Ngũ Phần Luật – 23. Phần III – Chương 3 – Pháp An Cư

CHƯƠNG III : PHÁP AN CƯ

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

1. Kết giới an cư
[129a9] 1. Đức Phật ở tại thành Xá-vệ, khi ấy các Tỳ-kheo[2] vào mùa Xuân, Hạ, Đông, tất cả thời đều du hành, đạp chết trùng cỏ,[3] mang y vật nặng nhọc mệt trên lộ trình, các cư sĩ thấy cơ hiềm nói: “Các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn còn biết mùa Hạ trong ba mùa thì An cư. Các loài chim lại làm tổ, làm hang để ở yên trong mùa này. Ngược lại, các Tỳ-kheo không biết 3 mùa, mùa nào nên đi, mùa nào không nên đi. Các Tỳ-kheo thường nói thiểu dục, từ mẫn, hộ niệm chúng sanh, mà nay dậm đạp, không có tâm nhân từ trắc ẩn,[4] không hạnh Sa-môn phá pháp Sa-môn.”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: “Sự thật các ông có như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, có.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: “Không nên tất cả thời đều du hành, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.
Từ nay cho phép mùa Hạ phải An cư. Kết pháp An cư: Để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối, chắp tay, hướng đến một Tỳ-kheo thưa:
‘Trưởng lão, nhất tâm niệm! Tôi Tỳ-kheo… an cư mùa Hạ nơi trú xứ này, ba tháng trước, nương nơi xóm làng… phòng xá… Nếu phòng xá có hư hoại nên tu bổ.’
Nói như vậy ba lần. Vị kia nói: ‘Tôi ghi nhận’.”
2. Các Tỳ-kheo ngày nào cũng kết an cư, hoặc hai ngày cho đến năm ngày một lần kết, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên kết như vậy, nên ngày Bố-tát cuối mùa xuân, chia phòng xá ngọa cụ, rồi ngày mồng một mùa Hạ kết an cư.”5
2. Trú xứ an cư
1. Có Tỳ-kheo muốn nương nơi dưới con voi, hoặc nương nơi xe cộ kết an cư. Lại có Tỳ-kheo muốn nương nơi bát úp an cư. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Đều không nên kết như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Cho phép kết nơi chỗ đủ ngồi kết già và y bát không bị mưa ướt mà an cư.”
2. Có các Tỳ-kheo an cư nơi chỗ không có sự cứu hộ, bị giặc cướp đoạt. [129b01] Lại có các Tỳ-kheo an cư nơi gò mả, bị phi nhân gây não. Lại có các Tỳ-kheo an cư trên cây, bị rắn độc làm khốn khổ. Lại có các Tỳ-kheo an cư trong nhà lợp bằng da, bên trong lỗ mũi bị sanh thịt. Lại có các Tỳ-kheo an cư nơi chỗ đất trống, da bị lột, bạch Phật, Phật dạy:
“Những chỗ trên đều không nên kết.”
3. Bấy giờ các bạch y thỉnh Tỳ-kheo an cư ở chỗ không có sự cứu hộ, bạch: “Đại đức có thể an cư nơi chỗ đó, tôi sẽ từ xa làm việc cứu hộ.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ.”
4. Lại có các Tỳ-kheo ở gò mả, lo ngại nơi nhân gian không có phòng xá ngọa cụ, muốn ở lại gò mả an cư, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu có thể hệ niệm tại tiền, không có sự sợ sệt thì cho phép.”
5. Lại có các Tỳ-kheo muốn bố trí một chỗ trên lùm cây trong không trung để an cư, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép, nhưng trước hết nên dùng đá ném lên cây, hoặc lấy cây sào đập, lắng nghe có âm thanh nào phát ra hay để có vật gì chạy ra. Nếu không có tiếng gì khác, không có vật gì chạy ra, sau đó mới vào. Lấy bùn kết dính các chỗ hiểm yếu để có sự bằng phẳng, chung quanh làm vách đất, đặt cửa để đóng mở.”
6. Bấy giờ long vương A-nậu-đạt thỉnh các Tỳ-kheo an cư trong hang ở trong cung, 500 kim ngân và các châu báu làm thành, các Tỳ-kheo không dám đến, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép đến.” Các Tỳ-kheo muốn làm cấp để đi, lót đá để ngồi, và đá để rửa chân, đều dùng bằng vàng bạc, xấu hổ không dám, bạch Phật, Phật dạy:
“Vàng bạc nơi đó cũng như đất đá ở đây, tùy ý sử dụng.”
7. Lại có các Tỳ-kheo an cư có nạn giặc, nạn vua, nạn bà con, bạch Phật, Phật dạy: “Nên tránh đi chỗ khác an cư. Có 2 thứ an cư:6 Tiền an cư và hậu an cư. Nếu không có việc gì thì nên tiền an cư, có việc gì thì cho phép hậu an cư.”
Tỳ-kheo hậu an cư đến chỗ khác, Tỳ-kheo kia không cung cấp phòng xá, ngọa cụ, bạch Phật, Phật dạy: “Nên cung cấp.” Đã cấp rồi không ở, lại đoạt phòng của người khác, bạch Phật, Phật dạy:
“Nhận được phòng nào ở phòng ấy.” Tỳ-kheo khi muốn an cư, nên trù liệu trước, chỗ này có nạn, không nạn; không nạn nên ở, có nạn nên đi.
8. Bấy giờ thành Xá-vệ, có trưởng giả tên là Ưu-đà-diên7 tin ưa Phật pháp, thường cung cấp cho các Tỳ-kheo. Khi an cư, vì Tăng làm phòng xá, thiết trai nhập xá, muốn [129c01] nhân việc ấy đem phòng dâng cúng, mời các Tỳ-kheo ở các trú xứ chung quanh, các Tỳ-kheo xấu hổ không dám thọ. Trưởng giả cơ hiềm chê trách nói: “Tôi không dùng tài vật để làm thức ăn, mà các Tỳ-kheo không chịu thọ thỉnh.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ. Nếu làm nhà cho Tỳ-kheo-ni và phòng cho ngoại đạo, cho đến làm thềm cấp đường đi, thiết trai mời cúng dường, đều cho phép thọ. Nếu có người thỉnh hay không được thỉnh, phải ra ngoài cương giới, tất cả trường hợp đều cho phép 7 ngày phải trở lại.” Có một Tỳ-kheo tự mình không biết luật, nhưng không nương nơi người trì luật, trong khi an cư sanh nghi, khởi ý niệm: “Đức Thế Tôn không cho phép ta khi an cư du hành”, không có chỗ để hỏi, không biết làm thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép an cư chỗ có Tỳ-kheo trì luật. Nếu chỗ Tỳ-kheo trì luật phòng xá chật hẹp, cho phép ở chỗ gần Tỳ-kheo trì luật, mỗi 7 ngày tới một lần, trong khi đó tâm niệm, từ xa nương vị trì luật mà an cư.” Có một Tỳ-kheo, chia phòng xá ngọa cụ rồi, không khởi ý niệm: Nay tôi an cư, miệng cũng không nói, sau sanh nghi hối: Ta không kết an cư, có thành an cư không? Bạch Phật, Phật dạy: “Vì an cư, thọ phòng xá, trải ngọa cụ, tuy không phát tâm, miệng nói để kết, cũng được gọi là an cư.”
3. Xuất giới
Bấy giờ thành Xá-vệ, người ta muốn đào con kênh thông nước nơi Kỳ-hoàn, vua Ba-tư-nặc nghe, ra lệnh: “Ai đào kênh thông nước nơi Kỳ-hoàn phải bị đại tội.” Sau đó, nơi biên giới có việc, vua tự xuất chinh. Các ngoại đạo muốn cùng tập trung lực lượng đào kênh thông nước. Các Tỳ-kheo đem việc ấy nói với các Ưu-bà-tắc, các Ưu-bà-tắc nói: “Việc này không phải thuộc quyền ngăn cấm của chúng tôi, cần phải đến tâu với vua.” Các Tỳ-kheo nói: “Đức Thế Tôn không cho phép trong khi an cư đi quá 7 ngày.” Nhà vua hiện ở cách xa đây, làm sao đến kịp. Các Tỳ-kheo bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay có việc Phật, Pháp, Tăng hay các việc tư, cần đi ngoài 7 ngày, cho phép Bạch nhị yết-ma thọ 15 ngày hoặc 1 tháng để ra ngoài giới. Một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên… vì công việc… muốn đi ra ngoài giới, ngoài 7 ngày, thọ 30 đêm, sẽ trở lại đây an cư. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên… vì công việc… muốn đi ra ngoài giới, ngoài 7 ngày, lại thọ 30 đêm rồi trở lại đây an cư. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã thuận cho Tỳ-kheo… [130a01] lại thọ 30 đêm ra ngoài giới rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
4. Phá hạ
Có một Tỳ-kheo an cư, thức ăn thô cũng không đủ, khởi ý niệm: “Ta ở đây, trong khi an cư, thức ăn thô cũng không đủ, song đức Thế Tôn không cho phép phá an cư, ta nên như thế nào?” Bạch Phật, Phật dạy: “Vì nhân duyên ấy, cho phép phá an cư, không có tội.”
Lại có một Tỳ-kheo an cư, có một Tỳ-kheo-ni quyến rũ cọng tác bất tịnh hạnh. Tỳ-kheo ấy nghĩ: “Nhân tâm dễ thay đổi, sau đó có thể bị lung lạc, nhưng Thế Tôn không cho phép phá an cư, ta nên như thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Vì lý do ấy cho phép phá an cư, không có tội. Thức-xoa-ma-na, cho đến huỳnh môn cũng được như vậy.” Nếu quốc vương muốn phá hoại phạm hạnh, cho đến cha mẹ, thân thích cũng được như vậy.
Có một Tỳ-kheo an cư, bắt gặp kho tàng quí giá, khởi ý nghĩ: “Của phục tàng này đủ nuôi sống một đời ta, nếu ở lâu, ý niệm này có thể bị lung lạc, nhưng đức Thế Tôn không cho phép phá an cư, ta nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Vì nhân duyên này cho phép phá an cư, không tội. Nếu chứng kiến sự vui sướng, khổ đau của quốc vương, của người tôn quý, kể cả cha mẹ, vì sợ mất đạo ý, đều cũng giải quyết như vậy.”
Có một Tỳ-kheo an cư, nghe có Tỳ-kheo muốn phá Tăng, khởi ý niệm: “Nếu có phá Tăng sự, Tăng không được hòa hợp, không được an lạc, do đức Thế Tôn không cho phép phá an cư, ta nên như thế nào”. Bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép vì nhân duyên ấy phá an cư, không có tội.”
Lại có một Tỳ-kheo an cư, nghe trú xứ khác có Tỳ-kheo muốn phá Tăng, mà là thân mật, khởi ý nghĩ: ‘Nếu ta đến can gián chắc nghe lời ta, song đức Thế Tôn không cho phép ta phá an cư, ta nên như thế nào?’ Bạch Phật, Phật dạy:
“Cho phép vì nhân duyên ấy phá an cư, không có tội. Nếu có thể sai người can gián, vì việc này mà đi, nếu nơi đó Tăng đã phá, nếu tự mình hòa hợp, hoặc khiến người hòa hợp, vì việc này mà đi, cũng lại như vậy. Tỳ-kheo-ni có thể hòa hợp Tăng, cũng như vậy.”
Bấy giờ có đoàn khách buôn8 dừng nghỉ, các Tỳ-kheo muốn nương theo họ an cư, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nương đoàn khách buôn an cư.” Trong khi an cư, bỗng nhiên họ lại đi, các Tỳ-kheo không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép đi theo họ.” Các khách buôn chia làm hai đoàn, các Tỳ-kheo không biết làm thế nào, bạch Phật, Phật dạy:
“Đoàn nào có lòng tin ưa, phong phú, vui vẻ thì đi theo. Tỳ-kheo có trì luật, nơi đó cũng có nhiều vị trì luật, cho phép theo bộ này mà đi. Nếu nương nơi người chăn trâu, [130b01] chăn dê, người làm bè, người đi thuyền an cư, đều cũng như vậy.”9
Có các Tỳ-kheo trong khi an cư phòng xá, ngọa cụ bị cháy không có chỗ ở, không biết nên như thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu bị lửa cháy, nước trôi, nạn vua, nạn giặc, nạn phi nhơn, nạn sư tử, hổ lang, các trùng độc cho đến loài kiến, nước, gió đều cho phép phá an cư, không có tội.”
5. Tiền hậu an cư
Khi ấy, Bạt-nan-đà thọ an cư, thỉnh Bố-tát rồi, đi giữa đường thấy hai trú xứ, nhiều y thực được dâng cúng, Bạt-nan-đà bèn vào hai nơi đó. Mỗi chỗ đều nhận phân nửa phẩm vật. Các Tỳ-kheo bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: “Thật sự ông có như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, có”. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: “Ông là người ngu si, tại sao đã thọ sự thỉnh của người khác, vì lợi dưỡng đến an cư hai trú xứ?” Phật bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay, Tỳ-kheo nào nhận sự mời của người khác tiền an cư,10 Bố-tát rồi, đến giữa đường, thấy hai trú xứ, nhiều y thực được dâng cúng bèn vào, thì không có tiền hay hậu an cư, mắc tội trái với lời nói, phạm Đột-kiết-la.”11
Tỳ-kheo nào nhận sự mời của người khác tiền an cư, Bố-tát rồi mà đi chưa tới nơi, đến ngày 17, tướng ánh sáng12 xuất hiện, Tỳ-kheo ấy không thành tiền an cư mà thành hậu an cư,13 không phá an cư, mắc tội trái với lời nói.
Nếu nhận sự mời của người khác tiền an cư, Bố-tát rồi, đến kết an cư, không thọ 7 ngày ra ngoài giới, trong vòng 7 ngày, trở lại, không trở lại, Tỳ-kheo ấy không thành tiền an cư mà thành hậu an cư, không phá an cư, mắc tội trái với lời nói.
Nếu nhận lời mời của người khác tiền an cư, Bố-tát rồi, đến kết an cư, thọ 7 ngày ra ngoài giới không trở lại, không thành tiền an cư mà thành hậu an cư, không phá an cư, mắc tội trái với lời nói. Nếu trong vòng 7 ngày mà trở lại, không phá an cư, không phạm tội trái với lời nói.
Nếu nhận lời mời của người khác tiền an cư, Bố-tát rồi, đến kết an cư, trước Tự tứ 7 ngày, không có pháp 7 ngày ra ngoài giới, cũng không thành tiền an cư, thành hậu an cư, không phá an cư, mắc tội trái với lời nói. Nếu có pháp 7 ngày ra ngoài giới, không phá an cư, không phạm tội trái với lời nói.
Tỳ-kheo nào, nhận lời của người khác tiền an cư, đến nơi kia Bố-tát, cũng như vậy.
Tỳ-kheo nào, nhận lời mời của người khác, hậu an cư, Bố-tát rồi, đến giữa đường, thấy 2 trú xứ có nhiều y thực dâng cúng, bèn ở lại không đi, phá an cư, trái với lời nói, phạm 2 tội Đột-kiết-la. Nếu nhận lời mời của người khác, hậu an cư, Bố-tát rồi đi không đến, đến [130c01] ngày 17, tướng ánh sáng xuất hiện, Tỳ-kheo ấy phá an cư, trái với lời nói, phạm 2 tội. Nếu nhận lời mời của người khác, hậu an cư, Bố-tát rồi đến kiết an cư, không thọ 7 ngày ra ngoài giới, trong 7 ngày trở lại hay không trở lại, và thọ 7 ngày, trong 7 ngày không trở lại, đều phá an cư, trái với lời nói, mắc 2 tội. Nếu trong 7 ngày trở lại, không phá an cư, không phạm tội trái với lời nói. Nếu nhận lời mời của người khác, hậu an cư, Bố-tát rồi đến kết an cư, trước Tự tứ 7 ngày, không có pháp ra ngoài giới 7 ngày, phá an cư, trái với lời nói, mắc 2 tội. Nếu có pháp 7 ngày ra ngoài giới, không phá an cư, không phạm tội trái với lời nói. Nếu nhận lời mời của người khác, hậu an cư đến chỗ kia Bố-tát, cũng như vậy.
Có một Tỳ-kheo tìm chỗ an cư, thấy có cái hang không, khởi ý niệm: “Ta sẽ an cư nơi đây.” Lại có số đông Tỳ-kheo thấy, cũng lại có ý niệm như vậy mà không biết nhau. Trước khi an cư, đến ngày Bố-tát, hai bên cùng tập hợp nơi đó, đều nói: “Trước đây tôi đã tìm ra cái hang này.” Không biết ai được ở, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu ai đến trước nên làm dấu, hoặc để tên mình nơi vách, hoặc nói với người ở xung quanh hang, sau lấy đó làm chứng, thì người này được ở.” Lại có Tỳ-kheo trước chiếm trú xứ, sau rồi không đến, Tỳ-kheo khác không dám ở, bèn bỏ trống trú xứ đó, bạch Phật, Phật dạy: “Nên xóa cái dấu, hoặc nói để cho mọi người đều biết, khiến Tỳ-kheo khác được ở.”



  • Leave a Comment