Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 25. Phần III – Chương 5 – Pháp Y

Ngũ Phần Luật – 25. Phần III – Chương 5 – Pháp Y

CHƯƠNG V : PHÁP Y

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. ĐÀN-VIỆT THÍ Y (1)

1. Kỳ-vực thỉnh nguyện
Đức Phật ở tại thành Vương Xá, bấy giờ, nhũ mẫu của Kỳ-vực[2] tắm rửa cho Kỳ-vực, xem kỹ thấy tướng của Kỳ-vực mà buồn tiếc. Cảm nhận được điềuđó, Kỳ-vực liền hỏi mẹ: “Tại sao mẹ nhìn con với dáng vẻ buồn bã như vậy?” Nhũ mẫu nói: [134a01] “Mẹ hận vì thân con có tướng thù đặc mà tâm ý của con chưa gần được Phật, Pháp, chúng Tăng.” Kỳ-vực nghe rồi, khen: “Lành thay! Lành thay! Mẹ đã có thể dạy con điều đó.” Kỳ-vực liền mặc áo mới, đi đến chỗ đức Phật. Từ xa thấy đức Thế Tôn dung nghi đĩnh đặc, có 32 tướng của đại nhân,[3] vầng ánh sáng tỏa ra một tầm giống như núi vàng, sanh lòng tín kính. Kỳ-vực đến trước Phật, kính lễ sát chân Ngài, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì Kỳ-vực nói các pháp nhiệm mầu, chỉ dạy sự lợi ích để được hoan hỷ, như luận về việc bố thí, trì giới và sanh thiên,[4] tại gia là nhiễm lụy, xuất gia không đắm trước, những pháp trợ đạo như vậy làm sáng tỏ vấn đề. Đức Phật lại nói tiếp những pháp mà chư Phật thường nói là khổ, tập, diệt, đạo. Kỳ-vực từ chỗ ngồi xa trần, lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả rồi quy y Phật, Pháp, Tăng và thọ năm giới. Kỳ-vực khéo phân biệt được ngọn, ngành, tướng của âm thanh, đức Phật dẫn Kỳ-vực đến nơi gò xương cốt, Ngài chỉ đầu lâu của năm người. Kỳ-vực gõ từng cái, bạch Phật: “Cái đầu lâu thứ nhất này sanh vào địa ngục, đầu lâu thứ hai sanh nơi súc sanh, cái thứ ba sanh nơi ngạ quỉ, cái thứ tư sanh vào cõi người, cái thứ năm sanh vào cõi trời.” Đức Phật dạy: “Lành thay! Ông nói đúng cả!” Đức Phật lại chỉ một cáiđầu lâu, Kỳ-vực gõ ba lần, không biết sanh ở đâu, bạch Phật: “Con không biết người này sanh vào cõi nào.” Đức Phật dạy: “Ông không biết là phải. Tại sao vậy? Đây là đầu lâu của vị A-la-hán không còn có chỗ sanh.”
Bây giờ, đức Thế Tôn thân bị bệnh5 nhẹ, bảo A-nan: “Bệnh của ta nên uống thuốc xổ (thổ hạ).”6 A-nan bạch Phật: “Nên nói với Kỳ-vực.” Được A-nan đến thông báo, Kỳ-vực nói: “Tôi không thể dùng thuốc thường để chữa bệnh Phật. Tôi sẽ bào chế thứ thuốc của Chuyển luân thánh vương dùng để dâng lên đức Thế Tôn.” Kỳ-vực dùng thuốc ba loại hoa Ưu-bát-la7 ướp chung, đem đến chỗ đức Phật bạch: “Xin Ngài ngửi hoa này. Ngửi một hoa sẽ có mười lần xổ, ba hoa sẽ có ba mươi lần, bệnh sẽ khỏi hoàn toàn.” Đức Thế Tôn liền ngửi hai hoa, xổ được hai mươi lần, một hoa còn lại được chín lần. Không bao lâu sau, Kỳ-vực lại đến chỗ Phật, bạch: “Ngửi hoa có xổ được không? Xổ nhiều hay ít?” Đức Phật dạy: “Ngửi thuốc tuy xổ được, nhưng còn thiếu một cái.” Kỳ-vực bạch Phật: “Nên uống nước nóng.”8 Đức Phật liền uống, bèn hạ thêm được một cái, bệnh được lành hẳn. Kỳ-vực lại thưa: “Cần phải bổ dưỡng, con sẽ tùy thời cúng dường những thứ cần dùng.” Đức Phật thọ nhận bằng cách im lặng. Kỳ-vực nấu canh bằng gạo Chiên-đàn dâng cúng đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng rồi, Kỳ-vực lại bạch: “Con trị bệnh cho quốc vương, thần dân, nhận được hàng trăm ngàn lượng vàng, bảy món quý báu nhiều vô số, hoặc nhận được tụ lạc, hoặc nhận được một ấp, [134b01] cúi xin đức Thế Tôn cho con một lời nguyện nhỏ. Đức Phật dạy: “Các đức Phật Như Lai đã vượt qua các lời nguyện.”9 Kỳ-vực lại bạch Phật: “Xin Phật cho con được nguyện một lời.” Đức Phật dạy:
“Nếu hợp lý thì không trái với ý của ngươi.”
Khi ấy, Kỳ-vực liền dùng một chiếc y quý giá,10 trị giá bằng một nửa nước, dâng lên đức Phật, bạch: “Đây là chiếc y, trong các chiếc y, nó là tối thắng, xin Ngài dũ lòng thương thọ nhận cho.” Kỳ-vực lại xin Phật cho phép các Tỳ-kheo nhận đàn-việt cúng y. Đức Phật thọ nhận và cho phép các Tỳ-kheo được nhận đàn-việt cúng y. Đức Phật vì Kỳ-vực nói các diệu pháp rồi khiến về chỗ cũ.
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Kỳ-vực trị bệnh Ta lành, lại đem một thượng y dâng cho Ta, xin cho các Tỳ-kheo được phép nhận đàn-việt cúng y. Ta thọ nhận và cũng cho phép các Tỳ-kheo nhận đàn-việt cúng y. Từ nay các Tỳ-kheo muốn mặc y đàn-việt, cho phép nhận, song kẻ thiểu dục, tri túc mặc y phấn tảo11 là điều Tỳ-kheo khen ngợi.”

2. Nhận y đàn-việt cúng
Bấy giờ, các cư sĩ thành Vương Xá nghe Phật cho phép các Tỳ-kheo nhận đàn-việt cúng y, cùng nhau đem ba nghìn xấp kíp-bối12 thuần màu xanh, vàng, đỏ,đem đến dâng cúng cho các Tỳ-kheo. Do các màu sắc nên các Tỳ-kheo sanh nghi, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nhận, nhưng nên giặt cho phai màu sắc rồi nhuộm lại để mặc.”13

II. PHẤN TẢO Y(1)

1. Y gò mả
1. Có các Tỳ-kheo đến nơi gò mả14 quán tử thi, từ chân đến đầu, khởi bất tịnh quán, dựng tử thi dậy, quỷ nhập vào trong tử thi, trương mắt, le lưỡi, đạp các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo hoảng sợ, phi nhơn được cơ hội, đoạt lấy tinh khí, có vị phải chết.
2. Lại có một Tỳ-kheo, đến nơi gò mả, quán từ chân đến đầu, thây của người nữ mới chết, sanh dục tâm, hành bất tịnh, do đó, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên quán từ chân trước.”
3. Lại có Tỳ-kheo quán một bên người chết, dựng tử thi dậy, quỷ lại nhập vào trong tử thi, trương mắt le lưỡi, lấy tay đánh, do vậy, bạch Phật, Phật dạy:“Đừng quán một bên mà nên quán phía trước đầu.”
4. Lại có các Tỳ-kheo vì y nên đào thây người mới chết lên, các cư sĩ thấy chê trách, nói: “Sa-môn Thích tử này, hôi thúi, bất tịnh, tại sao hạng người này lạiđến trong nhà ta?!” Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật, Phật dạy: “Không được đào thây người chết, vi phạm, Phạm Đột-kiết-la.”

III. TẠP SỰ(1)

1. Xương người, quỉ thần
1. Lại có Tỳ-kheo đem xương người chết để trong Tăng phường, có người đem đầu lâu của người chết để chỗ kinh hành, hoặc dưới giường. Các cư sĩ thấy cơhiềm nói: “Các Tỳ-kheo [134c01] bất tịnh, đáng tởm, tại sao đem xương người chết để trong Tăng phường, giống như gò mả, chứa đầu lâu của người chết như chứa bình bát?!” Các Tỳ-kheo đem vấn đề này bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, cũng không nên lấy tay cầm xương người chết, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
2. Có các Tỳ-kheo đau mắt, thầy thuốc bảo: “Lấy xương trán của người mài để nhỏ vào mắt.” Các Tỳ-kheo nói: “Đức Phật không cho phép chúng tôi cầm xương người chết, nên cho phương thuốc khác.” Thầy thuốc nói: “Không có phương thuốc nào khác có thể trị được.” Các Tỳ-kheo khởi ý niệm:“Nếu đức Thế Tôn cho phép khi có bệnh được nắm xương người chết thì bệnh này có thể lành được.” Vì vậy bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép ở chỗ vắng lấy xương, lớn như hai ngón tay, mài để nhỏ con mắt.”
3. Có các Tỳ-kheo ăn mè, mật, cá, thịt, đến nơi gò mả tìm y phấn tảo, quỉ thần không vui. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên ăn các vật này màđến nơi gò mả.”
4. Có các Tỳ-kheo ở trong Tăng và nhà bạch y, ăn mè, mật, cá, thịt, trên lộ trình phải xuyên qua gò mả, sợ đi tránh đường khác, do đó bị lạc đoàn, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu không sợ thì cho phép đi qua một bên.”
5. Có các Tỳ-kheo thường đến nơi gò mả, xin được cá, thịt ăn, không dám trở lại, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu không sợ thì cho phép trở lại.” Có các Tỳ-kheo mồng 8, 14, 15 trong tháng, tới lui nơi gò mả tìm y phấn tảo, các quỉ thần những ngày ấy cũng tập hợp, nói với các Tỳ-kheo: “Nay là ngày chúng tôi tập hợp, lý do gì các thầy lại đến?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Những ngày ấy không nên đến nơi gò mả.” Tỳ-kheo thường ở nơi gò mả và trên lộ trình, ngày ấy15 đều không dám đến nơi gò mả, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu không sợ thì được phép.”
6. Có các Tỳ-kheo đại, tiểu tiện nơi gò mả, các quỉ thần cơ hiềm chê trách nói: “Tại sao lại đại tiểu tiện nơi trú xứ của tôi?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm như vậy.” Có gò mả rộng xa, các Tỳ-kheo đi ngang qua không dám hành sự (đại tiểu tiện)*, do đó bị bệnh, bạch Phật, Phật dạy: “Nên khảy móng tay trước, sau đó mới tiện lợi. Nếu quỉ thần muốn nghe kinh điển nên tụng kinh nói pháp, đó là điều nên làm.”

2. Các loại y quý16
1. Khi ấy, vua Ca-di17 đem y quý Khâm-bà-la tặng cho Kỳ-vực. Kỳ-vực liền đem đến Tăng phường cúng cho Tăng, các Tỳ-kheo không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên thọ dụng để trang nghiêm bảo tháp.”
2. [135a01] Có các Tỳ-kheo nhận được thảm tạp sắc bằng lông dài hay ngắn và không phải lông, không dám thọ, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ nếu tạp sắc thì cho phép giặt cho hoại sắc rồi mới dùng. Nếu không thể làm sắc thuần kia hoại đi thì cho phép trải trong Tăng phường.”
3. Có các Tỳ-kheo nhận được giạ đã thành và chưa thành, không dám thọ để may, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ để may.”

IV. Y PHẤN TẢO (2)18

1. Có các Tỳ-kheo muốn lượm y phấn tảo nơi ngả tư, đường hẻm, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép lượm.” Khi ấy nơi ngã tư, đường hẻm có bạch y, cởi yđể đại, tiểu tiện; các Tỳ-kheo tưởng là y phấn tảo, lấy. Người kia nói: “Đại đức, đừng lấy y của tôi.” Tỳ-kheo nói: “Tôi tưởng là y phấn tảo, cho nên lấy.” Bạch y lại nói: “Thầy không ngó kỹ để lấy, lấy như vậy thành lấy trộm.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nên xem xét kỹ có bụi bặm, có nám nắng, có vẻ lâu cũ, nhận xét kỹ rồi hỏi người, sau đó mới lấy.”
2. Các Tỳ-kheo lượm y phấn tảo, chưa giặt mà đem vào trong phòng, hôi thúi, bất tịnh. Bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên chưa giặt mà đem vào trong phòng.”
Có các Tỳ-kheo lượm y phấn tảo không giặt liền, để sanh trùng.” Bạch Phật, Phật dạy: “Nên giặt sạch liền.”
3. Có các Tỳ-kheo giặt y phấn tảo nơi ao sạch và trong dòng nước sạch. Bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm như vậy.”
Có các Tỳ-kheo lấy chậu sạch giặt y phấn tảo. Bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm vậy.”

V. ĐÀN-VIỆT THÍ Y (3)19

Đức Phật từ thành Vương Xá, cùng đại Tỳ-kheo Tăng 1250 vị, du hành trong nhân gian. Các Tỳ-kheo vác y phấn tảo, trông thấy việc này, đức Phật khởi ý niệm: “Ta nên vì các Tỳ-kheo quy định thọ y đàn-việt dâng cúng bao nhiêu là vừa.”
Bấy giờ, vua Bình-sa nghe đức Phật cùng 1250 Tỳ-kheo du hành trong nhân gian khởi ý niệm: “Nay ta có thể dùng bốn loại binh, thị vệ đức Thế Tôn du hành trong lĩnh vực của nước ta.” Nghĩ rồi liền ra lệnh trang nghiêm bốn loại binh theo hầu sau đức Phật. Tuần tự qua các nơi, đức Phật đi đến sông Hằng. Muốnđến nước Bạt-kỳ phải lội qua sông, Tôn giả Mục-kiền-liên nghĩ: “Nếu dùng thuyền để qua sợ nhà vua chờ lâu, phế bỏ công việc, nay ta nên dùng thần lực khiến cho nước cạn.”
Nghĩ rồi liền khiến cho nước cạn, đức Phật cùng các Tỳ-kheo đồng loạt lội qua. Đức Phật đến bờ bên kia, nói bài kệ:
[135b01] Tinh tấn là thuyền bè
Vượt qua sông rộng sâu
Ai người thấy việc này
Không phát tâm tín kính?
Khi ấy, vua Bình-sa khởi ý niệm: “Đức Phật ra khỏi biên cương của nước ta, ta nên lui về.” Vua liền chắp tay từ xa kính lễ rồi trở lui. Đến nơi tụ lạc Quật-trà, đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Có 4 phép, Ta và các ông, khi chưa đạt được thì ở trong sanh tử luân hồi không bờ bến. Bốn pháp đó là gì? Đó là: Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ và Thánh giải thoát; nay đã đạt rồi, sanh tử đã hết, phạm hạnh đã lập, việc cần đã làm xong. Đức Phật vì các Tỳ-kheo nói kệ:
Giới định tuệ giải thoát
Nay Ta giác ngộ rồi
Đoạn hết các nguồn khổ
Nên vì các ông nói.

1. Kỹ nữ thành Tỳ-xá-ly
Khi ấy, đức Phật hướng dẫn năm trăm Tỳ-kheo du hành nơi nước Bạt-kỳ, muốn đến thành Tỳ-xá-ly. Nơi đó, có dâm nữ tên là A-phạm-hòa-lợi,20 nghe đức Phật Thế Tôn có đại danh đức, hiệu Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác, những lời Ngài dạy đầu, đuôi, chặng giữa đều là thiện, đầy đủ tướng thanh tịnh phạm hạnh, du hành các nước, sắp đến thành này, vui mừng nói: “Lành thay, ta nguyện muốn yết kiến.” Bà liền nghiêm sức xe tứ mã, với năm trăm kỹ nữ tùy tùng, ra nghinh đón đức Thế Tôn. Đức Phật từ xa trông thấy, bảo các Tỳ-kheo: “Các thầy, mỗi người đều nên hệ niệm tại tiền, tự phòng hộ tâm mình, đó là lời dạy của chư Phật.
Thế nào gọi là hệ niệm? Nghĩa là thật hành tứ niệm xứ, quán nội thân, tuần tự quán nơi thân để trừ vô minh, khổ của thế gian. Quán ngoại thân, nội, ngoại thân và thống21 tâm pháp cũng như vậy. Tại tiền là thế nào? Nghĩa là đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, đi tới, đi lui, dòm ngó trước sau, co giãn, cúi ngửa, mặc y, bưng bát, ăn uống, tiện lợi, nói, nín, thường trụ tâm nơi đó. Đó là lời dạy của Ta.” A-phạm-hòa-lợi từ xa trông thấy đức Thế Tôn dung nhan đặc thù, các căn tịch định, có ba mươi hai tướng đại nhân, tỏa sáng quanh một tầm, giống như núi vàng, liền sanh tâm hoan hỷ tín kính, đến trước đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật vì bà nói các pháp nhiệm mầu, chỉ dạy sự lợi ích, bà vui mừng rồi bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn, nguyện xin đức Phật và chư Tăng nghỉ đêm nơi vườn22 của con và ngày mai con xin mời thọ trai.”23 Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng. Sau khi biết đức Phật nhận lời, A-phạm-hòa-lợi liền kính lễ, nhiễu quanh rồi cáo lui.
Khi ấy, năm trăm Ly-xa24 nghe đức Phật cùng Tỳ-kheo Tăng du hành trong nước hướng đến thành này, [135c01] cùng nhau lập quy ước nghinh đón đức Phật, nếu ai không đi đón sẽ bị phạt năm trăm kim tiền. Tuân hành quy ước, mọi người đều đi, hoặc cỡi ngựa xanh, xe xanh thì y phục của tất cả quyến thuộc cũng đều xanh. Vàng, đen, đỏ, trắng cũng như vậy. A-phạm-hòa-lợi giữa đường gặp họ, không chịu tránh đường. Các Ly-xa nói: “Lý do gì không tránhđường khiến cho xe ngựa đụng nhau?” A-phạm-hòa-lợi nói: “Tôi thỉnh Phật và Tăng nghỉ lại nơi vườn của tôi và sáng mai cúng dường nên không có đủ thì giờ để tránh.” Các Ly-xa nói: “Chúng tôi cũng muốn thỉnh Phật, bà để chúng tôi thỉnh trước.” Bà đáp rằng: “Đức Phật đã nhận lời thỉnh của tôi rồi, tôi không thể nhường được.” Các Ly-xa nói: “Tôi biếu bà năm trăm ngàn lượng vàng, bà để tôi thỉnh trước.” Bà ta vẫn trả lời như trước. Các Ly-xa lại nói:“Biếu cho bà tài vật của phân nửa nước có được không?” Bà ta nói: “Giá bằng cả nước cũng không thể được.” Nếu các ông có thể bảo đảm ba việc này cho tôi khỏi mất thì tôi mới hứa khả. Các Ly-xa hỏi: “Ba việc ấy là gì?” “Một là bảo đảm thân mạng tôi không bị chết yểu. Hai là bảo đảm của cải tôi không bị tổn thất. Ba là bảo đảm Phật thường ở đây chứ không đi chỗ khác.” Các Ly-xa nói: “Tài sản tổn thất chúng tôi có thể cho được, nếu đức Phật đi chỗ khác chúng tôi có thể mời ở lại, nhưng sự nguy khốn của mạng sống của bà ai dám bảo đảm?” Ly-xa nói xong, nổi giận bỏ đi.
Đức Phật từ xa thấy các Ly-xa đến, bảo các Tỳ-kheo muốn biết chư Thiên ở Đao-lợi25 xuất nhập như thế nào thì hình ảnh các Ly-xa đây không khác. Các Ly-xa thấy Phật dung nhan thù đặc… giống như núi vàng, liền xuống xe đi bộ, tiến đến trước Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên.
Khi ấy trong chúng kia có một ma-nạp tên Tân-kỳ-da,26 từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên hữu, quỳ gối, chắp tay, bạch Phật: “Con muốn dùng bài kệ khen ngợi Thế Tôn. Đức Phật dạy: “Tùy ý ngươi.” Ma-nạp liền nói:
Bình-sa được thiện lợi
Ương-già27 cầm giáp ngọc28
Phật xưa sanh nơi đây
Tiếng vang như sấm sét
Cũng như hoa mới nở
Ngạt ngào, ngát mùi thơm
Xem Phật thân sáng rực
Như mặt trời rực rỡ
Như trăng tròn vằng vặc
Trên vòm trời không mây
Thế Tôn thân chói sáng
Sáng tỏa không gì hơn
Phật tuệ soi cùng khắp
Tiêu diệt lòng tối tăm
Cho thế gian con mắt
Quyết đoán các nghi hoặc.
Các Ly-xa nghe kệ hoan hỷ, liền tặng năm trăm chiếc áo, ma-nạp nói: [136a01] “Tôi không cần áo, nguyện được thỉnh Phật trước.” Đức Phật dạy Ly-xa:“Có thể cho phép thỉnh trước.” Ma-nạp liền thỉnh Phật và Tăng. Y vẫn được tặng. Ma-nạp nhận được y liền dâng cúng Phật. Đức Phật thọ nhận, bảo các Ly-xa: “Ở đời có 5 điều quý báu rất khó được gặp: 1- Chư Phật Thế Tôn. 2- Những lời do đức Phật dạy. 3- Hiểu rõ lời Phật dạy. 4- Làm theo điều đã nghe. 5- Người không quên ân nhỏ.” Các Ly-xa nghe pháp hoan hỷ, cùng nhau nghị bàn: “Đức Phật không ở đây lâu, mỗi người cúng riêng rẽ không thể nào giáp khắp được. Nay ta nên tập trung tất cả phẩm vật rồi tùy theo đó mà cúng dường hằng ngày. Chẳng phải chủng tộc, ta không cho phép dự vào.”
A-phạm-hòa-lợi suốt đêm làm các thức ăn ngon bổ rồi, sáng ngày đem đến nơi vườn, trải tọa cụ xong, thỉnh Phật và Tăng thọ trai. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:“Các thầy hệ niệm, cùng thọ bữa trai này.” Tất cả đều an tọa nơi tòa. Nại nữ29 tự tay pha chế thức ăn một cách hoan hỷ, không lẫn lộn. Thọ trai xong, lấy nước rửa rồi, Nại nữ đứng lui qua một bên, bạch Phật: “Các vườn nơi Tỳ-xá-ly, vườn này là đệ nhất, con sửa soạn ngôi vườn này là muốn để làm việc phước, nay xin dâng cúng Thế Tôn, xin Thế Tôn nạp thọ.” Đức Phật dạy: “Nên cúng cho Tăng để được quả báo lớn.” Nại nữ lại một lần nữa xin cúng cho Phật. Đức Phật dạy: “Nên cúng cho Tăng, trong Tăng có Ta.” Nại nữ vâng lời Phật dạy liền dâng cúng cho Tăng, rồi lấy cái ghế nhỏ, ngồi trước đức Phật, đức Phật vì Nại nữ nói bài kệ tùy hỷ, như bài kệ mà đức Phật đã nói với Tỳ-lan-nhã… Đức Phật lại nói các pháp vi diệu, chỉ bày sự lợi ích, bà hoan hỷ, từ chỗ ngồi được mắt pháp trong sạch. Kế đó, thọ ba quy và năm giới, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy kính lễ đức Phật, rồi cáo lui.

2. Ba y
Sau đó, các Ly-xa cúng dường theo kế hoạch đã nghĩ bàn. Đức Phật từ Tỳ-xá-ly tuần tự du hành đến tháp Bát-giá-la.30 Khi ấy vào mùa Đông, Phật mặc một chiếc áo, ngủ nơi đất trống. Phần đầu của đêm vừa qua, cảm thấy lạnh, lại mặc thêm một chiếc áo. Quá giữa đêm, cảm thấy lạnh lại mặc thêm một chiếc áo nữa. Không thấy khốn khổ do lạnh, Phật nghĩ: “Vị lai các Tỳ-kheo nếu không phải hứng chịu sự lạnh lẽo thì nên chứa đủ ba y để chế ngự. Nay ta có thể vì các Tỳ-kheo quy định chứa ba y.”31
Do việc này, sáng ngày đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Trước đây, khi du hành nơi thành Vương Xá, thấy các Tỳ-kheo phải mang nặng vì y, bấy giờ muốn quy định mức lượng y đàn-việt cúng. Đêm vừa qua, thời tiết rất lạnh, trước hết Ta mặc một y, giữa đêm cảm thấy lạnh, lại mặc thêm một y nữa, cuối đêm còn cảm thấy lạnh, lại mặc thêm một y nữa. Ta thấy an ổn vì có đủ sự ấm áp, liền khởi ý nghĩ: ‘Vị lai các Tỳ-kheo, nếu không chịu lạnh được thì nên mặc đủ ba y để chế ngự nó.’ Nay Ta có thể vì các Tỳ-kheo quyđịnh cho chứa cất ba y.
Nay vì mười điều lợi [136b01] nên vì các Tỳ-kheo qui định chứa ba y, không cho phép chứa dư. Nếu y bị hư hoại cho phép tu bổ, dùng kim chỉ vá lại, bị lủng lỗ cũng cho phép vá lại cho thẳng.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo chứa y Câu-tu-la,32 các c sĩ thấy, cơ hiềm, nói: “Tỳ-kheo mặc Câu-tu-la, đâu có khác gì chúng ta mặc y Quán đầu?”33 Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép mặc y Câu-tu-la, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có một Tỳ-kheo, y An-đà-hội bị hư hoại, quyền biến hiệp lại may thành Câu-tu-la để mặc, sau đó sanh nghi hối, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tạm thời may để mặc.” Có các Tỳ-kheo cất chứa y Quán đầu và có y Tụ,34 Câu-nhiếp35 khoác lên trên. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép chứa y Quán đầu và Tụ y, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Nếu nhận được cho phép thọ, hư hoại thì làm y khác.”
Có một ngoại đạo dùng chỉ tạp sắc may vá trên y, làm như tranh thêu, sau đó, xuất gia trong Phật pháp cũng mặc y ấy, các cư sĩ thấy cơ hiềm chê trách nói:“Sa-môn Thích tử mặc y ngoại đạo, không thể phân biệt được.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép mặc y ngoại đạo, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.” Nếu không biết đó là y ngoại đạo, mà cũng chẳng phải là được Phật cho phép, đều nên phá hoại. Nếu biết là y của ngoại đạo thì nên quăng xuống lót đất, khiến cho người đạp lên trên cho mau hư hoại.
Có các Tỳ-kheo ngồi thiền dưới gốc cây, bị chim làm ồn và làm nhớp thân thể, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép đuổi chim đi, hay làm nhà ngồi thiền.”

3. Nhận và chia Y phấn tảo (1)
Có các Tỳ-kheo muốn đến gò mả để lấy y của người chết, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép lấy.” Họ bèn lấy, sau đó có Tỳ-kheo cũng đến lấy y, thấy Tỳ-kheo đến lấy trước nói: “Chia cho tôi với.” Tỳ-kheo kia không chia, bạch Phật, Phật dạy: “Nên cùng chia.”
Có các Tỳ-kheo có mặt trước nơi gò mả, nhận được y, chia cho Tỳ-kheo đến sau, khi chia lại có Tỳ-kheo đến đòi chia cho mình, các Tỳ-kheo không chia, bạch Phật, Phật dạy: “Nên cùng chia.” Chia phần rồi, mỗi người đều muốn ra về, lại có Tỳ-kheo đến đòi chia, các Tỳ-kheo không chia, bạch Phật, Phật dạy: “Cũng nên chia cho nhau.” Chia rồi, mỗi người đều sắp ra khỏi gò mả, lại có Tỳ-kheo đến đòi chia phần, các Tỳ-kheo không chia, bạch Phật, Phật dạy: “Nên chia cho nhau.” Chia rồi mỗi vị đều ra khỏi gò mả, lại có Tỳ-kheo đến đòi chia phần, [136c01] các Tỳ-kheo không chia, bạch Phật, Phật dạy:“Không nên chia.”
Có một Tỳ-kheo mặc y, bưng bát vào thôn khất thực, khởi ý niệm: “Giờ này vào thôn khất thực, còn sớm”, bèn vào gò mả, lấy được nhiều y. Lấy được rồi lại khởi ý nghĩ: “Nếu đem vào thôn thì nặng và xấu hổ”, muốn đem về, nhưng khi ấy lại sợ quá giờ, bèn đem thu giấu, rồi đi khất thực. Lại có một Tỳ-kheo, sau khi ăn xong về trước, đến nơi gò mả để tìm y, phát hiện những vải của Tỳ-kheo trước, bèn đem về. Tỳ-kheo trước, sau đó đến lấy y, không biết hiện ở chỗ nào? Quay về Tăng phường thấy một Tỳ-kheo đang giặt chúng, nói: “Thầy đừng giặt y của tôi.” Tỳ-kheo kia nói: “Không phải của thầy.” Tỳ-kheo trước trình bày đầy đủ sự việc. Tỳ-kheo kia nói: “Vật nơi gò mả, không có chủ lấy gì làm chứng?” Bạch Phật, Phật dạy: “Nên thuộc về Tỳ-kheo trước. Từ nay nếu nhận được y nơi gò mả nên làm dấu.” Các Tỳ-kheo lấy xương của người chết làm dấu, các Tỳ-kheo đến sau tưởng là chim tha rớt lên trên y, nên lấy y đi. Bạch Phật, Phật dạy: “Không nên lấy xương người chết làm dấu.” Lại có Tỳ-kheo dùng nước màu đỏ làm dấu, các Tỳ-kheo tưởng là máu nhớp, bèn lấy y đi. Bạch Phật, Phật dạy: “Không nên dùng nước màu đỏ làm dấu, nên dùng màu xanh, màu đen, màu lam, hoặc lấy miếng y ca-sa dán lên trên.”
Có các Tỳ-kheo cùng nhau phân công, phân nửa vào thôn khất thực, phân nửa đến gò mả tìm y, khi trở về cùng chia nhau. Giao ước như vậy rồi đi. Ngườiđến bãi tha ma tìm được nhiều y, hối hận rằng: “Ta được y thuộc về của ta, quý vị kia nhận được thức ăn thuộc về của quý vị, không thể chia cho nhau.”Tỳ-kheo khất thực, khi trở về, đem thức ăn chia, Tỳ-kheo tìm được y không nhận, nói như trên. Tỳ-kheo khất thực nói: “Trước cùng nhau giao ước rõ ràng, tại sao lại thay đổi?” Họ bạch Phật, Phật dạy: “Nên cùng chia cho nhau.” Tỳ-kheo lấy y, khi được y rồi giao ước, nếu có thể mang y này về chỗ ở, sẽ chia ra hai phần. Khi mang về đến nơi, lại đổi ý kiến không cho, bạch Phật, Phật dạy: “Nên chia cho nhau. Giặt y cũng như vậy.”
Có một Tỳ-kheo đến nơi gò mả, thấy một người mới chết, muốn lấy chiếc y của họ, dựng đứng xác chết lên, quỷ nhập vào người chết, nói thành tiếng: “Đạiđức đừng lấy y của tôi.” Tỳ-kheo nói: “Ngươi đã chết, chẳng phải là y của ngươi.” Nói xong, cưỡng đoạt y. Người chết kêu lớn, theo đến Tăng phường, các Thiện quỉ thần không cho vào, bèn đứng ngoài cửa. Thấy Tỳ-kheo ra vào, nói: [137a01] “Có một Tỳ-kheo đoạt y của tôi đi vào đây, nhờ nói vị ấy hoàn lại cho tôi.” Các Tỳ-kheo vào hỏi: “Có một người đứng ngoài cửa nói rằng: ‘Có Tỳ-kheo đoạt y của họ đi vào đây, ai là người đoạt y ấy?’” Tỳ-kheo lấy y nói: “Y này là của người đã chết, chứ không phải của người sống.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, Phật dạy: “Nếu thân người mới chết chưa có hư hoại, dựng đứng thây chết dậy, quỷ còn nhập vào, không nên lấy y ấy, cần phải trả lại. Nếu lấy y của người mới chết, thân chưa hư hoại, phạm Đột-kiết-la.” Tỳ-kheo kia liền đem y trả lại. Thây chết nhận được y liền ngã xuống đất. Tỳ-kheo kia bạch Phật, Phật dạy: “Có thể mang đến nơi gò mả.” Tỳ-kheo kia liền đem y đi, thây chết kia đứng dậy đi theo sau. Khi đến gò mả, đem y trải xuống đất, thây chết lại ngã xuống.
Có một Tỳ-kheo đến nơi gò mả thấy một người mặc chiếc y Khâm-bà-la mới, nằm dưới bóng cây, tưởng là người chết, khởi ý niệm: “Đức Phật không cho phép ta lấy y người chết thân chưa hư hoại, bèn muốn đánh bể đầu người kia.” Người kia hoảng hồn đứng dậy nói: “Đại đức, tôi có phạm điều gì mà đánh bể đầu tôi?!” Tỳ-kheo nói: “Tôi tưởng ông là người chết.” Người kia nói: “Thầy há đâu không thấy tôi còn thở sao? Tại sao vì chiếc y mà muốn đoạn mạng sống của tôi?!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên tự mình đánh hoặc sai người đánh xác người chết để khiến cho hư hoại. Nếu vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo nhận được y Kiếp-bối,36 không cắt cái đầu tua râu mà mặc, các cư sĩ thấy cơ hiềm, nói: “Sa-môn Thích tử cũng mặc loại y này, cùng chúng ta đâu có khác gì?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên mặc, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”

4. Y cát tiệt
Bấy giờ đức Thế Tôn cùng đầy đủ 1250 đại Tỳ-kheo du hành nhân gian, ở nơi phương Nam. Từ trên núi nhìn xuống thấy các thửa ruộng nước, xung quanhđắp bờ rất khéo, đức Phật nghĩ: “Các Tỳ-kheo của Ta nên may y như vậy.” Ngài liền hỏi tôn giả A-nan: “Thầy có thấy các thửa ruộng này hay không?”“Bạch Thế Tôn, có thấy.” Phật bảo tôn giả A-nan: “Các Tỳ-kheo nên mặc y như vậy, thầy có thể thực hiện được hay không?” “Bạch Thế Tôn, con có thể làm theo.” Vâng lời dạy, A-nan tự may, cũng dạy cho các Tỳ-kheo may, hoặc một đoạn dài, một đoạn ngắn; hoặc hai đoạn dài, một đoạn ngắn; hoặc bađoạn dài một đoạn ngắn; lá điều37 bên tả thì gấp xếp về phía bên tả; lá điều bên hữu thì gấp xếp về phía bên hữu; lá điều chính giữa thì phủ đều qua hai bên.38May xong, mặc thật thích nghi. Đức Phật thấy rồi, bảo các Tỳ-kheo: “A-nan có đại trí tuệ, nghe Ta lược nói mà may đúng như pháp. Đây gọi là y cắt rọc,39[137b01] không giống bất cứ y nào, so với y các ngoại đạo thì khác hẳn. Oan gia, đạo tặc lại không lấy để làm gì. Từ nay cho phép các Tỳ-kheo cắt rọc may thành ba y, nếu bị rách nên vá lại.”
Đức Phật ở thành Tỳ-xá-ly, có một trú xứ, đất thấp rất ẩm ướt, nhiều loại mòng muỗi, các Tỳ-kheo không thể ở được. Các vị về các thành Xá-vệ, Chiêm-bà, Ca-duy-la-vệ, Vương Xá để an cư. Trú xứ ấy bị bỏ trống. Cư sĩ nói: “Đại đức có thể ở đây an cư, chúng con sẽ cung cấp thức ăn uống.” Các Tỳ-kheo nói: “Nơi đây có nhiều mòng muỗi, không thể ở được.” Các cư sĩ lại thưa: “Miễn Đại đức ở lại, chúng con sẽ đưa màn đến.” Các Tỳ-kheo không biết có được phép nhận hay không, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nhận.” Các Tỳ-kheo không biết may lớn nhỏ thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên tùy theo giường lớn nhỏ mà may.”
Các Tỳ-kheo thường mặc một y vào trong xóm làng rồi về lại Tăng phường, không thay đổi y, y bị mồ hôi làm nhớp nhúa bất tịnh. Các cư sĩ thấy cơ hiềm nói:“Sa-môn Thích tử bất tịnh gớm ghiếc, thường mặc một y ra vào trong xóm làng.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Ở trong Tăng phường nên mặc y lót,40 không nên mặc y nhớp vào trong xóm làng.”

VI. TẠP SỰ (2)41

1. Làm phòng, chỗ kinh hành, y…
Các Tỳ-kheo không có phòng xá để ở, muốn làm phòng mới, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép ở trong Tăng phường, vì Tăng mà làm.” Các Tỳ-kheo khác không yểm trợ, bạch Phật, Phật dạy: “Nên yểm trợ.” Các Tỳ-kheo bèn yểm trợ lâu dài, trở ngại việc tọa thiền hành đạo, bạch Phật, đức Phật dạy:“Không nên yểm trợ lâu dài, nếu đương sự không đủ sức thì mới yểm trợ.” Các Tỳ-kheo khi làm việc bị hư hoại nhơ nhớp y, thường thường phải giặt và vá nên trở ngại việc ngồi thiền hành đạo, bạch Phật, Phật dạy: “Tăng nên may cái y để mặc khi làm việc.” Các Tỳ-kheo xấu hổ không dám mặc chiếc y lót mình, bạch Phật, Phật dạy: “Vì Tăng, khi làm việc, cho phép tùy ý mặc.” Các Tỳ-kheo mặc Tăng y, hơi nhớp một chút, bèn đem giặt, do đó mau rách, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên giặt thường xuyên, làm xong việc, sau đó mới giặt.”
Các Tỳ-kheo muốn làm chỗ kinh hành mới, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép làm.” Các Tỳ-kheo lại làm cong, bạch Phật, Phật dạy: “Nên làm thẳng.”Các Tỳ-kheo muốn làm đường kinh hành cao, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép làm cao.” Hai bên đường đi kinh hành thường bị hư, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng đất thổ trắng, cũng cho phép dùng y, hay cỏ Bà-bà42 đắp lên trên.”
[137c01] Khi đại hội, người nhiều phòng ít, các Tỳ-kheo không có chỗ ở, bạch Phật, Phật dạy: “Trong phòng có nhiều chỗ để ngồi, cho phép trải vải ngồi,để trống chính giữa.” Các Tỳ-kheo ở cùng một phòng lại cùng nhau làm ồn, họ bạch Phật, Phật dạy: “Nên dùng vải ngăn lại, cũng cho phép làm cái lỗ hổng.”
Các Tỳ-kheo ngồi dựa nơi vách, các cư sĩ thấy cơ hiềm nói: “Sa-môn Thích tử này già rồi mới xuất gia nên không có oai nghi, tại sao lại dựa nơi vách mà ngồi?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên ngồi dựa nơi vách.” Có các Tỳ-kheo già bệnh không thể tự mình nắm lấy cỏ kết chỗ ngồi để dựa, làm nhơ nhớp trong phòng, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên buộc cỏ để dựa, cho phép làm cái dây ngồi thiền,43 kín đáo nơi ghế.” Các Tỳ-kheo làm cái dây ngồi thiền rộng. Bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm quá tám ngón tay.”44 Các Tỳ-kheo lại làm cái dây ngồi thiền hẹp, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên hẹp hơn năm ngón tay”. Các Tỳ-kheo lại làm cái dây ngồi thiền bằng tạp sắc, bạch Phật, Phật dạy: “Nên làm một màu, nếu các loại tạp sắc thì nên giặt nhuộm cho hoại sắc, rồi sau mới cho phép dùng.”
Khi ấy Trưởng lão Kha-hưu nhận được một chiếc y, muốn làm An-đà-hội thì dài quá, muốn làm Tăng-già-lê, Ưu-đa-la-tăng (Uất-đa-la-tăng) thì lại thiếu, nên luôn luôn phải kéo nó ra. Đức Phật đi đến các phòng, thấy hỏi: “Thầy làm cái gì vậy?” Đương sự trình bày đầy đủ sự việc, Phật dạy: “Nếu không đủ thì nên làm 3 dài, 1 ngắn; nếu lại không đủ thì làm 2 dài, 1 ngắn; nếu cũng không đủ thì làm 1 dài, 1 ngắn. Nếu lại cũng không đủ nữa thì cho phép may ép làm thành lá.” Trưởng lão Kha-hưu lại nhận được một tấm vải, thiếu không đủ cắt rọc may ba y, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép cắt rọc may Tăng-già-lê, Ưu-đa-la-tăng và Man-an-đà-hội (An-đà-hội).”
Khi có đại chúng hội hợp, các bạch y đem y cúng dường, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nhận.” Các bạch y muốn được chú nguyện bạch Phật, Phật dạy:“Nên vì họ chú nguyện.” Các Tỳ-kheo không biết chú nguyện bạch Phật, Phật dạy: “Nên khiến vị Duy-na chú nguyện.” Các Tỳ-kheo không biết đemđể chỗ nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên như trước, Bạch nhị yết-ma, để ngay chính giữa phòng”. Họ không biết giao ai thủ hộ, bạch Phật, Phật dạy: “Nên như trước, Bạch nhị yết-ma, sai một Tỳ-kheo thủ hộ.” Các Tỳ-kheo bèn Yết-ma, sai Tỳ-kheo vô tri, không phân biệt được y tốt xấu, bạch Phật, Phật dạy:“Người có 5 pháp sau đây không nên sai thủ y: ái, nhuế, bố, si, không biết tốt xấu.” Các Tỳ-kheo chia y nơi chỗ ồn ào, y bị mất, Tỳ-kheo thủ y [138a01]bị mang tiếng xấu, bạch Phật, Phật dạy: “Nên chia y nơi chỗ vắng.” Khi chia y có khách Tỳ-kheo đến, cựu Tỳ-kheo hỏi: “Hôm đó thầy ở đâu?” “Tôi ở chỗ đó…” Các Tỳ-kheo nói: “Chúng tôi nhận được y ngày ấy…” Tỳ-kheo này ở trong giới, vấn đề chia y này không thành. bạch Phật, Phật dạy: “Ngày nhận được y, có Tỳ-kheo tưởng có Tỳ-kheo, chia y không thành, phạm Đột-kiết-la. Có Tỳ-kheo, nghi cũng như vậy. Không Tỳ-kheo, tưởng có Tỳ-kheo, thành chia y, mắc tội Đột-kiết-la. Không Tỳ-kheo, nghi cũng như vậy. Không Tỳ-kheo, tưởng không Tỳ-kheo, thành chia y, không phạm.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo không có đồ lót thân, nằm trên ngọa cụ của Tăng, ô uế bất tịnh. Lại có một Tỳ-kheo không có đồ lót thân, nằm trên ngọa cụ của Tăng, chân đạp, ngọa cụ bị hỏng, bạch Phật, Phật dạy: “Vì hộ thân, hộ y, hộ ngọa cụ của Tăng cho phép sắm đơn phu,45 trải trên ngọa cụ của Tăng.”
Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo, do Phật không cho phép dùng đồ lót thân, nằm trên ngọa cụ của Tăng, dùng vật rộng vài tấc làm phu cụ trải trên ngọa cụ của Tăng, bạch Phật, Phật dạy: “Bề dài, bề rộng nên như ngọa cụ.” Các Tỳ-kheo không hệ niệm, ngủ bị xuất bất tịnh, nhớp đơn phu, bạch Phật, Phật dạy:“Nên dùng tọa cụ trải trên đơn phu.”
Có các Tỳ-kheo bị con mọt cắn, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép làm riêng một cái, rộng dài hơn cái đơn phu, trải xuống dưới, thòng xuống xung quanh cái giường, mỗi bên một thước.”
Bấy giờ Ưu-ba-ly hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, nên thọ trì bao nhiêu loại y? Đức Phật dạy: “Nên thọ trì ba y (Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội)*. (Ngoài ra)* y lót thân, y đắp, y tắm mưa, y che ghẻ, y ngăn mòng muỗi, y trải chỗ đi kinh hành, y ngăn con mọt, y đơn phu, y tọa cụ, y bảo vệ đầu gối, y bảo vệ gót chân, y bảo vệ đầu, các loại khăn lau thân, lau tay, lau mặt, đãy đựng kim chỉ, đựng bát, đựng giày dép, lọc nước, nếu tương tự như y đều nên thọ trì.”
Có một Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, Ngài thường khen ngợi kẻ thiểu dục tri túc, con rất vui mừng, con nguyện xin được sống lõa hình.” Đức Phật dạy: “Ngươi là người ngu si, muốn làm theo nghi pháp của ngoại đạo, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.”
Có các Tỳ-kheo bạch Phật: Hoặc có người muốn làm y bằng tóc,46 y bằng da nai, y bằng da dê, y bằng lông chim, y bằng lông ngựa, y bằng đuôi trâu, y bằng cỏ, bằng vỏ cây,47 bằng lá. Đức Phật dạy: “Ông là kẻ ngu si, muốn làm các pháp nghi của ngoại đạo. Tất cả pháp nghi của ngoại đạo đều không làm, nếu làm thì phạm Thâu-lan-giá.”
[138b01] Có một Tỳ-kheo bạch Phật: “Chúng con xin được phép bên trong mặc y Quán đầu, phủ lên trên bằng y Bạt-na.48 Đức Phật dạy: “Ông là kẻ ngu si, muốn làm theo pháp nghi của bạch y, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo muốn mặc y Quán đầu bên trong, y Kiếp-bối bên ngoài, hoặc muốn may y Tô-ma(?), y kiếp-bối có vằn, hoặc muốn mang nhẫn nơi ngón tay, kẻ lông mày, mang giày dép tạp sắc, bạch Phật, Phật dạy: “Ông là kẻ ngu si, đó là nghi pháp của bạch y, tất cả nghi pháp của bạch y đều không nên làm, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có một Tỳ-kheo bạch Phật: “Cho phép chúng con mặc y thuần màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Đức Phật dạy: “Y màu thuần đen là y của đàn bà mặc khi sanh đẻ, vi phạm, phạm Ba-dật-đề; còn bốn sắc kia thì phạm Đột-kiết-la.”
Khi ấy các Tỳ-kheo đầu bị lạnh, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng y trùm lên, cũng cho phép làm cái mão đội cho ấm.” Có các Tỳ-kheo không mặc Tăng-kỳ-chi,49 vào trong xóm làng, hông và ngực bị bày ra, các người nữ thấy bỡn cợt, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vào xóm làng phải mặc Tăng-kỳ-chi, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo mặc Tăng-kỳ-chi, bị gió thổi, bay xuống đất, bạch Phật, Phật dạy: “Nên dùng dây cột lại.”
Có các Tỳ-kheo đứng trên chỗ cao cột dây, các người nữ ở chỗ thấp thấy hình thể cười cợt, các Tỳ-kheo xấu hổ, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép khi cột, lấy y từ phía sau choàng đến phía trước.”
Khi ấy, Bạt-nan-đà biết trú xứ chưa chia phẩm vật cúng an cư, liền đến nói: “Tại sao không chia gấp đi, nếu không chia, hoặc bị trùng cắn, hoặc bị nạn nước, lửa v.v…, nếu chia có thể được tự dụng, hoặc cho đệ tử hay làm các việc phước.” Các Tỳ-kheo liền chia, Bạt-nan-đà nói: “Các thầy không rành cái nào quý, cái nào tiện.” Các Tỳ-kheo nói: “Nếu thầy khá rành, hãy vì chúng tôi chia giùm và thầy tự lấy phần mình.” Được cơ hội, Bạt-nan-đà liền chia, rồi lấy phần của mình mang đi ngay. Lại đến trú xứ khác cũng làm như vậy chứ không phải một chỗ. Được một gánh y nặng, Bạt-nan-đà về lại trú xứ. Các Tỳ-kheo trông thấy khen: “Thầy là người đại phước đức nên mới được số y như vậy.” Bạt-nan-đà nói: “Đâu phải do có phước mà được, do đến các trú xứ an cư dùng xảo ngôn mà được.” Các Tỳ-kheo bằng mọi cách chê trách: “Tại sao an cư một chỗ mà lại nhận phẩm vật nhiều chỗ?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: [138c01] “Thật sự ông có như vậy không?” “Kính bạch Thế Tôn, sự thật con có như vậy.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách: “Ta thường nói thiểu dục, tri túc, tại sao ông lại thọ nhận nhiều mà không nhàm chán?!” Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: “Không nên an cư một chỗ mà nhận phẩm vật an cư nhiều chỗ, nếu vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo chỉ mặc y thượng và hạ vào trong xóm làng, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có Tỳ-kheo mặc y lộn ngược vào xóm làng, các Tỳ-kheo thấy nói: “Mặc y lộn ngược cùng với mặc y không cắt rọc có gì khác đâu?” Bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo khi chưa vào thôn, và khi ra khỏi thôn, bị cỏ cây móc y rách, bụi đất vào trong lá y, muốn lộn ngược y lại mà không dám, bạch Phật, Phật dạy:
“Vì bảo vệ y, nên khi chưa vào thôn và lúc ra khỏi thôn, cho phép lộn ngược y lại.”
Có các Tỳ-kheo nhuộm Man y50 làm cho có điều, lại có may cái lá dính vào y, hoặc may áp lá y, hoặc làm lá y phân nửa hướng lên trên, phân nửa hướng xuống dưới. Bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo mặc y tạp sắc, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo, khi mưa, mặc y lộn ngược, nước vào trong lá y, hư mục, bạch Phật, Phật dạy: “Khi mưa không nên mặc y lộn ngược, nếu lúc không mưa thì tùy ý mặc.”
Bây giờ, các Tỳ-kheo có y, bát các vật, muốn dùng để cúng cho Tăng, bạch Phật, Phật dạy: “Có 9 cách nhận được của thí đều cho phép cúng cho Tăng: 1- Giới được thí. 2- Phải được thí. 3- Bậc hạng được thí. 4- Tăng được thí. 5- Hiện tiền được thí. 6- Tăng an cư được thí. 7- Hai bộ Tăng được thí. 8- Chỉ vẽđược thí. 9- Người được thí.
1. Giới được thí: Thí chủ nói: ‘Cúng cho Tăng trong cương giới này’. Như vậy gọi là Giới được thí.
2. Phải được thí: Khi an cư, Tăng ở khác cương giới cùng quy định, một trú xứ nhận được của thí đều chia cho nhau. Như vậy gọi là Phải được được thí.
3. Bậc hạng được thí: Thí chủ nói: ‘Dâng cúng cho vị Tăng như vậy, như vậy…’ Như vậy gọi là Bậc hạng được thí.
4. Tăng được thí: Thí chủ cúng cho Tăng, Tăng nên biết vật thí như vậy tùy nghi phân chia. Như vậy gọi là Tăng được thí.
5. Hiện tiền Tăng được thí: Thí chủ đối diện [139a01] cúng cho Tăng. Như vậy gọi là Hiện tiền Tăng được thí.
6. An cư Tăng được thí: Thí chủ nói: ‘Cúng cho Tăng an cư nơi đây.’ Như vậy gọi là Tăng an cư được thí.
7. Hai bộ Tăng được thí: Thí chủ cúng cho hai bộ Tăng, nếu Tỳ-kheo nhiều, Tỳ-kheo-ni ít, hay Tỳ-kheo-ni nhiều, Tỳ-kheo ít đều nên chia đôi; nếu có Tỳ-kheo mà không có Tỳ-kheo-ni thì Tỳ-kheo nên chia hết; nếu có Tỳ-kheo-ni mà không có Tỳ-kheo thì Tỳ-kheo-ni nên chia hết. Như vậy gọi là Hai bộ Tăng được thí.
8. Chỉ vẽ được thí: Thí chủ yêu cầu Tăng sử dụng như vậy, như vậy…, thì cùng chia. Như vậy gọi là Chỉ vẽ được thí.
9. Người được thí: Thí chủ nói: ‘Con cúng cho thầy…’, như vậy gọi là Người được thí.”
Lại có 5 cách được thí: “Cúng cho Phật và Tăng, cúng cho Phật và Tỳ-kheo-ni Tăng. Cúng cho Phật và hai bộ Tăng, vì người cúng cho Tăng, với thời gian dài.”

2. Di vật của Tỳ-kheo
Có một Sa-di qua đời, các Tỳ-kheo không biết xử sự thế nào các vật của vị ấy, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu khi còn sống đã cho ai thì nên cho họ, nếu khi còn sống không cho ai thì nên chia cho hiện tiền Tăng.”
Có một Tỳ-kheo ít người quen biết qua đời, có y thượng, hạ và phi y, các Tỳ-kheo không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu khi sanh tiền không hứa cho ai thì hiện tiền Tăng nên chia; nếu lúc sanh tiền đã hứa cho vị nào mà chưa đưa, Tăng nên Bạch nhị yết-ma đưa cho họ. Một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên… qua đời ở nơi đây, lúc sanh tiền có sở hữu hoặc y, hoặc phi y, hiện tiền Tăng nên chia, trước đã cho Tỳ-kheo… Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên… qua đời ở nơi đây, sanh tiền có sở hữu hoặc y hoặc phi y, hiện tiền Tăng nên chia, nay cho Tỳ-kheo… Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý cho Tỳ-kheo… y rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Có một Tỳ-kheo có nhiều người quen biết, được quốc vương, đại thần và nhiều người cúng dường, rồi vị ấy qua đời, rất nhiều của cải, các Tỳ-kheo không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu lúc sanh tiền đã hứa cho ai thì nên Bạch nhị yết-ma để cho; nếu sanh tiền không hứa cho ai, thì có thứ nên chia, có thứ không nên chia. Như y Bà-na, y Tô-ma, y Kiếp-bối, lông Câu-nhiếp dài 5 ngón tay, hoặc Tăng-già-lê, Ưu-đa-la-tăng, An-đà-hội, hoặc Hạ y, hoặc Xá-lặc,51hoặc Đơn phu, hoặc y lót thân, hoặc mền, hoặc tọa cụ, hoặc đãy đựng kim chỉ, [139b01] đãy lọc nước,52 đãy đựng bát, đãy đựng giày dép, hoặc bát lớn, bát nhỏ, móc cửa, những vật như vậy thì có thể chia, hiện tại Tăng đều nên chia. Nếu là gấm, lụa là, lông bàng, giạ, lông Câu-nhiếp quá 5 ngón tay, hoặc áo tắm mưa, áo che ghẻ, mùng màn, vải trải kinh hành, hoặc đơn phu ngăn con mọt, tọa cụ, giường nằm, giường ngồi. Trừ loại bát bằng sành lớn hay nhỏ, đồ tưới nước, ngoài ra tất cả đồ bằng sành, trừ bát bằng sắt lớn hay nhỏ, móc cửa, dao, kim, vật cắt móng tay, ngoài ra tất cả đồ bằng sắt, trừ tất cả các loại làm bằngđồng, như đồng Đa-la vật dùng để bào chế thuốc trị mắt,53 ngoài ra tất cả loại làm bằng đồng như tán cái, tích trượng, tất cả những vật như vậy đều không nên chia, mà thuộc về đồ dùng của Tăng.”
Có các Tỳ-kheo nhận được phẩm vật cúng an cư mà chưa chia, hoặc có người qua đời, có người hoàn tục, có người làm ngoại đạo, có người đi xa, có người làm Sa-di, có người thọ đại giới lại, có người biến thành 2 căn, có người căn bị tiêu diệt, các Tỳ-kheo không biết nên giải quyết như thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “An cư nhận được phẩm vật cúng mà chưa chia, nếu qua đời, lúc sanh tiền vị ấy đã hứa cho ai, thì nên Bạch nhị yết-ma để cho; nếu sanh tiền vị ấy không hứa cho ai, hiện tiền Tăng nên chia. Người hoàn tục, làm ngoại đạo, đi xa, biến thành hai căn, căn tiêu diệt cũng như vậy. Làm Sa-di thì nên chia theo phần Sa-di, thọ đại giới lại thì nên chia theo phần của đại Tỳ-kheo. Có các Tỳ-kheo khi an cư chưa nhận được phẩm vật cúng an cư, hoặc qua đời, cho đến căn biến, sau đó nhận được vật cúng, cũng như vậy. Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.”
Bấy giờ Điều-đạt54 nhận được phẩm vật cúng an cư chưa chia, Tăng bị phá, các Tỳ-kheo không biết giải quyết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu Tăng chưa phá mà nhận được phẩm vật thì nên chia đều; nếu Tăng phá rồi, sau đó mới nhận được vật thì nên tùy theo chỗ dâng cúng mà chia.”
Có các Tỳ-kheo đồng cương giới Tăng bị phá, sau đó, muốn làm các Yết-ma, cho người thọ giới Cụ túc, không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy:
“Nếu Tăng đã bị phá, tuy đồng cương giới, cho phép tác Yết-ma, hành Tăng sự, không phạm biệt chúng.”
Có một trú xứ, chỉ một Tỳ-kheo ở, chẳng phải thời gian an cư nhận được y dâng cúng cho Tăng, vị ấy khởi ý niệm: Phật dạy bốn người trở lên gọi là Tăng, nay ta chỉ có một người không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên thọ trì, hoặc tịnh thí, hay cho người, nếu không vậy, Tỳ-kheo khác đến nên cùng chia.
Nếu có trú xứ Tỳ-kheo, chẳng phải thời gian an cư nhận được vật cúng cho Tăng, nếu không có Tỳ-kheo, [139c01] Tỳ-kheo-ni nên chia.
Nếu có trú xứ Tỳ-kheo-ni, chẳng phải thời gian an cư nhận được y cúng cho Tỳ-kheo-ni Tăng, nếu không có Tỳ-kheo-ni, Tỳ-kheo nên chia.
Nếu có trú xứ Tỳ-kheo, chẳng phải thời gian an cư, Tỳ-kheo qua đời, không có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nên chia.
Nếu có trú xứ Tỳ-kheo-ni, chẳng phải thời gian an cư, Tỳ-kheo-ni qua đời, không có Tỳ-kheo-ni, Tỳ-kheo nên chia. Thời gian an cư nhận được vật cúng, đều cũng như vậy.”
Có một đệ tử của ngoại đạo, xuất gia trong pháp luật của Phật. Các thân tộc người ấy đều nói: “Tại sao bỏ đạo A-la-hán của ta, lại xuất gia trong Sa-môn Thích tử, nên bắt trở lại”. Họ lại nói: “Nếu đương sự nghe, hoặc có thể trốn thoát, Sa-môn Thích tử không phá an cư. Khi ấy đến bắt, chắc được không có nghi ngờ gì”. Tỳ-kheo kia nghe không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép phá an cư đi.” Tỳ-kheo kia bèn từ một trú xứ đến một trú xứ, không biết nên nhận phần phẩm vật an cư nơi trú xứ nào, bạch Phật, Phật dạy:
“Nếu ở trú xứ nào nhiều ngày hơn thì nhận phẩm vật an cư nơi trú xứ đó.”
Có hai Tỳ-kheo cùng đi trên một lộ trình, một Tỳ-kheo bệnh, một Tỳ-kheo nuôi bệnh. Tỳ-kheo kia qua đời, Tỳ-kheo nuôi bệnh đem y bát đến chỗ đức Thế Tôn, bạch Phật việc ấy. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nuôi bệnh rất khó khổ, nay cho phép đem ba y và bát Bạch nhị yết-ma cho người nuôi bệnh. Một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo… qua đời, ba y và bát hiện tiền Tăng nên chia, nay đem cho người nuôi bệnh. Nếu thời gian thích hợpđối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên… qua đời, ba y và bát hiện tiền Tăng nên chia, nay đem cho người nuôi bệnh. Các Trưởng lão nàođồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã cho Tỳ-kheo… y bát rồi; Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Có một Tỳ-kheo biếng nhác không tiếp tay công việc của chúng, cũng không hầu hạ Hòa thượng, A-xà-lê, khi mắc bệnh không có ai chăm sóc, đại tiểu tiện nhớp cả thân, bất tịnh hôi thúi. Đức Phật đi xem các phòng thấy, tự tay Ngài tắm rửa, giặt giũ y của bệnh nhân, trừ khử bất tịnh, đỡ nằm trên giường và ngồi một bên an ủi: “Thầy đừng lo sợ, thầy sẽ được lành, không sao đâu.” [140a01] Tỳ-kheo kia nghe rồi hoan hỷ. Đức Phật lại nói các diệu pháp, Tỳ-kheo bệnh viễn trần ly cấu, ở trong các pháp đặng con mắt pháp trong sạch. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi A-nan: “Tỳ-kheo… bệnh, tại sao không có người chăm nom?” A-nan trình bày đúng sự thật, đức Phật bảo A-nan: “Các ông làm điều phi pháp! Tỳ-kheo không có cha mẹ, chính mình không tự chăm sóc cho nhau thì ai chăm sóc? Này các ông! Nay cho phép các Tỳ-kheo phải cử người nuôi bệnh.” Các Tỳ-kheo không biết cử ai nuôi bệnh, bạch Phật, Phật dạy: “Đệ tử phải chăm sóc Hòa thượng bệnh, Hòa thượng phải chăm sóc đệ tử bệnh. A-xà-lê, đồng Hòa thượng, A-xà-lê cũng như vậy.”
Có Tỳ-kheo khách đến bệnh, không có Hòa thượng, A-xà-lê, cũng không có đồng sư, không có ai chăm sóc, các Tỳ-kheo không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Trước hết nên khuyên một người nuôi bệnh, nếu không có người này, nên mỗi ngày theo thứ tự sai một người, nếu người nào không thuận chịu thì như pháp trị.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo tranh nhau chăm sóc, gây não loạn cho người bệnh, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, nên hai, ba người đến để lo liệu các việc mà người bệnh cần. Khi ấy, người nuôi bệnh tìm xin thuốc khó khăn, mà người bệnh không chịu uống, trở ngại cho việc hành đạo, bạch Phật, Phật dạy:“Người bệnh có năm việc khó chăm sóc:55 không thể tự tiết lượng thức ăn. không chịu uống thuốc mà theo chứng bệnh cần, không chịu nói bệnh tình cho người nuôi bệnh, không theo lời khuyên của người nuôi bệnh, không thể thường quán vô thường. Có năm việc (người nuôi)* không thể chăm sóc bệnh: Không biết thứ thuốc nào người bệnh cần uống, không thể cho ăn thức ăn của chứng bệnh, không thể vì người bệnh nói pháp, chỉ vẽ sự lợi ích để họ vui mừng, gớm ghét những phân tiểu, đàm dãi của người bệnh, vì lợi nên chăm sóc chứ không vì lòng từ.”
Có các người nuôi bệnh, hoặc vì người bệnh, hoặc vì riêng tư, bỏ đi, sau đó người bệnh qua đời, người khác nhận được y bát của người đó, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên cho người như vậy, mà nên cho người nuôi bệnh có thỉ chung.”
Có một Tỳ-kheo bệnh, người nuôi bệnh nhiều, các Tỳ-kheo không biết bao nhiêu người nên được y, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu Tỳ-kheo qua đời, y nên cho 2 người: Tỳ-kheo và Sa-di, tuy cha mẹ, anh em cũng không được cho. Nếu Tỳ-kheo-ni qua đời nên cho y ba người: Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na và Sa-di-ni.”
Có các Tỳ-kheo chia phần nuôi bệnh cho Sa-di bằng một phần ba, bạch Phật, Phật dạy: “Nên chia đồng nhau.” Có Tỳ-kheo qua đời, trước đem y tịnh thí cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không chịu trả lại, bạch Phật, [140b01] Phật dạy:
“Nếu vị kia vốn không phải là thân lý, thì với thiện ý, đều nên trả lại.”

3. Nhận và chia y đàn-việt thí (1)
Bấy giờ, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên tự tứ xong, du hành các nơi. Đồng an cư và trú xứ gần, số đông các Tỳ-kheo tùy tùng, các bạch y thấy, mọi người đều nghĩ: “Nên vì Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cúng y an cư cho Tăng.” Nghĩ xong, họ liền dâng cúng. Nhận được một số lượng lớn, các Tỳ-kheo nơi chỗ nhậnđược vật cúng, nói với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên: “Cùng chia số y này.” “Chúng tôi không đồng An cư , chỉ có thể nhận thức ăn, chứ không chia phần y này.” Bạch Phật, Phật dạy: “Nên cùng chia hết.”
Bây giờ Sư-đạt-đa, Bạt-đà-la tự tứ xong, cũng cùng số đông Tỳ-kheo du hành các nơi. Các bạch y thấy nói:
“Nếu Tỳ-kheo nào an cư nơi trú xứ ta, thì chúng ta dâng y này”, cũng với số lượng nhiều, các Tỳ-kheo khách kia đòi chia phần, và họ trả lời: “Đây là của cúng cho Tỳ-kheo an cư trong cương giới của chúng tôi; không được phép chia cho các thầy.” Họ bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên chia chung.”
Bấy giờ, có khách buôn mang Khâm-bà-la từ nước Ba-lợi56 đến Câu-xá-la,57 nghe đức Phật ra đời, có đại oai thần, các đệ tử cũng như vậy, bèn dùng một số lớn y Khâm-bà-la cúng cho Tăng, các Tỳ-kheo nói: “Đức Phật chưa cho phép chúng tôi thọ y Khâm-bà-la”, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ.”Khách buôn lại cúng riêng cho Thượng tọa, cũng không dám thọ, nói:
“Đức Phật chưa cho phép chúng tôi nhận riêng y Khâm-bà-la”, bạch Phật, Phật dạy:
“Cũng cho phép nhận riêng.”
Khi ấy, Tỳ-xá-khư mẫu nói: “Nếu ở nơi phòng do con làm thì nên sử dụng 3 y của con và y mặc lót, y đắp, y tắm mưa, y che ghẻ,58 y đơn phu, y ngăn con mọt, mùng màn, không được sử dụng y của người khác.” Các Tỳ-kheo tưởng đây là thuộc 4 phương Tăng không dám mặc y lót, bạch Phật, Phật dạy:“Nếu thí chủ hiện tại, cho phép mặc y lót thân.”
Có các Tỳ-kheo-ni đem y bát và các vật khác cúng cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không dám thọ. Các Tỳ-kheo-ni nói: “Chúng con lại phải cầu phướcđiền nơi nào?!” Họ bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tùy ý nhận.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo nhận được y Kiếp-bối kinh,59 Khâm-bà-la vĩ,60 không dám nhận, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nhận.”
Khi ấy, thành Xá-vệ, người sửa chữa Khâm-bà-la thấy các Tỳ-kheo mặc y Khâm-bà-la, [140c01] nói: “Đại đức mặc loại y đó nên giặt nghè (chà đạp), khiến cho lông nó hiện ra mới thật là tốt đẹp.” Các Tỳ-kheo không dám, bạch Phật, Phật dạy:” Cho phép giặt nghè (hoặc chà đạp), nếu không biết thì cho phép nhờ người làm.” Có các Tỳ-kheo giặt nghè (chà đạp) Khâm-bà-la nơi chỗ đất trống, các bạch y thấy cơ hiềm nói: “Tỳ-kheo này giống như thợ giặt nghè Khâm-bà-la.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nên giặt nghè (chà đạp) nơi chỗ vắng.” Họ muốn cắt cái đầu Khâm-bà-la, không biết dùng cái gìđể cắt, bạch Phật, Phật dạy: “Nên sắm dao để xén.”
Các Tỳ-kheo mặc y dệt chỉ màu sắc loang lổ, các bạch y thấy, cơ hiềm nói: “Sa-môn Thích tử cùng với người đời đâu có khác.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên mặc y dệt chỉ màu sắc loang lổ, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có một người nữ sanh hài nhi, bị chết yểu, sau đó sanh một đứa trai, đem đến chỗ các Tỳ-kheo, xin y ca-sa cho nó mặc, các Tỳ-kheo không dám cho, bạch Phật, Phật dạy: “Nên cho.”
Có một Tỳ-kheo ít người quen biết không có y, các người nữ xin, không lấy gì cho. Thầy nói: “Tôi tự xuất của, cho tôi nhuộm y.”61 Các Tỳ-kheo không dám vì thầy nhuộm, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép vì thầy mà nhuộm.”
Khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta, cha mẹ nghèo khổ, muốn đem y cung dưỡng mà không dám, bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Nếu có người trong một trăm năm, vai bên hữu cõng cha, vai bên tả cõng mẹ, cha mẹ đại tiểu tiện luôn trên đó, và dùng y thực rất trân kỳ ở trênđời phụng dưỡng, cũng chưa thể tạ ơn trong muôn một. Từ nay cho phép các Tỳ-kheo suốt đời hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, nếu không phụng sự mắc tội rất nặng.”62

4. Thái tử Lưu ly
Bấy giờ nước Xá-di63 còn tuân theo cựu điển, không cho tất cả người khác họ làm việc hôn nhân. [141a01] Vua Ba-tư-nặc ham mê phái nữ của dòng họ ấy, ỷ mình quân sự mạnh, sai sứ khuyến cáo: “Nếu không cho ta cưới, sẽ tiêu diệt nước của ngươi.” Những người dòng họ Thích cùng nhau nghị bàn: “Nên tương kế tựu kế thế nào để tránh khỏi điều bạo ngược mà lại không trái với cựu điển của nước ta.”
Mọi người đều nhất trí, chọn một đứa tớ gái đẹp, có dáng dấp thùy mị, trang điểm với đồ trang sức đẹp nhất đời, gọi là dòng họ Thích, để đáp ứng cho vua Ba-tư-nặc. Nghị bàn xong, liền thông báo cho vua Ba-tư-nặc sắm đủ lễ cưới rước về.
Sau sanh được một đứa con trai, nhan mạo đẹp tuyệt. Nhà vua ra lệnh có các thầy tướng dựa theo tướng mà đặt tên. Các thầy tướng nói: “Nhà vua vốn dùng oai mà cưới được mẹ đứa nhỏ này, y theo nghĩa đó nên đặt tên đứa nhỏ là Lưu Ly.”64 Đến năm 8 tuổi, nhà vua muốn mời thầy dạy Lưu Ly học, vua nghĩ: “Trong các nghề, nghề bắn cung là hơn hết. Trong Diêm-phù-đề chỉ có dòng họ Thích, khi Phật còn là Bồ-tát bắn xa một do-tuần với một Câu-lâu-xá.65 Thích Ma-nam bắn xa một do-tuần, tay bắn thấp nhất bắn xa không dưới một Câu-lâu-xá. Ta nên cho nó về bên ngoại để học.” Vua liền ra lệnh cho con em của đại thần, theo hầu Thái tử, đến Thích Ma-nam để thọ giáo nghề bắn.
Bấy giờ các người dòng họ Thích mới xây một tòa nhà lớn, cùng nhau giao ước, trước hết phải cúng dường Phật và các đệ tử của Ngài, sau chúng ta mới ở. Thái tử Lưu Ly cùng với quyến thuộc vội vào trong tòa nhà ấy vui chơi. Những người dòng họ Thích thấy, nổi giận mắng: “Con của đứa tớ hạ tiện, ta không coi ngươi là nơi phước điền tốt, tại sao đức Thế Tôn chưa vào ngồi mà ngươi dám vào trước?”
Thái tử Lưu Ly liền phẫn hận, ra lệnh dặn dò một người tùy tùng: “Ngươi nhớ kỹ điều này, khi ta làm vua, tâu lại với ta.”
Thái tử nói rồi bỏ ra đi. Sau đó những người dòng họ Thích đào bỏ nền tòa nhà lớn đó, làm lại chỗ đất mới. Công việc hoàn tất, họ mới thỉnh Phật và Tăng vào trong để cúng dường và nghe diệu pháp.
Thái tử Lưu Ly học xong nghề bắn, trở về thành Xá-vệ. Ở tuổi thiếu niên, Lưu Ly nối ngôi vương vị và những người cùng học trước kia đều giao cho chức quan trọng. Vị Đại thần trước kia nhận lệnh phải ghi nhớ, tâu với vua rằng: “Nhà vua có nhớ khi ấy các người dòng họ Thích mắng hay không?”
Nhà vua nói: “Ta nhớ.”
Đại thần lại tâu: “Nay không trả thù, còn đợi lúc nào nữa?”
Nghe lời ấy, nhà vua liền ra lệnh trang bị bốn loại binh để đến chinh phạt dòng họ Thích.
Khi hay tin này, đức Thế Tôn vội đến bên lộ, ngồi dưới cây Xá-di, một loại cây không có bóng mát. Nhà vua từ xa thấy đức Phật, xuống xe đi bộ đến, đầu mặt kính lễ sát chân Phật và bạch: “Kính bạch đức Thế Tôn, cây tốt rất nhiều, vì lý do gì Ngài lại ngồi dưới cây không có bóng mát?”
Đức Thế Tôn trả lời:
“Thân tộc là bóng mát vui thích nhất.”
Nhà vua biết ý Phật đã dũ lòng thương đến những người dòng họ Thích, liền lui binh trở về.
Lần thứ hai, vị Đại thần kia cũng lại tâu với nhà vua như trước, nhà vua lại ra lệnh chuẩn bị binh chủng để đến chinh phạt dòng họ Thích. Đức Phật [141b01]biết rõ túc nghiệp những người dòng họ Thích không thể tránh khỏi cái dòng đời phải đối đầu này, nên Ngài không xuất hiện nữa. Những người dòng họ Thích nghe vua Lưu Ly đến chinh phạt nước mình, cũng trang bị bốn loại binh ra chống trả. Cách một do-tuần, dùng tên bắn vào địch quân, tên xuyên qua sát lỗ tai, tên làm đứt tóc, tên gọt sạch tóc râu, khiến cho râu, lông mày không còn sót một sợi nào và các chiến cụ của đối phương nhất loạt bị phá hoại mà không thương tổn đến da thịt. Vua Lưu Ly hỏi các quan tả hữu: “Người dòng họ Thích ở cách đây xa gần?”
Các quan tâu: “Cách đây một do-tuần.”
Nhà vua rất sợ hãi nói: “Trận chiến chưa xáp chiến mà đã như thế này, huống là khi chạm trán nhau, quân ta thua là điều chắc chắn, nên rút quân về là điều hay nhất.”
Khi ấy, một đại thần tâu: “Dòng họ Thích đều giữ năm giới, thà chết chứ không hại ai, vua nên tiến quân đến, đừng lo chuyện bại trận.”
Nhà vua nghe theo, ra lệnh tiến quân. Dòng họ Thích rút về trong thành, đóng cửa tự thủ. Vua Lưu Ly sai sứ rao: “Mở cửa thành liền, sẽ có sự tha thứ, nếuđể ta phá thành thì không một người nào thoát chết.”
Khi ấy, tôn giả Mục-kiền-liên nghe vua Lưu Ly muốn công phá Xá-di, bạch Phật: “Xin Phật cho phép con hóa làm một cái lồng bằng sắt để trùm lấy cả đại thành.”
Đức Phật bảo Mục-kiền-liên: “Tuy ông có thần lực, làm sao có thể cải được nhân duyên định báo này.” Do ý nghĩa này, đức Phật nói bài kệ:
Luận nghiệp có trắng đen
Không có chuyện hư dối
Tuy lâu cũng sẽ đến
Trở lại mình phải chịu
Vào trong không, biển cả
Hay vào trong núi đá
Không thể đến chỗ nào
Mà tránh khỏi quả kia
Báo ứng sẽ đưa đến
U thâm không gần xa
Tự nhiên hướng đến nó
Không nhất định nơi nào.
Bấy giờ những người họ Thích thấy quân của đối phương đông đúc, có người nói: “Mở cửa thành để được toàn thân;” có người nói: “Dù chết cũng cố thủ,…” phân vân không nhất trí, nên phải bỏ phiếu, phía ít phục tùng phía đông. Khi ấy, ma Ba-tuần yểm trợ cho phe mở cửa thành, nên 7 lần bỏ phiếu, phe mở cửa thành đều nhiều phiếu hơn, nên cửa thành được mở. Vua Lưu Ly chiếm được thành rồi, ra lệnh cho ba quân: “Tất cả dòng họ Thích đều giết hết, nếu chẳng phải người dòng họ Thích thì cẩn thận đừng làm hại.” Ba ức người dòng họ Thích nghe, đều cầm cỏ lau chạy ra, nói: “Tôi là người cắt cỏ cho dòng họ Thích, quân giữ cửa thành tin theo lời, để cho chạy.” Thích Ma-nam tức tốc đến chỗ vua Lưu Ly. Vì là vai ông phía ngoại66 nên vua Lưu Ly thưa hỏi:“Ông67 muốn cầu điều gì?”
Thích Ma-nam nói: “Xin đừng giết các người thân tộc của tôi nữa.”
Nhà vua nói: “Điều đó không thể được; có thể nguyện cầu điều khác.”
Thích Ma-nam lại nói: “Xin cho tôi khi lặn xuống nước [141c01] cho đến khi ngóc lên, trong thời gian ấy, cho phép những người dòng họ Thích được chạy ra, đừng giết họ.”
Vua Lưu Ly nghĩ: “Thời gian một hơi thở ở dưới đáy nước ngắn ngủi, chuyện gì không chấp thuận.” Vua bèn hứa khả. Thích Ma-nam bèn xổ đầu tóc lặn xuống, lấy tóc cột vào gốc cây dưới nước, nên không trồi lên. Thấy đã khá lâu, vua lấy làm lạ, sai người lặn xuống nước xem, thì ra, Thích Ma-nam đã chết vì lấy tóc cột vào dưới gốc cây. Sứ giả tâu với vua, vua khen ngợi: “Hay thay, vì thân quyến mà không tiếc thân mạng!” Vua liền ra lệnh cho ba quân: “Nếu người nào còn giết dòng họ Thích sẽ bị quân pháp nghiêm trị.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo nghe vua Lưu Ly tàn sát người nước Xá-di, bạch Phật, Phật bảo các Tỳ-kheo: “Vua Lưu Ly ngu si, sau đây 7 ngày sẽ thọ tội; hại ông thầy đã dạy mình, cả quyến thuộc nhà vua kẻ lớn người nhỏ cũng đều chung một số phận.” Vua Lưu Ly nghe Phật nói như thế, tâm niệm: “Lời nói của Phật không bao giờ sai.” Vua thầm nghĩ: “Trong các nỗi khổ còn khả dĩ, chỉ sợ bị lửa đốt”, liền cùng quyến thuộc dùng thuyền vào trong sông A-di. Thời hạn 7 ngày đến, nước sông bỗng nhiên lớn kinh khủng. Thế là thuyền bị chìm, nhất loạt chết hết.
Những người dòng họ Thích còn sống sót, bị bốc lột trần truồng, đến chỗ các Tỳ-kheo nói: “Tôi là dòng họ Thích, thân tộc với đức Thế Tôn, cho tôi xin một ít y.”
Các Tỳ-kheo không dám cho, với ý nghĩ: “Đức Phật chưa cho phép chúng ta cho y cho dòng họ Thích.” Họ bạch Phật, Phật dạy: “Được phép cho.”Lại có Ưu-bà-tắc năm giới cũng bị trần truồng, đến chỗ các Tỳ-kheo mượn y, các Tỳ-kheo không dám cho mượn, nói: “Đức Phật chưa cho phép chúng tôi cho Ưu-bà-tắc mượn y.” Họ bạch Phật, Phật dạy: “Được phép cho mượn, nếu trả lại thì lấy, không trả thì cho luôn.”

VII. TẠP SỰ (3)68

1. Gởi y…
Khi ấy, Bạt-nan-đà vì vật cúng an cư nên kết an cư hai chỗ, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Mỗi chỗ nên lấy phân nửa phần.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo trên đường đi không dám vén y lên, bị vướng đất nhớp, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la, nên làmđãy để đựng.” Các Tỳ-kheo làm đãy quá dài, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, dài nhất là phía trước tới rún, phía sau tới eo lưng.” Các Tỳ-kheo dùng vật quí giá làm đãy đựng y, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, nên dùng vật thô để may.”
Có các Tỳ-kheo trên đường đi, nhờ người mang y, hoặc mang y cho người, hoặc mình mất y, hoặc mất y người, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, nếu nhờ người mang y, trước phải mở ra đếm cho họ thấy, nếu mang y cho người cũng phải xem trước.” Các Tỳ-kheo đựng y đầy đãy rồi may cái miệng lại,[142a01] khi lấy bị khó khăn, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên vậy, nên làm cái dây buộc lại, nếu không thường lấy dùng, thì cho phép may.” Các Tỳ-kheo để y Khâm-bà-la và Kiếp-bối chung lại một chỗ nên sanh trùng, cắn hư nát, bạch Phật, Phật dạy: “Nên để Kiếp-bối cách Khâm-bà-la rồi dùng hương Khuất-thi-la (?), hương Na-tỳ-la (?), hương Thanh mộc bỏ vào, những loại hương này làm cho các loại trùng tránh xa.” Sau đó, các Tỳ-kheo lấy y nhầm, bạch Phật, Phật dạy: “Nên đề tên hay làm dấu.” Nếu Tỳ-kheo gởi y, trải qua 12 năm mà không trở lại lấy, nên tập hợp Tăng bình giá, để cho bốn phương Tăng dùng. Nếu sau đó Tỳ-kheo kia trở lại, thì dùng vật của bốn phương Tăng trả lại, vị ấy không nhận càng hay.

2. Tác tưởng đồng ý (1)
1. Khi ấy, A-nan nhận được y mà không dùng, vì Xá-lợi-phất nên thọ nhận, rồi sai một Tỳ-kheo mang đến Xá-lợi-phất. Tỳ-kheo kia khởi ý nghĩ: “Xá-lợi-phất là người may mắn nhận được nhiều sự cúng dường, mà ta thì không có y, nay ta nên khỏi ý tưởng đồng ý để lấy.” nghĩ rồi bèn mặc, sau đó vị ấy sanh nghi bạch Phật, Phật dạy: “Vị kia tuy là thọ mà chưa xả, nên đối với Tỳ-kheo được cho, khởi ý tưởng đồng ý để lấy69 thọ trì thì chẳng phải là khéo giữ thọ trì. Đối với Tỳ-kheo nhận mang đi, nếu tác ý tưởng đồng ý để lấy thọ trì thì là khéo giữ thọ trì.”
2. A-nan lại nhận được sợi dây lưng mà không dùng, vì A-na-luật nên thọ, cũng sai một Tỳ-kheo đem đến, nói: “Đây là sợi dây đã thuộc về A-na-luật.” Tỳ-kheo kia cũng khởi ý niệm như trước để lấy, rồi sau sanh nghi, bạch Phật, Phật dạy: “Vị kia đã nói là thuộc về A-na-luật, như vậy là đã xả rồi; nếu đối với Tỳ-kheo được cho, tác tưởng đồng ý để lấy thọ trì, thì gọi là khéo giữ thọ trì; nếu đối với Tỳ-kheo sai đi, tác tưởng đồng ý để lấy thọ trì, thì chẳng phải là khéo giữ thọ trì.”

VIII. TẠP SỰ (4)70

1. Cách mặc y, y lót thân…
Bấy giờ các Tỳ-kheo không mặc y lót thân, mặc Tăng-kỳ-chi bị nhơ nhớp bất tịnh, chuột cắn hư hoại, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên vậy, vi phạm, phạmĐột-kiết-la.”
Khi ấy nhóm sáu Tỳ-kheo may y lót thân, lớn nhỏ như Tăng-kỳ-chi, hoặc như Nê-hoàn-tăng, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên may như vậy, nên may ba loại: loại thượng, từ đầu trùm xuống đến mắt cá, duỗi ra phủ cả tay bên tả, úp lại khiến cho bằng nhau. Loại trung, từ đầu phủ xuống đến nửa ống chân, phủ cánh tay bên tả, úp lại bằng với cổ tay. Loại hạ, từ đầu phủ xuống đến đầu gối, duỗi ra phủ cánh tay bên tả, úp lại bằng với nửa khủy tay.” Các Tỳ-kheo không dùng [142b01] y lót thân, thông phủ cả cánh tay bên hữu, mà mặc Tăng-kỳ-chi bị nhơ nhớp bất tịnh, bị chuột nhấm, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy.”
Có các Tỳ-kheo khi thọ kinh, khi thăm hỏi Hòa thượng, A-xà-lê, mặc Tăng-kỳ-chi bị lệch qua một bên, thòng xuống đất, hoặc ban đêm đứng dậy đi không thể vén lên, vất bỏ dưới đất nhơ nhớp, bạch Phật, Phật dạy: “Khi thọ kinh, thăm hỏi, mặc lệch bên trái, phải cách đất, ban đêm khi thức dậy nên vén lên cho gọn, đừng để dính đất nhớp.” Các Tỳ-kheo mặc Tăng-kỳ-chi bị rách, không vá, bạch Phật, Phật dạy: “Nên vá lại.” Không biết ai vá. Phật dạy: “Bốn tháng mùa Đông, ba tháng mùa Hạ, người sử dụng nên vá.”
Có các Tỳ-kheo ở nơi A-lan-nhã, khi đi không dọn ngọa cụ của Tăng, để bị hư mục, bạch Phật, Phật dạy: “Nên gởi nơi xóm làng, nếu không có chỗ gởi, nên trả lại người chủ làm phòng, nếu có nghi sợ nhân dân trong xóm làng thì nên di chuyển đi hết, hay nên dời đến chỗ an ổn.” Các Tỳ-kheo không quay về lại để tìm xem ngọa cụ có còn sót lại hay rơi rớt, bạch Phật, Phật dạy: “Nên lui về trông chừng.” Đã đưa đến chỗ an ổn rồi, các Tỳ-kheo nơi mới đến không cho phòng ở, cũng không cho phòng để cất đặt các y vật, bạch Phật, Phật dạy: “Phải cho phòng đầy đủ. Nếu chỗ trước chưa sửa trở lại, nên sử dụng chỗ hiện ở. Nếu sau đó sửa trở lại, nên đem những cái khác hoàn lại. Nếu đã hết không có thứ gì, Tỳ-kheo ở chỗ kia nên ít nhiều chia cho.”
Có các Tỳ-kheo lấy ngọa cụ phòng này đến phòng kia dùng, các vị chủ phòng cơ hiềm nói: “Tại sao lấy vật phòng của tôi, đem đến phòng khác dùng, nơiđây không cho lấy vậy”, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy.”
Có các Tỳ-kheo khách muốn thăm viếng thầy và thọ kinh, mang ngọa cụ phòng ở đến nơi phòng kia, Tỳ-kheo chủ phòng không cho phép, bạch Phật, Phật dạy: “Nên nói trước với Tỳ-kheo của phòng cũ, nếu cho phép thì tốt, bằng không cho phép cũng cứ mang đi. Nếu từ nơi đó đi xa, nên đem trả lại cho phòng cũ.”
Có các Tỳ-kheo mặc y của Tăng vào trong ôn thất71 và chỗ làm thức ăn, vào ăn trong Tăng và xung quanh nơi tiện lợi, khói xông nhơ nhớp, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy.” Có các Tỳ-kheo bệnh cần mặc đến các nơi, mà không dám, bạch Phật, Phật dạy: “Có bệnh thì cho phép mặc đến các chỗ khác, nhưng phải hết sức bảo hộ nó, duy nhất, không được mặc đi đại tiểu tiện lợi.”
[142c01] Bấy giờ nhóm sáu Tỳ-kheo mặc y thượng, hạ và cầm một mảnh vải rộng bằng năm ngón tay, tương đương với ba y, vào trong xóm làng, các Tỳ-kheo thấy, vặn hỏi: “Không nghe đức Thế Tôn đã chế cấm, không mặc 3 y không được vào xóm làng hay sao?” Nhóm sáu Tỳ-kheo liền chỉ vào khổ vải mà nói: “Đây là đủ ba y của tôi.” Các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng mọi cách quở trách, bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo: “Thật sự các ông có như vậy không?”
“Bạch Thế Tôn, có.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Từ nay cho phép làm ba y: thượng, trung, hạ, như lượng y lót thân.

2. Nhận và chia y đàn-việt thí (2)72
Có một trú xứ, Tăng nhận được y có thể chia, một Tỳ-kheo mang đến trên giới trường, riêng một mình lấy thọ trì, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la, Tăng hiện có mặt nên chia.”
Có một Tỳ-kheo Thượng tọa, cùng các Tỳ-kheo du hành trong nhân gian, trong đó có khách, có cựu, nhận được y nên chia, vì ít không đủ để chia, bạch Phật, Phật dạy: Cựu Tỳ-kheo nên nói với khách Tỳ-kheo: “Trưởng lão, y này ít không thể chia”. Nếu khách Tỳ-kheo nói: “Cùng nhau thọ trì, cùng cho nhau, nên lấy.” Nếu nói: “Cho đến một sợi chỉ cũng không tương nhượng”, thì nên cùng chia. Khách Tỳ-kheo nói với cựu Tỳ-kheo cũng vậy.

3. Các loại y phấn tảo
Có Tỳ-kheo lấy y phủ trên mồ, người chủ mồ thấy mất y, nhờ người tìm hỏi: “Ai lấy y trên mồ của tôi?!” Có người nói: “Các Tỳ-kheo lấy.” Họ bèn nổi giận chê trách: “Các Tỳ-kheo ăn trộm y của tiên nhân tôi.” Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên vậy. Nếu xóm làng dời đi mà sau đó còn y, cho phép khởi ý tưởng là y phấn tảo để lấy.” Có các Tỳ-kheo lấy cờ, lọng trong miếu thần cũng vậy.
Có các Tỳ-kheo đến chỗ đấu chiến, lấy y của người chết, quân nhân cơ hiềm nói: “Các Tỳ-kheo này muốn khiến cho chúng tôi giết nhiều người.” Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên vậy.” Có các Tỳ-kheo ít người quen biết, muốn đến chỗ đấu chiến để lấy y người chết mà không dám đến, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép sau khi quân nhân đi rồi đến lấy.” Có các bạch y, sau khi quân nhân đi, thu lượm xương cốt để mai táng, thấy các thây chết đều bị lột trần, không thể nhận diện, bèn cơ hiềm nói: “Tại sao Tỳ-kheo lại lột y của bà con tôi, nếu còn y phục thì có thể nhớ lại được.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép lấy khi không có người thấy. Đến chỗ giết người lấy y cũng như vậy.”
[143a01] Có các Tỳ-kheo lấy y người chết, không làm cho hoại sắc mà làm y Tỳ-kheo để mặc, các bạch y thấy, nói: “Đây là y của bà con tôi”, bèn đến kêu khóc, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nên làm cho hoại sắc liền, mới làm y Tỳ-kheo để mặc. Nếu những đồ bằng sắt nên mau làm thành bát lớn, bát nhỏ hay làm cái móc cửa, hoặc các đồ dùng.”
Có một gia đình rất giàu có, giặc cướp đến lấy, không thể mang đi hết, đem giấu trong đống rác, đợi ngày sau trở lại lấy, vì ban ngày không dám đến, từ xa rìnhđợi thăm chừng. Có một Tỳ-kheo lượm y phấn tảo, đến chỗ đống rác giấu đồ đó thấy cái chéo y bày ra bèn kéo lấy y. Bọn giặc từ xa nói: “Đại đức, đừng lấy vật của tôi.” Lính đi tuần tra kẻ cướp nghe, biết đó là bọn giặc cướp liền bắt trói áp giải đến cửa quan, quan ra lệnh giết hết. Khi bọn giặc bị trói, đau khổ nói: “Nếu Tỳ-kheo không lấy y của tôi, lính tuần tra làm sao biết tôi, như vậy là Tỳ-kheo giết tôi, chứ chẳng phải ai khác!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nếu khi kéo lên thấy nặng thì không nên lấy.”
Có các Tỳ-kheo nơi ngã tư đường hẻm, ngó đất mà đi, các bạch y thấy, hoặc có người nói tìm tiền, hoặc có người nói tìm y phấn tảo. Có một đệ tử ngoạiđạo, dùng y gói tiền, để giữa đường, Tỳ-kheo thấy lượm đi. Người ấy bèn nói với mọi người: “Các Tỳ-kheo quả thật là tìm tiền.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề ấy bạch Phật, Phật dạy: “Không nên lấy vật gì có gói lại nơi ngã tư, đường hẻm.”
Có một Tỳ-kheo vì cần y nên đến nơi gò mả, thấy một người nữ mới chết, trước đầu có một cái hộp, Tỳ-kheo tưởng là cái hộp không, bèn lấy đem về nơi trú xứ, mở ra xem, thấy có các đồ nữ trang, không biết làm thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Khi lấy nên mở ra coi trước, nếu không coi trước mà lấy, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo cùng với ngoại đạo đi trên một lộ trình. Ngoại đạo bị giặc giết, Tỳ-kheo lấy y của họ, mà không làm hoại sắc, đem làm y Tỳ-kheo, ngoại đạo khác thấy nói: “Đây là y của giáo phái ta, chắc các Tỳ-kheo giết rồi lấy.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề ấy bạch Phật, Phật dạy: “Không nên lấy; nếu đã lấy, liền nên làm cho hoại sắc, rồi mới làm y của Tỳ-kheo.”
Có các Tỳ-kheo thiểu dục, tri túc không nhận y của gia chủ dâng cúng, các cư sĩ luận bàn: “Chúng ta bằng phương tiện nào, khiến Tỳ-kheo kia nhận y của chúng ta dâng cúng, chúng ta nên xé rách hay đốt cháy sơ sơ, để khắp nơi ngã tư, đường hẻm, chờ khi vị ấy vào xóm làng, nói: ‘Thầy xem xung quanh nếu có thấy thứ chi thì lấy.’” Họ liền làm theo sự luận bàn. Tỳ-kheo kia thấy khởi ý nghĩ: “Chúng ta không nhận y do gia chủ dâng cúng, chắc là các cư sĩ vì chúng ta mà làm thế này”, đem vấn đề bạch Phật, [143b01] Phật dạy: “Nên khởi tưởng phấn tảo mà lấy.”
Có một Tỳ-kheo qua đời, các Tỳ-kheo để nằm giữa sân, không lấy y phủ lại, lộ hình, nam căn trướng lên, các cư sĩ chê bai nói: “Sa-môn Thích tử không tu phạm hạnh nên nam căn mới lớn đến như thế.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, Phật dạy: “Không nên để nằm ngửa lộ hình, phải lấy y phủ lại, nếu vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có một Tỳ-kheo mập phì qua đời, các Tỳ-kheo đem để trên chỗ cỏ tươi sống, mỡ chảy ra chết các cỏ tươi sống, các ngoại đạo thấy, cơ hiềm nói: “Sa-môn Thích tử tự nói rằng từ niệm, mà nay tại sao lại làm thương hại đến cỏ tươi sống.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên để trên vật còn sống, nên chôn hay đốt, hoặc để trên đá.”
Có một Tỳ-kheo bị chết trôi, y bát treo trên nhánh cây trong nội giới, các Tỳ-kheo thấy, tưởng y bát ở trong nội giới của Tăng, thì thuộc về Tăng, không dám lấy, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép xem như y phấn tảo để lấy.” Các Tỳ-kheo không biết có mấy thứ y phấn tảo, bạch Phật, Phật dạy: “Có mười loại y phấn tảo:73 khi vua thọ vị, bỏ y cũ; y nơi gò mả; y phủ nấm mồ; y nơi đường hẻm; người nữ mới lấy chồng bỏ y cũ; khi người nữ lấy chồng, y nói lên sự tiết tháo; y của sản phụ; y trâu nhơi; y chuột gặm; y lửa cháy.”
Khi ấy các Tỳ-kheo mặc y, màu sắc sáng rực, bạch y chê trách, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên mặc y màu sắc sáng rực, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có Tỳ-kheo chứa y tắm mưa, không đủ 5 khủy tay, bạch Phật, Phật dạy: “Y tắm mưa không được giảm 5 khủy tay, vi phạm, phạm Ba-dật-đề.” Khi ấy các cư sĩ, trong thời gian an cư, vì nữ nhi cạo đầu, nên đem y cúng cho Tăng, các Tỳ-kheo thọ rồi, muốn xoay về thành phẩm vật cúng an cư, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, đây gọi là dâng cúng tùy theo sự việc, hiện tại Tăng nên chia, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
4. Thọ và xả
Có các Tỳ-kheo, trước đã thọ ba y, không xả, lại thọ y khác. Do trước kia, cái y đã thọ, tịnh thí và thí cho người, sau nhớ lại bạch Phật, Phật dạy: “Được gọi là thọ lại, cũng gọi là tịnh thí, thí cho người, chỉ không xả mới mắc Đột-kiết-la.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo có y Ni-tát-kỳ,74 chưa xả, chưa hối quá, mà bị lửa cháy, nước cuốn trôi, giặc cướp, hư hoại, không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Đây tức là xả, chỉ nên [143c01] tác pháp hối quá Ba-dật-đề.”
Khi ấy các Tỳ-kheo chứa y không tịnh thí, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”

IX. TẠP SỰ (5)75

1. Nhận các loại y
Có một trú xứ, chúng Tăng nhận được gấm, cúng cho các Tỳ-kheo, không biết thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nên thọ rồi dùng để trang nghiêm tháp, hoặc làm đồ dùng cho tháp, hoặc làm đồ dùng cho Tăng.”
Có một trú xứ, Tăng muốn chia y, có Tỳ-kheo thiểu dục không nhận phần mà chỉ cần cái dây lưng, dây ngồi thiền, cái mão, đãy lọc nước, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nên cho.” Cho rồi lại đòi phần, bạch Phật, Phật dạy: “Khi chia vật nên hỏi trước: ‘Thầy có nhận phần hay không?’ Nếu nói nhận, thì nên chia đều. Nếu nói: ‘cần dây lưng, v.v…’ nên cho một phần ba, nếu lại đòi nữa thì không nên cho.”
Có một Tỳ-kheo có Câu-nhiếp,76 Tứ phương Tăng có Tăng-già-lê muốn trao đổi, các Tỳ-kheo không dám cho đổi, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép đổi, nếu cái Câu-nhiếp giá trị cao hơn thì Tăng nên bồi cho Tỳ-kheo, nếu Tăng-già-lê cao giá hơn, thì Tỳ-kheo nên bồi cho Tăng, nếu nghèo không có vật gì để bồi cho Tăng hay là thiểu dục tri túc cũng được phép cho. Các loại y khác cũng vậy.”
Khi ấy Tỳ-kheo Ly-bà-đa bị lạnh chân, đến người Bà-la-môn xin y Khâm-bà-la để trùm chân, xin rồi sanh nghi: “Thế Tôn chế giới không cho phép chúng ta xin y nơi người không phải bà con”, không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Do nhân duyên như vậy cho phép được xin các loại y cần thọ trì, như y che gót, y che bấp bả, y che đầu, khăn lau tay, lau mặt, lau thân hình,v.v…”

2. Tác tưởng đồng ý (2)77
Khi ấy, các Tỳ-kheo đối với Tăng, tứ phương Tăng và tháp, với người không đồng ý đều khởi tưởng đồng ý để lấy y, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên vậy,đối với Hòa thượng, A-xà-lê, đồng Hòa thượng, A-xà-lê hoặc đệ tử và các người đồng ý mới được khởi tưởng đồng ý để lấy.”
Có các Tỳ-kheo chưa qua đời, đối với vấn đề phân chia y vật nói: “Sau khi tôi chết, dùng y vật này cho…, dùng y vật này vào việc như vậy, như vậy…”bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Cho không thành cho, sử dụng không thành sử dụng.”
Khi ấy, tôn giản A-nan thường tới lui gia đình lực sĩ Lô-di,78 sau đó đến không có Lô-di ở nhà, khởi tưởng đồng ý lấy Kiếp-bối quí giá,79 vẫn sanh nghi hối, khởi ý niệm: “Phật chưa cho phép chúng ta đối với bạch y khởi tưởng đồng ý để lấy y”, bạch Phật, Phật dạy: “Cũng cho phép đối với bạch y khởi tưởngđồng ý để lấy y.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo lìa y tắm mưa, không biết lúc tắm nên mặc y nào, [144a01] bạch Phật, Phật dạy: “Có 5 nhân duyên được lìa y tắm mưa: không mưa, không nghi là có mưa, không lội qua sông, ăn khi bệnh, may chưa xong. Có 5 nhân duyên được gởi Tăng-già-lê: khi mưa, khi nghi là có mưa, lội qua sông, ăn khi bệnh, may chưa xong.”
Có một trú xứ, Tăng muốn chia y, có Tỳ-kheo khách đến, các Tỳ-kheo vì nhận được ít y nên không muốn chia; bạch Phật, Phật dạy: “Cho đến chỉ nhậnđược trị giá bằng một sợi dây lưng cũng nên chia; nếu ít không đủ chia, nên Bạch nhị yết-ma cho một Tỳ-kheo không có y. Một Tỳ-kheo xướng rằng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tăng này nhận được y, hoặc phi y, nay đều đem cho Tỳ-kheo… Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức tăng xin lắng nghe! Tăng này nhận được y, hoặc phi y… cho đến câu: nếu vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý cho Tỳ-kheo… y rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

[1] Hán: Y pháp 衣法; Pāli: Cīvarakkhandhaka, chương nói về y.
[2] Kỳ-vực: Xem cht. 167, Phần III, Ch. i trước.
[3] Pāli: Dvattiṃsa mahāpurisalakkhaṇāni, ba mươi hai tướng đại nhân, hay ba mươi hai tướng Thánh nhân.
[4] Pāli: Dānakathā, Sīlakathā, Saggakathā: Bàn về bố thí, bàn về giữ giới, bàn về sinh lên trời.
5 Tứ phần: Hoạn thuỷ 患水. Pāli: kāyo dosābhisanno, rối loạn dịch trong cơ thể (Horner, The Book of Discipline. iv. 394, n.1).
6 Hán: Thổ hạ dược 吐下藥, thuốc xổ (cho ra đường dưới). Nguyên cụm từ này là “Thượng thổ hạ tả 上吐下瀉” vừa nôn mửa vừa tiêu chảy. Pāli (Vin. i. 279): icchati tathāgato virecanaṃ pātun ti, “Như Lai muốn uống thuốc xổ (hạ tể).”
7 Tứ phần: Ưu-bát 優缽; hay ưu-bát-la, hoa sen xanh. Pāli: uppala (Skt. utpala).
8 Tứ phần: Nhất chưởng noãn thuỷ 一掌煖水. Pāli, ibid., xổ xong lần thứ 29, Thế Tôn sẽ tắm (bhagavā viritto nahāyissati), sau đó sẽ xổ thêm một lần nữa.
9 Tứ phần: “Ta không hề cho ai ước nguyện mà vượt quá điều nguyện.” Câu văn chuẩn khi Phật chấp thuận một ước nguyện. Nhưng văn Hán Tứ phần tối nghĩa cũng như Ngũ phần.
10 Pāli: Y Siveyyaka, vải được sản xuất tại nước Sivi, cao giá nhất.
11 Tứ phần: Phấn tảo 糞掃. Thập tụng: Bàn-tẩu y 槃藪衣. Pāli: paṃsukūla, (vải) lượm từ đống rác.
12 Kiếp-bối: Xem, cht. 42, Phần I, Ch. i, Ba-la-di.
13 Một hình thức làm cho vải hoại sắc.
14 Gò mả, Hán: trủng gian 塚間. Pāli: Susāna, nghĩa địa, nghĩa trang, nơi vất xác người chết.
15 Chỉ cho ngày mùng tám, mười bốn, mười lăm (bạch nguyệt).
16 Tiếp Đàn-việt thí y (1) ở trước.
17 Ca-di 迦夷. Pāli: Kāsī.
18 Y Phấn tảo tiếp (1) ở trước.
19 Tiếp Đàn-việt thí y (1).
20 A-phạm-hòa-lợi 阿范和利. Tứ phần: Am-bà-la-bà-lợi 菴婆羅婆利. Pāli: Ambapālī; Skt. Āmrapālī.
21 Hán: Thống 痛, có nơi gọi là thọ 受 là niệm thứ hai trong Tứ niệm xứ (Thân, thống (thọ), tâm, pháp 身受心法) Pāli: cattāro sati paṭṭhānā. Skt: catvāri smṛty upasthānāni.
22 Tứ phần: A-bà-la viên 菴婆羅園, vườn xoài của kỹ nữ Am-ba-bà-lợi (Am-bà-la-bà-lợi).
23 Xem Trường A-hàm 2 (T1, tr.13b20), kinh số 2 “Du hành”.
24 Ly-xa 離車. Tứ phần: Lê-xa 梨奢. Một bộ tộc rất hùng mạnh thời Phật, là chủ nhân của thành Vesāli (Tỳ-xá-ly). (Xem cht. 28, Phần II, Ch. iii).
25 Chư Thiên ở Đao-lợi 忉利諸天. Pāli: Tāvatiṃsā devā.
26 Tứ phần 40, tr. 856b03: Tân-kỳ-dương-nậu 賓耆羊菟. Trường A-hàm: Tịnh ký 并暨.
27 Ương-già 鴦伽. Pāli: Aṅgā. Một trong 16 nước lớn thời đức Phật, nằm phía Đông nước Ma-kiệt-đà (Magadhā), thủ phủ là Chiêm-bà 瞻婆 (Pāli: Campā). Tứ phần: Vua Ương-già.
28 Hán: châu khải 珠鎧, áo giáp đồng nạm châu.
29 Tên khác của A-phạm-hòa-lợi, được dịch từ Phạn ngữ āmra gọi là Nại 柰 (cây xoài). Người nữ này được sinh ra trên cây xoài (Nại), nên gọi là Nại nữ.
30 Tứ phần: Không đề cập đến địa danh và tên tháp mà chỉ nói là Thế Tôn ngồi nơi đất trống.
31 Ba y: Xem cht. 23, 24, 25, Phần I, Ch. iv.
32 Y Câu-tu-la 拘修羅衣, Phật thuyết Mục-liên ngũ bách vấn giới luật trung khinh trọng sự kinh thích 1, X44n751, tr. 911b19, ghi: Y Câu-tu-la là loại mũ đội trên đầu.
33 Quán đầu y 貫頭衣: Loại y có cổ, khi khoác chui đầu qua. Tứ phần: Phả-na-đà-thi 頗那陀施. Hành sự sao giản chánh ký 15, X43n737, tr. 401c14: Quán đầu y, loại quần phụ nữ.
34 Hán: Tụ y 袖衣, Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích 27, X44n744, tr. 609c21, giải thích là loại áo kép xếp gấp 著褶. Cf. Vin. ibid.: phalakacīraṃ, y bằng mảnh gỗ ghép (ghép nhiều miếng ván lại).
35 Câu-nhiếp 拘攝, hoặc gọi Câu-chấp 拘執. Pāli: kojava (kocava): chăn lông. Nhưng, Wogihara cho là dịch từ Skt. kauśeya: lụa, quyến, đoạn.
36 Tứ phần: “Nhóm sáu Tỳ-kheo lại khoác y không bỏ tua.” Pāli: Kappāsika, áo làm bằng bông vải.
37 Hán: Điều diệp 條葉, điều là rẻo vải hẹp mà rộng, tượng trưng cho bờ ruộng; còn diệp là rẻo vải như chiếc lá, chỉ khâu một biên đính vào y.
38 Tứ phần 40, tr. 855a26: “Đây là đường may thứ nhất, đây là đường may thứ hai, đây là đường may giữa, đây là lá điều hướng hai bên.”
39 Hán: Cát tiệt y 割截衣. Pāli: chinnaka, vải được cắt thành từng miếng vuông như thửa ruộng, rồi may lại thành. Thường gọi là phước điền y.
40 Tứ phần: Niết-bàn-tăng 涅槃僧; Pāli: nivāsana, hạ y, nội y.
41 Tiếp Tạp sự (1) ở trước.
42 Cỏ Bà-bà: Xem cht. 8, Ch. ii trước.
43 Hán: Thiền đái 禪帶. Tứ phần 41, tr. 860b05: “Không dám cho Tỳ-kheo-ni những thứ như phi y, đãy đựng bát, đựng dép, ống đựng kim, dây đai thiền”. Thập tụng 38, tr. 278a14: Xá-lợi-phất đau cột sống, Phật cho phép dùng lông thú, vải sô-ma hay kiếp-bối, cỏ các thứ bện thành thiền đái mà ngồi.
44 khoảng chừng 20cm.
45 Đơn phu 單敷. Tứ phần luật hành sự sao tư trì ký 3, T40n1805, tr. 374a21: Đơn phu nghĩa là dùng trải trên giường rủ xuống 4 góc.
46 Hán: Nhơn phát y 人髮衣. Pāli: Kesakambala, y làm bằng tóc người, tấm chăn làm bằng tóc.
47 Tứ phần: Bì y 皮衣, có lẽ là vỏ cây, tức thọ bì. Cf. Vin. i. 305: vākacīraṃ nivāseti.
48 Y Bạt-na 跋那衣. Tứ phần 40, tr. 857a25: Y phả-na-đà-thi. Có lẽ phả-na-đà-thi và bạt-na là một, nhưng không rõ phiên từ Skt. gì. Phiên Phạn ngữ 10: bạt-na y, dịch là sắc色; Skt. varṇa? Danh nghĩa tiêu thích 27 (Vạn 44, tr. 609b12): y a-đá-hầu-đa阿哆睺多衣, y phả-na-đà-thi頗那陀施衣, 2 loại y ở nước ngoài, đây không có.
49 Tăng-kì-chi 僧祇支: Skt. saṃkakṣikā. Pāli: saṅkacchā, saṅkacchika, là y che nách (phú dịch y 覆腋衣), hay y che vai (phú kiên y 覆肩衣).
50 Man y 漫(縵)衣: Y còn nguyên tấm vải lớn, chưa cắt thành những mảnh nhỏ.
51 Xá-lặc 舍勒. Skt: śāṭaka, là một loại y mặc bên trong của các Tỳ-kheo.
52 Hán: Lộc thủy nang 漉水囊 (Skt: Parisrāvaṇa, Pāli: Parissāvana), đãy lọc nước, túi lọc nước.
53 Hán: Đồng Đa-la thịnh nhãn vật 銅多羅盛眼藥物. Tứ phần luật tinh luận yếu dụng sao 2, T85n2795, tr. 709c05 ghi: 銅多羅盛服藥物. Vậy cũng có thể hiểu: Đồng Đa-la vật chuyên dùng bào chế thuốc (của Tăng).
54 Điều-đạt 調達 là tên khác của Đề-bà-đạt-da (Devadatta).
55 Tứ phần 41, tr. 861c23: “Thèm ăn những thứ không được ăn, và không chịu uống thuốc. 2. Người nuôi bệnh có chí tâm mà người bệnh không nói như thật. 3. Cần đi lại không đi, cần đứng không chịu đứng. 4. Thân thể có đau nhức thì không thể chịu đựng nỗi. 5. Dù việc nhẹ có thể làm được, nhưng không làm, phải cậy nhờ người làm.” Và ngược lại năm việc này thì dễ chăm sóc. Ngũ phần không có năm việc dễ chăm sóc này, mà có thêm năm việc khó cho người chăm sóc từ chính họ. Cf. A. iii. 143 (Upaṭṭhakasutta).
56 Hán: Ba-lợi quốc 波利國 , Pāli: Bhalluka, Ở phía bắc Ấn Độ.
57 Câu-xá-la. Pāli: Kosalā (Kiều-tát-la).
58 Hán: Phú sang y 覆瘡衣. Xem Phần I, Ch. v, Ba-dật-đề 88. Tứ phần, lượng phú sang y: dài 4 gang rộng 2 gang Tu-già-đà (sugata). Thập tụng, đồng. Tăng-kỳ, chiều dài đồng; rộng 2 gang rưỡi.
59 Y Kiếp-bối kinh 劫貝經: Kiếp-bối dệt sợi ngang.
60 Y Khâm-bà-la vĩ 欽婆羅緯: Khâm-bà-la dệt sợi dọc.
61 Đoạn văn hình như bị nhảy, không thông ý?
62 Bản Hán, hết quyển 20.
63 Nước Xa-di là tên khác của Ca-duy-la-vệ quốc 迦維羅衛國; hay Ca-tỳ-la-vệ. Vì nhà nước theo chế độ thành bang, nên gọi quốc hay gọi thành đều được. (Xem thêm cht. 19, Ch. i trước).
64 Tứ phần 41, tr. 860b23: Tỳ-lưu-ly 毘琉璃. Pāli: Viḍūḍabha, con trai của Pasenadi (Ba-tư-nặc) với Vāsabhakhattiyā (một nữ tỳ của nhà họ Thích).
65 Câu-lâu-xá: Xem cht. 20, Ch. ii trước.
66 Vai ông phía ngoại, Hán: Ngoại gia công外家公.
67 Hán: A công 阿公.
68 Tiếp theo Tạp sự (2) ở trên.
69 Tứ phần 41, tr. 861a21: Tác thân hữu ý thủ 作親友意取, khởi lên ý tưởng thân hữu mà lấy.
70 Tiếp theo Tạp sự (3) ở trước.
71 Ôn thất 溫室, nhà tắm nước nóng; chỉ chung nhà tắm (Skt. snāna).
72 Tiếp theo nhận và chia y đàn-việt thí (1) ở trước.
73 Tứ phần 39, tr. 850a23: Y phấn tảo có mười loại: 1. Y bị bò nhơi, 2. Y bị chuột gặm, 3. Y bị lửa cháy, 4. Y kinh nguyệt, 5. Y sản phụ, 6. Y trong miếu thần hoặc y bị chim tha đi hay gió bay rơi các nơi thì lấy được, 7. Y gò mả, 8. Y nguyện, 9. Y thọ vương chức, 10. Y vãng hoàn.
74 Y Ni-tát-kỳ 尼薩耆衣. Pāli: Nissagiya-civara, là y xả đọa.
75 Tiếp theo Tạp sự (4) ở trước.
76 Câu-nhiếp: Xem cht. 35 trước.
77 Tiếp theo tác tưởng đồng ý (1) ở trước.
78 Tứ phần: Có một người Ma-la tự là Lâu-diên, là bạn của Tôn giả A-nan khi còn bạch y. Lâu-diên 樓延. Pāli, Vin. i. 296, Roja.
79 Tứ phần: Đại giá y 大價衣.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *