Ngũ Phần Luật – 21. Phần III – Chương 1 – Pháp Thọ Giới

CHƯƠNG I : PHÁP THỌ GIỚI

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. THÍCH THỊ THẾ PHỔ
Đức Phật ở tại thành Vương Xá,2 bảo các Tỳ-kheo: Thời quá khứ có vua tên là Uất-ma.3 Vợ thứ có bốn người con, một tên Chiếu Mục, hai tên Thông Mục, ba tên Điều Phục Tượng, bốn tên Ni-lâu đều thông minh viễn đạt, có oai đức. Đệ nhất phu nhân có một người con tên là Trường Sanh, ngu đần xấu xí, mọi người đều khinh rẻ. Phu nhân nghĩ: “Con ta tuy là lớn nhưng tài không bằng ai, còn bốn đứa kia đều có oai đức, ngôi vị của nước chắc về tay chúng”. Ta nên lập kế sách nào để củng cố cơ nghiệp cho con ta. Bà ta lại nghĩ: “Hiện nay nhà vua coi trọng và tin yêu mình hơn các phu nhân khác. Trước hết ta nên dùng tình cảm, sau sẽ dùng lý để giải quyết. Như kế đã nghĩ, bà ta bèn trang điểm hết sức đẹp đẽ để khi vua đến là muốn gần gũi bà ngay.
Khi (nhà vua gặp bà),* bà ta khóc sướt mướt, nhà vua hỏi lý do, bà ta trả lời: “Thiếp có lời nguyện nhỏ, e không toại, đành phải chết cho xong đời.”
Nhà vua nói:
“Nàng có lời nguyện thế nào, nếu hợp lý thì trẫm đâu trái được”.
Bà ta bèn tâu với nhà vua:
“Bốn đứa con của vua đều có oai đức, còn đứa con của thiếp tuy lớn, nhưng tài đức không bằng ai, vấn đề kế thừa đại nghiệp e chúng nó sẽ đoạt đi thôi. Nếu nhà vua loại bỏ, đuổi bốn đứa kia (ra khỏi hoàng cung)* thì thiếp mới yên tâm.”
Nhà vua nói:
“Bốn đứa đó đều hiếu kính và thuận thảo nhau,4 đối với đất nước không có lỗi lầm gì, trẫm làm thế nào đuổi chúng được?!”
Bà ta lại nói: “Tâm thiếp lao nhọc cho cả việc nhà lẫn việc nước, nhưng bốn đứa con của bệ hạ đều có oai đức, nhân dân đều quí mến chúng, một ngày nào đó chúng nó cạnh tranh nhau ngôi vị thì ắt hẳn sẽ sát hại nhau và lộc nước lớn lao kia sẽ bị tiêu diệt, mai hậu làm gì có đến bệ hạ?!”
Nhà vua nói: “Thôi! Thôi! Đừng nói nữa.”
Nhà vua liền kêu bốn người con (kia lại)* [101b01] ra lệnh phải ra khỏi nước. Bốn người con vâng lệnh, liền chuẩn bị hành trang. Khi ấy bà mẹ của bốn người con và các chị em ruột đều xin được cùng đi. Không những thế, các lực sĩ, bách quan, Bà-la-môn, Trưởng giả, cư sĩ, tất cả nhân dân, hầu hết ai cũng vui lòng xin được đi theo. Nhà vua chấp thuận cho theo tất cả. Thế là bốn người con bái từ ra đi. Qua được bên kia sông Kỳ-la,5 họ đến phía bắc Tuyết Sơn, nơi đó đất bằng phẳng rộng rãi, bốn bề ngút ngàn cái trong lành, tĩnh mịch, lại nhiều trái ngọt, cây lành, kỳ hoa, dị thảo, và muôn thú đủ loại. Nhận ra đất lành, bốn người con cho dừng lại rồi gọi Bà-la-môn, Trưởng giả, cư sĩ đến để cùng nhau bàn bạc: “Các nơi đã đi qua, không nơi nào hơn chỗ này, có thể định cư được rồi”. Tất cả đều nhất trí, nơi đây là quê hương mới. Họ xây dựng thành ấp và chỉ trong thời gian vài năm số người qui tụ đông đúc, dần dần phồn thịnh trở thành đại quốc. Cách vài năm sau, vua cha nhớ đến các con, hỏi quần thần:
“Bốn đứa con của trẫm nay ở đâu?”
Quần thần tâu:
“Ở phía bắc Tuyết Sơn, gần rừng Xá-di, xây dựng thành quách doanh ấp, nhân dân phát đạt, đất đai màu mỡ, áo cơm xung túc không hề thiếu thốn.”
Nhà vua nghe rồi ba lần khen ngợi con ta có đủ khả năng! Nhà vua ba lần lập lại lời khen như thế. Từ đó, mang danh hiệu là Thích-ca chủng tộc.
II. TRUYỆN ĐỨC THÍCH TÔN
A. Xuất gia thành đạo
1. Vương tử họ Thích
Ni-lâu6 có con tên là Tượng-đầu-la. Tượng-đầu-la có con tên là Cù-đầu-la. Cù-đầu-la có con tên là Ni-hưu-la. Ni-hưu-la7 có bốn đứa con: một tên là Tịnh Phạn,8 hai tên là Bạch Phạn, ba tên là Học Phạn, Bốn tên là Cam Lồ Phạn. Vua Tịnh Phạn có hai người con: một tên là Bồ-tát,9 hai tên là Nan-đà. Bạch Phạn có hai người con: một tên là A-nan, hai tên là Tiểu Đạt. Hộc Phạn có hai người con: một tên là Ma-ha-nam, hai tên là A-na-luật. Cam Lồ Phạn có hai người con: một tên là Bà-bà, hai tên là Bạt-đề. Bồ-tát có con tên là La-hầu-la. Khi còn nhỏ Bồ-tát đã có chí xuất gia. Vua cha sợ con học đạo, thường dùng ngũ dục để cho con vui chơi. Đến 14 tuổi, Bồ-tát oai nghiêm lên xa giá du ngoạn cửa thành phía Đông, thấy một người già đầu bạc lưng khòm, chống gậy bước đi yếu ớt, Bồ-tát hỏi người đánh xe:
“Đó là người gì?”
Tên hầu đánh xe thưa:
“Đó là người già.”
Bồ-tát lại hỏi:
“Già là thế nào?”
“Thưa Bồ-tát, già là tuổi đã lớn, căn cốt chín mùi, hình dạng biến đổi, sắc tướng suy tàn, đứng ngồi khổ sở, mạng sống không còn bao lâu, cho nên gọi là già.”
Bồ-tát hỏi:
“Ta có tránh khỏi tình trạng đó không?”
“Thưa ngài làm sao tránh khỏi.”
Bồ-tát bảo quay xe về lại cung, luôn nghĩ chưa lìa được sự già nên sầu ưu không vui.
Vua cha hỏi tên hầu đánh xe:
“Thái tử đi chơi có vui hay không?”
Tên hầu đánh xe tâu:
“Dạ, không vui.”
“Tại sao vậy?”
“Vì gặp một người già nên thái tử không vui.”
Nhà vua sợ đúng như lời ông thầy tướng, e thái tử không lâu nữa sẽ xuất gia, nên tăng thêm ngũ dục để mua vui cho thái tử.
Sau thời gian lâu, thái tử lại ra lệnh [101c01] tên đánh xe nghiêm xa giá du ngoạn cửa thành phía Nam. Gặp một người bệnh hình thể ốm yếu, dựa cửa thở hỗn hễn. Thái tử hỏi tên hầu đánh xe:
“Đó là người gì?”
Thưa thái tử:
“Đó là người bệnh.”
Bồ-tát lại hỏi:
“Thế nào gọi là người bệnh?”
“Thưa thái tử bốn đại càng tổn giảm nhiều, ăn uống không được, sức lực yếu dần, mạng sống ở trong khoảnh khắc, cho nên gọi là bệnh.”
Bồ-tát hỏi:
“Ta có tránh khỏi tình trạng đó không?”
“Thưa thái tử làm sao tránh khỏi.”
Thái tử bảo quay xe về cung, tự nghĩ không thể lìa khỏi sự già và bệnh, nên càng ưu buồn.
Nhà vua hỏi tên hầu đánh xe:
“Thái tử đi chơi có vui không?”
Tên hầu đánh xe tâu: “Tâu bệ hạ, lại càng không vui!”
Vua lại hỏi: “Vì sao?”
“Dạ, vì gặp một người bệnh cho nên không vui.”
Nhà vua sợ thái tử xuất gia, lại tăng thêm ngũ dục ngày đêm để cho thái tử vui.
Sau thời gian lâu, Bồ-tát lại bảo người đánh xe nghiêm xa giá, du ngoạn cửa thành phía Tây. Gặp một người chết, tử thi khiêng đi trước, gia đình cả nam lẫn nữ đi sau khóc kể. Thái tử hỏi tên hầu đánh xe:
“Đó là người gì?”
“Thưa thái tử đó là người chết.”
“Thế nào gọi là chết?”
“Thưa thái tử, hơi thở chấm dứt, tinh thần không biết gì nữa, vất bỏ nơi đồng trống, vĩnh viễn xa lìa bà con, cho nên gọi là chết.”
Bồ-tát hỏi:
“Ta có tránh khỏi cảnh trạng đó không?”
Tên hầu đánh xe thưa:
“Làm sao tránh khỏi.”
Bồ-tát nghĩ không thể tránh khỏi già, bệnh, chết, nên ưu buồn càng tăng thêm, liền quay xe trở về. Trên đường về, thấy một người cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục, bưng bát nhìn đất mà đi, thái tử hỏi tên hầu đánh xe:
“Đó là người gì, mà y phục khác với người đời?”
“Thưa thái tử, đó là người xuất gia.”
Lại hỏi:
“Thế nào gọi là người xuất gia?”
“Thưa thái tử, người khéo tự điều phục, đủ các oai nghi, thường hành nhẫn nhục, lân mẫn chúng sinh, nên gọi là xuất gia.”
Bồ-tát nghe rồi, ba lần thốt lên: “Lành thay! Đây là sự sống khoái lạc duy nhất!”
Thái tử liền xuống xe đến gần cung kính hỏi: “Tại sao hình thức y phục của ngài không giống người đời? (cách trả lời cũng giống như trên).
Bồ-tát lại ba lần khen:
“Lành thay! [102a01] Nếp sống này là an vui nhất.”
Bồ-tát lên xe về cung. Từ xa có một người nữ trông thấy Bồ-tát, trái tim cô ta bị rung dộng bởi ái dục, liền nói bài kệ:
Mẹ vui có con này,
Cha con vui cũng thế
Người nữ được chồng này
Vui hơn vào Nê-hoàn
2. Xuất gia tầm đạo
Bồ-tát nghe nói tiếng Nê-hoàn, hoan hỷ vô cùng, tự nghĩ: “Ta làm thế nào để chứng được Vô thượng Nê-hoàn10 này?” Trở về cung, Bồ-tát miên man suy nghĩ đến các pháp sanh, lão, bệnh, tử chưa được xa lìa này… Nhà vua hỏi tên hầu đánh xe:
“Hôm nay thái tử đi chơi có vui hay không?”
Tên hầu đánh xe thưa:
“Thưa bệ hạ! Khi đi thì không vui nhưng lúc về thì rất vui.”
Vua hỏi: “Tại sao vậy?”
“Thưa bệ hạ, khi đi gặp một người chết cho nên không vui, lúc về thấy một Tỳ-kheo cho nên rất vui.”
Nhà vua nghĩ rằng: vị thầy tướng nói thái tử sẽ xuất gia chắc là đúng. Nhà vua tăng thêm ngũ dục cả ngày lẫn đêm để thái tử vui chơi. Bồ-tát thưởng thức trò vui của các kỹ nữ, tạm thời ngủ được. Sau đó, bọn kỹ nữ đều vùi mình trong giấc ngủ, Bồ-tát tỉnh dậy thấy các kỹ nữ cùng gối nhau mà ngủ, hoặc lộ hình thể chẳng khác nào con người bằng gỗ, nước mũi, nước mắt, nước dãi từ trong miệng chảy ra; đàn cầm, đàn sắc ống tiêu… ngổn ngang dưới đất; lại thấy cung điện cũng như gò hoang.
Chứng kiến cảnh tượng này, Bồ-tát ba lần thốt lên lời than:
“Họa thay! Họa thay!”
Bồ-tát liền chạy đến cung điện của phụ vương ở, biến trạng của cung điện cũng lại như vậy. Bồ-tát cũng than:
“Họa thay! Họa thay! Chán ngán quá rồi! Phải xa lìa gấp!”
Lúc ấy, Bồ-tát ra lệnh cho tên nô dịch Xiển-đà:11
“Ngươi hãy thắng ngựa cho ta, đừng cho ai hay!”
Xiển-đà thưa:
“Thưa thái tử, ban đêm không phải là lúc đi, không thể du ngoạn xem cảnh. Hơn nữa đâu có oán địch bức bách nơi hoàng cung, không biết vì lý do gì mà ban đêm bảo thắng ngựa?”
Thái tử trả lời:
“Có đại oán địch, ngươi không biết đâu. Cái oán già, bệnh, chết, cái oán đó mới là lớn. Ngươi phải thắng ngựa gấp, không nên hòa hoãn.”
Xiển-đà chuẩn bị bạch mã xong, đem đến trước sân thưa:
“Thưa thái tử, ngựa đã thắng xong, đem đến rồi.”
Bồ-tát đến bên con ngựa, muốn cỡi lên, con ngựa liền hý lên một tiếng với giọng buồn thảm. Thiên thần sợ có sự trở ngại, liền dùng cách làm loãng tiếng ngựa hý, khiến cho mọi người không nghe. Bồ-tát cỡi ngựa hướng về phía cửa hông (hoàng cung)*, cửa hông liền mở, lại hướng về cửa thành, cửa thành cũng tự mở. Ra khỏi cửa thành rồi, Bồ-tát hướng về rừng A-nậu-da,12 cách thành không xa, Bồ-tát xuống ngựa, cỡi áo quí báu trao cho Xiển-đà và nói:
“Ngươi đem con ngựa và chiếc áo này về hoàng cung, tâu lên rằng: Hôm nay ta bái tạ cha mẹ để đi học đạo, không lâu lắm đâu, ta sẽ trở về, xin song thân đừng quá buồn rầu.”
Xiển-đà khóc lóc, quỳ gối thưa:
“Vị thầy tướng trước kia có nói, thái tử sẽ làm Chuyển luân thánh vương13 có bảy món báu; một ngàn người con, làm vua bốn cõi thiên hạ, dùng chánh pháp trị đời,14 không dùng binh trượng, tự nhiên thái bình, [102b01] tại sao nay lại vất bỏ ngôi vua, cỡi áo quí báu, nhận sự khổ nơi rừng núi hoang vu?!”
Bồ-tát hỏi lại:
“Vị thầy tướng lúc ấy còn nói gì nữa không?”
Xiển-đà thưa:
“Thầy tướng còn nói, nếu không vui sống với thiên hạ, xuất gia học đạo sẽ thành Vô thượng chánh đẳng giác.”
Bồ-tát nói:
“Ngươi nghe rõ như vậy tại sao nay lại buồn? Ngươi phải mau trở về tâu với song thân ta: Dù cho xương cốt mục nát mà ta không chấm dứt được nguồn gốc sanh, lão, bệnh, tử thì ta không trở về.”
Lúc ấy, Xiển-đà buồn khóc, đến trước kính lễ, đi nhiễu ba vòng, rồi dắt ngựa, đem y báu về cung.
Bồ-tát tiến về phía trước, thấy một người thợ săn mặc chiếc áo ca-sa, liền đến chỗ ông ta, dùng chiếc áo giá đáng trăm ngàn lần đổi lấy chiếc áo kia rồi mặc đi. Bồ-tát hướng đến cây Tu-ma-na, bên gốc cây có người thợ cạo tóc, nhờ cạo đầu. Họ liền cạo tóc cho Bồ-tát. Trời Thích Đề-hoàn Nhân,15 trong chớp nhoáng, như co duỗi cánh tay, đến trước Bồ-tát, lấy y, hứng tóc đem về Thiên cung. Cạo tóc rồi, Bồ-tát nghĩ: “Nay ta đã là người xuất gia”, tự nhiên đủ giới”. Từ đó, Ngài tuần tự du hành đến thành Vương Xá. Vua Bình-sa16 lúc thiếu thời có năm lời nguyện:
1. Phụ vương băng hà, ta sẽ nối ngôi.
2. Khi làm vua gặp Phật ra đời.
3. Chính mình được thấy Phật, gần gũi cúng dường.
4. Phát tâm hoan hỷ đặng nghe Chánh pháp.
5. Nghe pháp rồi liền được tín giải.
Bồ-tát vào thành khất thực, oai nghi rạng rỡ, nhìn đất mà đi. Khi ấy chưa có bình bát, Ngài dùng lá sen thay bát đi khắp mọi nẻo đường, bát lá sen không lìa căn sống. Khi ấy, nhà vua cùng quần thần ở trên lầu cao, từ xa thấy Bồ-tát lấy làm kỳ lạ, quay lại nói với quần thần:
“Ta chưa từng thấy ai như người này, chắc là thần thánh.”
Quần thần đều tâu:
“Trước đây hạ thần có nghe, phía bắc Tuyết Sơn, vua thành Ca-duy-la-vệ17 tên là Tịnh Phạn, sanh người con tên Bồ-tát. Thầy tướng xem tướng nói: “Nếu ở nhà thì sẽ làm Chuyển luân thánh vương, làm chủ bốn cõi thiên hạ, bảy món báu tự đến, tức là luân báu, tượng báu, mã báu, châu báu, nữ báu, thần báu và chủ binh báu. Vua có một ngàn người con dũng kiện sức mạnh phi thường, dùng pháp chế ngự đời, binh trượng không dùng đến, mà tự nhiên thái bình. Nếu không vui sống với thế gian, xuất gia học đạo, chứng thành Phật đạo, độ sanh, tử cho người. Nghe thái tử đã xuất gia chắc là người này vậy.”
Vua nghe nói như thế, rất vui mừng, nói:
“Năm lời nguyện của ta trước đây, một lời đã thực hiện, còn bốn lời nữa, chắc nay sẽ toại nguyện.”
Nhà vua liền sắc chỉ hai người đến xem Bồ-tát trú nghỉ tại đâu để nhà vua đến. Người được sai đi liền thấy [102c01] Bồ-tát khất thực xong trở về núi Ba-la-nại,18 ngồi kiết già hướng về nước Ba-tuần. Một người theo dõi quan sát, một người về tâu với vua. Nhà vua liền trang nghiêm xa giá thẳng đến nơi. Bồ-tát vừa bước xuống núi, thì nhà vua đã leo núi, đến chỗ Bồ-tát. Bồ-tát nói:
“Lành thay Đại vương! Ngài sẽ nhận được điều an lành.”
Nhà vua liền cúi đầu kính lễ sát chân rồi ngồi lui qua một bên, bạch Bồ-tát rằng:
“Ngài sanh ở nước nào, từ họ nào mà xuất gia?”
Bồ-tát trả lời:
“Sanh từ phía Bắc Tuyết Sơn, nước Xá-di,19 thành Ca-duy-la-vệ, cha tên là Tịnh Phạn, họ là Cù-đàm.20
Nhà vua muốn thử Bồ-tát cho nên nói:
“Tộc tánh của Tỳ-kheo tôn quí, ngôi vua lớn ở đời, thánh đức tự nhiên, nhiếp hoá bốn biển, bốn biển không một ai không trông chờ. Nếu ngài nhiếp chánh thì tôi cũng hướng về phương Bắc mà phụng thờ.”
Bồ-tát trả lời:
“Địa vị nào bằng địa vị Chuyển luân thánh vương mà tôi còn bỏ huống là bốn biển. Sở dĩ tôi xuất gia cầu đạo là muốn độ tất cả cái khổ lớn của sanh tử. Sao không thỉnh tôi thành đạo rồi độ Ngài trước mà lại bo bo cho việc đó là trọng yếu?!”
Nhà vua nói:
“Hay thay! lời nói đó rất là khoái chí! Xin Ngài thành đạo rồi độ tôi và người trong nước này trước.”
Bồ-tát hứa khả. Nhà vua rất hoan hỷ kính lễ sát chân rồi cáo lui.
3. Thành Đẳng Chánh Giác
Sau khi nhà vua đi rồi, Bồ-tát bèn hướng về cây Bồ-đề.21 Cách cây Bồ-đề không xa có một người cắt cỏ, tên là Cát An.22 Ngài đến xin một ít cỏ, đem đến trải dưới gốc cây rồi ngồi kiết già, thẳng người chánh ý, buộc niệm trước mắt, liền trừ được năm cái, lìa dục, lìa ác bất thiện pháp… cho đến đắc đệ tứ thiền và du hý trong đó, thông qua hạnh 37 đạo phẩm. Do tịnh tâm này mà tam minh rỗng chiếu, tức là Túc mạng minh, Tha tâm minh và Lậu tận minh, như trong Thụy ứng bổn khởi23 đã nói.
Bấy giờ, ngài đứng dậy đến thôn Uất-tỳ-la,24 ngồi dưới rừng cây, nơi thành Phật đạo. Đầu đêm, Ngài quán 12 nhân duyên nghịch và thuận. Do duyên cái này có nên cái kia có, do duyên cái này diệt nên cái kia diệt. Nghĩa là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử, ưu bi, khổ não. Nếu vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão tử, ưu bi, khổ não đều diệt. Thấy rõ nghĩa duyên khởi này rồi, Ngài bèn nói bài kệ:
[103a01] Duyên sanh pháp đều vậy
Phạm-chí mới toạ thiền
Đã biết pháp duyên này
Khéo trừ tất cả nghi.
Pháp duyên sanh đều vậy
Phạm-chí mới toạ thiền
Đã biết pháp duyên này
Khéo trừ tất cả khổ
Pháp duyên sanh đều vậy
Phạm-chí mới toạ thiền
Phá tối tăm của ma
Như mặt trời trên không.
4. Hai người khách thương
Bấy giờ, đức Thế Tôn mắc bệnh phong,25 thần núi Ma-tu-la26 liền lấy trái Ha-lê-lặc27 dâng Phật, thưa:
“Cúi xin Phật dùng trái cây này để trừ bệnh phong.”
Đức Phật thọ nhận và dùng, bệnh phong liền hết, Ngài ngồi kiết già bảy ngày thọ sự vui giải thoát. Sau bảy ngày Ngài từ tam-muội đứng dậy, du hành trong nhân gian.
Khi ấy có năm trăm khách buôn chở hàng trên năm trăm cổ xe, trong đó có hai người lớn, một tên là Ly-vị, người thứ hai tên là Ba-lợi.28 Xưa kia hai người có một thiện trí thức qua đời làm Thiện thần,29 thường đi theo họ, nghĩ rằng: “Nay đức Phật mới thành đạo cả, chưa có người dâng cúng thức ăn, ta nên khiến hai ông bạn cúng dường đức Phật để được an lành nhiều kiếp.” Vị Thiện thần liền dùng thần lực làm cho đoàn xe đều bị trở ngại, mọi người sợ sệt, khấn vái bốn phương. Vị Thiện thần từ không trung nói:
“Các người đừng sợ! Các người đừng sợ! Nay đức Phật Thế Tôn30 vừa mới thành đạo cả, ngồi yên lặng bảy ngày, từ thiền định đứng dậy du hành và hiện ngồi nơi gốc cây kia, chưa có người dâng cúng, hai ông bạn nên đem lương khô, mật dâng cúng để được an lạc nhiều đời.”
Mọi người đều hoan hỷ trộn mật với lương khô31 đem đến để cúng. Từ xa thấy đức Thế Tôn ngồi dưới tàng cây, dung nhan đỉnh đặc, các căn tịch định, có ba mươi hai tướng của đại nhân, ánh sáng tỏa vòng quanh một tầm, giống như núi vàng, họ đến trước mặt, kính lễ sát chân Phật rồi dâng cúng lương khô trộn với mật. Đức Thế Tôn khởi ý nghĩ: “Các đức Phật quá khứ đều dùng bình bát để thọ, các đức Phật đương lai cũng lại như vậy. Nay ta cũng nên dùng bát để thọ nhận thức ăn cúng dường.” Tứ thiên vương biết ý Phật, mỗi người tự lấy một cái bát bằng đá sạch có mùi thơm tự nhiên đem đến dâng đức Thế Tôn, bạch rằng:
“Cúi xin Ngài nhận lấy đồ đựng này của chúng con để thọ vật dâng cúng của người lái buôn.”
Đức Phật lại suy nghĩ: “Nếu lấy một cái bát của một Thiên vương thì mấy vị kia không bằng lòng.” Ngài bèn lấy cả bốn cái để vào trong bàn tay bên tả, dùng tay bên hữu ép lại thành một cái, nhận lấy vật dâng cúng. Thọ rồi Ngài nói:
“Các người nên quy y Phật, quy y Pháp.”
Họ liền thọ hai tự quy. Trong loài người, hai nhà buôn là người thọ hai tự quy y đầu tiên.32 Ngài nói pháp tùy hỷ, chú nguyện bằng bài kệ:
[103b01] Hai chân, ngươi an ổn
Bốn chân cũng an ổn
Đi cũng được an ổn
Về cũng được an ổn
Như người cày cầu mong
Gieo giống niềm hy vọng
Người vào biển hy vọng
Thu hoạch như người cày.33
Đức Thế Tôn nói bài kệ này rồi lại vì khách buôn nói các diệu pháp, chỉ dạy lợi ích để họ vui mừng.34 Sau đó, Ngài đến ngồi dưới bóng cây dùng thức ăn mà Ngài đã thọ nhận. Dùng lương khô trộn mật xong, Ngài lại ngồi kiết già nhập định bảy ngày thọ sự vui trong giải thoát. Sau bảy ngày, đến chỗ trú ngụ của con rồng Văn-lân,35 ngồi dưới bóng cây. Con rồng ra khỏi nước dùng thức ăn không phải của loài người dâng lên đức Thế Tôn. Đức Phật nhận và thọ thực rồi lại ngồi nhập định bảy ngày, thọ sự vui giải thoát. Khi ấy bầu trời dày đặc mây đen, mưa suốt bảy ngày, khiến người hoảng sợ. Con rồng khởi ý niệm: “Nay trời mưa đáng sợ, ta nên biến hoá làm thành thân lớn vây quanh đức Phật bảy vòng, lấy đầu che trên đức Phật để khỏi mưa gió mòng muỗi quấy rầy Ngài.” Nghĩ xong, rồng liền thực hiện.
Bảy ngày qua rồi, đức Thế Tôn từ tam-muội đứng dậy. Rồng thấy tạnh mưa, vòm trời trong sáng, xả bỏ thân hình lớn kia, biến làm thiếu niên, cúi đầu bạch Phật:
“Con hoá thân lớn, vây quanh bảy vòng, đầu che trên đức Phật, muốn cho gió mưa mòng muỗi đừng xúc não đến Như Lai.”
Vì lý do đó đức Phật nói bài kệ:
Viễn ly, yên tịnh, vui
Nghe pháp, thấy pháp, vui
Không não hại đời, vui
Thương xót chúng sanh, vui
Ở đời ly dục, vui
Vượt hết ân ái, vui
Người dẹp được ngã mạn
Đó là vui tối thượng.
5. Hai Quy y
Đức Phật nói kệ rồi, đứng dậy đến thôn (tụ lạc) Uất-tỳ-la Tư-na, vào thôn khất thực, sau đó đến nhà của Bà-la-môn Tư-na, đứng im lặng bên ngoài cửa, có người nữ tên là Tu-xà-đà,36 thấy oai tướng thần diệu của đức Phật, đến trước mặt, lấy bình bát của đức Phật đựng đầy thức ăn ngon bổ, dâng cúng đức Thế Tôn. Đức Phật thọ thực rồi nói:
“Ngươi có thể quy y Phật, quy y Pháp.”
Tu-xà-đà liền thọ hai tự quy. Trong số người nữ, Tu-xà-đà là người đầu tiên thọ hai tự quy, làm người Ưu-bà-di. Đức Phật thọ thực rồi, trở lại dưới cây Bồ-đề, ngồi kiết già, nhập định bảy ngày thọ cái vui giải thoát. Sau bảy ngày, từ tam-muội đứng dậy, mặc y bưng bát trở lại nhà ấy. Tư-na dâng thức ăn rồi thọ hai tự qui [103c01] (như trên đã nói). Sau đó, đức Phật lại đến nhà ấy, người vợ thấy đức Phật, dâng thức ăn, rồi thọ hai tự quy như trước. Sau đó đức Phật đến lần nữa, bốn chị em của nhà kia thấy Phật, dâng thức ăn, thọ hai tự quy (cũng như trước). Đức Phật thọ thực xong, lại trở về dưới cây Bồ-đề, ngồi nhập định bảy ngày. Khi xuất định, Ngài hướng đến cây A-dự-ba-la ni-câu-loại,37 giữa đường thấy một người nữ đang khuấy cao sữa (lạc) để làm váng sữa (tô), bèn đến khất thực, người nữ kia lấy bát đựng đầy cao sữa cúng Phật, rồi thọ hai tự quy như trước.
6. Phạm thiên khuyến thỉnh
Đức Phật thọ thực rồi đến gốc cây phía trước ngồi nhập định bảy ngày. Qua bảy ngày rồi, xuất định, khởi ý niệm: “Pháp Ta chứng được rất là vi diệu, khó rõ, khó thấy, tịch mịch vô vi, chỉ có người trí mới biết chỗ vi diệu ấy, kẻ ngu chẳng thể hiểu được. Chúng sanh lại ưa ở trong nhà hầm38 ba cõi, kết dệt thành cái nghiệp chướng, làm sao có thể ngộ đạo mười hai nhơn duyên thậm thâm vi diệu khó thấy này. Hơn nữa, phải dứt tất cả hành, cắt đứt các dòng chảy, tận diệt nguồn ân ái, đắc Vô dư Nê-hoàn. Quả thật là điều rất khó. Nếu Ta đem nói ra thì tự chuốt lấy sự vất vả, nhọc nhằn, cuối cùng không ích gì!” Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn nói rõ lý do vì sao không nói pháp, bằng bài kệ:
Đạo Ta thành rất khó
Nói cho người ở hang
Nghịch dòng xoay sanh tử
Pháp màu sâu khó hiểu
Bị nhiễm dục phủ che
Ngu ám không thấy được
Người tham nhuế ngu si
Không thể vào pháp này.39
Do vậy đức Thế Tôn im lặng trầm tư không nói pháp. Lúc ấy trời Phạm thiên40 ở trên cõi Phạm thiên, từ xa biết được ý của đức Phật, khởi ý niệm: “Nay đức Phật chánh giác xuất hiện ở đời, mà không vì chúng sanh nói pháp tự thân đã chứng ngộ thì thế gian mãi ở trong tăm tối, sau khi chết họ phải đọa vào 3 đường dữ.” Nghĩ như vậy rồi như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, trong chớp nhoáng biến dạng nơi cõi Phạm thiên, xuất hiện trước đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Cúi xin đức Thế Tôn thương xót chúng sanh, vì họ nói pháp. Vẫn có chúng sanh đủ khả năng lãnh thọ lời Phật dạy. Nếu họ không được nghe pháp sẽ bị thối đọa.”
Ba lần thưa thỉnh như vậy, trời Phạm thiên lại dùng nghĩa này nói kệ thỉnh Phật:
Trước đây Ma-Kiệt41 này
Thường nói pháp tạp uế42
Nguyện mở cửa cam lồ43
Diễn nói nghĩa thuần tịnh
Chính tôi ở Phạm cung
Đều thấy Phật xưa nói
[104a01] Cúi xin Phật44 hiện nay
Cũng mở Pháp đường dạy
Chúng sanh đầy ưu não
Không lìa sanh lão tử
Song đa phần ưa thiện
Xin nói pháp chiến thắng.
Lúc ấy, đức Thế Tôn im lặng nhận lời, rồi dùng Phật nhãn xem khắp thế gian, thấy chúng sanh căn cơ lợi độn, có người sợ đời sau đọa trong ba đường dữ, có người có khả năng thọ pháp như biển cả, có người như bản chất hoa sen ở trong bùn, ra khỏi nước hay chưa ra khỏi nước đều manh nha cái không ô nhiễm. Đức Phật nói kệ:
Trước sợ huống nhọc nhằn
Không nói nghĩa thâm sâu.45
Lối cam lồ nay mở
Tất cả đều nên nghe.
Bấy giờ, trời Phạm thiên nghe bài kệ vui mừng vô hạn, đến trước Phật kính lễ sát chân, đi quanh bên hữu ba vòng, bỗng nhiên mất bóng, trở về thiên cung. Đức Phật lại nghĩ: “Lối cam lồ sẽ mở, ai là người được nghe trước? Uất-đầu-lam-phất46 thông minh dễ lãnh hội. Người này nên được nghe trước.” Phật nghĩ như vậy rồi, sắp sửa muốn đi thì trên không trung chư thiên thưa:
“Uất-đầu-lam-phất qua đời trước đây bảy ngày.”
Đức Phật nói:
“Khổ thay cho ông ta bị suy thối lâu dài. Tại sao không được nghe trống pháp cam lồ?!”
Đức Phật lại nghĩ: “Lối cam lồ sẽ mở, theo thứ tự ai là người được nghe? A-lan-ca-lan47 thông minh dễ lãnh hội, đây là người kế tiếp nên được nghe.” Đức Phật vừa muốn đi, chư thiên lại nói:
“A-lan-ca-lan vừa mới qua đời đêm rồi.”
Đức Phật nói:
“Khổ thật! Cam lồ pháp cổ mà không được nghe, sanh tử tới lui do đâu được chấm dứt?!”
Đức Phật lại suy nghĩ: “Lối cam lồ sẽ mở, ai là người tiếp theo sẽ được nghe trước? Xưa kia phụ vương sai năm người theo hầu ta khổ cực, công đức ấy ta nên đền trả. Năm người đó hiện nay đang ở nước Ba-la-nại trong vườn Nai Tiên nhơn.”48 Đức Phật nghĩ như vậy rồi đi liền. Trên lộ trình, giữa đường Ngài gặp Phạm-chí tên là Ưu-bà-kỳ-bà.49 Từ xa trông thấy đức Thế Tôn dung nhan đỉnh đặc, các căn tịch định, ánh sáng toả ra một tầm, giống như núi vàng. Phạm-chí bèn hỏi: “Ngài thờ thầy nào? Ngài hành theo đạo pháp nào mà được tôn quí như thế?”
Khi ấy đức Thế Tôn dùng kệ trả lời:
Tất cả trí là hơn
Không lụy không bị nhiễm
Không thầy, Ta tự tu
Tự nhiên thông Thánh đạo
Duy nhất không gì bằng
Khiến đời được an ẩn
Sẽ ở Ba-la-nại
Đánh trống pháp cam lồ.50
Phạm-chí lại hỏi:
“Ngài tự nói là tối thắng,51 xin được nghe nghĩa ấy.”
Đức Phật lại dùng kệ trả lời:
[104b01] Hay trừ hết ràng buộc
Diệt lậu hoặc ba cõi
Phá tan các ác pháp
Do vậy Ta tối thắng.52
Phạm-chí không chấp nhận, vỗ bắp vế ra đi. Vị Thiên thần bạn đời trước của Phạm-chí từ trên không liền nói kệ:
Phật vừa mới ra đời
Bậc tôn kính thế gian
Tại sao bạn gặp được
Lại bỏ mà ra đi?!
B. Sơ chuyển Pháp luân
1. Trung đạo
Vị Phạm-chí tuy nghe bài kệ, vẫn bỏ đi không ngó lại. Lúc ấy đức Thế Tôn hướng đến Ba-la-nại, nơi chỗ ở của năm người. Năm người từ xa thấy đức Phật đến, cùng dặn nhau rằng:
“Sa-môn Cù-Đàm trước kia ăn một ngày một hột mè, một hột thóc còn không đắc đạo, nay nhiều ham muốn, nên cách đạo càng xa, chúng ta chỉ đặt một chiếc ghế nhỏ để ông ta ngồi và đừng nên đứng dậy nghinh đón lễ bái hỏi chào.”
Nhưng khi đức Thế Tôn đến, năm người đã tự động đứng đậy kính lễ, rước y bát trãi chỗ ngồi tốt, lấy nước rửa chân, song vẫn còn coi thường Như Lai nên chỉ gọi tánh danh53… của Ngài để mời ngồi. Đức Phật bảo năm người:
“Các người là kẻ ngu si dặn nhau thế nào mà sao tự huỷ bỏ. Các người chớ nên đối với Phật mà khinh gọi bằng tánh danh, để rồi phải thọ khổ báo nhiều kiếp. Ta nay đã thành Vô thượng chánh giác, nên phải cùng nhau nhất tâm lãnh thọ lời dạy. Nếu các người tuỳ thuận không chống trái thì không bao lâu sẽ được tộc tánh xuất gia, tịnh tu phạm hạnh, hiện chứng đạo quả, sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, hiểu rõ năm ấm, an hưởng Nê-hòan.”
Năm người lại nói:
“Trước đây ông đã tu những khổ hạnh khó tu mà còn không đắc cái pháp vượt hơn người, đầy đủ lợi ích của bậc Thánh, huống là nay bỏ đạo, sống theo ý muốn đa dục, pháp vượt hơn người làm sao có được?”
Đức Phật lại bảo:
“Các ngươi đừng khinh đức Như Lai bậc Vô thượng chánh giác. Phật không mất đạo cũng không đa dục.”
Năm người nghe rồi mới bỏ ý nghĩ cũ. Đức Phật lại bảo:
“Đời có hai cực đoan54 không nên thân cận, một là tham đắm ái dục, nói dục là không có tội lỗi, hai là tà kiến khổ hình không hề có dấu vết của đạo. Xả bỏ hai cực đoan đó thì được Trung đạo, phát sinh con mắt trí sáng suốt giác ngộ hướng đến Niết-hoàn.55 Thế nào gọi là Trung đạo? Trung đạo là tám sự chân chánh: 56 Chánh kiến, Chánh tư, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh phương tiện, Chánh niệm, Chánh định. Như vậy gọi là Trung đạo.”
2. Chuyển Pháp luân kinh
“Lại có bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế và Khổ diệt đạo thánh đế.
Thế nào là Khổ thánh đế? [104c01] Nghĩa là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, sầu ưu bi là khổ, oán ghét gặp nhau khổ, yêu thương chia lìa khổ, mong cầu không được khổ. Nói một cách gọn: Năm ấm xí thạnh là khổ.57 Như vậy là Khổ thánh đế.
Thế nào là Khổ tập thánh đế? Nghĩa là hữu ái và câu sanh phiền não,58 ưa thích đắm trước khắp nơi. Như vậy gọi là khổ tập thánh đế.
Thế nào là Khổ diệt thánh đế? Nghĩa là trạng thái vắng lặng sau khi đoạn hết ái.59 Như vậy gọi là Khổ diệt thánh đế.
Thế nào là Khổ diệt đạo thánh đế? Nghĩa là tám con đường chánh.60 Như vậy gọi là Khổ diệt đạo thánh đế.
Đó là pháp mà trước đây Ta chưa từng nghe. Nhãn sanh, trí sanh, minh sanh, giác sanh, thông sanh, tuệ sanh,61 pháp như vậy nên biết. Trước đây Ta chưa từng nghe nhãn sanh cho đến tuệ sanh, pháp như vậy Ta đã biết.
Trước đây Ta chưa từng nghe nhãn sanh cho đến tuệ sanh là Khổ thánh đế. Khổ thánh đế như vậy nên biết, khổ thánh đế như vậy Ta đã biết.
Trước đây Ta chưa từng nghe nhãn sanh cho đến tuệ sanh là Khổ tập thánh đế. Khổ tập thánh đế như vậy nên đoạn, Khổ tập thánh đế như vậy Ta đã đoạn.
Trước đây Ta chưa từng nghe nhãn sanh cho đến tuệ sanh là Khổ diệt thánh đế. Khổ diệt thánh đế như vậy nên chứng, Khổ diệt thánh đế như vậy Ta đã chứng.
Trước đây Ta chưa từng nghe nhãn sanh cho đến tuệ sanh là Khổ diệt đạo thánh đế. Khổ diệt đạo thánh đế như vậy nên tu, Khổ diệt đạo thánh đế như vậy Ta đã tu.
Trước đây Ta chưa từng nghe nhãn sanh cho đến tuệ sanh, Ta đã biết như thật, đó là ba lần chuyển mười hai hành pháp luân đặng thành Vô thượng chánh giác.”
Khi Phật nói pháp này, quả đất sáu lần rung chuyển, Kiều-trần-như xa trần lìa cấu, ở trong các pháp đặng con mắt pháp trong sạch.62 Đức Phật hỏi ông Kiểu-trần-như:
“Ông hiểu chưa? Ông hiểu chưa?”63
Ông Kiều-trần-như trả lời:
“Bạch đức Thế Tôn, con đã hiểu.”
Vị Địa thần nghe rồi báo lên thần Hư không; thần Hư không báo lên trời Tứ thiên vương; trời Tứ thiên vương báo lên trời Đao-lợi; như vậy lần lượt báo đến trời Phạm thiên rằng:
“Nay đức Phật ở nơi Ba-la-nại chuyển bánh xe pháp Vô thượng, trước đây chưa từng được chuyển. Sa-môn, Bà-La-Môn, trời, ma, Phạm, tất cả thế gian chưa hề ai chuyển.”
Chư thiên [105a01] hoan hỷ mưa xuống các loại hoa, đều có ánh sáng như các ngôi sao rơi xuống đất. Trong hư không nhạc trời trổi lên. Lúc ấy Kiều-trần-như từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn, xin cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật nói: “Hãy đến đây, Tỳ-kheo!64 Thọ giới Cụ túc, ở trong pháp luật khéo nói của Ta có thể hết tất cả khổ, tịnh tu phạm hạnh.”
Kiều-trần-như râu tóc tự rơi xuống, cà-sa mặc vào thân, bình bát bưng nơi tay. Như vậy là Kiều-trần-như đã được xuất gia thọ giới Cụ túc. Từ đây về sau gọi là A-nhã Kiều-trần-như.65
Đức Phật lại vì bốn người kia nói pháp giáo giới. Bạt-đề, Bà-phả66 hai người đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả. Thấy pháp đắc quả rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phật, bạch rằng:
“Kính bạch đức Thế Tôn nguyện cho chúng con được xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật nói: “Hãy đến đây, Tỳ-kheo…” Cho đến câu: Bình bát bưng nơi tay (như trên đã nói).
Đức Phật lại vì hai người nữa nói pháp giáo giới, Át-bệ và Ma-ha-nạp67 đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả. Thấy pháp đắc quả rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy kính lễ sát chân Phật bạch rằng:
“Kính bạch đức Thế Tôn, cho chúng con được xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Phật nói:
“Hãy đến đây, Tỳ-kheo…” Cho đến câu: Bình bát bưng nơi tay (như trên đã nói).
3. Vô ngã tướng kinh
Đức Phật bảo năm Tỳ-kheo:
“Các ông một lòng cầu chánh đoạn phiền não, trước đây Ta cũng một lòng cầu chánh đoạn phiền não nên được thành Vô thượng chánh giác. Các ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay là vô thường?”
Thưa: “Sắc là vô thường.”
Lại hỏi: “Nếu là vô thường thì khổ hay vui?”
Thưa: “Là khổ.”
Lại hỏi:
“Nếu là khổ thì ngã hay phi ngã?”
Thưa: “Là phi ngã.”
Thọ, tưởng, hành, thức cũng hỏi như vậy, đáp cũng như trên.
“Do đó, này các Tỳ-kheo! Sắc dù trong, dù ngoài, dù quá khứ, vị lai, hiện tại đều nên thấy đúng như thật là phi ngã. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Là Thánh đệ tử68 nên quán như vậy, nhàm chán, yểm ly không nhiễm trước thì được giải thoát, được trí giải thoát, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm.”
Khi nói pháp như vậy, năm Tỳ-kheo đều dứt hết lậu hoặc, đắc A-la-hán đạo. Bấy giờ trong thế gian có sáu vị A-la-hán.
4. Thiện lai Tỳ-kheo
Lại có con ông Trưởng giả69 tên là Da-xá,70 bản tánh hiền thiện, nhàm chán muốn xa lìa thế gian, ưa thích nghe pháp. Đức Thế Tôn khởi ý niệm: “Da-xá, con ông Trưởng giả kia sẽ có lòng tin xuất gia.” Đức Thế Tôn bèn đến bên dòng sông Bà-la,71 trải cỏ nghỉ lại đêm. Khi ấy, con ông Trưởng giả thưởng thức năm dục rồi, tạm thời ngủ, tất cả kỹ nữ cũng đều nằm ngủ. Trong giây lát con ông Trưởng giả thức dậy [105b01] thấy nhà cửa mình như bải tha ma, xem các kỹ nữ đều như người gỗ. Họ gối lên nhau mà ngủ, nước mũi, nước dãi từ trong miệng chảy ra. Đàn cầm, đàn sắt, ống tiếu, ống sáo, đồ đạc ngỗn ngang, rất là đáng sợ, sanh lòng nhàm chán muốn xa lìa, bèn chạy đến chỗ cha ở cũng thấy như vậy, càng sanh nhàm chán muốn xa lìa, liền hướng đến cửa hông, cửa tự nhiên mở, hướng đến cửa cái và cửa của đại thành cũng đều tự nhiên mở. Ông đi quanh đến bên dòng sông Bà-la, cao giọng kêu lớn:
“Nay tôi sầu khổ, không có chỗ nương tựa!!!”
Bấy giờ, đức Thế Tôn duỗi cánh tay sắc vàng vẫy gọi:
“Này đồng tử, hãy đến đây! Đây là chỗ yên lặng không có sầu khổ!”
Da-xá nghe tiếng nói của Phật, tất cả sầu khổ bỗng nhiên biến mất, bèn cỡi đôi giày bằng lưu ly đang mang để nơi bờ sông, lội qua, đến chỗ đức Phật. Từ xa thấy đức Thế Tôn nhan sắc thù đặc, như núi vàng ròng, Da-xá sanh tâm hoan hỷ, đến nơi, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì Da-xá nói các pháp vi diệu, chỉ dạy sự lợi ích khiến Da-xá vui mừng. Kế đó, Phật nói tứ đế: Khổ, tập, diệt, đạo. Da-xá liền từ chỗ ngồi xa trần lìa cấu, đắc con mắt pháp trong sạch.
Sau đó bọn kỹ nữ thức dậy, cùng nhau tìm kiếm Da-xá, không biết ở đâu, đến báo cáo với cha mẹ của Da-xá. Cha mẹ ông bao vây tìm kiếm khắp nơi, rồi rao truyền cho mọi người rằng:
“Ai biết con tôi ở đâu, tôi sẽ dùng chiếc áo quí giá đang mặc trong mình biếu cho.”
Trong đêm, cha của Da-xá đến nơi cửa thành đợi cửa thành mở mới ra được, thấy dấu giày, bèn truy tầm theo. Khi đến bên bờ sông thấy đôi giày lưu ly để nơi bờ, vừa mừng, vừa lo, liền bỏ đôi giày, lội qua sông.
5. Ba quy y – năm giới
Đức Phật từ xa trông thấy, sợ trở ngại thiện tâm của người con, phương tiện làm cho con thấy cha mà cha không thấy con. Người cha hỏi đức Phật:
“Sa-môn có thấy con của tôi hay không?”
Đức Phật nói:
“Nên ngồi nghỉ đã, nếu có nơi đây thì lo gì không thấy.”
Nghe câu nói ấy, người cha nghĩ: “Chắc Sa-môn không nói dối.” Người cha liền đến kính lễ sát chân Phật rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì ông nói các pháp mầu dạy bảo sự lợi ích, khiến ông vui mừng. Các pháp mà đức Phật đã nói đó là luận về bố thí, luận về trì giới, luận về sanh thiên, và nói ngũ dục là tội lỗi, sản sanh các lậu hoặc, tại gia là nhiễm ô, xuất gia là không vướng mắc. Đức Phật nói các pháp trợ Bồ-đề đạo, rồi kế đó nói các pháp mà chư Phật thường nói là khổ, tập, tận, đạo. Ông ta liền từ chỗ ngồi xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả. Thấy pháp đắc quả rồi thọ ba tự quy, kế tiếp thọ năm giới. Trong chúng Ưu-bà-tắc, cha Da-xá là người đầu tiên thọ tam quy, ngũ giới. Da-xá nghe đức Phật vì cha mình nói pháp bốn chân đế, lậu hoặc hết, tâm ý liễu giải.72 Sau đó đức Phật khiến cho cha con hai bên thấy nhau. [105c01] Người cha nói với con:
“Con nên về lại nhà. Mẹ của con bị mất con ưu sầu muốn chết!”
Đức Phật nói với người cha rằng:
“Nếu người nào đã giải thoát khỏi lậu hoặc thì có thể trở về để thọ dục hay không?”
Người cha trả lời:
“Không thể.”
Đức Phật dạy:
“Khi Ta vì ông nói pháp, Da-xá quán các pháp lậu hoặc hết, tâm được giải thoát.”
Người cha bạch Phật rằng:
“Thế Tôn vì con nói pháp mà khiến cho Da-xá thu hoạch được thiện lợi.”
Khi ấy, Da-xá từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch Phật rằng:
“Kính bạch đức Thế Tôn, cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật dạy:
“Hãy đến đây, Tỳ-kheo!…” Cho đến câu: Bình bát bưng nơi tay (như trên). Bấy giờ trong thế gian có bảy vị A-la-hán.
Khi ấy, cha Da-xá từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phật, bạch Phật rằng:
“Cúi xin đức Thế Tôn cùng Da-xá nhận bữa cúng dường vào ngày mai tại nhà con.”
Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng. Ông ta đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu ba vòng rồi cáo lui.
Sau khi trở lại nhà, ông cho sửa soạn đầy đủ món ăn thức uống mỹ vị. Đến giờ, đức Phật cùng Da-xá đắp y bưng bát đến nhà, an tọa nơi tòa. Vợ chồng Trưởng giả tự tay sớt thức ăn, ăn rồi Phật dùng nước uống và rửa tay xong. Bà ta lấy chiếc ghế nhỏ ngồi trước Phật. Đức Phật nói:
“Này cô! Cô nên quy y Phật, quy y pháp, quy y Tỳ-kheo Tăng.”
Vợ ông Trưởng giả liền thọ ba quy y và kế đó thọ năm giới. Như vậy vợ ông Trưởng giả, mẹ Da-xá là người nữ đầu tiên thọ ba tự quy và năm giới.
Bấy giờ, đức Thế Tôn vì mẹ Da-xá và cả nhà lớn nhỏ, nói các diệu pháp, giảng dạy sự lợi ích, khiến mọi người vui mừng. Tất cả đều xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả. Thấy pháp đắc quả rồi, họ đều thọ ba tự quy và năm giới.
6. Những người bạn
Bấy giờ, Da-xá có bốn người bạn, một tên là Mãn Túc, hai tên là Thiện Bác, ba tên là Ly Cấu, bốn tên là Ngưu Chủ,73 khi nghe Da-xá xuất gia tu phạm hạnh nơi Sa-môn Cù-đàm, họ cùng bàn:
“Đạo này chắc là hơn hết nên khiến cho kẻ hào tộc không đoái hoài đến địa vị vinh hoa của đời. Chúng ta có thể cùng đến chỗ đại Sa-môn để tu phạm hạnh.”
Bốn người bèn đến chỗ Da-xá, với tâm ý mộ đạo, hỏi:
“Nơi mà bạn tu phạm hạnh, có khả năng đầy đủ cho sự tối thắng hay không?”
Da-xá đáp:
“Đạo này là vô lượng tối thắng.”
Da-xá bèn dẫn bốn người đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi qua một bên. Đức Phật vì họ nói các pháp nhiệm mầu, chỉ dạy sự lợi ích, khiến họ vui mừng. Cả bốn người từ nơi chỗ ngồi, họ đều xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả. Thấy pháp đắc quả rồi, đảnh lễ sát chân Phật, bạch:
“Cúi xin đức Thế Tôn, cho chúng con xuất gia thọ Cụ túc giới.”
Đức Phật nói:
“Hãy đến đây, các Tỳ-kheo!…” Cho đến câu: Bình bát bưng nơi tay [106a01] (như trên). Thọ giới chưa bao lâu, siêng tu không biếng nhác, họ đắc quả A-la-hán. Lúc ấy trong thế gian có mười một vị A-la-hán.
Trước kia Da-xá lại có giao du với năm mươi người bạn, họ nghe Da-xá xuất gia tu phạm hạnh với Cù-Đàm, cùng nhau bàn tính rồi đi xuất gia… Cho đến đắc quả A-la-hán (như trên). Bấy giờ trên thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán.
Ông thầy tướng A-di biết Bồ-tát thành Phật, sẽ chuyển bánh xe pháp trong vườn Nai Tiên nhơn, nước Ba-la-nại. Ông ta lại nghĩ: “Sau khi ta qua đời, trong các đệ tử của ta, Na-la-ma-nạp sẽ kế thừa ta, các phẩm vật cúng dường ta sẽ thuộc về hắn. Chắc hắn tham đắm không lưu ý mà nhớ đến việc đức Phật ra đời. Nay ta nên đến bên vườn Nai cất nhà ở, giáo dục hắn mỗi ngày ba lần nhớ đến việc đức Phật sẽ ra đời và dặn: ‘Nếu khi Phật xuất thế, con nên đến tu phạm hạnh với Ngài.” Nghĩ xong liền thực hiện và giáo dục đệ tử như ý niệm. Không bao lâu A-di qua đời, quả thực Na-la nhận được vật cúng dường, tâm tham đắm sâu đậm, không hề nghĩ đến việc đức Phật sẽ ra đời.
7. Long vương Y-bát-la
Khi ấy Long vương Y-la-bát74 có những suy nghĩ: “Xưa kia đức Phật Ca-diếp có huyền ký với Ta: Đời đương lai sau trăm ngàn vạn ức năm, đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuất hiện ở đời, Ngài sẽ huyền ký cho ngươi về thời gian thoát khỏi thân rồng.” Nay chính là lúc ta nên đến để gặp đức Phật. Con rồng kia vì cần gặp Phật cho nên trong sáu ngày chay, thường ở trong sông Hằng dùng bát bằng vàng đựng đầy thóc bằng bạc, dùng bát bằng bạc đựng đầy thóc bằng vàng, lại trang sức lộng lẫy cho hai người con gái,75 mà nói bài kệ:
Vua nào trên các vua?
Nhiễm, không nhiễm là sao?
Làm sao được vô cấu?
Người nào gọi là ngu?
Người nào bị nước cuốn?
Được gì gọi là trí?
Làm sao dòng không chảy?
Để gọi là giải thoát?76
Long vương nói kệ xong lại nghĩ rằng: “Nếu ai có thể giải được bài kệ này tức là Phật, nếu ai nghe từ đức Phật thì họ sẽ chỉ cho ta chỗ Phật ở. Nay ta không thấy có Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma, Phạm, tất cả trong thế gian có ai giải được bài kệ này.” Nghĩ như vậy rồi liền rao truyền:
“Nếu ai có thể giải được bài kệ này tôi sẽ biếu cho bát bằng vàng, bạc đựng thóc bằng bạc, vàng và hai ngươi con gái này.”
Bấy giờ có quá nhiều Sa-môn, Bà-la-môn, Trưởng giả, cư sĩ tranh nhau muốn giải bài kệ của Long vương. Nhưng Long vương nói kệ không ai giải được. Bấy giờ Ma-nạp Na-la77 là người được nhân dân nước Ma-kiệt tôn kính. [106b01] Mọi người nói:
“Ma-nạp này có tri kiến lớn, chắc có thể giải được, bèn cùng đến yêu cầu.”
Ma-nạp suy nghĩ rằng: “Ta được cả nước tôn kính, nếu nói không giải được thì bị mọi người bỏ rơi. Tuy ta chưa giải được nhưng tạo phương tiện để bảo tồn danh dự, nên trả lời:
“Mọi người cùng tôi đến chỗ Long vương, tôi sẽ giải cho.”
Thế là mọi người cung kính Ma-nạp vây quanh cùng đến chỗ Long vương nói:
“Long vương nói bài kệ, tôi sẽ giải đáp cho.”
Long vương liền nói kệ. Ma-nạp nói:
“Bài kệ này rất dễ hiểu, sau bảy ngày tôi sẽ giải đáp.”
Ma-nạp bèn đọc thuộc bài kệ, rồi trước hết đem đến hỏi Sa-môn, Bà-la-môn, Lục sư Bất-la Ca-diếp,78 v.v… Tất cả đều không ai giải được, họ đều cáu gắt mắng là dối trá, quỷ quyệt hoặc nói là vô nghĩa, muốn dùng thủ đoạn dấu bớt chữ để không giải được. Ma-nạp lại nghĩ: “Xưa kia, thầy ta bảo ta: Phật sẽ xuất thế nên đến đó để tu phạm hạnh. Nay Sa-môn Cù-đàm ở nơi vườn Nai, chắc có thể giải được, ta nên đến hỏi.” Nhưng Ma-nạp lại nghĩ: “Lục sư là hạng thâm niên, bác học còn chưa giải được huống là Sa-môn Cù-đàm tuổi nhỏ, mới xuất gia làm sao giải được!” Tuy vậy, Ma-nạp lại suy luận: “Thông minh hay ngu tối là điều tự nhiên, không thể dựa vào tuổi tác, Cù-đàm tuy nhỏ nhưng không thể khinh được.” Nghĩ rồi đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân rồi đứng qua một bên, nói bài kệ của Long vương để hỏi đức Phật. Đức Phật liền dùng kệ trả lời:
Thứ sáu79 vua trên hết
Nhiễm thì đồng với nhiễm.80
Không nhiễm là không cấu
Người nhiễm gọi là ngu81
Người ngu bị nước cuốn
Người dứt được là trí82
Bỏ dòng không trở lại
Như thế là giải thoát.
Ma-nạp nghe nói bài kệ khẳng định đây là trí thậm thâm của Phật, liền tụng tập thọ trì. Ngày thứ bảy đến chỗ Long vương, khi ấy tám mươi bốn nghìn người tụ tập hai bên bờ sông Hằng để nghe Ma-nạp giảng nói nghĩa bài kệ. Ma-nạp nói với Long vương:
“Ngươi nói bài kệ của ngươi trước.”
Long Vương đọc bài kệ. Ma-nạp liền nói bài kệ đã được nghe nơi đức Phật để giảng giải. Long vương nghe bài kệ hoan hỷ vô cùng, nghĩ rằng: “Phật đã ra đời, nay ta nhờ vấn đề này mà được thấy Phật, vì sao vậy? Ta không thấy có Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma, Phạm, tất cả trong thế gian này có thể giải được nghĩa này. Nghĩ như vậy rồi, hỏi Ma-nạp:
“Ông nên nói thật với tôi. Bài kệ ông vừa nói là ông nghe từ ai? Vì hiện nay tôi chưa thấy Sa-môn, Bà-la-môn tất cả thế gian người nào có thể nói bài kệ này,[106c01] chỉ trừ đức Phật. Ông nghe từ đức Phật phải không?”
Ma-nạp nói:
“Tôi xin nói thật với ông, đức Phật đã xuất thế, tôi nghe từ Ngài.”
Long vương vui mừng hỏi:
“Nay đức Phật ở đâu, tôi muốn yết kiến Ngài.”
Ma-nạp quì gối đưa tay mặt chỉ về hướng đức Phật ở, nói:
“Hiện nay đức Phật ở đó.”
Long vương càng thêm vui mừng, ba lần xưng tán:
“Nam mô Như Lai Ứng cúng đẳng chánh giác.”
Long vương nói với Ma-nạp:
“Ông có thể đưa tôi đến chỗ Phật để thăm hỏi đức Thế Tôn được không?”
“Được”, Ma-nạp trả lời. Long vương liền hiện lại thân hình, thân thể dài lớn, con mắt như cái bình bát to, hơi thở như sấm, miệng tuôn ra hoả quang, ngược dòng nước mà đi. Tám mươi bốn nghìn người cũng đi theo. Khi đến nơi bãi nhỏ, Long vương lại hóa làm Chuyển luân thánh vương lên bờ đến chỗ đức Phật. Từ xa thấy đức Thế Tôn dung mạo đặc thù giống như núi vàng. Long vương hoan hỷ, càng tăng thêm lòng kính trọng vô lượng. Đức Phật thấy Long vương liền gọi tên:
“Long vương Y-la-bát, hãy đến đây!”
Long vương nghe lại thêm vui mừng kính trọng, nghĩ: “Đức Thế Tôn biết tên ta! Tu-già-đà biết tên ta!” Long vương đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng lui qua một bên, nói bài kệ đó để thưa hỏi đức Phật. Đức Phật nói lại bài kệ như đã nói với Ma-nạp. Long vương nghe rồi, trước hết rất hoan hỷ, rồi sau lại buồn khóc.
Đức Phật hỏi Long vương:
“Tại sao chỉ trong chốc lát vui đó rồi lại buồn đó?”
Long vương thưa:
“Bạch đức Thế Tôn con nhớ đời quá khứ, con tịnh tu phạm hạnh chỗ đức Phật Ca-diếp. Thời gian sau, con cầm một cành hoa màu tím đến chỗ Phật Ca-diếp, hỏi: ‘Bạch Thế Tôn, nếu Tỳ-kheo làm cho cành hoa này chết thì mắc những tội gì?’ Phật Ca-diếp nói: ‘Do nhân duyên này có thể đọa vào địa ngục rất khổ. Con nghe câu nói ấy không tin, không kính. Con lại đâm vào lá cây Y-la-bát83 với ý nghĩ: Thử xem có quả báo thế nào. Cuối cùng, con không bỏ ác kiến ấy cũng không sám hối và sau khi chết sanh vào trong loài rồng sống lâu. Do nghiệp ấy cho nên con mang tên là rồng Y-la-bát. Sau khi thọ thân rồng rồi, con trở lại hỏi đức Phật Ca-diếp: ‘Khi nào con sẽ thoát khỏi thân rồng này?’ Phật Ca-diếp nói: ‘Đời đương lai sau trăm ngàn vạn ức năm, có đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuất hiện ở đời, Ngài sẽ cho ngươi biết khi nào thoát khỏi thân rồng.’ Nay con đã thấy được đức Thế Tôn sanh tâm hy hữu, mới biết lời nói của chư Phật không hư dối, cho nên con vui mừng. Con lại nghĩ xưa kia do trái lời Phật dạy nay lại không thể thọ minh giới của Phật, cho nên con buồn khóc.”
Con rồng lại bạch Phật:
“Nguyện xin Thế Tôn cho con biết khi nào con thoát khỏi thân rồng này?”
Đức Phật dạy:
“Đời đương lai sau trăm ngàn ức vạn năm có đức Phật Di-lặc xuất hiện ở đời, khi ấy ngươi được thoát khỏi thân rồng, xuất gia thọ giới, [107a01] rộng tu phạm hạnh, dứt hết gốc khổ.”
Đức Phật cho rồng thọ ba tự quy làm Ưu-bà-tắc. Phật lại vì tám mươi bốn nghìn người nói các pháp vi diệu, chỉ dạy sự lợi ích, khiến cho họ vui mừng, như nói về pháp bố thí… Cho đến thoát ly là niềm vui. Họ đều hoan hỷ, Phật lại vì họ nói các pháp mà chư Phật thường nói là khổ, tập, tận, đạo. Tám mươi bốn nghìn người đều từ chỗ ngồi xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả, thấy pháp đắc quả rồi thọ ba tự quy, tiếp theo thọ năm giới.
Khi ấy Long vương nói với Ma-nạp rằng:
“Nay ông đâu cần gì đến Long nữ nữa? Long nữ nhiều sân nhuế, hoặc dùng lữa độc, làm hại cho nhau, tùy ông cần vàng bạc vật báu, tôi sẽ biếu hết cho ông.”
Ma-nạp nói:
“Thôi đi, Long vương! Tôi không cần Long nữ cũng không cần vàng bạc. Tôi nghe đức Phật nói bài kệ sau cùng được lìa ham muốn của cõi dục rồi.”
Đức Phật thuyết pháp xong, nói với Long vương:
“Ngươi có thể trở về chỗ ở.”
Long vương vâng lời đảnh lễ cáo lui.
Sau khi Long vương đi, Ma-nạp đến trước đức Phật, đảnh lễ sát chân, rồi bạch:
“Kính bạch đức Thế Tôn, nguyện cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật dạy:
“Hãy đến đây, Tỳ-kheo!…” Cho đến câu: Bình bát bưng nơi tay (như trước). Xuất gia chưa bao lâu, Ma-nạp siêng năng tu hành không biếng nhác, đặng quả A-la-hán. Bấy giờ trong thế gian có sáu mươi hai vị A-la-hán.84
Khi ấy đức Thế Tôn từ vườn Nai tuần tự du hoá đến rừng Ta-la,85 ngồi dưới tàng cây. Cách rừng không xa có một khu vườn để dạo chơi. Lúc đó, có ba mươi người86 đồng bạn đưa vợ đến trong vườn để vui choi. Trong số đó có một người chưa vợ, thuê một dâm nữ, cho mượn y phục tốt mặc, để đến vườn này vui chơi. Chuẩn bị cho cuộc chơi thoả thích, dâm nữ kia mặc đồ tốt thình lình chạy trốn thoát thân. Bọn thanh niên cùng nhau truy tầm, đến rừng Ta-la, từ xa trông thấy đức Thế Tôn nhan sắc, dung mạo đỉnh đặc, giống như núi vàng, sanh tâm hy hữu, họ cùng đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên và hỏi Phật:
“Đại Sa-môn có thấy một người nữ đến đây không?”
Đức Phật hỏi lại:
“Tự tìm mình và tìm một người khác, điều nào nên làm?”
Đoàn thanh niên thưa:
“Tự tìm lấy mình hơn là tìm người nữ.”
Đức Phật dạy:
“Các ngươi ngồi lại đây ta nói pháp cho nghe.”
Họ vâng lời kính lễ rồi ngồi. Đức Phật vì họ nói các pháp vi diệu chỉ dạy sự lợi ích khiến họ vui mừng… Cho đến câu: Khổ, tập, tận, đạo. Ba mươi người đều xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả. Thấy pháp đắc quả rồi, bạch Phật:
“Xin cho chúng con xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật dạy:
“Hãy đến đây, các Tỳ-kheo!…” Cho đến câu: Đắc quả A-la-hán, cũng như trên. Khi ấy, trong thế gian chín mươi hai vị A-la-hán.
Bấy giờ lại có [107b01] sáu mươi người làm việc hôn nhân đi qua rừng Ta-la, từ xa thấy đức Thế Tôn nhan sắc, dung mạo đỉnh đặc, giống như núi vàng, đến trước đức Phật đảnh lễ sát chân. Đức Phật vì họ nói pháp… Cho đến câu: Đắc quả A-la-hán, đều như trước. Bấy giờ trong thế gian có một trăm năm mươi hai vị A-la-hán.87
[1] Hán: Thọ giới pháp “受戒法” (T22n1421, tr. 101a12). Pāli: Mahākhandhaka, chương nói về thọ giới. Tứ phần 31 (tr. 779a06); Tăng-kỳ 23 (tr. 412b24); Thập tụng 21 (tr. 148a6);Căn bản xuất gia sự 1 (T23n1444, tr. 1020b17). Pāli, Mahāvagga, Vin. i. 1 ff.
2 Vương xá 王舍; Pāli: Rājagaha/ Skt. Rājagṛha. Còn gọi là La-duyệt thành 羅閱城; phiên âm đủ là La-duyệt-kỳ 羅閱祇; Thủ phủ nước Ma-kiệt-đà.
3 Tứ phần: “Từ xa xưa về trước, có vị vua đầu tiên xuất hiện trong đời, tên là Đại Nhân, được đại chúng suy cử.” Trường A-hàm 6, kinh số 5 “Tiểu duyên” (T01n01, tr. 38b21): “Bấy giờ đại chúng suy cử một người để giải quyết những tranh chấp; gọi là Bình đẳng chủ 平等主.” Cf. Trung A-hàm 39, kinh 154 “Bà-la-bà-đường”. Pāli, D. 27. Aggañña (D. iii. 92): Nhân dân suy cử một người phân xử, gọi là Mahāsammato. Họ gọi người này là rājā (vua). Đó là vị vua tối sơ xuất hiện trong thế gian.
4 Hiếu kính và thuận thảo nhau, nguyên Hán: Hiếu hữu 孝友.
5 Sông Kỳ-la 耆羅河. Phiên Phạn ngữ 9, T54n2130, tr. 1045a01: Sông Kỳ-la, dịch là sông uốn khúc.
6 Vua Ni-lâu là người con thứ tư của vị phu nhân kế của vua Uất-ma (thỉ tổ của dòng họ Thích theo Ngũ phần).
7 Danh sách các vị vua kể theo Mahāvastu (tr. 289): vua Mahāsammata (Đại Nhân 大人), Kalyāṇa (Thiện 善), Upoṣadha (Trai 齋), Māndhātṛ (Đảnh Sanh 頂生). Kể xuống nữa có vua Ikśvāku (Ý-sư-ma 懿師摩). Ikśvāku (Pāli: Okkāka) là ông tổ của dòng họ Thích. Xuống nữa là Siṃhahanu (Sư Tử Giáp 師子頰). Ông này có bốn người con trai. Con cả là Śuddhodana (Duyệt-đầu-đàn 悅頭檀) sinh Bồ-tát sau thành Phật.
8 Pāli: Sīhahanu; Mhv. ii. 15, Dpv. ii. 44, Sư Tử Giáp 師子頰 (Siṃhahanu) con trai của Jayasena.
9 Theo Ngũ phần: Vương thống của dòng họ Thích đến đời Bồ-tát là đời thứ bảy, kể từ vua đầu là Uất-ma. Theo Tứ phần: Nếu từ Bồ-tát trở lên đến đời thứ nhất thì chính là vuaIkśvāku (Ý-sư-ma 懿師摩) (tương đương với đời thứ nhất ông Tổ dòng họ Thích của Ngũ phần). Còn phần tương thừa trên nữa như Tứ phần thì bên Ngũ phần không có.
10 Hán: Vô thượng nê-hoàn 無上泥洹. Vô thương Nê-hoàn còn gọi là vô thượng Niết-bàn 無上涅槃, là quả vị Niết-bàn cao tột. Tứ phần: “Vô thượng hưu tức pháp 無上休息法.“Pháp tịch tĩnh tối thượng.” Xem, Trung A-hàm 56, đã dẫn: vô thượng an ổn Niết-bàn 無上安隱涅槃. Pāli: anuttaraṃ yogakkhemaṃ nibbānaṃ pariyesamāno.
11 Xiển-đà 闡陀 (Skt: Chandaka; Pāli: Channa); còn gọi là Xiển-na 闡那, hay Xa-nặc 車匿, là người hầu cận Bồ-tát.
12 Hán: A-nậu-da lâm 阿[少/兔]耶林. Pāli: Anupiya. Một thị trấn trong xứ Malla về hướng đông Kapilavatthu (Ca-tì-la-vệ).
13 Tứ phần: Sát-lợi thuỷ nghiêu đảnh 剎利水澆頂, vua dòng Sát-lợi được truyền ngôi. Sau đó, nếu bảy báu xuất hiện và chinh phục được cả bốn châu thiên hạ, bấy giờ thành Chuyển luân vương. Xem Trường A-hàm 7, kinh 6 “Chuyển luân vương tu hành”; Trung A-hàm 15, kinh 70 “Chuyển luân vương”; Pāli, D. 26. Cakkavatti.
14 Sau khi chinh phục xong, vua cai trị bằng (chánh) pháp, không bằng đao kiếm (adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi; D. 26, iii. 59).
15 Thích Đề-hoàn Nhân 釋提桓因. Pāli: Sakka devānaṃ Inda, gọi là trời Đế Thích.
16 Tứ phần: Ma-kiệt vương Bình-sa 摩竭王洴沙; Pāli: Rājā Māgadho Seniyo Bimbisāro.
17 Ca-duy(tì)-la-vệ thành 迦維羅衛城. Xem cht. 12 trước.
18 Tứ phần: Ban-trà-bà 班荼婆. Pāli: Paṇḍava, ngọn đồi gần thành Rājagaha (Vương xá hay La-duyệt). Bản Cao Ly: chỉ túc 止宿. Tống-Nguyên-Minh: sơn túc 山宿.
19 Nước Xá-di 舍夷國. Xá-di là tên nước và cũng là một trong những họ của Bồ-tát…
20 Cù-đàm 瞿曇, Skt: Gautama hay Gotama, Pāli: Gotama, là một trong những họ của Bồ-tát. Như Xá-di, Nhựt chủng, Cam giá, Thích-ca và Cù-đàm (theo Thích thị yếu lãm). Tứ phần: Họ cha gọi là Nhật. Nhật 日. Pāli: Ādicca. Tên chỉ họ của bộ tộc Thích-ca. Do đó, Phật cũng được gọi là đấng Nhật Tôn, hay Nhật Thân, bà con của mặt trời (Pāli:Ādiccabanddhu).
21 Tứ phần: Cát tường thọ 吉祥樹; Skt. aśvattha/ Pāli: assattha, về sau được gọi là cây Bồ-đề. Pāli: Bodhirukkha.
22 Cát An (Cát Tường) 吉安(祥). Pāli: Sotthiya.
23 Thụy ứng bổn khởi, còn gọi kinh Thái tử thụy ứng bổn khởi v.v…, 2 quyển, Chi Khiêm dịch thời Ngô (Tam Quốc), thu vào tạng Đại chánh quyển 3, số 185. Nội dung kinh ghi chép về cuộc đời đức Phật.
24 Hán: Uất-tỳ-la tụ lạc 欝鞞羅聚落. Pāli: Uruvelā. dịch âm khác Ưu-lâu-tần-loa 優樓頻螺,… dịch nghĩa là Đại qua 大瓜, Đại dũng 大勇, v.v… Một địa phương bên bờ sôngNerañjarā (Ni-liên-thiền), gần cây Bồ-đề ở Bồ-đề Đạo tràng (Buddhagayā).
25 Tứ phần: “Do ăn cơm khô trộn với mật nên gió trong thân di động.”
26 Tứ phần: Vị thần của cây ấy (Ha-lê-lặc) có lòng tin sâu đậm đối với Phật,
27 Ha-lê-lặc 呵梨勒. Pāli (Skt.): harīṭaka, trái cây có thể làm thuốc trị bệnh phong, cò gọi là trái ha-tử. Xem cht. 330, Phần I, Ch. v, Pháp đọa.
28 Tứ phần: Một người tên Trảo 瓜 (Nakha? Có lẽ là phiêm âm Trapuṣa); một người Ưu-ba-li 優波離 (Upāli? Có lẽ Balluka đọc nhầm). Pāli: hai anh em thương khách: Tapussa và Bhallika/ Skt. Trapuṣa & Bhallika (Bhalluka), Cf. Mahāvyutpatti, 5748 & 4781; Lalitavistara, ch. 24.
29 Tứ phần: Thần cây 樹神.
30 Tứ phần: Thích-ca Văn Phật 釋迦文佛 (Sakya Muni Buddha).
31 Tứ phần: Mật khứu 蜜糗. Mật ong và bánh bột; có lẽ là lương khô trộn với mật ong. Pāli: manthañca madhupiṇḍikañca. The Book of Discipline: mantha, barley-gruel, cháo lúa mạch; PTS.: rice-cake, bánh bột gạo.
32 Tứ phần: “Những người Ưu-bà-tắc đầu tiên nhận lãnh hai quy y”.
33 Tứ phần: Sở vi bố thí giả, tất hoạch kỳ lợi nghĩa; nhược vi nhạo cố thí, hậu tất đắc an lạc 所為布施者, 必獲其利義; 若為樂故施, 後必得安樂. Ai làm việc bố thí, chắc chắn được lợi ích; Ai vì lạc bố thí, sau tất được an lạc.
34 Tứ phần: Nhân hai khách buôn sau khi thọ hai quy y thưa hỏi: “Nay chúng con muốn về lại quê nhà. Nếu khi về đến nơi rồi, muốn làm phước thì làm thế nào? Muốn lễ kính cúng dường thì lễ kính cái gì?” Phật liền đem tóc và móng tay cho nói rằng: “Các ngươi đem vật này về đó, làm phước, lễ bái, cung kính cúng dường.” Tuy nhận nhưng họ có vẻ không tin! Nhân đây đức Phật nói về nhân duyên quá khứ của họ và chính đức Phật cho họ rõ. Sự kiện này Ngũ phần không đề cập đến.
35 Tứ phần: Cung điện của Long vương Văn-lân, bên bờ sông Văn-lân, dưới bóng cây Văn-lân. Pāli: Mucalinda (âm khác: Mục-chân-lân-đà), gần cây bàng Ajapāla-nigrodha ở Uruvelā. Chính cây này là cung điện của Long vương Mucalinda.
36 Tứ phần: Vợ của người Bà-la-môn là con gái của đại tướng Tô-xà-la 蘇闍羅. Pāli: Sujāta, con gái của Senānī (Tướng quân) ở thị trấn Senānigama, là người nữ đầu tiên thọ hai quy y và cũng là vị Ưu-bà-di đầu tiên.
37 Hán: A-dự-ba-la ni-câu-loại thọ 阿豫波羅尼拘類樹. Tứ phần: A-du-ba-la ni-câu-luật thọ 阿踰波羅尼拘律樹. Pāli: Ajapāla-nigrodha, một loại cây đa.
38 Hán: Quật trạch 窟宅: Tứ phần: Sào quật 樔窟. Pāli (Skt.) ālaya, chỉ vật được yêu thích, được cất giữ; chỉ tất cả sở y và đối tượng của ái dục; cũng chỉ vật mà sinh vật tựa vào làm chỗ che chở an toàn cho đời sống, như nhà cửa các thứ. Hán dịch ở đây theo nghĩa thứ hai. Từ Phạn này, trong Duy thức dịch âm là A-lại-da. Đoạn tương đương, dẫn trongNhiếp Đại thừa 1 (T31n1594, tr. 134a17), Huyền Trang dịch: “Thế gian chúng sanh ái a-lại-da, lạc a-lại-da, hân a-lại-da, hỷ a-lại-da 世間眾生愛阿賴耶.樂阿賴耶.欣阿賴耶.憙阿賴耶.” Pāli tương đương (M.i.167): ālayarāmā kho panāyaṃ pajā ālayaratā ālayasammuditā.
39 Xem bài kệ tương đương Tứ phần 32, tr. 786c08; Pāli: Mahāvagga, Vin. i. 5; M. i. 168, D. ii. 38, S. i. 136.
40 Hán: Phạm thiên vương 梵天王. Tứ phần: Phạm thiên vương (Brahmā Sahampati). Vin. i.5: Phạm thiên Sahampati, Sa-bà thế giới chủ.
41 Hán: Ma-kiệt 摩竭. Pāli: Magadhā.
42 Cf. Vin. i. 6: pāturahosi magadhesu pubbe, dhammo asuddho samalehi cintito, “Trước đây, giữa những người Magadhā, xuất hiện pháp bất tịnh được tư duy với sự cấu uế.” Sớ giải nói, cấu uế ở đây chỉ nhóm Lục sư ngoại đạo.
43 Hán: Cam lồ môn 甘露門. Pāli: Amata-dvāra.
44 Hán: Phổ nhãn 普眼. Pāli: Samantacakkhu.
45 Tứ phần: Bất vi nhiễu cố thuyết… 不為嬈故說. Theo văn cú thông thường mà hiểu: “Không vì nhiễu loạn mà thuyết.” Nhưng đây văn dịch đảo trang, nên phải hiểu là: vi nhiễu cố bất thuyết… vi diệu pháp: vì nhiễu loạn (=mệt nhọc), nên Ta không nói pháp vi diệu.” Tham chiếu Pāli, Vin.i. 7 (Cf. D. ii. 39, M. i. 169): vihiṃsasaññī paguṇaṃ na bhāsiṃ dhammaṃ paṇītaṃ… vì có ấn tượng não hại, Ta đã không giảng thuyết pháp vi diệu.
46 Hán: Uất-đầu-lam-phất 欝頭藍弗 (Uddaka Rāmaputta). Tứ phần: A-lan-ca-lan 阿蘭迦蘭.
47 Hán: A-lan-ca-lan 阿蘭迦蘭 (Aḷāra Kālāma). Tứ phần: Uất-đầu-lam Tử 欝頭藍子.
48 Hán: Ba-la-nại quốc Tiên nhân Lộc uyển 波羅奈國仙人鹿苑. Pāli: Bārāṇasi Isipatana migadāya.
49 Tứ phần: Ưu-đà-da phạm-chí 優陀耶梵志, chỉ ngoại đạo xuất gia, không phải Bà-la-môn. Pāli: Upaka ājīvaka, tà mạng ngoại đạo Upaka.
50 Tứ phần: Cam lộ cổ 甘露鼓. Pāli: amatadundubhi, trống bất tử.
51 Tứ phần: “Ta là người không nhiễm trước, tối thắng.” Bản Pāli (Vin, i. 8), Upaka nói: arahosi anantajino’ti, “Ngài xứng đáng là vị Chiến Thắng vô cùng tận.”
52 Tứ phần: “Ưu-đa, Ta tối thắng.” Bản Pāli: jitā me, “Ta, người đã chiến thắng.”
53 Tứ phần: Xưng danh nhữ Như Lai 稱名汝如來. Pāli (Vin. i. 9): nāmena ca āvusovādena samudācaranti. Gọi (Phật) bằng tên và bằng từ “ông bạn (hiền giả).”
54 Tứ phần: Nhị biên 二邊; chỉ hai cực đoan.
55 Tứ phần: Niết-bàn hành 涅槃行; Pāli (Vin. i. 10): nibbānāya saṃvattati, vận chuyển đến Niết-bàn.
56 Hán: Bát chánh八正, tức Bát chánh đạo, là con đường gồm tám sự chân chánh. Pāli: aṭṭhaṅgiko maggo, con đường có tám chi; hay ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, Thánh đạo tám chi.
57 Tứ phần: Ngũ thạnh ấm khổ 五盛陰苦. Pāli: pañcupādānakkhandā dukkhā/ pañcopādānaskandhā.
58 Tứ phần: Duyên ái bản sở sanh 緣愛本所生. Ái lạc vốn được phát sinh từ trước do duyên nơi ái. Pāli: taṇhā ponobhavikā, ái với khát vọng sự hữu tương lai.
59 Tứ phần: Ái vĩnh tận, vô dục, diệt, xả, xuất yếu, giải thoát, vĩnh tận, hưu tức 愛永盡無欲滅捨出要解脫永盡休息: tất cả các từ này đồng nghĩa với ái diệt. So sánh Pāli:asesavirāganirodho, cāgo, paṭinissago, mutti,…, hoàn toàn ly dục và diệt tận (đối với ái), xả bỏ, thoát ly và giải thoát (khỏi ái).
60 Xem cht. 56 trước, Bát chánh đạo.
61 Tham chiếu Pāli: …pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ…, paññā…, vijjā…, āloko udapādi, (Thánh đế) đã làm phát sinh con mắt (để thấy) Pháp chưa từng được nghe từ trước; làm phát sinh trí, phát sinh huệ, phát sinh minh, phát sinh ánh sáng (để soi) trên các pháp vốn chưa từng được nghe từ trước.
62 Có nghĩa là chứng đắc Sơ quả Dự lưu.
63 Tứ phần: “Đức Thế Tôn biết sở đắc trong tâm A-nhã Kiều-trần-như, liền khen rằng: ‘A-nhã Kiều-trần-như, đã biết! A-nhã Kiều-trần-như, đã biết!’ Từ đó về sau vị này được gọi là A-nhã Kiều-trần-như.”
Kiều-trần-như 憍陳如 (Pāli: Koṇḍañña; Skt. Kauṇḍinya) là tên thật. A-nhã 阿若, là phiên âm từ añña (Pāli) hay ajña (Skt.), do bởi Phật khen (Pāli, Vin. i. 12): aññasi vata, bho koṇḍañño, aññasi vata, bho koṇḍañño, “Thật sự, ngươi đã biết, Koṇḍañña.” Do đó thành tên Aññāta Koṇḍañña.
64 Hán: Thiện lai Tỳ-kheo善來比丘. Tứ phần: Lai, Tỳ-kheo來比丘 (Pāli: ehi bhikkhu); Luật tạng nói đây là sự truyền Cụ túc, đắc pháp Tỳ-kheo đầu tiên. Các Tỳ-kheo được Phật trực tiếp truyền Cụ túc gọi là đắc pháp bằng “Thiện lai, Tỳ-kheo.” (ehi-bhikkhu-upasampada).
65 A-nhã Kiều-trần-như: Xem cht. 63 trước.
66 Tứ phần: Bà-đề 婆提, Pāli: Bhaddiya/Skt. Bhadrika; Bà-phu 婆敷, Pāli: Vappa/Skt. Vāṣpa.
67 Tứ phần: A-thấp-ti 阿濕卑, Pāli: Assaji/Skt. Aśvajit; Ma-ha-nam 摩訶摩男, Pāli/Skt. Mahānāma.
68 Tứ phần: Hiền thánh đệ tử 賢聖弟子. Pāli: sutavā ariyasāvaka, vị Thánh đệ tử đa văn.
69 Tứ phần: Tộc tánh tử族姓子. Pāli: kulaputta.
70 Tứ phần: Da-thâu-già 耶輸伽; Pāli: Yasa, con trai một thương gia rất giàu có. Vin. i. 15ff.
71 Hán: Bà-la hà 婆羅河, có lẽ do Sa-la 娑羅 chép nhầm, tức đồng nhất với Pāli: Sarabhū, một trong năm sông lớn của Ấn độ, liệt kê trong Trường A-hàm 21 (tr. 137c25), Thập tụng 33. Nhưng chưa thấy đâu nói sông này chảy ngang qua Bārāṇasi.
72 Tứ phần: Nguyên trong bản: Thân lậu tận, ý giải 身漏盡意解. Có lẽ chép nhầm: Hữu lậu tận ý giải (=tâm giải thoát). Đoạn dưới, bản Hán Tứ phần, tr. 790b27: đắc tận hữu lậu, tâm đắc giải thoát, vô ngại giải thoát trí sanh 得盡有漏心得解脫無礙解脫智生.
73 Tứ phần: Bốn người bạn của Da-xá: Vô Cấu 無垢, Thiện Tý 善臂, Mãn Nguyện 滿願, Già-phạm-bà-đề 伽梵婆提. Pāli: Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, Gavampati.
74 Tứ phần: Y-la-bát-la Long vương 伊羅缽羅龍王. Skt.: Elāpatra (Pāli: Erāpatha, chuyện kể, Pháp cú 182, DhA. iii. 230). Đại trí độ (T25n1509, tr. 242c18): Y-la-bát-đa-la Long vương 伊羅缽多羅. Truyện kể chi tiết, Căn bản Tạp sự 21 (T24n1451, tr. 303a6): Hê-la-bát long 醯羅缽龍.
75 Tứ phần: Dẫn các Long nữ đi theo. Pāli, DhA. iii. 231: kiṃsu adhippatī rājā, kiṃsu rājā rajjissaro; kathaṃsu virajo hoti, kathaṃ bāloti vuccati; làm chủ cái gì gọi là vua? vua gì nhiễm tự tại? làm sao để ly nhiễm? vì sao gọi là ngu?
76 Căn bản tạp sự 21 (T24n1451, tr. 303a08), ibid., 何處王為上.  於染而染著. 無染而有染.  何者是愚夫. 何處愚者憂.  何處智者喜. 誰和合別離.  說名為安樂, Ở đâu vua trên hết? Nơi nhiễm mà nhiễm trước? Không nhiễm mà có nhiễm? Vì sao là người ngu? Ở đâu người ngu lo? Ở đâu bậc trí vui? Ai hoà hiệp ly biệt? Được gọi là an lạc? Pāli, bài kệ thứ hai: kenassu vuyhati bālo, kathaṃ nudati paṇḍito; yogakkhemī kathaṃ honti, taṃ me akkhāti pucchito. Ngu bị cuốn bởi cái gì? Trí giả loại trừ cái gì? Làm sao được an ổn? Xin trả lời câu hỏi này.
77 Tứ phần: Phạm-chí tên là Na-la-đà 那羅陀 ở bên cạnh thành Ba-la-nại; Căn bản tạp sự 21: Na-lặc-đà 那剌陀. Pāli, Uttara.
78 Sáu tôn sư ngoại đạo: Bất-lan Ca-diếp 不蘭迦葉 (Pāli: Pūraṇo Kassapo), Mạt-khư-lê-cù-xa-li 末佉梨劬奢離 (Pāli: Makkhali-Gosāla), A-di-đầu-sí-sá-khâm-bà-la 阿夷頭翅舍欽婆羅 (Pāli: Ajito Kesa-kambalo), Mâu-đề-xỉ Bà-hưu-ca-chiên-diên 牟提侈婆休迦栴延 (Pāli: Pakudho Kaccāyano), San-nhã-tỳ-la-tra Tử 訕若毘羅吒子 (Pāli: Sañjayo Belaṭṭhi-putto), Ni-kiền Tử 尼揵子 (Pāli: Nigaṇṭho Nāta-putto).
79 Đệ lục 第六; chỉ ý thức. Pāli: chadvārā: sáu cửa, tức sáu căn.
80 Căn bản tạp sự, đã dẫn: “Nơi chỗ nhiễm ô mà sinh dính trước.”
81 Pāli, op.cit., chadvārādhippatī rājā, rajjamāno rajjissaro; arajjaṃ virajo hoti, rajjaṃ bāloti vuccati. Làm chủ sáu cửa là vua. Nhiễm tự tại là bị tham nhiễm. Ly nhiễm là sạch bụi. Bị nhiễm là kẻ ngu.
82 Căn bản tạp sự, ibid., 第六王為上. 染處即生著. 無染而起染. 說此是愛夫. 愚者於此憂. 智人於此喜. 愛處能別離. 此則名安樂. Thứ sáu là vua trên hết. Ở nơi nhiễm mà đắm đuối. Không nhiễm mà nổi nhiễm, gọi là đó kẻ ngu. Kẻ ngu vì thế lo. Bậc trí do vậy vui. Nơi ái mà rời xa, ấy gọi là an lạc. Pāli, op.cit., oghena vuyhati bālo, yogā nudati paṇḍito; sabbayogavisaṃyutto, yogakkhemīti vuccati. Người ngu bị thác cuốn. Bậc trí đoạn trừ do tu tập. Bứt bỏ mọi kết sử, gọi là an ổn.
83 Y-la-bát 伊羅缽. Skt. elā-pattra, lá cây elā, một loại tiểu đậu khấu, hay hoắc hương.
84 Tứ phần: “Bấy giờ trong thế gian, có một trăm mười một vị A-la-hán. Với Phật nữa, là một trăm mười hai vị. Vin. ii. 20: Bấy giờ thế gian hiện có 61 vị A-la-hán.
85 Tứ phần: Kiếp-ba viên 劫波園. Mahāvagga, Vin. i. 23: aññataro vanasaṇḍo, một khu rừng dày nọ; và được giải thích (Jātaka i. 82) là rừng kappāsiya, rừng cây gòn.
86 Tứ phần: Gồm có năm mươi người đồng bạn.
87 Bán Hán, hết quyển 15.
III. TĂNG PHÁP THỌ GIỚI
A. Sơ chế Pháp
1. Uất-tỳ-la Ca-diếp
[108a7] Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các ông mỗi người đều nên phân bố du hành trong thế gian, có nhiều bậc hiền thiện có thể thọ sự giáo giới. Nay Ta, riêng một mình sẽ đến cõi Ưu-vi,88 chỗ Uất-tỳ-la Ca-diếp89 để khai hóa.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy chia nhau đi. Đức Thế Tôn đến chỗ Ca-diếp. Ca-diếp thờ một con độc long để trong một ngôi nhà vắng,90 không ai dám vào, chỉ trừ Ca-diếp. Đức Phật cố ý đến vào buổi chiều để xin ở lại trong nhà có con rồng.
Ca-diếp nói:
“Đó là điều không thể chấp nhận, vì trong nhà có con độc long sợ nó làm hại.”
Đức Phật nói:
“Không can chi, con rồng không hại tôi đâu.”
Ca-diếp nói:
“Nếu không sợ thì tùy ý cứ vào nghỉ.”
Đức Phật liền đem cỏ vào nhà trải ra để ngồi, với ý nghĩ: “Ta sẽ làm cho thân con rồng nhỏ lại như que đũa để trong bình bát, điều phục nó.” Đức Phật mới ngồi trong giây lát, con rồng nổi giận cả thân đều tuôn khói ra, Phật cũng cho khói tuôn ra. Cả thân rồng thành một đống lửa cháy, cả thân Phật cũng tuôn ra lửa. Cả hai ngọn lửa hừng hực cháy, làm cho cả nhà con rồng tung tóe ánh sáng chói lọi. Khi ấy, Ca-diếp và các đệ tử đến đi quanh nhà con rồng, buồn than nói:
“Đáng tiếc là Đại Sa-môn không chịu nghe lời ta để rồi bây giờ bị con rồng hại!”
Sáng ngày đức Phật dùng bình bát đựng con rồng đem ra và nói với Ca-diếp rằng:
“Độc long ở trong bát này, mọi người đều sợ, nay đã bị hàng phục.”
Ca-diếp tâm niệm: “Đại Sa-môn này tuy có thần lực nhưng không bằng chơn đạo của ta.” Đức Phật liền dùng thần lực, như người lực sĩ co duỗi cánh tay, chỉ trong chớp nhoáng đem con rồng đến để Trung gian thế giới rồi trở về chỗ Ca-diếp.
Ca-diếp hỏi Phật:
“Để con rồng chỗ nào?”
Phật đáp:
“Để nơi Trung gian thế giới.”
Ca-diếp lại nghĩ: “Đại Sa-môn này rất có thần lực chỉ trong chốc lát đã đem con rồng đến để nơi Trung gian thế giới. Tuy vậy không bằng ta đã đặng A-la-hán đạo.”91
Ca-diếp bạch Phật:
“Mời Đại Sa-môn ở lại đây tôi sẽ cúng dường.”92
Đức Phật nói:
“Nếu hằng ngày ông có thể đến mời thì tôi có thể nhận lời.”
Ca-diếp nói:
“Tốt lắm!”
Cách chỗ Ca-diếp không xa có một khu rừng rậm,93 đức Phật tạm ở nơi đó. Ban đêm Tứ thiên vương [108b01] giáng hạ đến hầu Phật và muốn nghe pháp. Ánh sáng của Tứ thiên vương như bốn đống lửa,94 Ca-diếp ban đêm thức dậy thấy bên đức Phật như có bốn đống lửa lớn, không biết cái gì, sáng ngày đến thỉnh Phật:
“Thức ăn đã xong xin mời Ngài đến thọ.”
Ca-diếp lại hỏi:
“Đêm vừa rồi nơi đây có bốn ánh sáng lớn, giống như lửa mà không phải. Vậy đó là cái gì?”
Đức Phật nói:
“Đêm vừa rồi Tứ thiên vương xuống cúng dường và nghe pháp, đó là ánh sáng của họ.”
Ca-diếp lại nghĩ: “Đại Sa-môn này có đại oai thần nên mới khiến Tứ thiên vương tự đến cúng dường, tuy nhiên vẫn không bằng ta, ta đã đặng A-la-hánđạo.”
Đức Phật nói với Ca-diếp:
“Ông về trước, ta sẽ đến sau.”
Ca-diếp vừa đi, đức Phật như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, chỉ trong chớp nhoáng đến cây Diêm-phù-đề lấy trái95 đem đến. Ca-diếp chưa về đến nơi, Phật đãđến ngồi rồi. Ca-diếp về sau, thấy Phật hỏi:
“Tôi không đi đường khác trở về, cũng không ghé nơi nào, không thấy Đại Sa-môn, vậy Đại Sa-môn đi đường nào đến đây?”
Đức Phật nói:
“Sau khi ông vừa ra về, tôi đến nơi cây Diêm-phù-đề hái trái đem đến đây. Trái này thơm ngon có thể ăn được, nay tôi biếu ông ăn thử.”
Ca-diếp lại nghĩ: “Đại Sa-môn có đại thần lực nhưng không bằng ta, ta đã đặng A-la-hán đạo.”
Đức Phật thọ trai xong, trở về lại khu rừng, ban đêm Thích Đề-hoàn Nhân96 đích thân xuống hầu hạ và muốn nghe pháp. Ánh sáng của trời Đế Thích chiếu khắp khu rừng hơn gấp bội của Tứ thiên vương. Ca-diếp ban đêm thấy cũng không biết là ánh sáng gì, sáng ngày đến thỉnh Phật đến thọ trai và hỏi ý nghĩ của áng sáng.
Đức Phật nói:
“Đêm vừa qua, Thích Đề-hoàn Nhân cúng dường và nghe pháp, đó là ánh sáng của vị ấy.”
Ca-diếp lại nghĩ: “Đại Sa-môn này là hạng thần lực khuôn mẫu của thần lực nên mới khiến trời Đế Thích tự đến cúng dường, song không bằng ta, ta đã đặng A-la-hán đạo.”
Đức Phật bảo Ca-diếp:
“Ông về trước, tôi sẽ đến sau.”
Ca-diếp vừa đi, Phật đến bên cạnh Diêm-phù-đề nơi rừng Ha-lê-lặc97 hái trái đem về. Ca-diếp chưa về đến nơi mà đức Phật đã ngồi nơi tòa. Ca-diếp vềđến sau, cũng hỏi như trên. Đức Phật nói:
“Sau khi ông vừa đi, tôi đến bên cạnh Diêm-phù-đề, nơi rừng Ha-lê-lặc hái trái đem đến đây. Trái này thơm ngon, có thể ăn được, nay tôi biếu ông ăn thử.”
Ca-diếp lại nghĩ như trước. Đức Phật thọ trai xong về lại khu rừng, trong đêm Phạm thiên vương, chủ thế giới Ta-bà xuống hầu và muốn nghe pháp. Ánh sáng của trời Phạm thiên gấp bội so với ánh sáng của Đế Thích. Ca-diếp ban đêm thấy cũng không biết là ánh sáng gì, sáng ngày đến thỉnh Phật thọ trai rồi cũng hỏi ý nghĩ của ánh sáng. [108c01]
Đức Phật nói:
“Đêm vừa rồi Phạm thiên vương đến cúng dường và nghe pháp, đó là ánh sáng của vị ấy.”
Ca-diếp lại nghĩ: “Đây là Đại Sa-môn thuộc hạng thần lực khuôn mẫu của thần lực nên mới khiến trời Phạm thiên đến cúng dường, song không bằng ta, ta đãđặng A-la-hán đạo.” Đức Phật bảo Ca-diếp:
“Ông về trước, tôi sẽ đến sau.”
Ca-diếp vừa đi, Phật lại đến bên cạnh Diêm-phù-đề nơi rừng A-ma-lặc hái trái đem đến…Như trước đã nói.
Đức Phật thọ trai xong trở về lại khu rừng, bấy giờ đức Thế Tôn cần nước để rửa, tự nhiên sông Ni-liên-thiền98 chảy quanh lại, đi qua bên đức Phật, khiến cho Phật sử dụng được. Sáng ngày Ca-diếp lại đến thỉnh Phật thọ trai thấy khúc sông chảy quanh liền hỏi:
“Ai đào khúc sông này?”
Đức Phật nói:
“Vừa rồi Ta cần nước, nước tự chảy quanh đến.”
Ca-diếp lại nghĩ: “Đây là Đại Sa-môn thuộc hạng thần lực khuôn mẫu của thần lực nên mới khởi ý niệm cần nước, nước liền chảy đến, song không bằng ta, tađã đặng A-la-hán đạo.” Đức Phật nói với Ca-diếp:
“Ông về trước tôi sẽ đến sau.” Ca-diếp vừa đi, đức Phật đến nơi Câu-da-ni99 lấy sữa bò nơi đó… (Ngoài ra như trước đã nói). Đức Phật thọ trai xong trở về lại khu rừng.
Bấy giờ, có người tớ gái của Bà-la-môn Tư-na chết, bỏ chiếc áo nơi gò mả,100 đức Phật lấy đem về, với ý nghĩ nên giặt như thế nào? Khi vừa nghĩ như vậy, Thích Đề-hoàn Nhân liền đến dùng tay chỉ xuống đất nước liền tuôn ra thành cái ao, rồi bạch Phật:
“Ngài có thể giặt nơi đây.”
Sơn thần A-tỳ Thích-ca101 đưa đến một cái bồn bằng đá lớn, cũng bạch Phật:
“Ngài có thể dùng cái bồn này để giặt.”
Phật lại nghĩ: “Ta đứng nơi cái gì để giặt y này?” Cách ao không xa có cây Kha-hầu,102 vị thần cây uốn cong một nhánh cây để Phật vịn nơi đó. Đức Phật giặt y rồi phơi nơi hư không.
Ca-diếp sáng ngày đến thỉnh Phật thọ trai, thấy vấn đề giặt y đều thưa hỏi Đức Phật. Đức Phật kể lại rõ ràng câu chuyện. Ca-diếp cũng với tâm niệm nhưtrước.
Đức Phật nói với Ca-diếp:
“Ông về trước tôi sẽ đến sau.”
Ca-diếp vừa đi, đức Phật đến nơi Uất-đơn-việt103 lấy loại lúa chín tự nhiên104… (Ngoài ra như trên đã nói). Đức Phật thọ trai xong, trở về lại khu rừng.
Sáng hôm ấy, nhân lúc có tiết hội, Ca-diếp nghĩ rằng: “Nay ta không thỉnh Phật thọ trai, vì mọi người thấy Ngài, chắc họ sẽ bỏ ta mà tranh nhau phụng sự Ngài.” Do vậy không thỉnh. Đức Phật biết việc ấy nên đến Uất-đơn-việt lấy thức ăn để ăn. Ngày ấy qua rồi, Ca-diếp lại đến thỉnh Phật thọ trai và hỏi:
“Ngày vừa qua, tôi không đến thỉnh, Ngài ăn thứ gì?”
Đức Phật nói: “Ngày tiết hội vừa qua ông nghĩ: ‘Nếu Phật [109a01] đến mọi người thấy, chắc sẽ bỏ ta, tranh nhau phụng sự Ngài.’ Cho nên ta đến Uất-đơn-việt lấy thức ăn mà ăn.”
Ca-diếp lại nghĩ: “Đây là Đại Sa-môn thần lực thuộc hạng thần lực khuôn mẫu, nên mới biết ý niệm của người khác, song không bằng ta, ta đã đặng A-la-hánđạo.” Hôm ấy, đức Phật cùng ông Ca-diếp đến nhà thọ trai, rồi trở lại khu rừng.
Bấy giờ, năm trăm đệ tử của ông Ca-diếp cùng nhau bửa củi mà cái búa giở không lên. Đệ tử thưa với thầy việc này. Thầy nói, sợ Đại Sa-môn làm như vậy, các ông nên đến hỏi Ngài. Họ liền đến hỏi Phật.
Đức Phật hỏi:
“Các ông muốn giở lên hay không?”
Họ thưa:
“Muốn.”
Đức Phật nói:
“Các ông cứ đi đi, cái búa tự giở lên.”
Khi giở lên rồi, để xuống lại không được, họ lại thưa với thầy. Thầy họ bảo thưa hỏi Phật.
Đức Phật hỏi:
“Muốn để xuống hay không?”
Họ nói:
“Muốn.”
Đức Phật bảo:
“Có thể cứ đi, búa sẽ tự để xuống.”
Khi để xuống rồi, búa lại dính luôn nơi củi không thể bửa được. Đệ tử lại thưa thầy, thầy họ bảo hỏi Phật.
Đức Phật hỏi:
“Muốn bửa được phải không?”
Họ thưa:
“Vâng!”
Đức Phật nói:
“Cứ đi đi, cái búa tự sử dụng được.”
Cái búa sử dụng được. Họ muốn nhen lửa, lửa không chịu cháy, họ thưa với thầy, thầy họ bảo hỏi Phật.
Đức Phật nói:
“Muốn cho lửa cháy phải không?”
Họ thưa:
“Vâng.”
Đức Phật nói:
“Có thể cứ đi, lửa nó sẽ tự cháy.”
Lửa liền cháy. Khi đã cháy rồi lại không tắt được, họ lại hỏi thầy, thầy họ bảo hỏi Phật.
Đức Phật hỏi:
“Muốn cho lửa tắt phải không?”
Họ thưa:
“Vâng.”
Đức Phật nói: “Cứ đi, lửa tự sẽ tắt.”
Lửa liền tắt. Họ muốn dội nước để tắt than, nước lại ở trong bình không chịu chảy ra, họ thưa thầy, thầy họ bảo hỏi Phật.
Đức Phật hỏi:
“Muốn cho nước chảy ra phải không?”
Họ thưa:
“Vâng.”
Đức Phật nói:
“Cứ đi, nước sẽ chảy ra.”
Nước liền chảy ra. Khi đã chảy ra rồi lại không dừng lại, họ thưa thầy, thầy họ bảo hỏi Phật.
Đức Phật hỏi:
“Muốn cho nước ngừng chảy phải không?”
Họ thưa:
“Vâng.”
Phật nói:
“Cứ đi, nước sẽ tự ngưng.”
Nước liền ngưng chảy. Bấy giờ, mây u ám mưa lớn 7 ngày, nhà Ca-diếp thành một biển nước mênh mông. Đức Phật ở trong rừng, Ca-diếp sợ Phật bị cuốn trôi, đi thuyền đến xem, thấy đức Thế Tôn đi kinh hành trên dòng sông Ni-liên-thiền. Ca-diếp nghĩ: “Đây là Đại Sa-môn có thần lực thuộc loại thần lực khuôn mẫu, nên nước lớn như vậy mà không bị cuốn trôi, lại đi kinh hành trên nước, song không bằng ta, ta đã đặng A-la-hán đạo.” Khi ấy, đức Thế Tôn bay lên hư không bảo Ca-diếp rằng:
“Ông không phải là La-hán, tại sao hư dối tự xưng là đắc đạo?!”
Ca-diếp thưa:
“Bạch Thế Tôn, thật vậy! Bạch Thế Tôn, thật vậy!”
Ca-diếp lại bạch Phật:
“Xin được xuất gia chỗ Đại Sa-môn, thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật [109b01] nói:
“Ông đã báo cho đệ tử chưa?”
Ca-diếp thưa:
“Chưa.”
Đức Phật nói:
“Nên báo cho họ trước.”
Ca-diếp vâng lời, liền trở về nói với hàng đệ tử:
“Các ông biết chăng, ta muốn tịnh tu phạm hạnh chỗ của Đại Sa-môn, các ông, người nào theo ta thì tốt, bằng không vui theo thì tùy ý.”
Năm trăm người đệ tử đồng thanh nói:
“Khi chúng con thấy Phật hàng phục con rồng đã sanh lòng tin chỉ đợi ý kiến của thầy mà thôi. Chúng con xin được tùy tùng.”
Thế là thầy trò cùng nhau đến chỗ Phật, bạch Phật:
“Thầy trò chúng con đều muốn xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật dạy:
“Hãy đến đây, các Tỳ-kheo! Thọ giới Cụ túc, trong pháp luật khéo nói của Ta, có thể chấm dứt tất cả khổ, tịnh tu phạm hạnh.”
Ông Ca-diếp và năm trăm đệ tử râu tóc tự rụng, áo cà-sa mặc vào thân, bình bát bưng nơi tay. Khi đã thọ giới rồi những dụng cụ, y phục thờ lửa trước kiađều đem bỏ trong dòng sông Ni-liên-thiền. Như vậy, Ca-diếp và năm trăm đệ tử thọ giới Cụ túc xong.
Ca-diếp có hai người em, người lớn tên là Na-đề Ca-diếp,105 người nhỏ tên là Già-da Ca-diếp,106 người em lớn có ba trăm đệ tử, người em nhỏ có hai trăm. Họ ở cách anh một do-tuần về phía hạ lưu sông Ni-liên, hai người em thấy dụng cụ thờ lửa của anh trôi theo dòng sông, hoảng kinh, sợ anh mình bị người ác hại, bỏ trôi theo dòng nước. Hai người em liền dẫn năm trăm đệ tử ngược dòng nước lên đến chỗ anh, thấy thầy trò của anh mình đều làm Sa-môn, lấy làm lạ, hỏi:
“Tại sao thế này?”
Người anh trả lời:
“Pháp của đạo này nói lên được yếu tố thù thắng tối thượng, không có ai hơn được.”
Hai người em cùng năm trăm đệ tử nghị bàn:
“Trí tuệ đệ nhất như anh mình mà nay vui sống với đạo này thì chắc đạo này tối thắng.”
Do đó, họ cùng với đệ tử đồng như người anh xuất gia. Họ liền đến chỗ đức Phật đảnh lễ sát chân, rồi bạch:
“Xin cho chúng con xuất gia, thọ giới Cụ túc.”
Đức Phật nói:
“Hãy đến đây, các Tỳ-kheo!…” Cho đến câu: Bình bát bưng nơi tay, cũng như trước đã nói.
2. Ba cách giáo hóa
Khi ấy, đức Thế Tôn khởi ý nghĩ: “Nơi nào có nhiều ẩm thực, ngọa cụ để giáo hoá, ngõ hầu đủ cung cấp cho một nghìn Tỳ-kheo Tăng Phạm-chí này?”
Nơi núi Già-da107 có đủ ẩm thực ngọa cụ. Nghĩ như vậy, đức Phật dẫn một nghìn Tỳ-kheo đến đó, dùng ba việc để mà giáo hóa:108 một là thần túc,109 hai là thuyết pháp,110 ba là giáo sắc.111
Thần túc giáo giới là thế nào? Như trong mục thần thông đã nói.
Thuyết pháp giáo giới là thế nào? Như nói Tỳ-kheo nên suy nghĩ thế này, không nên suy nghĩ thế này, nên nhớ nghĩ thế này, không nên nhớ nghĩ thế này, nên tu thế này, nên đoạn thế này; nên y theo như vậy mà tu hành. [ 109c01]
Giáo sắc giáo giới là thế nào? Như nói Tỳ-kheo đốt cháy tất cả.
Thế nào là đốt cháy tất cả? Đốt cháy nhãn, đốt cháy sắc. Nhãn thức, nhãn xúc, nhơn duyên nhãn xúc sanh thọ cũng đốt cháy.
Đốt cháy cái gì? Đốt cháy lửa dục, đốt cháy sân dục, si dục… cho đến ý pháp112 cũng như vậy.
Đệ tử của bậc Thánh nghe pháp như vậy, sanh tâm nhàm chán yểm ly, không có nhiễm trước, bèn đặng giải thoát, giải thoát trí sanh, việc làm đã xong, phạm hạnh đã lập, không còn tái sanh. Khi nói pháp như vậy một nghìn Tỳ-kheo hết lậu hoặc, tâm được giải thoát.
3. Vua Bình-sa
Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi ý niệm:
“Trước đây ta cùng vua Bình-sa có lời cam kết là khi đắc đạo thì độ ông ta, nay nên đến đó.”
Đức Phật bèn cùng một nghìn Tỳ-kheo kẻ trước người sau vây quanh, tuần tự du hành đến thành Vương Xá.113 Vua Bình-sa nghe Phật thành đạo độ ba anh em Ưu-vi Ca-diếp114 và một nghìn đệ tử, nay đến ấp này, liền ra lệnh bốn mươi hai nghìn tụ lạc trong nước, mỗi một tụ lạc chọn hai vị hào kiệt để đến cung nghinh đức Phật. Tám vạn bốn ngàn người cởi voi ngựa, xe trước sau nối đuôi nhau. Bấy giờ vào tháng cuối mùa xuân khí hậu rất nóng, mọi người đều nghĩ:“Làm sao có được chút bóng mát.” Khi ấy trời Thích Đế-hoàn Nhân biết được ý niệm đó, liền hóa làm lọng báu bằng mây, gió mát phảng phất, và tự hóa làm Phạm thiên mặc áo sắc vàng, cầm cây trượng bằng bảy món báu, phất trần khảm bằng bảy báu, cách đất một khủy tay115 đi trước hướng dẫn.
Khi ấy, người nước Ma-kiệt muốn lấn Phật đi trước, bị trời Đế Thích đuổi chạy. Họ cơ hiềm, nói bài kệ:
Hình như tượng Phạm thiên
Cầm trượng đi cách đất
Miệng nói lời nhu nhuyến
Vì ai làm cấp sứ?116
Thích Đề-hoàn Nhân dùng kệ trả lời:
Giải thoát tất cả trói117
Điều ngự sĩ tối thượng
Ứng cúng bậc thiện thệ
Vì Ngài làm cấp sứ.
Khi ấy, vua Bình-sa khởi ý niệm: “Nơi đức Phật nghỉ ngơi, ta sẽ đem chỗ này cúng Phật, để lập tinh xá.” Đức Phật biết ý đó, chiều tối đến nghỉ ngơi vườn trúc Ca-lan-đà.118 Bấy giờ quần chúng đều sanh nghi: “Không biết đức Phật cùng Ưu-vi Ca-diếp ai là đệ tử?” Đức Phật biết ý niệm của quần chúng bèn hướng đến Ưu-vi Ca-diếp nói bài kệ:
Ưu-vi! Ông thấy gì
Mà bỏ pháp thờ lửa
Nay chính Ta hỏi ông
Nên trả lời thành thật.
Ưu-vi Ca-diếp dùng kệ trả lời:
[110a01] Thường tham những mỹ vị
Tâm chạy theo thinh sắc119
Con thấy nhơ nhớp này
Nên bỏ nghiệp thờ lửa.
Bấy giờ, đại chúng tuy nghe đức Phật cùng Ca-diếp nói một bài kệ, chưa rõ được ý chỉ nên còn hồ nghi. Đức Phật biết tâm của đại chúng, lại dùng kệ hỏi:
Ngũ vị ngọt miệng người
Sắc thinh vui lòng người
Ông thấy nhơ nhớp này
Do đâu mà được không?
Ưu-vi Ca-diếp dùng kệ trả lời:
Con thấy đạo tịch tĩnh
Tất cả không đắm trước120
Không khác, không thể khác121
Do vậy bỏ thờ lửa.
Bấy giờ, tuy hai lần nghe kệ, vẫn còn hoài nghi do dự. Phật biết tâm họ, bèn bảo Ca-diếp:
“Ông lấy quạt, quạt tôi.”
Ca-diếp vâng lời, lấy quạt quạt Phật. Đức Phật lại bảo Ca-diếp:
“Hãy hiện thần thông biến của ông xem nào!”
Ca-diếp liền thị hiện các loại thần biến, phân thân thành trăm ức, lại hiệp thành một, vách đá đều đi xuyên qua được, vào trong đất như vào trong nước, đi trên nước như đi trên đất, ngồi nằm trong không trung như chim bay lượn, cả thân bừng cháy chói sáng, tuôn khói, vụt lên mây, lấy tay rờ mặt trời, mặt trăng, đứng thẳng đến trời Phạm tự tại vô ngại. Hoặc trên thân tuôn ra nước, dưới thân tuôn ra lửa, hoặc trên thân bừng cháy, thân dưới tuôn ra nước, rồi sau đó giáng hạ cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng, quì gối, chắp tay, bạch Phật:
“Thế Tôn là thầy của con, con là đệ tử của Thế Tôn.”
Thưa như vậy ba lần rồi, nói với đại chúng:
“Những sự hiểu biết cho đến các thần biến của tôi đều do ân của Đại sư.”
Khi ấy, đại chúng mới biết Ca-diếp là đệ tử của Phật, nên rất vui mừng, cung kính đức Phật vô cùng. Thường pháp của chư Phật là nhân tâm chưa rung chuyển thì không vì họ nói pháp. Đức Phật biết đại chúng đã vui vẻ cung kính, nên nói các diệu pháp, chỉ dạy sự lợi ích, khiến cho họ vui mừng và nói thường pháp của chư Phật là khổ, tập, tận, đạo. Vua Bình-sa và tám mươi bốn nghìn người từ chỗ ngồi xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả rồi thọ ba tự quy và năm giới.
Bấy giờ, vua Bình-sa cúi đầu thỉnh Phật và Tăng sáng ngày thọ trai. Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng. Nhà vua vui vẻ trở về cung, ra lệnh chuẩn bị các thứcăn ngon bổ. Sáng ngày trải tọa cụ nơi vườn Trúc, đích thân đến thỉnh Phật thọ trai. Đức Phật cùng đại chúng theo thứ tự mà ngồi. Nhà vua tự tay sớt thức ăn vui vẻ không mỏi mệt. Phật và Tăng ăn rồi, dùng nước rửa xong, nhà vua đứng qua một bên, [110b01] bạch Phật:
“Con xin dâng cúng vườn Trúc này lên đấng Thế Tôn.”
Đức Phật dạy:
“Nên cúng cho Tăng phước đức nhiều hơn.”
Nhà vua lại bạch Phật:
“Cúi xin Ngài nạp thọ.”
Đức Phật dạy:
“Nên cúng dường cho Tăng, trong đó có Ta.”
Nhà vua vâng theo lời dạy dâng cúng cho Tăng bốn phương.122 Sau đó vua lấy chiếc ghế nhỏ123 ngồi trước đức Phật. Đức Phật nói pháp tùy hỷ, chú nguyện bằng bài kệ, như vì Tỳ-lan-nhã124 nói. Nói kệ và nói các pháp vi diệu rồi bảo vua về lại chỗ ở. Nhà vua từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng rồi cáo lui.
4. Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
Bấy giờ, đức Thế Tôn ở nơi La-duyệt-kỳ, tinh xá Trúc Viên. Nơi đó có một ấp tên là Na-la-đà, có Phạm-chí tên là Sa-nhiên,125 đệ tử thọ học hai trăm năm mươi người. Trong môn đồ có hai vị cao túc, một tên là Ưu-bà-đề-xá, người thứ hai tên là Câu-luật-đà.126 Bấy giờ, Át-tỳ127 mặc y bưng bát vào thành khất thực, nhan sắc hòa duyệt, các căn tịch định, y phục tề chỉnh, nhìn đất mà đi. Khi ấy, Ưu-bà-đề-xá dạo chơi, từ xa thấy Át-tỳ oai nghi rõ nét, khen chưa từng có, đợi đến bèn hỏi:
“Pháp tượng ở đâu, y phục khác thường? Có thể cho tôi biết quý danh của bậc tôn sư?”
Át-tỳ nhìn thẳng trả lời:
“Sa-môn Cù-đàm là bậc Đại sư của tôi. Chúng tôi tôn thờ Ngài, theo học nơi Ngài.”
Ưu-bà-đề-xá nói:
“Đại sư của tôn giả nói những pháp gì?”
Át-tỳ nói:
“Tôi còn non trẻ,128 mới học đạo chưa bao lâu, đâu có thể nói được nghĩa lý rộng lớn của thầy tôi. Nay tôi chỉ có thể vì ông nói cái nghĩa yếu lược. Thầy tôi dạy: ‘Các pháp từ duyên sanh, cũng từ duyên diệt. Tất cả các pháp là không, không có chủ thể’.”129
Ưu-bà-đề-xá nghe rồi, tâm ngộ ý giải, được con mắt pháp trong sạch bèn trở về chỗ ở, nói lại cho Câu-luật-đà nghe các pháp mình đã nghe. Câu-luật-đà nghe cũng xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, liền hỏi:
“Đức Như Lai du hóa, hiện nay ở đâu?”
“Hiện ở vườn Trúc Ca-lan-đà.”
Câu-luật-đà nói:
“Đức Như Lai là thầy của chúng ta, chúng ta nên cùng đến để kính lễ thăm hỏi.”
Ưu-bà-đề-xá nói:
“Còn hai trăm năm mươi đệ tử thì sao? Khi thầy gần qua đời có di chúc, chúng ta cần thành tựu cho nhau, đâu có thể không thông báo cho nhau mà xé lẻ rađi!”
Hai người liền đến chỗ đệ tử nói:
“Chúng tôi muốn theo Sa-môn Cù-đàm để tịnh tu phạm hạnh, các ông mỗi người tùy ý thích lựa chọn.”
Khi ấy hai trăm năm mươi người đệ tử đều muốn đi theo. Hai người bèn dẫn đệ tử cùng đến vườn Trúc. Đức Thế Tôn từ xa trông thấy, bảo các Tỳ-kheo:
“Hai người sắp đến kia, một tên là Ưu-bà-đề-xá, người thứ hai tên là Câu-luật-đà. Hai người này sẽ là [110c01] bậc tối thượng thủ trong hàng đệ tử của Ta, trí tuệ vô lượng, thần túc đệ nhất.”130
Trong chốc lát hai người đến, đức Phật vì họ tuần tự nói pháp, luận về việc bố thí, trì giới và sanh thiên, chê trách dục bất tịnh, khen ngợi hạnh xuất ly. Từ nơi chỗ ngồi, họ liền hết các lậu hoặc, tâm ý hiểu rõ đều đến trước đức Phật, xin được xuất gia tịnh tu phạm hạnh. Đức Phật dạy:
“Hãy đến đây, Tỳ-kheo! Ở trong pháp của Ta tịnh tu phạm hạnh, đặng hết nguồn gốc khổ, liền được gọi là xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn du hóa nơi La-duyệt-kỳ, anh em Uất-tỳ-la Ca-diếp và một nghìn người đệ tử, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và hai trăm năm mươi đệ tửđều xuất gia học đạo. Các tộc tánh hào quý, trưởng giả, cư sĩ nơi La-duyệt-kỳ cũng đều xuất gia. Đại chúng vây quanh tụ hội nơi nước này, đức Phật vì họ nói pháp.
B. Hòa Thượng Pháp
1. Hòa Thượng truyền giới
Đức Phật ở thành Vương Xá, khi ấy đức Thế Tôn chưa dạy các Tỳ-kheo cần có Hòa thượng,131 A-xà-lê.132 Do không có Hòa thượng, A-xà-lê cho nên oai nghi không tề chỉnh, mặc y thượng, hạ đều không như pháp, không biết việc tịnh hay bất tịnh, không buộc niệm trước mặt, không khéo hộ niệm các căn. Vào tụ lạc khất thực thọ bất tịnh thực, tự tay nhận lấy thức ăn không từ người thọ. Khi người trao thức ăn, chính nơi tay người kia moi bưới lên mà lấy, xòe tay cầm nơi miệng bát, không đưa cao bát lên mà thọ.133 Khi ăn lớn tiếng nói ồn. Người không tin ưa Phật pháp chê trách, nói: Các Sa-môn này quá hơn ngoạiđạo, không có oai nghi… cho đến câu: Lớn tiếng nói ồn, không có pháp của Sa-môn, phá hạnh Sa-môn. Chỗ nào họ không đi qua đều được thiện lợi. Lại có một Tỳ-kheo bệnh không có ai chăm sóc, do đó phải qua đời. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Các thầy có thật vậy không?”
“Bạch Thế Tôn, thật vậy.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Tại sao các thầy lại tán loạn tâm của mình; đi, đứng, nằm, ngồi đều không như pháp.”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu mặc y thượng, y hạ không như pháp… cho đến câu: Khi ăn cao tiếng nói ồn đều phạm Đột-kiết-la.”
Từ nay vì mười điều lợi, cho phép các Tỳ-kheo phải có Hòa thượng. Hòa thượng tự nhiên sanh tâm ái niệm đối với đệ tử134 như đối với con. Đệ tử tự nhiên sanh tâm kính trọng đối với Hòa thượng như cha mẹ,135 siêng giáo giới cho nhau, tương kính, chia bùi sẻ ngọt cho nhau, thì có thể mở rộng Phật pháp, khiếnđược lâu dài.
Pháp thỉnh Hòa thượng: Hãy dạy để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối, hai tay [111a01] ôm chân Hòa thượng, thưa:
“Con tên là… nay cầu ngài làm Hòa thượng. Ngài vì con làm Hòa thượng. Con tha thiết xin ngài làm Hòa thượng cho con y chỉ. Nhờ ngài làm Hòa thượng nên con được thọ giới Cụ túc”.
Cần cầu như vậy ba lần. Hòa thượng nên trả lời:
“Được, tốt! Tôi sẽ giáo giới ông. Ông chớ buông lung!”
2. Phận sự của đệ tử
Đệ tử nên phụng thờ Hòa thượng. Nếu không thưa với Hòa thượng mà vào xóm làng, phạm Đột-kiết-la. Nếu cùng đi với Tỳ-kheo khác, cũng phải bạch với Hòa thượng; nếu không bạch hay không cho mà đi đều phạm Đột-kiết-la.136 Tỳ-kheo khác kêu cùng đi cũng như vậy. Nếu muốn đến chỗ Tỳ-kheo khác lấy y bát, giày dép của mình cũng phải thưa; nếu không thưa, hay không cho phép mà lấy đều phạm Đột-kiết-la. Nếu muốn cho Tỳ-kheo khác y bát cũng nhưvậy. Nếu Tỳ-kheo khác muốn vì mình mang y bát và vì mình lấy y bát, cũng phải bạch. Nếu không bạch hay bạch mà không cho phép, vẫn lấy, đều phạmĐột-kiết-la. Nếu Tỳ-kheo khác nhờ mang y bát hay khiến lấy cũng như vậy.
Phàm làm việc gì cho đến cạo tóc, hoặc vì người cạo đều phải thưa, chỉ trừ đại tiểu tiện và lấy tăm xỉa răng. Nếu Hòa thượng phạm tội thô ác đệ tử nên cố gắng tạo phương tiện, khiến cho sớm trừ diệt, nếu không tạo phương tiện thì phạm Đột-kiết-la.
Nếu Tăng trao cho Hòa thượng pháp Biệt trú hoặc hành Ma-na-đỏa,137 hay hành Bổn nhật trị,138 hành A-phù-ha-na,139 đệ tử phải cố gắng tạo phương tiện cầu Tăng mau trao cho pháp Biệt trú… cho đến hành A-phù-ha-na, nếu không cố gắng làm thì phạm Đột-kiết-la.
Nếu ngày Hòa thượng được xuất tội, đệ tử nên lau quét, rưới nước, trải chỗ ngồi, chuẩn bị thẻ Xá-la,140 tập Tăng, cầu Tỳ-kheo Yết-ma,141 nếu không làm như vậy, phạm Đột-kiết-la.
Nếu Tăng trao Hòa thượng pháp Yết-ma khiển trách, Yết-ma khu xuất, Yết-ma y chỉ, Yết-ma cử tội, Yết-ma hạ ý,142 đệ tử nên cố gắng cầu Tăng khiến Tăng đừng làm, nếu không cầu Tăng, phạm Đột-kiết-la.
Nếu Tăng chắc chắn phải làm các Yết-ma đó, đệ tử mong cầu đừng trái pháp, nếu không mong cầu, phạm Đột-kiết-la.
Nếu Hòa thượng bệnh, đệ tử phải túc trực giúp đỡ. Nếu Hòa thượng có vật gì nên thưa để lấy đổi, tùy theo bệnh mà lo thức ăn, tùy theo bệnh mà lo thuốc thang. Nếu Hòa thượng không có vật gì mà mình có thì nên làm việc đó. Nếu mình cũng không có vật gì thì nên tìm xin.
Lại nên mai chiều vì Hòa thượng bệnh mà nói pháp. Hòa thượng chưa lành bệnh không nên du hành. Nếu không như vậy, phạm Đột-kiết-la.
Đệ tử phạm tội thô ác… cho đến câu: Bệnh chưa lành, Hòa thượng chăm sóc [111b01] cũng như vậy.143
Bấy giờ, các Tỳ-kheo trao giới bằng một lời: “Ngươi quy y Phật”. Lại có Tỳ-kheo trao giới bằng hai lời: “Ngươi quy y Phật, quy y pháp”. Lại có Tỳ-kheo trao giới bằng ba lời:144 “Ngươi quy y Phật, quy y pháp, quy y Tăng”. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên trao giới bằng một lời, hai lời, ba lời.”
Lại có Tỳ-kheo trao giới bằng cách: “Hãy đến đây, Tỳ-kheo!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão chê trách: “Tại sao thầy lại bắt chước Phật trao giới bằng cách nói: Hãy đến đây, Tỳ-kheo?!’”
Họ bạch Phật, đức Phật dạy:
“Không nên trao giới bằng cách nói: ‘Hãy đến đây, Tỳ-kheo!’”
3. Bạch tứ yết-ma
Bấy giờ, các Tỳ-kheo khởi ý nghĩ: “Đức Phật cho Tỳ-kheo trao giới, chúng ta cũng được phép. Nếu được thì nên trao bằng cách nào?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Nay cho phép các thầy trao giới cho Tỳ-kheo bằng pháp Bạch tứ yết-ma145 để trao.
Người muốn thọ giới, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ Tăng, đầu gối bên hữu chấm đất, bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Con tên… theo Hòa thượng hiệu… thọ Cụ túc giới. Nay đến Tăng xin thọ giới cụ túc. Cúi xin Tăng tế độ con, dũ lòng thương, thương con.
Thưa xin như vậy ba lần. Trong chúng nên sai một Tỳ-kheo biết pháp, bậc Thượng tọa hay ngang bằng với Thượng tọa, bạch giữa Tăng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên là… muốn thọ giới Cụ túc, ngài… làm Hòa thượng. Nay Tăng cho… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên là… muốn thọ giới Cụ túc, ngài… làm Hòa thượng. Nay Tăng cho… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… Các Trưởng lão vị nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
Tăng đã chấp thuận cho… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo gồm bốn người cho đến chín người trao giới Cụ túc cho một người, cho đến nhiều người. Các Tỳ-kheo Trưởng lão quở trách rồi bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép chúng mười người trao giới Cụ túc.”
Các Tỳ-kheo dùng phi nhơn, bạch y, người bị diệt tẫn, người bị cử tội, người tự ngôn,146 người bất đồng chánh kiến, người cuồng, người tâm tán loạn, người bệnh hoại tâm, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni vào trong số chúng mười người; trao giới Cụ túc. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, Phật dạy:
“Nên dùng mười vị Tỳ-kheo như pháp để trao giới Cụ túc.”
Các Tỳ-kheo trao giới Cụ túc cho người ngủ, [111c01] người say, người cuồng, người tâm tán loạn, người bệnh hoại tâm, người dị kiến. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên trao giới Cụ túc cho người ngủ… cho đến người dị kiến. Nên mười Tỳ-kheo như pháp, trao giới Cụ túc cho người như pháp.”
Các Tỳ-kheo dùng người ngủ, người say, người cuồng, người tâm tán loạn, người bệnh hoại tâm làm Hòa thượng. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên dùng những người này làm Hòa thượng.”
Các Tỳ-kheo lại dùng hai người cho đến mười người làm Hòa thượng. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, Phật dạy:
“Nên dùng một người làm Hòa thượng, không nên dùng hai cho đến mười người.”
Có các người muốn thọ giới Cụ túc mà không thể có đủ mười Tỳ-kheo như pháp, khởi ý niệm: “Nếu đức Phật cho phép ta khi Bố-tát, khi Tự tứ, khi Tăng tụ tập trao giới Cụ túc cho người thì đâu có khổ thế này.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
“Cho phép khi Bố-tát, khi Tự tứ, khi Tăng tụ tập cho người thọ giới Cụ túc.”
Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo cùng với Hòa thượng, A-xà-lê không hòa hợp bèn gây trở ngại cho người thọ giới. Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
“Người thọ giới nếu không có nạn sự thì không nên gây trở ngại, nếu gây trở ngại thì phạm Đột-kiết-la.”
Lại có các Tỳ-kheo do việc nhỏ mọn mà cưỡng bức gây trở ngại cho người thọ giới, hoặc nói hình như bị mù lòa, hoặc nói chân bị kiễng, hoặc thấy thấp nhỏ bèn nói chưa đủ hai mươi tuổi, hoặc nói cha mẹ hình như chưa cho xuất gia. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên dựa vào việc nhỏ mọn làm trở ngại cho người thọ giới, nếu làm trở ngại, phạm Đột-kiết-la.”
Các Tỳ-kheo vẫn gây trở ngại. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Nếu Hòa thượng, A-xà-lê hợp ý thì nên cho thọ giới.”
88 Tứ phần: Uất-bệ-la-bà giới 鬱鞞羅婆界. Pāli: Uruvelā, địa danh đã gặp trên, chỗ Phật thành đạo. (Xem cht. 24 trước).
89 Tứ phần: Uất-tỳ-la Ca-diếp 鬱鞞羅迦葉 là bậc thầy cao cả đối với năm trăm Phạm-chí bện tóc. Người trong nước Ương-già và Ma-kiệt đều xưng ông là A-la-hán. (A-la-hán ở đây là chỉ chung cho các Thánh giả, không riêng đệ tử của Phật). Pāli: Uruvelā-Kassapa.
90 Pāli: agyāgāre, trong căn nhà thờ lửa.
91 Mahāvagga, ibid.: na tveva ca kho arahā yathā ahan ti, “Nhưng ông chưa phải là vị A-la-hán như ta.”
92 Pāli nói: kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhaṃ bhattaṃ, thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, cơm đã dọn xong. Đây là định cú mời thọ thực trong văn Pāli.
93 Tứ phần: Trở về nghỉ đêm tại thạch thất.
94 Tứ phần: Thế Tôn nhập hỏa quang tam-muội, làm cho thạch thất kia sáng rực lên.
95 Pāli: Jambudīpa. Tứ phần: Diêm-phu-đề thọ 閻浮提樹. Diêm-phù quả 閻浮果. Skt: jambu, quả đào đỏ.
96 Thích Đề-hoàn Nhân 釋提桓因. Pāli: Sakko devānam Indo (Skt. śakro devendraḥ), Sakka (Thích-ca), vua của chư thiên. Cũng thường gọi là Thiên đế Thích.
97 Tứ phần: Cây ha-lê-lặc 訶梨勒樹, ngoài biên cõi Diêm-phù-đề. Pāli: harītakī. Vin. ii. 21: Phật đến trái xoài (amba) cách cây jambu không xa… rồi đến hái trái cây āmalakī cách cây xoài không xa… rồi trái cây harītakī, cách đó không xa…
98 Hán: Ni-liên-thiền hà 尼連禪河. Skt: Nairañjanā, Pāli: Nerañjarā. Xem cht. 24 trước.
99 Câu-da-ni 俱耶尼, hay gọi là Tây Ngưu hóa châu 西牛貨洲 (Skt. Apara-godānīya), ở nơi này dùng bò, dê làm tiền tệ trao đổi nên có tên như vậy.
100 Tứ phần: “Đức Thế Tôn nhận một chiếc y phấn tảo quý giá.” Quý giá phấn tảo 貴價糞掃. Y phấn tảo (Pāli: paṃsukūla; Skt. pāṃśukūla) là vải lượm từ các đống rác và trong bãi tha ma. Cf. Vin. i. 28: bhagavato paṃsukūlaṃ uppapannaṃ hoti, “Thế Tôn nhận được một tấm y phấn tảo.” Không có từ phẩm định “quý giá.”
101 Hán: A-tì Thích-ca sơn thần 阿毘釋迦山神; Phiên Phạn ngữ 7, T54n2130, tr. 1028b23: A-tì Thích-ca dịch là “Cực năng”. Tứ phần: Thích Đề-hoàn Nhân 釋提桓因.
102 Hán: Kha-hầu thọ 柯睺樹. Tứ phần: Ca-hưu thọ 迦休樹. Pāli: atha kho kakudhe adhivatthā devatā, khi ấy vị thần ngụ trên cây kakudha, cây mồng gà (?).
103 Uất-đơn-việt 鬱單越; Pāli: Uttarakuru-dīpa (Skt. Uttara-dvipa), châu lục phía bắc Tu-di. Xem Trường A-hàm 18, kinh 30 “Thế ký” phẩm Uất-đan-viết, T01, tr. 117 tt.
104 Hán: Tự nhiên canh mễ 自然粳米. Pāli: akaṭṭhapākasāli, lúa tự chín, không cần gieo trồng. Thứ lúa của loài người thời nguyên thuỷ, và của chúng sinh Bắc Câu-lô châu. Tự nhiên mọc và chín sẵn ngoài đồng. Xem Trường A-hàm 6 (T01, tr.38a1), Trung A-hàm 39 (T1, tr. 675a19). Pāli, D. iii. 87.
105 Na-đề Ca-diếp 那提迦葉. Pāli: Nadī-kassapa, “Ca-diếp sông”, vì sống bên bờ sông. Vin. i. 33.
106 Già-da Ca-diếp 伽耶迦葉. Pāli: Gayā-Kassapa, “Ca-diếp núi đầu voi”, Pāli: Gayāsīsa, núi đầu voi (Tượng đầu sơn 象頭山), ngọn đồi gần thị trấn Gayā. Vin. i. 34.
107 Tứ phần: Núi Tượng Đầu.
108 Xem Trường A-hàm 16, kinh 24 “Kiên cố” (T01, tr. 101c8), có ba thần túc: thần túc thần túc, quán sát tha tâm thần túc, giáo giới thần túc. Xem Tập dị môn 6 (T26n1536, tr. 389b17), ba thị đạo: thần biến thị đạo, ký tâm thị đạo, giáo giới thị đạo. Cf. Pāli, Saṅgīti, D. iii. 222: tīṇi pāṭihāriyāni, iddhi-pāṭihāriyaṃ, ādesanā-pāṭihāriyaṃ, anusāsani-pāṭihāriyaṃ.
109 Thần túc giáo hoá 神足教化; hay thần biến thị đạo, dùng thần thông để dẫn người vào đạo. Pāli: iddh-pāṭihāriyaṃ/ Skt. ṛddhi-prātihāryam.
110 Tứ phần: Thuyết pháp giáo hoá 說法教化; hay giáo giới thị đạo, hướng dẫn bằng sự khuyên răn dạy bảo. Pāli: anusāsanī-pāṭihāriyaṃ/ Skt. anuśāsanī-prātihāryam.
111 Tứ phần: Ức niệm giáo hoá 憶念教化; hay ký tâm thị đạo, hướng dẫn bằng cách đọc biết tâm ý của người. Truyện kể trên, Phật nhiều lần nói lên ý nghĩ của Ca-diếp, khiến ông cuối cùng quy phục. Pāli: ādesanā-pāṭihāriyaṃ/ Skt. ādeśanā-prātihāryam.
112 Tĩnh lược: “Tai…, tiếng…, thức của tai…, cho đến ý…, pháp…” Pāli, Āditta-sutta, S. iv. 19 ff; Hán, Tạp A-hàm, kinh 197.
113 Tứ phần: Trượng lâm 杖林. Pāli: laṭṭhivane, trong rừng cây cọ.
114 Ưu-vi, Pāli: Uruvela, là Uất-tỳ-la 鬱鞞羅. Ưu-vi nguyên là tên địa danh nơi Ca-diếp người anh cả trú ngụ, nên lấy địa danh đó gọi chung thành tên. (xem cht. 24, 88 trước).
115 Tứ phần: Cách mặt đất bốn ngón tay. Khoảng 10 cm.
116 Cấp sứ 給使: Người phụng sự, phục vụ.
117 Hán: Nhất thiết phược 一切縛. Tứ phần: Nhất thiết giải 一切解, theo nghĩa là “thấu hiểu tất cả.” Tham chiếu Pāli: sabbadhi danto, được chế ngự trong mọi trường hợp; tức các căn hoàn toàn được nhiếp phục. Trong bản Hán, sabbadhi (mọi trường hợp) được đọc là sabbadhī: thấu hiểu tất cả.
118 Ca-lan-đà Trúc viên 迦蘭陀竹園. Pāli: Kalandakanivāpa-Veḷuvana, chỗ nuôi sóc trong khu rừng Trúc. Trúc lâm, hay rừng Trúc (Veḷuvana) là lạc viên (uyyāna) của vua Bimbisāra. Kalandaka, hay Ca-lan-đà, là một khu trong rừng Trúc; không phải là vườn Trúc có tên là Ca-lan-đà như thường hiểu theo văn Hán.
119 Tứ phần: Ái dục, nữ, tế tự. Cf. Pāli, Vin. i. 35: rūpe ca sadde ca atho rase ca/ kāmitthiyo cābhivadanti yaññā, “Các tế tự ca ngợi sắc, thanh, vị, dục và nữ.”
120 Tứ phần: Ba cõi không trở ngại. Pāli. ibid.: disvā padaṃ santam anūpadhīkaṃ, akiñcanaṃ kāmabhave assattaṃ, sau khi thấy con đường an tĩnh, không chấp thủ; con đường không vướng gì cả, không tồn tại trong cõi dục.
121 Bất dị, bất khả dị 不異不可異. Pāli: anaññathābhāvim anaññaneyyaṃ, (con đường) không đổi khác, không lạc hướng.
122 Hán: Tứ phương Tăng 四方僧, cũng thường gọi là chiêu-đề Tăng, chỉ cộng đồng Tỳ-kheo sống cố định một nơi. Tứ phần: “Dâng cúng cho Phật, và Tăng bốn phương.” Pāli, Vin. i. 39: anujānāmi bhikkhave ārāmaṃ, “Này các Tỳ-kheo, Ta cho phép nhận Tăng-già-lam.” Được xem là khởi đầu cho sự cúng và nhận Tăng-già-lam.
123 Nguyên Hán: tiểu sàng 小床, cái giường nhỏ.
124 Xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di, Sự kiện ấp Tỳ-lan-nhã.
125 Sa-nhiên 沙然. Pāli: Sañjaya. Tứ phần: San-nhã phạm chí 刪若梵志. Pāli (Vin. i. 39): Sañcayo paribbājako; thường được đồng nhất với Sañjaya-Belaṭṭhiputta, một trong sáu tôn sư ngoại đạo đương thời Phật.
126 Tứ phần: Ưu-bà-đề-xá và Câu-luật-đà 優波提舍, 拘律陀. Ưu-ba-đề-xá (Pāli: Upatissa) là tên khác của Xá-lợi-phất (Sāriputta). Câu-luật-đà (Pāli: Kolita) là tên khác của Mục-kiền-liên (Moggallāna).
127 Tứ phần: A-thấp-ti 阿濕卑. Pāli: Assaji, một trong năm Tỳ-kheo đầu tiên.
128 Hán: Niên ấu trĩ 年幼稚. Hán nói theo sáo ngữ; hoặc nuốn nói tuổi đạo còn non trẻ. Pāli: …navo acirapabbajito, người mới (thọ Tỳ-kheo), xuất gia chưa bao lâu.
129 Tứ phần: “Đức Như Lai nói về nhân duyên các pháp sanh, cũng nói nhân duyên pháp diệt. Nếu pháp do nhân nào mà sanh, đức Như Lai nói nhân đó. Nếu pháp do nhân nào diệt, Đại Sa-môn cũng nói nghĩa này. Đây là những lời dạy của Thầy tôi.” Pāli (Vin. i. 40): ye dhammā hetuppabhavā, tesaṃ hetuṃ tathāgato āha/ tesañca yo nirodho, evaṃvādi mahāsamaṇo, “Những pháp gì sinh khởi do nhân, Như Lai nói nhân của các pháp đó, và cũng nói sự diệt tận của chúng. Đó là lời dạy của Đại Sa-môn.”
130 Pāli, Vin. i. 42: sāvakayugam… aggaṃ bhaddayugaṃ, một đôi thượng túc đệ tử; một đôi hiền triết.
131 Hòa thượng 和尚. Pāli (Vin. i. 45): upajjhāya (Skt. upādhyāya), hoặc âm là Ô-ba-đà-da 鄔波馱耶; dịch là thân giáo sư 親教師. Tứ phần 33, tr. 799c04. Thập tụng 21, tr. 148b.
132 A-xà-lê 阿闍梨. Pāli: Ācariya, dịch là quĩ phạm sư, giáo thọ, truyền thọ…
133 Bất tịnh thực 不淨食 và bất tịnh bát 不淨缽, nhận thức ăn không như pháp, và dùng bình bát không đúng quy định. Tham chiếu Pāli, Vin. i. 44: khi mọi người đang ăn, họ đưa bát ngay trên thức ăn, trên gia vị, trên thức uống để nhận phần dư.
134 Đệ tử 弟子. Pāli: saddhivihārika, chỉ đệ tử là người đang sống chung trong cùng một trú xứ. Phân biệt với đệ tử thị giả, luôn luôn đi theo hầu thầy, Pāli gọi là antevāsika (Skt.antevāsa). Và đệ tử chỉ đến thọ giáo thôi, gọi là sāvaka (Skt. śrāvaka; dịch là Thanh văn).
135 Tứ phần: Nhi ý 兒意, và phụ ý 父意. Pāli: puttacitta (tâm của người con), pitucitta (tâm của người cha).
136 Đột-kiết-la 突吉羅. Pāli: Dukkaṭa, Đột-kiết-la, hành động sai trái (ác tác).
137 Ma-na-đỏa: Xem cht. 5, 9, Phần I, Ch. ii, Tăng tàn.
138 Bổn nhật trị: Xem cht. 58, Phần I, Ch. v, Pháp Đọa.
139 A-phù-ha-na: Xem cht. 9, Phần I, Ch. ii, Tăng tàn; cht. 126, Phần I, Ch. v, Pháp Đọa.
140 Thẻ Xá-la舍羅, Skt. Śalākā, chỉ cho cái thẻ bằng tre, gỗ, đồng, sắt… dùng để đếm số Tỳ-kheo tham dự khi Tăng tác pháp Diệt tránh, hoặc lúc Bố-tát.
141 Yết-ma 羯磨, Skt: Karma, Pāli: Kamma, nói đủ: Skt. karmavācanā (Pāli. kammavācā), Hán: Yết-ma ngữ 羯摩語; dịch biện sự tác pháp 辨事作法. Trong nghĩa đen của tiếng Phạn, karman hay “Yết-ma” có nghĩa là hành động hay hành vi. Có hành động thuộc cá nhân mà cũng có hành động thuộc tập thể. Để phân biệt rõ hai phạm vi trách nhiệm như thế, trong thuật ngữ Hán dịch ngữ nghiệp luôn luôn được dùng để chỉ cho hành động thuộc cá nhân, và cá nhân ấy hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hậu quả mà nó đã làm. Trái lại, phiên âm yết-ma chỉ dùng cho các hành vi tập thể.
142 Yết-ma khiển trách, khu xuất, y chỉ, cử tội, hạ ý: Xem Phần I, Ch. v, Ba-dật-đề 5.
143 Bổn phận của Hòa Thượng đối với đệ tử cũng phải được thực thi như vậy.
144 Hán: Tam ngữ 三語; chỉ ba quy y. Pāli, Mahāvagga, Vin. i. 22: anujānāmi, bhikkhave, imehi tīhi saraṇagamanehi pabbajjaṃ upasampadan ti, “Các Tỳ-kheo, Ta cho phép xuất gia thọ Cụ túc bằng quy y này.” Là dành cho khi đức Phật chưa dạy các Tỳ-kheo cần có Hòa thượng.
145 Bạch tứ yết-ma 白四羯摩. Pāli: ñatticatutthakamma, tức là một lần tác bạch thưa trình, ba lần Yết-ma biểu quyết (là hình thức tác pháp), gọi là Bạch tứ yết-ma.
146 Người tự ngôn 自言: Tức nói những điều liên hệ đến mình, nói gợi ý về mình. Pāli: attupanāyikam.
C. Nhân và Sự như pháp
1. Kết và giải tiểu giới
Lại có các Tỳ-kheo ở trong một cương giới mà biệt chúng trao giới. Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
“Nên ra ngoài giới Bạch nhị yết-ma147 kết tiểu giới để trao giới, trước hết sai một Tỳ-kheo xướng tướng bốn phương của giới, một Tỳ-kheo bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Như tướng bốn phương của giới; do Tỳ-kheo… đã xướng, nay Tăng kết làm giới đàn, cùng chung sống, cùng chung Bố-tát, cùng chung nhận của thí. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Như tướng bốn phương của giới mà Tỳ-kheo… đã xướng, nay Tăng kết làm giới đàn, cùng chung sống, cùng Bố-tát, cùng nhận của thí. Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã kết theo tướng giới của Tỳ-kheo… xướng làm giới đàn, cùng chung sống, cùng Bố-tát, cùng nhận của thí rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi nghi nhận như vậy.
[112a01] Các Tỳ-kheo kết giới đàn rồi không xả mà đi. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Nên Bạch nhị yết-ma xả giới rồi đi. Một Tỳ-kheo bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Chỗ kết giới này nay Tăng xả giới ấy. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Chỗ kết giới148 này nay Tăng xả giới ấy. Các trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã xả giới này rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi nghi nhận như vậy.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo dẫn người muốn thọ giới đến chỗ thọ giới, thưa với Thượng tọa rằng:
“Xin ngài vì người này tác Yết-ma.”
Thượng tọa nói:
“Tôi không tụng Yết-ma.”
Cho đến hạ tọa cũng nói như vậy, nên người ấy không được thọ giới. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Vị nào cũng phải tụng Yết-ma. Nếu mười tuổi về sau mà không tụng được thì phạm Đột-kiết-la.”
Các Tỳ-kheo dẫn hai người muốn thọ giới đến chỗ thọ giới, hai người muốn thọ giới tranh nhau thọ trước, nên không thọ được. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Người nào đến chỗ thọ giới trước thì nên cho thọ trước. Nếu hai người cùng đến một lần thì người nào lớn tuổi nên cho thọ trước. Nếu đồng một tuổi thì Hòa thượng của vị nào lớn hơn thì cho thọ trước. Nếu Hòa thượng cũng đồng nhau thì Yết-ma một lần, nhưng người nào được xướng tên trước thì thọ trước. Ba người cũng như vậy.”
Ngài Ưu-ba-ly hỏi Phật:
“Những việc khác cũng được Yết-ma ba người hay không?”
Đức Phật dạy: “Được.”
Ưu-ba-ly lại hỏi:
“Được cho bốn người tác Yết-ma hay không?”
Đức Phật dạy:
“Tất cả không được tác Yết-ma bốn người.”
Các Tỳ-kheo dẫn người muốn thọ giới đến chỗ thọ giới để thọ, gặp giặc cướp đoạt, hành hung đến gần chết, phải trở lại. Các Tỳ-kheo khởi ý nghĩ: “Nếu đức Thế Tôn cho phép chúng ta ở trong Tăng phường lập giới tràng để thọ thì khỏi bị nạn này.” Họ bạch Phật, Phật dạy:
“Nay cho phép ở trong Tăng phường Bạch nhị yết-ma kết làm giới tràng để thọ. Trước hết nên Bạch nhị yết-ma để xả giới của Tăng phường. Một Tỳ-kheo biết pháp xướng:
Đại đức tăng xin lắng nghe! Một trú xứ này, Tăng chung sống, chung Bố-tát, chung nhận vật bố thí. Trước kết giới này nay xả. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức tăng xin lắng nghe! Một trú xứ này, Tăng chung sống, chung Bố-tát, chung nhận vật bố thí. Trước kết giới này nay xả. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã giải giới trước đây kết rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.
Giải giới của Tăng phường rồi, vậy sau mới kết giới tràng. Một Tỳ-kheo xướng tướng bốn phương của giới tràng. Một Tỳ-kheo Bạch nhị yết-ma như trên đã nói. [112b01] Kết giới trường rồi lại kết giới Tăng phường. Một Tỳ-kheo xướng tướng bốn phương của giới, lại xướng trừ nội địa. Một Tỳ-kheo tác bạch:
Đại đức tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là… xướng tướng bốn phương của giới, trừ nội địa. Nay Tăng kết làm đại giới chung sống, chung Bố-tát, chung nhận vật bố thí. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là… xướng tướng bốn phương của giới, trừ nội địa. Nay Tăng kết làm đại giới chung sống, chung Bố-tát, chung nhận vật bố thí. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã kết theo tướng giới bốn phương, trừ nội địa, do Tỳ-kheo… xướng làm đại giới của Tăng chung sống, chung Bố-tát, chung nhận vật bố thí rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi nghi nhận như vậy.”
2. Ngoại đạo xuất gia (1)
Bấy giờ có một Ma-nạp149 ngoại đạo muốn xuất gia thọ giới Cụ túc trong chánh pháp, đến chỗ Xá-lợi-phất thưa:
“Cho con xuất gia thọ Cụ túc.”
Xá-lợi-phất không cho thọ. Như vậy, Ma-nạp tuần tự đi đến khắp chỗ năm trăm Tỳ-kheo, đều không vị nào cho thọ, khóc lóc trở về. Đức Phật dùng thiên nhãn xem thấy, hỏi Xá-lợi-phất:
“Ma-nạp này, tại sao khóc lóc ra về?”
Xá-lợi-phất trình bày đầy đủ sự việc. Đức Phật lại hỏi:
“Người này đã từng có một lần nào nói một lời nói lành đối với các Tỳ-kheo hay không?”
Xá-lợi-phất thưa: “Có.”
Đức Phật lại hỏi:
“Lời nói lành ấy là thế nào?”
Xá-lợi-phất thưa:
“Trước đây con đi khất thực, người này khen con: ‘Sa-môn Thích tử này thiện hảo có đức, nên cho thức ăn.’”
Đức Phật dạy:
“Ân ấy nên trả. Ông có thể độ họ.”
Xá-lợi-phất vâng lời Phật cho thọ giới Cụ túc. Lại có một Ma-nạp ngoại đạo bạc phước khất thực không được, khởi ý niệm: “Sa-môn Thích tử khất thực dễ được, đau ốm thuốc men có người giúp đỡ.’ Nay ta nên đến đó xuất gia thọ giới Cụ túc. Nghĩ rồi, Ma-nạp liền đến Tăng phường bạch các Tỳ-kheo:
“Cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Các Tỳ-kheo liền cho thọ giới Cụ túc. Do bạc phước nên theo thứ tự mời đi thọ thực bị Tăng gát lại. Các Tỳ-kheo nói:
“Thầy có thể mặc y bưng bát đi khất thực.”
Ma-nạp nói: “Thưa Đại đức, tôi sợ đi khất thực lắm cho nên mới xuất gia trong giáo pháp của Phật, nay tại sao lại bảo tôi đi khất thực?”
Các trưởng lão Tỳ-kheo chê trách:
“Tại sao lại độ người không thể đi khất thực?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
“Không nên độ hạng người này, nếu độ phạm Đột-kiết-la. Khi độ nên phải hỏi trước: ‘Ngươi vì cái gì mà đi xuất gia?’ Nếu nói vì ẩm thực, thì không nên độ.[112c01] Nếu nói vì cầu thiện pháp, nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi khổ não thì nên độ.
Trước khi trao giới Cụ túc nên nói việc phải nương tựa đó là mặc y phấn tảo, đi khất thực, nương ngồi dưới tàng cây, thọ dụng tàn khí dược. Hỏi: ‘Ngươi có thể trọn đời nương theo bốn việc này hay không?’ Nếu nói: ‘Có thể’, thì nên cho thọ. Nếu nói không thể, thì không nên cho thọ.”
Có đại trưởng giả Bà-la-môn nhàm chán thế gian phiền bận, đã có những suy nghĩ: “Sa-môn Thích tử phụng hành chánh pháp, rộng tu phạm hạnh, xuất gia nơi đó được hết nguồn gốc khổ.” Nghĩ như vậy rồi đến trong Tăng phường cầu xuất gia thọ giới Cụ túc. Các Tỳ-kheo nói: “Như Lai Ứng cúng đẳng chánh giác nói bốn điều nương tựa,150 nếu ngươi có thể trọn đời nương theo mới cho ngươi xuất gia, thọ giới Cụ túc. Bà-la-môn nói:
“Bốn điều nương tựa là những gì?”
Các Tỳ-kheo liền nói bốn điều nương tựa. Bà-la-môn nói: “Bốn điều này đối với thế gian là tệ mạt, tôi không thể nương được. Nếu Đại đức cho tôi thọ Cụ túc giới trước, vậy sau mới nói thì việc đã rồi, tôi có thể làm theo.”
Thế là người Bà-la-môn trở về. Các Tỳ-kheo nghĩ: “Nếu đức Phật cho phép chúng ta trao giới Cụ túc rồi, vậy sau mới nói bốn điều nương tựa, thì người này đã không thối tâm.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Cho phép thọ giới Cụ túc rồi, sau nói bốn điều nương tựa.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo thọ giới Cụ túc rồi, đi về trước, người mới thọ giới đi sau, thấy người dâm nữ, tình nhân cũ. Dâm nữ nói:
“Anh không thể sinh sống được nên vào đạo phải không?”
Người mới thọ giới nói:
“Tôi nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi khổ não, muốn hết gốc khổ nên vào đạo phụng hành chánh pháp, rộng tu phạm hạnh.”
Dâm nữ nói:
“Như lời anh nói thì vấn đề giao hội không còn có nữa rồi, nay có thể cùng em hành dục một lần cuối đi!”
Người mới thọ giới thuận tình, hành dục, chiều tối mới về. Các Tỳ-kheo hỏi:
“Tại sao thầy ở lại sau?”
Tân Tỳ-kheo trả lời đúng sự thật. Các Tỳ-kheo bèn đuổi đi và nói: “Thầy đi đi! Thầy cút đi! Trong pháp của Tỳ-kheo, nếu làm việc này chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Thích chủng tử.”
Tân Tỳ-kheo nghe vậy buồn bã, quỵ xuống đất nói:
“Nếu khi thọ giới nói với tôi, thì dù có mất mạng tôi đâu phạm điều này.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Thọ giới Cụ túc rồi phải nói mười hai pháp, bốn đọa pháp, bốn dụ pháp, bốn y pháp (bốn điều nương tựa).”
3. Y chỉ và dứt y chỉ
Bấy giờ đức Phật chưa cho phép các Tỳ-kheo có A-xà-lê. Hòa thượng của Tỳ-kheo qua đời, do không có Hòa thượng, A-xà-lê nên mặc y [113a01] trên dưới không như pháp… cho đến khi ăn nói ồn đều như trước. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, Phật dạy:
“Từ nay vì mười điều lợi cho phép các Tỳ-kheo có A-xà-lê. A-xà-lê tự nhiên sanh tâm xem đệ tử như con, đệ tử tự nhiên sanh tâm xem A-xà-lê như cha. Mọi việc thờ kính như trong pháp thờ Hòa thượng đã nói.”
Đức Phật cho phép có A-xà-lê, quý thầy không biết có mấy hạng A-xà-lê, bạch Phật, Phật dạy:
“Có năm hạng A-xà-lê: Xuất gia A-xà-lê, Giáo thọ A-xà-lê, Yết-ma A-xà-lê, Thọ kinh A-xà-lê và Y chỉ A-xà-lê.”
Các Tỳ-kheo không biết (nghĩa)* Xuất gia (A-xa-lê)*… cho đến Y chỉ A-xà-lê, bạch Phật, Phật dạy:
“Mới bắt đầu độ cho thọ giới Sa-di gọi là Xuất gia A-xà-lê. Khi thọ giới Cụ túc, người dạy pháp oai nghi gọi là Giáo thọ A-xà-lê. Khi thọ giới Cụ túc, người tác pháp Yết-ma gọi là Yết-ma A-xà-lê. Người dạy kinh dù chỉ một ngày, gọi là Thọ kinh A-xà-lê. Người mình y chỉ, dù chỉ một đêm, gọi là Y chỉ A-xà-lê.”
Đức Phật đã cho phép có Y chỉ A-xà-lê, bèn y chỉ Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, người cuồng tâm, loạn tâm, bệnh hoại tâm, người bị cử, người bị tẫn, người ở khác chỗ, người Biệt trú, người hành Ma-na-đỏa, người hành bổn nhật, người nên xuất tội, người tự ngôn, người đa nhơn ngữ, người làm các Yết-ma. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên y chỉ những người như trên, chỉ cho phép y chỉ Tỳ-kheo như pháp.”
Trong vấn đề này, có trường hợp thành tựu vấn đề xin y chỉ, có trường hợp không thành tựu vấn đề xin y chỉ; có trường hợp thành tựu cho y chỉ, có trường hợp không thành tựu cho y chỉ; có trường hợp thành tựu thọ y chỉ, có trường hợp không thành tựu thọ y chỉ. Trường hợp không thành tựu xin y chỉ: Nếu Tỳ-kheo xin y chỉ với Tỳ-kheo-ni, hay Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, cho đến xin y chỉ với các vị Yết-ma. Như vậy gọi là không thành tựu vấn đề xin y chỉ. Nếu xin y chỉ với Tỳ-kheo như pháp mà không nói:
“Con tên… nay cầu ngài làm y chỉ. Ngài vì con làm y chỉ. Con y chỉ nơi ngài để ở. Ngài sẽ giáo giới con. Con sẽ vâng lời dạy bảo của ngài.”151
Không nói như vậy thì cũng không thành tựu vấn đề xin y chỉ. Thành tựu vấn đề xin y chỉ: Đến trước Tỳ-kheo như pháp thưa xin như trên thì gọi là thành tựu vấn đề xin y chỉ.
[113b01] Không thành tựu vấn đề cho y chỉ: Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni cho đến các vị Yết-ma cho Tỳ-kheo y chỉ. Như vậy gọi là không thành tựu vấn đề cho y chỉ. Nếu đối trước Tỳ-kheo như pháp, cầu xin như pháp rồi, mà vị được cầu xin không nói: “Ngươi chớ buông lung.” Như vậy cũng không thành tựu cho y chỉ. Đó gọi là không thành tựu cho y chỉ. Thành tựu vấn đề cho y chỉ: Đối với Tỳ-kheo như pháp, cầu xin như pháp rồi, vị được cầu xin nói: “Ngươi chớ buông lung.” Như vậy gọi là thành tựu vấn đề cho y chỉ.
Không thành tựu vấn đề thọ y chỉ: Tỳ-kheo đến Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni cho đến các vị tác Yết-ma thọ y chỉ, đều không gọi là thọ y chỉ. Nếu đối với Tỳ-kheo như pháp không thưa lời như vầy: Con tên là… nay cầu ngài y chỉ… cho đến câu: Con sẽ vâng lời ngài dạy bảo, cũng không thành thọ y chỉ. Như vậy gọi là không thành tựu thọ y chỉ.
Thành thọ y chỉ: Đối với Tỳ-kheo như pháp thưa như vầy: Con tên là… nay cầu ngài y chỉ… cho đến câu: Con vâng lời dạy bảo của ngài. Như vậy gọi là thành thọ y chỉ.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo cách vách thọ y chỉ, hoặc không cung kính, trùm đầu, trùm vai, mang giày dép, ngồi, nằm thọ y chỉ. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, Phật dạy:
“Nên để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối, chắp tay, xoay mặt lại thưa: Con tên là… nay cầu Ngài làm y chỉ… cho đến câu: Con sẽ vâng lời ngài dạy bảo.”
Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo không kính Hòa thượng, A-xà-lê, không kính giới, các Tỳ-kheo khác cũng có vị bắt chước theo. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, đức Phật hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo và các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ông có như vậy không?”
“Sự thật chúng con có như vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Các ông ngu si, tại sao không kính thầy, không kính giới!?”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay nếu Tỳ-kheo nào không kính Hòa thượng, A-xà-lê, không kính giới thì phạm Đột-kiết-la.”
Các Tỳ-kheo còn có người không kính, họ bạch Phật, Phật dạy:
“Nên tác pháp không cùng nói năng.”152
Các Tỳ-kheo lại tác pháp không cùng nói năng suốt đời, cũng không gặp nhau, hoặc đuổi ra khỏi chỗ ở. Cũng cùng với Tỳ-kheo ngu si, Tỳ-kheo vô tội tác pháp không cùng nói năng. Lại không nói tội của người kia mà tác pháp không cùng nói năng. Họ bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên vì không kính Hòa thượng, A-xà-lê mà tác pháp không cùng nói năng suốt đời. Người si, người vô tội [113c01] không nên tác pháp không cùng nói năng, cũng không nên không nói tội của người kia mà tác pháp không cùng nói năng.”
Không cùng nói năng có 5 trường hợp: một là nói “ông đừng nói gì với tôi”; hai là nói “ông làm gì đừng thưa với tôi”; ba là nói “ông đừng vào phòng tôi”; bốn là nói “ông đừng cầm y bát và giúp tôi làm mọi việc”; năm là nói “ông đừng thấy mặt tôi”.153
Các Tỳ-kheo lại do việc nhỏ mà tác pháp không cùng nói năng. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên vì một việc nhỏ mà tác pháp không cùng nói năng. Nếu đệ tử có 5 việc sau đây thì thầy nên tác pháp không cùng nói năng:154 Đối với thầy không tàm, không quý, không cung kính, không quý mến, không cúng dường. Đó là 5 việc. Không có 5 việc này thì không nên tác pháp không cùng nói năng.”
Có các Tỳ-kheo đã tác pháp không cùng nói năng với đệ tử rồi lại cùng nói, cùng ở, đệ tử càng thêm kiêu mạn. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên đã tác pháp không cùng nói năng rồi lại cùng nói ‘Ta không muốn khiến cho người kia mất y chỉ nên tác pháp không cùng nói năng’; vì điều phục tịch tĩnh, hướng đến Niết-bàn nên tác pháp không cùng nói năng, nếu trở lại cùng nói thì phạm Đột-kiết-la.”
Lại có các Tỳ-kheo vì đệ tử tác pháp không cùng nói năng, Tỳ-kheo khác vội vàng cùng nói năng, do đó đệ tử càng kiêu mạn đối với thầy. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên cùng nói năng với đệ tử của người khác mà họ đã tác pháp không cùng nói năng.”
Đức Phật không cho phép người khác cùng nói năng, do vậy đương sự hoàn tục hoặc làm ngoại đạo. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Nếu muốn dạy người kia ăn năn đối với thầy thì cho phép được cùng nói năng.”
Khi ấy, có thầy tác pháp không nói năng đối với đệ tử, đệ tử không chịu ăn năn. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên không ăn năn, nên sám hối như vầy: Để trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, lấy hai tay ôm chân thầy. Với tất cả sự khép nép, bạch: ‘Con còn nhỏ dại ngu si, sau không dám tái phạm’.”
Bấy giờ, có thầy không nhận sự sám hối của đệ tử. Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
“Nếu đệ tử hồi tâm biết xấu hổ, cung kính, quí mến, cúng dường thì không nên không nhận sự sám hối. Người chịu sám hối thì tội tiêu trừ.”
Bấy giờ có các thầy không biết đệ tử phạm giới hay không phạm giới, ăn năn hay không ăn năn, thấy đệ tử phạm giới không dạy bảo la rầy. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Thầy nên biết đệ tử phạm giới hay không phạm giới, ăn năn hay không ăn năn, thấy đệ tử phạm giới nên dạy bảo la rầy, nếu không biết hay không la rầy dạy bảo thì phạm Đột-kiết-la.”
[114a01] Bấy giờ Tỳ-kheo thường trú không kính lễ Tỳ-kheo vãng lai, Tỳ-kheo vãng lai cũng không kính lễ Tỳ-kheo thường trú. Tỳ-kheo thường trú cũng không kính lễ nhau. Có một Tỳ-kheo đến nơi một trú xứ không kính lễ các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo hỏi:
“Thầy ở đâu đến?”
Tỳ-kheo ấy đáp:
“Tôi ở… đến.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Xem thế thì biết các Tỳ-kheo nơi trú xứ của thầy kiêu mạn như thầy. Chúng tôi không thể cộng trú.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Tất cả phải kính lễ nhau, nếu không kính lễ phạm Đột-kiết-la.”
Lại có các Tỳ-kheo hoặc cách vách mà kính lễ, hoặc từ xa mà kính lễ, hoặc nằm rồi miệng nói: Kính lễ, hoặc đưa thẳng tay lên, hoặc cúi đầu một chút. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên kính lễ như vậy, nên một lần cung kính, cởi bỏ giày dép, để trống vai bên hữu, hai đầu gối sát đất, tiếp giáp với chân mà kính lễ.”
Có các Tỳ-kheo đảnh lễ khắp tất cả các Tỳ-kheo nên bị lạc bạn, bạch Phật, Phật dạy:
“Chỉ nên kính lễ bậc thầy và lễ chung các vị khác rồi đi.”
Khi ấy, Tỳ-kheo Ưu-ba-tư-na hai tuổi (Hạ)*, dẫn đệ tử một tuổi đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân rồi ngồi lui qua một bên. Sau đó, người đệ tử lễ Phật, cái đãy đựng bát rơi trên đầu gối đức Phật. Đức Phật hỏi Ưu-ba-tư-na:
“Thầy này là đệ tử ai?”
“Bạch Thế Tôn đệ tử của con.”
“Thầy bao nhiêu tuổi?”
“Bạch Thế Tôn con hai tuổi.”
Đức Phật lại hỏi:
“Đệ tử của thầy bao nhiêu tuổi?”
“Bạch Thế Tôn, một tuổi.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách:
“Việc thầy làm là phi pháp. Tại sao chính mình chưa rời khỏi bầu sữa mà lại làm bầu sữa cho người!”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên mới một tuổi cho đến chín tuổi mà trao giới Cụ túc cho người, mười tuổi như pháp, sau mới được trao giới. Nếu chưa đủ mười tuổi và không như pháp mà trao giới Cụ túc cho người thì phạm Đột-kiết-la. Chín tuổi còn phải y chỉ người khác.”155
4. Ngoại đạo xuất gia (2)156
Đức Phật ở tại thành Vương Xá, khi ấy có một lõa hình ngoại đạo157 rất là thông minh, [114b01] người trong nước Ma-kiệt gọi ông ta là kẻ biết nhiều thấy rộng, ông ta đến trong Tăng phường hỏi:
“Sa-môn Thích tử, ai dám cùng ta luận nghị?”
Thời điểm ấy, các Tỳ-kheo đang du hý trong các thiền định, không ai chịu luận nghị, cũng không ai chịu nói chuyện. Tôn giả Xá-lợi-phất khởi ý niệm: “Người nầy nói như vậy, nếu không có vị nào luận nghị, chắc sẽ hủy nhục Phật pháp. Nay ta có thể cùng người này luận nghị. Hơn nữa, Ni-kiền158 này được người trong nước Ma-kiệt tôn kính, nếu ta dùng một cú nghĩa để hỏi mà ông ta không thể trả lời, không thể thông suốt, chắc mất tiếng đồn, không trở về với đại pháp. Nay ta nên dùng thời gian bảy ngày để luận nghị.” Nghĩ như vậy rồi, tuyên bố:
“Tôi sẽ cùng ông luận nghị trong bảy ngày.”
Bấy giờ, thành Vương Xá, trưởng giả, cư sĩ, Sa-môn, Bà-la-môn đều cùng bàn rằng: “Sa-môn Thích tử Xá-lợi-phất là đệ nhị sư, hẹn cùng Ni-kiền đệ nhất sư, luận nghị bảy ngày, chúng ta sẽ cùng nhau đến nghe.” Thời hạn từ ngày thứ nhất đến ngày thứ sáu luận nói bao nhiêu việc đều khiến cho Ni-kiền thắt lưỡi lại,159 đến ngày thứ bảy, Xá-lợi-phất nói: “Dục từ tư tưởng sanh.”
Ni-kiền Tử nói: “Dục từ đối cảnh sanh.”
Khi ấy Xá-lợi-phất nói bài kệ:
Thế gian dục là gốc
Đều từ tư tưởng sanh
Gốc dục thế gian trụ
Nên có tâm nhiễm trước.
Ni-kiền liền dùng kệ nạn vấn lại:
Nếu dục từ tưởng sanh
Do đó sanh nhiễm trước
Tỳ-kheo quán sai lầm
Bèn mất ngay phạm hạnh?
Xá-lợi-phất lại dùng kệ trả lời:
Tư tưởng không sanh dục
Mà từ đối khởi lên
Thầy ông thấy các sắc
Tại sao không thọ dục?
Ni-kiền nghe kệ này rồi không thể trả lời thêm được gì bèn sanh thiện tâm, muốn xuất gia học đạo trong giáo pháp của đức Phật.160 Ngay lúc ấy, Bạt-nan-đà là người tướng mạo cao đẹp nhất trong chúng, Xá-lợi-phất lại hình dung thấp nhỏ, Ni-kiền khởi ý nghĩ: “Tỳ-kheo thấp nhỏ này mà tài trí còn như vậy, huống là người với đường đường tướng mạo kia.” Ni-kiền liền đến chỗ Bạt-nan-đà thưa:
“Cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Bạt-nan-đà liền độ. Xá-lợi-phất luận nghị xong, đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân rồi ngồi lui qua một bên, đức Phật hỏi:
“Thầy cùng với Ni-kiền luận nghị bảy ngày như thế nào?”
Xá-lợi-phất trình bày đầy đủ. Đức Phật khen:
“Lành thay, lành thay! Xá-lợi-phất! Thầy có nhiều sự lân mẫn, có nhiều sự [114c01] lợi ích.”
Tỳ-kheo Ni-kiền kia hỏi Bạt-nan-đà về kinh luật, đều không thể trả lời được, bèn khinh khi Phật pháp, cho là các Tỳ-kheo đều không biết gì, trở về lại ngoại đạo. Các Tỳ-kheo Trưởng lão hỏi, quở trách:
“Tại sao Tỳ-kheo mười tuổi (Hạ)* mà không biết pháp, không thể vì đệ tử giải quyết sự nghi hoặc, khiến cho họ trở về lại với ngoại đạo?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật hỏi Bạt-nan-đà:
“Thật sự thầy có như vậy không?”
“Bạch Thế Tôn, sự thật con có như vậy.”
Đức Phật quở trách như trên rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu chính mình không biết pháp mà cho người xuất gia thọ Cụ túc giới, phạm Đột-kiết-la.”
Tỳ-kheo nào thành tựu mười pháp được trao giới Cụ túc cho người: thành tựu giới, thành tựu oai nghi, cẩn thận sợ tội nhỏ; đa văn, có khả năng thọ trì pháp Phật nói; tụng rành hai bộ luật, phân biệt nghĩa lý; đủ khả năng dạy đệ tử tăng giới học, tăng tâm học, tăng huệ học, có khả năng trừ nghi cho đệ tử, cũng có thể khiến cho người trừ nghi của họ; có khả năng trị bệnh cho đệ tử, cũng có khả năng khiến cho người trị bệnh của họ, đệ tử sanh ác tà kiến có thể dạy cho họ bỏ, cũng có thể khiến cho người dạy họ bỏ; nếu quốc độ nào mà đệ tử sự hiểu biết còn mông khởi, có khả năng xoay ý hướng cho họ, cũng có khả năng khiến cho người xoay chuyển việc đó; đủ mười tuổi hay hơn mười tuổi. Lại thành tựu mười pháp nên trao giới Cụ túc cho người: Biết tội nặng, biết tội nhẹ, biết thô tội, biết phi thô tội; biết tội hữu dư, biết tội vô dư; biết tội có Yết-ma, biết tội không Yết-ma; biết nhân duyên của tội; đủ mười tuổi hay hơn mười tuổi. Lại phải thành tựu năm pháp161 nên trao giới Cụ túc cho người: Có khả năng dạy đệ tử tăng giới học, tăng tâm học, tăng tuệ học, xét kỹ việc làm của mình, buộc niệm trước mắt. Lại thành tựu năm pháp: (Ba pháp trước như trên) thông minh, biện tài. Lại thành tựu năm pháp: Giới thành tựu, định thành tựu, tuệ thành tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát tri kiến thành tựu. Lại thành tựu năm pháp: Chính mình trụ nơi giới, dạy người trụ nơi giới, tự mình trụ nơi định, dạy người trụ nơi định, tự mình trụ nơi tuệ, dạy người trụ nơi tuệ, tự mình trụ nơi giải thoát, dạy người trụ nơi giải thoát, tự mình trụ nơi giải thoát tri kiến, dạy người trụ nơi giải thoát tri kiến. Lại thành tựu năm pháp: Thành tựu vô học giới chúng, vô học định chúng, vô học tuệ chúng, vô học giải thoát chúng, vô học giải thoát tri kiến chúng. Lại thành tựu năm pháp: Có khả năng dạy đệ tử tăng thượng giới; tăng thượng phạm hạnh; biết phạm, biết không phạm; biết sám hối, chưa sám hối; đủ mười tuổi hoặc hơn mười tuổi; nên trao giới Cụ túc cho người. Độ Sa-di hay vì người làm y chỉ cũng như vậy.”
[115a01] Có một ngoại đạo muốn xuất gia, đến trong Tăng phường thưa với các Tỳ-kheo:
“Bạch Đại đức cho tôi xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Trước hết nên Bạch nhị yết-ma cho họ Biệt trú bốn tháng để thử thách họ. Nếu hợp ý với các Tỳ-kheo thì sau đó mới cho họ xuất gia thọ giới Cụ túc. Khi tác pháp Yết-ma nên bảo ngoại đạo cởi bỏ giày dép, để trống vai bên hữu, kính lễ sát chân tất cả Tăng, quỳ gối chắp tay, thưa:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Con tên là… Trước đây là ngoại đạo, nay cầu xin xuất gia trong pháp luật này, đến xin Tăng bốn tháng biệt trú,162 xin Tăng dũ lòng thương cho con làm pháp biệt trú. Nếu hợp ý với các Tỳ-kheo thì sau đó cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.
Xin như vậy 3 lần. Tăng nên sai một Tỳ-kheo như pháp bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên là… Trước đây là ngoại đạo, nay muốn xuất gia thọ giới Cụ túc trong pháp luật này, nay đến xin Tăng pháp bốn tháng biệt trú. Nay Tăng cho pháp bốn tháng biệt trú. Nếu sau đó hợp ý với Tăng sẽ cho xuất gia thọ giới Cụ túc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên là… Trước đây là ngoại đạo, nay muốn xuất gia thọ giới Cụ túc trong pháp luật này, nay đến Tăng xin pháp 4 tháng biệt trú. Nay Tăng cho pháp 4 tháng biệt trú. Nếu sau đó hợp ý với Tăng sẽ cho xuất gia thọ giới Cụ túc. Các Trưởng lão nào chấp thuận xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã cho ngoại đạo tên là… pháp bốn tháng biệt trú rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi nghi nhận như vậy.”
Không hợp ý với Tăng: Nghĩa là sáng sớm vào xóm làng chiều tối mới về, hoặc thường tới lui nhà đàn bà, dâm nữ, đồng nữ lớn tuổi; thường cùng với chúng nói năng, tìm cầu sắc dục bằng mọi phương tiện, hoặc nghe chê bai ngoại đạo mà trước đây theo ôm lòng giận dữ, nghe khen ngợi Tam bảo không vui, không thích, không ưa thích oai nghi Tỳ-kheo, không ưa tụng tập kinh Phật, không ưa thọ giáo giới. Như vậy gọi là không hợp ý với Tăng. Nếu ngược lại hợp ý thì nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc.
5. Các già nạn
1. Bấy giờ các Tỳ-kheo độ người mắc nợ cho thọ giới Cụ túc. Thọ giới Cụ túc rồi vào trong thành Vương Xá163 khất thực, chủ nợ thấy, nói:
“Ngươi trả nợ cho ta; ai cho ngươi xuất gia?”
Có người nói:
“Nên đoạt lất y bát, bắt đem đến cửa quan.”
Có người nói:
“Họ đã vào trong thành vô úy (xuất gia)* nên thả đi cho rồi. Tại sao vậy? Vua Bình-sa [115b01] có ra lệnh: Trong nước, nếu ai hủy nhục Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni sẽ bị trọng tội.”
Người chủ nợ bèn cơ hiềm nói:
“Các Sa-môn này, không biết người nào nên độ, người nào không nên độ, tại sao lại độ kẻ mắc nợ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi bạch Phật. Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các thầy có như vậy không?”
“Bạch Thế Tôn, sự thật chúng con có như vậy.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên độ người mắc nợ, cho thọ giới Cụ túc. Khi độ và trao giới Cụ túc, trước hết nên hỏi: ‘Ngươi có mắc nợ ai không?’ Nếu nói không mắc nợ thì nên độ, nên cho thọ giới; nếu nói có mắc nợ thì không nên độ, không nên cho thọ giới; nếu độ, cho thọ giới đều phạm Đột-kiết-la. Nếu không hỏi như vậy mà độ đầy tớ cũng như vậy.”
2. Bấy giờ có một thiếu nhi cha mẹ bảo đến thầy học chữ và các kỹ thuật. Thầy dạy học sai làm các việc và thường đánh đòn. Thiếu nhi bỏ thầy về lại nhà. Cha mẹ liền bảo trở lại nhà thầy. Thiếu nhi nghĩ: “Thầy hành hạ ta, cha mẹ lại không bênh ta. Nay ta nên bằng cách nào để thoát khỏi cái nạn này? Chỉ có một cách là xuất gia thọ giới Cụ túc.” Nghĩ xong liền đến Tăng phường thưa với các Tỳ-kheo:
“Cho con xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Các Tỳ-kheo bèn độ. Ông thầy giáo mất học trò, đến hỏi cha mẹ nó, cha mẹ nó nói:
“Tôi bảo nó trở lại nơi thầy, tại sao không có!”
Thế là cha mẹ nó và ông thầy đi tìm khắp nơi; đến Tăng phường hỏi các Tỳ-kheo… các Tỳ-kheo đều nói không thấy, trong đó chỉ có một vị đứng im lặng. Thầy giáo và cha mẹ nó tìm không được ra về. Sau đó, thiếu nhi này vào trong thành khất thực, ông thầy giáo thấy, cơ hiềm nói:
“Sa-môn Thích tử thường nói không nói dối, tại sao độ người làm của tôi lại nói không thấy?!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Không nên độ người làm của kẻ khác, cũng như trên đã nói. Từ nay nếu độ người nên dẫn đến từng phòng để lễ Tăng, tự xưng tên khiến cho Tăng đều biết.”
3. Bấy giờ nơi thành Xá-vệ có nhóm mười bảy đồng tử,164 chưa đủ hai mươi tuổi, Tất-lăng-già-bà-ta cho thọ giới Cụ túc, không thể kham nhẫn được sự đói khát nên kêu khóc đòi ăn (như trong giới kinh đã nói). Khi cho thọ giới Cụ túc nên hỏi đủ hai mươi tuổi không?
4. Bấy giờ các Tỳ-kheo độ bọn giặc A-luyện-nhã cho thọ giới Cụ túc, sau đó vào thành [115c01] Vương Xá khất thực, các cư sĩ thấy nói:
“Người này trước đây đánh cướp tôi như vậy, như vậy… thân cận cướp của cải tôi.”
Có người nói nên bắt đem đến nạp cho quan… cho đến câu: Phật bảo các Tỳ-kheo không nên độ (như trên đã nói). Lại có các bọn giặc nhàm chán việc làm ác, cầu xuất gia thọ giới Cụ túc. Các Tỳ-kheo không biết nên giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép đem đến chỗ không ai biết họ, cho xuất gia thọ Cụ túc giới.”
5. Bấy giờ có một người gây tại họa cho thôn ấp, nhà chức trách tâu với vua:
“Xin vua ra lệnh cho nó đừng làm ác.”
Vua bảo:
“Các người dẫn nó đến đây ta sẽ giết nó.”
Thủ phạm nghe được liền trốn thoát, truy tìm không được, nhà chức trách tâu lại với vua. Vua liền ra lệnh:
“Nếu bắt được cho phép giết liền.”
Thủ phạm nghe, khởi ý nghĩ: “Nay ta trốn chỗ nào cho được an toàn tánh mạng, chỉ trong đạo Sa-môn Thích tử mới cứu được ta.” Thủ phạm bèn đến trong Tăng phường cầu xin xuất gia. Các Tỳ-kheo liền độ. Sau đó vào thành Vương Xá khất thực, mọi người thấy, muốn bắt giết. Có người nói:
“Xuất gia rồi coi như đã chết, khỏi phải giết làm chi.”
Có người lại nói: Người này đã vào trong thành vô úy… cho đến câu: đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Không nên độ” (như trước đã nói).
6. Bấy giờ Bạt-nan-đà có 2 Sa-di, một tên là Kiển-trà, một tên là Ma-kiệt-đà165 hành dâm lẫn nhau. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật. Đức Phật hỏi Bạt-nan-đà:
“Sự thật ông có nuôi 2 Sa-di không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên nuôi 2 Sa-di, nếu nuôi thì phạm Đột-kiết-la.”
7. Bấy giờ có một gia đình bị phi nhơn làm hại, chỉ còn 2 cha con. Ông cha nghĩ: “Nhà ta bị tai ương, tang khó chưa mãn lại bị đói khổ cùng cực, nên đến nơi nào để tránh khỏi họa này?!” Ông ta lại nghĩ: “Sa-môn Thích tử nhiều sự cúng dường, đau ốm có thuốc thang. Nay ta có thể dẫn hài nhi vào đó xin xuất gia thọ Cụ túc giới.” Nghĩ rồi liền đến Tăng phường thưa các Tỳ-kheo:
“Cho con xuất gia thọ giới Cụ túc. Các Tỳ-kheo bèn cho xuất gia thọ giới Cụ túc. Khi vào thành khất thực, Tỳ-kheo kia, một tay bồng con, một tay bưng bình bát, các bạch y thấy cơ hiềm, nói:
“Sa-môn Thích tử này không tu phạm hạnh.”
Hoặc có người nói:
“Khi chưa xuất gia, hài nhi này đã có rồi. [116a01] Nhưng các Tỳ-kheo sao không đợi hài nhi lớn rồi mới độ họ, để người này khỏi phải bồng con khất thực. Ai mà không lầm tưởng người này phá phạm hạnh?!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Không nên độ tiểu nhi.”
8. Bấy giờ người nước Ma-kiệt mắc phải bảy thứ trọng bệnh,166 cả người mọc nhọt ghê tởm, ung thư, hủi trắng, nửa người khô da quái gở, loang lỗ từng chấm đỏ, mỡ chảy ra. Chữa trị các chứng này chỉ có Kỳ-vực,167 ngoài ra không ai chữa được, nên vua Bình-sa có ra lệnh cho Kỳ-vực rằng: “Ngươi nên trị bệnh cho nội cung của ta và Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, không được trị cho người khác.” Do đó, các bệnh nhân đều tìm cách xuất gia thọ Cụ túc giới, các Tỳ-kheo đều cho xuất gia thọ Cụ túc giới. Vì phải tìm dược thảo và bào chế thuốc nên bận rộn nhiều việc, các Tỳ-kheo bê trễ việc hành đạo. Các bạch y thấy cơ hiềm, nói:
“Các Sa-môn này như thầy thuốc, như đệ tử của thầy thuốc thường bào chế thang dược độ người trọng bệnh, không cân nhắc người đáng độ hay không đáng độ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Lại có trường hợp có một trưởng giả, bỗng nhiên mắc phải bảy thứ trọng bệnh, đến nói với Kỳ-vực:
“Chữa giùm bệnh cho tôi.”
Kỳ-vực trả lời:
“Ngài đâu không nghe nhà vua ra lệnh hay chăng?”
Ông trưởng giả nói:
“Ông bí mật, vì tôi chữa bệnh, tôi sẽ tạ ông trăm ngàn kim tiền.”
Kỳ-vực trả lời như ban đầu. Ông trưởng giả lại hứa tặng thêm 200, 300, 400, 500 ngàn kim tiền, cho đến giao cả gia tài sự nghiệp và cả vợ con đều làm nô tỳ. Kỳ-vực vẫn trả lời như lúc đầu. Ông trưởng giả khởi ý nghĩ: “Đến thế này vẫn không kết quả, chỉ còn có cách xuất gia thọ giới Cụ túc.” Ông bèn đến Tăng phường bạch với các Tỳ-kheo cho tôi xuất gia thọ Cụ túc giới. Các Tỳ-kheo liền cho xuất gia thọ giới Cụ túc. Kỳ-vực chữa suốt 7 ngày là lành hết các trọng bệnh nên không còn thì giờ để trị bệnh cho người trong cung vua. Bệnh nhân trong cung có người phải chết. Ông trưởng giả kia lành bệnh rồi liền hoàn tục. Kỳ-vực thấy, hỏi:
“Ngài đã xuất gia tại sao lại bỏ đạo.”
Ông trưởng giả nói:
“Sự thật tôi không có ý xuất gia, do ông không chịu chữa bệnh cho tôi; nên tôi quyền biến xuất gia, nay bệnh lành rồi thì tôi hoàn tục.”
Khi ấy Kỳ-vực đến chỗ đức Phật, trình bày đầy đủ sự việc và thưa:
“Nếu nhà vua biết việc này thì tội của con không phải nhỏ, nguyện xin đức Phật dạy các Tỳ-kheo không nên độ người có trọng bệnh.”
Đức Phật vì Kỳ-vực nói các diệu pháp rồi dạy ông trở về lại chỗ ở. Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo: “Thật sự các thầy có độ người trọng bệnh hay không?”
“Bạch đức Thế Tôn, có.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên độ người có trọng bệnh (như trên).”
6. Độ người thuộc nhà quan
[116b01] Bấy giờ các Tỳ-kheo độ người thuộc về nhà quan, khi vào thành Vương Xá khất thực, các cư sĩ thấy, biết cơ hiềm, nói:
“Tại sao Sa-môn Thích tử độ người thuộc nhà quan, bọn này không biết ai là người nên độ, ai không nên độ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Hơn nữa vua A-xà-thế168 có một kiện tướng, sức mạnh bằng 1.000 người, người thời bấy giờ gọi ông là Thiên Nhơn Lực Sĩ.169 Ông nhàm chán đời khổ, nên có suy nghĩ: “Các Sa-môn Thích tử đều phụng hành chánh pháp, ta nên đến đó xuất gia để dứt gốc khổ.” Ông đến trong Tăng phường cầu độ, các Tỳ-kheo liền độ. Sau đó, nhà vua muốn xuất quân,170 không thấy có người này, liền hỏi phần hành thuộc quyền. Họ tâu với vua:
“Không biết Thiên Nhơn Lực Sĩ ở đâu.”
Nhà vua liền ra lệnh:
“Nếu quân đội tập hợp, quân sĩ nào không đến, sẽ dùng quân pháp trị tội.”
Ngày quân đội tập hợp, nhà vua lại hỏi:
“Kiện tướng đến chưa?”
“Tâu, chưa đến.”
Nhà vua nói:
“Bộ binh mà không có người này cũng như tượng quân mà không có đệ nhất tượng.”
Quân giáp đã giải tán, mới nghe Sa-môn Thích tử độ cho xuất gia. Nhà vua nổi giận: Như thế này thì không lâu lắm Sa-môn Thích tử sẽ độ hết binh chủng của ta. Nhà vua liền nghiêm cấm:
“Nếu độ quan nhơn sẽ chẻ gân cốt vị Hòa thượng, cắt lưỡi vị A-xà-lê, còn các Tăng khác trị thật nặng, lấy cát lột da, đánh tám roi, đuổi ra khỏi nước.”171
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo:
“Sự thật các thầy có như vậy không?”
“Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như thế.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Không nên độ người thuộc của nhà quan (cũng như trước).”
Bấy giờ các Tỳ-kheo ở mãi nơi thành Vương Xá, các cư sĩ cơ hiềm, nói: “Ngoại đạo này còn biết tùy thời đi ở, Sa-môn Thích tử cột chặt niềm vui một chỗ, bốn mùa không thay đổi, cùng người đời đâu có khác?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật. Phật bảo A-nan: “Thầy phổ biến đến các Tỳ-kheo: Nay Như Lai sẽ du hành phương Nam, vị nào muốn tháp tùng thì tùy ý.”
Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy đi phổ biến chỉ thị này. Trong số các Tỳ-kheo có vị một tuổi cho đến chín tuổi; thông minh biết tàm quí, muốn học giới, khởi ý niệm: “Nếu Hòa thượng, A-xà-lê của ta đi thì đi theo Ngài, còn không đi thì cũng được. Tại sao vậy? Nếu ở đây ta thỉnh y chỉ, đến đó lại cũng thỉnh y chỉ thì lắm chuyện, lắm việc, phế bỏ việc hành đạo.” Lúc đức Phật khởi hành các vị tùy tùng rất ít. Đức Phật cùng số ít Tỳ-kheo du hành phương Nam. Chậm rãi thời gian đi qua, đức Phật lại trở về thành Vương Xá, nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, [116c01] hỏi A-nan: “Tại sao các Tỳ-kheo cùng Ta du hành phương Nam quá ít?”
Tôn giả A-nan trình bày đầy đủ vấn đề. Đức Phật bằng mọi cách khen ngợi người thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới rồi, bảo các Tỳ-kheo: “Người nào thành tựu năm pháp được lìa y chỉ: giới thành tựu, định thành tựu, tuệ thành tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát tri kiến thành tựu. (Đều như trong giới ‘được trao giới cho người’ đã nói).”
7. Sa-di xuất gia
1. Bấy giờ đức Thế Tôn ở nước Thích-ca,172 các Tỳ-kheo độ người mà cha mẹ họ không cho phép. Các cư sĩ, cơ hiềm, nói (như trên). Sau đó, đức Thế Tôn sáng sớm đắp y bưng bát đến cung vua Tịnh Phạn. Khi ấy, mẹ của La-hầu-la173 dẫn La-hầu-la lên trên lầu cao, từ xa thấy Phật đi đến, nói:
“Con thấy Sa-môn kia không?”
La-hầu-la thưa:
“Con có thấy.”
Gia-du nói:
“Đó là cha của con, con có thể đến đòi của cải.”
Đức Phật vào trong cung, ngồi nơi đất trống trước sân. La-hầu-la chạy xuống lầu, đến chỗ Phật, đầu mặt kính lễ sát chân rồi đứng trong bóng của đức Phật, nói:
“Bóng mát này thích quá. Nguyện Phật cho của cải của cha con.”
Đức Phật nói:
“Con nghĩ kỹ, có muốn được hay không?”
La-hầu-la thưa:
“Con muốn được.”174
Đức Phật bèn dẫn về chỗ ở, bảo Xá-lợi-phất:
“Thầy có thể độ đứa nhỏ này.” Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Trước đây đức Thế Tôn cấm không được nuôi hai Sa-di, con đã có Châu-na rồi, không thể độ nữa.”
Đức Phật dạy:
“Nay cho phép những người như thầy, có khả năng giáo giới được nuôi hai Sa-di. Thể thức độ như sau: Trước hết trao cho Ưu-bà-tắc ba pháp quy, dạy họ nói:
Con tên là… quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tỳ-kheo tăng.175
Nói như vậy ba lần. Lại dạy họ nói:
Con tên là… quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tỳ-kheo tăng rồi. Cũng nói 3 lần.
Con tên là… Ưu-bà-tắc của Phật Bà-già-bà.
Lại nên dạy nói:
Con tên là… trọn đời không sát sanh, trọn đời không trộm cắp, trọn đời không tà dâm, trọn đời không nói dối, trọn đời không uống rượu.
Lại nên dạy họ nói:
Con tên là… quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tỳ-kheo tăng.
Nói như vậy 3 lần.
Nay con ở trong chánh pháp của Thích-ca Mâu-ni Như Lai Ứng cúng đẳng chánh giác xuất gia làm Sa-di, Hòa thượng pháp hiệu…
Kế tiếp dạy họ nói:
Trọn đời không sát sanh là giới của Sa-di; trọn đời không ăn trộm là giới của Sa-di; trọn đời không dâm dục là giới của Sa-di; trọn đời không nói dối là giới của Sa-di; trọn đời không uống rượu là giới của Sa-di; trọn đời không ca múa xướng hát, không đến xem nghe là giới của Sa-di [117a01]; trọn đời không đeo tràng hoa, thoa đồ thơm vào mình là giới của Sa-di; trọn đời không ngồi nằm trên giường cao rộng là giới của Sa-di; trọn đời không nhận và chứa cất vàng bạc và tiền là giới của Sa-di; trọn đời không ăn quá giờ ngọ là giới của Sa-di. Đây là mười giới của Sa-di.”
Khi ấy, vua Tịnh Phạn176 nghe Phật đã độ La-hầu-la nên rất buồn, đến chỗ Phật nói:
“Xưa kia Phật xuất gia còn có Nan-đà không làm cho tôi áo não như vậy. Nan-đà lại xuất gia, còn chút hy vọng ký thác nơi đứa cháu này, nay lại xuất gia! Vấn đề kế thừa việc nước, việc nhà thế là đoạn tuyệt! Kẻ chưa dứt được vọng tình làm sao nhẫn chịu?!”
Nhà vua lại nhân trường hợp của mình, bạch Phật:
“Sự luyến ái đối với con cháu còn hơn cốt tủy, tại sao các Tỳ-kheo lại lén dụ dẫn con người ta độ cho làm đạo, cúi xin Phật từ nay ra lệnh các Tỳ-kheo: cha mẹ không cho phép thì không được độ.”
Đức Phật vì nhà vua nói các pháp mầu, chỉ vẽ sự lợi ích giúp vua được hoan hỷ rồi nhà vua cáo lui trở về cung. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Cha mẹ của họ không cho phép, thật sự các ông có độ họ cho thọ giới Cụ túc hay không?”
“Kính bạch Thế Tôn, có.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cha mẹ không cho, không được độ (cũng như trước).”
2. Bấy giờ tại thành Vương Xá có một đại phú trưởng giả tin ưa Phật pháp, thường đãi cơm cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Sau đó bị phi nhơn làm hại, chỉ còn 2 đứa nhỏ, nghèo khổ bần cùng, thường lượm thức ăn dư để sống. Hai đứa nhỏ trước kia thường gặp các Tỳ-kheo, cho nên từ xa thấy các Tỳ-kheo bèn chạy đến, cầm y bát ngồi trên bắp vế của Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo sợ nhớp y bát nên tránh xa nó. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm, nói:
“Nhà này, trước đây giàu có, tất cả Sa-môn không ngày nào không đến, nay thấy kẻ mồ côi, bần cùng lại tránh đi xa, không biết ơn nuôi dưỡng, chỉ có thức ăn mới gần, không hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách rồi bạch Phật. Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ông có như vậy không?”
“Bạch đức Thế Tôn, có.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi hỏi A-nan:
“Hai đứa nhỏ kia đã bao nhiêu tuổi? Có thể đuổi quạ nơi nhà ăn được chưa?”
Tôn giả A-nan thưa:
“Có thể đuổi được. Đứa lớn tám tuổi, đứa nhỏ bảy tuổi.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta cho phép độ hai đứa nhỏ… cho đến câu: Có thể đuổi quạ.”
Các Tỳ-kheo độ hai đứa nhỏ rồi, sai nó đuổi quạ nơi nhà ăn mà không cho thức ăn chánh. Các cư sĩ thấy, nói:
“Các Sa-môn [117b01] này thường khen ngợi sự bố thí, ăn bình đẳng, nay độ hai đứa nhỏ này chỉ sai đuổi quạ mà không cho thức ăn chánh.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Như phần ăn mà Thượng tọa nhận được, phần của Sa-di cũng như vậy, đứa nhỏ đuổi quạ cũng cho bình đẳng như trên.”
8. Các già nạn (2)177
1. Bấy giờ có một Ma-nạp hại mẹ, suy nghĩ tội nặng, thường có sự hối hận sợ sệt, không biết làm thế nào để tiêu diệt tội này, nghĩ rằng: “Sa-môn Thích tử đều phụng hành chánh pháp, tịnh tu phạm hạnh, nếu ta vào đó xuất gia tội sẽ nhẹ bớt.” Nghĩ xong, Ma-nạp bèn đến Tăng phường thưa các Tỳ-kheo:
“Cho tôi xuất gia thọ Cụ túc giới.”
Các Tỳ-kheo hỏi Ma-nạp:
“Ngươi là ngoại đạo, không kính tín Phật pháp, tại sao nay lại muốn xuất gia ở nơi này?”
Ma-nạp đem sự thật để trả lời. Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Người hại cha mẹ, trong giáo pháp Ta không phục sinh, không nên cho xuất gia thọ Cụ túc giới, nếu đã thọ Cụ túc giới thì nên diệt tẫn.”
2. Bấy giờ có giặc cướp A-luyện-nhã giết một Tỳ-kheo ở A-luyện-nhã, từ đó về sau ông ta tâm thường bị đốt cháy não loạn, giống như tro nóng tự nướng cháy thân hình, ngày đêm thống khổ, không có một chút bình yên, bèn nghĩ: “Sa-môn Thích tử đều phụng hành chánh pháp, tịnh tu phạm hạnh; nếu ta xuất gia nơi đó có thể tránh khỏi nỗi nhiệt não này.” Nghĩ rồi liền đến Tăng phường cầu xin xuất gia. Các Tỳ-kheo nói:
“Ông là giặc A-luyện-nhã, thường ưa muốn giết người, cướp đoạt của cải của người, không có tâm lân mẫn, nay tại sao lại muốn xuất gia trong pháp luật của Phật?”
Đương sự đem sự thật để trả lời. Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Tỳ-kheo bị giết kia là vị A-la-hán, nên kẻ sát này ở trong pháp Ta không phục sanh, không nên cho xuất gia thọ Cụ túc giới, nếu đã thọ Cụ túc giới thì nên diệt tẫn.”
2. Bấy giờ Điều-đạt với ác tâm làm thân Phật chảy máu, các Tỳ-kheo không biết nên đãi ngộ thế nào, bạch Phật. Phật dạy:
“Với ác tâm làm thân Phật chảy máu, ở trong giáo pháp Ta không phục sinh, không nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu đã thọ Cụ túc giới thì nên diệt tẫn. Điều-đạt phá Tăng cũng như vậy, không nên cho xuất gia.”
3. Bấy giờ đức Phật du hóa nước Câu-tát-la cùng với đại Tỳ-kheo Tăng 1250 vị đầy đủ, tuần tự du hành đến bên sông Hắc Ám,178 dừng chân dưới rừng Ta-la. Có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay, [117c01] bạch Phật:
“Bạch đức Thế Tôn, rừng Ta-la này là nơi phá phạm hạnh số đông Tỳ-kheo-ni.”179
Đức Phật hỏi:
“Tại sao ngươi biết?”
“Bạch Thế Tôn, khi ấy con ở đây.”
Đức Phật lại hỏi:
“Ngươi có phá phạm hạnh của Tỳ-kheo-ni không?”
Tỳ-kheo ấy thưa:
“Bạch Thế Tôn, có.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Người phạm dâm Tỳ-kheo-ni, ở trong pháp của Ta không phục sinh, không nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu đã thọ giới Cụ túc thì nên diệt tẫn.”
4. Bấy giờ có một A-tu-la tử nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, khởi ý niệm: “Sa-môn Thích tử phụng hành chánh pháp, tịnh tu phạm hạnh, ta nên đến đó xuất gia, sẽ hết các gốc khổ.” Nghĩ rồi, hóa thành hình người đến Tăng phường cầu xin xuất gia, các Tỳ-kheo liền cho thọ giới Cụ túc. Tân Tỳ-kheo này ăn phần ăn của một người cho đến phần ăn của bảy người mà vẫn không no, ăn cả thức ăn dư của Tăng vẫn không đủ. Khi ấy thành Vương Xá có hai cư sĩ, cùng một ngày, mỗi nơi mời năm trăm vị Tăng thọ trai. Các Tỳ-kheo đồng đến một nhà, chỉ trong chốc lát, Tỳ-kheo hoá thân kia ăn hết năm trăm phần ăn, các cư sĩ cơ hiềm, nói: “Tại sao các Tỳ-kheo lại độ phi nhơn?”
Tỳ-kheo kia biết người ta biết rõ mình rồi, vội vã trở về vị trí cũ. Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Ở trong giáo pháp Ta, phi nhơn không phục sinh, không nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu đã thọ giới Cụ túc thì nên diệt tẫn. Khi thọ giới Cụ túc nên hỏi: Ngươi có phải là phi nhơn không?”
5. Bấy giờ Long vương Thiện tự tại180 nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, nghĩ muốn xuất gia, hóa làm một Ma-nạp… cho đến câu: các Tỳ-kheo độ cho xuất gia thọ giới Cụ túc, cũng như trên. Theo phép của loài rồng, có hai thời gian không thể biến hình, một là khi hành dục, hai là khi ngủ. Sau đó, tân Tỳ-kheo này ngủ, thân đầy cả một phòng, hơi thở nghe như tiếng sấm, trở ngại các Tỳ-kheo tọa thiền, mọi người đến xem. Tỳ-kheo kia nghe tiếng người đến bèn thức dậy, trở lại làm thân hình của Tỳ-kheo, ngồi kiết già. Các Tỳ-kheo kêu, bảo:
“Mở cửa!”
Tỳ-kheo kia mở cửa. Các Tỳ-kheo hỏi:
“Thầy là ai?”
“Tôi là Sa-môn Thích tử.” Các Tỳ-kheo nói:
“Thầy đừng nói dối.”
Tỳ-kheo kia bèn trả lời đúng sự thật. Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Súc sinh ở trong pháp của Ta không phục sinh, không nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu đã thọ rồi nên diệt tẫn. Từ nay khi thọ giới không biết thì nên để 7 ngày xem thử.”
6. Bấy giờ các Tỳ-kheo độ huỳnh môn181 cho thọ giới Cụ túc. Người ấy kêu các Sa-di [118a01] và người giữ vườn cùng làm hạnh bất tịnh, đi ra ngoài thấy người khác cũng làm như vậy. Các bạch y thấy cơ hiềm, nói: Sa-môn Thích tử độ các huỳnh môn, chắc sẽ cùng làm hạnh bất tịnh, bọn này không biết người nào nên độ, người nào không nên độ… cho đến câu: Nếu đã thọ Cụ túc giới thì nên diệt tẫn, cũng như trên. Khi thọ giới Cụ túc nên hỏi trước: Ngươi có phải là trượng phu hay chăng? Hai căn cũng như vậy.
7. Bấy giờ, có một gia đình bị phi nhơn làm hại, chỉ còn sống sót ông chủ nhà, ông ta nghĩ: “Nay ta cùng cực đói khổ, nên tìm phương cách nào để bảo toàn tánh mạng!” Ông ta lại nghĩ: “Sa-môn Thích tử được nhiều y thực, đau ốm có thuốc thang. Ta nên tự cạo đầu, mặc áo cà-sa ở nhà rồi hằng ngày đến nơi Tăng phường theo thứ tự nhận thức ăn.” Nghĩ như vậy liền tự cạo đầu làm Tỳ-kheo, đến trú xứ Tỳ-kheo tìm thức ăn. Các Tỳ-kheo kính lễ, vị ấy đều nhận; vị ấy cũng kính lễ Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo hỏi:
“Tại sao thầy kính lễ người khác, lại nhận người khác kính lễ? Thầy bao nhiêu tuổi? Thọ giới khi nào? Hòa thượng, A-xà-lê của thầy là ai?”
Tỳ-kheo ấy đáp:
“Tôi tự cạo đầu, mặc pháp phục, không có Hòa thượng, không có năm tháng thọ giới.”
Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu tự cạo đầu, tự xưng Tỳ-kheo, ở trong pháp Ta không sinh, không nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu đã thọ giới Cụ túc thì phải diệt tẫn.”
8. Bấy giờ đệ tử của Bạt-nan-đà là Tỳ-kheo Ni-kiền, trước kia bỏ đạo sau lại đến cầu xin xuất gia. Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Người bỏ nội pháp làm ngoại đạo, ở trong chánh pháp của Ta không phục sinh, không nên cho thọ giới Cụ túc, nếu đã thọ giới Cụ túc thì nên diệt tẫn.”
9. Bấy giờ Tôn-đà-la Nan-đà Bạt-kỳ tử không xả giới, hành dâm dục. Về sau vị này nói ra chỗ sai phạm này. Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, đem vấn đề bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nếu tự nói phạm biên tội, ở trong chánh pháp Ta không thể sanh trưởng. Không nên cho thọ giới Cụ túc. Nếu đã thọ giới Cụ túc rồi thì phải diệt tẫn. Khi thọ giới phải hỏi: Ông trước đây xuất gia có tịnh tu phạm hạnh không?”
9. Y chỉ và dứt y chỉ (2)182
1. Bấy giờ các Tỳ-kheo không thọ y chỉ mà ở, không có người giáo giới, ngu ám, không biết gì, không thể học giới. Các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Phải thọ y chỉ, nếu một đêm không thọ y chỉ, không được phép ở, kể cả uống nước trong Tăng phường, nếu uống thì phạm Đột-kiết-la.”
Đức Phật không cho phép không thọ y chỉ nên không dám [118b01] ở trong Tăng phường. Khi ấy, có một Tỳ-kheo tránh nơi nghỉ ngơi, đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân rồi đứng qua một bên, đức Phật hỏi:
“Thầy từ đâu đến?”
Tỳ-kheo ấy thưa: “Con từ… đến.” Đức Phật hỏi:
“Trú xứ đó, đệ nhất Thượng tọa, đệ nhị, đệ tam Thượng tọa là ai?”
Bạch Thế Tôn:
“Con không biết.”
Đức Phật lại hỏi:
“Trú xứ gần đó, ai là Thượng tọa?”
Lại đáp:
“Con cũng không biết.”
Đức Phật lại hỏi:
“Tại sao thầy không biết?”
Lại đáp: “Con tránh trú xứ, không vào trong chúng kia, cho nên không biết.”
Đức Phật hỏi:
“Tại sao thầy tránh trú xứ?”
Đáp rằng:
“Vì đức Phật không cho phép không thọ y chỉ, nếu không thọ y chỉ thì ngay cả nước ở trong Tăng phường cũng không cho phép uống, cho nên con tránh.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách Tỳ-kheo kia:
“Thầy làm điều phi pháp, không nên vì vấn đề thọ y chỉ mà tránh trú xứ.”
Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu vì vấn đề thọ y chỉ mà tránh trú xứ, phạm Đột-kiết-la.”
2. Lại có các Tỳ-kheo trên đường đi thấy Tăng phường bèn vào thọ y chỉ, gặp lúc các Tỳ-kheo ngồi tọa thiền, hoặc gặp lúc bực bội không thọ y chỉ được, do đó không đi kịp đoàn, hoặc thọ y chỉ rồi liền đi, các Tỳ-kheo khác hỏi:
“Tại sao thầy thọ y chỉ rồi liền đi?”
Đáp rằng:
“Đức Thế Tôn không cho phép vì vấn đề thọ y chỉ mà tránh trú xứ đi, nay tôi thấy chỗ nghỉ ngơi của Tăng không dám không đến thọ y chỉ, lại cần đi cho kịp đoàn, do vậy nên đi liền.”
Có vị vì đi không kịp đoàn bạn nên giữa đường gặp cướp, các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch Phật, Phật dạy:
“Nay cho phép được một đêm không thọ y chỉ.”
Tuy được phép một đêm song vẫn còn gặp các nạn, họ lại bạch Phật, Phật dạy:
“Nay cho phép không thọ y chỉ cho đến đêm thứ sáu.”
Lại có các Tỳ-kheo qua sáu đêm rồi mà không thọ y chỉ, bạch Phật, Phật dạy:
“Không cho phép quá sáu đêm, nếu quá, phạm Đột-kiết-la.”
3. Khi ấy các Tỳ-kheo hướng đến cho người tác pháp y chỉ, cũng hướng đến người y chỉ, bạch Phật, Phật dạy:
“Tất cả không nên như vậy, nên y chỉ với Trưởng lão, các thiện Tỳ-kheo như pháp, có khả năng chuyên về giáo giới. Nếu người thọ y chỉ muốn dời chỗ khác, trước hết nên thưa Hòa thượng, A-xà-lê biết nơi đó có người có thể y chỉ, vậy sau mới đi.”
Có các đệ tử khi gần đi mới cáo từ Hòa thượng, A-xà-lê, đức Phật dạy:
“Không cho phép khi gần đi mới cáo từ, cần phải thưa trước với thầy hai, ba ngày.”
Vị thầy nên tìm hiểu chỗ đến có thể có người y chỉ mới cho đệ tử đi. Khi đến nơi, trước hết phải lễ tháp, kế đến lễ Hòa thượng, rồi xin phòng xá, vậy sau mới cầu y chỉ. Tỳ-kheo tác pháp y chỉ nên hỏi:
[118c01] “Hòa thượng, A-xà-lê của thầy là ai? Trước đây thầy ở đâu và tụng kinh gì? Nếu trả lời như pháp thì nên tác pháp cho y chỉ; nếu trả lời không như pháp thì nên nói: Thầy không biết tôi, tôi không biết thầy, thầy nên đến vị nào biết thầy để cầu y chỉ. Nếu trường hợp nghi thì nói: Thầy chờ thời gian. Người thọ y chỉ nên chờ, cho đến thời gian sáu đêm để xem xét, hợp ý thì nên cho y chỉ, nếu không hợp ý thì nói như trên.”
4. Lại có Tỳ-kheo bệnh cầu y chỉ, Tỳ-kheo kia khởi ý niệm: “Đức Phật dạy Tỳ-kheo nên xem xét đệ tử như vậy, như vậy.” Nay người này bệnh ta không thể chăm sóc được, bèn không cho Tỳ-kheo bệnh y chỉ. Các Tỳ-kheo không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy:
“Nay cho phép khi bệnh không thọ y chỉ, lành bệnh rồi sau mới thọ.”
5. Lại có Tỳ-kheo đang nuôi bệnh cầu y chỉ, Tỳ-kheo kia nói:
“Đức Phật dạy Tỳ-kheo nên chăm sóc Hòa thượng, A-xà-lê như vậy, như vậy, nay thầy đang nuôi bệnh, không thể cho thầy y chỉ.”
Tỳ-kheo nuôi bệnh không được y chỉ, xấu hổ, bèn bỏ bệnh nhân đi cầu y chỉ, người bệnh không có ai chăm sóc, bệnh tình nguy kịch thêm, hoặc đưa đến mạng chung. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Nay cho phép Tỳ-kheo đang nuôi bệnh không thọ y chỉ, đợi bệnh nhân lành, sau mới thọ.”
6. Lại có Tỳ-kheo đối với chỗ xứng ý hành đạo, đắc đạo quả, cầu y chỉ, các Tỳ-kheo không cho bèn mất đạo quả, bạch Phật, Phật dạy:
“Nếu là chỗ xứng ý hành đạo, đắc đạo quả mà không có người cho tác y chỉ thì cho phép ở trong chúng kia, đối với bậc Thượng tọa hay là ngang bằng với bậc Thượng tọa, tâm sanh y chỉ, kính như pháp kính thầy để ở.”
Khi ấy các Tỳ-kheo, A-xà-lê hoặc qua đời, hoặc thôi tu, hoặc đi xa, hoặc làm ngoại đạo, hoặc ra ngoài giới, không biết mất y chỉ hay không, bạch Phật, Phật dạy:
“Mất y chỉ có tám trường hợp:183 y chỉ sư đi xa, thôi tu, chết, làm ngoại đạo, thấy Hòa thượng trước (của mình), y chỉ sư nói: ‘ông trở lại thầy… thọ y chỉ’, y chỉ sư ra ngoài giới cách đêm, đủ năm tuổi thông minh, biện tài, đến khi tướng mặt trời xuất hiện. Đó là tám trường hợp đều mất y chỉ.
10. Tạp sự
Bấy giờ các Tỳ-kheo phân phẩm vật an cư cho Sa-di bằng với mình, Sa-di bèn không kính Tăng, bạch Phật, Phật dạy:
“Nên dùng một phần của một Tỳ-kheo, cho ba Sa-di.”
Sa-di vẫn không cung kính, lại bạch Phật, Phật dạy:
“Nên phạt Sa-di.”
Các Tỳ-kheo không hỏi thầy của Sa-di mà phạt họ, thầy họ không vui, bạch Phật, [119a01] Phật dạy:
“Nên nói với thầy của họ.”
Thầy của họ làm phi pháp để yểm trợ họ. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Thầy không nên làm phi pháp để yểm trợ trò.”
Lại có một Sa-di, Tăng phạt đoạn phần ăn. Người thí chủ nọ sau đó thỉnh Tăng thọ trai. Các Tỳ-kheo đến, theo thứ tự ngồi xong, người thí chủ không dọn thức ăn, các Tỳ-kheo nói:
“Giờ thọ trai đã đến, sao không dọn thức ăn?”
Người thí chủ đáp:
“Đợi Tăng tập.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Tăng đã tập rồi.”
Thí chủ nói:
“Vị Sa-di mà tôi cúng dường chưa đến.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Vị ấy không được đến.”
Thí chủ hỏi:
“Tại sao?”
Tăng đáp:
“Bị phạt không cho ăn.”
Người thí chủ nói:
“Có bao nhiêu cách để phạt, tại sao nhẫn tâm đoạn khẩu phần?!”
Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
“Không nên đoạn khẩu phần, nên phạt bằng cách bắt quét đất, dọn dẹp cỏ rác, sửa chỗ đi kinh hành, làm các cấp nơi đường đi… Áp dụng những cách như vậy để phạt.”
11. Các liên hệ già nạn
1. Khi ấy, có một Tỳ-kheo nam căn biến mất, nữ căn hiện ra. Các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nên dùng vấn đề thọ giới, vấn đề thỉnh sư, vấn đề tuổi tác của đương sự chuyển qua trú xứ Tỳ-kheo-ni, y pháp Tỳ-kheo-ni mà sống. Nếu trước kia phạm cọng giới của Tỳ-kheo-ni nên hối quá trong Tỳ-kheo-ni; nếu trước kia phạm giới bất cọng thì khỏi phải hối quá. Tỳ-kheo-ni căn biến cũng như vậy.”
2. Có một Thức-xoa-ma-na căn biến, không biết làm thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên dùng vấn đề xuất gia của đương sự, nếu tuổi đủ hai mươi thì trong chúng Tỳ-kheo mười vị cho thọ giới Cụ túc; nếu tuổi chưa đủ hai mươi thì tức là Sa-di. Sa-di-ni cũng như vậy.”
3. Có một Sa-di căn biến, không biết giải quyết thế nào, bạch Phật, đức Phật dạy:
“Nên dùng vấn đề xuất gia của đương sự, nếu tuổi đủ thì cho hai năm học giới, liền đối trước chúng Tỳ-kheo-ni thọ hai năm học giới, nếu tuổi chưa đủ thì không nên cho hai năm học giới, chỉ làm Sa-di-ni.”
4. Bấy giờ có một Tỳ-kheo bị lửa dục thiêu đốt không thể kham nhẫn tự chặt đứt cái “hình nam căn” của mình. Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật quở trách:
“Ngươi là người ngu si, cái không nên chặt lại chặt, cái nên chặt lại không chặt.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu chặt cái đầu âm cho đến phân nửa thì phạm Đột-kiết-la; nếu chặt hết thì phạm Thâu-lan-giá; nếu khử đi một tinh hoàn thì phạm Thâu-lan-giá, nếu khử cả hai tinh hoàn thì nên diệt tẫn; nếu bị ác thú cắn, hoặc bị oan gia làm hại và tự thối nát hư hoại, không phục hồi khả năng người nam nữa, đều nên diệt tẫn.”
5. Bấy giờ các Tỳ-kheo độ người tay chân bị chặt, cho thọ giới Cụ túc, các cư sĩ [119b01] thấy, cơ hiềm, nói:
“Sa-môn Thích tử không biết người nào nên độ, người nào không nên độ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên độ những người như vậy, nếu độ cho thọ giới Cụ túc, sư Tăng phạm Đột-kiết-la. Từ nay người bị chặt tay, chặt chân, tay chân bị chặt; sứt tai, sứt mũi, tai mũi bị sứt; chặt ngón tay, chặt nam căn, mất đầu âm, mắt lộ, bị trị phạt bằng roi làm cho hư hoại tướng tốt, phạm tội nhà quan (tội bị xăm đốt để lại vết tích trên người), tay chân co quắp khập khễnh, mất âm thanh; trong thân, ngoài thân bị bướu, thân bên trong cong, thân bên ngoài cong, cả trong lẫn ngoài thân bị cong; mắt lé; một tay dài, một tay ngắn, tay bên tả nhấc lên; câm, điếc, đui; bệnh càn tiêu, bệnh hủi, cuồng, quá già, không có oai nghi, xấu xí, hủy nhục chúng Tăng. Những hạng người như vậy đều không nên độ. Nếu đã độ cho thọ giới Cụ túc…(như trên đã đề cập).”
6. Các Tỳ-kheo độ người nói cà lăm, đức Phật dạy:
“Không nên độ người nói cà lăm cho thọ giới Cụ túc.”
7. Lại có các Tỳ-kheo trước không cho thọ giới Sa-di, lại cho thọ giới Cụ túc. Lại có các Tỳ-kheo không thỉnh Hòa thượng, lại cho thọ giới Cụ túc. Lại có các Tỳ-kheo đương sự không xin thọ giới Cụ túc, lại cho thọ giới Cụ túc. Lại có các Tỳ-kheo cho người lõa hình thọ giới Cụ túc. Lại có các Tỳ-kheo cho người không đủ y, bát thọ giới Cụ túc. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên cho thọ như vậy.”
147 Bạch nhị yết-ma 白二羯磨. Pāli: ñattidutiyakamma, là một lần tác bạch, một lần biểu quyết.
148 Hán: Kết giới xứ 結界處. Pāli: Sīmā. Có nghĩa là biên giới, biên thuỳ hay đường ranh phân chia hai khu vực khác nhau… Cũng là chỉ khu vực hay môi trường sống chung hòa hiệp và các sinh hoạt tập thể của Tăng-già, được qui định bởi các đường ranh bao quanh theo sự chấp thuận tuyệt đối của Tăng đoàn qua những thủ tục Yết-ma.
149 Ma-nạp: Xem cht. 116, Phần I, Ch. ii, Tăng tàn.
150 Hán: Tứ y 四依. Pāli, Vin. i. 58, cattāro nissayā.
151 Năm điều kiện để cầu xin y chỉ, nếu thiếu một trong năm điều kiện này cũng không thành xin y chỉ.
152 Hán: Bất cộng ngữ pháp 不共語法. Tứ phần: Ha trách 呵責. Cảnh cáo hay đuổi cảnh cáo. Đây muốn nói là dứt y chỉ. Pāli (Vin. i. 53): paṇāmita: đuổi (đệ tử).
153 Tứ phần 34, tr. 804b01: “Ngươi đi đi!”, “Ngươi đừng vào phòng ta”, “Ngươi đừng làm việc gì cho ta”, “Ngươi cũng đừng đến chỗ ta.”
154 Tứ phần: “Không biết xấu, không biết hổ, khó dạy, làm bạn cùng kẻ ác, ưa đến nhà dâm nữ (phụ nữ, đồng nữ lớn tuổi, huỳnh môn, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, ưa xem bắt ba ba, rùa).”
155 Bản Hán, hết quyển 16.
156 Tiếp theo mục 2. Ngoại đạo xuất gia (trước).
157 Tứ phần: Ngoại đạo tên Bố-tát 布薩. Pāli (Vin.i.69): yo so aññatitthiyapubbo, một người nguyên trước kia là ngoại đạo.
158 Ni-kiền hay Ni-kiền-đà, là giáo phái Kỳ-na giáo, một trong sáu phái ngoại đạo vào thời kỳ đức Thế Tôn còn tại thế. Giáo chủ của Kỳ-na giáo là Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử (Pāli:Nigaṇṭho Nāṭaputto). Cf. Câu-xá quang ký 15 thì: “Ni-kiền-đà là từ phiên âm từ tiếng Phạn Nirgrantha, có nghĩa là xa lìa phiền não. Bên trong xa lìa hệ phược phiền não, bên ngoài xa lìa sự hệ lụy y phục (bằng sống lõa hình), vì vậy nên thường gọi là lõa hình ngoại đạo.”
159 Tứ phần: “Lõa hình bị nạn vấn không thể giải thích được.” mà không đề cập đến thời gian bao lâu (Lõa hình dùng năm trăm câu bức nạn để nạn vấn).
160 Tứ phần: “Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Sa-môn Thích tử trí tuệ thông minh. Nay ta hãy theo xuất gia học đạo.”
161 Tứ phần: “Giới không thành tựu, định không thành tựu, trí tuệ không thành tựu, giải thoát không thành tựu, giải thoát tri kiến không thành tựu. Năm pháp này không thành tựu thì không được trao giới cụ túc cho người.”
162 Tứ phần: Cộng trú 共住. Pāli (Vin. i. 67): parivāsa; từ này cũng dùng trong tăng-già-bà-thi-sa; nhưng phiên âm là ba-lợi-bà-sa, hoặc dịch là biệt trú.
163 Tứ phần: Có người đầy tớ xin xuất gia, rồi đi khất thực trong nhân gian, bị người chủ cũ bắt…
164 Hán: Thập thất quần đồng tử 十七群童子. Xem Phần I, Ch. v. Ba-dật-đề 61.
165 Tứ phần: Kế-na 罽那 và Ma-khư 摩佉. Thập tụng, tr. 151c2: Ti-đà 卑陀 và Ma-già 摩伽. Pāli: Kaṇḍaka và Mahaka.
166 Tứ phần: Năm loại bệnh: một là bệnh hủi 癩, hai là bệnh ung thư 癰, ba là bệnh hủi trắng 白癩, bốn là bệnh can tiêu 乾痟, năm là bệnh điên cuồng 顛狂. Pāli, Vin. i. 72, năm chứng bệnh: kuṭṭhaṃ (phong hủi), gaṇḍo (ung nhọt), kilāso (chàm vảy), soso (lao phổi), apamāro (động kinh).
167 Kỳ-vực 耆域. Tứ phần: Kỳ-bà Đồng tử 耆婆童子. Pāli, Jīvaka-komārabhacca, vị y sỹ trị bệnh nhi đồng tên là Jīvaka. Bản Hán đọc là – kumāra: đồng tử hay vương tử, thay vì -komārabhacca: y sĩ nhi đồng, hay y sĩ của vương tử.
168 Tứ phần: Vua Ba-tư-nặc (Pasenadi). Pāli: vua Bimbisāra (Bình-sa vương).
169 Tứ phần 34, tr.811c 01: Một đại kiện tướng.
170 Tứ phần: “Trong nước của vua Ba-tư-nặc, nhân dân nổi loạn.” Vin. i. 73: quốc cảnh của Ma-kiệt-đà, dưới thời vua Bimbisāra có loạn. Nhưng phần lớn quân sĩ đã xuất gia, nên quân số thiếu.
171 Tứ phần: Cũng như Ngũ phần người biên tập thuật theo quán tính, nên gán cho vua Ba-tư-nặc (Pasenadi), còn Ngũ phần gán cho vua A-xà-thế (Ajātasattu) nói điều chỉ trích Tăng như vậy. Tham chiếu, Pāli, ibid., trước khi xuất quân, vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) tập hợp tướng lãnh, thấy thiếu mấy viên dũng tướng, nên hỏi và được tâu trình. Vua liền tự thân đến hầu Phật. Thỉnh nguyện, không cho quan viên xuất gia khi chưa được vua cho phép. Bởi vì, có những vua chúa không tin Phật, nhân sự việc này sẽ chỉ trích. Vua không chống đối việc các tướng tá xuất gia.
172 Tứ phần: Thích-súy-sấu 釋翅搜; phiên âm cách số 6 (ư cách), số nhiều, śakyeṣu (Skt.) hay sakkesu (Pāli).
173 Mẹ của La-hầu-la (La-hầu-la mẫu 羅睺羅母, Pāli: Rahulamātā). La-hầu-la, Rāhula.
174 Tứ phần: “Con có thể xuất gia”. Pāli, Vin. i. 82 kể như sau: Rāhula đứng trước Phật nói: “Cái bóng của Sa-môn mát quá.” Rồi đi theo sau Phật, nói: “Bạch Sa-môn, cho con di sản.” (dāyajjaṃ me, samaṇa, dehi) Phật liền dẫn về tinh xá.
175 Tứ phần: Tam ngữ đắc giới như của Tỳ-kheo trước khi đức Phật chưa chế pháp Hòa Thượng và pháp truyền giới “Con tên là… quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con xin xuất gia trong giáo pháp của đức Như Lai. Đức Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác, là Thế Tôn của con.”
176 Tứ phần: Thâu-đầu-đàn-na 輸頭檀那. Có chỗ gọi là Duyệt-đầu-đàn. Pāli, Vin. i. 82, Suddhodana. Cf. Thập tụng 21, tr. 152c13.
177 Tiếp các già nạn mục 5.
178 Hắc ám hà 黑闇河, con sông gần khu rừng sa-la, thuộc nước Câu-tát-la. Pāli: chuyện xảy ra trên con đường giữa Sāketa vāvatthi.
179 Tứ phần: Trong đây, đã từng có người bạch y cùng với người mặc áo ca-sa hành dâm.
180 Tứ phần: Thiện Hiện Long vương善現龍王. Pāli, Vin. i. aññataro nāgo, một con rắn (thần) nọ. Các từ “long” trong Hán dịch, thường chỉ loại rắn thần của Ấn Độ.
181 Huỳnh môn 黃門. Pāli, Vin. i. 85 paṇḍaka, người bị thiến. Tứ phần: Huỳnh môn có năm loại: sanh huỳnh môn 生 (bẩm sanh), kiền huỳnh môn 犍 (do thiến), đố huỳnh môn 妒(do ghen), biến huỳnh môn 變 (do biến đổi), bán nguyệt huỳnh môn 半月 (chỉ có nửa tháng). Pāli, Sớ giải, v. 1016: āsitta-paṇḍako usūyapaṇḍako opakkamika-paṇḍako pakkhapaṇḍako nupuṃsapaṇḍako ti pañca paṇḍakā. Thập tụng 21 (tr. 153c2): ngũ chủng bất năng nam 五種不能男, sinh, bán nguyệt, tật đố, tinh, bịnh. Skt. pañca paṇḍakaḥ, jātipaṇḍaka (sanh), pakṣapaṇḍaka (bán nguyệt), īrṣyāpaṇḍaka (tật đố), āsaktaprādurbhāvīpaṇḍaka (kiền, hay tinh, hay xúc bão), āpatpaṇḍaka (kiền, hay hình tàn, hay bịnh).
182 Tiếp y chỉ và dứt y chỉ mục 3.
183 Tứ phần: “Có năm pháp bị mất y chỉ: 1. Thầy khiển trách. 2. Bỏ đi. 3. Thôi tu. 4. Không cùng ở với vị y chỉ. 5. Vào trong giới trường. Cf. Mahāvagga, Vin. i. 61,nissayapaṭippassadhika.
D. Pháp thức truyền thọ Cụ túc
1. Giáo thọ giới tử
Bấy giờ có một Tỳ-kheo mượn y bát của người khác thọ giới Cụ túc, thọ giới Cụ túc rồi các Tỳ-kheo nói:
“Thầy mặc y bưng bát cùng đi khất thực.”
Tỳ-kheo kia nói:
“Tôi không có y, bát.”
Các Tỳ-kheo nói:
“Đức Phật đâu không cấm người không có y, bát được thọ giới Cụ túc đó sao?”
Tỳ-kheo kia nói:
“Đức Phật có cấm nhưng tôi mượn y, bát của người để thọ.”
Các Tỳ-kheo không biết nên giải quyết thế nào, bạch Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cho phép dẫn người muốn thọ giới, đến bên ngoài giới đàn, để đứng chỗ mắt thấy tai không nghe, thỉnh chúng mười vị lên giới đàn, Hòa thượng nên nói với Yết-ma sư: ‘Trưởng lão, nay làm Yết-ma.’ Lại nói với giáo sư: ‘Trưởng lão, nay thọ Yết-ma.’ Yết-ma sư nên bạch Tăng như vầy:
‘Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người tên là… cầu ngài hiệu… thọ giới Cụ túc, ngài hiệu… làm giáo sư. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.’
Giáo sư nên từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Hòa thượng thưa hỏi: ‘Ngài đã độ người này hay chưa?’ Nếu nói chưa độ thì nên nói phải độ họ trước. Nếu nói đã độ, nên hỏi: [119c01] ‘Đã vì họ làm Hòa thượng chưa?’ Nếu nói chưa làm, nên nói phải vì họ làm Hòa thượng trước. Nếu nói đã vì họ làm Hòa thượng, nên hỏi người đệ tử: ‘Y bát đủ chưa?’ Nếu nói chưa đủ, nên nói trước hết phải đủ y bát. Nếu nói, đã đủ, nên hỏi: ‘Tự mình có hay mượn của người?’ Nếu nói mượn của người, nên nói cần khiến người chủ xả nó. Nếu nói tự mình có, nên đến an ủi, nói với người muốn thọ giới: ‘Ngươi chớ nên sợ sệt, trong giây lát nữa ta sẽ đưa ngươi đến chỗ cao cả thù thắng.’ Nếu trước chưa tìm hiểu nhau thì không được trao giới Cụ túc một cách mờ mịt. Nhân khi Giáo thọ sư dạy đắp y, nên kín đáo tìm xem họ có như pháp không, có trọng bệnh không. Lại nên hỏi:
‘Ba y của ngươi, cái nào là Tăng-già-lê, cái nào là Ưu-đa-la-tăng, cái nào là An đà hội?’
Nếu đương sự không biết, nên nói: ‘Cái này là Tăng-già-lê, cái này là Ưu-đa-la-tăng, cái này là An-đà-hội.’ Nên cho thọ ba y và bát. Lại nói:
‘Ngươi tên… lắng nghe! Nay là lúc cần nói sự thật! Nay ta hỏi ngươi, nếu thật nói là thật, không thật nói là không thật: Ngươi có các chứng bệnh hủi trắng, hủi ung thư, càn tiêu, điên cuồng, trĩ, lậu nhiệt, phù thũng hay không?’
Nếu nói không, lại hỏi:
‘Ngươi có mắc nợ ai không? Ngươi chẳng phải là quan nhơn chứ? Chẳng phải tôi tớ chứ? Là trượng phu phải không? Là người phải không? Đủ hai mươi tuổi không? Có đủ y bát không? Thọ Hòa thượng chưa? Tên ngươi là gì? Hòa thượng tên gì? Ngươi đã từng xuất gia chưa?’
Nếu nói đã từng xuất gia, nên hỏi:
‘Trước kia ngươi xuất gia có trì giới đầy đủ không? Cha mẹ có cho phép không? Ngươi muốn thọ giới Cụ túc không?’
Trong chúng cũng sẽ hỏi ngươi như vậy, ngươi cũng nên trả lời đúng sự thật như vậy. Nếu những câu hỏi đều được trả lời như pháp, Giáo sư trở lại lên giới đàn nói với vị Yết-ma rằng:
‘Tôi đã giáo thọ… như pháp rồi.’
Yết-ma sư lại nên bạch Tăng:
‘Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người tên… cầu ngài hiệu… thọ giới Cụ túc, ngài… như pháp giáo thọ rồi, nên khiến cho họ vào. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch’.”
2. Giới tử bạch Tăng
Giáo sư nên dẫn họ vào, theo thứ tự đảnh lễ sát chân tất cả Tăng. Đảnh lễ sát chân tất cả Tăng rồi, đến trước Yết-ma sư, hướng về Yết-ma sư, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay, dạy họ xin thọ giới Cụ túc. Lời dạy:
“Con tên là… cầu ngài… làm Hòa thượng thọ giới Cụ túc, nay đến Tăng xin thọ giới Cụ túc, nguyện Tăng cứu vớt con, dũ lòng thương đối với con.”
Xin như vậy 3 lần. Vị Giáo sư dạy rồi trở về lại chỗ ngồi cũ. [120a01] Yết-ma sư nên bạch Tăng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên là… cầu ngài… thọ giới Cụ túc, đến Tăng xin thọ giới Cụ túc. Nay tôi sẽ hỏi nạn sự của đương sự, để rồi tác Yết-ma thọ giới Cụ túc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch”.
Kế đó nên nói với người thọ giới rằng:
“Bây giờ là lúc cần nói thật. Nay tôi hỏi ông, thật nói là thật, không thật nói là không thật. Ông có các chứng bệnh như hủi trắng, hủi… cho đến câu: ông muốn thọ giới cụ túc hay không?” (cũng như trước đã hỏi). Các câu hỏi trả lời như pháp rồi, Yết-ma sư nói:
3. Bạch tứ yết-ma
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên… cầu ngài… thọ giới Cụ túc. Người này tên… tự nói thanh tịnh, không có các nạn sự, ba y và bát đủ, đã thọ Hòa thượng, cha mẹ đã cho phép, nay đến trước Tăng xin thọ giới Cụ túc. Nay Tăng cho người tên… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng pháp hiệu… Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người này tên… cầu ngài… thọ giới Cụ túc. Người này tên… tự nói thanh tịnh, không có các nạn sự, ba y và bát đủ, đã thọ Hòa thượng, cha mẹ đã cho phép, nay đến trước Tăng xin thọ giới Cụ túc. Nay Tăng cho người tên… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng pháp hiệu… Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng, nếu không đồng ý xin nói.” (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
Tăng đã cho… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng pháp hiệu… rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi nghi nhận như vậy.”
4. Truyền pháp tứ khí và tứ y
a. Tứ khí
Nên nói với người thọ giới:
“Này ông… lắng nghe! Đức Thế Tôn Ứng cúng Đẳng chánh giác nói bốn đọa pháp, nếu Tỳ-kheo phạm một pháp nào thì chẳng phải Sa-môn, chẳng phải con dòng họ Thích:
(1) Ông hoàn toàn không được dâm dục, cho đến dùng tâm dục nhiễm xem ngó nữ nhơn. Tỳ-kheo nào hành dâm pháp, cho đến cùng với loài súc sanh, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải con dòng họ Thích. Trọn đời, ông không nên phạm. Nếu có thể giữ được thì nên nói: giữ được.
(2) Ông hoàn toàn không được không cho mà lấy, cho đến lá cây ngọn cỏ. Tỳ-kheo nào hoặc trong xóm làng hoặc nơi đất trống, vật thuộc người khác bảo vệ, trộm lấy năm tiền, hay vật đáng giá năm tiền, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải con dòng họ Thích. Trọn đời, ông không nên phạm. Nếu có thể giữ được thì nên nói: giữ được.
(3) Ông hoàn toàn không được sát sanh, cho đến giết loài kiến, Tỳ-kheo nào hoặc người, hoặc loài người, tự tay giết hoặc dạy người giết, hoặc tìm dao đưa cho họ, hoặc dạy cho họ chết, hoặc khen sự chết, nói: [120b01] Này trượng phu, với nếp sống đó, chết hơn là sống, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải con dòng họ Thích. Trọn đời, ông không nên phạm. Nếu có thể giữ được thì nên nói: giữ được.
(4) Ông hoàn toàn không được nói dối, cho đến nói dối để vui chơi. Tỳ-kheo nào thật sự không có pháp hơn người, tự xưng là được pháp hơn người, các thiền giải thoát tam-muội chánh thọ, cho đến các đạo quả, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải con dòng họ Thích. Trọn đời, ông không nên phạm. Nếu có thể giữ được thì nên nói: giữ được.
Các đức Phật Thế Tôn vì việc thị hiện, khéo nói thí dụ: cũng như người chết, trọn không thể dùng thân ấy làm cho sống lại, như cây kim bị sứt đít, không có thể dùng để may vá được nữa, như tim cây đa-la bị chặt, không thể sống lại được, không tăng thêm, không lớn rộng, như hòn đá bị bể không thể dính lại được. Nếu Tỳ-kheo phạm một đọa pháp nào, trở lại đặng pháp Tỳ-kheo, là điều không thể xảy ra.
b. Tứ y
Lại nói: “Này… lắng nghe! Đức Thế Tôn Ứng cúng Đẳng chánh giác nói pháp tứ y:
(1) Đã là người xuất gia thọ giới Cụ túc. Tỳ-kheo suốt đời phải nương tựa vào y phấn tảo để sống. Nếu ông có thể giữ được thì nên nói: giữ được. Về sau, nếu được y Kíp-bối, y Khâm-bà-la, y Câu-xá-da, y Tha-gia đều được cất dùng.
(2) Đã là người xuất gia thọ giới Cụ túc, Tỳ-kheo trọn đời nương nơi sự khất thực để sống. Nếu ông có thể giữ được thì nên nói: giữ được. Về sau, Tăng nhận được bữa ăn trước, bữa ăn sau, thức ăn được mời, đều được sử dụng.184
(3) Đã là người xuất gia thọ giới Cụ túc. Tỳ-kheo trọn đời nương nơi gốc cây để sống. Nếu ông có thể giữ được thì nên nói: giữ được. Về sau, nếu nhận được nhà lớn, nhà nhỏ, nhà gác thì được sử dụng.
(4) Đã là người xuất gia thọ giới Cụ túc. Tỳ-kheo trọn đời nương nơi thuốc dư bỏ để sống. Nếu ông có thể giữ được thì nên nói: giữ được. Về sau, nếu nhận được tô, du, mật, thạch mật thì được sử dụng.
5. Giáo giới và đắc giới
Lại nên nói rằng: “Này… lắng nghe! Ông đã được Bạch tứ yết-ma như pháp thọ Cụ túc giới rồi. Điều này đã được chư Thiên, rồng, quỉ, thần từng phát lời nguyện: Đến khi nào ta được làm thân người thì xuất gia thọ giới Cụ túc trong chánh pháp luật. Nay ông đã được thân, như người được vương vị, ông thọ Tỳ-kheo pháp cũng như vậy, nên tiếp nhận một cách thoải mái, cùng nhau nói năng cung kính, nhận sự giáo giới các giới khác. Hòa thượng, A-xà-lê sẽ vì ông rộng nói, ông nên sớm được học giới Cụ túc, học ba giới, diệt ba lửa, lìa ba cõi, không có lại các uế, thành A-la-hán.”
1. Bấy giờ người thọ giới Cụ túc không biết năm tháng, không biết thời gian thọ giới, bạch Phật. [120c01] Đức Phật dạy: “Nên dạy khiến cho họ biết, nói như sau: Ông nay thọ giới năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào, trọn đời ông phải nhớ rõ việc ấy.”
2. Lại có các Tỳ-kheo phạm thô tội biệt trú, nhàm chán biệt trú, bèn xả giới thôi tu. Lại có vị hành Ma-na-đỏa, Bổn nhật trị, A-phù-ha-na, bị Yết-ma khiển trách, Yết-ma khu xuất, Yết-ma y chỉ, Yết-ma cử tội, Yết-ma hạ ý. Các Tỳ-kheo như vậy đều nhàm chán, bỏ đạo; thời gian sau lại muốn xuất gia thọ giới Cụ túc trong chánh pháp luật, các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Nên hỏi họ trước: Ông có thể trở lại hành các việc trước kia, có thể tùy thuận Tăng, cầu Tăng trừ diệt việc trước kia hay không? Nếu nói không thể thì không nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc. Nếu nói có thể thì nên cho xuất gia thọ giới Cụ túc. Khi đã thọ giới rồi, nếu trước kia đang Biệt trú thì khiến trở lại Biệt trú…cho đến trước kia đang tác pháp Yết-ma hạ ý thì trở lại trao cho tác pháp Yết-ma hạ ý.”
3. Lại có các Tỳ-kheo, Hòa thượng, A-xà-lê thôi tu, sau lại đến đệ tử cầu xuất gia thọ giới Cụ túc, các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép cho xuất gia thọ giới Cụ túc, đệ tử trước kia nên cho y bát, giúp đỡ khiến cho thành tựu được xuất gia thọ giới Cụ túc.”
Vị kia lại cầu người đệ tử mình trước kia làm thầy, các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Cho phép người đệ tử trước kia được làm thầy.”
Lại không biết ai cung kính ai, các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Người thọ giới sau, lại nên như pháp cung kính thầy.”
4. Bấy giờ Ưu-ba-ly bạch Phật:
“Các Tỳ-kheo trước đã thọ giới bằng một lời nói, thọ giới bằng hai lời nói, bằng ba lời nói, cho đến cả thọ giới bằng nói câu ‘Thiện lai Tỳ-kheo’, thọ giới khi ngủ, khi say, tâm cuồng, tâm tán loạn, tâm bệnh hoại mà thọ giới, Hòa thượng khi ngủ, cho đến tâm bệnh hoại, hai vị cho đến mười vị đều làm Hòa thượng thọ giới, những trường hợp như vậy được gọi là thọ giới Cụ túc hay không?”
Đức Phật dạy:
“Trước khi chưa chế giới thì được gọi là thọ giới Cụ túc, sau khi chế giới rồi thì không gọi là thọ giới Cụ túc.”
5. Bấy giờ Xá-lợi-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Ma-ha Câu-hy-la, Ma-ha Ca-chiên-diên, A-na-luật, Phú-lâu-na, Di-đa-la-ni Tử, La-hầu-la, A-nan, Nan-đà, những vị đại A-la-hán này đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên, đồng thanh như Ưu-ba-ly [121a01] hỏi Phật, đức Phật trả lời cũng như trên.
6. Bấy giờ các Tỳ-kheo ngồi, không có trên dưới, không cung kính nhau, các cư sĩ thấy, cơ hiềm, nói:
“Bọn Sa-môn này ngồi không biết thượng, trung, hạ, không có lớn nhỏ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo:
“Thật sự các ông có như vậy không?”
“Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi hỏi các Tỳ-kheo:
“Ai nên nhận chỗ ngồi thứ nhất, nhận của thí thứ nhất, và nhận cung kính lễ bái thứ nhất?”
Các Tỳ-kheo, hoặc có người nói:
“Sát-lợi, Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, xuất gia nên thọ.”
Hoặc có người nói:
“Người tụng Tỳ-ni, Pháp sư, A-luyện-nhã, hành mười hai đầu-đà, cho đến đắc A-la-hán quả nên thọ.”
Đức Phật dạy: “Không nên như vậy.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Nếu không nên như vậy thì ai là người nên thọ?”
Đức Phật dạy:
“Đời quá khứ xa xưa, bên bờ biển có cây Ni-câu-luật, bóng cây che phủ cả năm trăm cổ xe. Khi ấy, có ba con thú ở dưới gốc cây này, một là chim trĩ, hai là con khỉ, ba là con voi, tuy là thân hữu mà không có sự tôn kính nhau. Sau thời gian chúng bàn luận: ‘Chúng ta đã là thân hữu, tại sao không tôn kính nhau? Nên dựa theo năm, người nào lớn hơn là tôn, người nào nhỏ hơn là ty.’ Luận bàn rồi, hỏi voi: ‘Bạn nhớ việc lâu xa như thế nào?’ Voi nói: ‘Tôi nhớ cây này khi nó ngang bụng tôi.’ Lại hỏi con khỉ, con khỉ nói: ‘Tôi nhớ khi tôi đứng thẳng, cắn tới đọt cây này.’ Lại hỏi con chim trĩ, chim trĩ nói: ‘Tôi nhớ xưa kia ở nơi chỗ đó, tôi ăn hột cây này, đến đây nhả ra, hột đó bèn mọc lên cây này.’ Thế là suy tôn con chim trĩ là lớn, con khỉ bậc trung, con voi nhỏ nhất. Khi cần đi, con khỉ lớn cõng con chim trĩ, con voi cõng con khỉ lớn. Con chim trĩ dạy hai con kia làm mười thiện nghiệp, chúng đều vâng làm. Người đời nghe đều ghi nhận sự giáo hóa đó, bèn gọi hành thiện là trĩ phạm hạnh. Người phụng hành pháp đó khi mạng chung được sanh lên cõi trời. Này các Tỳ-kheo! Súc sanh còn biết có tôn ty, huống là trong chánh pháp Ta lại không tương kính hay sao?! Từ nay các ông, người nào thọ giới Cụ túc trước nên được ngồi chỗ thứ nhất, vật cúng thứ nhất, cung kính lễ bái thứ nhất, nên phụng hành như vậy.185



  • Leave a Comment