạch tứ Yết-ma chưa xong, Đột-kiết-la; Bạch tứ Yết-ma xong, Hòa thượng, Ba-dật-đề, các Ni Tăng khác, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 103. TĂNG CHƯA CHO PHÉP MÀ NUÔI ĐỆ TỬ110
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tuy đủ mười hai tuổi hạ mà câm ngọng, đui điếc bị nhiều thứ bệnh, không có sự hiểu biết mà nuôi đệ tử, nên không thể giáo giới, không thể nhiếp thủ. Đệ tử ngu ám, vô tri, không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Bằng mọi cách đức Phật quở trách rồi nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni câm, ngọng, điếc, đui, đủ các thứ bệnh mà nuôi đệ tử, không đủ khả năng giáo giới, không thể nhiếp thủ, khiến đệ tử ngu si, không biết gì, không thể học giới.”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta cho phép các Tỳ-kheo-ni bạch nhị Yết-ma cho nuôi chúng.”
Tỳ-kheo-ni đó nên đến trong Tỳ-kheo-ni Tăng, cởi bỏ giày dép, để trống vai bên hữu, quì gối, chắp tay, bạch:
“Đại tỷ Tăng, xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo-ni tên là…,111 đã đủ mười hai tuổi, muốn nuôi chúng, đến xin Tăng pháp Yết-ma nuôi chúng.[91a01] Lành thay ni Tăng! Cho tôi pháp Yết-ma nuôi chúng. Xin như vậy ba lần.
Các Tỳ-kheo-ni nên tìm hiểu, quan sát Tỳ-kheo-ni này có thể nuôi chúng được hay không. Nếu không thể thì không nên cho pháp Yết-ma nuôi chúng. Nếu có thể thì nên cho. Ni Tăng nên sai một Tỳ-kheo-ni bậc Thượng toạ hay là ngang bằng bậc Thượng toạ biết pháp, biết luật, xướng như sau:
Đại tỷ, Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni này tên…,112 đủ mười hai tuổi, muốn nuôi cô…làm đệ tử, nên đến xin Tăng pháp Yết-ma nuôi chúng. Nay Tăng cho pháp Yết-ma nuôi chúng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni này tên…đủ mười hai tuổi, muốn nuôi cô…làm đệ tử, nên đến xin Tăng pháp Yết-ma nuôi chúng. Nay Tăng cho pháp Yết-ma nuôi chúng, Đại tỷ nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã cho Tỳ-kheo-ni tên… pháp Yết-ma nuôi chúng rồi. Tăng chấp thuận cho nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào,113 đủ mười hai tuổi, tăng không cho pháp Yết-ma nuôi chúng, mà nuôi, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trên đã nói.

ĐIỀU 104. CHO PHỤ NỮ NHỎ TUỔI THỌ CỤ TÚC (THẬP NHỊ TẰNG GIÁ)114
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho người nữ đã có chồng chưa đủ mười hai tuổi115 (tuổi đời), thọ giới Cụ túc, ngu ám không biết gì, không thể học giới.116
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cho người nữ đã có chồng, chưa đủ mười hai tuổi,117 thọ Cụ túc giới, Ba-dật-đề.”
Chưa đủ mười hai tuổi: Là tuy đã có chồng mà chưa đủ mười hai tuổi.118
Có chồng: Là đã trải qua đối với nam tử
Ngoài ra như giới nuôi chúng trên đã nói.

ĐIỀU 105. ĐỘ NGƯỜI NỮ CÓ CHỒNG, ĐỦ 12 TUỔI NHƯNG KHÔNG BẠCH TĂNG119
a. Duyên khởi
Lúc ấy, các Tỳ-kheo-ni cho người nữ đã có chồng tuy đủ mười hai tuổi nhưng câm ngọng, có nhiều thứ bệnh, cho thọ Cụ túc giới, vì ngu si vô trí, nên không thể học giới được.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni bạch tứ Yết-ma, cho người nữ có chồng, đã đủ mười hai tuổi, thọ Cụ túc giới. Người nữ muốn thọ giới Cụ túc kia nên đến trong Tỳ-kheo-ni Tăng, bạch:
“Đại tỷ Tăng xin lắng nghe! Tôi tên là… đã có chồng, đủ mười hai tuổi, cầu Hòa thượng hiệu… thọ giới Cụ túc. Nay đến Tăng xin thọ giới Cụ túc. Lành thay Tăng! Cho con thọ giới Cụ túc. Cúi mong Tăng rủ lòng thương đối với con. Cầu xin như vậy ba lần.
[91b01] Các Tỳ-kheo-ni nên tìm hiểu, nên cho hay không nên cho thọ. Nếu nên cho thì Ni Tăng nên cử một Tỳ-kheo-ni tác Yết-ma, y như giới trên đã nói. (Đức Phật)* bảo các Tỳ-kheo:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cho người nữ đã có chồng, đủ 12 tuổi, thọ Cụ túc giới mà không được Tăng tác pháp Yết-ma cho phép, phạm Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trong giới nuôi chúng đã nói.

ĐIỀU 106. ĐỘ ĐỒNG NỮ CHƯA ĐỦ 18 TUỔI
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho đồng nữ chưa đủ mười tám tuổi thọ học giới, vì ngu ám vô tri, nên không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cho đồng nữ chưa đủ mười tám tuổi thọ học giới, Ba-dật-đề.”
Đồng nữ: Chưa từng trải qua với nam tử. Phát khởi ý muốn, tạo phương tiện, cho đến bạch nhị Yết-ma chưa đầy đủ, Đột-kiết-la; bạch nhị Yết-ma rồi, Hòa thượng, Ba-dật-đề. Các ni sư khác đều Đột-kiết-la.

ĐIỀU 107. ĐỘ ĐỒNG NỮ ĐỦ 18 TUỔI NHƯNG KHÔNG BẠCH TĂNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho người đồng nữ, tuy đủ mười tám tuổi mà điếc ngọng, có nhiều thứ bệnh, thọ học giới,cho đến câu:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni bạch nhị Yết-ma cho người đồng nữ đủ mười tám tuổi thọ hai năm học giới.
Người muốn thọ học giới nên đến trong Tỳ-kheo-ni Tăng, bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Con tên là… Hòa thượng của con hiệu là… Nay đến Tăng xin hai năm học giới. Lành thay, Dại tỷ Tăng! Cho con thọ hai năm học giới, rủ lòng thương đối với con. Xin như vậy ba lần.
Các Tỳ-kheo-ni nên khéo tìm hiểu, nên cho thọ hay không nên cho thọ. Nếu cho, nên sai một Tỳ-kheo-ni, y theo như giới trước Yết-ma.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tuy đồng nữ đủ mười tám tuổi, Tăng không tác Yết-ma mà cho họ thọ học giới, Ba-dật-đề”
Ngoài ra như giới trên đã nói.

ĐIỀU 108. NHẬN Y MÀ KHÔNG ĐỘ NGƯỜI120
a. Duyên khởi
Bấy giờ, vợ của người thí chủ121 đến Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà muốn cầu xuất gia. Thâu-la-nan-đà nói:
“Trước hết bà cho tôi y, tôi mới độ bà.”
Vợ thí chủ chê trách, nói:
“Tôi là người thí chủ, tại sao đòi cho y trước rồi sau mới độ! Không muốn độ thoát sanh, lão, bệnh, tử của tôi mà ngược lại (đòi độ)* cái lợi y áo của tôi!”
Những cô này không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này [91c01] nên nói như sau:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nói với phụ nữ Bạch y: ‘Cho tôi y trước, tôi mới độ bà’, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni nào, nói với Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu người kia mắc nợ, đòi trả nợ rồi sau mới độ thì không phạm.

ĐIỀU 109. CHÊ TĂNG CÓ THIÊN VỊ122
a. Duyên khởi
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà123 nói với các Tỳ-kheo-ni:
“Cho tôi Yết-ma nuôi chúng.”
Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Như lời Phật dạy, nên cho người tác Yết-ma nuôi chúng (có điều kiện)*, nhưng cô thì không được việc này, không được cho cô tác Yết-ma nuôi chúng.
Tỳ-kheo-ni kia bèn nói:
“Các Tỳ-kheo-ni này làm việc theo thương, ghét, si, sợ. Sợ ai thì cho làm, không sợ ai thì không cho làm!”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, các Tỳ-kheo-ni nói: ‘Như lời Phật dạy, nên cho tác Yết-ma nuôi chúng (có điều kiện)* nhưng cô không được việc này,124liền chê trách các Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề.”

ĐIỀU 110. KHI GIÁO GIỚI, YẾT-MA KHÔNG ĐẾN NGHE125
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni khi giáo giới không đến nghe, khi Yết-ma cũng không đến nghe, nên ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, khi giáo giới và Yết-ma không đến nghe,126 Ba-dật-đề.”
Giáo giới: Là nói Tám kính pháp cùng các pháp.
Yết-ma: Tức bạch yết-ma, bạch nhị Yết-ma, bạch tứ Yết-ma.

ĐIỀU 111. SAU HAI NĂM HỌC GIỚI KHÔNG TRAO CỤ TÚC127
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni có học giới ni đủ hai năm mà không cho thọ Cụ túc giới; sau đó, họ mắc trọng bệnh, câm, ngọng, điếc, đui, và nhiều bệnh khác, làm trở ngại vấn đề thọ giới pháp.
Đệ tử Tỳ-kheo-ni Sai-ma học giới đủ hai năm cũng không cho thọ giới Cụ túc. Sai-ma lại nói: ‘Cô nên học thêm giới này.’ Sau đó, cô đệ tử mắc bệnh bạch lại, không biết giải quyết thế nào?
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này được nói như sau:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, Thức-xoa-ma-na, đủ hai năm học giới không có gì trở ngại, mà không cho thọ giới Cụ túc, lại nói: ‘Cô học thêm giới này,’128 Ba-dật-đề”.

ĐIỀU 112. ĐỘ DÂM NỮ129
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ dâm nữ,130 không thọ giáo giới, thí như cổ trâu bị xỏ không thể đóng xe, hoặc khi đã dóng gọng xe vào thì chỉ muốn ra khỏi (gọng xe)*.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão [92a01] bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ dâm nữ,131 Ba-dật-đề.”
Mống tâm cho đến bạch tứ Yết-ma chưa xong, Đột-kiết-la; bạch tứ Yết-ma rồi, Hòa thượng Ba-dật-đề, các ni sư khác Đột-kiết-la.
Người nữ kia nhàm chán thân xấu ác của người nữ mà độ thì không phạm.

ĐIỀU 113. CHO NI CHƯA ĐỦ HAI NĂM HỌC GIỚI THỌ CỤ TÚC132
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho (người)* chưa đủ hai năm học giới thọ Cụ túc giới. Họ ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cho (người)* chưa đủ hai năm học giới, thọ Cụ túc giới,133 Ba-dật-đề”
Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói.

ĐIỀU 114. CHO NI ĐỦ HAI NĂM HỌC GIỚI THỌ CỤ TÚC NHƯNG KHÔNG BẠCH TĂNG134
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho (người)* tuy đã đủ hai năm học giới, nhưng bị câm, ngọng, điếc, đui và những chứng bệnh khác, thọ giới Cụ túc.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trong giới đối với người nữ có chồng đủ 12 tuổi trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, (người tuy)* đã đủ hai năm học giới, nhưng Tăng không tác Yết-ma, cho thọ Cụ túc giới, Ba-dật-đề”
Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói.

ĐIỀU 115. CHO NI ĐỦ HAI NĂM CHƯA HỌC GIỚI MÀ THỌ CỤ TÚC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho người học giới ni đã đủ hai năm, nhưng không học giới, thọ Cụ túc giới; vì ngu ám, vô tri, nên không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cho học giới ni đủ hai năm, không học giới mà cho thọ Cụ túc giới, phạm Ba-dật-đề”
Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói.

ĐIỀU 116. ĐỘ NGƯỜI NỮ CÓ THAI135
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho người nữ mang thai thọ giới Cụ túc, khi vào thôn khất thực, các bạch y thấy chế giễu nói:
“Tỳ-kheo-ni này nặng mang nặng gánh nên cho thức ăn mau.”
Hoặc có người nói: “Nên xem cái bụng của cô ta.”
Hoặc có người nói: “Những cô này không tu phạm hạnh.”
Hoặc có người nói: “Việc này xảy ra khi chưa xuất gia tu phạm hạnh.” Liền chê trách các Tỳ-kheo-ni, nói:
“Sao không đợi sanh rồi, sau đó xuất gia, đây là huỷ nhục phạm hạnh!”
Các Tỳ-kheo-ni không biết nên độ hay không nên độ, là không có hạnh Sa-môn, hay [92b01] phá pháp Sa-môn?
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe bằng mọi cách quở trách, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cho người nữ có thai thọ giới Cụ túc, Ba-dật-đề.”
Mống tâm cho đến bạch tứ Yết-ma xong đều như trên đã nói.
Nếu muốn cho họ thọ Cụ túc giới thì nên khám vú sữa, nếu không có tướng có hài nhi thì không phạm. Nếu thọ giới rồi mới biết mang thai cũng không phạm.

ĐIỀU 117. ĐỘ NGƯỜI NỮ MỚI SINH CON136
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho người đàn bà mới sanh thọ giới Cụ túc, một tay bưng bát, một tay bồng con đi khất thực. Các bạch y thấy thế chế diễu, nói:
“Mau mau cho hai người ăn.”
Các bạch y cơ hiềm chê trách. Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni bằng mọi cách quở trách,cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cho người đàn bà mới sanh thọ giới Cụ túc,137 Ba-dật-đề”
Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói.

ĐIỀU 118. MỖI NĂM CHO ĐỆ TỬ THỌ CỤ TÚC138
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni năm nào cũng cho đệ tử thọ Cụ túc giới. Đệ tử nhiều không thể giáo giới chu đáo, ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni biết, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, năm nào cũng cho đệ tử thọ giới Cụ túc,139 Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni cách một năm mới được cho một đệ tử thọ giới Cụ túc.
Ngoài ra như trong giới nuôi đệ tử đã nói.

ĐIỀU 119. CÁCH ĐÊM CHÁNH PHÁP YẾT-MA140
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni trao giới Cụ túc cho đệ tử ở trong Tỳ-kheo-ni Tăng, mà để cách đêm rồi mới đến trong Tỳ-kheo Tăng nhận giới.141 Người thọ giới mắc phải chướng ngại cách đêm mà thọ giới, Tỳ-kheo Tăng không cho (người bị chướng ngại cách đêm) thọ giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, để cách đêm, cho đệ tử thọ giới Cụ túc, Ba-dật-đề.”
Từ khi mống tâm cho đến khi tướng mặt trời chưa xuất hiện, Đột-kiết-la; tướng mặt trời xuất hiện, Hòa thượng Ba-dật-đề, các ni sư khác Đột-kiết-la.
Nếu Tăng không hòa hợp, không tập hợp được, và tám nạn khởi thì không phạm.

ĐIỀU 120. KHÔNG NƯƠNG THỜ HÒA THƯỢNG TRONG SÁU NĂM142
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni mới thọ giới Cụ túc, không y chỉ vâng thừa Hòa thượng, không có người giáo giới, ngu không biết gì, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni biết, [92c01] bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, mới thọ giới Cụ túc, không y thừa Hòa thượng sáu năm, hoặc sai người y thừa,143 phạm Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu Hòa thượng không cần người y chỉ thừa vâng thì không phạm.
(Xong một trăm hai mươi việc.)

ĐIỀU 121. CHO ĐỆ TỬ THỌ GIỚI CỤ TÚC RỒI KHÔNG CHĂM SÓC144
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho đệ tử thọ giới Cụ túc rồi, không chăm sóc (nhiếp thủ), không giáo giới, không dạy tập tụng, ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni biết, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nuôi đệ tử trong sáu năm, không tự chăm sóc, không dạy người chăm sóc,145 Ba-dật-đề.”
Nếu đệ tử không chịu giáo (giới) thì không phạm.

ĐIỀU 122. CHO ĐỆ TỬ THỌ GIỚI CỤ TÚC RỒI KHÔNG ĐƯA ĐI XA BỔN XỨ
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cho đệ tử thọ giới Cụ túc rồi, mà không đưa họ đến chỗ cách xa chỗ ở cũ (bổn xứ) của họ, để nam tử quen biết trước đây trông thấy sanh tâm đắm nhiễm, mà trêu chọc, cùng nói lời thô ác dâm dục.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão biết, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nuôi đệ tử mà tự mình không đem đi, hay không khiến người khác đem đi cách chỗ ở cũ năm, sáu do-tuần, Ba-dật-đề.”
Bổn xứ: Là chỗ sanh hay chỗ lấy chồng.
Nếu đệ tử không theo thì không phạm.

ĐIỀU 123. KHÔNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH146
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni, người đồng học bị bệnh mà không chăm sóc, hoặc sai (người chăm sóc)* không đúng lúc, đưa đến người bệnh qua đời.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni biết, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, người đồng học bị bệnh, không tự mình chăm sóc, không sai người chăm sóc,147 Ba-dật-đề.”
Đồng học:148 Đồng Hòa thượng, A-xà-lê và thường cùng làm bạn.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu không cùng ở một chỗ thì không phạm.

ĐIỀU 124. ĐỘ NGƯỜI NỮ THUỘC VỀ NGƯỜI
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ phụ nữ thuộc (nhà)* người. Các bạch y cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo-ni này không biết ai đáng độ, ai không đáng độ.”
Các cư sĩ có người nói:
“Nên đoạt lấy y bát, dẫn đến giao cho nhà quan.”
Có người nói:
“Vua Ba-tư-nặc có ra lệnh: Ai khinh suất Tỳ-kheo-ni sẽ bị trọng tội, nên mau mau thả họ đi, đừng để có ngươi nghe biết.”
Mọi người đều nói:
“Các cô này không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Trưởng lão [93a01] Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ người nữ thuộc của người, Ba-dật-đề.”
Thuộc về của người: Là thuộc về quan hay thuộc về người khác.
Khi mống tâm cho đến bạch tứ Yết-ma rồi cũng như giới trên đã nói.
Nếu người chủ cho phép thì không phạm.

ĐIỀU 125. ĐỘ NGƯỜI NỮ CÓ BỆNH TRẦM KHA
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ có bệnh trầm kha, không kham nhẫn học giới, ngu ám vô tri.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni biết, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ người nữ có bệnh trầm kha, Ba-dật-đề.”
Bệnh trầm kha: Là mùa nóng, mùa lạnh đều có bệnh.
Từ khi mống tâm độ cho đến bạch tứ Yết-ma xong… cũng như giới trên đã nói.
Nếu sau khi thọ giới rồi, mắc bệnh ấy thì không phạm.

ĐIỀU 126. ĐỘ NGƯỜI NỮ CÒN LỆ THUỘC CHỒNG149
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ người đàn bà bị ràng buộc bởi chồng.
Bạch y cơ hiềm, hoặc muốn đoạt y, hoặc muốn phóng thích… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới đều như trong giới độ phụ nữ thuộc người khác đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ phụ nữ thuộc quyền chồng,150 Ba-dật-đề.”
Khi mống tâm độ cho đến bạch tứ Yết-ma xong cũng như giới trên đã nói).

ĐIỀU 127. ĐỘ NGƯỜI NỮ CÓ MẮC NỢ151
a. Duyên khởi
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ có mắc nợ…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới đều như trong giới độ phụ nữ thuộc quyền của người đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ người nữ có mắc nợ,152 Ba-dật-đề.”
Khi mống tâm độ, cho đến bạch tứ Yết-ma xong cũng như giới trên đã nói.
Nếu người ấy nói, sau khi xuất gia rồi sẽ trả, thì độ cho họ không phạm.

ĐIỀU 128. ĐỨNG NÓI CHUYỆN VỚI NGƯỜI NAM Ở CHỖ TỐI153
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng nam tử đứng chỗ tối tăm154 chuyện vãn với nhau, sanh tâm nhiễm đắm, không thích với tu phạm hạnh, đưa đến có người hoàn tục làm ngoại đạo.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng nam tử đứng nói chuyện chỗ tối,155 Ba-dật-đề.”
Nếu nói chuyện chỗ tối thì mỗi lời nói, một Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la. Nếu nghi là chỗ có sự sợ sệt, hoặc đèn tắt bất ngờ thì không phạm.

ĐIỀU 129. NGỒI TRÊN GIƯỜNG KHÔNG HỎI CHỦ NHÀ156
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tùy theo gia đình quen biết, (khi đến)* vội ngồi nơi giường của họ. Các bạch y [93b01] cơ hiềm nói:
“Không thích thấy những hạng người xui xẻo*157 này, hạng người không biết chỗ nào nên ngồi, chỗ nào không nên ngồi, không có tác phong?”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào,158 không nói với người chủ mà vội ngồi159 giường của họ, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu người chủ bảo ngồi thì không phạm.

ĐIỀU 130. CHO BẠCH Y VÀ NGOẠI ĐẠO NAM THỨC ĂN
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự tay cho thức ăn Bạch y và nam tử ngoại đạo. Họ nghĩ như vầy: ‘Chắc Tỳ-kheo-ni này có tâm đắm nhiễm nên cho ta thức ăn,’ nên trêu chọc nói lời thô ác dâm dục.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự tay cho bạch y và ngoại đạo nam tử thức ăn, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu không tự tay cho và tự tay cho bà con, đều không phạm.
Xong một trăm ba mươi việc.

84 Ngũ phần: Điều 81-82; Tứ phần, điều 101. Thập tụng: 159. Pāli, Pāc. 21.
85 Tứ phần: “…tắm trong nước sông, nước suối, nước ngòi, nước ao.” Thập tụng: “Tắm khỏa thân tại chỗ trống.” Pāli: không có chi tiết này.
86 Pāli, Pāc. 27. Tứ phần, điều 108. Thập tụng, điều 137. Căn bản: điều 147.
87 Tăng-kỳ, điều 72. Tứ phần, điều 107. Cf. Thập tụng, điều 132. Căn bản: điều 142. Pāli, Pāc. 28.
88 Thullanandā lấy y sa-môn cho vũ công, ca kỹ, những người làm trò. Tứ phần: “Nhóm sáu Tỳ-kheo-ni lấy áo của sa-môn đem cho người thôi tu, và cho người gia nhập ngoại đạo kia.”
89 Tứ phần: y sa-môn.
90 Tăng-kỳ, điều 90. Tứ phần, điều 149. Thập tụng, điều 150. Căn bản ni: Điều 133, 132. Pāli, Pāc. 55.
91 Tứ phần: “Đàn-việt ấy thuần thành, vì ưa cúng dường cô ấy mà!” Pāli: một Tỳ-kheo-ni không muốn các Tỳ-kheo-ni khác đến gia đình cư sĩ nhận cúng dường, bèn nói với các cô: “Nhà đó có chó dữ, có bò hung tợn. Các cô chớ đến.”
92 Tăng-kỳ: “Với tâm bủn xỉn, giữ gia đình người riêng cho mình.” Tứ phần: “Sanh tâm tật đố về gia đình” Thập tụng: Hộ tích tha gia 護惜他家. Pāli: kulamaccharin, “bủn xỉn về gia đình”; giải thích (Vin. iv. 312): Nói xấu một gia đình trước các Tỳ-kheo-ni để các cô này không ai đến đó.
93 Bán Hán, hết quyển 12.
94 Tứ phần, điều 164.
95 Tứ phần, điều 143. Thập tụng, điều 149. Căn bản ni, điều 128 &127. Pāli, Pāc. 56.
96 Tứ phần, điều 95. Xem thêm, Tứ phần, điều 164; Tăng-kỳ, điều 134; Thập tụng, điều 95. Căn bản ni: điều 101. Pāli, Pāc. 39.
97 Tứ phần: Suốt cả xuân-hạ-đông; Căn bản ni: “Hạ an cư chưa tự tứ…”
98 Tứ phần, điều 142. Thập tụng, điều 150. Căn bản ni: điều 129. Pāli, Pāc. 57.
99 Tứ phần: “Hạ an cư xong phải đến trong Tăng Tỳ-kheo nói ba việc tự tứ: thấy, nghe và nghi.” Thập tụng “…giữa hai bộ Tăng, cầu ba sự tự tứ…” Pāli: ubhatosaṅghe tīhi ṭhānehi …pāvareyya, “…tự tứ ba việc trước hai bộ Tăng…”
100 Tăng-kỳ, điều 135; Tứ phần, điều 96; Thập tụng, điều 96. Căn bản ni: điều 102. Pāli, Pāc. 40.
101 Tứ phần, điều 96: “Hạ an cư xong không đi.” Pāli: “Nếu không ra đi du hành năm hay sáu do-tuần…”
102 Tăng-kỳ, điều 119; Tứ phần, điều 98; Thập tụng, điều 97. Cf. Đều 199. Tham chiếu Căn bản ni, điều 104. Pāli, Pāc. 37.
103 Tứ phần: Bấy giờ, nhân dân bên trong quốc giới của vua Ba-tư-nặc nổi lên làm phản (Quốc vương Ba-tư-nặc nước Kiêu [Câu]-tát-la đánh nhau với một tiểu quốc).
104 Tăng-kỳ (tr. 539b4), điều 118; Tứ phần, điều 97; Thập tụng, điều 98. Căn bản ni, điều 103. Pāli, Pāc. 38.
105 Thập tụng 98 (tr. 323b03): A-xà-thế đang đánh nhau với một tiểu quốc ở biên cảnh. Căn bản ni 17 (tr. 1003c05): Vua Vị Sinh Oán (A-xà-thế) chuẩn bị chinh phạt thành Quảng Nghiêm (thành Xá-vệ, nước Câu-tát-la).
106 Tăng-kỳ: Đi đến chỗ hoang vắng mà không theo đoàn buôn (Giới bản: đi đến nước khác mà không theo đoàn buôn đi chung). Tứ phần: Du hành trong nhân gian đến biên giới. Pāli: asatthā cārikaṃ careyya, bản Anh dịch: Du hành mà không vũ khí; nghĩa là không ai bảo vệ. Hoa dịch: du hành mà không theo thương đội. Từ Pāli: sattha có nghĩa là gươm hay vũ khí, cũng có nghĩa là thương đội.
107 Tăng-kỳ, điều 132 (Giới bản, 131). Tứ phần, điều 141. Thập tụng, điều 151. Căn bản ni, điều 126. Pāli, Pāc. 59.
108 Tứ phần: “Mỗi nửa tháng không đến trong tăng cầu giáo thọ”. Tăng-kỳ (điều 132): Nửa tháng Tăng (Tỳ-kheo) giáo giới, mà không cung kính, không đến (dự). Cf. Pāli, Pāc. 59: “Mỗi nửa tháng, Tỳ-kheo-ni phải cầu Tỳ-kheo Tăng hai việc: hỏi ngày bố-tát, và thỉnh giáo giới.”
109 Tăng-kỳ, điều 92. Tứ phần, điều 131. Thập tụng, điều 106. Căn bản: Điều 106. Pāli, Pāc. 74.
110 Tăng-kỳ (tr. 535b9), điều 99. Tứ phần, điều 130. Thập tụng, điều 112. Căn bản ni, điều 107. Cf. Pāli, Pāc. 75.
111 Pāli: “… Tỳ-kheo-ni đã đủ 12 hạ.”
112 Pāli: “… Tỳ-kheo-ni đã đủ 12 hạ này, tên là… ”
113 Các bộ, đại thể tương đồng: đủ 12 tuổi (hạ), nhưng Tăng chưa tác yết-ma súc chúng. Pāli: “…đã đủ 12 hạ nhưng chưa được tăng cho phép.” (saṅghena asammatā).
114 Tăng-kỳ, điều 100, 101, 102. Tứ phần, điều 125. Thập tụng, điều 108. Căn bản ni, điều 108. Pāli, Pāc. 65 & 66.
115 Tứ phần (tr. 759a01): Thiếu niên phụ nữ 少年婦女, được hiểu là phụ nữ đã có chồng nhưng còn nhỏ tuổi; bản Hán dịch sót ý. Nên hiểu: “Thiếu nữ nhỏ tuổi đã có chồng.”Thập tụng (tr. 325c11): Thâu-la-nan-đà độ nữ 12 tuổi nhưng đã có chồng. Căn bản (tr. 1004c1): độ những cô bé họ Thích đã có chồng, sau khi dòng họ Thích bị vua Lưu Ly tàn sát. Pāli, Vin. iv. 321: ni độ nữ đã có chồng nhưng chưa đủ 12 tuổi (ūnadvādasavassaṃ ghigataṃ).
116 Tăng-kỳ: Quá nhỏ, quá yếu đuối, không kham khổ sự. Pāli: (nhỏ quá) không kham nổi lạnh, nóng, đói khát, muỗi mòng các thứ. Tứ phần: Không biết nam tử có tâm nhiễm ô hay không có tâm nhiễm ô, bèn cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng đùa giỡn với nam tử có tâm nhiễm ô.
117 Tứ phần: Độ phụ nữ 10 tuổi đã từng có chồng; Tăng-kỳ: “… thích tha phụ giảm thập nhị vũ 適他婦減十二…” Pāli, Pāc, 66: paripuṇṇadvādasavassaṃ gihigataṃ dve vassāni chasu dhammesu asikkhitasikhaṃ vuṭṭhāpeyya, pācittiyaṃ, nữ đã có chồng, đủ 12 tuổi, chưa đủ 2 năm học giới, mà cho thọ Cụ túc, Ba-dật-đề.
118 Tứ phần: Thiếu niên tằng giá phụ nữ 少年曾嫁婦女. Pāli (Vin. iv. 321): ūnadvādasavassaṃ gihitaṃ, nữ chưa đầy 12 tuổi nhưng đã có chồng (tục tảo hôn).”
119 Tăng-kỳ, điều 103. Tứ phần, điều 126. Thập tụng, điều 109. Pāli, Pāc. 67.
120 Tứ phần, điều 137. Thập tụng, điều 123. Căn bản ni, điều 122. Pāli, Pāc. 77.
121 Tứ phần (tr. 763c01): có Thức-xoa-ma-na.
122 Tăng-kỳ, điều 109. Tứ phần, điều 133. Thập tụng, điều 110. Pāli, Pāc. 76.
123 Tứ phần: Có Tỳ-kheo-ni ngu si. Pāli: Tỳ-kheo-ni Caṇḍakālī.
124 Tứ phần: “Tăng có thiên vị, có giận hờn, có sợ hãi, có bất minh, muốn cho ai thì cho, không muốn cho ai thì không cho,” Pāli: sādhū’ ti paṭissutvā pacchā khīyanadhammaṃ āpajeyya, đã đồng thuận nhưng sau đó lại bất bình.
125 Tăng-kỳ, điều 131 (Giới bản, 130). Tứ phần, điều 140. Thập tụng, điều 152. Pāli, Pāc. 58.
126 Tăng-kỳ: “… Nửa tháng, thanh tịnh bố tát mà không cung kính (không đến dự)…” Tứ phần: Ngày giáo thọ không đến nhận giáo thọ. Pāli: ovādāya vā saṃvāsāya na gaccheyya, không đi dự nghe giáo giới, và sinh hoạt chung (cọng trú). Giải thích: Nghe giáo giới (ovādāya), nghe tám pháp tôn trọng (bát kỉnh pháp).
127 Tứ phần, điều 136. Tăng-kỳ, điều 110. Thập tụng, điều 125. Pāli, Pāc. 78.
128 Tứ phần: “Cô em, bỏ việc này, học việc này, tôi sẽ trao giới Cụ túc cho”. Pāli, Vin. iv. 333: “Nếu cô đi theo tôi hai năm, tôi sẽ cho thọ Cụ túc.”
129 Cf. Pāli, Pāc. 70. Thập tụng, điều 115. Tứ phần, điều 127. Căn bản: điều 160 & 114.
130 Tứ phần (tr. 759c08): Vì đã từng làm dâm nữ, nên sau khi cho thọ giới, sau đó đi hành đạo, những người nam đã từng quan hệ sâu với họ, thấy vậy cùng nhau bàn, nói: “Dâm nữ này trước kia cùng chúng tôi làm những việc như vậy như vậy.” Thập tụng (tr. 328b11): có nhân duyên được phép độ, nhưng phải đưa cô ấy đi chỗ khác từ 5 hay 6 do-tuần trở lên.
131 Tứ phần: Như thị nhân 如是人. Thập tụng: “Nuôi dâm nữ làm đệ tử mà không đưa xa khỏi bản xứ 5, 6 do-tuần.” Pāli, Pāc. 70, nội dung tương tự, nhưng người nữ được nói làsahajīviniṃ, người sống chung, không nói rõ nguồn gốc. Sau đó, cô này bị chồng hay chủ (sāmika) bắt lại. Theo quy định như trong già nạn, nữ có chồng phải được phu chủ cho phép mới được xuất gia (Ni luật, Ba-dật-đề 143). Vậy đây có thể hiểu trường hợp xảy ra tương tự Tứ phần hay Thập tụng: dâm nữ xuất gia, bị khách cũ săn đuổi.
132 Tăng-kỳ, điều 97. Tứ phần, điều 122. Căn bản, điều 116. Pāli, Pāc. 72 (nhập 2 điều: 122 & 123 làm một).
133 Pāli: paripuṇṇavīsativassaṃ kumāribhūtaṃ dve vassāni chasu dhammesu asikhitasikkhaṃ vuṭṭhāpeyya, “cho thọ Cụ túc thiếu nữ đã đủ 20 tuổi nhưng chưa có hai năm học sáu pháp.” Tứ phần: Đồng nữ 18 tuổi mà không cho hai năm học giới, tuổi đủ hai mươi liền cho thọ giới Cụ túc.
134 Tứ phần, điều 124. Tăng-kỳ, điều 99. Pāli, Pāc. 73.
135 Tứ phần, điều 119. Căn bản, điều 111. Pāli, Pāc. 61.
136 Pāli, Pāc. 62. Tứ phần, điều 120.
137 Tứ phần: Biết phụ nữ còn cho con bú.
138 Tăng-kỳ, điều 104. Tứ phần, điều 138. Thập tụng, điều 126. Căn bản ni, điều 124. Pāli, Pāc. 82 & 83.
139 Tứ phần: Chưa đầy 12 tháng, trao giới Cụ túc cho người nữ. Pāli: ekaṃ vassaṃ dve vuṭṭhāpeyya, trong một năm, truyền Cụ túc cho hai người.
140 Tăng-kỳ (tr. 536c24), điều 107. Tứ phần, điều 119. Thập tụng, điều 127.
141 Tứ phần: Ở trong ni chúng trao giới Cụ túc; rồi để cách đêm mới đến trong Tăng Tỳ-kheo để cầu nhận giới Cụ túc.
142 Tăng-kỳ, điều 105. Tứ phần, điều 129. Thập tụng, điều 113. Pāli, Pāc. 69.
143 Tăng-kỳ: “… sau khi thọ Cụ túc, phải đi theo hầu hạ Hoà thượng trong hai năm…” Tứ phần: “Không có hai năm theo Hòa thượng ni.”
144 Tăng-kỳ, điều 104. Tứ phần, điều 128. Thập tụng, điều 114. Căn bản, điều 112 & 113. Pāli, Pāc. 68.
145 Tăng-kỳ: “… cần phải giáo giới trong hai năm…” Tứ phần: “… trong hai năm, không dạy học giới, không chăm sóc bằng hai pháp.” Thập tụng: “…nuôi đệ tử mà không cung cấp tài và pháp…” Căn bản ni, gồm 2 điều, 112: không giáo thọ giới (không dạy các học giới), và 113: không nhiếp thọ vệ hộ (không chăm sóc bảo hộ). Pāli: dve vassāni neva anugaṇheyya na anuggaṇhāpeyya, trong hai năm, không chăm sóc, cũng không nhờ người chăm sóc.
146 Pāli, Pāc. 34. Tứ phần, điều 93; Thập tụng, điều 102. Căn bản ni, điều 99.
147 Tứ phần: Không chăm sóc. Pāli: neva upaṭṭheyya na upaṭṭhāpanāya ussukkaṃ kareyya, không chăm sóc, không nhiệt tình khiến người khác chăm sóc.
148 Tứ phần: Đồng hoạt 同活. Căn bản ni: Thân đệ tử, y chỉ đệ tử 親弟子依止弟子. Pāli: sahajīvitaṃ, sống chung; giải thích: saddhivihārinī, cùng ở chung (một chỗ).
149 Tứ phần, điều 134. Thập tụng, điều 124. Căn bản ni, điều 121. Pāli, Pāc. 80.
150 Tứ phần: Trao giới Cụ túc cho người mà cha mẹ hay phu chủ không đồng ý. Pāli: mātāpitūhi… sikkhamānaṃ vuṭṭhāpeyya, … thọ Cụ túc cho thức-xoa-ma-na mà cha mẹ…
151 Tứ phần, điều 168.
152 Tứ phần: Người có mắc nợ và có bệnh.
153 Pāli, Pāc. 11. Tứ phần, điều 86; Tăng-kỳ, 123.
154 Tứ phần: Ám thất 闇室. Pāli: rattandhakāre appadīpe, trong bóng tối ban đêm không đèn.
155 Pāli, Pāc.11: “Một mình cùng người nam đứng hay nói chuyện trong đêm tối không đèn đuốc.”
156 Pāli, Pāc. 16. Tứ phần, điều 84. Căn bản ni, điều 96.
157 Hán: Bất cát lợi vật 不吉利物.
158 Tham chiếu, Pāli, Pāc. 16, thêm chi tiết: “sau bữa ăn trưa” (pacchābhattaṃ).
159 Pāli: “ngồi hoặc nằm.”

ĐIỀU 131. ĐẾN NHÀ BẠCH Y NÓI LỖI TỲ-KHEO
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đến các Bạch y nói tội lỗi của các Tỳ-kheo: “Tỳ-kheo kia phá giới, phá kiến, phá oai nghi.”
Các Tỳ-kheo nghe nổi giận không giáo giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các ngươi, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Trước đây Ta đâu không vì các cô nói Tám kính pháp hay sao?” Bằng mọi cách quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đến nhà Bạch y nói lỗi của các Tỳ-kheo, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bạch y trước đã nghe mà hỏi, thì nên hỏi lại rằng:
“Ngươi nghe thế nào?”
Nếu nói:
“Tôi nghe như vậy, như vậy. Các Tỳ-kheo-ni nghe cũng như vậy. Sau đó đem sự thật mà trả lời thì không phạm.

ĐIỀU 132. TỰ ĐÁNH VÀO MÌNH KHÓC LA160
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na161 cùng người đấu tranh rồi tự đấm, tự đánh (vào người)* la khóc lớn.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng người đấu tranh162 rồi tự đánh (thân mình)* khóc la,163 [93c01] Ba-dật-đề.”
Nếu tự đấm, tự đánh, mỗi cú đấm, đánh, đều một Ba-dật-đề.164
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 133. THUẬT LỜI NGHE KHÔNG RÕ165
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni từ xa cùng nhau chỉ tay về Chiên-trà Tu-ma-na nói việc đấu tranh bà ta. (Chiên-trà Tu-ma-na)* liền ngỡ mình đã bị mắng, bèn la to, nói:
“Các Tỳ-kheo-ni mắng tôi.”
Các Tỳ-kheo-ni liền đến hỏi:
“Chúng tôi mắng cô như thế nào?”
Cô ta không biết trả lời thế nào!
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni không lắng nghe rõ lời của người khác mà lại vọng nói là mắng mình… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không nghe rõ lời người mà vọng sân người ta, Ba-dật-đề.166
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 134. THỀ THỐT167
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng nhau tranh cãi, mỗi người đều thốt lên lời thề: ‘Nếu tôi như vậy sẽ đọa địa ngục, thọ tội như Điều-đạt, Cù-già-lê. Tôi cũng sẽ như vậy. Nếu tôi không như vậy thì cô sẽ thọ tội như vậy.’
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự thề thốt, sự thật nhằm nguyền rủa người kia,168 Ba-dật-đề.”
Người lập lời thề như vậy, mỗi lời một Ba-dật-đề”.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 135. ĐỔ ĐẠI TIỂU TIỆN RA NGOÀI TƯỜNG169
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đổ nước tiểu, phân ra ngoài tường rào làm dính hôi nhớp người và phi nhơn. Khi ấy, có đại thần Bà-la-môn vừa bị cách chức, lại ra sức chay tịnh, thanh khiết. Sáng sớm hôm ấy, ông ta tắm rửa, mặc y phục xông hương, để đến Thiên miếu cầu phục chức quan. Ông trùm đầu đi đường vì sợ gặp người cạo tóc, (Sa-môn)* mặc y cắt rọc. Khi đến ngoài tường (tu viện)* Tỳ-kheo-ni, gặp ngay lúc các cô đổ phân và nước tiểu (ra ngoài)* trúng trên đầu, chảy tràn cả mình ông ta. Ông ta quá tức giận nói: “Ta sợ gặp người không may mắn này, mà nay lại bị đổ phân và nước tiểu (đầy cả người),* chắc số mạng của ta gặp phải chuyện không may. Dù vậy, ta cũng cần phải đến chỗ vua Ba-tư-nặc thưa để giết bọn nữ tì trọc đầu này.”170
Lúc ấy, ông liền quay lại, gặp một thầy tướng Bà-la-môn.171 Bà-la-môn hỏi: “Tại sao ông như vậy?”
(Vị quan vừa bị cách chức kia)* trả lời đúng sự thật đã xảy ra.
Ông thầy tướng nói:
Đây là điềm rất may mắn, hôm nay ông sẽ được một ngàn kim tiền, lại được phục chức cũ.172 Bởi sân hận không nhịn được, mang cả thân hình bị nhớp phân này đến thẳng chỗ vua.
Vua hỏi: “Vì sao như vậy?”
(Vị quan)* liền đem sự việc trình bày lại đầy đủ. Vua vỗ tay cười lớn và, liền ra lệnh ban cho một ngàn kim tiền, cho [94a01] phục chức quan trước. Các quan tả hữu của nhà vua liền cơ hiềm nói:
“Quăng phân làm nhơ người chứ đâu phải là có ý tế vật cầu đạo!”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, quăng phân nước tiểu ra ngoài tường rào,173 hay khiến người quăng, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 136. QUĂNG RÁC BỤI VÀ THỨC ĂN DƯ RA NGOÀI TƯỜNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni quăng rác rưởi và thức ăn còn dư ra ngoài tường rào, làm dính nhơ người và phi nhơn. Các bạch y thấy cơ hiềm nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni cách vách tường mà quăng rác rưởi làm dính nhơ người. Những người này không biết phép lịch sự.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, quăng rác rưởi và thức ăn dư ra ngoài tường vách hoặc sai người quăng, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 137. ĐẠI TIỂU TIỆN TRÊN CỎ TƯƠI174
a. Duyên khởi
Bấy giờ, trước tinh xá vườn vua, đất rất bằng phẳng, có loại cỏ rất mềm mại,175 mọi người thường đến vui chơi nơi đó, làm loạn động sự toạ thiền, hành đạo của các Tỳ-kheo-ni. Các Tỳ-kheo-ni chán ngán lo ngại, bèn rủ nhau đại tiểu tiện trong đó, làm nhơ không còn sạch, để đuổi mọi người.
Sau đó, như thường lệ mọi người đến vui chơi, tay, chân y phục mọi vật của họ đều bị nhớp. Họ nổi giận nói:
“Ở nơi đây, ai đã đại tiểu tiện tung vãi khắp nơi thế này?!”
Có người nói:
“Là Tỳ-kheo-ni.”
Mọi người đều cơ hiềm, nói:
“Những người này xuất gia cầu đạo thanh tịnh, tại sao lại làm nhơ nhớp chỗ sạch sẽ, cắt đứt sự vui của mọi người như thế?!”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đại tiểu tiện trên176 cỏ tươi, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bị cấp bệnh thì không phạm.

ĐIỀU 138. QUĂNG RÁC, BỤI, THỨC ĂN DƯ TRÊN CỎ TƯƠI
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni lại quăng rác rưởi, thức ăn dư nơi vùng đất trước tinh xá vườn của vua, để đuổi khéo mọi người. Các Bạch y cơ hiềm.
Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, quăng rác rưởi, thức ăn dư trên cỏ tươi, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu quăng trong hầm, không phải chỗ sạch thì không phạm.

ĐIỀU 139. NGỦ NƠI NHÀ “CÓ THỨC ĂN”
a. Duyên khởi
[94b01] Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ngủ nơi nhà “có thức ăn”, nên khi nghe tiếng vợ chồng họ giao hội, sanh tâm ái dục không thích sống đạo, có người hoàn tục làm ngoại đạo.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ngủ nơi nhà ‘có thức ăn’, Ba-dật-đề.”
Có thức ăn: Nơi nam nữ có tình tứ giao hội.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu có bệnh cần ở lại hay các nạn khởi thì không phạm.

ĐIỀU 140. TỲ-KHEO NHƯ PHÁP HỎI KHÔNG TRẢ LỜI
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Nhà ông bà… ở đâu? Đường này đi về đâu?”
Các Tỳ-kheo-ni khinh mạng không trả lời.
Các Tỳ-kheo giận, hiềm trách không giáo giới nữa, nên ngu ám, vô tri, không thể học giới.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo-ni nào, Tỳ-kheo hỏi mà không trả lời, Ba-dật-đề.”
Khi ấy Lục quần Tỳ-kheo dùng lời thô ác hỏi Tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo-ni tuy trả lời mà ôm lòng xấu hổ, nên đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni nếu Tỳ-kheo như pháp hỏi thì nên trả lời. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nếu Tỳ-kheo như pháp hỏi mà không trả lời, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la…
Nếu trước đó có sự cơ hiềm với nhau, không cùng nói chuyện, không trả lời thì không phạm.
Xong một trăm bốn mươi việc.

ĐIỀU 141. NGỒI XE ĐI177
a. Duyên khởi
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni ngồi xe đi đến nhà Bạch y. Các Bạch y cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo-ni này như phu nhơn của vua, như phụ nữ của nhà hào quí ngồi xe đi lại, không có nghi pháp.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ngồi xe đi lại,178 Ba-dật-đề.”
Xe: Đi các loại xe voi, ngựa, cho đến mang guốc (giày, dép)* đều gọi là xe.179
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu già, bệnh hay bị cường lực ép buộc, hay trên đường đi…. cho đến ngón chân bị đau, đều không phạm.180

ĐIỀU 142. MANG DÉP DA, CẦM DÙ181
a. Duyên khởi
[94c07] Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni mang dép da,182 cầm dù đến các nhà Bạch y. Các bạch y cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo-ni này đi lại như dâm nữ.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu :
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, mang dép da, cầm dù đi, Ba-dật-đề.”
Dù: Kể cả dù bằng cỏ.
Dép da: Cho đến chỉ một lớp.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Không phạm như trên.

ĐIỀU 143. ĐEM NƯỚC MỜI TỲ-KHEO VÀ QUẠT HẦU TỲ-KHEO183
a. Duyên khởi
Bấy giờ, có hai vợ chồng xuất gia cùng một lúc. Vị Tỳ-kheo chồng kia khất thực rồi đem đến trú xứ vị Tỳ-kheo-ni vợ để ăn. Vị Tỳ-kheo-ni vợ cầm bình nước đứng trước, rót nước mời và quạt hầu, vấn an sức khỏe. Vị Tỳ-kheo chồng kia cúi đầu ăn, không ngó, không nói chuyện. Vị Tỳ-kheo này khi còn là bạch y có tư thông với một người nữ, cũng đã xuất gia tại trú xứ này. Cô ta đến gặp ông, Tỳ-kheo liền cười. Tỳ-kheo-ni vợ kia tâm ghen liền phát khởi, liền dùng bình đựng nước đánh bể đầu Tỳ-kheo chồng.
Các Tỳ-kheo-ni quở trách:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni lại cầm bình nước và quạt đứng trước Tỳ-kheo mời nước và quạt hầu rồi đánh bể đầu Tỳ-kheo?!”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cầm bình nước và quạt đứng trước184 Tỳ-kheo hoặc mời nước hay quạt hầu, Ba-dật-đề”.
Nếu muốn mời nước thì mời xong nên (đứng)* cách xa chứ không nên đứng ở trước.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 144. ĐỌC KINH TRỊ BỆNH
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đọc tụng kinh về phương pháp trị bệnh. Các Bạch y cơ hiềm nói:
“Những người này chỉ học y thuật, không có ý cầu đạo, sao không dùng thì giờ ấy đọc kinh Phật?”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni [95a01] kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đọc tụng kinh về cách trị bệnh, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu vì mình bệnh, hay vì lòng từ mẫn, hoặc vì cường lực bắt đọc thì không phạm.

ĐIỀU 145. DẠY NGƯỜI KHÁC ĐỌC KINH TRỊ BỆNH
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dạy người khác đọc tụng kinh về cách trị bệnh. Các bạch y chê trách.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dạy người khác đọc tụng kinh về cách trị bệnh, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trên đã nói.

ĐIỀU 146. TRỊ BỆNH LÀM KẾ SINH NHAI
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni vì người trị bệnh, hòa hợp nấu, giã các loại thuốc để trị bệnh cho người, suốt đêm chưa từng nghỉ ngơi. Các Bạch y thấy chê trách nói:
“Những người này như thầy thuốc hay học trò của thầy thuốc, tại sao không cầu đạo để chữa bệnh sanh, tử, mà lại kinh doanh những việc của thế tục làm gì?”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này được nói như sau:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vì người trị bệnh để làm kế sinh nhai, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu vì lòng thương hay bị cường lực bắt buộc, không vì lợi dưỡng thì không phạm.

ĐIỀU 147. VÌ KẾ SINH NHAI DẠY NGƯỜI TRỊ BỆNH
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dạy người trị bệnh. Các bạch y đến yêu cầu vì tôi nói pháp thì lại nói:
“Bệnh nóng trị như thế này, bệnh lạnh trị như thế này, bệnh phong trị như thế này, các phương pháp trị bệnh là như vậy.”
Các Bạch y nói:
“Tôi vì pháp đến đây chứ không vì chữa bệnh.”
Lại cơ hiềm nói:
“Những người này chỉ học y thuật, không biết chi đạo pháp, nếu không như vậy tại sao không dùng pháp dạy tôi?!”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu: Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vì kế sinh nhai dạy người trị bệnh, Ba-dật-đề”
Ngoài ra như giới trước đã nói.

ĐIỀU 148. VÌ SỰ ĂN UỐNG LÀM VIỆC CHO NHÀ BẠCH Y185
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni vì các gia đình quen biết làm việc. Các Cư-sĩ cơ hiềm nói:
“Những người này bỏ làm (việc)* nhà mình đi làm (việc)* nhà người, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
[95b01] Tỳ-kheo-ni nào, vì ăn uống nên làm (việc)* cho nhà bạch y,186 Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu vì lòng thương hay bị cường lực áp bức thì không phạm.

ĐIỀU 149. CÙNG PHỤ NỮ BẠCH Y VÀ NGOẠI ĐẠO ĐẮP CHUNG Y
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng nằm với phụ nữ Bạch y và ngoại đạo đắp chung y (chăn), thân thể xúc chạm nhau, sanh tâm ái dục, không thích phạm hạnh, đưa đến hoàn tục làm ngoại đạo. Sau đó, các phụ nữ tuỳ theo chỗ quen biết nói:
“Tỳ-kheo-ni… có thân hình đẹp như vậy, như vậy.”
Thời gian sau, các Bạch y gặp Tỳ-kheo-ni liền chỉ chõ trêu cợt nói:
“Chính Tỳ-kheo-ni này, chính Tỳ-kheo-ni kia, cô có thân hình đẹp!” Các Tỳ-kheo-ni vì việc này hổ thẹn.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng nằm với phụ nữ bạch y và ngoại đạo, đắp chung y, Ba-dật-đề.”
Nếu nằm cùng một giường, thì phải mặc nội y để cho cách nhau.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 150. NẰM VỚI TỲ-KHEO-NI, THỨC-XOA-MA-NA, SA-DI-NI ĐẮP CHUNG Y
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni nằm cùng với (Tỳ-kheo-ni),* Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni cùng đắp chung y… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, cùng nằm với Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni cùng đắp chung y, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trước đã nói.
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni cùng ngủ với phụ nữ Bạch y và ngoại đạo trùm (chăn)* lại với nhau, cùng thấy hình thể nhau, sanh tâm ái dục… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni nào, cùng ngủ với phụ nữ bạch y và ngoại đạo trùm (chăn)* lại với nhau, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trên đã nói.
Nếu trước đã có phủ rồi sau phủ lại thì không phạm.
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni cùng ngủ với Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni cùng phủ (chăn)* lại với nhau nên cùng thấy hình thể nhau… cho đến câu: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng ngủ với Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni phủ (chăn)* lại với nhau, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trên đã nói. (Xong 150 việc).

ĐIỀU 151. DÙNG HƯƠNG THOA VÀO THÂN187
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dùng hương thoa vào thân, cũng khiến người thoa vào thân, nên sanh tâm ái dục, không thích tu phạm hạnh, đến nỗi hoàn tục làm ngoại đạo.
Các bạch y [95c01] nghe mùi hương đó cơ hiềm nói:
“Những người này dùng hương thoa vào thân, giống như dâm nữ, không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dùng hương188 thoa vào thân, Ba-dật-đề.”
Hương: Hương của gốc cây, hương của nhánh cây, hương của hoa, hương của loài trùng, hương của nhựa cây.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu vì trị bệnh hay bị cường lực bắt buộc thoa thì không phạm.

ĐIỀU 152. DÙNG CÂY KHÔ NGÂM NƯỚC CỌ XÁT THÂN189
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dùng cây khô ngâm nước190 cọ xát vào thân khiến cho sáng mịn. Các bạch y cơ hiềm nói:
“Những người này dùng cây khô ngâm nước cọ xát vào thân khiến cho sáng mịn như dâm nữ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, dùng cây khô ngâm nước cọ xát vào thân, phạm Ba-dật-đề.

ĐIỀU 153. KHÔNG BỆNH DÙNG CÂY NGÂM NƯỚC CỌ XÁC VÀO THÂN
a. Duyên khởi
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Bạt-đà Ca-tỳ-la thân thể bị khô, da bị nứt, hỏi thầy thuốc, họ nói:
“Dùng cây khô ngâm nước cọ xát vào thân.”
Cô ni nói:
“Phật không cho phép tôi dùng cây khô ngâm nước cọ xát vào thân, xin cho lại cách trị liệu khác.”
Thầy thuốc nói: “Không có cách nào khác nữa.”
Tỳ-kheo-ni, lại nghĩ như vầy:
“Nếu đức Thế-Tôn cho phép khi bệnh được dùng cây khô ngâm nước cọ xát vào thân thì mới thoát khỏi bệnh khổ này.”
Rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta cho phép Tỳ-kheo-ni khi bệnh được dùng cây khô ngâm nước cọ xát vào thân. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không bệnh mà dùng cây khô ngâm nước cọ xát vào thân,191 Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 154. CẤT GIỮ HOẶC ĐEO TRÀNG HOA
a. Duyên khởi
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni cất giữ, hoặc đeo tràng hoa, sanh tâm nhiễm trước, không thích tu phạm hạnh, đưa đến việc hoàn tục làm ngoại đạo.
Các Tỳ-kheo-ni trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cất giữ hoặc đeo tràng hoa, Ba-dật-đề.”
Cho đến dùng cỏ, lá xâu lại đội trên đầu làm đẹp cũng đều gọi là đeo tràng hoa.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bị cường lực bắt buộc thì không phạm.

ĐIỀU 155. ĐEO ANH LẠC QUÍ BÁU
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đeo anh lạc báu, rồi sanh tâm ái nhiễm, không thích tu phạm hạnh, [96a01] đến nỗi hoàn tục, làm ngoại đạo.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đeo anh lạc báu, Ba-dật-đề.”
Cho đến dùng cây làm anh lạc cũng như vậy.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Không phạm cũng như giới trên.

ĐIỀU 156. MẶC ÁO BÓ SÁT THÂN
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni mặc áo bó sát thân, khiến cho thân hình như gói lại, rồi sanh tâm ái dục… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, mặc áo bó sát thân, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Không phạm như giới trước.

ĐIỀU 157. CHỨA ĐỒ TRANG SỨC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cất chứa các thứ trang điểm thân hình nên sanh tâm ái dục… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cất chứa các thứ trang điểm thân hình, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 158. CẤT CHỨA ĐẦU TÓC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cất chứa tóc (đầu)* …cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cất chứa tóc (đầu)*, Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni để tóc dài, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni chứa tóc (đầu)* và để tóc dài không cạo, Đột-kiết-la.
Nửa tháng cạo một lần, quá thời gian ấy gọi là tóc dài. Nếu không có người cạo hay bị cường lực bắt buộc không cho cạo thì không phạm.

ĐIỀU 159. ĐEO TRANG SỨC CỦA BẠCH Y192
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đeo các đồ trang sức của người nữ Bạch y, rồi sanh tâm ái dục. Khi ấy, người thí chủ của Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà mới cưới vợ. Người vợ đưa đồ trang sức của mình cho (cô ni)* đeo. (Cô ni)* mang rồi trùm đầu nằm ngủ trên giường. Người chồng từ ngoài trở về, muốn gần vợ mình, giở đầu ra mới biết, bèn trách:
“Nếu tôi không giở đầu ra thì tôi đã hành dục, như vậy đâu không mắc phải đại tội?! Tại sao Tỳ-kheo-ni lại làm việc này? Không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đeo193 đồ trang sức194 (vào thân)*, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Trường hợp không phạm như giới trước.

ĐIỀU 160. LÀM ĐỒ TRANG SỨC195
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni vì người làm đồ trang sức thân. Các Bạch y cơ hiềm nói:
[96b01] “Những người này như dâm nữ làm đồ trang sức thân.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vì người làm đồ trang sức thân, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 161. TỰ KÉO TƠ196
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni kéo tơ, các bạch y cơ hiềm nói:
“Những người này, y thực đã nhờ người khác, không nghĩ đến việc hành đạo để trả ơn tín thí, lại kéo tơ làm gì?! Không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, kéo tơ, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu làm sợi dây ngồi thiền hay cái đãy đựng y thì không phạm.
Xong một trăm sáu mươi việc.

ĐIỀU 162. TỰ TIỆN TRẢI NGỌA CỤ KHÔNG HỎI CHỦ197
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tuỳ theo sự quen biết, ở nhà bạch y trải tọa cụ. Các bạch y cơ hiềm, nói:
“Tại sao bỏ nhà mình đến ở nhà người ta?198 Chúng tôi không thích thấy hạng người xui xẻo này*.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không hỏi bạch y mà tự trải199 ngọa cụ trong nhà người ta nằm, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu nằm nơi nhà bà con thì không phạm.

ĐIỀU 163. TỰ TIỆN HOẶC SAI NGƯỜI TRẢI TỌA, NGỌA CỤ CỦA CHỦ KHI ĐI KHÔNG DỌN DẸP
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ở nhà bạch y tự trải tọa, ngọa cụ của người chủ hoặc sai người trải để nằm ngồi, khi đi không tự đem cất, không bảo người đem cất. Các Bạch y cơ hiềm, nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni trải toạ ngoạ cụ của người ta, khi ra đi lại không cất, chúng ta thường vì những người này làm tôi tớ chắc!”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đến nhà Bạch y tự trải toạ, ngoạ cụ của người, hoặc sai người trải, khi ra đi không tự cất, không bảo người cất, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu có nhờ người dọn thì không phạm.

ĐIỀU 164. TỰ NẤU VẬT SỐNG LÀM THỨC ĂN
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự nấu vật sống làm thức ăn. Các Bạch y cơ hiềm nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni tự nấu sanh vật sống? Đã tự nấu làm thức ăn, [96c01] sao lại còn đến người để xin? Không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự nấu vật sống làm thức ăn, Ba-dật-đề.”
Nếu vì bệnh thì không phạm.

ĐIỀU 165. TRƯỚC CHO Ở, SAU LẠI HỦY BÁNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-ma đến thành Xá-vệ, Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na cho mượn tinh xá để ở. Sai-ma chứng đắc tam-muội từ tâm, có oai đức lớn, thành tựu quyến thuộc, các đệ tử Chiên-Trà đều tôn trọng, cùng muốn đi theo Sai-ma.
Chiên-Trà biết điều đó bèn giận mắng:
“Tôi cho cô mượn tinh xá để ở, tại sao lại dẫn dụ đệ tử của tôi phản lại?”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách: Tại sao cho người ta mượn tinh xá rồi sau lại giận hờn huỷ báng… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, trước cho người ở rồi sau lại giận hờn huỷ báng, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu sự thật đúng như vậy mà sân hận thì không phạm.

ĐIỀU 166. NHỜ NGƯỜI NAM TRỊ BỆNH (MỔ NẶN NHỌT)200
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Bạt-đà-già Tỳ-la201 trong bắp vế sinh mụt nhọt, không bạch với Tăng mà vội khiến nam y sĩ mổ ra nặn mủ rửa rồi đặt thuốc vào.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thấy, quở trách:
“Cô đã ly dục nên có thể như vậy, nếu người chưa ly dục không tránh khỏi phạm đại sự… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không bạch Tăng202 mà vội nhờ nam tử trị bệnh,203 Ba-dật-đề’.
Nếu muốn nhờ nam tử trị bệnh thì phải đánh kiền chùy tập Tăng đến chỗ người bệnh. Sau đó dùng y trùm hết thân thể, chỉ chừa chỗ cần trị.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu nhờ người nữ trị thì không phạm.

ĐIỀU 167. BAN ĐÊM MỞ CỬA RA NGOÀI KHÔNG DẶN NGƯỜI KHÁC ĐÓNG CỬA204
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ban đêm tự mở toan cửa ra ngoài không dặn người sau đóng. Đêm đó có kẻ trộm đến đoạt hết y bát các Tỳ-kheo-ni.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ban đêm tự mở toan cửa ra ngoài không dặn Tỳ-kheo-ni khác đóng lại, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nơi không có sự sợ sệt thì không phạm.

ĐIỀU 168. ĐẾN NHÀ BẠCH Y PHI THỜI205
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đến nhà Bạch y phi thời. Có một gia đình rất giàu, [97a01] bọn trộm thường muốn cướp đoạt mà chưa có cơ hội. (Chúng)* thừa cơ hỏi người đi đường, ai là người thường tới lui nhà này. Có người nói:
“Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà cùng nhà này thân thiện thường tới lui.”
Bọn cướp bèn tới nói với Thâu-la-nan-đà:
“Thưa cô, gia đình… mời cô.”
Liền theo lời, chiều (Thâu-la-nan-đà)* đến. Người chủ vì cô mở cửa, bọn cướp liền đột nhập, cướp hết tài sản.
Người chủ giận trách nói:
“Nếu Tỳ-kheo-ni này không đến phi thời thì, ta không mở cửa và không gặp nạn này! Cúng dường là mong cầu phước mà trái lại đưa đến hoạ, giống như nuôi oan gia đâu có khác gì?”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vào nhà bạch y phi thời, Ba-dật-đề.

ĐIỀU 169. KHÔNG MỜI, PHI THỜI ĐẾN NHÀ BẠCH Y
a. Duyên khởi
Lại có các Tỳ-kheo-ni được Bạch y mời mà không dám đến, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép Tỳ-kheo-ni, nếu bạch y mời thì được đến. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, Bạch y không mời, vào nhà họ phi thời,206 Ba-dật-đề.”
Phi thời: Từ sau giữa ngày cho đến tướng mặt trời chưa xuất hiện.
Nếu bạch y mời, nên xét kỹ, người đưa tin kia có phải là người đáng tin cậy không? Lại nên xét hỏi để biết việc hư thật. Nếu còn có sự nghi thì khi đến cửa phải hỏi trước, gia đình đó thật sự có mời hay không, sau đó mới vào. Lại cần phải tính toán, chẳng phải là lúc đáng sợ chăng?
Nếu đến nhà bạch y phi thời thì bước ra cửa một chân Đột-kiết-la, bước ra cửa hai chân Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 170. NGƯỜI CHỦ CHƯA CÓ LỜI MỜI MÀ ĂN
a. Duyên khởi
Bấy giờ, có các cư sĩ mời Tỳ-kheo-ni Tăng thọ trai. Trước bữa ăn Tỳ-kheo-ni mặc y bưng bát đến nhà kia. (Chư ni)* đến người làm thức ăn, đòi thức uống, hoặc đòi bắt nồi nấu, hoặc đòi cơm. Người làm thức ăn nghĩ như vầy: “Tại chỗ nào, nay sửa soạn thức ăn này chính là vì những người này, cho trước cho sau cũng trở lại (họ thôi)*?!” Liền cho đồ ăn thức uống hết. Đến giờ, người chủ đánh kiền chuỳ hợp Tăng và ra lệnh sai dọn thức ăn ra. Người làm thức ăn đem sự việc trình bày đầy đủ. Cư sĩ bèn cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo-ni này giống như con nít, không thể chờ một chút, ham ăn như vậy làm gì có đạo?!”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nhận lời mời, người chủ chưa xướng “tuỳ ý thực” [97b01] mà ăn, Ba-dật-đề.”
Nếu chưa xướng “tuỳ ý thực” mà ăn, mỗi miếng ăn là một Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Xong một trăm bảy mươi việc.

ĐIỀU 171. BỊ TÁC PHÁP YẾT-MA ĐUỔI ĐI MÀ KHÔNG ĐI207
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni như pháp tác Yết-ma khu xuất (đuổi đi) rồi, Tỳ-kheo-ni bị khu xuất không chịu đi.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni bằng mọi cách quở trách nói: (Như vậy)* người bị Yết-ma khu xuất với người không bị Yết-ma khu xuất có gì khác đâu!… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, bị Yết-ma khu xuất208 mà không đi, Ba-dật-đề.”
Yết-ma khu xuất: Là bạch tứ Yết-ma.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bị bệnh hoặc tám nạn khởi hay Yết-ma phi pháp, đều không phạm.

ĐIỀU 172. TĂNG NHƯ PHÁP TẬP HỢP MÀ KHÔNG ĐẾN LIỀN
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tập Tăng như pháp, có các Tỳ-kheo-ni không đến liền, các Tỳ-kheo-ni phải đợi nên trở ngại việc hành đạo.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, Tăng như pháp tập hợp mà không đến liền, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bệnh, hoặc không nghe hay tám nạn khởi thì không phạm.

ĐIỀU 173. ĐI XEM CA MÚA KỸ NHẠC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đến xem ca vũ kỹ nhạc, sanh tâm nhiễm trước, không thích sống với đạo, có vị hoàn tục làm ngoại đạo. Các Bạch y thấy cơ hiềm nói:
“Những người này xem múa hát kỹ nhạc như dâm nữ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, xem ca múa kỹ nhạc, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Không phạm như trong giới xem cung vua và xem triển lãm đã nói trên.

ĐIỀU 174. ĐẾN CHỖ BIÊN ĐỊA
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni đi đến biên địa, bị người biên địa bắt lấy làm nô tỳ, hoặc đoạt y bát, hoặc phá phạm hạnh.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đến chỗ biên địa, Ba-dật-đề.”
Biên địa: Là chỗ không có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu đi bằng cách bay thì không phạm.

ĐIỀU 175. ĐỘ NGƯỜI HAI CĂN209
a. Duyên khởi
[97c01] Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ người hai căn, các Bạch y cơ hiềm nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni lại độ người hai căn,210 độ người không đáng độ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ người hai căn, Ba-dật-đề.”
Nếu nghi thì nên khám trước. Khi mống tâm muốn độ cho đến Yết-ma ba lần chưa xong, Đột-kiết-la; Yết-ma xong, Hòa thượng phạm Ba-dật-đề, các ni sư Tăng khác phạm Đột-kiết-la.

ĐIỀU 176. ĐỘ NGƯỜI NỮ HAI ĐƯỜNG HIỆP MỘT211
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ hai đường hiệp một.
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ người nữ hai đường hiệp một, Ba-dật-đề.”
Nếu độ rồi mới có bệnh này thì không phạm.
Ngoài ra như giới trên.

ĐIỀU 177. ĐỘ NGƯỜI NỮ THƯỜNG CÓ “NGUYỆT THỦY”
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni độ người nữ thường có nguyệt thuỷ*, đi khất thực máu chảy nhớp chân. Các Bạch y thấy khinh ghét, cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo-ni, không biết người nào đáng độ và người nào không đáng độ! Độ hạng người như vậy làm nhớp cả chiếu giường người ta, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, độ người nữ thường bị nguyệt thuỷ, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trên đã nói.

160 Tứ phần, điều 89. Căn bản ni, điều 90. Pāli, Pāc. 20, Vin. iv. 77.
161 Tứ phần: Tỳ-kheo-ni Ca-la.
162 Hán: Đấu tránh 鬥諍. Pāli: bhaṇḍitvā, tranh luận.
163 Tứ phần: Đấm ngực la khóc; Căn bản ni: “…vì giận hờn mà tự đấm ngực…” Pāli: vadhitā vadhitā rodheyya, tự đấm mình liên hồi, rồi khóc.
164 Tứ phần: mỗi lần đấm ngực là phạm một Ba-dật-đề; rơi một giọt nước mắt, phạm một Ba-dật-đề. Pāli: phải đủ cả hai yếu tố, tự đấm và khóc. Tự đấm mà không khóc, hay chỉ khóc mà không tự đấm, phạm đột-kiết-la.
165 Tứ phần, điều 87. Căn bản ni, Ba-dật-đề 92. Pāli, Pāc. 18.
166 Căn bản ni: “…không xét kỹ mà lại cật vấn…” Pāli: duggahitena dūpadhāritena paraṃ ujjhāpeyya, do không hiểu rõ, do hiểu nhầm, khiến người khác bị hiềm trách.
167 Pāli, Pāc. 19. Tứ phần, điều 88. Căn bản ni: điều 91.
168 Tứ phần: “Sẽ đọa vào ba đường dữ, không sanh trong Phật pháp”. Căn bản ni: “…đem phạm hạnh ra mà thề thốt…” Pāli: nirayena brahmacariyena vā abhisapeyya, nguyền rủa bằng địa ngục hay phạm hạnh.
169 Tăng-kỳ, Thập tụng, Tứ phần, điều 78, 136. Căn bản, điều 80. Pāli, Pāc. 8.
170 Tứ phần: Vị đại thần ấy nói: “Tôi sẽ đến quan đoán sự thưa kiện việc này!” Pāli: ông châm lửa, đòi đốt chùa.
171 Pāli: một Ưu-bà-tắc tình cờ đi đến.
172 Tứ phần: “Thôi, đừng nên đến kiện thưa làm gì. Lắm khi không được kiện mà lại mắc tội nữa.” Pāli: Ưu-bà-tắc này nói: “Điềm tốt đấy!”
173 Tứ phần, điều 78: ban đêm đại tiểu tiện trong bô, sáng ngày đem đổ bên ngoài tường mà không xem trước. Pāli: đổ phân, nước tiểu, rác, cơm dư bên ngoài tường.
174 Tăng-kỳ, điều 139. Tứ phần, điều 77. Thập tụng, điều 174. Căn bản ni: điều 79. Pāli, Pāc. 9.
175 Tứ phần: cỏ Kết lũ (Kết lũ thảo 結縷草?). TNM: cỏ già lâu (già lâu thảo 茄蔞草), cỏ lau (?) Thiều Chửu). Pāli: harita, rau cỏ, các thứ xanh tươi; được giải thích là trồng để làm thức ăn cho con người.
176 Căn bản ni: Đại tiểu tiện và khạc nhổ. Pāli: Đổ nước tiểu, phân, rác rưởi, thức ăn thừa, trên cỏ xanh.
177 Tăng-kỳ, điều 110-111. Tứ phần, điều 159. Thâp tụng: Điều 145. Pāli, Pāc. 85.
178 Tứ phần: Không bệnh, ngồi xe cộ mà đi.
179 Tứ phần: Có bốn loại, cộ bằng voi, cộ bằng ngựa, cộ bằng xe, cộ do người đi bộ. Pāli: yāna, định nghĩa: vayhā, kiệu đi núi, ratha, xe do con vật kéo, sakaṭa, xe tải,sandamānikā, chiến xa, sivikā, cáng, pāṭaṅkī, kiệu.
180 Bản Hán, hết quyển 13.
181 Tăng-kỳ, điều 111 (Giới bản 112)-112. Tứ phần, điều 158. Thập tụng, điều 148. Căn bản ni, điều 157 & 158. Pāli, Pāc. 84.
182 Tứ phần, Ngũ phần, Tăng-kỳ, giống nhau: cách tỉ 革屣. Căn bản ni (điều 158): Thể sắc hài lý 彩色鞋履, giày dép màu sắc. Pāli: upāhana, giày dép (chung các thứ).
183 Tăng-kỳ, điều 79. Tứ phần, điều 75. Thập tụng, điều 77. Pāli, Pāc. 6.
184 Tứ phần: “…cung cấp nước, cầm quạt quạt.” Tăng-kỳ: “… cung cấp nước và quạt…”
185 Pāli, Pāc. 44. Căn bản, điều 153. Cf. Tứ phần, điều 113. Tăng-kỳ, điều 84. Thập tụng, điều 142.
186 Pāli: gihiveyyāvaccaṃ kareyya, chấp tác công việc gia đình, phục dịch người tại gia. Tứ phần, điều 113: Làm người sai khiến cho bạch y.
187 Tứ phần, điều 150. Thập tụng, điều 164. Căn bản, điều 166 & 167. Pāli, Pāc. 88.
188 Tứ phần: Dùng bột hương; Pāli: gandhavaṇṇeka nahāyeyya, “tắm bằng hương liệu và phẩm màu.”
189 Tứ phần, điều 151. Thập tụng, điều 164; cf. điều 150 trên. Căn bản ni: Điều 168. Pāli, Pāc. 89.
190 Tứ phần: Dùng cặn vừng (mè) (Hồ ma chỉ 胡麻滓). Pāli: piññāka, nước cặn vừng, bột vừng, tức vừng được nghiền nát thành bột.
191 Tứ phần: “Dùng cặn vừng (mè) thoa chà vào thân”. Pāli: vāsitena piññākena nahāyeyya, tắm bằng nước ướp vừng.
192 Tứ phần, điều 157. Thập tụng, điều 160. Căn bản ni, điều 170. Pāli, Pāc. 87.
193 Tứ phần: Chứa, cất. Pāli, Pāc. 87: itthālaṅkāraṃ dhāreyya, mang (đeo) đồ trang sức phụ nữ.
194 Tứ phần: “chứa những đồ trang sức của phụ nữ”.
195 Tứ phần, điều 157. Thập tụng, điều 160. Căn bản ni, điều 170. Pāli, Pāc. 87.
196 Tứ phần, điều 114. Thập tụng, điều 146. Căn bản ni: Điều 156 (& 155). Pāli, Pāc. 43.
197 Pāli, Pāc. 17. Tứ phần, điều 85. Thập tụng, điều 105. Căn bản: điều 97.
198 Tứ phần: Có số đông Tỳ-kheo-ni trên đường đi đến nước Câu-tát-la, tới một thôn không có trú xứ (không có chùa hay tinh xá). Bản Hán (Tứ phần) có thể nhảy sót. Nên thêm: “Vào một nhà nọ.” Tham chiếu Pāli: “Đến xin nghỉ đêm tại nhà một người Bà-la-môn.”
199 Pāli: trải hay khiến người trải.
200 Tăng-kỳ, điều 132 (Giới bản 133). Tứ phần, điều 147. Thập tụng, điều 162. Căn bản ni: Điều 159. Pāli, Pāc. 60.
201 Bạt-đà-già Tỳ-la 跋陀伽毘羅. Tứ phần: Thích-súy-sưu 釋翅搜. Tức Pāli: sakkesu, giữa những người họ Thích. Nhưng ở đây, nhân duyên theo Pāli, Phật tại Xá-vệ.
202 Tứ phần: “Không thưa với chúng hay người khác.” Pāli: chưa xin phép Tăng hay chúng hứa khả.
203 Tăng-kỳ: Mụt nhọt chỗ kín, từ đầu gối trở lên, từ vai trở xuống. Tứ phần: “Thân thể có ung nhọt, và các loại ghẻ.”
204 Tứ phần, điều 162.
205 Tứ phần, điều 161.
206 Tứ phần: Xẩm tối đến nhà cư sĩ, nhà bạch y.
207 Tứ phần, điều 171.
208 Tứ phần: Bị tẫn 被擯 (bị đuổi).
209 Tứ phần, điều 166.
210 Nhị căn 二根. Tứ phần: Nhị hình 二形.
211 Tứ phần, điều 167.

ĐIỀU 178. KHÔNG LỄ BÁI TỲ-KHEO212
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni không kính lễ, không nghinh đón, không tiễn đưa, cũng không mời Tỳ-kheo ngồi. Các Tỳ-kheo giận không giáo giới, nên các Tỳ-kheo-ni ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni biết, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi các Tỳ-kheo-ni:
“Các cô, có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Trước đây ta đâu không nói Tám kính pháp, phải nên kính lễ Tỳ-kheo hay chăng?! Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, thấy Tỳ-kheo,213 không đứng dậy, không kính lễ, không mời ngồi, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu bệnh hay trước có sự oán hiềm không cùng nói năng với nhau thì không phạm.

ĐIỀU 179. DÙNG LỬA ĐỐT CHỖ KÍN
a. Duyên khởi
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni nghĩ như vầy: ‘Đức Phật không cho phép chúng ta cạo lông chỗ kín, [98a01] nay nên dùng lửa đốt; họ liền dùng lửa đốt. Bấy giờ, có Bà-la-môn mất dê đi tìm, đến đường hẽm Tỳ-kheo-ni ở, nghe mùi lông đốt, nghĩ là Tỳ-kheo-ni ăn trộm dê họ đem thui, bèn đến chỗ vua. Đem việc này tâu vua. Nhà vua liền kêu Tỳ-kheo-ni hỏi:
“Cô giết con dê của Bà-la-môn phải không?”
Trả lời: “Không giết.”
Hỏi: “Nếu không giết sao có mùi lông dê đốt?”
(Các cô ni)* liền đem sự thật để trả lời. Nhà vua cả cười rồi bảo các cô về.
Các quan nghe, cơ hiềm nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni không nghĩ đến chuyện hành đạo lại đốt lông chỗ kín?!”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe bằng mọi cách quở trách…cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đốt lông chỗ kín, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trong giới cạo lông chỗ kín đã nói.

ĐIỀU 180. VÀO NHÀ BẠCH Y KHÔNG MẶC TĂNG-KỲ-CHI214
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni không mặc Tăng-kỳ-chi215 đến nhà bạch y, gió thổi y trên bị bay, thân hình bị lộ. Các bạch y thấy bèn cùng nhau trêu nói lời thô tục, vì vậy mà xấu hổ.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không mặc Tăng-kỳ-chi mà vào nhà Bạch y, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu đang giặt, nhuộm, đập, vá hay không có thì không phạm.
Xong một trăm tám mươi việc.

ĐIỀU 181. NGỒI GẦN BẠCH Y NÓI PHÁP
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng bạch y ngồi đối nhau, để thân kề nhau nói pháp, giống như nói việc riêng tư. Trong số đó, có người sanh tâm nhiễm đắm, đưa đến hoàn tục, làm ngoại đạo. Các Bạch y chê trách.
Chư vị Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, cùng Bạch y ngồi đối nhau, thân gần kề nhau nói pháp, phạm Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 182. TỰ MÌNH CA MÚA
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự mình ca múa. Các Cư-sĩ cơ hiềm nói:
“Tỳ-kheo-ni này tự mình ca múa như dâm nữ.”
Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình ca múa, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 183. NGĂN THỌ Y CA-THI-NA216
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ngăn thọ y Ca-thi-na. Các Tỳ-kheo-ni đợi lâu [98b01] không đến trở ngại việc hành đạo.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ngăn thọ y Ca-thi-na, Ba-dật-đề.”
Nếu vì bệnh hay không nghe thì không phạm.

ĐIỀU 184. NGĂN XẢ Y CA-THI-NA217
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ngăn xả y Ca-thi-na… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ngăn xả y Ca-thi-na, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trước đã nói.

ĐIỀU 185. KHÔNG BẠCH TỲ-KHEO MÀ HỎI NGHĨA KINH218
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Sai-Ma thông minh xảo ngữ, nạn vấn các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không thể trả lời được, nên rất xấu hổ, cho nên thấy các Tỳ-kheo-ni liền tránh đi đường khác, đưa đến việc không ai giáo giới Tỳ-kheo-ni lại, (nên họ)* trở thành ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
“Tỳ-kheo-ni nào, vấn nạn Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-đề.”
Có các Tỳ-kheo-ni có chỗ nghi, không dám vấn nạn, vì vậy lại ngu ám, vô tri, không thể học giới, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nay cho phép các Tỳ-kheo-ni trước phải bạch Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cho phép hỏi mới hỏi. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, không bạch Tỳ-kheo mà vội hỏi nghĩa kinh,219 Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 186. LẤY BẤT TỊNH CỦA NGƯỜI NAM ĐỂ VÀO NỮ CĂN MÌNH
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Bạt-nan-đà thường tới lui chỗ Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà. Một hôm, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát đến chỗ cô, do đứng ngồi sơ ý nên cùng thấy “hình” nhau. Bạt-nan-đà bèn xuất bất tịnh.220 Thâu-la-nan-đà lấy nội y giặt, tự lấy bất tịnh để vào trong “hình” (mình)*, nên dẫn đến có thai. Các Tỳ-kheo-ni thấy hỏi: “Cô không tu phạm hạnh hay sao?”
Thâu-la-nan-đà trả lời rằng:
“Không phải không tu phạm hạnh, mà do tự lấy bất tịnh của nam tử để vào trong “hình” tôi, nên đưa đến tình trạng có thai như vậy thôi.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, lấy bất tịnh của nam tử tự đặt vào nữ căn của mình, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 187. THEO PHÁP THỜ LỬA CỦA NGOẠI ĐẠO
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni làm theo pháp thờ lửa của ngoại đạo, đốt lửa và tụng chú ngữ [98c01] của họ. Các cư sĩ cơ hiềm nói:
“Những người này còn không thể trong sạch cái thấy của chính mình thì, làm sao có đạo được? Thật là không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đốt lửa, làm pháp thờ lửa của ngoại đạo, Ba-dật-đề.”
Nếu làm theo tà kiến thì, Thâu-lan-giá.
Nếu làm các pháp phụng thờ của các ngoại đạo đều Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 188. TẮM CHỖ CÓ NGƯỜI
a. Duyên khởi
Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni tắm ở chỗ có người, mọi người thấy đó dòm ngó đùa cợt.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni thấy, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tắm chỗ có người, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 189. TỤNG CHÚ THUẬT CỦA NGOẠI ĐẠO221
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tụng chú thuật222 của ngoại đạo, các bạch y cơ hiềm:
“Những người này tụng chú thuật của ngoại đạo, không có tâm cầu đạo… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới như trong giới phương pháp tụng kinh trị bệnh đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tụng chú thuật ngoại đạo, hoặc dạy người tụng,223 Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 190. MỘT CHÚNG TRAO GIỚI CỤ TÚC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, chúng Tỳ-kheo-ni tự trao giới Cụ túc, nên họ ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, một chúng mà trao giới Cụ túc, Ba-dật-đề.”
Từ khi mống tâm cho đến khi bạch tứ Yết-ma chưa xong, Đột-kiết-la; bạch tứ Yết-ma xong, Hòa thượng Ba-dật-đề, các sư Tăng khác Đột-kiết-la.
Xong một trăm chín mươi việc.

ĐIỀU 191. TỰ TÁC PHÁP YẾT-MA NUÔI CHÚNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự tác Yết-ma nuôi chúng, tự tác Yết-ma hai năm học giới, tự trao hai năm học giới, không thể giáo giới đệ tử, nên ngu ám vô tri, không thể học giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự tác Yết-ma nuôi chúng, Ba-dật-đề.”
Tỳ-kheo-ni nào, tự tác Yết-ma hai năm học giới, Ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni [99a01] nào, tự trao hai năm học giới, Ba-dật-đề.
Ngoài ra như giới trước đã nói.

ĐIỀU 192. TÁC PHÁP YẾT-MA HAI NĂM HỌC GIỚI, SAU CÁCH ĐÊM CHO THỌ CỤ TÚC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tác Yết-ma hai năm học giới rồi, để cách đêm mới cho thọ Cụ túc giới, giữa thời gian đó có nạn xảy ra không được thọ Cụ túc giới.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tác Yết-ma hai năm học giới rồi, để cách đêm mới cho thọ Cụ túc, Ba-dật-đề.”
Khi mống tâm cho đến tướng ánh sáng chưa xuất hiện, Đột-kiết-la; tướng ánh sáng xuất hiện rồi, Hòa thượng Ba-dật-đề, sư chúng khác Đột-kiết-la.
Nếu bệnh hoặc nạn khởi hay Tăng không tập hợp thì không phạm.

ĐIỀU 193. TÁC PHÁP YẾT-MA HAI NĂM HỌC GIỚI, RỒI CÁCH ĐÊM TRAO HỌC GIỚI CHO ĐƯƠNG SỰ
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tác Yết-ma hai năm học giới rồi, để cách đêm mới trao học giới cho họ; trong thời gian đó nạn khởi nên không thọ được.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tác Yết-ma hai năm học giới rồi, để cách đêm mới trao học giới cho họ, Ba-dật-đề.”
Khi mống tâm cho đến khi tướng ánh sáng chưa xuất hiện, Đột-kiết-la; tướng ánh sáng xuất hiện rồi, Hòa thượng, Ba-dật-đề; các sư chúng khác, Đột-kiết-la
Không phạm như giới trên.

ĐIỀU 194. TỰ DỆT Y CHO MÌNH
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự dệt lấy y của mình. Các bạch y cơ hiềm nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni không nghĩ đến chuyện hành đạo mà lại tự dệt y cho mình như những người thợ dệt khác.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự dệt y cho mình, Ba-dật-đề.”
Nếu dệt bằng khung cưởi thì mỗi một lần đưa thoi qua là Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu dệt dây lưng hay dây ngồi thiền thì không phạm.

ĐIỀU 195. DU HÀNH TRONG NƯỚC NƠI CÓ SỰ KHỦNG BỐ
a. Duyên khởi
Bấy giờ, người hầu cận của vua Ba-tư-nặc và các Tỳ-kheo-ni đi tham quan nơi có sự khủng bố, bị giặc cướp đoạt, hoặc bị phá phạm hạnh, hoặc bị bắt dẫn đi. Các Tỳ-kheo-ni khác đem việc này báo cáo nhà vua. Nhà vua nói:
“Nay tôi không được tự tại thì nên đối phó thế nào cho Tỳ-kheo-ni!”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách nói, tại sao lại đi tham quan nơi có sự khủng bố… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, du hành trong nước, nơi có sự khủng bố, [99b01] Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu trước đi nơi đường lộ, sau đó có sự nạn khởi thì không phạm.

ĐIỀU 196. TỰ TẠO TƯỢNG CHO MÌNH
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tự tạo tượng của chính mình, cũng sai người khác tạo. Khi ấy, Thâu-la-nan-đà cũng sai người tạo, sau khi thấy tượng mình sanh tâm đắm nhiễm, lại nghĩ như vầy: “Nhan sắc ta như vậy, tại sao huỷ hoại để tu phạm hạnh!”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni biết, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự tạo tượng mình, hoặc sai người làm, Ba-dật-đề.”
Tạo tượng cho chính mình: Hoặc vẽ hoặc dùng cây, hoặc dùng chất dẻo để làm.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu người khác tự ý làm cho mình thì không phạm.

ĐIỀU 197. TRANG ĐIỂM CHO NGƯỜI NỮ
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni trang điểm cho người nữ, bèn sanh tâm không thích đạo, đến nổi hoàn tục làm ngoại đạo. Các Bạch y chê trách, nói:
“Tại sao Tỳ-kheo-ni lại trang điểm cho người nữ, như (một kiều)* tạo mẫu, cùng với tự trang điểm cho chính mình, nào có khác gì đâu? Không nghĩ đến việc hành đạo, chỉ làm việc trang sức bất chánh, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn!”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, trang điểm cho người nữ, Ba-dật-đề.”
Trang điểm: Chải đầu cho đến gắn một đoá hoa, đeo chiếc xuyến, mỗi một việc làm, một Ba-dật-đề.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 198. TẮM RỬA TRONG NƯỚC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tắm rửa trong nước, lội ngược dòng, bị nước xúc chạm, sanh tâm ái dục, đến nổi hoàn tục làm người ngoại đạo.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đi (lội) ngược dòng nước, Ba-dật-đề.”
Nếu đi (lội) ngược dòng nước mỗi một bước đi một Ba-dật-đề. Xuất bất tịnh thì Thâu-lan-giá.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu không có tâm dục thì không phạm.

ĐIỀU 199. NẰM NGỬA
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni nằm ngửa chỗ nhà dột, giọt nước vào trong “hình”, sanh tâm ái dục, đưa đến việc hoàn tục, làm người ngoại đạo.
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói.[99c01] Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, nằm ngửa, nước nhỏ xuống chỗ kín, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như giới trước đã nói.

ĐIỀU 200. DÙNG DÂY BUỘC CHO EO LƯNG NHỎ224
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni dùng dây buộc eo khiến cho thon đẹp rồi sanh tâm ái dục. Các Bạch y chê trách, nói:
“Bọn người này chăm sóc eo cho thon như người dâm nữ, không có tâm đạo, chỉ làm việc tà.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Duyên khởi
Tỳ-kheo-ni nào, chăm sóc eo cho thon, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Xong hai trăm việc.

ĐIỀU 201. SỬA THÂN THỂ ĐẸP
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni bằng nhiều cách chăm sóc thân hình cho đẹp, rồi sanh tâm ái dục… cho đến câu:
Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, bằng nhiều cách chăm sóc thân (cho đẹp)*, Ba-dật-đề.”
Ngoài như giới trước đã nói.

ĐIỀU 202. MẶC Y THEO CÁCH THỨC CỦA KỸ NỮ225
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ăn mặc theo kiểu kỹ nữ, rồi sanh tâm không thích đạo, đến nổi hoàn tục… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, mặc y theo kiểu kỹ nữ, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 203. MẶC Y THEO CÁCH THỨC PHỤ NỮ BẠCH Y
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni mặc y theo kiều phụ nữ bạch y,226 rồi sanh tâm không thích đạo… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, mặc y theo kiểu phụ nữ bạch y, Ba-dật-đề.”
Ngoài ra như trên đã nói.

ĐIỀU 204. TỰ NHÌN THÂN THỂ VỚI TÂM DỤC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni vì tâm dục tự ngắm thân thể mình, rồi sanh tâm ái dục… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, vì tâm dục tự ngắm thân thể mình, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 205. SOI GƯƠNG
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni soi gương, rồi sanh tâm không thích đạo… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, soi gương, Ba-dật-đề.”
Nếu soi trong nước, Đột-kiết-la.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu mặt có mụt nhọt soi để thấy thì không phạm.

ĐIỀU 206. TỰ MÌNH XEM HAY ĐẾN NGƯỜI KHÁC XEM BÓI TOÁN
a. Duyên khởi
[100a01] Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni bằng nhiều cách, tự mình bói toán cũng đến người khác bói toán. Các bạch y chê trách nói:
“Bọn này không bỏ tà kiến, làm sao đắc đạo?”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, tự mình bói toán, hoặc đến người bói toán, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.

ĐIỀU 207. LUẬN BÀN VIỆC THẾ TỤC
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni cùng nhau bàn luận việc riêng tư, như chúng ta xuất gia sẽ đặng cứu cánh hay, là không đặng cứu cánh; nên bỏ đạo hay không nên bỏ đạo; nếu ai bỏ đạo được chồng tốt chăng? Con cái nhiều hay ít, phước tướng thế nào? Vì những luận bàn này mà sanh tình thế tục, không thích đạo nữa, đến nổi hoàn tục làm người ngoại đạo!
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách, tại sao Tỳ-kheo-ni lại luận bàn thế tục, mà quên ý đạo… cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, luận bàn theo thế tục, Ba-dật-đề.”
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Xong hai trăm lẻ bảy việc.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *