Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 26. Phần III – Chương 6 – Pháp Da Thuộc

Ngũ Phần Luật – 26. Phần III – Chương 6 – Pháp Da Thuộc

CHƯƠNG VI : PHÁP DA THUỘC

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. NHÂN DUYÊN ỨC NHĨ

1. Tăng-già biên địa
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Bấy giờ Ma-ha Ca-chiên-diên[2] ở trong núi Ba-lâu-đa, nước A-thấp-ba[3] A-vân-đầu.[4] Nơi nước đó có ông tưởng giả tên là Sa-môn Ức Nhĩ,[5] tin ưa Phật pháp, thường cúng dường cho các Tỳ-kheo, thấy pháp đắc quả, thọ Tam quy, Ngũ giới, thường vào Tăng phường để nghe pháp. Bấy giờ, Sa-môn Ức Nhĩ ở chỗ vắng tự nghĩ: “Như đức Phật dạy: tại gia nhiễm trước, không thể rộng tu phạm hạnh, xuất gia vô trước cũng như hư không! Nay ta sao không ở trong pháp vô vi, cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo?!” Nghĩ rồi, sáng sớm đến chỗ Ca-chiên-diên, đầu mặt kính lễ sát chân, trình bày đầy đủ ý nghĩ, muốn cầu xuất gia, thọ giới Cụ túc. Ca-chiên-diên nói: “Tại gia nhiễm trước, đúng như lời ông vừa nói, chỉ có xuất gia mới đủ điều kiện tịnh tu phạm hạnh, một mình ngồi dưới gốc cây, ngày ăn một bữa. Nhưng, ông vốn giàu sang thì đây là một điều rất khó.” Ức Nhĩ nghe rồi, bèn trở về nhà mình. Ba lần như vậy, thấy rõ ý muốn của đương sự, bèn cho xuất gia.
Tại nước đó, không đủ chúng mười người, nên phải làm Sa-di đến 6 năm.6 Ca-chiên-diên bèn dùng thần lực tập hợp chúng 10 người ở nước khác để trao giới Cụ túc. Ức Nhĩ thọ giới rồi bèn nghĩ: “Ta nghe đức Như Lai là bậc Ứng cúng Đẳng chánh giác mà chưa được phụng kiến, nay ta nên đến để thăm hỏi đức Thế Tôn.” Nghĩ rồi, đến chỗ Ca-chiên-diên, đầu mặt kính lễ sát chân, xin phép đến hầu Phật. Ca-chiên-diên nói: “Tốt lắm! Tôi tùy theo sự hoan hỷ của ông, ông nên đi liền. Ông có thể nhân danh tôi thăm hỏi đức Thế Tôn [144b01] và thưa xin đức Phật 5 điều:
1. Nước A-thấp-ba A-vân-đầu không đủ chúng 10 vị, nên Ức Nhĩ phải làm Sa-di đến 6 năm, không được thọ giới Cụ túc, Ca-chiên-diên dùng sức thần thông tập trung Tăng các nước khác, vậy sau mới được thọ. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép nước này, không đủ chúng 10 vị, được thọ giới Cụ túc.
2. Nước này có nhiều sỏi đá chông gai, xin Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo nước này mang giày guốc, hai lớp gót.
3. Nước này đều dùng da lót trên đất làm tọa, ngọa cụ, xin Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo nước này dùng da lót trên đất.
4. Người nước này ngày nào cũng tắm rửa, xin Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo ở nước này hằng ngày tắm rửa.
5. Có Tỳ-kheo gởi y cho Tỳ-kheo ở phương khác, y chưa đến, có Tỳ-kheo nói cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sanh nghi, sợ phạm chứa y dư,7 xin Thế Tôn vì Tỳ-kheo này trừ nghi.8
Ức Nhĩ vâng lời thầy dạy, ra đi. Khi đến chỗ đức Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, gởi lời thăm hỏi của Hòa thượng bổn sư lên đức Thế Tôn. đức Phật bảo A-nan:
“Thầy trải ngọa cụ cho Tỳ-kheo khách nghỉ.”
A-nan nghĩ: “Đức Phật muốn cho Tỳ-kheo này cùng nghỉ, nên khiến ta trải ngọa cụ, do đó liền trải ngay nơi phòng của Phật.” Đức Phật cùng Ức Nhĩ cùng nghỉ một phòng.
Đầu đêm, giữa đêm im lặng không nói chuyện, cho đến cuối đêm, đức Phật khởi ý nghĩ: “Đây là con nhà tộc tánh, oai nghi điều phục, nên dạy nói pháp”, đức Phật bèn bảo: “Thầy có thể nói pháp!” Ức Nhĩ vâng lời, liền nói 16 phẩm kinh,9 nói rồi đứng im lặng.
Đức Phật dạy: “Lành thay! Người trong nước thầy đều nói được như vậy chăng?”
Ức Nhĩ thưa: “Có người hơn con!” Đức Phật lại hỏi: “Tại sao thầy ở lâu nơi nước đó mà không đến gặp Ta?” Ức Nhĩ thưa: “Con biết điều tội lỗi đó, mà vì có nhân duyên nên không đến sớm được.” Nhân đó, đức Thế Tôn nói bài kệ:
Thấy lỗi lầm của đời
Tự thân nương pháp hành
Kẻ hiền không ưa ác
Vì ác không thích thiện.
Khi ấy, Ức Nhĩ khởi ý nghĩ: “Hòa thượng bảo ta xin Phật 5 việc, nay chính là lúc”, bèn bạch Phật. Sáng ngày, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo Ức Nhĩ: “Thầy có thể nói lại năm điều mà Ca-chiên-diên xin.” Ức Nhĩ liền nói lại.
Đức Phật bằng mọi cách khen ngợi người thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép nước A-thấp-ba A-vân-đầu và tất cả biên địa, chỗ thiếu Tỳ-kheo, người thứ năm là người trì luật,10 trao giới Cụ túc; cũng cho phép những nơi có sỏi đá chông gai [144c01] được mang guốc dép, hai lớp gót, cũng cho phép có các loại da, làm ngọa cụ bằng da; cũng cho phép chỗ cần tắm rửa, hằng ngày nên tắm rửa; nếu Tỳ-kheo gởi y cho Tỳ-kheo chỗ khác; tuy Tỳ-kheo trước có nghe biết, y chưa vào tay, không phạm tội chứa y dư.”

2. Những quy định về da thuộc
2.1. Quy định chung về guốc dép
Bấy giờ các Tỳ-kheo làm các loại guốc dép bằng nhiều kiểu cách, lắm màu sắc. Việc này được bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép làm guốc dép khác hình, khác màu sắc, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo làm guốc dép bằng da ngựa, da voi, da người, bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép. Nếu dùng da người thì phạm Thâu-lan-giá; nếu da ngựa, da voi phạm Đột-kiết-la.”
2.2. Các loại da
Khi ấy, Bạt-nan-đà thường tới lui một gia đình chăn bò, mặc y bưng bát đến nhà ấy. Nhà này có một con bò nghé sắc lông loang lỗ, Bạt-nan-đà nhìn kỹ, sanh lòng ham thích: “Ước gì được da con nghé này làm phu cụ.” Người chủ hỏi: “Tại sao sư đăm đăm nhìn con nghé như thế?” Bạt-nan-đà nói: “Con nghé này có sắc lông loang lỗ khả ái, có thể làm phu cụ.” Người chủ liền thưa: “Đại đức thường lo liệu công việc cho nhà con, con đâu có tiếc gì con nghé mà không dâng cúng.” Người chủ liền giết con nghé trước mặt mẹ nó, để lấy da cúng. Bạt-nan-đà nhận được tấm da rồi đem về Tăng phường.
Con bò mẹ theo sau rống kêu buồn não, các Tỳ-kheo hỏi: “Con bò này tại sao rống kêu buồn não đi theo thầy?” Bạt-nan-đà nói: “không biết.” Các Tỳ-kheo lại hỏi: “Con bò này theo thầy chớ không theo người khác, tại sao thầy không biết?”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà mới đem sự thật nói ra. Các Tỳ-kheo bằng mọi cách quở trách rồi bạch Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Bạt-nan-đà: “Thật sự ông có như vậy không?” “Bạch Thế Tôn có thật như vậy.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi; bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép chứa tất cả loại da.” Sau đó, các Tỳ-kheo cần một miếng da nhỏ mà không dám dùng, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng một miếng da nhỏ.”
Có các Tỳ-kheo từ ngoài trở về đạp trên ngọa cụ của Tăng, bùn nhơ bất tịnh, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép mang guốc dép ra vào.”
Có Tỳ-kheo già bệnh, ở nơi chỗ có sự sợ sệt, cùng bạn đồng đi, đi chậm không kịp, các bạn nói: “Đại đức đi mau, đừng để bị cướp đoạt.” Vị ấy nói: “Chúng tôi già bệnh, không thể đi kịp.” Các bạn nói: “Đây có voi, ngựa, lừa, lạc đà, xe bò thầy có thể cưỡi để đi.” Các Tỳ-kheo không dám, bạch Phật, Phật dạy: “Từ nay cho phép các Tỳ-kheo già bệnh được cưỡi ngựa, nhưng không được cưỡi súc sanh cái.”
2. 3. Các vật dụng bằng da
Có các bạch y dùng cái kiệu bằng da cúng cho chư Tăng, các Tỳ-kheo không dám thọ, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ nhưng thay da bằng thứ vải khác.” [145a01] Có các bạch y dùng cái kiệu bằng da cúng riêng cho Thượng tọa, Thượng tọa không dám thọ, bạch Phật, Phật dạy: “Cũng cho phép nhận riêng, nhưng cũng thay da như trên.” Các Tỳ-kheo Thượng tọa già bệnh, muốn đi kiệu vào xóm làng mà không dám, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép.” Các Tỳ-kheo không biết khiến ai khiêng, bạch Phật, Phật dạy: “Nhờ Tịnh nhơn khiêng.” Có các Tỳ-kheo ở chỗ có sự sợ sệt, muốn qua sông mà không có đò, có người chăn bò lùa bò qua sông, nói: “Có thể nắm đuôi bò để đi qua.” Các Tỳ-kheo không dám, bạch Phật, Phật dạy: Cho phép nắm. Khi ấy nhóm sáu Tỳ-kheo nắm đuôi bò để qua sông, lấy tay thọc vào mụt ghẻ11 của nó, bạch Phật, Phật dạy: “Không được phép nắm đuôi súc sanh cái để qua sông.” Có các Tỳ-kheo muốn qua sông, cũng không có súc sanh để có thể nắm, không biết làm thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép buộc cỏ cây làm cái bè để qua.” Từ nay cho phép các Tỳ-kheo sắm phao nổi, hoặc làm bằng da dê hay da bò. Tăng và Tứ phương Tăng đều nên sắm.

II. NHÂN DUYÊN THỦ-LÂU-NA

1. Hai bàn chân có lông
Đức Phật ở thành Vương Xá. Bấy giờ, vua là Bình-sa nước Ma-kiệt và Ương-già12 hai nước có 42.000 tụ lạc. Các hào kiệt nơi đó, không người nào không tin Phật, Pháp, Tăng, chỉ trừ trong thành Chiêm-bà13 có con ông trưởng giả tên là Thủ-lâu-na,14 ông ta rất giàu, có 20 ức tiền, người đương thời gọi ông là Thủ-lâu-na Hai Mươi Ức. Ông ta hưởng sự vui sướng ngay lúc chào đời, tay chân mềm mại, dưới chân mọc lông. Vua Bình-sa nghĩ: “Trong cương giới của ta chỉ có Hai Mươi Ức chưa tin Phật pháp. Ta nên làm thế nào khiến cho ông ta tin. Nếu ta đến nhà ông ấy, ông ấy sẽ hoảng sợ, nếu kêu ông ta đến, chắc sẽ có sự nghi sợ. Ta nên thông tri cho 60 gia đình hào kiệt trong thành Chiêm-bà đến dự lễ hôn nhân của vương tử. Nhân cuộc gặp gỡ này ta sẽ hướng dẫn ông ta đến với đạo pháp”. Nhà vua nghĩ xong liền cho thông báo tất cả.
Khi ấy thân tộc đều tâu với vua: “Hai Mươi Ức chưa từng bước xuống đất, dưới chân mọc lông như tóc trên đầu, không thể tuân lệnh đến được, xin nhà vua đặc biệt miễn trừ cho người này.” Nhà vua nói: “Có thể cưỡi voi, ngựa, xe, kiệu.” Thân tộc tâu: “Thân hình ông ta rất mềm, cũng không thể đi bằng các phương tiện đó được.” Vua nói: “Nay vương tử làm lễ thành hôn, cần sự hiện diện, cho phép thân tộc của ông tận dụng mọi phương tiện để đưa ông ấy đến.” Thân tộc cùng nhau nghị bàn: “Chỉ còn có cách là đào con kênh, thông thuyền đưa ông ta đi ngày vài dặm mới khỏi nhọc mệt, để cung kính phụng mệnh nhà vua vậy.” Họ bèn dùng kế hoạch này đưa Hai Mươi Ức đến thành Vương Xá. Thân tộc tâu: “Hai Mươi Ức vừa đến nơi, nguyện xin được như nếp sống ở nhà.” Nhà vua nói: “Nếp sống ở nhà như thế nào?” [145b01] Tâu đức vua: “Dùng vải trải trên đất rồi đi lên đó.” Nhà vua nói: “Được.” Nhà vua liền ra lệnh. Lại trải vải mịn trên tòa, để ông ta ngồi trên đó. Nhà vua hỏi: “Dưới chân ông thật có mọc lông hay không?” “Tâu đại vương, thật có.” Vua nói: “Ta muốn xem.” Hai Mươi Ức tâu: “Nguyện sai người tin cậy để xem.” Nhà vua nói: “Ta muốn thấy tận mắt.” Hai Mươi Ức tâu: “Xin phép vua cho được duỗi chân ra.” Nhà vua nói: “Được.” Hai Mươi Ức liền duỗi chân ra, chỉ cho nhà vua”
Đúng như lời đồn, ánh sáng của lông tỏa ra, làm cho mắt nhà vua không thể nhìn kỹ được. Vua nghĩ thật hy hữu hiếm có: “Nước ta đại phước đức mới sanh được con người phước đức này.” Vua nhìn hai bên, trước vua có ba đại cư sĩ, bây giờ có cả Hai Mươi Ức là bốn. Nhà vua hỏi: “Mỗi người có bao nhiêu của được gọi là cư sĩ?” Người thứ nhất nói: “Số tiền hạ dân có là 13 ức.” Người thứ hai nói: “Hạ dân có 14 ức.” Người thứ ba nói: “Hạ dân có 14 ức và một hạt châu ma-ni vô giá.” Hai Mươi Ức nói: “Hạ dân có 20 ức, lại có 500 hạt châu ma-ni, một giường báu ma-ni.” Nhà vua hỏi Hai Mươi Ức: “Do đâu ông có của này?” Hai Mươi Ức tâu: “Của này không phải cha mẹ để lại, cũng không phải do kinh doanh mà có. Hạ dân ngủ trên lầu cao, khi thức dậy, bèn thấy của này trước mặt tôi.”
Nhà vua nghe câu nói này rất đổi ngạc nhiên, khó hiểu, nghĩ rằng: “Phước đức người này chỉ có đức Phật mới biết, ngoài ra không ai hiểu nổi!” Nhà vua liền nghiêm giá đến chỗ Phật, rồi đầu mặt kính lễ sát chân, bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, Hai Mươi Ức có 500 châu ma-ni, một giường báu ma-ni, từ đâu mà có?” Đức Phật dạy: “Người này trước kia ở nơi cung trời Đâu-suất, có 500 Thiên nữ, cùng nhau rất ái kính. Sau đó người ấy sanh đến đây, thiên nữ đều nghĩ: ‘Thiên tử chúng ta nay sanh nơi nào?’ Họ dùng thiên nhãn xem, thấy sanh nơi đây, mỗi người mang một châu ma-ni và gường báu trước kia nằm, biến hóa khiến cho tương xứng với thân hiện nay, đem để trước mặt rồi đi.” Vua nghe Phật dạy rồi kính lễ cáo lui.
Trở về thành Chiêm-bà tập hợp 60 hào kiệt tuyên bố: “Nay ta phong cho15 Hai Mươi Ức là bậc tối đại cư sĩ ở trong thành kia, các người phải tôn kính.” Nhà vua lại nói với Hai Mươi Ức và 60 người: “Ta là vua của các ngươi, dùng pháp trị hóa, đã cùng các ngươi làm việc lợi ích cho hiện thế, nay có đức Phật Thế Tôn, ở tại núi Kỳ-xà-quật, chúng ta đều có thể đến đó để cầu điều lợi cho hậu thế.” Mọi người đều vâng lệnh đến đó.
Bấy giờ, trưởng lão Bà-kiệt-đà16 ở trong núi, kinh hành trên bàn thạch, các cư sĩ đến chỗ ấy thưa: “Đại đức vì chúng con, bạch Phật, Hai Mươi Ức và 60 cư sĩ ở thành Chiêm-bà muốn đến thăm hỏi đức Thế Tôn.” Bà-kiệt-đà [145c01] ở trên bàn thạch, trước mặt các cư sĩ liền biến mất rồi xuất hiện trước đức Phật, trình bày đầy đủ vấn đề lên đức Phật, Phật dạy: “Thầy có thể về trước trên bàn thạch, trải tòa ngồi, Ta sẽ đến sau.”17 Vâng lời dạy, trước đức Phật, Bà-kiệt-đà cũng biến mất, rồi xuất hiện nơi bàn thạch, trước mặt chúng cư sĩ, vì đức Phật trải tòa ngồi. Đức Phật với oai nghi thường có, đi bộ đến sau. Các cư sĩ nghĩ rằng: “Tỳ-kheo này có đại thần lực, vắng mặt và xuất hiện nơi bàn thạch cũng như vào trong nước.” Khi đức Thế Tôn thung dung xuất hiện, họ vô cùng cung kính. Đức Thế Tôn đến rồi, an tọa nơi tòa. Theo thường pháp của chư Phật, trước hết khiến cho người khởi tâm hoan hỷ, rồi sau mới nói pháp. Đức Phật nói với Bà-kiệt-đà: “Ông đứng dậy quạt Phật.” Vâng lời dạy, Bà-kiệt-đà đứng dậy quạt, trong giây lát, hiện các thứ thần biến như Ưu-vi Ca-diếp,18 rồi trở lại trước Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân, bạch Phật rằng: “Đức Phật là Đại sư của con, con là đệ tử của Phật.” Thưa như vậy 3 lần, rồi ngồi lại chỗ cũ.
Khi ấy, các cư sĩ nghĩ: “Đệ tử mà thần lực như thế, huống là bậc Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác.” Họ bèn hướng về chăm chú chiêm ngưỡng Phật. Đức Phật vì họ nói các diệu pháp, chỉ bày sự lợi ích để họ hoan hỷ… cho đến câu: khổ, tập, tận, đạo. Từ nơi chỗ ngồi họ được con mắt pháp trong sạch, thọ Tam quy, Ngũ giới.

2. Lần đầu tiên bước chân xuống đất
Hai Mươi Ức từ chỗ ngồi đứng dậy đi chân không đến trước đức Phật, cúi đầu tác lễ, đức Phật bèn mỉm cười. Bà-kiệt-đà nghĩ: “Do nhân duyên gì mà đức Phật cười.” Nghĩ rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên hữu, quỳ gối bạch Phật: “Do nhân duyên gì mà Thế Tôn mỉm cười?” Đức Phật nói với Bà-kiệt-đà: “Hai Mươi Ức này, 91 kiếp vừa qua, nay mới bước chân xuống đất.” Bà-kiệt-đà lại hỏi: “Hai Mươi Ức, do nhân duyên gì mà 91 kiếp, chân không bước xuống đất?” Đức Phật dạy: “Thuở đời quá khứ, khi ấy có đức Phật Thế Tôn xuất hiện nơi đời, tên là Tỳ-bà-thi,19 phụ vương cai trị nơi thành dài 12 do-tuần, rộng 7 do-tuần, dân chúng đông đúc an ổn, phong túc vui vẻ. Đức Phật Tỳ-bà-thi cùng đại Tỳ-kheo Tăng 68.000 người đầy đủ, đều là bậc A-la-hán, an trú nơi đó. Nhà vua ấy hằng ngày thỉnh Phật và Tăng thọ trai trong cung. Khi ấy trong đại chúng có một người tên là Tu-tỳ-xa, cùng mọi người đến chỗ nhà vua, tâu: ‘Nay vua làm các công đức, nguyện xin cho phép chúng tôi cùng được dự vào.’ Nhà vua nói: “Nay Phật và chúng Tăng gồm có 68.000 người, sợ các người không chuẩn bị được, hoặc lại sanh não cho Tăng.’ Họ lại tâu với vua: ‘Chúng tôi tự kham nổi, xin nhà vua cho phép.’ Nhà vua nói: ‘Tốt lắm!’ Nhà vua còn sợ họ không chuẩn bị kịp nên ra lệnh cứ làm thức ăn như thường lệ, nếu họ không chu toàn sẽ dùng vào thức ăn đó. Do chỗ họ thiết cúng hơn thức ăn của nhà vua. Nhiều ngày như vậy, cho nên [146a01] thức ăn do nhà vua cho làm cuối cùng không thiết trai được.
Tu-tỳ-xa tuần tự thiết cúng, sai người đào đường, dùng đất mềm mại trải lên trên, lấy bùn thơm trét; hai bên dựng 80 cây trụ quý báu, dùng châu ma-ni tạp sắc gắn trên đầu trụ, treo cờ tạp sắc, trương màn tạp sắc phủ khắp trên lộ trình; trên đường đi để các loại nước uống; trong nhà trang bị 68.000 chỗ ngồi, mỗi Tỳ-kheo ngồi một chỗ, dùng 500 cái chảo nấu canh để cúng dường. Dâng cúng cho mỗi Tỳ-kheo hai xấp Kiếp-bối, một đôi giày da. Lại vì bốn phương Tăng làm một cái phòng, dưới đất trải ngọa cụ đều bằng thứ diệu hảo. Tu-tỳ-xa lúc ấy nay là Hai Mươi Ức. Từ đó về sau thọ phước ngang bằng với loài người và trên cõi trời không có sai khác. Nếu nay không thấy Ta thì Hai Mươi Ức, chân vẫn chưa đạp đất.”
Bấy giờ, Hai Mươi Ức quỳ gối bạch Phật: “Cho phép con xuất gia thọ giới Cụ túc.” Đức Phật hỏi: “Cha mẹ ông đã cho phép chưa?” “Dạ, chưa.” “Cha mẹ không cho phép, không được xuất gia.” Hai Mươi Ức thưa: “Con sẽ trở về nhà xin phép cha mẹ.” Phật dạy: “Tốt lắm, nay chính là đúng lúc.”
Khi ấy Hai Mươi Ức kính lễ sát chân Phật, nhiễu quanh bên hữu, rồi trở về thành Chiêm-bà, thưa với cha mẹ: “Nay con muốn xuất gia học đạo.” Bà mẹ nói: “Thôi! Thôi! Chuyện gì phải xuất gia! Cha mẹ chỉ có một mình con, dù chết, cha mẹ còn không muốn cách xa nhau, làm sao còn sống mà xa lìa?! Nay nhà ta của cải, trân bảo, tôi tớ, ruộng nhà nhiều vô số, con tùy ý làm việc phước, thọ vui ngũ dục.”
Hai Mươi Ức thành khẩn cầu xin ba lần, mới được cha mẹ hứa khả,20 liền đến trước mẹ, kính lễ sát chân, đi quanh bên hữu ba vòng, rồi trở lại chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, quỳ gối bạch: “Mẹ của con đã hứa khả, xin Phật cho con được xuất gia thọ giới Cụ túc.” Đức Phật dạy: “Tỳ-kheo đến đây! Xuất gia thọ giới Cụ túc, rộng tu phạm hạnh, Ta sẽ nói pháp để dứt hết gốc khổ.” Khi Phật nói như vậy, Hai Mươi Ức râu tóc tự rụng, Tăng-già-lê mặc vào người, bình bát bưng nơi tay.

3. Dây đàn căng
Xuất gia không bao lâu ở nơi rừng Thi-đà,21 tinh tấn kinh hành, chân bị thương tổn, máu chảy, chim chóc đi theo để ăn, Hai Mươi Ức khởi niệm: “Trong hàng đệ tử của Phật, vấn đề tinh tấn không ai hơn ta, mà nay chưa hết được các gốc khổ, gia đình của ta may mắn có nhiều của cải, ta có thể hòan tục, sung sướng làm các công đức.”
Đức Phật biết ý niệm đó, từ núi Xà-kỳ-quật đi xuống, thấy chim chóc đang mổ máu ăn, hỏi tôn giả A-nan: “Vì sao có máu nơi đây, chim chóc tranh nhau ăn thế này?” (Thưa)* “Hai Mươi Ức kinh hành nơi đây, chân bị thương máu chảy nên chim tranh nhau ăn.” Đức Thế Tôn liền đến chỗ đó, hỏi Hai Mươi Ức:[146b01] “Thật sự thầy có nghĩ như vậy không?” “Bạch đức Thế Tôn, sự thật con có nghĩ như vậy.” Đức Phật lại hỏi: “Nay Ta hỏi thầy, tùy ý thầy trả lời. Khi thầy còn ở tại gia, khéo sử dụng cây đàn cầm phải không?” “Bạch Thế Tôn, phải.” Khi dây của đàn quá căng, tiếng đàn có hay không?” “Bạch Thế Tôn, không.” “Khi dây đàn không thẳng, tiếng có tốt không?” “Không tốt.” “Vậy dây đàn phải như thế nào tiếng đàn mới tốt?” “Không căng quá, không dùn quá tiếng đàn mới tốt.” Đức Phật dạy: “Ở trong pháp Ta cũng như vậy, gấp quá hoãn quá đâu đắc đạo được, tinh tấn với mức trung bình, không bao lâu sẽ hết gốc khổ.”22 Hai Mươi Ức nghe Phật nói tại nơi kinh hành dứt hết các lậu hoặc.

4. Những quy định đầu tiên về dép da23
Do dưới bàn chân của Hai Mươi Ức bị thương tích, đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Nay cho phép Hai Mươi Ức mang dép da dày một lớp.” Hai Mươi Ức bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn, con bỏ 20 ức tiền, 500 ma-ni bảo châu, một cái giường báu ma-ni, 20 phu nhân, vô lượng thể nữ, bây giờ mang dép da một lớp, người ta sẽ cơ hiềm con: bỏ của cải như vậy, mà còn ham thọ nhận mang dép da một lớp. Nếu đức Thế Tôn cho phép tất cả Tỳ-kheo đều mang thì con sẽ mang.” Đức Phật bèn khen ngợi người thiểu dục, tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép các Tỳ-kheo mang dép da một lớp.”
Có các Tỳ-kheo mang dép da hai lớp, bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép, ai vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Khi ấy nhóm sáu Tỳ-kheo mang dép da đi kinh hành trước hay sau Hòa thượng, A-xà-lê, có các Tỳ-kheo khác cũng bắt chước làm như vậy. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên mang dép da trước Hòa thượng, A-xà-lê, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Nếu có nhân duyên thì ở trước Hòa thượng, A-xà-lê mang dép da, không phạm. Nếu đất có chông gai, hoặc đất có cỏ nhọn, hoặc đất có đá sỏi, hoặc khi bệnh hay lúc trời tối thì mang cũng không phạm.”
Khi ấy các Tỳ-kheo mang guốc bằng vàng, bạc, ngà voi, đá, các cư sĩ thấy, chê trách nói: “Các Tỳ-kheo này như đại thần của nhà vua, thường nói ít ham muốn, biết vừa đủ, mà nay phung phí vô độ, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.” Các Trưởng lão Tỳ-kheo nghe, bằng mọi cách quở trách, rồi bạch Phật. Đức Phật nhân việc này tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép mang guốc dép như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly, có một trú xứ ẩm thấp, mang dép da bị ẩm ướt sanh trùng hư mục, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép các Tỳ-kheo mang dép bằng cỏ Bà-bà, [146c01] cỏ Ca-thi,24 cỏ Văn-nhu,25 cỏ Cưu-thi26 v.v… các Tỳ-kheo mang lội qua nước, sau đó chân bị thấm nước, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng da sống lót dưới đáy.” Có các Tỳ-kheo mang guốc gỗ, giày gỗ đi trong Tăng phường, có tiếng khua làm ồn các Tỳ-kheo tọa thiền; lại có một Tỳ-kheo mang guốc gỗ đi tiểu ban đêm đạp rắn chết, bạch Phật, nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép mang guốc gỗ, giày gỗ, vi phạm, phạm Đột-kiết-la; cho phép ba chỗ được mang guốc không phải thường đi lại: chỗ đại tiện, chỗ tiểu tiện, chỗ rửa chân.”
Có các Tỳ-kheo mang dép da độn Đâu-la,27 bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo bị lở ngón chân bởi mũi nhọn của dép da, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng vật mềm độn nơi mũi nhọn.” Có các Tỳ-kheo gót chân bị nứt ra, bạch Phật, Phật dạy:
“Cho phép dùng mỡ gấu thoa, lấy da gấu bao lại.”
Khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta thường chăm chú vào việc đi, không hay biết đến ngón chân bị thương, đức Phật thấy vậy, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép các Tỳ-kheo mang Phú-la.”28 Các Tỳ-kheo làm Phú-la sâu quá, các cư sĩ cơ hiềm nói: “Tỳ-kheo này mang giày Phú-la như giày ủng của chúng ta.” Bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm giày ủng sâu quá, cho phép làm đến trên mắt cá.” Có các Tỳ-kheo làm giày tợ giày ủng, các cư sĩ cơ hiềm như trên, bạch Phật, Phật dạy: “Nên hở phía trước.” Có các Tỳ-kheo mang giày có vẽ hình, bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên mang như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la, nếu nhận được, cho phép làm cho hoại sắc để mang.”
Khi ấy, Ly-bà-đa29 ở nước Đà-bà du hành trong nhân gian, gặp lúc tuyết lạnh thành băng, chân bị thương tích. Khi đến Kỳ-hoàn, đầu mặt kính lễ sát chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật hỏi: “Tại sao chân thầy như vậy?” Ly-bà-đa trình bày sự việc rõ ràng. Đức Phật hỏi: “Người nơi nước đó họ có mang thứ gì không?” Ly-bà-đa thưa: “Người nơi đó mang Phú-la, mang dép da.” Đức Phật bằng mọi cách khen ngợi hạnh ít muốn, biết đủ, khen giới, khen ngợi người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép nơi quốc độ có tuyết lạnh được mang Phú-la, mang dép da; hoặc giả nơi nước họ có mang thứ gì thì cũng cho phép mang.” Có các Tỳ-kheo đi trong tuyết lạnh, chân bị hư hoại vì tuyết đóng, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng muối sữa, mỡ gấu thoa, dùng da gấu làm cái ủng.”
Có các Tỳ-kheo đi đường xa không biết dùng cái gì để đựng lương thực, [147a01] bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng da cừu, da bò, da nai và Kiếp-bối để làm cái đãy.” Có các Tỳ-kheo dùng da đựng thức ăn bị dơ nhớp, bạch Phật, Phật dạy: “Nên rửa cho sạch.” Các Tỳ-kheo bèn giặt cái đãy da, hong phơi bị hư hoại, trùng sanh, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên giặt cái đãy da, nên lật ngược nó mà lau, nếu sạch thì tốt, bằng không thì không nên dùng.”
Có các Tỳ-kheo trú xứ A-lan-nhã chứa cái phu cụ bằng da, các ác thú nghe mùi, đến sát hại các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Ở chỗ A-lan-nhã không nên dùng phu cụ bằng da, nên đem cho các trú xứ ở xóm làng, dùng lót nơi bậc cấp đi.”
Có các Tỳ-kheo đi sau Phật, chân bị gai chích không thể đi được, các cư sĩ thấy nói: “Thưa Đại đức! đức Phật đi đã xa rồi, sao không đi nhanh cho kịp?” “Tôi bị đạp gai không thể đi được.” Các cư sĩ nói: “Có thể mang bít tất được không?” Tỳ-kheo không dám mang, đi đến trước bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng bít tất (vớ).”
Có các Tỳ-kheo ở nơi gò mả được dép da, không dám lấy, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép lấy.” Có Tỳ-kheo được các loại dép da đủ loại, đủ màu sắc, không dám lấy, bạch Phật, Phật dạy: “Trừ da người, da ngựa, da voi, ngoài ra cho phép lấy, làm cho nó hư hoại màu sắc cũ, nếu màu sắc cũ không thể làm hư hoại thì nên mang trong Tăng phường, đừng nên mang ra ngoài.”
Có các Tỳ-kheo nhận được dép da mới không dám thọ, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ, rồi bảo tịnh nhân30 mang đi 7 bước rồi mang.”
Có các Tỳ-kheo, dép da, giày Phú-la bị rách không biết bảo ai vá, bạch Phật, Phật dạy: “Nên nhờ người vá, nếu không nhờ được thì Tỳ-kheo có thể tự vá, cũng cho phép sắm cái dùi lớn, dùi nhỏ, dao lớn, dao nhỏ, dây cước để vá da.”
Có các Tỳ-kheo vì Tỳ-kheo phá kiến vá dép da và các vật khác cho họ, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên vì hạng người như vậy mà làm, nên vì người biết xấu hổ muốn học giới mà làm.” Các Tỳ-kheo không biết dùng cái gì để đựng dụng cụ bằng da, bạch Phật, Phật dạy: “Nên dùng cái đãy bằng da để đựng.”1



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *