Ngũ Phần Luật – 24. Phần III – Chương 4 – Pháp Tự Tứ

CHƯƠNG IV : PHÁP TỰ TỨ

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

1. Á pháp
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ số đông Tỳ-kheo ở một chỗ an cư, cùng nhau bàn nói: “Chúng ta, nếu cùng nhau nói năng, hoặc đưa đến sự thêm bớt, nên cùng nhau lập qui chế: ‘Chớ nên có những lời lẽ gì với nhau. Nếu ai khất thực về trước thì lau quét, rưới nước chỗ dọn ăn, lấy nước đầy bình, đem khăn lau tay, lau chân ra, trải các tọa cụ, để đồ đựng thức ăn dư, lường thức ăn, có dư thì sớt bớt để vào đó, người nào ăn thiếu lấy đó mà ăn, ăn rồi theo thứ tự dọn dẹp, nếu một mình không thể làm được thì ra dấu nhờ bạn cùng làm.’ An cư như vậy được sống an lạc, không có cái họa phải quấy, thêm bớt.”[6] Luận bàn như vậy rồi liền bèn thực hiện.
An cư xong, thường pháp[7] của chư Phật, một năm có hai lần hội hợp, khi đến chỗ Phật, các Tỳ-kheo[8] đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật an ủi hỏi: “Các thầy an cư hòa hợp, khất thực không thiếu, trên đường đi không nhọc mệt chứ?” “Bạch Thế Tôn, chúng con an cư [131a01] hòa hợp, khất thực không thiếu, trên đường đi không nhọc mệt.” Đức Phật lại hỏi: “Các thầy an cư bằng cách nào được hòa hợp?” Các Tỳ-kheo liền trả lời đầy đủ như trên. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: “Các thầy ngu si, như oan gia ở với nhau, làm sao mà được hòa hợp an lạc. Ta đã dùng vô số phương tiện dạy các thầy chung sống, cần phải nhắc nhở nhau, xây dựng, giác ngộ cho nhau, để làm tròn đạo nghiệp. Tại sao nay các thầy lại thực hành pháp câm?!5 Từ nay nếu lại lập cái pháp không cùng nói năng với nhau thì phạm tội Đột-kiết-la.”6
2. Vấn thính
Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo thường thường phạm tội. Các Tỳ-kheo dùng lời Phật dạy, cùng nhau khuyên răn, nói: “Các thầy thường thường phạm tội, nên tự thấy lỗi mà tu cải hối, chớ để ô nhiễm phạm hạnh, tự để lại cái khổ lớn cho mình, phụ lòng tin của tín thí, rốt cuộc không được gì!” Nhóm sáu Tỳ-kheo không tự cải lỗi, trở lại vu khống nói các Tỳ-kheo Trưởng lão phạm các tội.
Các ngài nghe rồi, xấu hổ, đến chỗ Phật, bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo: “Thật sự các ông có như vậy không?” “Bạch đức Thế Tôn, có.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: “Nếu có Tỳ-kheo phạm tội, trước nên hỏi: Tôi muốn khuyên thầy, thầy có cho phép tôi hay không? Vị ấy nói, cho phép, thì khuyên, không cho phép thì thôi. Nếu không cho phép thì phạm Đột-kiết-la.”
Thời gian sau, nhóm sáu Tỳ-kheo phạm tội bèn hỏi ngược lại Tỳ-kheo Trưởng lão: “Tôi muốn khuyên thầy, thầy có cho phép tôi hay không?” Vị kia khởi ý niệm: “Phật chế không được không cho phép, bèn nói: “Tùy ý thầy cứ nói”. Nhóm sáu Tỳ-kheo lại nói: “Nếu tùy ý tôi nói thì nghe tôi nói: Tội gì, nói khi nào, nói chỗ nào?” Vị kia nghe nói những lời này bèn đi theo sau, không dám rời xa. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật lại hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo: “Sự thật các ông có như vậy không?” “Thật như vậy, bạch Thế Tôn.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: “Nếu thành tựu năm pháp, không nên hỏi, xin phép nói tội. Không xấu hổ, ngu si, ít nghe, tự mình không biết pháp, cẩu thả, trình bày việc ác của người. Nếu có xấu hổ, nghe nhiều, trí tuệ, tự mình biết pháp, thật sự muốn khiến cho người xa lìa tội ác, mới nên vấn thính7 (hỏi xin được nghe) nói tội. Lại có năm pháp không nên hỏi, cho phép nói tội: ‘Làm theo ái, nhuế (giận), bố (sợ), si, không biết đúng lúc hay không đúng lúc.’ Ngược lại trên thì nên hỏi, cho phép nói tội.8 Nếu thành tựu 5 ác pháp mà hỏi, không nên kính cẩn cho phép nói tội. Nếu thành tựu 5 thiện pháp mà hỏi, nên kính cẩn cho phép nói tội.”
Khi ấy các Tỳ-kheo nghị bàn như sau: “Như đức Thế Tôn dạy, nên cho phép hỏi, không nên cho phép hỏi, [131b01] nên kính cẩn cho phép, không nên kính cẩn cho phép, chỉ có La-hán sau đó mới nên hỏi, chúng ta làm sao được phép làm điều này.” Các Tỳ-kheo bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: “Thật sự các thầy có nghị bàn như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, có.” Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay do 10 điều lợi, vì các Tỳ-kheo làm pháp Tự tứ. Nên yêu cầu Tăng Tự tứ nói tội: ‘Xin các Đại đức, nếu thấy tội của tôi, hoặc nghe tội của tôi, hoặc nghi tội của tôi, dũ lòng thương Tự tứ nói, tôi thấy tội sẽ sám hối.’ Nói như vậy ba lần.”
3. Pháp thức tự tứ
1. Bấy giờ các Tỳ-kheo khởi ý niệm: “Đức Thế Tôn dạy chúng ta Tự tứ, nên cùng nhau phụng hành, bèn ngày nào cũng Tự tứ, hoặc hai ngày, ba ngày cho đến năm ngày một lần Tự tứ.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, nên ngày cuối cùng của ba tháng hạ Tự tứ.”9
Các Tỳ-kheo bèn đối trước Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni Tự tứ; hoặc đối trước bạch y, ngoại đạo, cuồng tâm, loạn tâm, bệnh hoại tâm, người bị cử, diệt tẫn, dị kiến để Tự tứ. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên Tự tứ như vậy, nên Tự tứ trong chúng Tỳ-kheo như pháp.”
Có các Tỳ-kheo ngồi trên giường Tự tứ. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy.”
Các Tỳ-kheo Tự tứ ở dưới đất, nhớp y phục, bạch Phật, Phật dạy: “Nên sửa soạn nơi đất cho sạch sẽ, trải cỏ lên trên, Tự tứ.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo nói: “Đến phiên tôi, tôi sẽ xuống đất.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy. Trước hết một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay đến giờ Tự tứ của chư Tăng, Tăng nên hòa hợp để Tự tứ. Đây là lời tác bạch.”
Sau đó, tất cả đều xuống đất quì gối Tự tứ. Các Tỳ-kheo Tự tứ chưa xong, Thượng tọa già bệnh, không thể quỳ lâu, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép Tự tứ rồi trở lại chỗ ngồi.” Các Tỳ-kheo Tự tứ xong bèn đi ra, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên ra trước, phải đợi xong rồi ra một lượt.”
Các Tỳ-kheo nhất thời hướng đến Thượng tọa Tự tứ, không biết ai đã Tự tứ, ai chưa Tự tứ, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên nhất thời Tự tứ.” Các Tỳ-kheo lại mỗi vị đến Thượng tọa Tự tứ. Có những người bạch y muốn cúng dường nghe pháp, lâu không thể đợi, bèn cơ hiềm nói: “Chúng tôi bận nhiều việc, phải phế bỏ đến đây, mà các Tỳ-kheo không có thì giờ thọ thí, vì tôi nói pháp.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên mỗi vị, mỗi vị Tự tứ. Cho phép tám vị Thượng tọa Tự tứ riêng, [131c01] ngoài ra đồng tuổi với đồng tuổi một thời Tự tứ.” Các Tỳ-kheo không biết Tự tứ rồi đến chỗ nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên Bạch nhị yết-ma sai người Tự tứ, hoặc hai hay nhiều vị. Một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo … và Tỳ-kheo… này có thể vì Tăng làm người Tự tứ. Nay Tăng sai Tỳ-kheo…, Tỳ-kheo… làm người Tự tứ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo…, Tỳ-kheo… có thể vì Tăng làm người Tự tứ. Nay Tăng sai Tỳ-kheo…, Tỳ-kheo… làm người Tự tứ. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã sai Tỳ-kheo…, Tỳ-kheo… làm người Tự tứ rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
2. Các Tỳ-kheo sai Tỳ-kheo vô trí làm người Tự tứ, bạch Phật, Phật dạy: “Người bị chi phối bởi năm pháp sau không nên sai: Làm theo ý muốn, thương giận, si sợ, không biết thời, phi thời; ngược lại với trên thì nên sai. Tỳ-kheo sai nên đứng dậy nói với các Tỳ-kheo: Những vị đồng tuổi ngồi lại một chỗ.”
Người Tự tứ không biết mình nên Tự tứ vào lúc nào, bạch Phật, Phật dạy: “Theo thứ tự, đến mình thì nên Tự tứ.” Các Tỳ-kheo Tự tứ theo thể thức như vậy vẫn còn lâu, các bạch y cơ hiềm như trên. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Người được sai nên xướng: Mỗi vị hướng vào nhau Tự tứ.” Các Tỳ-kheo Tự tứ rồi lại Bố-tát, bạch Phật, Phật dạy: “Yết-ma Tự tứ cũng gọi là Bố-tát.”
3. Bấy giờ đức Thế Tôn, ngày Tự tứ, cùng các Tỳ-kheo, kẻ trước người sau vây quanh, ngồi nơi đất trống. Phật bảo các Tỳ-kheo: “Nay đã đến giờ Tăng hòa hợp Tự tứ, nên cùng nhau Tự tứ.” Có một Tỳ-kheo đứng dậy bạch Phật: “Có Tỳ-kheo bệnh không đến được.” Đức Phật dạy:
“Nên sai một Tỳ-kheo dìu tới… cho đến câu: Ra ngoài giới Tự tứ, như trong mục thuyết giới đã nói.”
4. Ngăn tự tứ
Nhóm sáu Tỳ-kheo có tội mà Tự tứ, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, mắc tội Đột-kiết-la.” Họ vẫn cố có tội mà Tự tứ, bạch Phật, Phật dạy: “Nên ngưng Tự tứ.”10 Các Tỳ-kheo khi chưa Yết-ma bèn ngưng, chỗ Tự tứ khác lại có Tự tứ rồi mới ngưng, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, Yết-ma rồi khi chưa Tự tứ nên ngưng.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Có bốn pháp không như pháp ngăn Tự tứ,11 bốn pháp như pháp ngưng Tự tứ. Những gì là bốn pháp không như pháp ngưng Tự tứ? Là ngưng vì vô căn phá giới, vô căn phá kiến, [132a01] vô căn phá oai nghi, vô căn phá chánh mạng. Nếu ngược lại với trên là bốn pháp như pháp ngưng Tự tứ.
Lại có bảy pháp không như pháp ngưng Tự tứ, bảy pháp như pháp ngưng Tự tứ. Những gì là bảy pháp không như pháp ngưng Tự tứ? Là ngưng vì vô căn Ba-la-di, vô căn Tăng-già-bà-thi-sa, vô căn Thâu-lan-giá, vô căn Ba-dật-đề, vô căn Ba-la-đề đề-xá-ni, vô căn Đột-kiết-la, vô căn Ác thuyết. Ngược lại với trên là bảy pháp như pháp ngưng Tự tứ.
Lại có tám pháp không như pháp ngưng Tự tứ, tám pháp như pháp ngưng Tự tứ. Những gì là tám pháp không như pháp ngưng Tự tứ? Là ngưng vô căn phá giới vô tác, vô căn phá kiến vô tác, vô căn phá oai nghi vô tác, vô căn phá chánh mạng vô tác. Ngược lại với trên là tám pháp như pháp ngưng Tự tứ.
Lại có chín pháp không như pháp ngưng Tự tứ, chín pháp như pháp ngưng Tự tứ. Thế nào là chín pháp không như pháp ngưng Tự tứ? Là vô căn phá giới tác bất tác, vô căn phá kiến, vô căn phá oai nghi cũng như vậy. Ngược lại với trên là chín pháp như pháp ngưng Tự tứ.
Lại có mười pháp như pháp ngưng Tự tứ, mười pháp không như pháp ngưng Tự tứ. Những gì là mười pháp như pháp ngưng Tự tứ? Có một Tỳ-kheo dùng tướng này, dùng sự12 này thọ như pháp trị tội Yết-ma. Tỳ-kheo nào thấy vị kia dùng tướng này, dùng việc này, thọ như pháp trị tội Yết-ma, Tỳ-kheo như vậy sau đó đối trước Tăng khác nói vị kia đã thọ như pháp trị tội Yết-ma, ngưng Tự tứ, vị ấy như vậy gọi là như pháp ngưng Tự tứ. Nếu khi ngưng vị kia Tự tứ có nạn sự xảy ra, Tăng đều phân tán đi, sau thấy vậy, lại như trước kia ngưng Tự tứ. Như vậy gọi là như pháp ngưng Tự tứ.
Nếu xả giới, hoặc phạm Ba-la-di, hoặc phạm Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc phạm Thâu-lan-giá, hoặc phạm Ba-dật-đề, hoặc phạm Ba-la-đề đề-xá-ni, hay phạm Đột-kiết-la, hay phạm Ác thuyết. Tỳ-kheo nào dùng tướng này, dùng sự này, đối giữa Tăng nói vị kia phạm, ngưng Tự tứ vị kia, như vậy gọi là như pháp ngưng Tự tứ. Ngược lại với trên thì gọi là không như pháp ngưng Tự tứ.”
Khi ấy, Ưu-ba-ly hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo dùng bao nhiêu pháp ngưng Tự tứ người khác?” Đức Phật dạy: “Dùng năm pháp ngưng Tự tứ người khác: Dùng thật, không dùng hư; dùng thời không dùng phi thời; dùng có lợi ích, không dùng không có lợi ích; dùng từ tâm, không dùng ác ý; dùng lời nhu nhuyến, không dùng lời cứng cỏi.”
Lại hỏi đức Thế Tôn: “Muốn ngưng Tự tứ của người khác, nên dùng bao nhiêu pháp để tự trù lượng?” Đức Phật dạy: [132b01] “Nên dùng năm pháp để tự trù lượng: Nên trù lượng rằng, mình ngưng Tự tứ kia là thật hay là hư. Nếu hư thì không nên ngưng; nếu thật thì nên xét định lại là đúng thời hay phi thời; nếu phi thời thì không nên ngưng; nếu đúng thời thì nên xét định lại là có lợi ích hay vô lợi ích; nếu vô lợi ích thì không nên ngưng; nếu có lợi ích thì nên xét định, lại là nhân việc này khởi lên tranh cãi phá hòa hợp Tăng hay không phá; nếu phá thì không nên ngưng; nếu không phá thì nên xét định lại.
Lại nên trù lượng rằng, ta ngăn Tự tứ kia thì Tỳ-kheo như pháp trì pháp, trì luật, hiểu rõ luật nghi, thông minh biện tài, học giới có trợ giúp ta hay không. Nếu các vị kia chắc chắn trợ giúp cũng nên xét lại. Xét rồi dùng đúng lúc ngăn Tự tứ.”
(Ưu-ba-ly)* lại hỏi đức Thế Tôn: “Muốn ngăn Tự tứ người khác nên chính mình tự quán bao nhiêu pháp?” Đức Phật dạy: “Nên tự quán năm pháp: Tự quán thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, tụng nhiều Tu-đa-la,13 khéo giải A-tỳ-đàm14 hay không? Nếu thân, khẩu, ý hành không thanh tịnh, các Tỳ-kheo sẽ nói: Thân, khẩu, ý của thầy hành không thanh tịnh, làm sao ngưng người khác? Nếu không tụng nhiều Tu-đa-la, các Tỳ-kheo sẽ nói: ‘Thầy nghe từ ai? Trong kinh nào nói như vậy? Chưa có thể làm thầy cho mình, làm sao làm thầy cho người?’ Nếu không khéo giải A-tỳ-đàm, các Tỳ-kheo sẽ nói: ‘Lời thầy nói có nghĩa gì? Tự thầy không biết nghĩa làm sao ngăn người khác?!’”
(Ưu-ba-ly)* lại hỏi Phật: “Có bao nhiêu pháp ngăn người khác Tự tứ, sau không hối hận?” Đức Phật dạy: “Có năm pháp ngăn người khác Tự tứ, sau không hối hận: vì từ mẫn, vì lợi ích, muốn cứu vớt, khiến ra khỏi ác giới, trụ trong giới hoàn toàn.” (Đức Phật)* lại bảo Ưu-ba-ly: “Có năm pháp ngăn người khác Tự tứ, sau sanh hối hận. Các Tỳ-kheo nói: ‘Thầy nói tội của người khác không thật, thầy nên thôi! Thầy nói không đúng lúc, thầy nên thôi! Thầy nói không có lợi ích, thầy nên thôi! Thầy dùng ác ý nói tội của người khác, chẳng phải là từ tâm, thầy nên thôi! Lời thầy nói cứng cỏi, chẳng phải nhu nhuyến, thầy nên thôi!’ Nếu ngược lại với trên, sau không sanh tâm hối hận.”
Tỳ-kheo hai bên ngăn Tự tứ, có năm việc không nên lo: Các Tỳ-kheo nói: “Vị kia không như thật ngăn thầy Tự tứ, thầy không nên lo! Vị kia ngăn thầy Tự tứ không đúng lúc, thầy không nên lo! Vị kia ngăn thầy Tự tứ không lợi ích, thầy không nên lo! Vị kia với ác ý ngăn thầy Tự tứ, thầy không nên lo! Vị kia dùng lời không nhu nhuyến ngăn [132c01] thầy Tự tứ, thầy không nên lo!” Ưu-ba-ly hỏi Phật: “Tỳ-kheo vào trong Tăng nên dùng bao nhiêu pháp?” Đức Phật dạy: “Nên dùng năm pháp: 1- Hạ ý, 2- Từ tâm, 3- Cung kính, 4- Biết ngồi theo thứ tự, 5- Không luận nói việc khác.” Lại có năm pháp: “Không nên lật ngược y, không nên lật ngược y hai vai, không nên chống nạnh, không nên trùm đầu, nên cung kính Tăng.” (Ưu-ba-ly)* lại hỏi Phật: “Tỳ-kheo có bao nhiêu pháp được cùng Tăng hòa hợp Yết-ma?” Đức Phật dạy: “Có năm pháp được cùng Tăng hòa hợp Yết-ma: Nên đồng kiến, nên tùy Tăng, nên tin có việc, nên tự mình đến, hay nói dữ dục. Này Ưu-ba-ly! Nếu có Tăng sự không nên không đến, nếu không đến thì khác với Tăng.15 Có năm món kiến đối với Tăng sự không như pháp: Đáng tâm niệm, mà miệng (lại)* nói, đáng miệng nói, mà (lại)* tâm niệm, phi pháp trợ Tăng, trợ người phi pháp, phạm nói không phạm. Ngược lại với trên là như pháp.”
Có một Tỳ-kheo, ngày Tự tứ, phạm tội Đột-kiết-la, hướng đến Tỳ-kheo khác nói: Một bên nói là Đột-kiết-la, một bên nói là Ác thuyết. Trong hai bên đều có người trì luật, thông minh trí tuệ, có tâm tàm quí, ưa học giới pháp, cùng nhau tranh luận không quyết định được, do đó ngưng Tự tứ. Các Tỳ-kheo không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên sai một Tỳ-kheo dẫn đến chỗ mắt thấy tai không nghe, dạy tác pháp hối quá Ác thuyết, rồi trở lại bạch Tăng: ‘Tỳ-kheo kia đã tác pháp rồi. Tăng nên Tự tứ.’ Các Tỳ-kheo không được hỏi tác pháp gì. Người nào hỏi, phạm Đột-kiết-la.”
Lại có một Tỳ-kheo, ngày Tự tứ, phạm tội Đột-kiết-la, hướng đến các Tỳ-kheo nói: Một bên nói là Ba-la-đề đề-xá-ni, một bên nói là Đột-kiết-la… cho đếnmột bên nói là Ba-la-di, một bên nói là Đột-kiết-la. Trong hai bên đều có người trì luật, thông minh, trí tuệ, có tâm tàm quí, ưa học giới pháp, cùng nhau tranh cãi không quyết đoán được, do vậy, ngưng Tự tứ. Các Tỳ-kheo không biết nên giải quyết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên sai một Tỳ-kheo đưa đến chỗ mắt thấy tai không nghe, dạy tác pháp hối quá Đột-kiết-la, rồi trở lại bạch Tăng: ‘Vị Tỳ-kheo kia đã tác pháp rồi. Tăng nên Tự tứ.’ Các Tỳ-kheo không được hỏi tác pháp gì. Người nào hỏi, phạm Đột-kiết-la, phạm Ba-la-đề đề-xá-ni,… cho đến phạm Thâu-lan-giá, cũng như vậy. Nếu phạm Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc phạm Ba-la-di, nên bạch yết-ma đình chỉ việc này:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay đình chỉ việc này [133a01] sau khi Tự tứ rồi sẽ như pháp quyết đoán. Đây là lời tác bạch. Tác bạch này rồi nên Tự tứ, không nên không Tự tứ.”
Có một Tỳ-kheo, ngày Tự tứ, nói với các Tỳ-kheo rằng: “Có vật không người”, nhân đó cùng luận về cái “không”. Một bên nói là có vật không người, một bên nói có người không vật, cùng nhau tranh luận phân vân. Các Tỳ-kheo không biết nên giải quyết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên tác bạch đình chỉ việc này để Tự tứ. Không nên không Tự tứ. Nếu tác bạch đình chỉ rồi, có người nào phát khởi việc luận bàn này lại, phạm Ba-dật-đề.”
Có Tỳ-kheo bệnh ngăn Tỳ-kheo bệnh Tự tứ. Tỳ-kheo bệnh ngăn Tỳ-kheo không bệnh Tự tứ. Tỳ-kheo không bệnh ngăn Tỳ-kheo bệnh Tự tứ, không thuận tùng nhau. Các Tỳ-kheo không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, người vi phạm đều phạm Đột-kiết-la.” Nếu Tỳ-kheo bệnh ngăn Tỳ-kheo bệnh Tự tứ, các Tỳ-kheo nên nói: “Hiện nay thầy bệnh, làm sao ngăn người khác?” Nếu Tỳ-kheo bệnh ngăn Tỳ-kheo không bệnh Tự tứ, cũng nên nói như vậy. Nếu Tỳ-kheo không bệnh ngăn Tỳ-kheo bệnh Tự tứ, các Tỳ-kheo nên nói: “Thầy nên thôi! Tỳ-kheo này bệnh, có thể đợi lành rồi sẽ ngăn.”
Có các Tỳ-kheo sai sứ ngăn người khác Tự tứ, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên sai sứ ngăn người khác Tự tứ, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Khi ấy, Bạt-nan-đà vẫn sai sứ ngăn người khác Tự tứ, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Người thọ sai mắc Đột-kiết-la, Bạt-nan-đà phạm Ba-dật-đề.” Hoặc Tỳ-kheo ngu si ngăn Tỳ-kheo ngu si Tự tứ, hoặc Tỳ-kheo ngu si ngăn Tỳ-kheo trí tuệ Tự tứ; hoặc Tỳ-kheo trí tuệ ngăn Tỳ-kheo ngu si Tự tứ, không thuận tùng nhau, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm vậy, ai phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Tỳ-kheo nào ngăn Tỳ-kheo khác Tự tứ, chúng Tăng biết rõ người kia thân, khẩu, ý nghiệp không thanh tịnh, ít nghe, ngu si thì không nên nghe theo vị ấy, nên cứ Tự tứ. Nếu Tăng biết người kia thân, khẩu, ý nghiệp vừa có thanh tịnh, vừa không thanh tịnh, và ít nghe, ngu si, cũng như vậy. Nếu Tăng biết người kia thân, khẩu, ý tịnh, đa văn, trí tuệ thì nên nghe lời vị ấy, nhưng phải hỏi: “Thầy thấy vị kia có tội như thế nào, phá giới, phá kiến, phá oai nghi, phá chánh mạng?” Nếu nói phá giới, thì hỏi: “Thầy biết phá giới tướng hay chăng?” Nếu nói: “Không biết!” các Tỳ-kheo [133b01] nên chê trách, khiến cho xấu hổ, nói: “Thầy không biết phá giới tướng mà ở giữa Tăng nói vị kia phá giới.” Nếu Tăng không làm việc quở trách này thì đều phạm Đột-kiết-la. Nếu nói: “Biết.” Các Tỳ-kheo hỏi: “Phá những giới gì?” Nếu nói: “Phạm Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa.” Nếu nói phá kiến, nên hỏi: “Thầy biết phá kiến tướng hay chăng?” Nếu nói không biết!” Các Tỳ-kheo nên quở trách như trên; nếu không quở trách thì phạm Đột-kiết-la. Nếu nói biết thì phải hỏi: “Những gì là phá kiến?” Đáp: “Không đời này, không đời sau, không có quả báo do tội phước, không cha, không mẹ, không A-la-hán.” Nếu nói phá oai nghi, nên hỏi: “Thầy biết phá oai nghi tướng hay không?” Nếu nói không biết! Các Tỳ-kheo nên quở trách như trên, nếu không quở trách, đều phạm Đột-kiết-la. Nếu nói biết, nên hỏi: “Phá những oai nghi nào?” Đáp: “Phạm Ba-dật-đề, Ba-la-đề đề-xá-ni, Đột-kiết-la, Ác thuyết.” Nếu nói phá chánh mạng. Các Tỳ-kheo phải hỏi: “Thầy biết phá chánh mạng tướng hay không?” Nếu nói không biết. Các Tỳ-kheo nên quở trách như trên, nếu không quở trách đều phạm Đột-kiết-la. Nếu nói biết, nên hỏi: “Phá những chánh mạng nào?” Nếu nói: “Tâm siểm khúc, do cầu lợi dưỡng.” Tăng lại nên hỏi lại: “Thầy do thấy, do nghe, do nghi?” Nếu nói do thấy, nên hỏi: “Thấy thế nào? Thấy khi nào? Thấy chỗ nào? Thầy ở chỗ nào? Người kia ở chỗ nào?” Nếu hỏi như vậy mà không trả lời được thì nên như pháp trị rồi Tự tứ, không nên không Tự tứ. Nghe, nghi cũng như vậy.
Có một trú xứ, chúng Tăng an cư ba tháng nơi đó, đều chứng được đạo, khởi ý niệm: “Nếu xong ba tháng, Tự tứ rồi di chuyển đi thì mất sự vui này.” Các Tỳ-kheo không biết nên như thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nay cho phép các Tỳ-kheo, ba tháng, ngày Tự tứ, đều tập hợp lại một chỗ, sai một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức tăng xin lắng nghe! Chúng ta an cư nơi đây được một lòng an lạc, nếu Tự tứ rồi ra đi, thì sẽ mất đi an lạc này. Nay cùng nhau đình chỉ việc này đến tháng 8, đủ 4 tháng sẽ Tự tứ. Đây là lời tác bạch.”
Đã bạch như vậy rồi, nếu có Tỳ-kheo muốn đi xa, cho phép Tự tứ để đi. Nếu có người muốn ngăn họ Tự tứ, Tăng nên vì họ như pháp kiểm tra cho được Tự tứ mà đi. Nếu Tỳ-kheo đi, muốn ngăn sự Tự tứ của Tỳ-kheo sau, các Tỳ-kheo nên nói: “Chúng tôi chưa Tự tứ, làm sao thầy ngăn được.” Nếu vị kia đi rồi, đến khi ngày Tự tứ sau, trở lại ngăn các Tỳ-kheo Tự tứ, [133c01] các Tỳ-kheo nên như pháp kiểm xét rồi nên Tự tứ.
Có các Tỳ-kheo an cư một chỗ, nghe các Tỳ-kheo ở trú xứ nào đó, ưa đấu tranh, sẽ đến luận bàn như vầy: “Họ đến chắc họ ngăn sự Tự tứ của chúng ta.” Các Tỳ-kheo không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy:
“Còn hai, ba ngày nữa Tự tứ, nên Tự tứ để đi. Nếu nghe ngày hôm nay họ đến, nên Tự tứ liền để đi. Nếu nghe họ đã vào trong giới, nên mau mau ra ngoài giới Tự tứ rồi trở về. Nếu không được, nên ra đón rước, lễ bái, hỏi chào, rước y bát, sửa soạn dụng cụ tắm rửa, mời vào phòng tắm để tắm, đưa dầu, mật thoa thân cho họ, rồi ra ngoài giới Tự tứ. Nếu cũng không được, nên sửa soạn thức ăn, tùy theo trong hay ngoài giới, nếu dọn ăn trong giới, khi họ ăn nên ra ngoài giới Tự tứ; nếu dọn ăn ngoài giới, khi ăn nên ở trong giới Tự tứ. Nếu cũng không được, nên cùng tập hợp Tự tứ, sai một cựu Tỳ-kheo bạch với các Tỳ-kheo rằng:
Đại đức tăng xin lắng nghe! Nay cùng Bố-tát thuyết giới, sau 4 tháng, ngày thứ 15 không trăng16 sẽ Tự tứ. Đây là lời tác bạch. Khách Tỳ-kheo nói: Tại sao 4 tháng, ngày thứ 15 không trăng Tự tứ? Cựu Tỳ-kheo nên đáp: Ngài không cùng An cư, không nên hỏi tôi. Nếu khách Tỳ-kheo, ngày thứ 15 không trăng lại đến, cựu Tỳ-kheo nên bạch như trước. Sau, ngày 15 có trăng sẽ Tự tứ…cho đến câu…: Không nên hỏi tôi, cũng như trước. Khách Tỳ-kheo, ngày thứ 15 có trăng lại đến, lại nên làm thức ăn như trước. Nếu được thì tốt, bằng không, nên cưỡng bức cùng hòa hợp Tự tứ, không được không Tự tứ.”17
20 Câu-lâu-xá 句樓賒 (Skt: Krośa, Pāli: Kosa, Câu-lô-xá), là tên thước đo của Ấn Độ vào thời cổ đại. Theo Đại Đường Tây Vức ký 2 thì, cự ly của một Câu-lô-xá bằng năm trăm cung. Theo Tứ phần luật sao bổ tùy cơ yết-ma sớ 1 thì một cung bằng bốn khủy tay, một khủy tay bằng một thước tám tấc. Cho nên một Câu-lô-xá bằng 3.600 thước.
21 Do-tuần 由旬 (Skt & Pāli: yojana), theo hệ thống đo đạt của Ấn độ cổ và trong Phật giáo cũng lấy bốn Câu-lô-xá là một Do-tuần (Phương Quảng Đại Trang Nghiêm 4, phẩm Hiện thế, Ma-đằng-ca kinh, hạ.) Nhưng nói chung trong Phật điển đại đa số dùng tám Câu-lô-xá làm một do-tuần. (xem thêm cht. 104, Phần I, Ch. i, Ba-la-di).
22 Pāli, Vin. i. 107: Phật quy định: trong một trú xứ không được có hai thuyết giới đường (uposathāgāra). Ai làm thế, phạm Đột-kiết-la.
23 Hán: Bất thất y giới 不失衣界. Pāli: Ticīvarena.
24 Tứ phần: Trì luật, trì Ma-di (Ma-di 摩夷; cũng phiên âm là Ma-đắc-lặc-già 摩得勒伽; dịch nghĩa: Luận mẫu 論母, Trí mẫu 智母 hay Bản mẫu 本母. Luận tạng và Luật tạng đều có thêm bộ phận này để tóm tắt tinh nghĩa. Trong Luật tạng, phần này được dịch nghĩa).
25 Tứ phần: Sám hối 懺悔. Sám hối tội lỗi đã gây ra do thân hay miệng (thuộc tướng phạm) và ý (nếu tự phát lồ).
26 Tứ phần: “Bạch như vậy rồi sau đó mới thuyết giới.” Pháp diệt tránh bằng như thảo phú địa.
27 Khâm-bà-la 欽婆羅, Pāli: Kambalacetāpanna, y Khâm-bà-la mua bằng tiền. (xem cht. 15, Phần I, Ch. iv).
28 Tiếp Bố-tát và Thuyết giới (1) ở trước.
29 Hán: Già-già Tỳ-kheo 伽伽比丘, Tăng-kỳ 13, hai Tỳ-kheo đệ tử của Kiếp-tân-na, tên là Nan-đề 難提 và Bát-giá-nan-đề 鉢遮難提; Tứ phần 36, tr. 832b17: Na-na-do 那那由;Thập tụng 22 (T23n1435, tr. 161a29): Thi-việt 施越. Pāli, Vin. i. 123, Gagga.
30 Bịnh phát tác bất thường, nên khi nhớ thì đến, mà khi không nhớ thì không đến.
31 Tứ phần 36, tr. 821c05: “Bấy giờ, đến ngày thuyết giới, Tăng tập hợp vì có Tăng sự. Đức Thế Tôn bảo: “Nay có việc của Tăng, các Tỳ-kheo tĩnh lặng.” Cf. Pāli, Vin. i. 123: (…)santi saṃghassa karanīyaṃ, cho gởi dục và thuyết tịnh, vì có Tăng sự cần phải làm.
32 Thanh tịnh dục 清淨欲. Tứ phần: Dữ dục 與欲. Pāli, Vin. 121, chandaṃ dātum, gởi cho sự thuận tình, tức gởi phiếu thuận (chấp thuận Tăng tác pháp).
33 Dữ thanh tịnh dục 與清淨欲. Pāli (Vin. i. 120): pārisuddhiṃ dātuṃ. Gởi thanh tịnh, trong trường hợp Yết-ma thuyết giới.
34 Tiếp theo Thuyết giới (2) ở trước.
35 Tháng bạch nguyệt 白月 (trăng sáng) có 15 ngày.
36 Tứ phần: Ưng cánh dữ thuyết giới 應更與說戒. Cf. Mahāvagga ii, Vin. i. 130: Tăng vừa thuyết giới xong (chưa giải tán); có Tỳ-kheo chỗ khác đến với số lượng đông hơn; phải thuyết giới trở lại cho các Tỳ-kheo này (tehi bhikkhūhi puna pātimokkhaṃ uddisitabbaṃ). Nếu đã thuyết giới xong, tất cả đã đứng dậy; Tỳ-kheo khách số lượng đông này phải thuyết tịnh; không thuyết giới trở lại (uddiṭṭhaṃ su-uddiṭṭhaṃ, tesaṃ santike pārisuddhi ārocetabbā).
37 Tứ phần: “Không thành Yết-ma thuyết giới mà lại có tội.” Pāli, Vin. i. 133, phạm Đột-kiết-la.
38 Vì tội gần mức phá hoà hiệp Tăng. Hay có ý phá nhưng không thành. Cf. Mahāvagga ii, Vin. i. 133: passitvā – nassante te, vinassante te, ko tehi atthi – bhedapurekkhārā uposathaṃ karonti, āpatti thullaccayassa, “Sau khi tìm thấy, bèn nói: Các ngươi hãy diệt đi! Các ngươi hãy hoại đi! Các ngươi có ích lợi gì? Rồi bố-tát với mục đích phá hoại (hoà hiệp Tăng), phạm Thâu-lan-giá.”
39 Tiếp theo Bố-tát và Thuyết giới (3) trước.
40 Bản Hán, hết quyển 18.
[1] Hán: An cư pháp 安居法; Pāli: Vassupanāyikakkhandhaka.
[2] Tứ phần: “Nhóm sáu Tỳ-kheo六群比丘.”
[3] Tứ phần: “Các cư sĩ tin tưởng cây cỏ có mạng sống” Pāli (Vin. i. 137), ekindriyaṃ jīvaṃ, loài có sự sống với một căn; chỉ một căn duy nhất là mạng căn.
[4] Tứ phần: “Linh cư sĩ cơ hiềm cố đắc tội da 令居士譏嫌故得罪耶.” Cf. Vin.i.137: bahū khuddake pāṇe saṅghātaṃ āpādentā, dẫn đến tình trạng sát hại nhiều côn trùng. Bản Hán hiểu Skt. āpadyant: āpadyati (Pāli, āpajjati) là phạm tội.
5 Tứ phần 37, tr. 830c06: “Từ nay về sau, cho phép các Tỳ-kheo an cư ba tháng mùa hạ.” Cf. Mahāvagga iii, Vin. i. 137: dvemā vassūpanāyikā, purimikā pacchimikā, “Có hai hạn khởi đầu mùa mưa: hạn đầu và hạn sau.” Mùa hạ, theo lịch Ấn Độ, có bốn tháng. Tiền kỳ hạ bắt đầu từ sau ngày trăng tròn tháng Āsāḷhī (tháng 6-7, DL). Hậu kỳ hạ, sau ngày trăng tròn một tháng sau đó.
6 Tứ phần: “Pháp an cư ba tháng sau của mùa hạ cũng như vậy.” (xem thêm cht. 5 trước).
7 Ưu-đà-diên 憂陀延. Tứ phần 37, tr. 835a15: Vương Ưu-đà-diên 王憂陀延. Pāli: Udena, quốc vương Kosambī.
8 Tứ phần: Áp du nhân 壓油人(?) Xem Vin. i. 152: sattha, thương đoàn. Phật cho phép y thương đoàn mà an cư; và di chuyển theo thương đoàn.
9 Tứ phần: “Từ nay về sau, cho phép y nơi người chăn bò để an cư. Trong khi an cư tùy theo sự di chuyển của người chăn bò mà di chuyển theo.”
10 Tiền an cư là an cư phần đầu của mùa hạ. Cụ thể là kết an cư vào ngày mồng 1 trăng tròn tháng 4 A-sa-đà, tức tương đương ngày 16 tháng 4 hay tháng 5 tùy theo cách tính tháng giữa lịch Ấn Độ và lịch Trung quốc (Tứ phần 37, tr. 832a26).
11 Tứ phần 37, tr. 835b: “Tỳ-kheo nào nhận lời mời của người tiền an cư nơi đây, đến ngoài giới bố-tát xong rồi đi đến chỗ khác, Tỳ-kheo này phá an cư, trái với điều tác bạch trước, mắc tội.” Cf. Thập tụng 24 (tr. 177c): “Tại trú xứ thỉnh tiền an cư mà Tỳ-kheo chưa qua bố-tát (ngày 15 bố tát, ngày 16 thọ an cư), chưa nhận phân phòng xá, nếu xuất giới, chỗ đó không thành tiền an cư.” Cf. Pāli (Vin. i. 154): Tỳ-kheo ấy đang đi đến trú xứ (tiền an cư) này, bèn bố-tát ngoài giới (trú xứ tiền an cư), rồi ngày hôm sau đi đến trú xứ khác (cũng để nhận tiền an cư tại đây). Tại trú xứ này, Tỳ-kheo nhận phòng xá, v.v… rồi đi trong ngày, hay ở lại đó vài ngày, hay sau đó đi cho công việc thời hạn bảy ngày xuất giới nhưng đi quá: tất cả đều phá tiền an cư. Nếu đi không quá bảy ngày, không phá tiền an cư.
12 Hán: Minh tướng明相, tướng sáng, dấu hiệu sáng. Pāli: aruṇuggamane, khi mặt trời mọc.
13 Trong khoảng từ ngày 17 tháng 4 hay tháng 5 cho đến hết ngày 16 tháng 5 hay tháng 6 được gọi là thời kỳ của hậu an cư. Nói theo thông lệ ở nước ta, ngày kết tiền an cư là vào ngày 16 tháng 4 âm lịch, và từ ngày 17 đến hết ngày 16 tháng 5 là thời kỳ của hậu an cư. Trong thời kỳ hậu an cư, Luật cũng chia làm hai phần là trung an cư và hậu an cư (Tứ phần 58, tr. 998b11).
[5] Hán: Tự tứ pháp 自恣法; Pāli: Pavāraṇakkhandhaka.
[6] Cf. Trung A-hàm, kinh 77 (Sa-kê-đế).
[7] Thường pháp 常法; Pāli: Dhammatā, qui định chung.
[8] Tăng-kỳ 27, tr. 451a26: Ba Tỳ-kheo A-na-luật, Kim-tì-lô, Bạt-đề lập ước an cư như vậy, bị Phật khiển trách: “Chẳng khác nào kẻ thù sống với nhau.” Trung A-hàm, ibid.: Ba vị này được Phật khen.
5 Hán: Á pháp 啞法.
6 Tứ phần 37, tr. 836a17: Đột-kiết-la. Thập tụng 23, tr. 165b11): Thâu-lan-giá.
7 Tứ phần: “Cầu thính 求聽: “Xin được nghe.” Cầu thính hay vấn thính 問聽, đồng nghĩa với tự tứ. Chỉ có khác, tự tứ thực hiện bởi Tăng.
8 Tứ phần: “Từ nay về sau cho phép người đủ năm pháp sau mới được cầu thính: Biết thời chứ không phi thời; như thật chứ không hư dối; có lợi ích chứ không lợi ích; dịu dàng chứ không thô lỗ; từ tâm chứ không sân hận.”
9 Tứ phần: “Từ nay về sau cho phép an cư rồi tự tứ.”
10 Hán: Trú kỳ tự tứ 住其自恣. Tứ phần 38, tr. 839b23: Già tự tứ 遮自恣.
11 Tứ phần 38, tr. 839b27: Vô căn, bất tác 無根不作. Thập tụng 23, tr. 170c27: bốn tường hợp già tự tứ bất thành (phi pháp): già vì lý do phá giới, phá chánh kiến, phá chánh mạng, phá oai nghi, tất cả đều không căn cứ (vô căn già). Pāli, ibid., amūlikāya sīlavipattiyā, amūlikāya ācāravipattiyā, amūlikāya diṭṭhivipattiyā amūlikāya ājīvavipattiyā pāṭimokkhaṃ ṭhapeti, ngăn thuyết giới bằng sự pháp giới, phá oai nghi, phá kiến, phá chánh mạng. Cf. Pāli, Vin. i. 170: avatthusmiṃ akāraṇe, không có cơ sở (căn), không có lý do (tác).
12 Tướng 相 và Sự 事 là chỉ cho căn 根 (Pāli: vatthu), tức cơ sở nêu tội để ngăn Tự tứ.
13 Tu-đa-la 修多羅. Pāli: Sutta (kinh).
14 A-tỳ-đàm 阿毘曇. Pāli: Abhidhamma (luận).
15 Hán: Dị ư tăng 異於僧, tức không phải là Tăng.
16 Ngày 15 không trăng (Hắc thập ngũ nhật 黑十五日), tức là chỉ cho nửa tháng (15 ngày) trăng từ từ giảm ánh sáng dần cho đến mất ánh sáng chỉ còn màu đen, còn gọi là hắc nguyệt hay hắc phân: Từ ngày 16 đến ngày 29 hay 30 (黑半月, 月虧 [農歷十六日至廿九日或三十日]). Trái lại là bạch nguyệt hay bạch phân: Nửa tháng bắt đầu từ ngày mùng một có ánh sáng dần dần cho đến ngày thứ 15 ánh sáng tròn đầy gọi là bạch nguyệt. Pāli: kaṇhapakkha.
17 Bản Hán, hết quyển 19.



  • Leave a Comment