Ngũ Phần Luật – 28. Phần III – Chương 8 – Pháp Thực

CHƯƠNG VIII : PHÁP THỰC

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

1. Các loại thức ăn-uống
Đức Phật ở nước Ba-la-nại, lúc bấy giờ, năm Tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, [148a01] bạch Phật:
“Kính bạch đức Thế Tôn, chúng con nên ăn thức ăn nào?”
Đức Phật dạy:
“Cho phép các ông ăn bằng thức ăn khất thực.”[14]
Lại bạch Phật: “Nên dùng cái gì để đựng?” Phật dạy: “Cho phép dùng cái bình bát.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo xin được cơm lúa tẻ, không dám ăn, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tùy ý thọ thực.” Vào lúc ấy, các Tỳ-kheo hoặc xin được các loại cơm, hoặc xin được các loại bánh, hoặc xin được các loại lương khô,[15] hoặc xin được các loại đậu mạch chín, hoặc xin được các loại lúa mạch ran, và gạo nếp, hoặc xin được các loại canh, hoặc xin được các loại giấm và nước tương, hoặc xin được các loại muối, hoặc xin được các loại thịt, hoặc xin được các loại cá, hoặc xin được các loại sữa tươi, sữa đông,[16] hoặc xin được các loại rau, hoặc xin được các loại rễ cây, ngó sen v.v…, hoặc xin được các loại nhánh, mía v.v…, hoặc xin được các loại trái xoài, dừa v.v… đều không dám thọ, bạch Phật, Phật dạy: “Đều cho phép tùy ý thọ thực.”
2. Giải phải tạm thời (nhân duyên)
Đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly, bấy giờ gặp lúc cơ cẩn đói khát, khất thực khó được.5 Các Tỳ-kheo đem thức ăn để chỗ khác bị mất, khởi ý niệm: “Nếu đức Thế Tôn cho phép chúng ta cùng ngủ một chỗ với thức ăn thì đâu đến nỗi khổ thế này,” bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép cùng ngủ một chỗ với thức ăn.”
Các Tỳ-kheo làm thức ăn ở chỗ khác bị mất, khởi ý niệm: “Nếu được đức Thế Tôn cho phép chúng ta làm thức ăn tại trú xứ thì đâu đến nỗi có cái khổ thế này,” bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép làm thức ăn tại trú xứ.”
Các Tỳ-kheo nhờ người làm thức ăn phải trả tiền, phải cho thức ăn mà họ còn ăn cắp, khởi ý niệm: “Nếu được đức Phật cho phép chúng ta tự làm thức ăn thì có thể khỏi phí tổn này,” bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tự làm thức ăn.”
Các Tỳ-kheo đã tự làm thức ăn, cần người để trao, họ lại đòi trả tiền, khởi ý niệm: “Nếu được đức Phật cho phép chúng ta tự đem thức ăn đến, không phải nhờ người trao thì có thể khỏi cái phí tổn này,” bạch Phật, Phật dạy:
“Cho phép tự đem thức ăn đến, không cần khiến người trao.”
Các Tỳ-kheo đặng trái cây, không có người trao, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tưởng như cây mà lấy ăn.”
Các Tỳ-kheo nhận được trái trong ao, không có người trao (thọ), bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép đến nơi ao nước mà thọ.”
Các Tỳ-kheo muốn ăn trái, không có tịnh nhân để khiến tác tịnh, bạch Phật, Phật dạy:
“Cho phép trước hết loại bỏ các hạt rồi sau ăn.”
Đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly, bấy giờ đức Thế Tôn bị hoạn phong,6 A-nan tự nấu thuốc, cháo dâng lên đức Phật. Đức Phật hỏi A-nan: “Ai nấu thuốc đây?” “Bạch Thế Tôn, con nấu.”[148b01] Đức Phật bảo A-nan: “Trước đây Ta cho phép các Tỳ-kheo cùng ngủ với thức ăn trong trú xứ, làm thức ăn, tự làm thức ăn, tự đem đến cho người thọ, nay các thầy còn áp dụng các pháp như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, còn dùng.” Đức Phật dạy: “Việc làm của các thầy là phi pháp. Trước đây vì lúc cơ cẩn Ta cho phép, tại sao nay vẫn còn dùng pháp ấy?! Từ nay nếu ai vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ, hỏi A-nan: “Trước đây, Ta cho phép các Tỳ-kheo tưởng như cây để lấy trái cây, đến ao nước lấy trái của ao, không có tịnh nhân làm tịnh quả, bỏ hạt rồi ăn, nay các ông còn áp dụng pháp đó hay không?” “Bạch Thế Tôn, còn dùng.” Đức Phật dạy: “Các thầy làm điều phi pháp, trước đây vì lúc cơ cẩn ta cho phép, tại sao nay vẫn còn dùng phép này?! Từ nay, ai vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
3. Các loại thịt
1. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có người Ưu-bà-di tự là Tu-tỳ,7 kính tin Phật pháp, thấy pháp đắc quả, quy y Tam bảo, thường thỉnh tất cả Tăng, cung cấp thuốc thang. Sau thời gian, người ấy đến Tăng phường thấy một Tỳ-kheo uống thuốc thổ hạ, hỏi: “Nay Đại đức cần gì?” Vị ấy nói: “Tôi uống thuốc thổ hạ bị kiệt sức, nghĩ muốn ăn thịt.” Ưu-bà-di nói: “Thưa Đại đức, sáng mai con sẽ đưa đến, xin Đại đức nhận cho con.” Người ấy về nhà, sáng ngày sai người cầm tiền đi mua thịt. Ngày ấy, vua Ba-tư-nặc ra lệnh: “Nếu ai giết thú vật sẽ bị trọng tội.” Chẳng tìm đâu ra thịt để mua, người ấy trở về báo cáo. Bà lại sai người cầm tiền đi tìm khắp nơi để mua, bà nói: “Đừng kể chi giá cả, đắt mấy cũng mua”. Cũng vẫn mua không được, Ưu-bà-di khởi ý niệm: “Hôm qua ta đã hứa, nếu không có, vị Đại đức có thể bị mạng quá (chết)!” Bà liền cầm dao vào trong nhà tự xẻo thịt nơi bắp vế, đưa cho đứa ở nấu đem đến cho Tỳ-kheo. Tỳ-kheo nhận được, bèn ăn, bệnh được lành.
Khi người chồng về, không thấy vợ liền hỏi: “Tu-tỳ đâu?” Người trong nhà nói: “Bệnh ở trong nhà.” Người chồng liền vào hỏi: “Mình bệnh gì?” Người vợ trình bày sự việc. Người chồng nói: “Sợ bệnh tình này, mình không qua khỏi, không lâu nữa sẽ chết, nên thỉnh Phật và Tăng trưa mai thọ trai.” Người vợ nói: “Tốt lắm!” Vợ bảo chồng đến thỉnh Phật và Tăng.
Đến chỗ Phật, ông ta đầu mặt kính lễ sát chân, bạch Phật: “Nguyện Phật và Tăng hạ cố, trưa mai con xin được cúng dường.” Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng, ông ta về nhà, suốt đêm lo chuẩn bị thức ăn ngon bổ, sáng ngày trải tòa, bảo người đến bạch Phật: “Thỉnh Phật và Tăng phó trai.” Phật cùng chúng Tăng kẻ trước, người sau vây quanh đến gia chủ, tựu tòa an tọa. Ông chồng tự mình lấy nước rửa, đức Phật không thọ, nói: “Bảo Ưu-bà-di Tu-tỳ ra đây.” Ông chồng liền sai người vào nói: “Đức Thế Tôn gọi bà.” [148c01] Bà trả lời: “Có thể nhân danh ta thăm hỏi đức Thế Tôn, vì bệnh ta không thể ra hầu Ngài được.”
Được người đại diện thưa như thế, nhưng đức Phật vẫn cho gọi lại đến lần thứ ba, người nhà phải khiêng bà đến chỗ đức Phật. Khi thấy đức Thế Tôn thì chỗ thương tích của bà bỗng nhiên tiêu mất, da thịt kéo liền như trước. Bà sanh tâm hy hữu: “Ta có được bậc Đại sư và các đồng phạm hạnh như vậy!” Bà sung sướng vô cùng, tự tay dâng thức ăn. Phật và Tăng thọ trai xong, bà lấy nước rửa, rồi lấy chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức Phật. Đức Phật vì bà nói kệ tùy hỷ, như đã nói cho Tỳ-lan-nhã. Đức Phật lại nói các diệu pháp, chỉ bày sự lợi ích vui vẻ, rồi trở về chỗ ở. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi vị Tỳ-kheo kia: “Vừa rồi ông ăn thứ gì?” Vị ấy thưa: “Con ăn thịt.” Đức Phật lại hỏi: “Thịt có ngon không?” “Thưa, ngon.” Đức Phật dạy: “Ông là người ngu si, tại sao không hỏi, mà ăn thịt người!” Từ nay, ăn thịt mà không hỏi, phạm Đột-kiết-la; nếu ăn thịt người, phạm Thâu-lan-giá.”
2. Có các Tỳ-kheo ăn thịt voi. Voi của vua Ba-tư-nặc chết, đưa đến các quỉ thần, do các Tỳ-kheo ăn thịt voi, nên giết các voi con, Tỳ-kheo khiến các tịnh nhân lấy thịt đem về. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm nói: “Sa-môn Thích tử này không có thịt gì mà họ không ăn, còn hơn là con diều hâu, tại sao ăn nuốt đồ bất tịnh này, hôi thúi mà lại đến nhà ta?! Không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.” Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: “Thật sự các thầy có như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, sự thật có như vậy.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay ăn thịt voi phạm Đột-kiết-la, ăn thịt ngựa cũng như vậy.”
3. Các Tỳ-kheo ăn thịt sư tử, thịt cọp, thịt heo, thịt gấu, các loài thú nghe hơi bèn đến giết Tỳ-kheo. Các cư sĩ thấy, hỏi tại sao như vậy? Có người nói: “Do ăn thịt đồng loại của chúng nó.” Cư sĩ cơ hiềm… cho đến câu: bảo các Tỳ-kheo cũng như trên: “Từ nay ăn thịt bốn loại này, phạm Đột-kiết-la.”
4. Các Tỳ-kheo ăn thịt chó, các con chó nghe mùi, chạy theo sau sủa. Các cư sĩ thấy vậy hỏi: “Tại sao chó lại chỉ chạy theo Tỳ-kheo sủa?” Có người nói: “Do ăn thịt chó.” Họ bèn quở trách… cho đến câu: bảo các Tỳ-kheo cũng như trên. “Từ nay ăn thịt chó phạm Đột-kiết-la.”
5. Các Tỳ-kheo ăn thịt rắn,8 các cư sĩ cơ hiềm. Long vương Thiện Tự Tại9 hóa làm thân người đến chỗ đức Phật, cúi đầu bạch: “Các Long vương của con có đại thần lực, với nhiều hình sắc du hành trong nhân gian, nay các Tỳ-kheo ăn thịt rắn, hoặc có thể là rồng,10 làm thương hại Tỳ-kheo, cúi xin đức Phật cấm, đừng cho các Tỳ-kheo ăn thịt rắn.” [149a01] Đức Phật vì Long vương nói các diệu pháp, chỉ dạy sự lợi ích vui vẻ rồi bảo về chỗ ở. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo, đem lời của Long vương Thiện Tự Tại, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay ăn thịt rắn, phạm Đột-kiết-la.”11
4. Biệt chúng thực
1. Đức Phật ở tại thành Vương Xá, lúc bấy giờ các trưởng giả thỉnh Phật và Tăng. Các Tỳ-kheo Trưởng lão hỏi đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn, nếu có người thỉnh Tăng thì nên thỉnh ai?” Đức Phật dạy: “Nếu người nào chánh thú, chánh hướng12 đều được thỉnh.” Các Tỳ-kheo khởi ý niệm: “Như những vị trong bốn phương này và trên cõi trời không chỗ nào là không có, chúng ta đâu không phạm tội ăn biệt chúng ư?” Do đó, không dám phó trai, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu ở trong một cương giới mà thỉnh riêng bốn vị trở lên gọi là ăn biệt chúng, nếu theo thứ tự thỉnh thì không phạm.”
2. Có các Tỳ-kheo khởi ý niệm: “Các Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cũng ở trong cương giới thì đâu không phạm tội ăn biệt chúng.” Họ bạch Phật, Phật dạy: “Nếu thỉnh Tăng thì hai chúng thọ thực, tức Tỳ-kheo và Sa-di; nếu thỉnh hai bộ Tăng thì 5 chúng thọ thực, tức Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di và Sa-di-ni.”
3. Có các Tỳ-kheo phàm phu tọa thiền khởi ý nghĩ: “Như đức Thế Tôn dạy: ‘Nếu thỉnh Tăng thì người chánh thú, chánh hướng đều được thỉnh, nay ta phàm phu chưa phải là chánh thú, chánh hướng, không có thức ăn, không cho lấy thức ăn sao?” Bạch Phật, Phật hỏi các Tỳ-kheo kia: “Các ông không vì giải thoát xuất gia hay sao?” Các Tỳ-kheo phàm phu thưa: “Chúng con vì giải thoát.” Đức Phật dạy: “Nếu khi thỉnh Tăng thánh nhơn, người tọa thiền đều nên thọ thực.”
4. Có các Tỳ-kheo phàm phu tụng kinh khởi niệm: “Chúng ta không phải là người tọa thiền”, cũng như trên, sanh nghi, bạch Phật, Phật dạy: “Người tụng kinh cũng được thọ trai.”
5. Có các Tỳ-kheo phàm phu giúp việc cho chúng khởi niệm: “Chúng ta chẳng phải người ngồi thiền, tụng kinh”, cũng như trên, sanh nghi, bạch Phật, Phật dạy: “Người giúp việc cho chúng Tăng cũng được thọ trai.” Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Nếu khi thỉnh Tăng, trừ người ác giới, ngoài ra tất cả Tăng đều được thọ trai.”
6. Đức Phật du hóa nơi ấp A-na-tân-đầu, tại ấp ấy, có một vị đại thần tên là Hảo Thiểu, thỉnh Phật và Tăng thọ trai. Họ chuẩn bị các thức ăn ngon bổ, sáng ngày đến giờ thọ trai, trải tòa rồi bạch: “Thức ăn đã sửa soạn xong, xin quý Thánh tri thời.” Khi ấy, các Tỳ-kheo lại thọ thức ăn của người khác trước và ăn đã no đủ. Đức Phật cùng đại Tăng, kẻ trước người sau, đến nơi gia chủ, an tọa nơi tòa. Đại thần Hảo Thiểu tự tay sớt thức ăn, song các Tỳ-kheo đều không thể ăn. [149b01] Đại thần thưa: “Tại sao quý ngài không dùng một cách thoải mái mà chứng ít như vậy, hay là thức ăn không thích khẩu vị?” Các Tỳ-kheo trả lời: “Chẳng phải thức ăn không thích khẩu vị, mà cũng không phải ăn ít. Sáng nay đã ăn no rồi, nên không thể ăn được.” Vị Đại thần ấy liền tức giận nói: “Tại sao đã nhận lời mời nơi tôi lại đến chỗ khác ăn cho no.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nếu đã nhận sự mời thỉnh của người nào rồi thì buổi sáng chỉ cho phép dùng cháo lỏng, cháo lỏng là cháo lấy cọng cỏ vẽ ngang không còn nguyên nét. Nếu nhận được cháo đặc và thức ăn thì nên nói với người chủ: ‘Tôi đã thọ thỉnh rồi, nên mời vị khác.’”
7. Khi ấy, đức Phật cùng Đại Tỳ-kheo Tăng 1250 vị đầy đủ du hành từ Vương Xá đến Tỳ-xá-ly, khoảng giữa hai nước có thành Vương Xá. Trưởng giả tên là Tượng Hành,13 hướng dẫn năm trăm cỗ xe từ Tỳ-xá-ly đi đến, từ xa thấy đức Thế Tôn, dung nhan đặc biệt, giống như núi vàng, phát tâm hoan hỷ, tiến đến trước đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, con có một ít thạch mật14 muốn dâng cúng đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo Tăng. Đức Phật nhận lời bằng cách im lặng. Trưởng giả liền dâng cúng, các Tỳ-kheo không dám thọ, bạch Phật, Phật khen ngợi sự thiểu dục, tri túc, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép các Tỳ-kheo dùng để ăn khi đói, khi khát, hòa với nước mà uống.” Trưởng giả kia dùng một bình thạch mật đem dâng cúng khắp cả Phật và đại chúng, nhưng vẫn không hết, bạch Phật: “Con dùng một bình thạch mật dâng cúng khắp trong đại chúng, mà vẫn còn dư, nên cho ai?” Đức Phật dạy: “Ông có thể đem bỏ chỗ đất không có cỏ tươi, hoặc trong nước không có trùng.” Ông Trưởng giả liền vâng lời dạy đem đổ trong nước không có trùng, nước liền sôi lên tạo thành tiếng động, như sắt nóng bỏ vào nước. Trưởng giả hoảng hồn, trở lại bạch Phật. Đức Phật vì ông nói các diệu pháp, chỉ dạy những điều lợi ích, hoan hỷ như: việc bố thí, việc trì giới, việc sanh thiên và nói dục là tai họa, tại gia là bận rộn, ràng buộc, xuất gia là không đắm nhiễm; kế đến nói thường pháp của chư Phật là khổ, tập, tận, đạo. Từ nơi chỗ ngồi, ông trưởng giả liền xa trần, lìa cấu, đối với các pháp đặng con mắt pháp trong sạch.
8. Đức Phật lại tiếp tục hành trình, gặp một người thợ, có một người con gái rành nghề nấu canh, mời Phật và Tăng dùng thứ canh nguyên chất này sau khi ăn. Các Tỳ-kheo không dám nhận, nói: “Đức Phật chưa cho phép chúng tôi dùng thứ canh này,” bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng làm thức ăn sau theo ý muốn.”
5. Tịnh nhục
Đức Phật tuần tự du hóa đến Tỳ-xá-ly, trú tại giảng đường Trùng Các, bên bờ sông Di Hầu. Có một tướng quân tên là Sư Tử,15 đệ tử của Ni-kiền16 nghe đức Thế Tôn du hóa đến nơi thành này, có đại danh xưng vang lừng là Như lai, Ứng cúng Đẳng chánh giác. [149c01] Lành thay lời nói hoan hỷ! Nguyện được yết kiến và thỉnh mời một vị Phật như vậy. Tướng quân liền sửa soạn xa giá để xuất hành. Từ xa thấy được đức Thế Tôn, dung nhan đặc biệt, giống như núi vàng, liền đến trước Phật đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì ông nói các pháp mầu… cho đến nói khổ, tập, tận, đạo. Từ chỗ ngồi, ông được con mắt pháp trong sạch, liền đứng dậy, chắp tay, quì gối bạch: “Xin Phật và Tăng sáng mai hạ cố đến nhà con thọ bữa cơm đạm bạc.” Đức Phật nhận lời bằng cách im lặng.
Tướng quân biết được đức Phật nhận lời, trở về nhà, sai người ra chợ mua, dặn dò: “Tất cả số thịt đã làm rồi, đắt mấy, cũng mua hết.” Vâng lệnh, bao nhiêu thịt ở chợ đều mua sạch. Suốt đêm làm các thức ăn ngon bổ, sáng sớm, trải tòa, tướng quân đích thân đến bạch Phật: “Thức ăn đã sửa soạn xong, xin Ngài tri thời.” Đức Phật cùng Tỳ-kheo Tăng, kẻ trước người sau, vây quanh đến nhà gia chủ, an tọa nơi tòa. Tướng quân tự tay sớt thức ăn một cách hoan hỷ, chăm chú.
Khi ấy, các Ni-kiền nghe tướng quân Sư Tử thỉnh Phật và Tăng, cúng dường rất thịnh soạn, sanh lòng đố kỵ, liền đến đường lớn, đường nhỏ quát lớn công bố: “Tướng quân Sư Tử phản sư, không còn tình nghĩa gì cả, nay trở lại phụng sự Sa-môn Cù-đàm, tự tay giết trâu, dê để cúng dường.” Các Tỳ-kheo nghe, không dám ăn. Tướng quân Sư Tử quỳ gối bạch Phật: “Các Ni-kiền này lúc nào cũng hủy báng Phật. Từ nay cho đến trọn đời con không bao giờ cố ý sát hại, cúi xin Tỳ-kheo chớ sanh hiềm nghi, cứ thọ thực thoải mái đầy đủ.” Đức Phật liền bảo các Tỳ-kheo, tùy ý ăn cho no đủ. Thọ trai và uống nước xong, tướng quân lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi phía trước, đức Phật vì ông nói bài kệ tùy hỷ như trước, rồi từ tòa ra về. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Có 3 loại thịt không ăn được:17 hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc nghi. Thấy là tự mình thấy, họ vì mình mà giết. Nghe là nghe từ người đáng tin cậy nói, họ vì mình mà giết. Nghi là nghi họ vì mình mà giết. Nếu không thấy, không nghe, không nghi tất là tịnh nhục, cho phép tùy ý thọ thực. Nếu vì Tỳ-kheo giết thì Tỳ-kheo và Sa-di không nên ăn; nhưng cho phép Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di ăn. Nếu vì Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di giết cũng như vậy.”
6. Tịnh xứ, tịnh thất, tịnh địa
1. Khi ấy, nhân dân các nước Ma-kiệt, Ương-già, Ca-di,18 Câu-tát-la,19 Bạt-kỳ,20 Mãn-la(?), Tô-ma21 nghe đức Phật ra đời, có đại oai đức, đệ tử cũng vậy, đều tụ họp tại Tỳ-xá-ly. Trong thành, nhà nhà, người người đều dùng xe ngựa bảy báu để nghinh đón khách, đầy nghẹt cả thành phố. Ngoài ra còn có một vạn hai ngàn chiếc xe, [150a01] trong thành không thể chứa hết, phải để ngoài thành. Mọi người tranh nhau mang thức ăn thời thực, phi thời thực, thức ăn 7 ngày, thức ăn trọn đời đến dâng cúng Phật và Tăng, tập trung chất thành đống lớn ngoài sân, dọc ngang bừa bãi, đất bụi nhơ nhớp, chim chóc tập trung lại để ăn.
(Một hôm,)*đức Thế Tôn tuần tra các phòng thấy, xoay lại hỏi A-nan: “Tại sao có những thức ăn bỏ trong sân?” Tôn giả A-nan trình bày đầy đủ sự việc: “Vì không có chỗ để nên mới đưa đến tình trạng như vậy.” Đức Phật khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép dùng một nơi trong phòng, Bạch nhị yết-ma làm tịnh xứ để để thức ăn. Một Tỳ-kheo xướng rằng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay dùng cái phòng… làm chỗ tịnh để để thức ăn cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay dùng cái phòng… làm chỗ tịnh để để thức ăn cho Tăng. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã chấp thuận dùng căn phòng… làm chỗ tịnh để để thức ăn cho Tăng rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Sau khi Tăng dùng hết, các Tỳ-kheo sử dụng phòng ấy nấu canh, nấu cháo, sắc thuốc, trước bữa ăn, sau bữa ăn, đầu đêm, giữa đêm, sau đêm, có cả tiếng chó sủa, nam nữ, dao, ghế. Đức Phật hỏi A-nan: “Tại sao trong phòng lại có các tiếng như thế?” A-nan trình bày đầy đủ. Bằng mọi cách Phật quở trách: “Tại sao trong phòng Tăng, chỗ tịnh để chứa thức ăn lại sắc thuốc, từ nay vị nào phạm, phạm Đột-kiết-la.”
2. Đức Phật ở tại nơi thành Vương Xá, các Tỳ-kheo mắc chứng bệnh mùa Thu, cần hòa hợp thuốc thang tùy theo chứng bệnh nên thời hay phi thời đều vào trong xóm làng, gặp phải nước, lửa, giặc cướp, xảy ra nạn y bát nạn, phạm hạnh, thân mạng. Có một người thợ dệt, giữa lộ trình cất nhà để dệt, thấy các Tỳ-kheo vào xóm làng lúc thời và phi thời, bèn nói: “Nếu có cần làm thì có thể làm nơi đây, muốn có chỗ lưu lại thì cũng có thể lưu lại nơi đây.” Các Tỳ-kheo không dám, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép làm tịnh thất nơi nhà bạch y.” Các vị làm ồn ào, gây phiền não cho người chủ, trở ngại việc dệt của người thợ kia. Người thợ dệt nghĩ: “Ta vốn vì vấn đề dệt nên làm cái nhà này, nay đã không dệt được, lại thành chỗ cúng cho Tăng làm tịnh thất”, nên cúng cho Tăng. Các Tỳ-kheo coi đó là nhà của Tăng, không dám làm thức ăn hay đem thuốc để chung trong đó, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép làm thức ăn ở trong nhà tịnh thất của Tăng.”
3. Có các Tỳ-kheo mới làm trú xứ, chưa có tịnh thất của Tăng, không biết nên như thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu làm trú xứ mới, trước hết nên chỉ chỗ nào đó, làm tịnh địa,22 thì có thể để thức ăn nơi đó. Nếu chưa Yết-ma, Tỳ-kheo không được vào trong đó, cho đến khi tướng mặt trời xuất hiện.”
4. Có một trú xứ [150b01] các Tỳ-kheo đã bỏ đi lâu rồi, Tỳ-kheo đến sau, không biết nơi nào là tịnh thất, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu bỏ không 12 năm, cho phép các Tỳ-kheo tùy ý làm tịnh thất lại.”
5. Có một trú xứ không có tịnh thất của Tăng, lại chưa đủ 12 năm, Tỳ-kheo sau đến, không biết làm tịnh địa chỗ nào, bạch Phật, Phật dạy:
“Nếu chỗ nào không ai đi đến và chỗ không cần dùng việc gì thì nên tạm dùng làm tịnh xứ.”
6. Có các Tỳ-kheo để thức ăn trong tịnh thất bị người lấy trộm, bạch Phật, Phật dạy: “Nên tác Yết-ma trong phòng làm tịnh xứ.” Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma bên trong tường một phòng làm tịnh địa, bạch Phật, Phật cho phép. Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma một phòng ngang bằng với cái thất, lưu lại một chỗ làm tịnh địa, bạch Phật, Phật cho phép. Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma trong sân làm tịnh địa, bạch Phật, Phật cho phép. Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma một góc phòng, hoặc nửa phòng làm tịnh địa, bạch Phật, Phật cho phép. Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma nơi cái giá, cái ghế làm tịnh xứ để chứa thức ăn, bạch Phật, Phật không cho phép. Chủ yếu là phải nương nơi đất, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.
Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma tầng trên của thất làm tịnh xứ, bạch Phật, Phật không cho phép, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma từ tầng gác của thất trở xuống kết làm tịnh xứ, bạch Phật, Phật cho phép. Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma trên chiếc xe làm tịnh xứ, bạch Phật, Phật không cho phép, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.
Có các Tỳ-kheo muốn tác Yết-ma trong Tăng phường làm chung tịnh địa, bạch Phật, Phật cho phép. Nên Bạch nhị yết-ma, một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Một trú xứ này, cùng ở, cùng Bố-tát, cùng nhận phẩm vật cúng dường. Nay Tăng kết làm tịnh địa, trừ chỗ (nào đó). Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Một trú xứ này… cho đến, trừ chỗ (nào đó). Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã kết làm tịnh địa rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
7. Đức Phật ở tại thành Vương Xá, bấy giờ nơi thành Bạt-đề23 có trưởng giả tên là Văn-trà,24 có đại phước đức, tất cả vợ con, con dâu và đầy tớ đều có phước đức. Khi trưởng giả vào trong kho (bồ), trong không trung mưa lúa rơi xuống, trưởng giả ra mới hết rơi. Người vợ lấy bồn cơm để phân bố trong ngoài, lấy bao nhiêu đầy bấy nhiêu không bao giờ cùng tận. Người con cầm đãy vàng trút ra thì tiền vàng chảy ra không ngớt. [150c01] Vợ của con lấy một hộc gạo để bên nội, bên ngoại ăn một tháng mà cũng không hết. Người trai cày, khi cày đất thì liền thành 7 khoảnh. Đứa tớ gái xay nửa lượng đồ hương25 để thoa cho bên nội, bên ngoại của gia đình cũng không giảm hết. Người bốn phương nghe, không ai là không tò mò đến xem.
Vua Bình-sa nghe cũng muốn đến xem. Không thông báo, đột xuất cùng quyến thuộc đến nhà trưởng giả ấy. Ông trưởng giả nghe vua đến, vội ra nghinh đón, thấy vua liền vấn an: “Lành thay đại vương! May mắn thay được đại vương hạ cố!” Nhà vua hỏi: “Ngươi có nghe tin trước ta đến không?” “Tâu đại vương, không nghe.” Nhà vua nói: “Binh mã của ta số đông như thế này nhà ngươi khó có thể phục vụ hết được.” Ông trưởng giả tâu: “Chính thần sẽ phục vụ nhà vua và các đại thần, con thần sẽ phục vụ thái tử, vợ thần phục vụ hậu cung, nô tỳ của thần đủ phục vụ cho tất cả binh sĩ, lúa và cỏ cũng đủ cho voi, ngựa ăn, xin đại vương cứ thân lâm.”
Nhà vua vào nhà ngồi rồi, nói: “Ta nghe ông, tất cả vợ con và vợ của con cũng như tôi tớ đều có phước đức, nay ta muốn thấy những điều đó.” Ông trưởng giả tâu: “Thần không dám che giấu.” Trưởng giả ra lệnh, trừ trong kho gạo, rưới nước quét xung quang rồi trải tòa mời vua vào nhà ngự tòa an tọa. Sau đó trưởng giả vào kho, tự nhiên 5 loại thóc từ trên không trung rơi xuống. Nhà vua lấy làm lạ khen. Nhà vua lại muốn thấy sức mạnh phước đức của vợ ông trưởng giả. Ông trưởng giả liền lấy một cái đồ đựng cơm để trước người vợ, người vợ liền lấy để phân bố tất cả binh lính đều được no đủ, nhưng không hết. Nhà vua lại muốn thấy sức mạnh phước đức của con ông trưởng giả. Ông trưởng giả liền bảo con cầm cái đãy bằng vàng trút vàng ra để dâng cho vua và đại chúng, mọi người đều tùy ý lấy cũng vẫn không hết. Nhà vua lại muốn thấy phước đức của người dâu. Ông trưởng giả liền ra lệnh lấy một hộc gạo để cung cấp cho nhà vua và đại chúng một tháng mà không hết. Nhà vua lại muốn thấy phước đức của đứa ở. Ông trưởng giả ra lệnh cày liền thành 7 khoảnh. Nhà vua lại muốn thấy phước đức của đứa tớ gái. Ông trưởng giả liền ra lệnh bảo xay nửa lượng đồ hương để thoa cho số người trong nửa do-tuần, cũng vẫn không hết. Nhà vua cùng đại chúng thấy phước đức như vậy đều khen ngợi hết lời, rồi trở về cung.
Khi ấy, đức Thế Tôn cùng đông đủ đại Tỳ-kheo Tăng 1250 vị, du hành nơi nhân gian, đến thành Bạt-đề. Trưởng giả Văn-trà nghe đức Phật Thế Tôn nay đến nơi đây, ở dưới cây Võng Lâm, muốn đến cung nghinh lễ bái, thăm hỏi. Các ngoại đạo nghe liền đến nói: “Ông không nên đến cung nghinh Sa-môn Cù-đàm, mà Sa-môn Cù-đàm nên đến yết kiến ông.26 Tại sao vậy? Vì ông phước đức hơn người, tất cả Sa-môn, Bà-la-môn, quốc vương, trưởng giả có ai lại không đến cửa ngõ nhà ông.” Trưởng giả [151a01] nghe như vậy bèn thay đổi ý kiến, sau đó lại nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đến đây đã lâu, không đến yết kiến ta, đạo của Ngài chắc hơn ta, đâu có lý do gì mà ta ngồi yên, không đến kính lễ Người?”
Trưởng giả liền sửa soạn xe cộ để đến. Từ xa trông thấy nhan dung của đức Thế Tôn thù đặc, giống như núi vàng, liền đến trước đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng qua một bên. Đức Phật vì ông nói các pháp nhiệm mầu… cho đến khổ, tập, tận, đạo. Từ chỗ ngồi, ông liền đắc con mắt pháp trong sạch, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật: “Con xin thỉnh Phật và Tăng thọ trai vào ngày mai.” Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng.
Trưởng giả trở về nhà sửa soạn nhiều thức ăn ngon bổ, sáng ngày, khi làm thức ăn xong, đích thân đến bạch Phật: “Cúi xin Thế Tôn tri thời.” Đức Phật cùng Tỳ-kheo Tăng kẻ trước người sau vây quanh, đến nhà thí chủ, an tọa nơi tòa. Ông Trưởng giả tự tay sớt thức ăn, ăn xong lấy nước rửa, rồi cùng kẻ lớn người nhỏ trong gia đình đến ngồi trước Phật, Phật vì họ nói các diệu pháp…cho đến câu: khổ, tập, tận, đạo. Họ đều đặng con mắt pháp trong sạch, thọ Tam quy Ngũ giới.
Ông Trưởng giả bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn, vợ và con của con, con dâu, cũng như tôi tớ, có được phước đức tự thân, vậy phước đức này đến là do sức phước của ai? Xin đức Phật dạy cho.” Đức Phật bảo: “Các ngươi cùng có phước đức này.” Ông Trưởng giả lại hỏi: “Tại sao gọi là cùng có?” Đức Phật dạy: “Xưa kia nơi thành Vương Xá có một người thợ dệt, có vợ, vợ có một người con trai, đứa con trai lại cũng có vợ, gia đình có một đứa ở và một đứa tớ gái. Trong một bữa cơm cùng ăn, có một vị Phật Bích-chi đến khất thực.27 Người thợ dệt nói: ‘Các người cứ ăn, lấy phần ăn của ta cúng cho sư.’ Người vợ nói: ‘Lấy phần ăn của tôi để cho.’ Người con cho đến đứa tớ gái cũng đều nói như vậy. Đức Phật Bích-chi nói: ‘Quý vị đều đã nhịn phần của mình để cho tôi, thiện tâm đầy đủ, vậy mỗi người có thể sớt một ít cho tôi, khiến cho quý vị không thiếu mà tôi cũng được no.’ Mỗi người đều lấy một muỗng thức ăn của mình để vào bát của Phật Bích-chi, đầy bát, Phật Bích-chi nhận được thức ăn, ăn rồi, ở trong hư không hiện các thứ thần biến, sau đó đức Phật ra đi.
Gia đình ấy sau khi mạng chung sanh lên cõi trời Tứ thiên vương, đời sống hết, sanh nơi trời Đao-lợi, lần lượt sanh đến cõi trời Tha hóa tự tại, bảy phen như vậy, dư phước mới sanh lại cõi này, quyến thuộc của người thợ dệt lúc bấy giờ, nay là các ngươi.”
Lúc ấy ông trưởng giả, trước mặt đức Phật, thỉnh Tăng: “Nay con xin được thỉnh tất cả Tăng để con tu thí vô hạn, nếu cần dùng thứ gì, tùy thời, nhiều hay ít cứ đến nơi nhà con nhận.” Các Tỳ-kheo không dám thọ, nghĩ rằng: “Đức Phật chưa cho phép chúng ta nhận vật cúng dường không có mức lượng,” bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tùy ý nhận.”
Có các Tỳ-kheo muốn đi xa, đến xin lương thực đi đường, trưởng giả liền sai người đem biếu vàng, bạc, tiền, phẩm vật, tiễn đưa. Chuyến đi đã hoàn tất[151b01] mà lương thực còn dư nhiều, sai người đem trả lại, nói: “Lương thực đi đường nay còn dư nhiều, xin hoàn lại”. Ông trưởng giả nói: “Con đã cúng dường, không nên trả lại, thầy cứ đem về Tăng phường để cúng cho Tăng.” Sứ giả đem cúng cho Tăng, các Tỳ-kheo không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tịnh nhân của Tăng vì Tăng nhận, đổi lấy vật Tăng cần dùng, các Tỳ-kheo không nên biết việc này.”
Bấy giờ đức Thế Tôn từ Võng Lâm du hành trong nhân gian, trưởng giả Văn-trà chở đầy thức ăn theo sau, dự tính đến vùng hoang dã, chỗ không người, sẽ dâng cúng 1250 thớt voi, 1250 con bò cái, 1250 con bò đực, người áp tải 500 cỗ xe, với các thức ăn ngon bổ. Khi đến vùng hoang dã, thuần khiết, dừng lại để nghỉ, suốt đêm sửa soạn thức ăn, sáng sớm, dưới mỗi bóng mát của một thớt voi, trải tòa cho một Tỳ-kheo ngồi. Ngay bóng mát của con voi chúa lớn nhất, trải tòa thỉnh đức Thế Tôn ngồi.
Đến giờ mời Phật và Tăng thọ trai, các Tỳ-kheo không dám ngồi, nghĩ rằng: “Đức Phật chưa cho phép chúng ta ngồi dưới bóng mát của chúng sanh.” Bạch Phật, Phật cho phép ngồi. Đại chúng ổn định chỗ ngồi xong, trước hết ông trưởng giả sai vắt sữa một con bò, cúng cho một Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không dám thọ, nghĩ rằng: “Đức Phật chưa cho phép chúng ta uống sữa còn nóng của bò,28 bạch Phật, Phật cho phép uống. Uống rồi, ông trưởng giả tự tay dâng thức ăn, ăn xong lấy nước rửa, rồi ngồi trước đức Phật, Phật vì trưởng giả nói kệ tùy hỷ, như đã nói cho Tỳ-lan-nhã, lại vì ông nói các diệu pháp, chỉ dạy sự lợi ích, vui vẻ rồi, trưởng giả trở về nhà.
7. Tám thứ nước
1. Đức Phật cùng đại chúng từ tòa đứng dậy, tuần tự đi về phía Bắc, hướng đến trú xứ của ngoại đạo bện tóc Kế-na.29 Kế-na nghe đức Phật từ dòng họ Thích xuất gia thành bậc Như lai Ứng cúng Đẳng chánh giác, chiều này sẽ đến, tác ý: “Đời quá khứ các vị Tiên tu phạm hạnh, sau giữa ngày không ăn, mà uống các thứ nước phi thời như: Nước trái Am-bà, nước trái Diêm-bà, nước trái Châu-đà, nước trái Ba-lâu, nước trái Bồ đào, nước trái Câu-la, nước Cam giá, nước mật.30 Sa-môn Cù-đàm cũng nên dùng thứ này, ta nên chuẩn bị thiết đãi.” Sửa soạn xong, cùng năm trăm đệ tử ra nghinh đón đức Thế Tôn.
Từ xa trông thấy nhan dung đức Thế Tôn thù đặc giống như núi vàng, càng sanh hoan hỷ, đến trước đức Phật đứng yên, kính cẩn chào: “Lành thay, đức Cù-đàm đến đây! Mời Ngài hạ cố vào nhà tôi ngồi.” Đức Phật cùng các Tỳ-kheo vào nhà theo thứ tự an tọa. Phạm-chí đem nước phi thời dâng cúng, các Tỳ-kheo không dám thọ, nghĩ: “Đức Phật chưa cho phép chúng ta uống nước phi thời,” [151c01] bạch Phật, Phật cho phép uống. Các Tỳ-kheo lại bạch Phật: “Do nhân duyên gì mà được uống?” Đức Phật dạy: “Vì khát nên được uống.” Phạm-chí lại khởi ý nghĩ: “Nay ta nên vì các Sa-môn Cù-đàm chuẩn bị thức ăn của người tiên để cúng dường vào ngày mai, như cơm gạo không có nhựa, gạo tẻ, gạo có chất đắng, gạo tú, gạo Câu-lưu.”31 Sáng ngày sửa soạn xong, thỉnh Phật và đại chúng đến phó trai, tất cả an tọa nơi tòa. Phạm-chí tự tay sớt thức ăn. Các Tỳ-kheo không dám thọ thực, nghĩ: “Đức Phật chưa cho phép ăn thức ăn của Tiên nhơn”, bạch Phật, Phật cho phép dùng. Ăn xong, lấy nước rửa rồi Phạm-chí lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức Phật. Đức Phật nói bài kệ tùy hỷ, như đã vì Tỳ-lan-nhã nói. Phật lại vì Phạm-chí nói các pháp nhiệm mầu, chỉ dạy sự lợi ích, vui vẻ rồi, Phạm-chí đứng dậy đi về thôn xóm A-mâu.32
2. Khi ấy, nơi xóm này có cha con người thợ hớt tóc xuất gia, nghe đức Thế Tôn sắp đến, liền bàn tính: “Nơi đây các cư sĩ không kính Tam bảo, nếu đức Phật đến đây, chắc không ai cúng cháo,33 cha con mình nên cùng nhau đi hớt tóc để lấy tiền làm việc đó.” Bàn tính xong liền vội thực hiện và có đủ tài vật để thiết cúng cháo. Sáng sớm thỉnh Phật và Tăng. Sau khi Tăng ăn rồi, đức Phật hỏi hai Tỳ-kheo: “Tại sao hai vị có phương tiện để cúng cháo này?” Hai Tỳ-kheo (cha con người thợ hớt tóc) đem sự thật bạch Phật. Đức Phật bằng mọi cách quở trách: “Hai ông làm việc phi pháp, tại sao làm việc cúp tóc thuê cho bạch y. Từ nay, nếu thợ hớt tóc xuất gia, không cho phép chứa cất dụng cụ hớt tóc,34 vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
3. Trên lộ trình đến ấp Ba-tuần,35 các lực sĩ36 nơi ấp này nghe đức Phật sắp đến, liền cùng nhau nghị bàn: “Nếu ai không ra nghinh đón đức Phật sẽ bị phạt năm trăm kim tiền”,37 nên tất cả lớn nhỏ đều ra nghinh đón đức Thế Tôn, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì họ nói các diệu pháp, chỉ dạy sự lợi ích, họ vui mừng rồi, liền thỉnh Phật và Tăng hạ an cư bốn tháng. Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng. Các lực sĩ biết đức Phật nhận lời rồi, hoặc một người sắm sửa thức ăn một ngày, hay hai ngày, cho đến 10 ngày, hoặc hai người cùng sắm sửa thức ăn một ngày, cho đến mười người cùng sắm sửa thức ăn một ngày, hoặc chỉ cúng dường bữa ăn trước, hoặc chỉ nấu cháo, hoặc chỉ làm Đát-bát-na. Khi ấy, có một người tự là Lô-di,38 là bạn thân của tôn giả A-nan, khi còn bạch y, hỏi các Tỳ-kheo: “Ông A-nan nay làm gì, ở đâu?” Được trả lời rằng: “Tôn giả A-nan kính Phật, Pháp, Tăng, nay đứng phía sau đức Phật.”
Lô-di liền đến chỗ tôn giả A-nan, kính lễ sát chân rồi đứng lui qua một bên. Tôn giả A-nan nói: “Thấy bạn nghinh đón đức Phật tôi rất vui mừng!” Lô-di trả lời: “Tôi đến không phải vì kính đức Phật, chỉ vì sự quy định của thân tộc, nếu không đón đức Phật sẽ bị phạt 500 kim tiền, [152a01] cho nên tôi đến.” Tôn giả A-nan thất vọng khi nghe thế, nghĩ tại sao bạn thân của mình mà không kính đức Phật, Pháp và chúng Tăng! Tôn giả liền đến bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, con mong muốn bạn con kính tin Phật pháp.” Đức Phật nói với tôn giả: “Bạn thầy tin Phật, không phải là điều khó, thầy chớ ôm lòng buồn lo.” Đức Phật liền dùng lòng từ rải khắp nơi thân của Lô-di rồi vào phòng đóng cửa an tọa. Sau đó, Lô-di suy nghĩ: “Đức Thế Tôn như con trâu mẹ quyến luyến trâu con.”39 Lô-di thấy số đông Tỳ-kheo đi kinh hành nơi đất trống, hỏi: “Đức Phật ở đâu?” Các Tỳ-kheo chỉ nơi phòng và nói: “Ngài ở nơi phòng lớn, cửa đóng đó, ông có thể đi nhẹ nhẹ đến đó, tằng hắng hay gõ cửa, đức Thế Tôn dũ lòng thương đối với ông, sẽ mở.”
Lô-di làm theo lời hướng dẫn, cửa phòng được mở. Sau khi vào phòng, Lô-di tay ôm chân đức Phật, tự xưng tên họ, cúi đầu kính lễ. Đức Phật vì Lô-di nói các pháp mầu, chỉ dạy điều lợi ích giúp Lô-di an vui, như nói việc bố thí, cho đến nói khổ, tập, tận, đạo. Lô-di liền xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch; thấy pháp đắc quả rồi thọ Tam quy, Ngũ giới, bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, con xin được thỉnh Phật và Tỳ-kheo Tăng luôn luôn nhận thức ăn nơi con, đừng nhận nơi khác.” Đức Phật dạy: “Các học nhơn (người học đạo) đều có lời nguyện này, Ta đã nhận lời những người này mời bốn tháng Hạ, không thể thất hứa.”40 Lô-di khởi ý nghĩ: “Có thức ăn nào chưa có người cúng, ta sẽ cúng để khỏi mất phước điền này?” Khư-đà-ni41 là món duy nhất chưa thấy ai cúng dường. Món ăn này liền được sắm sửa và Lô-di vội đem đến cúng dường. Các Tỳ-kheo không dám nhận và nghĩ: “Đức Phật chưa cho phép chúng ta ăn Khư-đà-ni”, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép được dùng.”
4. Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu42 dâng cúng trai phạn cho Tăng có hạn lượng, lại định rõ thời gian và địa điểm đến nhận. Các Tỳ-kheo bạch Phật, “Phật cho phép nhận.”
5. Có các cư sĩ thỉnh các Tỳ-kheo cúng dường theo ý của mình. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên nhận theo ý của người cúng. Người cúng không nên dùng vàng, bạc, vật báu, nữ sắc cúng cho Tăng. Nếu Tỳ-kheo nào thọ cúng dường như vậy phạm Đột-kiết-la. Vị nào thọ, như pháp trị.”
6. Có các bạch y theo thứ tự thỉnh Tăng, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nên theo thứ tự sai thọ.” Các Tỳ-kheo không biết sai ai, bạch Phật, Phật dạy: “Nên Bạch nhị yết-ma, sai một Tỳ-kheo làm người sai thọ thỉnh. Một Tỳ-kheo xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo… làm người sai thọ thỉnh. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! [152b01] Nay Tăng sai Tỳ-kheo… làm người sai thọ thỉnh. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã sai Tỳ-kheo… làm người sai thọ thỉnh rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Các Tỳ-kheo lại sai Tỳ-kheo vô trí không biết thứ tự, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên sai Tỳ-kheo vô trí. Người có 5 pháp không nên sai: làm theo ý muốn, làm theo sự giận hờn, làm theo sự si mê, làm theo sự sợ sệt, không biết đã sai hay chưa sai.” Có các bạch y thường làm thức ăn tặng cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không biết nên như thế nào, bạch Phật, Phật cho phép thọ. Có các bạch y vì Tăng làm các phòng xá, ôn thất,43 phòng tắm rồi, làm thức ăn dâng cúng nơi phòng đó, khiến các Tỳ-kheo đến nhận, các vị không biết ai nên đến nhận, bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo nào ở nơi phòng đó thì nên đến nhận.”
8. Tịnh – bất tịnh
1. Đức Phật ở Tỳ-xá-ly, bấy giờ gặp lúc đói khổ, mất mùa, khất thực khó được, các Tỳ-kheo Phạm-chí khởi ý nghĩ: “”Nếu đức Thế Tôn cho phép chúng ta trồng cây ăn trái thì có thể tránh khỏi nạn đói”, bạch Phật: “Phật cho phép trồng.” Khi cây có trái, vì các Tỳ-kheo tự tay trồng nên nghi không dám ăn, bạch Phật: “Phật cho phép tùy ý ăn.”44 Có các Tỳ-kheo trèo lên cây lấy tay bóp thử xem trái đã chín chưa, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên leo lên cây đụng chạm đến trái.” Có các Tỳ-kheo thấy trái rụng nơi phi tịnh địa, bảo người lượm dồn lại một đống để cách đêm, không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu không biết nơi đất đó là tịnh hay phi tịnh thì cho phép ăn; nếu biết chỗ đất đó chẳng phải tịnh thì không nên ăn.”
2. Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo lấy trái tốt ăn trước, các thiện Tỳ-kheo khác không được ăn, bạch Phật, Phật dạy: “Nên Bạch nhị yết-ma sai một Tỳ-kheo làm người chia trái. Nếu trái nhiều thì nên tùy ý ăn.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo lấy trái của Tăng đem tặng bạch y, bạch y lại đến các Tỳ-kheo khác xin, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên lấy trái của Tăng tặng cho bạch y, nếu vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các bạch y đến trong Tăng phường thấy trái cây, xin các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không dám cho, họ cơ hiềm, bạch Phật, Phật dạy: “Nên cho.”
3. Đức Phật ở Tỳ-xá-ly, khi ấy gặp lúc đói khổ, mất mùa, khất thực khó được, nên Tỳ-kheo Phạm-chí khởi ý niệm: “Nếu đức Thế Tôn cho phép chúng ta trồng rau thì có thể đủ ăn”, bạch Phật, Phật dạy: cho phép trồng (như trường hợp trồng cây ăn trái đã nói). Bạch y trồng rau trên đất của Tăng, nếu Tăng cần thì được xin ba lần.
4. [152c01] Các Tỳ-kheo bảo tịnh nhân rửa rau chỗ chẳng phải tịnh, rửa chưa xong, tướng ánh sáng xuất hiện, sanh nghi, bạch Phật, Phật dạy: “Không phạm.” Không có tịnh nhân, các Tỳ-kheo không biết bảo ai dâng thức ăn cho Tăng, bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo nên thọ rồi tự tiện dùng.”
5. Có các đồ bằng gỗ dùng để thọ thực bị nhơ nhớp không sạch, vì chất béo, dùng gạch đá chùi rửa, đồ dùng thọ thực bị bể, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên dùng gạch, đá để chùi rửa, nên dùng tro và nước nóng để chùi rửa.” Có bình đựng bơ, dầu, mật cần đậy lại mà không có tịnh nhân, bạch Phật, Phật dạy: “Nên dùng vật mới để đậy, đừng cho đụng tay vào.” Có cái bình bị nghiêng đổ bất ngờ, không có tịnh nhơn để đỡ lên, bạch Phật, Phật dạy:
“Nên tự mình đỡ lên, nhưng đừng để cho vật kia rời đất.”
6. Có một Tỳ-kheo hiềm giận vị khác, đem bình đựng bơ của vị ấy để chỗ phi tịnh địa, cách đêm, muốn cho vị kia không ăn trở lại được, bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo đem để đó bị bất tịnh, Tỳ-kheo chủ của bình bơ được ăn; vị đem đến chỗ bất tịnh, phạm Đột-kiết-la.” Các Tỳ-kheo dùng thuyền, xe chở thức ăn, không có tịnh nhân lái, bạch Phật, Phật dạy:
“Nếu không có tịnh nhân thì cho phép Tỳ-kheo tự lái.”
7. Bấy giờ, chúng Tăng muốn dùng xe chở gạo, có một Bà-la-môn dùng một nắm gạo bất tịnh của Tăng ném vào trong xe, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu có thể để riêng càng hay, bằng không thì bỏ ra một nắm.”
8. Có con cáo đồng lấy trộm bình bơ của Tỳ-kheo, đem để chỗ bất tịnh, cách đêm, không biết nên như thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép ăn, không phạm.”
9. Có thân cây ăn trái mọc nơi bất tịnh địa, cái nhánh phủ qua nơi tịnh địa, Tỳ-kheo cũng ở trên đất bất tịnh, đem thức ăn treo trên nhánh cây, cách đêm, không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Nhánh cây của thân cây từ bất tịnh địa, không được ăn.” Có thân cây ăn trái mọc nơi đất tịnh, nhánh cây phủ qua đất bất tịnh, Tỳ-kheo cũng ở nơi đất tịnh, đem thức ăn treo trên nhánh cây, cách đêm, không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép ăn, không phạm.” Có cây ăn trái mọc chỗ tịnh, bất tịnh, nhánh cây phủ qua chỗ tịnh, bất tịnh, Tỳ-kheo cũng tùy theo ở chỗ tịnh, bất tịnh, trái cây rụng nơi tịnh, bất tịnh, cách đêm, không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Không luận Tỳ-kheo ở chỗ nào cũng đều được ăn, không phạm.”
10. Có Tỳ-kheo lấy đất nơi tịnh địa, cất thất nơi bất tịnh địa, Tỳ-kheo đem thức ăn để trong đó, gọi là tịnh, bạch Phật, Phật dạy: “Vốn nương nơi đất tịnh hay bất tịnh, không được ăn.” Có Tỳ-kheo lấy đất nơi bất tịnh, [153a01] cất thất nơi tịnh địa, không dám đem thức ăn để trong đó, bạch Phật, Phật dạy: “Để thức ăn, không phạm.”
11. Có con hươu, con nai… chết trôi, không có tịnh nhân lấy, Tỳ-kheo tự lội xuống nước vớt lấy, không biết nên thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Đến nơi bờ, khiến tịnh nhân cắt bỏ chỗ mà tay Tỳ-kheo cầm, ngoài chỗ đó ra ăn không phạm.”
12. Có trú xứ, Tỳ-kheo có nhiều xoài, ăn còn dư cho tịnh nhân, sáng hôm sau tịnh nhân đem nấu canh, dâng cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không dám ăn, bạch Phật, Phật dạy: “Không có ý ăn trở lại, đều cho phép ăn, không phạm.”
13. Có các Tỳ-kheo, khi ăn không chia cho người không nhận được thức ăn, các bạch y cơ hiềm nói: “Sa-môn Thích tử giống như mèo, chồn, ăn không chia cho nhau.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Nên chia cho nhau, cho đến không chia cho một người, phạm Đột-kiết-la.”
14. Có một Bà-la-môn đem lương khô gởi cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đem để ở chỗ bất tịnh, cách đêm; sáng ngày đến lấy phân chia cúng cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nghĩ, mình đã đem về để chỗ phi tịnh địa nên không nhận để ăn, bạch Phật, Phật dạy: “Vốn là lương khô của bạch y, cho phép nhận để ăn, không phạm.” Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo: “Tuy là điều chính ta chế cấm, mà nơi khác không cho đó là thanh tịnh, đều không nên dùng; tuy chẳng phải là điều chính ta chế cấm, mà nơi khác thấy cần nên làm, đều không được không làm.”
[1] Hán: Bì cách pháp 皮革法, Pāli: Cammakkhandhaka.
[2] Ma-ha Ca-chiên-diên 摩訶迦旃延. Pāli: Mahākaccāyana.
[3] Tứ phần: A-bàn-đề quốc, 阿槃提國. Pāli, Vin. i. 194, Avantī.
[4] Hán: A-thấp-ba A-vân-đầu quốc Ba-lâu-đa sơn 阿濕波阿雲頭國波樓多山. Tứ phần 38, tr. 845b7: Câu-lưu Hoan hỷ sơn khúc 拘留歡喜山曲. Pāli, Vin. i. 194: Kuraraghare papāte pabbate, trên sườn núi Papāta, thị trấn Kuraraghara.
[5] Tứ phần: Ức Nhĩ ưu-bà-tắc 億耳優婆塞. Tăng-kỳ 23: trưởng giả Thát-bà 闥婆, người ở nước Thâu-na 輸那國土. Bấy giờ Phú-lâu-na 富樓那 đang du hóa ở đây. Pāli, Vin. i. 194,Soṇa Kuṭikaṇṇa.
6 Tăng-kỳ 23: Thát-bà, hành sa-di 7 năm. Tứ phần 39: Ức Nhĩ ba năm mới được thọ đại giới.
7 Tứ phần: Y được dành cho Tỳ-kheo vắng mặt tại trú xứ cũ.
8 Tứ phần 39, tr. 845b25: “1. Tại nước A-thấp-bà A-bàn-đề ít Tỳ-kheo, nên thọ đại giới khó khăn, ba năm mới tổ chức được. Tại sao như vậy? Vì không đủ Tăng mười vị. Từ nay về sau, cúi xin đức Thế Tôn phương tiện khai cho thế nào để nước A-thấp-bà A-bàn-đề được thọ đại giới dễ dàng.”
2. A-thấp-bà A-bàn-đề nhiều gai gốc, sỏi đá; dép một lớp dễ bị hư rách. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép mang dép hai lớp.
3. A-thấp-bà A-bàn-đề người đời ưa tắm. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo thường thường tắm rửa.
4. Như các phương khác có những loại ngọa cụ tốt như y-lê-diên-đà, mạo-la, mạo-mạo-la, cù lâu như vậy. Nước A-thấp-bà A-bàn-đề cũng dùng da làm ngọa cụ như da sơn dương, da cừu, da hươu. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép được dùng ngọa cụ bằng da.
5. Có Tỳ-kheo đến địa phương khác. Sau đó, trú xứ cũ được y, không dám nhận; vì sợ phạm ni-tát-kỳ. Cúi xin đức Thế Tôn phương tiện khai cho được nhận.”
9 Tứ phần 39, tr. 835c22: Thập lục cú nghĩa 十六句義. Thập tụng 25 tr. 181b25: Ba-la-diên-tát-giá-đà-xá-tu-đố-lộ 波羅延薩遮陀舍修妒路. Pāli, Vin. i.196, Aṭṭhakavaggikāni, được hiểu là Nghĩa phẩm, hay Bát kệ phẩm, gồm 16 kinh, 210 kệ, Phẩm thứ tư thuộc bộ Suttanipāta.
10 Hán: Trì luật ngũ nhân 持律五人. Nên hiểu, thứ năm là người trì luật. Tăng năm người, có một người trì luật. Không đòi hỏi tất cả năm vị đều là trì luật. Do đó không nên hiểu nhóm từ Hán này là “Năm người trì luật.” Thập tụng 25 (tr. 181c29): Trì luật đệ ngũ 持律第五. Cf. Vin. i. 197: vinayadharapañcamena.
11 Mụt ghẻ, Hán: sang 瘡. Có thể ẩn ý là sang môn 瘡門 “nữ căn” bò cái.
12 Ương-già: Xem cht. 27, Ch. v trước.
13 Chiêm-bà: Xem cht. 27, Ch. v trước.
14 Thủ-lung-na 守籠那. Pāli (Vin. i. 179): Soṇo-Koḷiviso seṭṭhi-putto, Soṇa-Koḷivisa, con trai của một nhà phú hộ. Trung A-hàm, kinh 123: Sa-môn Nhị Thập Ức 沙門二十億. Bì cách sự 2, (T23n1447) tr. 1055c14: Câu-chi Nhĩ 俱胝耳; tr. 1055c25: Ức Nhĩ 億耳.
15 Tứ phần 38, tr. 843b24: “Lòng vua rất hoan hỷ, liền ban cho những lợi ích trong đời hiện tại.” Pāli, cho 80 ngàn thôn trưởng.
16 Bà-kiệt-đà 婆竭陀. Tứ phần: Ta-kiệt-đà 娑竭陀. Pāli: Sāgata. Truyện về vị thị giả này, xem Phần I, Ch. v, Ba-dật-đề 57 (Tỳ-kheo uống rượu).
17 Tứ phần: “Ông đến nơi nhà mát trải chỗ ngồi. Ta sẽ đến đó.”
18 Ưu-vi Ca-diếp 優為迦葉: Xem cht. 114, Ch. i trước.
19 Tỳ-bà-thi 毘婆尸. Pāli: Vipassia.
20 Tứ phần 38, tr. 844a9: “Thủ-lung-na ba lần thưa xin cha mẹ như vậy, cha mẹ vẫn không cho.”
21 Thi-đà lâm尸陀林. Pāli: Sītavana, bãi tha ma ngoại thành Vương Xá. Chỗ thiêu vất xác người chết.
22 Tứ phần 38, tr. 844c01: “Cũng vậy, này Thủ-lung-na, nếu tinh tấn quá thì bị chao động. Ít tinh tấn thì sanh biếng nhác. Nên tinh tấn vừa phải đối với các căn.” Cf. Vin.i. 183:accāraddhavīriyaṃ uddhaccāya saṃvattati, atilīnavīriyaṃ.
23 Ở đây, sự sắp xếp không mạch lạc như bên Tứ phần.
24 Hán: Ca-thi thảo迦尸草. Pāli: Kāsi là một loại trúc, còn là tên nước Ca-thi, một trong 16 nước lớn Ấn Độ vào lúc bấy giờ.
25 Văn-nhu thảo文柔草. Pāli: Muñja, một loại cỏ được sử dụng để làm dép.
26 Cưu-thi thảo鳩尸草. Pāli: Kusa, một loại cỏ thơm.
27 Đâu-la: Xem Phần I, Ch. v, Ba-dật-đề 84.
28 Phú-la 富羅; Phiên Phạn ngữ 2 (T54n2130, tr. 997b13): “Phú-la, dịch là mãn 滿, Skt. pūra? (dẫn Thập tụng 9, tr. 65a15: dùng da thuộc khâu lại làm giày phú-la).” Nhất thiết kinh âm nghĩa (T54n2128, tr. 740b7): phú-la, các phiên âm khác: phúc-la 福羅/腹羅, bố-la 布羅, một loại ủng cổ ngắn (đoản áo ngoa 短靿靴). Skt. pūlā. Tứ phần: Phú-la-bạt-đà-la 富羅跋陀羅. Pāli, ibid., puṭabaddha, một loại giày ống, cao đến đầu gối. Phiên phạn ngữ 10 (tr. 1052a11): phúc-la bạt-đà-la thảo tỷ 腹羅跋陀羅草屣; nên đọc là đâu-la-bạt-la, dây làm bằng sợi gòn. Tức loại dép cỏ có dây buộc làm bằng gòn. Thiện kiến 17, ibid.: dép phúc-la-bạt-đà-la, dùng bông gòn và các tạp vật may chung với da, khiến cho ở giữa nổi cộm lên.
29 Ly-bà-đa 離婆多. Pāli: Revata.
30 Tịnh nhân: Xem cht. 109, Phần I, Ch. iv.
31 Bản Hán, hết quyển 21.
[7] Hán: Dược pháp 藥法Pāli: Bhesajjakkhandhaka, chương nói về thuốc
[8] Hán: Tô 酥 (bơ), du 油 (dầu), mật 蜜, thạch mật 石蜜 (đường mía thẻ). Pāli: Sappi, Tela, Madhu, Phāṇita.
[9] Tứ phần 42, tr. 869b26: “Có năm thứ thuốc người đời thường dùng là bơ, dầu, mật, bơ lỏng, đường mía. Ta nên cho các Tỳ-kheo dùng để làm thuốc chữa bệnh gầy ốm, như phương pháp dùng lương khô vậy.” Tham chiếu Pāli, Vin. i. 199: bhesajjāni ceva bhesajjasammatāni ca lokassa āhāratthañ ca pharanti na ca oḷāriko āhārako paññāyati, “Đây là những thứ mà thế gian xem là thuốc, có thể sung làm thức ăn, nhưng không được kể như là thức ăn chính.”
[10] Thạch mật 石蜜. Pāli (Skt.) phāṇita, mật mía, đường mía; đường thẻ hay đường cát thô.
[11] Trái Ha-lê-lặc, A-ma-lặc: Xem cht. 330, 331, Phần I, Ch. v.
[12] Tỏi 蒜. Pāli: Lasuṇa, tỏi để ăn và làm thuốc.
7 Tứ phần 42, tr. 866c19: Kiết-la-la 吉羅羅 = nhũ 乳. Pāli: khīra, sữa tươi (người, trâu, bò, dê). Sữa nói chung.
8 Tứ phần 42, tr. 866c29: Hoạn phong 患風. Skt. vāyvādhika, chứng thống phong, bệnh gút.
9 Hán: Xích bạch diêm赤白鹽. Tứ phần 42, tr. 867b14: “Minh diêm 明鹽, hắc diêm 黑鹽, hoàn diêm 丸鹽, lâu-ma diêm 樓鹽. Skt. romaka, muối của người La-mã (nhập); chi-đầu-bệ diêm 支頭鞞鹽, lỗ diêm 鹵鹽, hôi diêm 灰鹽; tân-đà-bà diêm 新陀婆鹽, saindhava, muối biển, đặc biệt vùng Shindu; thi-lô-bệ diêm 施盧鞞鹽, hải diêm 海鹽.” Pāli: bilaṃ, là một trong năm loại muối: “sāmuddaṃ (muối biển), kāḷaloṇaṃ (muối đen), sindhavaṃ (muối đá), ubbhidaṃ (muối ăn), bilaṃ (muối đỏ). Dược sự 1 (T24n1448, tr. 1b27), năm loại muối: ô diêm 烏鹽; xích diêm赤鹽; bạch thạch diêm 白石鹽; chủng sanh diêm 種生鹽; hải diêm 海鹽. .
10 Tứ phần 42, tr. 866c15: Hủ lạn dược 腐爛藥. Pāli: pūti-mutta (Skt. pūti-mukta-bhaiṣajya), cũng dịch là trần khí dược. PTS định nghĩa: nước tiểu của gia súc được dùng làm thuốc.
11 Tứ phần 42, tr. 867b17: Hôi dược 灰藥. Các loại hôi dược: tát-xà 薩闍; (Skt. sarja), tân-na 賓那; ba-la-ma 波羅摩. Skt. kṣāra, tinh chất lấy được từ chưng cất hay đốt thành tro;Dược sự 1, có năm loại: tro vỏ trấu (Skt. yavakṣāra), tro râu lúa (Skt. yavāṣūkakṣāra), tro dầu mè (tilakṣāra), tro từ cỏ ngưu tất (sarjikākṣāra), tro lá cây bà-sa (vāsakākṣāra), một loại hương liệu, tên khoa học Gendarussa Vulgaris hay Adhatoda Vasica.
12 Hán: Khổ tửu 苦酒.
13 Hán: Thổ hạ dược吐下藥, một loại thuốc xổ.
14 Thất nhật dược 七日藥: Thuốc chỉ dùng uống trong thời gian bảy ngày như: Tô, dầu, sanh tô, mật, thạch mật cùng các loại. Pāli: sappi, navanaṃ, telaṃ, madhu, phāṇitaṃ.
15 Chung thân dược 終身藥: Những loại thuốc dùng uống trọn đời như: Rễ, cành, hoa, quả của các thứ dược vật cùng năm loại muối. Xem cht. muối (9) trước.
[13] Tứ phần 42, tr. 866c07: Các loại thức ăn này được liệt vào chương Thuốc.
[14] Tứ phần 42, tr. 866c11: “Cho phép ăn thức ăn do khất thực được, gồm có năm loại thức ăn.” Đây chỉ năm loại chánh thực, hoặc âm là bồ-xà-ni, Pāli: bhojana, chỉ thức ăn mềm.
[15] Lương khô: Xem cht. 197, Phần I, Ch. v.
[16] Sữa tươi, sữa đông, Hán: nhũ lạc 乳酪. Pāli: khīra, sữa tươi; dadhi, sữa đông.
5 Tứ phần: Thế Tôn ở tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ gặp lúc mất mùa, lúa gạo khan hiếm, khất thực khó được.
6 Hoạn phong: Xem cht. 8, Ch. vii trước.
7 Tứ phần: Tô-tỳ 蘇卑. Pāli, Vin. i. 216ff. Suppiyā.
8 Tứ phần 42, tr. 868b21: Thịt rồng. Chính xác, nên hiểu là thịt rắn. Cf. Mahāvagga vi, Vin. i. 220.
9 Tứ phần 42, tr. 868b21: Thiện Hiện Long vương善現龍王. Pāli, Vin. i. 219, Supassa. Hán đọc Sudassa(na) là Thiện Hiện 善現.
10 Tứ phần 42, tr. 868b29: “Đừng cho Tỳ-kheo ăn thịt rắn.” Thập tụng 26 (tr. 186c29): “Rắn và rồng, đều cùng một giống cả.”
11 Tứ phần: “Từ nay về sau không được ăn thịt loài rồng”.
12 Chánh thú, chánh hướng 正趣正向: Pāli: ujupaṭipanna, ñāyapaṭipanna, sống chánh trực, đi đúng hướng.
13 Tứ phần 42, tr. 869c23: Cư sĩ Tư-ha-tỳ-la 私呵毘羅. Là người huấn luyện voi như truyện đã kể có khác với Ngũ phần; nhưng sự kiện và hiện tượng đem đường cát đen còn dư đổ vào chỗ nước không trùng thì giống nhau.
14 Tứ phần: Hắc thạch mật 黑石蜜; đường chưa tinh luyện. Pāli: gula. Phân biệt với thạch mật, tức mật mía. Pāli: phāṇita.
15 Hán: Sư Tử 師子. Tứ phần 42, tr. 871b08: Tư-ha tướng quân 私呵將軍. Pāli, Vin. i. 233, Sīhasenapati; vị tướng quân người Licchavī (Lê-xa), ở Vesāli; đệ tử của Nigaṇṭha (Ni-kiền). Xem Trung A-hàm 4, kinh số 18 “Sư Tử” (T1, tr. 440c); Pāli, A. viii. 12 Sīha.
16 Ni-kiền: Xem cht. 158, Phần III, Ch. i trước.
17 Hán: Tam chủng nhục bất đắc thực三種肉不得食. Tứ phần 42, tr. 872b04: “Từ nay về sau, nếu có thí chủ vì mình cố ý giết thì không được ăn. Vì mình cố ý giết ở đây là cố ý thấy, cố ý nghe, cố ý nghi. Có ba nhân duyên như vậy là thịt bất tịnh, Ta nói không được ăn.”
18 Ca-di: Xem cht. 146, Phần I, Ch. ii.
19 Câu-tát-la: Xem cht. 60, Phần I, Ch. i.
20 Bạt-kỳ quốc 跋耆國 (xem cht. 119, Phần I, Ch. i). Tứ phần: Bạt-đề 跋提. Pāli: Bhaddiya, thành phố thuộc vương quốc Aṅga (Ương-già).
21 Tô-ma: Xem cht. 142, Phần I, Ch. iv.
22 Tịnh địa 淨地; Pāli, Mahāvagga vi, Vin. i. 239, kappiyabhūmi, khu đất được dành riêng. Hành sự sao 10 (tr. 119b14) giải: “Nghiệp là uế, nên nói là bất tịnh.” Nhưng chữ Hán nói là tịnh trong tịnh trù, tịnh khố, tác tịnh, đều dịch ý tiếng Phạn kalpa (Pāli: kappa), nghĩa chính là “tư duy phân biệt” (Nghĩa Tịnh dịch là phân biệt), theo đó, vật tịnh, hay được tác tịnh, là vật được chỉ định (hợp thức hoá) cho sử dụng đặc biệt nào đó. Chữ tịnh như vậy không liên quan gì đến ô uế hay thanh tịnh như Hành sự sao giải thích.
23 Bạt-đề: Xem cht. 20 trước.
24 Văn-trà 文茶. Tứ phần 42, tr. 872b19: Mân-trà 旻茶. Pāli, Vin. i. 240, Meṇḍaka, phú hộ ở Bhaddiya, vương quốc Aṅga; là ông nội của bà Visakhā; là một trong 5 đại thần của vua Bimbisāra. Không thấy nói ông là đệ tử của Pūraṇa-Kassapa (Bất-lan Ca-diếp). Nhưng có một người đầy tớ tên Puṇṇa.
25 Đồ hương 塗香, Skt=Pāli: vilepana, dịch là phấn, sáp, kem…; thường lấy các loại hương chiên-đàn, long não… nghiền thành bột, hòa với nước, thoa trên thân cho thơm.
26 Tứ phần 42, tr. 873c09: “Bất-lan Ca-diếp nói với cư sĩ rằng: Cư sĩ, ông có đại thần lực, tự tại theo ý, không nên đến gặp Sa-môn Cù-đàm, mà Sa-môn Cù-đàm phải đến yết kiến ông.”
27 Tứ phần 42, tr. 872c25: “Phật Bích-chi tên là Đa-ha-lâu-chi (多呵樓支) vào khất thực.” Theo truyện kể DhA. iii. 363, Phật hiệu Vipassī (Tỳ-bà-thi).
28 Hán: Nhiệt ngưu nhũ熱牛乳, sữa vừa vắt từ bầu sữa bò ra, chưa qua chế biến.
29 Tứ phần: Sí-nậu 翅㝹. Pāli: Jaṭila Keniya.
30 Tứ phần: Nay có tám thứ nước mà xưa kia Tiên nhân vô dục thường uống. Đó là: nước lê, nước diêm-phù, nước táo chua, nước mía, nước quả thị, nước xá-lâu-già, nước bà-lâu-sư và nước nho.” Pāli: ambapāna, nước quả xoài; jambupāna, nước quả hồng đào; cocapāna, nước dừa; mocapāna, nước chuối; madhūkapāna, mật; muddikapāna, nước nho;sālūkapāna, nước ngó sen; phārusakapāna, không rõ. Dược sự (tr. 1a27): tám thứ nước: chiêu-giả tương招者漿 (Skt. cocapāna, nước nhục quế); 2. mao-giả tương毛者漿 (Skt.mocapāna, nước chuối); 3. cô-lạc-ca tương三孤洛迦漿 (Skt. kolapāna, nước táo); 4. a-thuyết-tha quả阿說他果 (skt. aśvatthapāna, nước quả bồ-đề); 5. ô-đàm-bạt-la 烏曇跋羅(Skt. udumbarapāna, ước quả sung); 6. bát-lỗ-sái 鉢魯灑 (Skt. pāruṣikapāna, nước từ hoa tử khoáng); 7. miệt-lật-trụy tương篾栗墜漿 (Skt. mṛdvīkāpāna, nước nho); 8. khát-thọ-la tương八渴樹羅漿 (Skt. kharjūrapāna, nước trái cây có tên khoa học Phoenix sylvestris).
31 Gạo Câu-lưu (Câu-lưu mễ phạn 拘留米飯), Phiên Phạn ngữ 10, T54n2130, tr. 1053a23: Cơm Câu-lưu, dịch “tác” (làm); là cơm đã nấu chín.
32 Tứ phần: A-đầu 阿頭. Pāli: Ātumā, thị trấn nằm giữa Kusinārā và Sāvatthi.
33 Pāli: yāgu, cháo hay cơm nấu với sữa.
34 Tứ phần: Thế đao 剃刀; Pāli: khurabhaṇḍa, dao cạo đầu, dụng cụ hớt tóc.
35 Tứ phần: Ba-bà 波婆. Pāli: một thị trấn của người Malla, song đôi với Kusinārā.
36 Tứ phần: Các Ma-la 摩羅. Pāli: Malla, tên bộ tộc, và vương quốc cùng tên. Kusinārā là một thủ phủ của nước này
37 Tứ phần: Bị phạt một trăm lượng vàng.
38 Lô-di 盧夷. Pāli: Roja.
39 Tứ phần: “Giống như có người hướng dẫn.” Pāli, ibid. 247, seyyathāpi gāvaṃ taruṇavaccho, như con bê đi theo con bò cái.
40 Tứ phần 42, tr. 874a05: “Nay ông đã là học nhân, có trí sáng suốt, đã viễn ly trần cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thỉnh cầu Như Lai thường thọ nhận y phục ẩm thực y dược ngọa cụ của ông. Nhưng nếu có các học nhân khác có trí thông minh, viễn ly trần cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, cũng lại thỉnh cầu Như Lai thường thọ nhận y phục ẩm thực, y dược, ngọa cụ của họ thì sao?”
41 Khư đà-ni: Xem cht. 193, Phần I, Ch. v.
42 Tỳ-xá-khưu Mẫu: Xem cht. 5, Phần I, Ch. iii.
43 Ôn thất: Xem cht. 71, Ch. v trước.
44 Theo Tứ phần thì phải làm theo năm pháp tịnh mới ăn: “Tác tịnh bởi lửa, tác tịnh bởi dao, tác tịnh bởi mụt nhọt, tác tịnh bởi chim cắn, tác tịnh bởi loại hột trỉa không mọc.” Tham chiếu Pāli, Vin. ii. 109, pañcahi samaṇakappehi phalaṃ paribhuñjitum, ăn trái cây với 5 điều hợp thức của sa-môn: aggiparicitaṃ (đã bị lửa phạm), satthaparicitaṃ (đã bị dao phạm), nakkhaparicitaṃ (đã bị móng tay phạm), abījaṃ (không có hạt mầm), nibbattabījaṃ (hạt mầm đã hỏng).



  • Leave a Comment