Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 31. Phần IV – Chương 2 – Pháp Yết Ma

Ngũ Phần Luật – 31. Phần IV – Chương 2 – Pháp Yết Ma

CHƯƠNG II : PHÁP YẾT-MA

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. YẾT-MA[6]

1. Ma-na-đỏa
1. Đức Phật ở tại thành Xá-vệ, bấy giờ có một Tỳ-kheo cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, không biết nên thế nào, hỏi các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo cũng không biết, bạch Phật. Nhơn việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa không che giấu như vậy, nay cho phép Tăng trao cho Tỳ-kheo kia pháp Bạch tứ yết-ma, sáu đêm hành Ma-na-đỏa.[7] Tỳ-kheo phạm tội để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng rồi quì gối bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, nay đến Tăng xin sáu đêm thi hành Ma-na-đỏa. Nguyện Tăng cho tôi sáu đêm thi hành Ma-na-đỏa. Xin như vậy ba lần. Một Tỳ-kheo xướng :
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo này tên là… cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, [156c01] không che giấu, đến Tăng xin sáu đêm hành Ma-na-đỏa. Nay Tăng cho Tỳ-kheo 6 đêm hành Ma-na-đỏa. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… cố ý xuất bất tịnh… cho đến câu: nay Tăng cho Tỳ-kheo… 6 đêm hành Ma-na-đỏa. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xướng như vậy.
“Tăng cho Tỳ-kheo này tên là… 6 đêm hành Ma-na-đỏa rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo kia nên hằng ngày đến giữa Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, đến Tăng xin sáu đêm hành Ma-na-đỏa, Tăng đã cho tôi sáu đêm Ma-na-đỏa. Nay tôi hành Ma-na-đỏa đã được (bao nhiêu ngày) còn (bao nhiêu ngày) xin các Đại đức ghi nhận chứng tri cho.”
Hành 6 đêm Ma-na-đỏa rồi, nên đến Tăng xin A-phù-ha-na,4 bạch như sau:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… cố ý xuất bất tịnh phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, đến Tăng xin sáu đêm hành Ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi sáu đêm hành Ma-na-đỏa. Tôi đã hành sáu đêm Ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin A-phù-ha-na, nguyện Tăng cho tôi A-phù-ha-na.”
Xin như vậy ba lần. Một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo này tên là… cố ý xuất bất tịnh phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, đến Tăng xin sáu đêm hành Ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi sáu đêm hành Ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia hành sáu đêm Ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin A-phù-ha-na. Nay Tăng trao cho Tỳ-kheo… A-phù-ha-na. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… cố ý xuất bất tịnh… cho đến câu: Nay Tăng trao cho Tỳ-kheo A-phù-ha-na. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xướng như vậy.
“Tăng cho Tỳ-kheo… A-phù-ha-na rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

2. Biệt trú
Có một Tỳ-kheo cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một đêm, không biết nên thế nào, hỏi các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo cũng không biết, bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng bảo các Tỳ-kheo: “Nay cho phép Tăng Bạch tứ yết-ma, trao cho Tỳ-kheo này một đêm hành pháp Biệt trú.5 Tỳ-kheo phạm tội nên đến giữa Tăng [157a01] bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là…cố ý xuất bất tịnh phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một đêm. Nay đến xin Tăng Biệt trú một đêm. Xin Tăng cho tôi pháp Biệt trú một đêm.”
Xin như vậy ba lần. Một Tỳ-kheo xướng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… cố ý xuất bất tịnh phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một đêm. Nay đến xin Tăng pháp Biệt trú một đêm. Nay Tăng trao cho Tỳ-kheo pháp Biệt trú một đêm. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… cố ý xuất bất tịnh… cho đến câu: Nay Tăng trao cho Tỳ-kheo… pháp một đêm Biệt trú. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng xướng như vậy.
“Tăng đã trao cho Tỳ-kheo… một đêm Biệt trú rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo kia hành một đêm Biệt trú rồi, nên đến Tăng xin hành Ma-na-đỏa… cho đến câu: A-phù-ha-na. Tăng cũng như trên mà trao cho.

3. Bổn ma-na-đỏa
Có một Tỳ-kheo cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, đến Tăng xin hành Ma-na-đỏa, trong sáu đêm lại phạm cũng không che giấu, không biết nên thế nào hỏi các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo cũng không biết, bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo bảo các Tỳ-kheo: “Nay cho phép Tỳ-kheo kia lại đến Tăng xin hành Ma-na-đỏa.” Tăng cũng nên Bạch tứ yết-ma lại cho Tỳ-kheo kia hành Ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia hành sáu đêm Ma-na-đỏa rồi, nên lại đến Tăng xin hành Bổn ma-na-đỏa.6 Tăng cũng nên Bạch tứ yết-ma cho thi hành. Tỳ-kheo kia lại đến Tăng xin:
“Tôi Tỳ-kheo tên là… trước đây cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, đến Tăng xin hành Ma-na-đỏa, Tăng cho tôi hành Ma-na-đỏa. Trong sáu đêm đó, tôi lại phạm, không che giấu, nay đến Tăng xin hành Ma-na-đỏa, nguyện cho tôi hành Ma-na-đỏa lại.”
Xin như vậy 3 lần.
Một Tỳ-kheo như lời xin kia, Bạch tứ yết-ma cho thi hành. Vị kia hành sáu đêm rồi lại đến Tăng xin Bổn lục dạ (sáu đêm) Ma-na-đỏa, thưa:
“Tôi Tỳ-kheo tên là… trước cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa không che giấu, đến Tăng xin hành Ma-na-đỏa, Tăng đã cho tôi hành Ma-na-đỏa. Trong sáu đêm đó tôi lại phạm, không che giấu, lại đến Tăng xin sáu đêm Ma-na-đỏa. Tôi đã hành sáu đêm Ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin hành Bổn lục dạ Ma-na-đỏa, [157b01] nguyện Tăng cho tôi hành 6 đêm Bổn lục dạ Ma-na-đỏa.” Xin như vậy 3 lần.
Một Tỳ-kheo theo như lời xin của vị ấy Bạch tứ yết-ma trao cho. Tỳ-kheo kia hành Bổn lục dạ Ma-na-đỏa rồi, nên như trên mà xin pháp A-phù-ha-na. Tăng cũng như trên mà trao cho.

4. Bổn biệt trú
Có một Tỳ-kheo, cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một đêm, Tăng trao cho một đêm Biệt trú. Trong thời gian đó lại phạm, cũng che giấu một đêm, không biết nên như thế nào, hỏi các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo cũng không biết, bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng bảo các Tỳ-kheo: “Nay cho Tỳ-kheo kia lại đến giữa Tăng xin một đêm Biệt trú. Tăng cũng nên Bạch tứ yết-ma cho một đêm Biệt trú. Vị kia hành một đêm Biệt trú rồi, lại phải đến Tăng xin Bổn nhất dạ Biệt trú,7 Tăng cũng nên Bạch tứ yết-ma cho thi hành. Tỳ-kheo kia đến Tăng xin một đêm Biệt trú, nói:
“Tôi Tỳ-kheo tên là… trước đây cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một đêm, đến Tăng xin một đêm Biệt trú. Tăng cho tôi một đêm Biệt trú, trong khi đó tôi lại phạm, cũng che giấu một đêm, nay lại đến Tăng xin một đêm Biệt trú, nguyện Tăng lại cho tôi một đêm Biệt trú.” Xin như vậy ba lần.
Một Tỳ-kheo y theo lời xin Bạch tứ yết-ma cho. Vị kia hành một đêm Biệt trú rồi, lại đến Tăng xin Bổn nhất dạ Biệt trú, nói:
“Tôi Tỳ-kheo tên là… trước đây cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một đêm, đến Tăng xin một đêm Biệt trú, Tăng cho tôi một đêm Biệt trú, trong thời gian đó tôi lại phạm, cũng che giấu một đêm, lại đến Tăng xin một đêm Biệt trú, Tăng cho tôi một đêm Biệt trú, tôi đã hành một đêm Biệt trú rồi, nay đến Tăng xin Bổn nhất dạ Biệt trú, nguyện Tăng cho tôi Bổn nhất dạ Biệt trú.” Xin như vậy ba lần.
Một Tỳ-kheo y theo lời xin Bạch tứ yết-ma cho thi hành. Tỳ-kheo kia hành Bổn nhất dạ Biệt trú rồi, nên như trên xin hành 6 đêm Ma-na-đỏa. Hành Ma-na-đỏa rồi, lại như trên xin A-phù-ha-na. Tăng đều nên như trên Bạch tứ yết-ma cho thi hành.

5. Che dấu một đến nhiều đêm
1. Có một Tỳ-kheo cố ý xuất bất tịnh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một đêm, như trên, Tăng cho một đêm Biệt trú, trong thời gian ấy lại phạm, cũng che giấu một đêm, Tăng cũng lại như trên cho một đêm Biệt trú, hành xong, Tăng cũng lại như trên cho Bổn nhất dạ Biệt trú, hành xong, Tăng lại như trên[157c01] cho 6 đêm Ma-na-đỏa, trong khi ấy lại phạm, không che giấu, Tăng cũng lại như trên cho 6 đêm Ma-na-đỏa. Vị kia hành 6 đêm rồi, Tăng lại như trên cho hành Bổn ma-na-đỏa. Thi hành xong, tiếp theo như trên cho A-phù-ha-na.
2. Nếu Tỳ-kheo phạm một Tăng-già-bà-thi-sa, cho đến số nhiều, che giấu hai đêm cho đến nhiều đêm, nếu Tăng cho Biệt trú, chỉ kể thời gian cho che giấu lâu nhất, tùy theo số ngày đó mà cho Biệt trú. Nếu sau khi Tăng cho Biệt trú lại tái phạm, mà che giấu, Tăng nên tùy theo số ngày lại cho Biệt trú; nếu không che giấu, Tăng nên như trên mà cho 6 đêm Ma-na-đỏa; lại Biệt trú rồi, Ma-na-đỏa rồi, Tăng lại như trên cho Bổn biệt trú, cho Bổn biệt trú rồi, cho 6 đêm Ma-na-đỏa rồi. Nếu khi đó lại phạm, Tăng lại trao cho 6 đêm Ma-na-đỏa. Thi hành xong, Tăng lại nên như trước trao cho Bổn ma-na-đỏa, tiếp theo như trên trao cho A-phù-ha-na.
3. Có một Tỳ-kheo phạm hai Tăng-già-bà-thi-sa, đồng che giấu một đêm mà đến Tăng nói phạm một và che giấu một đêm. Tăng trao cho một đêm Biệt trú, Biệt trú một đêm rồi, tâm sanh hối hận: “Ta thật sự phạm hai Tăng-già-bà-thi-sa, tại sao chỉ nói phạm một và che giấu một đêm!”, đến Tăng bạch rằng: “Tôi thật sự phạm hai Tăng-già-bà-thi-sa, đồng che giấu một đêm.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy: “Lại cho phép một đêm Biệt trú. Tỳ-kheo kia nên trình bày đầy đủ ba lần để xin. Một Tỳ-kheo y theo lời xin kia Bạch tứ yết-ma trao cho thi hành.”
4. Có một Tỳ-kheo phạm một Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu hai đêm, đến Tăng nói che giấu một đêm. Tăng trao cho Biệt trú một đêm, Biệt trú một đêm xong, tâm sanh hối hận: “Thật sự ta che giấu 2 đêm, tại sao nói một đêm, lại đến Tăng trình bày sự thật ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy: “Cho phép Tăng lại cho một đêm Biệt trú. Tỳ-kheo kia nên nói rõ ràng đầy đủ như trên để xin. Tăng cũng y theo lời xin, Bạch tứ yết-ma cho thi hành.”

6. Thôi tu rồi tu lại
1. Có một Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu rồi thôi tu. Về sau đó lại xuất gia thọ giới Cụ túc, ngay ngày hôm ấy nói tội phạm trước đây, các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy: “Nên căn cứ vào số ngày che giấu của Tỳ-kheo ấy khi chưa thôi tu mà trao cho Biệt trú.”
2. Có Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, chưa hành Ma-na-đỏa rồi thôi tu. [158a01] Sau đó trở lại thọ giới Cụ túc rồi che giấu. Vấn đề được bạch Phật, Phật dạy: “Nên y theo (sự vi phạm của) Tỳ-kheo kia và sau khi thọ giới lại, theo số ngày (chưa thi hành) mà cho Biệt trú.”
3. Nếu Tỳ-kheo phạm hai Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu một, không che giấu một, rồi thôi tu. Sau đó trở lại thọ giới Cụ túc, tội trước kia không che giấu lại che giấu, tội trước kia che giấu lại không che giấu. Nên lần theo sự che giấu trước đó của Tỳ-kheo ấy, cho đến khi thôi tu và số ngày che giấu về sau, kể từ khi thọ giới lại mà trao số ngày Biệt trú.
4. Nếu Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa che giấu rồi thôi tu, sau đó trở lại thọ giới Cụ túc rồi lại che giấu, nên tùy theo số ngày trước và sau mà Tỳ-kheo kia đã che giấu trao cho Biệt trú.
5. Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không che giấu, rồi thôi tu, sau lại thọ giới Cụ túc rồi cũng không che giấu, nên cho sáu đêm Ma-na-đỏa. Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, làm Sa-di, cuồng tâm, tán loạn tâm, bệnh hoại tâm, Tăng trao cho tác Yết-ma không thấy tội, Yết-ma không ăn năn, Yết-ma không bỏ ác tà kiến, đều như mục thôi tu đã nói.
6. Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, biết số lượng nhiều ít, hoặc cùng một tội, hoặc khác tội, che giấu rồi thôi tu, sau thọ giới rồi không che giấu, hoặc trước không che giấu rồi thôi tu, sau thọ giới rồi che giấu, hoặc trước che giấu phân nửa, phân nửa không che giấu, sau thọ giới rồi, điều trước che giấu lại không che giấu, điều trước không che giấu lại che giấu, hoặc trước sau đều che giấu, hành pháp Biệt trú đều như trước đã nói. Nếu trước sau đều không che giấu, trao cho 6 đêm Ma-na-đỏa cũng như vậy. Nếu làm Sa-di… cho đến Yết-ma không xả ác tà kiến cũng như vậy.
7. Nếu Tỳ-kheo trong khi Biệt trú thôi tu, sau trở lại thọ giới Cụ túc, nên tính số ngày Biệt trú trước, chỉ ở thêm cho đủ. Khiến hành cho đủ, Bổn biệt trú cũng như vậy. Nếu làm Sa-di… cho đến Yết-ma xả ác tà kiến cũng như vậy.
8. Nếu Tỳ-kheo trong khi hành Ma-na-đỏa thôi tu, sau lại thọ giới Cụ túc, tính đủ ngày cũng như vậy, hành Bổn ma-na-đỏa cũng như vậy. Nếu làm Sa-di… cho đến Yết-ma không xả ác tà kiến cũng như vậy.
9. Nếu Tỳ-kheo hành Biệt trú rồi, hành Bổn biệt trú rồi, chưa trao cho Ma-na-đỏa, thôi tu, sau lại thọ giới Cụ túc, nên khiến hành Ma-na-đỏa. Nếu hành Ma-na-đỏa rồi và hành Bổn ma-na-đỏa rồi, chưa trao cho A-phù-ha-na, sau trở lại thọ giới Cụ túc, nên trao cho A-phù-ha-na. Nếu làm Sa-di… cho đến Yết-ma không xả ác [158b01] tà kiến cũng như vậy.

7. Biết, không biết phạm
1. Nếu Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, biết số mục phạm, biết ngày che giấu, như pháp đến Tăng xin Biệt trú, như pháp đến Tăng xin Ma-na-đỏa, như pháp đến Tăng xin Bổn nhật, như pháp đến Tăng xin A-phù-ha-na, Tăng đều như pháp cho, người như vậy gọi là thanh tịnh. Nếu Tăng không như pháp cho một việc nào, người như vậy gọi là không thanh tịnh.
2. Có hai Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, một Tỳ-kheo biết phạm, một Tỳ-kheo không biết phạm, đều che giấu, bạch Phật, Phật dạy: “Người biết phạm nên cho Biệt trú, người không biết phạm nên cho Ma-na-đỏa. Nhớ, không nhớ cũng như vậy.”

8. Tác nhất và dị tưởng
Có hai Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa, che giấu, một Tỳ-kheo tác nhất tưởng, một Tỳ-kheo tác dị tưởng, hoặc nói là Ba-la-di, hoặc nói là Thâu-lan-giá… cho đến Ác thuyết, bạch Phật, Phật dạy: “Người tác nhất tưởng nên cho Biệt trú, người tác dị tưởng nên cho Ma-na-đỏa.”

9. Tạp sự
1. Có các Tỳ-kheo, hoặc khi hành Biệt trú, hoặc khi hành Ma-na-đỏa, hoặc khi hành A-phù-ha-na, mạng chung, các Tỳ-kheo bạch Phật: “Các vị kia mạng chung Cụ giới, hay là mạng chung phá giới?” Đức Phật dạy: “Đều là Cụ giới.”
2. Có Tỳ-kheo phạm Tăng-già-bà-thi-sa không biết số lượng của tội, cũng không nhớ che giấu lâu hay mau, bạch Phật, Phật dạy: “Kể từ khi nhớ phạm về sau trao cho Biệt trú. Nghi cũng như vậy.”
3. Có Tỳ-kheo đối với mọi người đều che giấu, có Tỳ-kheo đối với người kia che giấu, đối với người này không che giấu. Có Tỳ-kheo đối với chỗ này che giấu, ở chỗ kia lại không che giấu, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Tất cả che giấu gọi là che giấu. Nếu đối với Hòa thượng, A-xà-lê bậc đáng kính, sợ người nghe, che giấu không gọi là che giấu, đối với người khác nghe che giấu gọi là che giấu. Nếu đối với quốc độ này do nhiều người biết kính trọng, không muốn cho họ biết che giấu không gọi là che giấu, đối với chỗ kia che giấu gọi là che giấu.8

II. PHÁP YẾT-MA9

1. Phá Tăng
[158c7] Đức Phật ở thành Câu-xá-di,10 bấy giờ có một Tỳ-kheo phạm giới mà không biết phạm, nói với các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo có vị nói phạm, có vị nói không phạm. Người nói không phạm thì nói: “Thầy không phạm giới”. Vị kia nghe rồi bèn sanh ý tưởng không phạm giới. Người nói có phạm thì nói: “Thầy phạm giới, nên tự thấy tội, sám hối, đừng để ô nhiễm phạm hạnh, phụ lòng người tín thí, thọ khổ nhiều đời.” Tỳ-kheo kia nói: “Tôi không phạm tội, tại sao lại phải tự thấy tội sám hối?!” Các Tỳ-kheo cho là có phạm bèn trao cho pháp Yết-ma không thấy tội.11
Vị kia bị cử tội12 rồi, bèn vào trong thành Câu-xá-di tìm bạn bè để yểm trợ, nói: “Tôi không phạm tội, các Tỳ-kheo kia cưỡng bức nói: tôi có tội, trao cho tôi pháp Yết-ma không thấy tội, Yết-ma như vậy không thành. Các Đại đức nên như pháp, như luật, cứu trợ cho tôi”. Đương sự lại đến ngoài thành, chỗ các Tỳ-kheo ở, cũng yêu cầu cứu trợ như trên. Các Tỳ-kheo nghe, đều cùng nhau cứu trợ.
Bấy giờ, đức Thế Tôn biết Tăng đã bị phá, từ chỗ ngồi đứng dậy đến chỗ chúng Tỳ-kheo yểm trợ13 cho Tỳ-kheo bị cử, nói: “Các Tỳ-kheo đừng nên nói như vầy: ‘Tỳ-kheo kia không phạm tội.’ Nếu Tỳ-kheo kia thật không phạm tội mà bị cử, các thầy cũng nên nói: ‘Nên tự thấy tội sám hối.’ Vị kia bèn khởi ý nghĩ như vầy: ‘Nếu ta nói không thấy tội, Tăng sẽ trao cho ta Yết-ma không thấy tội; không cùng ta ở, không cùng ta Bố-tát, Tự tứ làm các Tăng sự.’ Các thầy lại nói như thế để đưa đến sự tranh cãi, khiến cho Tăng không hòa, chia rẽ, sanh các trần cấu. Bằng mọi cách tránh điều này, nên khiến cho đương sự tự thấy tội sám hối.”
Đức Thế Tôn nói như vậy rồi, lại đến nơi chúng Tỳ-kheo cử tội kia, nói: “Các thầy đừng cưỡng bức cử tội người khác. Nếu thật người kia phạm tội, Tăng nên nói: ‘Thầy tự thấy tội.’ Nếu vị kia nói: ‘Tôi không có tội làm sao thấy?’ Tăng nên cân nhắc: Nếu chúng ta trao cho pháp Yết-ma không thấy tội; không cùng ở, không cùng Bố-tát, Tự tứ làm các Tăng sự, do đó đưa đến sự tranh cãi, mạ lỵ lẫn nhau, [159a01] khiến cho Tăng không hòa hợp, chia rẽ, sanh các trần cấu. Các thầy nên sợ điều này, đừng nên cử tội xả trí.14
Các Tỳ-kheo tuy nghe Phật nói mà vẫn tranh cãi không thôi, trong bữa ăn cao giọng mắng nhau, đả kích nhau. Đức Phật lại nói: “Không nên mắng nhau, không nên trên bữa ăn cao giọng, vi phạm, đều phạm Đột-kiết-la. Nếu ai đánh nhau, phạm Thâu-lan-giá.”

2. Biệt bộ yết-ma
Các Tỳ-kheo tuy nghe lời Phật nói, vẫn tranh cãi nhau không thôi, trong cùng một cương giới làm Tăng sự riêng. Đức Phật lại bảo: “Nếu Tăng đã bị phá, trong một cương giới tác Yết-ma riêng,15 như pháp như luật cũng gọi là Yết-ma thành tựu.16 Tại sao vậy? Hai bộ, kiến giải khác nhau không đồng ở với nhau vậy. Không đồng ở có hai loại: có trường hợp tự mình tạo ra việc không đồng trụ, có trường hợp Tăng Yết-ma tác pháp không đồng trụ.” Các Tỳ-kheo tuy nghe lời Phật nói vẫn tiếp tục tranh cãi. Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo: “Các thầy chớ nên cùng nhau đấu tranh, cùng nhau phỉ báng, mạ lỵ nhau, nên cùng nhau hòa đồng tập hợp một chỗ, như nước hòa với sữa, cùng rao truyền lời dạy của Thầy.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn, xin Ngài an ổn trụ, tuy Phật là Pháp chủ, nhưng chúng con cũng tự biết.” Đức Phật ba lần ngăn, các Tỳ-kheo cũng vẫn trả lời như vậy.

3. Trường Thọ vương
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo: Từ đời quá khứ, nước Câu-tát-la17 có nhà vua tên là Trường Thọ,18 thống trị một nước nhỏ, binh chủng ít ỏi yếu kém. Lân quốc là vua Ca-di19 tên là Phạm Đạt,20 thống trị một nước rộng lớn, binh chủng cường thịnh, lần lần xâm lăng cướp đoạt nước Câu-tát-la. Vua Phạm Đạt tiếp thu nạp được vị đại thần21 của vua Trường Thọ, đãi ngộ rất ân huệ, được vua tin dùng vào việc quốc sự. Khi ấy vua Trường Thọ mình trần thân trụi cùng phu nhơn, người Bà-la-môn, chạy thoát về nước Ba-la-nại, trú ngụ trong nhà người thợ lò gốm. Phu nhơn bất thần nảy ra ý nghĩ: “Ước nguyện sao lúc mặt trời vừa ló dạng, có nước mài dao chiến đấu của bốn binh chủng nơi ngã tư đường để lấy uống.” Nghĩ rồi tâu với vua: “Nếu ý muốn này không thực hiện được thì em sẽ chết ở nơi này.” Nhà vua nói: “Điều này không thể được. Cái chứng bệnh thiếu thực tế của em ắt phải chết, không còn nghi ngờ gì.” Nhà vua lại nói: “Nếu Phạm Đạt nghe, biết mình ở đây, ắt bắt trói, đánh trống rao, hành hình, phân thây ta làm năm phần. Thôi, em hãy ráng chờ xem, ta sẽ bí mật đến gặp vị đại thần trước kia, vấn ý điều này.”
Nói xong nhà vua liền tìm cách đến gặp vị cựu thần để vấn kế. Vị cựu đại thần nói: “Hạ thần cần gặp phu nhơn, trước khi có ý kiến.” Vị đại thần liền đến chỗ phu nhơn. Từ xa trông thấy phu nhơn, bèn để trống vai bên hữu, đầu mặt tác lễ, ba lần xưng tụng: “Nay phu nhơn đang mang thai với người con đại phước đức, quốc gia Câu-tát-la sẽ có người thừa kế.” Vị đại thần tâu với vua: “Sáng mai, nguyện vọng của phu nhơn sẽ có kết quả.”
Vị đại thần nói xong, liền trở về chỗ Phạm Đạt, [159b01] tâu rằng: “Đại vương biết chăng? Có một vị tinh tú như vậy xuất hiện, cần phải tập hợp bốn binh chủng vào sáng sớm ngày mai tại bốn ngã tư đường, hai bên diễn tập xáp chiến, rồi tất cả đều mài dao lấy nước này để trừ tai ương kia. Nếu không như vậy ắt sẽ bị đại nguy khốn.” Vua Phạm Đạt liền nói: “Cần thực hiện ngay.”
Thế là vị đại thần liền ra lệnh bốn binh chủng nghiêm túc chuẩn bị ứng chiến. Sáng sớm ngày mai, nơi ngã tư đường, hai bên xáp chiến rồi tất cả đều mài dao. Được lệnh mật, phu nhơn đứng vào một địa điểm và nhận được nước mài dao của vị đại thần. Được nước phu nhân uống ngay và bào thai được nuôi dưỡng. Mãn nguyệt khai hoa, người con ra đời, với dung nhan thù diệu, đặt tên là Trường Sanh.22 Khi lên mười tuổi, người cha nói với con: “Phạm Đạt xâm đoạt nước ta, cha cùng mẹ của con trốn thoát đến đây. Con đã lớn nhanh trong những tháng ngày qua. Nếu Phạm Đạt biết được chỗ ở của cha con mình, sẽ giết hết cả hai, con nên đi xa, đừng quyến luyến cha mẹ.”
Trường Sanh buồn khóc, kính lễ sát chân cha mẹ, nhiễu ba vòng rồi ra đi. Trường Sanh học tập kỹ nghệ, toán số, văn tự, bắn cung, cỡi ngựa, điều phục voi ngựa, âm nhạc, không một môn học nào không hơn người. Trường Sanh dốc lòng phụng thờ Tượng sư để biết hết nghệ thuật điều voi. Người thợ hớt tóc xưa kia của vua Trường Thọ, sau lại làm người hớt tóc cho Phạm Đạt. Nhận được lệnh hớt tóc, ông ta tìm đến chỗ vua. Do vì biết rõ chỗ ở của vua Trường Thọ, ông ta không dám che giấu, khi Phạm Đạt xét hỏi đã khai báo rõ nơi ẩn trốn của vua Trường Thọ. Phạm Đạt nghe rồi liền ra lệnh bắt trói cả vợ lẫn chồng, đánh trống rao khắp hang cùng ngõ hẻm, rồi đem để tại ngã tư, phân thây làm năm phần. Kẻ thừa hành phụng lệnh vua. Trường Sanh nghe tin này, vội vã đến hiện trường, đứng bên lề đường thấy vậy, nát ruột nát gan, căm hờn suy nghĩ: “Nỗi oán hận của cha mẹ không cho phép ta đội trời chung, nay ta làm sao nhẫn chịu cho được, với lòng thành của kẻ thất phu còn cảm động.” Trường Sanh muốn thí mạng để trả mối nhục thù này. Cha mẹ từ xa thấy con, biết được lòng con khởi niệm báo thù, bèn như người cuồng cao tiếng nói một mình: “Con đừng trông vào cái sở trường, cũng không nên thiển cận, dùng oán trả oán, oán không do đâu mà dứt; dùng đức trả oán, oán kia mới hết. Thuận theo lòng cha mẹ mới gọi là người con có hiếu, làm theo ý chí riêng của mình, không phải là cái đạo của ta.”
Khi ấy người đi xem đều nói: “Vua Trường Thọ vì sợ sệt nên nói cuồng.” Chỉ có Trường Sanh nghe mới hiểu được thâm ý của cha nên đè nén được lòng mình để được tạm yên. Tuy lòng dạ nát tan nhưng không để lộ rõ bên ngoài. Đã chế ngự được lòng và lấy lại được sự bình tĩnh, Trường Sanh trở về lại chỗ Tượng sư, tuy nhiên anh ta vẫn không quên được hận, tìm cách báo thù.
Sau đó, nơi chuồng voi, nửa đêm, tiếng đàn cầm lại vang lên, âm thanh này lan tỏa trong đêm vắng, đã lọt vào tai Phạm Đạt. Nhà vua liền hỏi: “Nơi chuồng voi, ai có khả năng chơi đadn cầm, âm thanh lại tuyệt như thế?” Cận thần thưa: “Tượng sư tên là… có người học trò, chính người này có khả năng đó.” Được lệnh vua gọi, Trường Sanh vội đến dạo khúc đàn cầm cho vua nghe. [159c01] Nghe xong, vua có suy nghĩ: “Từ khi ta làm vua chưa từng nghe được âm thanh tuyệt vời này.” Phạm Đạt liền tín nhiệm cho phép Trường Sanh được ở gần bên mình.
Sau thời gian, nhà vua ra lệnh nghiêm giá bốn binh chủng, dẫn các cung nhơn, quần thần, thái tử du ngoạn để săn bắn. Trong khi binh chủng tứ tản rượt theo các con nai, thì Trường Sanh lại bảo vệ xe vua, tiền quân cách xa xe vua đến ba do-tuần, không còn ai biết đến vua. Bấy giờ, nhà vua mệt mỏi, nói với Trường Sanh: “Ta muốn nằm nghỉ một chút, ngươi có thể bảo vệ cho ta không?” Trường Sanh tâu: “Nhà vua cứ yên nghỉ, hạ thần có thể bảo vệ được.” Vua liền nằm dưới gốc cây, gối nơi đầu gối của Trường Sanh mà ngủ. Cây kiếm hộ thân của vua, tự nhiên tuột ra trước mặt Trường Sanh. Trường Sanh thấy bèn sanh ý nghĩ: “Nhà vua này đối với ta có mối thù lớn như vậy, hôm nay, gặp cơ hội này, đâu có thể bỏ qua, liền đứng dậy cầm lấy thanh gươm, định chặt cổ vua.” Thoạt nhiên, ý niệm này xảy đến: “Trọng ân của cha mẹ lớn hơn trời đất; trước khi trút hơi thở cuối cùng, người có dạy ta: Con đừng đặt cái thấy xa, cũng khỏi phải đặt cái thấy gần. Lấy oán báo oán, oán không do đâu chấm dứt… Tại sao nay ta lại trái lời dạy ấy!” Nghĩ xong liền để cây kiếm lại và bảo vệ cho vua ngủ. Khi đó nhà vua thức dậy với vẻ hoảng hốt. Trường Sanh hỏi: “Vì lý do gì mà bệ hạ có vẻ kinh hãi vậy?” Nhà vua nói: “Ta nằm mộng thấy con của vua Trường Thọ cầm kiếm muốn đoạt mạng ta.” Trường Sanh tâu: “Đây là nơi đồng không mông quạnh, duyên cớ nào mà bỗng nhiên có con của vua Trường Thọ, ắt là sơn thần khủng bố hệ hạ chăng! Bệ hạ cứ yên nghỉ chớ nên lo ngại.” Sự việc như vậy xảy ra ba lần. Đến giấc ngủ tối hệ trọng sau cùng của vua, Trường Sanh lại khởi ý niệm: “Cha mẹ ta, trước khi từ trần, dạy ta một cách thống thiết: Dùng đức báo oán, oán kia mới hết, tại sao nãy giờ ba lần ta muốn trái phạm?! Từ nay ta phải khắc phục, với ý niệm: Thờ vua như thờ người thân, dứt khoát không sanh khởi một mảy may ý niệm sát hại.” Trường Sanh nghĩ như vậy rồi, nhà vua thức dậy với vẻ mặt rất hoan hỷ. Trường Sanh hỏi: “Vì lý do nào mà bệ hạ rất hoan hỷ?” Vua nói: “Ta nằm mộng thấy con của vua Trường Thọ muốn thờ ta như người thân, không ôm lòng oán hại, cho nên ta vui.”
Lúc ấy, Trường Sanh liền tâu với vua: “Con của vua Trường Thọ chính là hạ thần đây.” Bệ hạ cha mẹ của hạ thần, hạ thần nuôi chí giết bệ hạ, ba lần nhớ lại lời di chúc của cha mẹ hạ thần nên bệ hạ mới khỏi chết. Tuy vậy, tâm này khó bảo đảm, sau này có thể phát sanh, xin nhà vua giúp cho đường lối giải quyết, đừng để lại mối lo âu về sau.” Nhà vua nói: “Ta đã làm việc vô đạo, còn cha con của ông thì nặng lòng nhân từ, nay cớ sao ta lại phải sống với lo âu vây bũa?! Ông đã cho ta cái mạng sống này, ta thề không phụ nhau.”
Vua Phạm Đạt liền ra lệnh quân quay trở về rồi tập hợp quần thần, cùng thảo luận vấn đề vua đặt ra: “Nếu bắt được con của vua Trường Thọ thì sẽ xử trị thế nào?” Có người nói phải chặt tay chân, có người nói phải xẻo mũi xẻo tai, có người nói phải dùng búa bửa nó ra, có người nói phải lấy cây xâu nó để nướng.” Nhà vua liền chỉ tay nói: “Người này chính là con của vua Trường Thọ. Chính người này đã cho ta cái mạng sống, [160a01] nay ta sẽ dùng cái mạng sống để đền trả lại.” Tất cả không ai được ôm ác ý đối với người này. Giải quyết xong, về lại cung, nhà vua đem người con gái gã cho Trường Sanh. Tay trái bưng chậu nước bằng vàng, tay phải nhà vua vốc nước trong chậu vàng rót lên tay của Trường Sanh. Sau đó, Trường Sanh được đưa trở về bổn quốc để phục nhận ngôi vua nước Câu-tát-la.
Các nước lân cận cùng có mối giao hảo hòa hợp tốt đẹp nhiều đời như vậy. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Người đời, vua một nước còn tạo điều kiện giải hòa được mối thù lớn này, do xả bỏ niệm ác để biến thành thân hậu. Các thầy xuất gia cầu đạo vô vi, tại sao việc nhỏ lại cùng nhau đấu tranh để mất cái lợi lớn! Nên bỏ tâm này và cùng nhau hòa đồng như sữa hòa với nước, cùng rao truyền lời dạy của bậc Thầy, để cùng nhau sống trong sự an lạc.” Các Tỳ-kheo lại bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn, xin Ngài an ẩn trụ. Đức Phật tuy là ngôi vị Pháp vương nhưng chúng con tự biết.” Do họ cố ý không xả, đức Phật bèn bay lên hư không, nói bài kệ:
“Tuôn các ác lên nhau
Trọn không có thắng pháp23
Tăng phá thành hai phần
Đâu không do việc ấy.24
Đoạn nhân mạng cốt nhục
Cướp đoạt của trâu ngựa
Oán phá nước, diệt tộc
Hòa hợp vẫn còn được.
Ví hai cây cọ nhau
Cùng phát hỏa tự đốt
Không làm sao tránh khỏi
Ngu, oán hận cũng vậy.
Các thầy mạ nhục nhau
Cố chấp không chịu bỏ
Họa oán nào dứt được
Ngày đêm càng chôn sâu.
Nếu báo oán không thêm
Những tiếng ác mắng chửi
Nhẫn vậy, oán không đến
Oán ấy tự nhiên trừ.
Nếu lấy oán trừ oán
Oán trọn đời không tiêu
Oán trừ từ vô niệm
Đấy sức mạnh vô song.”
Đức Thế Tôn nói bài kệ này rồi, liền dùng thần lực bay đến tụ lạc Ba-la,25 trú dưới cây Bạt-đà Bà-la, không có người giúp việc. Khi ấy, tại đó có một con voi lớn, bị các con voi con gây não. Khi muốn uống nước, các con voi con đi trước làm cho nước bị đục. Khi muốn ăn cỏ, các con voi con đi trước ăn rồi đạp lên trên làm cho dơ nhớp. Con voi kia nghĩ rằng: “Nay ta bị bọn voi nhỏ gây khốn nạn, thà là tránh đi.” Nghĩ rồi liền đi. Voi lớn hằng ngày đã được nước trong cỏ tốt rồi tuần tự đi đến rừng Bạt-đà bà-la, thấy đức Phật, voi rất hoan hỷ. Voi vì Phật lấy nước và dọn cỏ hai bên chỗ Phật ở. Đức Phật cũng như con voi này xa lìa được đồng loại khuấy phá nên khoái lạc trong sự yên tịnh, Phật nói kệ:
[160b01] “Hai rồng lòng đều bị
Những đồ chúng gây não
Bỏ lại một mình đi
Nay vui nơi rừng vắng.”
Đức Phật nói kệ rồi, Ngài từ rừng Bạt-đà Bà-la qua thành Xá-vệ, trú trong tịnh xá Kỳ-hoàn. Khi ấy các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, quốc vương đại thần, trưởng giả, cư sĩ, ngoại đạo Bà-la-môn, cúng dường cung kính tôn trọng tán thán, nên nhận được nhiều thức ăn, thức uống y phục. Đức Thế Tôn không hề đắm trước giống như hoa sen.

4. Hối quá
Trong lúc ấy, nơi thành Câu-xá-di các Ưu-bà-tắc đều có chung một ý nghĩ: “Chúng ta nay mất đại lợi, do các Tỳ-kheo ưa đấu tranh nên đức Thế Tôn không ở đây, cần phải tạo phương tiện khiến cho họ rời xa nơi này”, bèn dặn nhau không tiếp xúc và không cúng dường vật thực cho các Tỳ-kheo ấy. Các Tỳ-kheo ấy cũng nghĩ rằng: “Do tội lỗi của chúng ta gây nên, khiến đức Thế Tôn bỏ nơi này mà đi, nay ta nên cùng nhau đến chỗ đức Phật tha thiết sám hối”. Các Tỳ-kheo ấy bèn mặc y bưng bát đến chỗ đức Thế Tôn.
Bấy giờ tôn giả Xá-lợi-phất nghe các Tỳ-kheo đấu tranh kia đến, cùng năm trăm Tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân bạch: “Các Tỳ-kheo đấu tranh nơi Câu-xá-di sắp đến đây, chúng con sẽ nên đối xử với họ như thế nào?” Đức Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất: “Thầy nên cho phép hai bên tự nói lên ý nghĩ của mình, nếu như pháp, như luật, như lời Phật dạy thì khéo đãi ngộ họ thản nhiên như người bạn.”26 Tôn giả lại hỏi: “Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu việc để biết các vị kia nói như pháp, như luật, như lời Phật dạy? Có bao nhiêu việc để biết các vị kia nói phi pháp, phi luật, phi lời Phật dạy?” Đức Phật dạy: “Nếu thành tựu mười bốn pháp:27 pháp nói là phi pháp… cho đến câu: là lời Phật chế nói chẳng phải lời Phật chế, như vậy gọi là phi pháp, phi luật, phi lời Phật dạy. Nếu ngược lại những điều trên tức là pháp, là luật, là lời Phật dạy.”
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề nghe các Tỳ-kheo đấu tranh kia đến, nên cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, các Tỳ-kheo đấu tranh nơi Câu-xá-di sắp đến đây, chúng con nên đối xử với họ như thế nào?”
Đức Phật dạy: “Mọi người nên để họ nói lên ý kiến của hai bên. Nếu như pháp, như luật, như lời Phật dạy thì khéo đãi ngộ họ, nên đến Tỳ-kheo như pháp, như luật, như lời Phật dạy cần cầu năm việc. Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng phải đến Tỳ-kheo như pháp cầu người giáo thọ. Tỳ-kheo-ni cần phải nương nơi chỗ có Tỳ-kheo như pháp mà an cư mùa hạ, an cư rồi phải đến Tỳ-kheo như pháp cầu thỉnh tội, kiến, văn, nghi. Thức-xoa-ma-na học giới hai năm rồi nên [160c01]đối trước hai bộ Tăng thọ giới Cụ túc. Tỳ-kheo-ni phạm tội thô ác phải đối giữa hai bộ Tăng hành pháp Ma-na-đỏa nửa tháng, hành pháp Ma-na-đỏa rồi nên đối trước hai bộ Tăng, mỗi bên hai mươi vị cầu pháp xuất tội. Nếu Tỳ-kheo-ni Tăng lại có những việc gì khác nên cần cầu như pháp Tỳ-kheo chỉ giáo.”
Khi ấy, trưởng giả Cấp Cô Độc28 nghe các Tỳ-kheo đấu tranh kia sắp đến, cùng năm trăm Ưu-bà-tắc đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch: “Kính bạch đức Thế Tôn, các Tỳ-kheo đấu tranh ở Câu-xá-di sắp đến đây, chúng con nên cung kính đãi ngộ như thế nào?”
Đức Phật dạy: “Các ông nên để họ nói lên ý kiến của mỗi bên, nếu như pháp, như luật, như lời Phật dạy thì tiếp nhận sự răn dạy của họ, cho đến việc cung kính đãi ngộ và cúng dường cần phải bình đẳng. Tại sao vậy? Ví như thật là thỏi vàng, có chặt làm hai đoạn thì đoạn nào cũng vẫn là vàng.”
Tỳ-xá-khư Mẫu cùng năm trăm Ưu-bà-di đi đến chỗ đức Phật, bạch như trên, đức Phật cũng trả lời như trên.
Khi ấy tôn giả A-nan thấy các Tỳ-kheo kia vào thành Xá-vệ, bèn đến bạch Phật: “Tỳ-kheo đấu tranh kia đã vào đây, con phải trải ngọa cụ như thế nào?” Đức Phật dạy: “Nên trao cho họ cái phòng bên cạnh, nếu không đủ chỗ thì trao cho họ cái phòng giữa, không được để cho Thượng tọa ấy không có chỗ nương trú.” Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy liền sắp xếp chỗ nơi.
Bấy giờ, Tỳ-kheo bị cử tội kia, nơi chỗ vắng khởi ý niệm: “Ta là người có tội, đâu phải kẻ không có tội, đã trở thành kẻ bị cử hay không trở thành kẻ bị cử tội, Yết-ma như pháp hay là không như pháp, nay ta có thể cẩn trọng y theo kinh, luật mà tư duy?” Tư duy rồi biết mình có tội, biết thành như pháp Yết-ma bị cử, bèn đến chỗ các Tỳ-kheo bè bạn nói: “Tôi đã tự thấy tội, các Đại đức vì tôi yêu cầu hòa hợp giải Yết-ma trước đây.”

5. Hòa hợp giải Yết-ma
Các Tỳ-kheo bèn dẫn đến chỗ Tỳ-kheo đã trao cho pháp Yết-ma không thấy tội mà thưa: “Tỳ-kheo này đã tự thấy tội, nguyện vì đương sự giải Yết-ma trước đây.” Thế là, hai bộ Tăng đưa Tỳ-kheo bị cử tội đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, bạch Phật. Nhơn việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Tỳ-kheo này phạm tội chứ không phải không phạm tội, thành kẻ bị cử chứ không phải không thành kẻ bị cử, Yết-ma thành tựu chứ không phải không thành tựu. Nay Tăng nên trao cho pháp giải Yết-ma trước đây.”
Lại nên Bạch nhị yết-ma để tác pháp hòa hợp. Tỳ-kheo kia nên đến trước Tăng, kính lễ sát chân Tăng, thưa:
“Tôi Tỳ-kheo tên là… Tăng đã vì tôi tác pháp Yết-ma không thấy tội, nay tôi đã thuận theo Tăng sám hối, cúi xin Tăng giải Yết-ma không thấy tội. Nguyện Tăng dũ lòng thương vì tôi giải.”
[161a01] Thưa xin như vậy ba lần. Một Tỳ-kheo đọc tuyên ngôn:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Các Tỳ-kheo này trước đây cùng nhau đấu tranh, mạ lỵ nhau, có người nói phạm, có người nói không phạm, có người nói thành bị cử, có người nói không thành bị cử, có người nói Yết-ma thành tựu, có người nói Yết-ma không thành tựu. Các Tỳ-kheo này, nay tự thấy có phạm tội, chứ chẳng phải không phạm tội, thành bị cử chứ không phải không thành bị cử, Yết-ma thành tựu chẳng phải không thành tựu. Nay Tăng vì họ giải Yết-ma không thấy tội, trở lại tác pháp hòa hợp. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Những Tỳ-kheo này trước đây cùng nhau đấu tranh… cho đến câu: trở lại tác pháp hòa hợp. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã vì các Tỳ-kheo… giải Yết-ma, trở lại tác pháp hòa hợp rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Đức Phật dạy: “Đã Yết-ma xong thì phải cùng nhau hòa hợp để Bố-tát.”
Khi ấy Ưu-ba-ly thưa hỏi Phật: “Bạch đức Thế Tôn, Tỳ-kheo thành tựu bao nhiêu pháp được cử sự?” Đức Phật dạy: “Như trong pháp Tự tứ đã nói.”

6. Cử tội phi pháp
Đức Phật ở nước Chiêm-bà,29 trụ bên sông Hằng,30 cách thành Vương Xá không xa, tại một trú xứ có vị Tỳ-kheo họ là Ca-diếp,31 làm Ma-ma-đế,32 với lời nguyện: “Nguyện bốn phương Tỳ-kheo, số đông tập hợp về đây, khiến cho các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di nhơn cơ hội này mà được làm nhiều công đức.” Nhờ trú xứ này rộng rãi nên sau đó sở nguyện này đạt được kết quả.
Bấy giờ, có số đông Tỳ-kheo tri thức đến trú xứ kia, Tỳ-kheo Ca-diếp ra nghinh đón lễ bái chào hỏi, rước y bát, lấy nước rửa chân, dâng các thức uống sau giờ ngọ, sáng ngày cúng dường bữa ăn trước bữa ăn sau, cũng dâng cúng y phục, nhiều ngày như vậy. Tỳ-kheo khách cùng nhau bàn nghị: “Tỳ-kheo này có tàm quý, tu phạm hạnh, muốn chúng ta ở lại đây lâu, chúng ta có thể an cư nơi đây.” Nghị bàn như vậy rồi cùng nhau ở lại. Tỳ-kheo Ca-diếp sau đó nghĩ: “Tỳ-kheo khách này đã hết mỏi mệt, đã quen biết xóm làng, ta không thể hằng ngày khuyến hóa bữa ăn trước, bữa ăn sau.” Nghĩ như vậy nên không cúng dường nữa. Tỳ-kheo khách nổi giận cùng nhau nghị bàn: “Tỳ-kheo này muốn cho chúng ta sớm đi khỏi chỗ này, chắc chắn là ác Tỳ-kheo, không có tàm quý, không tu phạm hạnh, chúng ta nên cùng nhau tác Yết-ma không thấy tội.” Nghị bàn rồi, bèn cùng nhau cử tội.
Tỳ-kheo Ca-diếp khởi ý niệm: “Mình có tội hay là không có tội, thành kẻ bị cử hay không thành kẻ bị cử, Yết-ma thành tựu hay không thành tựu? [161b01]Đức Thế Tôn hiện nay ở bên sông Hằng, ta nên đến thưa hỏi Ngài, nếu Ngài dạy bảo thế nào ta sẽ phụng hành.” Nghĩ rồi liền mặc y, bưng bát đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật an ủi, hỏi: “Thầy từ đâu đến, khất thực có thiếu thốn không, trên đường đi có nhọc mệt không?” Ca-diếp thưa: “Khất thực không thiếu thốn, trên đường đi không mệt nhọc, nhưng cách thành Vương Xá không xa có một trú xứ, con làm Ma-ma-đế, con từ đó đến đây… trình bày các nhân duyên trên một cách đầy đủ với đức Phật. Đức Phật dạy: “Thầy không có phạm tội, không có tội gì cả, thầy cứ trở về an tâm lưu trú nơi đó.” Ca-diếp thọ giáo, kính lễ sát chân, đi nhiễu bên hữu rồi cáo lui.
Các Tỳ-kheo khách không thấy Ca-diếp trở về, cùng nhau nghị bàn: “Chúng ta bất thiện, tại sao lại cử tội vị Tỳ-kheo thanh tịnh vô tội, nên cùng nhau đến chỗ Phật sám hối để trừ tội.”
An cư Tự tứ xong, họ đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên, đức Phật an ủi, hỏi: “Các thầy khất thực có bị thiếu thốn không? Trên đường đi có nhọc mệt lắm không? An cư nơi trú xứ nào?” Các khách Tỳ-kheo thưa: “Thưa Thế Tôn, khất thực không bị thiếu thốn, trên đường đi không nhọc mệt, nhưng cách thành Vương Xá không xa, có một trú xứ, chúng con an cư nơi đó.” Đức Phật hỏi: “Các thầy ở nơi trú xứ đó, trao cho Tỳ-kheo kia Yết-ma không thấy tội phải không?” “Bạch Thế Tôn, có.” Đức Phật hỏi: “Vì sao cử tội như vậy?” “Bạch Thế Tôn, không có việc gì cả.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách: “Các thầy làm điều phi pháp, không nên tạo nghiệp ác như vậy, tại sao lại trao Yết-ma không thấy tội cho Tỳ-kheo thanh tịnh, không có tội!” Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Kính bạch Thế Tôn, chúng con ngu si đã làm việc như vậy, chúng con đều sanh tâm hối hận, nay đến xin sám hối, cúi xin Thế Tôn ai mẫn nhận sự sám hối của chúng con.”

7. Yết-ma bất thành
1. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Nếu Tỳ-kheo do không có việc gì mà tác các pháp Yết-ma, thì Yết-ma đều không thành tựu.”
2. Có các Tỳ-kheo tác pháp Yết-ma ha trách, Yết-ma khu xuất, Yết-ma y chỉ, Yết-ma cử tội, Yết-ma hạ ý mà vắng mặt đương sự; lại vắng mặt mà tác pháp Biệt trú, Bổn nhật trị, Ma-na-đỏa, A-phù-ha-na; lại vắng mặt mà kết giới, giải giới; lại vắng mặt mà giải người được Tăng sai; lại vắng mặt mà sai người chưa được Tăng sai. Các Tỳ-kheo bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Nếu vắng mặt đương sự mà làm pháp Yết-ma quở trách… cho đến câu: vắng mặt mà tác Yết-ma sai người chưa được Tăng sai, những Yết-ma này đều không như pháp, Yết-ma không thành.”
3. Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo ở ngoài giới mà làm Yết-ma quở trách không như pháp… cho đến Yết-ma hạ ý, thực hiện rồi lại vào trong giới nói với các Tỳ-kheo rằng: “Chúng tôi ở ngoài giới [161c01] cùng trao cho Tỳ-kheo…v.v. và v.v…Yết-ma quở trách… cho đến Yết-ma hạ ý, các Đại đức nên cho phép khiến thành Yết-ma như pháp.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề này bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo bảo: “Nếu Tỳ-kheo ở ngoài giới làm 5 loại Yết-ma không như pháp… cho đến Yết-ma sai người chưa được Tăng sai, tuy trở lại nói với các Tỳ-kheo ở trong giới, khiến cho phép thành Yết-ma, tất cả đều không thành.”
4. Bấy giờ, các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo cùng một Tỳ-kheo cho đến cùng số đông Tỳ-kheo tác Yết-ma, hai Tỳ-kheo cho đến số đông Tỳ-kheo cũng như vậy, các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy: “Những Yết-ma như vậy đều không thành, lại mắc tội Đột-kiết-la.” Đức Phật lại dạy: “Nếu tác Yết-ma, đối diện Yết-ma mà không tác bạch, không thành Yết-ma.” Nếu tác Yết-ma mà điều nên nói trước lại nói sau, điều nên nói sau lại nói trước, cũng đều không thành. Nếu khi Yết-ma có người đủ quyền quở trách, không đồng ý cũng không thành, lại phạm tội Đột-kiết-la.”
5. Khi ấy, các Tỳ-kheo dùng pháp khác, luật khác tác Yết-ma, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Yết-ma không thành.”

8. Các loại Yết-ma bất thành và thành
Khi ấy, các Tỳ-kheo tác Yết-ma phi pháp biệt chúng, Yết-ma phi pháp hòa hợp, Yết-ma như pháp biệt chúng, Yết-ma như pháp hòa hợp. Các Tỳ-kheo bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo bảo: “Ta không cho phép ba Yết-ma trước,33 chỉ cho phép Yết-ma như pháp hòa hợp.34 Có 5 loại Yết-ma: Yết-ma phi pháp, Yết-ma biệt chúng, Yết-ma tợ pháp biệt chúng, Yết-ma tợ pháp hòa hợp, Yết-ma như pháp.
1. Thế nào gọi là Yết-ma phi pháp?
Người nên đến không đến, nên chúc thọ (dặn) mà không chúc thọ, có người được quyền quở trách, không đồng ý, mà cưỡng làm Yết-ma, nên Bạch nhị yết-ma, song chỉ bạch mà không Yết-ma, chỉ Yết-ma mà không bạch, hoặc lập lại lời bạch mà không Yết-ma, lập lại Yết-ma mà không bạch, nên Bạch tứ yết-ma song chỉ bạch chứ không 3 lần Yết-ma, chỉ 3 lần Yết-ma mà không bạch, như vậy gọi là Phi pháp Yết-ma.
2. Thế nào gọi là Biệt chúng yết-ma?
Người nên đến không đến, người nên chúc thọ không chúc thọ. Khi Yết-ma, người được quyền quở trách không đồng ý mà cưỡng làm Yết-ma, như vậy gọi là Biệt chúng yết-ma.
3. Thế nào gọi là Yết-ma tợ pháp biệt chúng?
Người nên đến không đến, người nên chúc thọ không chúc thọ. Nếu Yết-ma bạch nhị, bạch tứ, Yết-ma trước bạch sau. Khi Yết-ma người có quyền quở trách không đồng ý mà cưỡng làm Yết-ma, như vậy gọi là Yết-ma tợ pháp biệt chúng.
4. Thế nào gọi là Yết-ma tợ pháp hòa hợp?
[162a01] Người nên đến có đến, người nên chúc thọ có chúc thọ, nếu bạch nhị, Bạch tứ yết-ma, Yết-ma trước bạch sau. Khi Yết-ma, người có quyền quở trách không quở trách, như vậy gọi là Yết-ma tợ pháp hòa hợp.
5. Thế nào gọi là Yết-ma như pháp?
Người nên đến có đến, người nên chúc thọ có chúc thọ. Khi Yết-ma, người được quyền quở trách không quở trách; bạch nhị, Bạch tứ yết-ma35 đều bạch trước sau mới Yết-ma, như vậy gọi là Yết-ma như pháp.”

9. Như pháp và phi pháp
1. Nếu, khi vì Tỳ-kheo tác Yết-ma quở trách phi pháp, trong Tăng có bảy người cùng tranh cãi: một người nói đây là Yết-ma phi pháp, một người nói đây là Yết-ma biệt chúng, một người nói đây là Yết-ma tợ pháp biệt chúng, một người nói đây là Yết-ma tợ pháp hòa hợp, một người nói đây là Yết-ma như pháp hòa hợp, một người nói thành tác Yết-ma, một người nói không thành tác Yết-ma. Trong bảy người này, hai người nói như pháp gọi là Yết-ma phi pháp không thành tác Yết-ma. Nếu vì Tỳ-kheo làm Yết-ma quở trách biệt chúng, Yết-ma quở trách tợ pháp biệt chúng, Yết-ma quở trách tợ pháp hòa hợp, cũng như vậy.
2. Nếu, khi vì Tỳ-kheo tác Yết-ma quở trách như pháp, có bảy người nói: Hai người nói như pháp, gọi là Yết-ma như pháp hòa hợp, thành tác Yết-ma. Yết-ma khu xuất, Yết-ma y chỉ, Yết-ma hạ ý, Yết-ma cử tội cũng như vậy.
3. Có Tỳ-kheo đấu tranh, các Tỳ-kheo nghị bàn: “Tỳ-kheo này ưa đấu tranh, luôn luôn sanh sự, chúng ta có thể hòa hợp tác Yết-ma quở trách như pháp,” liền cùng nhau hòa hợp, muốn cùng nhau tác Yết-ma quở trách như pháp (thì thành)*, mà ngược lại tác Yết-ma quở trách không như pháp, thì Yết-ma không thành… cho đến ngược lại tác Yết-ma quở trách tợ pháp hòa hợp cũng như vậy.
4. Tỳ-kheo kia lại thay đổi chỗ ở, các Tỳ-kheo ở chỗ khác nghị bàn: “Tỳ-kheo này ưa đấu tranh, các Tỳ-kheo kia vì (thầy)* tác Yết-ma quở trách tợ pháp hòa hợp, Yết-ma không thành.” Chúng ta có thể cùng tác Yết-ma quở trách như pháp hòa hợp. Muốn cùng nhau làm Yết-ma quở trách như pháp hòa hợp (thì thành)*, mà ngược lại làm không như pháp (thì không thành)*.” Yết-ma khu xuất… cho đến làm ngược lại Yết-ma khu xuất như pháp, Yết-ma đều không thành… cho đến làm ngược lại, Yết-ma hạ ý cũng như vậy.
5. Có Tỳ-kheo làm hạnh ác nhơ nhớp nhà người, các Tỳ-kheo nghị bàn: “Tỳ-kheo này làm hạnh ác nhơ nhớp nhà người, chúng ta có thể hòa hợp cùng làm Yết-ma khu xuất như pháp, muốn cùng nhau làm Yết-ma khu xuất như pháp (thì thành),* [162b01] mà làm ngược lại Yết-ma khu xuất không như pháp, Yết-ma không thành… cho đến làm ngược lại Yết-ma khu xuất tợ pháp hòa hợp cũng như vậy.
6. Tỳ-kheo kia bèn di chuyển ở chỗ khác, các Tỳ-kheo ở chỗ khác cũng nghị bàn: “Tỳ-kheo này làm hạnh ác nhơ nhớp nhà người, bị các Tỳ-kheo làm pháp Yết-ma tợ pháp hòa hợp, Yết-ma không thành.” Chúng ta có thể trao cho pháp Yết-ma khu xuất như pháp, bèn cùng nhau muốn làm Yết-ma khu xuất như pháp (thì thành),* mà ngược lại làm Yết-ma y chỉ36 không như pháp, Yết-ma không thành… cho đến ngược lại làm Yết-ma y chỉ như pháp đều không thành Yết-ma… cho đến làm Yết-ma quở trách cũng như vậy.
7. Có Tỳ-kheo ngu si, vô trí luôn luôn phạm tội, các Tỳ-kheo nghị bàn: “Tỳ-kheo này ngu si, vô trí luôn luôn phạm tội, chúng ta có thể hòa hợp trao cho pháp Yết-ma y chỉ như pháp”, bèn cùng nhau muốn làm Yết-ma y chỉ như pháp (thì thành),* mà ngược lại làm Yết-ma y chỉ không như pháp, Yết-ma không thành”… cho đến ngược lại làm Yết-ma y chỉ tợ pháp hòa hợp, cũng như vậy.
8. Tỳ-kheo kia di chuyển đến ở chỗ khác, các Tỳ-kheo ở chỗ khác nghị bàn: “Tỳ-kheo này ngu si, vô trí luôn luôn phạm tội, các Tỳ-kheo kia vì (thầy)* làm Yết-ma y chỉ hòa hợp tợ pháp, Yết-ma không thành. Chúng ta có thể vì (thầy)* làm Yết-ma y chỉ như pháp”, bèn trao cho pháp Yết-ma y chỉ như pháp (thì cũng thành),* song ngược lại, nếu làm Yết-ma cử tội không như pháp, thì Yết-ma không thành… cho đến ngược lại, nếu làm Yết-ma cử tội như pháp, thì Yết-ma cũng đều không thành… cho đến ngược lại, làm Yết-ma khu xuất cũng như vậy.
9. Có Tỳ-kheo phạm tội song không thấy tội, không sám hối, không xả ác tà kiến, các Tỳ-kheo nghị bàn: “Tỳ-kheo này phạm tội mà không thấy tội, không bỏ ác tà kiến, chúng ta có thể hòa hợp trao cho pháp Yết-ma cử tội như pháp, bèn muốn cùng nhau làm Yết-ma cử tội như pháp (thì thành),* song ngược lại nếu làm Yết-ma cử tội không như pháp, thì Yết-ma không thành… cho đến ngược lại làm Yết-ma cử tội tợ pháp hòa hợp cũng như vậy.”
10. Tỳ-kheo kia di chuyển ở chỗ khác, Tỳ-kheo ở chỗ khác nghị bàn: “Tỳ-kheo này phạm tội, không thấy tội, không sám hối, không xả ác tà kiến, các Tỳ-kheo kia làm pháp Yết-ma cử tội, tợ pháp hòa hợp, Yết-ma không thành. Chúng ta có thể làm pháp Yết-ma cử tội như pháp, bèn muốn cùng nhau làm pháp Yết-ma cử tội như pháp (thì cũng thành),* song ngược nếu lại làm Yết-ma hạ ý không như pháp, [162c01] thì Yết-ma không thành… cho đến ngược lại làm Yết-ma hạ ý như pháp, thì Yết-ma cũng đều không thành… cho đến ngược lại làm Yết-ma y chỉ cũng như vậy.”
11. Có Tỳ-kheo nói lời thô ác, mắng các bạch y, các Tỳ-kheo nghị bàn: “Tỳ-kheo này nói lời thô ác mắng các bạch y, chúng ta có thể hòa hợp trao cho pháp Yết-ma hạ ý như pháp, bèn muốn cùng nhau làm pháp Yết-ma hạ ý như pháp (thì thành),* song ngược lại nếu làm Yết-ma hạ ý không như pháp, thì Yết-ma không thành… cho đến ngược nếu làm Yết-ma hạ ý tợ pháp hòa hợp, cũng như vậy.”
12. Tỳ-kheo kia di chuyển chỗ ở khác, các Tỳ-kheo ở chỗ khác nghị bàn: “Tỳ-kheo này nói lời thô ác, mắng các bạch y, Tỳ-kheo kia làm Yết-ma hạ ý tợ pháp hòa hợp, Yết-ma không thành, chúng ta có thể vì đương sự làm pháp Yết-ma hạ ý như pháp, bèn muốn cùng nhau làm pháp Yết-ma hạ ý như pháp (thì cũng thành),* song ngược lại nếu làm Yết-ma quở trách không như pháp, thì Yết-ma không thành… cho đến ngược lại làm Yết-ma quở trách như pháp, Yết-ma cũng đều bất thành… cho đến ngược lại làm pháp Yết-ma cử tội cũng như vậy.”

10. Túc số Tăng yết-ma
Có năm hạng Tăng:37 Tăng bốn Tỳ-kheo, Tăng năm Tỳ-kheo, Tăng mười Tỳ-kheo, Tăng hai mươi Tỳ-kheo, và Tăng vô lượng Tỳ-kheo.
Tăng bốn Tỳ-kheo: Trừ Yết-ma thọ giới, Yết-ma xuất tội, ngoài ra các Yết-ma khác đều được làm.
Tăng năm Tỳ-kheo: Nơi Trung quốc (nơi có nhiều Tăng) trừ Yết-ma thọ giới và xuất tội, nơi biên quốc (nơi có ít Tăng) trừ Yết-ma xuất tội, ngoài ra các Yết-ma khác đều được thực hiện.
Tăng mười Tỳ-kheo: Trừ Yết-ma xuất tội, ngoài ra các Yết-ma khác đều được thực hiện.
Tăng hai mươi Tỳ-kheo: Tất cả Yết-ma đều được làm.
Nếu Yết-ma mà Tăng là bốn Tỳ-kheo, người thứ tư không đúng pháp, không đúng Tỳ-ni (không đủ pháp Tỳ-kheo) Yết-ma không thành, Tăng có lỗi.

11. Ngăn yết-ma
Ưu-ba-ly thưa hỏi Phật: “Bạch đức Thế Tôn, nếu khi Tăng Yết-ma, có người ngăn,38 ai là người thành ngăn, ai là người không thành ngăn?”
Đức Phật dạy: “Người thọ Yết-ma ngăn, vì vậy không thành ngăn; Tỳ-kheo ở cách vách ngăn, vì vậy không thành ngăn. Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni ngăn, đều không thành ngăn.
Tỳ-kheo đồng cương giới ngăn… cho đến khiến vị ngồi nghe là thành ngăn.”

12. Giải Yết-ma thành bất thành
Có ba hạng người không nên cho giải pháp Yết-ma, nếu cho giải thì không thành giải. Ba hạng ấy là: Tỳ-kheo phạm tội mà không thấy tội, Tỳ-kheo nên sám hối mà không chịu sám hối, Tỳ-kheo nên xả ác tà kiến mà không chịu xả ác tà kiến. Ba hạng là như vậy. Nếu chưa tác pháp trao cho thì nên tác pháp trao cho, nếu đã tác pháp Yết-ma trao cho thì đó [163a01] là Thiện tác Yết-ma. Nếu ngược lại trên, chưa trao cho Yết-ma giải thì nên trao cho Yết-ma giải, nếu đã trao cho Yết-ma giải thì gọi là Thiện giải.

13. Khiển trách39
Đức Phật ở tại thành Xá-vệ, bấy giờ có hai Tỳ-kheo,40 một tên là Bàn-na, một tên là Lô-hê, ưa đấu tranh cùng nhau, cũng đấu tranh não loạn người khác; chưa sanh đấu tranh bèn sanh, đã sanh đấu tranh lại khuấy rộng ra, các Tỳ-kheo bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi hai Tỳ-kheo: “Sự thật có phải như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, thật sự như vậy.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách: “Các ông là người ngu si, làm việc phi pháp, không nên làm ác nghiệp như vậy.” Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay nếu có Tỳ-kheo nào như vậy, Tăng nên trao cho pháp Yết-ma quở trách.41 Nếu họ không bỏ thì nên tùy theo sự việc Bạch tứ yết-ma tăng thêm tội kia. Có ba pháp nên trao cho pháp Yết-ma quở trách: đã tự mình đấu tranh, lại đấu tranh với người khác, trước sau chẳng phải một. Lại có ba pháp: thân cận ác tri thức, cùng người ác làm bạn, chính mình ưa làm điều ác, cũng nên trao cho pháp Yết-ma quở trách. Lại có ba pháp: phá Tăng thượng giới, phá Tăng thượng kiến, thân cận tùy thuận bạch y, cũng nên trao cho pháp Yết-ma quở trách. Có ba loại Yết-ma quở trách không thành: người bị quở trách nên có mặt mà lại quở trách vắng mặt. Cần hỏi Tăng, nên trao cho pháp Yết-ma quở trách không, mà không hỏi. Nên khiến người bị quở trách tự nói tội lỗi của mình mà không khiến họ tự nói. Lại có ba thứ Yết-ma không thành: nên tác Yết-ma hiện tiền mà không hiện tiền, phi pháp biệt chúng, nên khiến họ tự nói tội lỗi của mình mà không khiến. Tỳ-kheo thọ Yết-ma quở trách nên nghiêm chỉnh thuận Tăng, nghĩa là tuân hành: không nên độ người, không nên trao giới Cụ túc cho người, không nên cho người y chỉ, không nên nuôi Sa-di, không nên làm người hành trù, nếu Tăng sai cũng không nên nhận, không nên giáo giới Tỳ-kheo-ni, nếu Tăng sai cũng không nên nhận; Tăng sai bất cứ điều gì đều không nên nhận; nếu khi hành Tăng sự không được có ý kiến, không được mắng các Tỳ-kheo khác, không được ỷ thế nhà vua, không được ỷ thế của mình, không được ỷ thế của thân tộc, chỉ nên nương vào uy lực của Phật, Pháp, Tăng, nên ăn năn tự trách, không chống trái ý của Tăng, cần cầu giải Yết-ma.”42
Sau đó, hai Tỳ-kheo kia thuận tùng đối với Tăng, cải hối tự trách, cần cầu giải Yết-ma quở trách. Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy: “Tăng nên Bạch tứ yết-ma giải, Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, kính lễ sát chân Tăng, cầu xin giải Yết-ma quở trách ba lần. Tăng nên sai một Tỳ-kheo xướng lên: [163b01] Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo này tên là… ưa cùng nhau đấu tranh, lại đấu tranh não loạn người này, người nọ, nên việc đấu tranh chưa sanh lại sanh, việc đã sanh thì lan rộng, trước đây Tăng đã trao Yết-ma quở trách, mà không từ bỏ nên Tăng gia thêm tội kia. Nay đương sự đã thuận tùng Tăng, ăn năn tự trách, cần cầu giải Yết-ma. Nay Tăng tác pháp giải Yết-ma. Đây là lời tác bạch.
Đại đức tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là… ưa đấu tranh cùng nhau… cho đến câu: Nay Tăng giải Yết-ma. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Lần thứ hai lần thứ ba cũng nói như vậy.
Tăng đã trao cho Tỳ-kheo…, pháp giải Yết-ma quở trách rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

14. Hạ ý
Bấy giờ, ở cách thành Xá-vệ không xa có khu rừng Yêm-ma-lặc.43 Bên cạnh rừng ấy có ông Trưởng giả tên là Chất-đa-la,44 có lòng tin kính Phật pháp, thường cung cấp cho các Tỳ-kheo. Trong rừng Yêm-ma-lặc có một Tỳ-kheo tên là Thiện Pháp,45 bậc cựu trú nơi đây, làm Ma-ma-đế. Trưởng giả Chất-đa-la khi muốn thỉnh Tăng cúng y thực hay bố thí vật gì cho ai đều tin cho Tỳ-kheo Thiện Pháp biết trước. Bấy giờ, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cùng năm trăm Tỳ-kheo du hành nơi khu rừng ấy. Trưởng giả nghe, liền đích thân ra nghinh đón, khi đến nơi đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên. Sau khi nghe diệu pháp, điều lợi ích được chỉ bày rồi, trưởng giả hoan hỷ bạch: “Mời các thầy sáng mai thọ trai nơi nhà con.” Họ nhận lời bằng sự im lặng. Biết các thầy sự nhận lời rồi trưởng giả trở về nhà, đến chỗ Tỳ-kheo Thiện Pháp nói: “Con mời Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên… sáng mai thọ trai, Đại đức đến dùng cơm với các ngài.” Tỳ-kheo Thiện Pháp khởi ý nghĩ: “Trưởng giả xấu xa này tâm hồn đã bị bại hoại, từ lâu nay, khi cần thỉnh Tăng đều cho ta biết trước, tại sao nay thỉnh Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cùng năm trăm Tỳ-kheo mà không cho ta biết.” Nghĩ rồi nói: “Sáng mai tôi sẽ đến.” Ông Trưởng giả trở về nhà, suốt đêm lo sửa soạn các thức ăn ngon bổ, trong thế gian những thức ăn quí giá nhất không thiếu thứ gì. Sáng ngày trải tòa ngồi, Tỳ-kheo Thiện Pháp đến, thấy sửa soạn như vậy, không thiếu một thứ mỹ thực nào. Do gia đình ông trưởng giả có ép dầu nên Thiện Pháp nói: “Các thức ăn đầy đủ cả, chỉ thiếu món bánh hồ ma.”46
Ông Trưởng giả nghe thế bèn nổi giận nói: “Đại đức uyên thâm giáo lý mà tuôn ra những lời ác như vậy!” Ông Trưởng giả liền nói ví dụ: “Xưa kia có người khách buôn, từ phương Bắc đem một con gà mái đến nước Ba-tuần, nước Ba-tuần không có gà trống, cho con quạ rập với nó, đẻ ra trứng, ấp nở ra thành con quạ con, khi lớn lên nó phát ra tiếng gà không được, nó kêu tiếng quạ cũng không được. Nay Đại đức cũng như vậy, [163c01] uyên thâm giáo lý mà tuôn ra lời nói ác.”
Tỳ-kheo Thiện Pháp nghe nổi giận nói: “Trưởng giả mạ nhục tôi một cách quá đáng, làm sao tôi ở đây được, tôi sẽ đi phương xa.” Ông Trưởng giả lại nói: “Đại đức đừng giận, nên lưu lại đây, con sẽ như thường cung cấp y thực.” Nói như vậy ba lần, Tỳ-kheo Thiện Pháp vẫn không chịu ở lại. Ông trưởng giả nói: “Đại đức muốn đi đến đâu?” Tỳ-kheo đáp: “Tôi muốn đến chỗ đức Phật.” Ông trưởng giả nói: “Nếu đến chỗ đức Phật, cho con xin kính lời vấn an đức Thế Tôn và xin Đại đức trình bày đúng sự thật, chớ nên thêm bớt.”
Tỳ-kheo Thiện Pháp nói: “Được rồi!” Bấy giờ ông trưởng giả trải tọa cụ xong, đến bạch: “Trai soạn xong, giờ thọ trai đã đến, xin kính mời.” Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, cùng đại chúng vây quanh, đến nhà ông trưởng giả, an tọa nơi tòa. Chính ông trưởng giả tự tay dâng thức ăn, ăn xong lấy nước rửa, rồi lấy chiếc ghế nhỏ ngồi phía trước, hai tôn giả vì gia chủ nói các pháp mầu, chỉ dạy sự lợi ích để được vui vẻ, rồi rời tòa ra về.
Sau khi ăn xong, Tỳ-kheo Thiện Pháp trở về rừng, mặc y bưng bát đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên, đem chuyện của trưởng giả Chất-đa-la trình bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Phật liền quở trách: “Thầy là người ngu si, tại sao lại dùng lời hạ tiện gán cho ông trưởng giả kia?” Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay nên trao cho những Tỳ-kheo như thế pháp Hạ ý, bằng Bạch tứ yết-ma, xin lỗi bạch y kia.47 Một Tỳ-kheo xướng lên:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo nàyy tên… dùng lời hạ tiện gán cho bạch y tên là…, nay Tăng trao cho pháp Yết-ma hạ ý, xin lỗi bạch y kia. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo đây tên… dùng lời hạ tiện gán cho bạch y tên là… nay Tăng trao cho pháp Yết-ma hạ ý, xin lỗi bạch y kia. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
“Tăng đã trao cho Tỳ-kheo… pháp Hạ ý Yết-ma rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Lại nên Bạch nhị yết-ma sai một Tỳ-kheo bạn của Tỳ-kheo kia cùng đi xin lỗi bạch y kia. Một Tỳ-kheo xướng lên:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận.Nay Tăng sai Tỳ-kheo… bạn của Tỳ-kheo…, đến dùng lời xin lỗi bạch y. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo…bạn của Tỳ-kheo…, đến dùng lời xin lỗi bạch y. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã sai Tỳ-kheo… bạn của Tỳ-kheo…, đến dùng lời xin lỗi bạch y. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc như vậy, thọ trì như vậy.”
Tỳ-kheo nên dẫn Tỳ-kheo được sai đến, nắm tay bạch y nói lời xin lỗi:48 [164a01] “Trước đây tôi đã dùng lời hạ tiện gán cho ông, nay tôi ăn năn, xin ông nhận sự ăn năn của tôi”.
Nếu bạch y chấp nhận thì tốt, bằng không, Tỳ-kheo được Tăng sai đến nên dẫn Tỳ-kheo kia đến chỗ mắt thấy tai không nghe, bảo làm pháp Đột-kiết-la hối quá. Nên nói:
“Tôi, Tỳ-kheo tên là… đã dùng lời thô ác gán cho bạch y tên… phạm Đột-kiết-la, nay hướng đến Trưởng lão ăn năn.”49
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Tất nhiên sau đó, Tỳ-kheo được Tăng sai, một mình trở lại chỗ bạch y nói:
“Tăng đã trị Tỳ-kheo kia, vừa rồi tôi cũng nghiêm trị, ông cần nhận sự ăn năn của vị ấy.”50
Tiếp theo cũng như vậy, Tỳ-kheo kia lại nên đến nói lời nhận lỗi như trên. Nên thuận tùng Tăng, như trong pháp Yết-ma quở trách đã nói.
Vị kia thuận theo Tăng rồi, ăn năn, tự trách, yêu cầu giải Yết-ma. Tăng nên trao cho pháp giải Yết-ma. Pháp giải Yết-ma cũng như trước đã nói.51

[1] Hán: Ca-thi-na y pháp迦絺那衣法; Pāli: Kaṭhinakkhandhaka. Y Ca-thi-na, cách gọi khác là Kiết-sỉ-na, dịch ý là y công đức.
[2] Ta-kiệt-đà娑竭陀; Pāli: Sāketa. Tứ phần 43, tr. 877c06: “Có số đông Tỳ-kheo an cư ở nước Câu-tát-la.” Pāli, Kathinakkhando, Vin. i. 253: Có 30 Tỳ-kheo, là những vị sống a-lan-nhã, ở nước Pāvā.
[3] Tứ phần 43, tr. 877c29: “Có y dư, không mất y, ăn biệt chúng, lần lượt ăn, trước bữa ăn và sau bữa ăn được vào xóm làng mà không dặn Tỳ-kheo khác.”
4 Xem Phần I, Ch. v, Tỳ-kheo, Ba-dật-đề 32: Biệt chúng thực.
5 Tỳ-kheo, Ba-dật-đề 31: Triển chuyển thực. Tăng-kỳ, Tứ phần, Thập tụng, Căn bản như Ngũ phần. Pāli (Vin. i. tr. 254) thay điều này bằng: nơi nào nhận được y, Tăng nơi đó chia (yo ca tattha cīvaruppādo so nesaṃ bhavissati). Y chỉ phân chia cho các Tỳ-kheo trong trú xứ an cư cùng dự phần ca-thi-na. Khi cần chia cho các Tỳ-kheo trú xứ khác đến, phải xả ca-thi-na. Luật Căn bản, Kiết-sỉ-da sự, có hai nhóm lợi. Nhóm một, 5 điều lợi: 1. chứa y quá 10 ngày; 2. chứa y quá 1 tháng; 3. không phạm ly y túc; 4. du hành nhân gian chỉ cần hai y; 5. tùy ý chứa y dư nhiều ít. Nhóm hai, 5 điều: 1. biệt chúng thực; 2. sác sác thực; 3. tục gia không mời vẫn có thể đến thọ thực; 4. được phép tùy ý xin y nhiều ít; 5. từ khi thọ, trong vòng năm tháng, mọi tài vật có được đều thuộc lợi dưỡng kiết-sỉ-na.
6 Xem Phần I, Tỳ-kheo, Ba-dật-đề 82.
7 Xem Phần I, Ni-tát-kỳ 1: Súc trường y.
8 Xem Phần I, Ni-tát-kỳ 2: Ngủ lìa y.
9 Ba pháp yết-ma trong Ngũ phần: 1. bạch yết-ma chuẩn nhận một y vật làm y ca-thi-na; 2. bạch yết-ma Tăng sai một hay nhiều Tỳ-kheo may y ca-thi-na; 3. bạch yết-ma Tăng sai Tỳ-kheo làm người thọ trì ca-thi-na thì, bên Tứ phần chỉ có một lần tác bạch Yết-ma.
10 Y mất hiệu lực đối với cá nhân Tỳ-kheo trong 8 trường hợp. Tứ phần: “Ra đi, y thành, y chưa thành, mất y, mất hy vọng, nghe xả, xuất giới, đồng xả.”
11 Bản Hán, hết quyển 22.
[4] Hán: Diệt tránh pháp滅諍法; Pāli: Samatha khandhaka, chương nói về diệt tránh. Tham chiếu Pāli, Cūḷavagga 4, Samathakkhandhakaṃ, Vin. ii. 73. Tứ phần 47, “Diệt tránh kiền-độ” (tr. 913c19); Thập tụng 35, “Tránh sự pháp” (tr. 251a). Trung A-hàm, kinh 196 (Châu-na), bảy pháp chỉ tránh: diện tiền chỉ tránh luật面前止諍律, ức chỉ tránh luật憶止諍律, bất si chỉ tránh luật不癡止諍律, tự phát lồ chỉ tránh luật 自發露止諍律, quân chỉ tránh luật君止諍律, triển chuyển chỉ tránh luật展轉止諍律, như khí phấn tảo chỉ tránh luật如棄糞掃止諍律.
2 Hán: Tứ chủng tránh 四種諍. Tứ phần: “Có bốn thứ tránh: ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh và sự tránh.” Thập tụng: sự 事. Tránh tức sự; hai từ cùng một gốc trong tiếng Phạn. Pāli: adhikaraṇā. Cf. Cūḷavagga iv (Vin. ii. 88): vấn đề được thảo luận, được tranh cãi; chủ điểm hay trung tâm của sự tranh chấp.
3 Xem cht. 2, Phần I, Ch. viii.
4 Xem cht. 3, Phần I, Ch. viii.
5 Xem cht. 4, Phần I, Ch. viii.
6 Tự ngôn 自言, Pāli: Paṭiññātakarana, Xem cht. 5, Phần I, Ch. viii.
7 Đa nhân ngữ 多人語; Thập tụng: Mích tội tướng. Xem cht. 6, Phần I, Ch. viii.
8 Tứ phần: Như thảo phú địa 如草覆地; Xem cht. 7, Phần I, Ch. viii.
9 Tứ phần: Tác tội xứ sở 作罪處所. Xem cht. 7, Phần I, Ch. viii.
10 Hán: Ngôn tránh言諍. Thập tụng: “đấu tránh sự 鬥諍事”. Luật nhiếp: “Bình luận tránh sư 平論諍事”. Pāli: vivādādhikaraṇa, tranh chấp do bất đồng về lời lẽ.
11 Hán: Giáo giới tránh 教誡諍 (Skt: avavāda); Tứ phần: Mích tránh 覓諍; Thập tụng: vô căn sự 無根事. Luật nhiếp: Phi ngôn tránh sự 非言諍事 (Skt: anuvāda), là lời chỉ trích, lời buộc tội. Pāli: anuvādādhikaraṇa, tranh chấp về sự giáo giới, về lời lẽ buộc tội.
12 Do bất đồng ý kiến trong việc luận tội liên quan đến năm thiên, trong giới bổn, khi hỏi đương sự về ức niệm phạm tội mà đưa đến việc tranh cãi.
13 Hán: Phạm tội tránh 犯罪諍. Tứ phần: Phạm tránh 犯諍. Thập tụng: phạm tội sự 犯罪事. Pāli: āpattādhikaraṇa, tranh chấp về tội danh.
14 Sự tránh 事諍. Thập tụng: thường sở hành sự 常所行事. Pāli: kiccādhikaraṇa, tranh chấp về nghĩa vụ.
15 Tứ phần 47, tr. 916a15: “Việc cần làm trong ngôn tránh, việc cần làm trong mích tránh, việc cần làm trong phạm tránh. Đó gọi là sự tránh.” Thập tụng 35 (tr.251b16): thường sở hành sự, tranh cãi về các loại yết-ma, về bố-tát, tự tứ, các phận sự hằng ngày của Tăng.
16 Tứ phần 47, tr. 917b05: A-nan thưa hỏi Phật có bao nhiêu pháp để diệt ngôn tránh?
17 Ba yếu tố hiện tiền. Tứ phần: “pháp, tỳ-ni, và người”. Cf. Pāli: Majjhimanikāya-aṭṭhakathā, iv. 43, có bốn hiện tiền (saṅghasammukhatā), pháp hiện tiền (dhammasammukhatā), tỳ-ni hiện tiền (vinayasammunkhatā), nhân hiện tiền (puggalasammukhatā).
18 Xem Phần I, Tỳ-kheo, Ba-dật-đề 5.
19 Tứ phần 47, tr. 917b23: “Chúng ta hãy cùng với các vị có trí tuệ tập hợp riêng một chỗ để cùng nhau bình đoán việc này.”
20 Tứ phần 47, tr. 917c28: “Tỳ-kheo có mười pháp nên sai để bình đoán riêng việc này: 1. Trì giới đầy đủ, 2. Đa văn, 3. Tụng hai bộ tỳ-ni thuộc lòng, 4. Lý giải rộng nghĩa của Luật, 5. Khéo léo xử dụng ngôn từ, biện luận rành mạch, đủ khả năng vấn đáp khiến cho vị kia hoan hỷ, 6. Nếu tránh sự khởi lên phải có khả năng chấm dứt, 7. Không thiên vị, 8. Không giận hờn, 9. Không khiếp sợ, 10. Không si mê.” Cf. Thập tụng 35 (tr.252c15): Tỳ-kheo thành tựu 5 pháp được lập làm người đoán sự, gọi là ô-hồi-cưu-la 烏迴鳩羅 (Skt.vyūḍhaka, Hirakawa). Cf. Pāli, Vin. ii. 95: bhikkhu ubbāhika, Tỳ-kheo đoán sự thành tựu 10 pháp.
21 Hành trù: Xem cht. 17, Ch. ii, Pháp Bố-tát.
22 Tứ phần 47, tr. 918c25 : “Vị nào có năm pháp sau đây không nên sai hành xá-la: ‘có thiên vị, hay giận hờn, khiếp sợ, có si, không biết đã hành hay không hành.’”
23 Tứ phần 48, tr. 920a25: “Mích tránh được diệt bằng bốn pháp. Đó là, hiện tiền tỳ-ni, ức niệm tỳ-ni, bất si tỳ-ni và tội xứ sở tỳ-ni.”
24 Tứ phần 48, tr. 922a09: “Tùy theo tội phạm, bằng tất cả pháp để chấm dứt.”
[5] Hán: Yết-ma pháp 羯磨法 Pāli: Kammakkhandha.
[6] Yết-ma 羯磨là phiên âm từ karman của tiếng Phạn. Hán dịch là “Biện sự tác pháp”, là tất cả công việc của Tăng đều do Yết-ma mà thành tựu. Nếu việc của Tăng mà không qua yết-ma thì những công việc đó không thành tựu.
[7] Ma-na-đỏa: Xem cht. 5, Phần I, Ch. ii.
4 A-phù-ha-na: Xem cht. 126, Phần I, Ch. v.
5 Hán: Biệt trú pháp別住法, cách sống riêng, Pāli: Parivāsa, thời gian bị quản chế. (xem thêm cht. 9, Phần I, Ch. ii).
6 Bổn Ma-na-đỏa 本摩那埵, tức là bỏ tất cả những đêm đã hành rồi (nếu chưa hành hết sáu đêm), kéo lại ngày đầu hành trở lại sáu đêm Ma-đa-đỏa, nên gọi là bổn Ma-na-đỏa.
7 Hán: Bổn nhất dạ Biệt trụ本一夜別住, nguyên tắc hành trở lại cũng giống như Bổn lục dạ Ma-na-đỏa本六夜摩那埵 ở trên.
8 Bản Hán, hết quyển 23.
9 Tiếp theo phần Yết-ma (I) ở trước.
10 Câu-xá-di: Xem cht. 106, Phần I, Ch. ii.
11 Hán: Bất kiến tội Yết-ma 不見罪羯磨, tức là tác pháp yết-ma vị Tỳ-kheo không thấy phạm tội. Cf. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao, q. thượng: “Tỳ-kheo phạm tội, mà không nhận tội, gọi là bất kiến…” Thập tụng: tác Yết-ma bất kiến tẩn 不見擯, đuổi đi vì không chịu nhận tội. Pāli: āpattiyā adassane ukkhipiṃsu, xả trí (gạt Tỳ-kheo ấy qua một bên) vì không chịu nhận tội.
12 Thập tụng: Tỳ-kheo bị đuổi là vị giỏi pháp, giỏi luật, nổi tiếng, có thế lực, được nhiều người hỗ trợ. Pāli, Vin. i. 337: nói như Thập tụng.
13 Tứ phần: Tùy cử Tỳ-kheo 隨舉比丘: Tỳ-kheo tùy thuận với Tỳ-kheo bị cử. Pāli: ukkhitānuvattaka bhikkhu. Những hình thức xả trí (Vin. i. 339): không mời, không yết-ma chung, không ngồi chung, không ở chung phòng…
14 Hán: Xả trí 捨置; Pāli: ukkhepanīya-kamma, yết-ma cử tội, biệt gián sự, ước sắc yết-ma.
15 Tứ phần: Biệt bộ thuyết giới yết-ma 別部說戒羯磨; sự phá Tăng đã thành hình.
16 Tứ phần: “Nếu những vị kia yết-ma thuyết giới như lời Ta dạy thì yết-ma thành tựu, không phạm.” Vin. i. 340: Tỳ-kheo bị cử tác yết-ma thuyết giới trong giới, yết-ma như pháp; trong khi đó, Tỳ-kheo cử tội ra ngoài giới tác yết-ma thuyết giới; yết-ma như pháp. Cả hai đều hợp pháp, vì tác pháp yết-ma trong hai trú xứ khác nhau.
17 Câu-tát-la: Xem cht. 60, Phần I, Ch. i.
18 Hán: Trường Thọ vương長壽王; Tứ phần: Trường Sanh 長生. Trung A-hàm, đã dẫn: Trường Thọ. Pāli: Dīghīti.
19 Hán: Ca-di vương 迦夷王; Tứ phần: Già-xa 伽奢. Pāli: Kāsī. trong thời Phật, là 1 trong 16 đại quốc, thủ đô là Bārāṇasī (Ba-la-nại); được sáp nhập vào Kosala (Câu-tát-la) do Pasenadi cai trị.
20 Tứ phần 43 tr. 880b18: Phạm Thí 梵施. Cf. Chuyện tiền thân này cũng được tìm thấy trong bản Trường Thọ Vương kinh 72, Trung A-hàm 17: Câu-sa-la Quốc vương Trường Thọ拘娑羅國王長夀. (T1n26, tr. 532c09). Cf. Pāli (Vin. i. tr. 342): Dīghīti.
21 Tứ phần: Đại thần tự là Phú-lô-hê-đa, là bạn của vua Trường Sanh. Pāli: purohito brahmaṇo, bà-la-môn tư tế của vua. Chức vụ chứ không phải tên. Quốc sư của vua Brahmadatta.
22 Trường Sanh長生; Tứ phần: Trường 長. Bản Minh: Trường Ma-nạp (phiên âm của māṇava: thiếu niên). Pāli: Dīghāvu.
23 Tứ phần: “Pháp thượng tôn.” Trung A-hàm: “Bằng đủ thứ ngôn ngữ, phá vỡ chúng tối tôn.”
24 Tứ phần: “Còn biết lẽ gì khác?” Trung A-hàm: “Khi phá hoại Thánh chúng, không ai ngăn cản được.”
25 Tứ phần 43, tr. 882c225: “Dùng sức thần túc rời Câu-thiểm-di trở về nước Xá-vệ.” Trung A-hàm 17 (tr. 535c18): Thế tôn đến thôn Sa-lâu-la, sau đó đến Hộ lâm. Cf. Vin. i. 350: Đếnthôn Bālakaloṇakara. Sau đó đi đến Pārileyya. Cuối cùng, trở về Sāvatthi.
26 Tứ phần 43, tr. 883a21: “Nên cho họ phòng xá ngọa cụ ở chỗ khuất kín. Nếu không có chỗ khuất kín thì hãy lập ra chỗ khuất kín cho họ, cũng như cách thức phân phối ngọa cụ cho chúng Tăng.” Vin. i. 356: vivittaṃ senāsanaṃ dātabbaṃ, cho họ chỗ nằm riêng biệt.
27 Tứ phần 43, tr. 883a17: “Có mười tám sự việc khiến Tăng bị vỡ: “pháp, phi pháp, tỳ-ni, phi tỳ-ni, phạm, không phạm, nhẹ, nặng, hữu dư, vô dư, thô ác, không thô ác, nên làm, không nên làm, chế, không chế, thuyết, không thuyết.” Thập tụng 30 (tr. 216a23): Thập bát phá Tăng sự “Nếu Tỳ-kheo, pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, luật…, phi luật,… phạm, phi phạm, trọng, khinh, tàn, vô tàn, thường sở hành, phi thường sở hành, thuyết, phi thuyết…” Cf. Vin. i 354: aṭṭhārasahi vatthuhi adhammavādī: 18 cơ sở ngôn thuyết phi pháp dẫn đến phá Tăng: adhammaṃ dhammoti dīpeti (phi pháp mà nói là pháp), dhammaṃ adhammoti dīpeti (pháp nói là phi pháp), avinayaṃ (phi luật)… vinayaṃ(luật)…abhāsitaṃ alapitaṃ tathāgatena (điều này không phải Như Lai nói), bhāsitaṃ lapitaṃ tathāgatena (điều này được Như Lai nói), anāciṇṇaṃ tathāgatena (điều này không phải là thường hành bởi Như Lai), āciṇṇaṃ tathāgatena (điều này được thường hành bởi Như Lai), apaññattaṃ tathāgatena (điều không được Như Lai chế), paññattaṃtathāgatena (điều được Như Lai chế định), anāpattiṃ (không tội), āpattiṃ (tội), lahukaṃ āpattiṃ (tội nhẹ), garukaṃ āpattiṃ (tội nặng), sāvasesaṃ āpattiṃ (tội hữu dư),anavasesaṃ āpattiṃ (tội không dư tàn), thullaṃ āpattiṃ (tội thô trọng), athullaṃ āpatti (tội không thô trọng)…
28 Tứ phần: A-nan-bân-đê 阿難邠坻. Pāli: Anāthapiṇḍika, tức ông Cấp Cô Độc.
29 Hán: Chiêm-bà 瞻婆, Pāli: Campā. Còn gọi là nước Chiêm-bà, nằm phía nam nước Phệ-xá-li. Đô thành phía nam ngạn sông Hằng.
30 Hán: Hằng thủy 恒水, Pāli: Gaṅgā.
31 Tứ phần: Chỉ nói có một Tỳ-kheo. Thập tụng 30, Tỳ-kheo này có tên là Cộng Kim 共金. Pāli, Vin. i. 312: Kassapagotta.
32 Hán: Ma-ma-đế 摩摩諦, Skt: Vihāra-svāmin, người trông coi chùa, trông coi tinh xá (Trú trì).
33 Tứ phần 44, tr. 895c11: “Có bốn loại yết-ma: phi pháp yết-ma, phi pháp biệt chúng yết-ma, phi pháp hòa hợp yết-ma, pháp biệt chúng yết-ma.” Bản Hán Tứ phần dịch thiếu chính xác. Cần sửa lại, bốn loại yết-ma: phi pháp biệt chúng, (như) pháp biệt chúng, phi pháp hòa hiệp, (như) pháp hoà hiệp. Pāli, Vin. i. 316: cattāri kammāni: adhammena vaggakammaṃ (phi pháp biệt chúng), adhammena samaggakammaṃ (phi pháp hòa hiệp), dhammena vaggakammaṃ (như pháp biệt chúng), dhammena samaggakammaṃ(như pháp hòa hiệp).
34 Tứ phần: “Chỉ có pháp yết-ma, và hòa hợp yết-ma thì nên làm.” Pāli, ibid. chỉ một yết-ma được phép: dhammena samaggakammaṃ, như pháp hòa hiệp.
35 Bạch tứ yết-ma: Xem cht. 145, Phần III, Ch. i trước.
36 Để bản: Y chỉ yết-ma 依止羯磨, hình như đoạn này bị nhảy bỏ sót: Đáng ra phải: “Làm Yết-ma khu xuất (驅出羯磨) không như pháp, thì Yết-ma không thành….” chứ không phải làm Yết-ma y chỉ (?).
37 Tứ phần 44, tr. 886a22: “Có bốn loại Tăng: Tăng bốn vị, Tăng năm vị, Tăng mười vị, Tăng hai mươi vị.” Mahāvagga xi, có năm Tăng như Ngũ phần.
38 Để bản: Ha 呵; tức quở trách, chỉ trích. Thập tụng: già 遮; nghĩa là ngăn. Ở đây có nghĩa là ngăn không cho tiến hành yết-ma. Pāli: saṅghamajjhe paṭikkosanā, sự phi nạn (phủ quyết) giữa Tăng.
39 Tứ phần 44, tr. 889a13: “Ha trách kiền độ 呵責揵度, Ch. xi: khiển trách”. Thập tụng 31, Ch. iv: “Ban-trà Lô-già pháp”, tụng thứ 5, về khổ thiết yết-ma 苦切羯磨. (Pāli:tajjanīyakamma). Cf. Cūḷavagga 1 Kammakkhandhakaṃ, Vin. ii. 1.
40 Tứ phần: Trí Tuệ 智慧 và Lô-hê-na 盧醯那. Thập tụng 31: Bàn-trà 般茶 và Lô-già 盧伽. Vin. ii. 1: Paṇḍuka-lohitaka, một nhóm các Tỳ-kheo dẫn đầu bởi Paṇḍuka (Hán đọc là Paṇḍita) và Lohitaka.
41 Ha trách 呵責; Thâp tụng: khổ thiết yết-ma 苦切羯磨. Pāli: tajjanīyakamma.
42 Tứ phần 44, tr. 889c04 : Có 7 x 5 =35 việc không được làm các Tăng sự.
43 Tứ phần 44, tr. 982b03: A-ma-lê 阿摩梨. Pāli: Ambāṭakārāma.
44 Tứ phần: Chất-đa-la cư sĩ 質多羅居士. Pāli: Cittagahapati. Nguyên chủ nhân của vườn Ambāṭaka, sau đó cúng cho Tăng.
45 Thập tụng: Uất-đa-la欝多羅. Pāli: Sudhamma.
46 Tứ phần: Hồ ma chỉ 胡麻滓. Thập tụng: hồ ma hoan hỷ hoàn 胡麻歡喜丸. Pāli: tilasaṅgulikā, bánh hay kẹo làm bằng hạt mè (vừng). Luật sớ Pāli: vì nhà Citta vốn làm nghề sản xuất kẹo vừng, nên Tỳ-kheo này nói biếm nhẽ.
47 Tứ phần: “Cho phép các Tỳ-kheo vì Tỳ-kheo Thiện Pháp tác pháp bạch tứ yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y.” Thập tụng: Hạ ý yết-ma 下意羯磨: khiến phải xin lỗi cư sĩ. Vin. ii. 18: paṭisāraṇīyakammaṃ – gahapati khamāpetabbo, như Thập tụng.
48 Tứ phần:“Tăng đã vì Tỳ-kheo Thiện Pháp tác pháp khiển trách phạt vị ấy.” Thập tụng: Nếu cư sĩ nhận lời, bảo đi ra chỗ mắt thấy, tai không nghe. Rồi Tỳ-kheo phạm sám Đột-kiết-la với Tỳ-kheo Tăng sai, cho cư sĩ thấy.
49 Tứ phần: “Tỳ-kheo kia trước phạm tội. Nay đã sám hối. Tội đã trừ.” Thập tụng: Nếu cư sĩ không chịu; Tăng sai hai Tỳ-kheo. Bấy giờ nếu cư sĩ chịu, cũng bảo đi như trên, rồi Tỳ-kheo phạm sám Đột-kiết-la với hai Tỳ-kheo Tăng sai cho cư sĩ thấy.
50 Tứ phần: “Tỳ-kheo kia Tăng đã làm pháp khiển phạt.” Thập tụng: Nếu cư sĩ vẫn không chịu, Tăng bảo Tỳ-kheo đó tránh đi trú xứ khác; nếu cư sĩ có thế lực quan quyền.
51 Bản Hán, hết quyển 24.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *