Ngũ Phần Luật – 32. Phần V – Chương 1 – Pháp Phá Tăng

CHƯƠNG I : PHÁP PHÁ TĂNG

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

PHẦN THỨ NĂM
五分初
(Hán dịch quyển 25-30)
1. Pháp Phá Tăng 破僧法
2. Pháp Ngọa cụ 臥具法
3. Pháp Tạp 雜法
4. Pháp Oai nghi 威儀法
5. Pháp Ngăn Bố-tát 遮布薩法
6. Pháp Biệt trú 別住法
7. Pháp Điều phục 調伏法
8. Pháp Tỳ-kheo-ni 比丘尼法
9. Pháp Ngũ bách tập 五百集法
10. Pháp Thất bách tập 七百集法
1. Điều-đạt
Lúc bấy giờ, lần thứ ba Điều-đạt[2] nghĩ rằng: “Nay ta phá Tăng của Sa-môn Cù-đàm, tên của ta đã được vang lừng, mọi người sẽ nói: Sa-môn Cù-đàm có đại thần lực mà Điều-đạt có thể phá được Tăng của ông ta.” Nghĩ như vậy, Điều-đạt bèn nói với quyến thuộc:[3] Át-ty-phân-na-bà, Lâu-ban-na-lô, Hê-già-lô-đế-xá, Cù-gia-ly, Khiên-trà-đà-bà, Tam-văn-đạt-đa … Trong số người đó, Tam-văn-đạt-đa là bậc đại thông minh, hỏi Điều-đạt: “Sa-môn Cù-đàm có đại oai đức, Tăng của ông ta làm sao có thể bị phá được?” Điều-đạt nói: “Ta sẽ thuyết minh năm pháp giữa Tăng, cần nên suốt đời thọ trì: 1. Không ăn muối; 2. Không ăn bơ và sữa; 3. Không ăn cá thịt, nếu ăn thì thiện pháp không sanh; 4. Khất thực, nếu nhận sự mời ăn của người thì thiện pháp không sanh; 5. Tám tháng của mùa Xuân và mùa Hạ nên ngồi nơi đất trống; bốn tháng mùa Đông thì ở trong am tranh, nếu nhận phòng xá của người thì thiện pháp không sanh.[4] [164b01] Nhân dân trong hai nước Ma-kiệt và Ương-già đều tin ưa khổ hạnh. Chúng ta thực hành năm pháp này, số người theo ta chắc chắn sẽ nhiều, đủ để phá Tăng.” Tam-văn-đạt-đa nghe rồi cũng tán đồng với Điều-đạt: “Có thể chia rẽ được khối chúng Tăng của đức Phật, tiếng tăm sẽ được vang dội.” Tam-văn-đạt-đa cũng theo luôn. Khi ấy, Điều-đạt có người đệ tử Ưu-bà-tắc tên là Hòa-tu-đạt, thường cúng dường Điều-đạt, Điều-đạt nhiều lần thuyết phục nên ông ta cũng tán đồng. Hôm ấy vào ngày thứ mười lăm Bố-tát, giữa chúng Tăng, Điều-đạt tuyên bố năm việc trên, chính mình hành trù, xướng rằng: “Vị nào đồng ý năm điều này thì rút thẻ này.” Khi ấy năm trăm Tỳ-kheo5 đều rút thẻ, chỉ trừ A-nan và một Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn6 không rút thẻ.
Hôm đó, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, các đại La-hán đều không có mặt trong kỳ Bố-tát ấy. Điều-đạt hành trù xong, liền cùng năm trăm Tỳ-kheo hòa hợp Bố-tát. A-nan và một Tỳ-kheo Tu-đà-hòan không rút thẻ, liền bỏ ra đi, đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt kính lễ sát chân, đem vấn đề ấy bạch Phật. Đức Phật nhân việc đó nói kệ:
Người ác, thiện khó hội
Người thiện, dễ hội nhau.
Người thiện, ác khó hội
Người ác, dễ hội nhau.
Bấy giờ, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên nghe sự việc này, đến chỗ đức Phật. Từ xa, đức Phật thấy, Ngài bỗng vui khen ngợi: “Thiện lai, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên! Hai thầy có thể đến trong chúng của Điều-đạt dẫn năm trăm Tỳ-kheo trở về.” Hai vị giáo thọ, kính lễ sát chân Phật rồi đi.
Khi ấy, Tỳ-kheo Tu-đà-hoàn đi theo tôn giả A-nan, thấy Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên ra đi, bèn bùi ngùi khóc lớn. Đức Phật hỏi Tỳ-kheo ấy: “Tại sao khóc như vậy?” Tỳ-kheo thưa: “Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên là đệ tử bậc nhất của đức Phật, nay cũng đến với chúng Điều-đạt, con sợ hai tôn giả học theo pháp của Điều-đạt, chính vì thế mà con khóc.” Đức Phật nói với Tỳ-kheo ấy: “Thôi đi, thầy đừng khóc nữa! Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên không bao lâu họ sẽ dẫn năm trăm Tỳ-kheo trở về.”
Khi Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đi thẳng vào chỗ chúng của Điều-đạt, thì Tam-văn-đạt-đa từ xa trông thấy, vội chạy vào nói với Điều-đạt: “Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên là hàng đệ tử bậc nhất của Sa-môn Cù-đàm, nay đến đây, nhằm phá ý định của các Tỳ-kheo, không nên nói chuyện, cũng đừng nên mời ngồi.” Điều-đạt tự cho năm pháp của mình là đạo nên không nghe lời của Tam-văn, cũng không bận tâm đến vấn đề.
Khi Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đến nơi, Điều-đạt bèn nói: “Thiện lai Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên có thể đến ngồi nơi chỗ này, rồi nói tiếp: Là người có trí, điều gì trước chưa nghe, nay nghe để nhận lấy mà hành trì. Hai vị, trước là hàng đệ tử bậc nhất của Sa-môn Cù-đàm, nay lại đến đây làm đệ tử bậc nhất của tôi; âu cũng là điều tốt vậy!” [164c01]
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên im lặng không trả lời, Điều-đạt tưởng đã chấp nhận lời nói của mình. Điều-đạt liền phỏng theo nếp sống của Phật, bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên: “Quý thầy có thể vì chúng hội nói pháp, tôi bị đau lưng, nằm nghỉ một chút.” Điều-đạt xếp Tăng-già-lê thành bốn lớp để gối; nằm nghiêng phía bên hữu, hai chân chồng lên nhau, nhưng không hệ niệm tại tiền nên chỉ trong giây lát ngủ muồi, lăn qua phía bên tả, xoải người lên đất, ngáy khò khò…
Khi ấy, Mục-kiền-liên hiện các thần lực theo chuyên môn của mình, còn Xá-lợi-phất nói các pháp mầu, đoạn trước, đoạn sau cùng chặng giữa nói lên điều thiện, thiện nghĩa, thiện vị, với tướng phạm hạnh. Năm trăm Tỳ-kheo nghe rồi, liền nơi tòa xa trần, lìa cấu, đối với các pháp, đặng con mắt pháp trong sạch. Thấy pháp đắc quả rồi, bèn nói với nhau rằng: “Chúng ta có thể đứng dậy trở về chỗ đức Phật.” Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng năm trăm Tỳ-kheo trở về chỗ đức Phật.
Khi ấy, Tam-văn-đạt-đa dùng ngón chân đụng nhẹ vào Điều-đạt và mắng: “Tôi tớ dòng họ Thích hãy thức dậy! Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên dùng các phương tiện dẫn hết các Tỳ-kheo đi rồi!” Điều-đạt thức dậy kinh hãi rủa nộp: “Đích thị là ác dục Tỳ-kheo, mới đó có thiện ý, tại sao bỗng lại sanh ác tâm dùng phương tiện dẫn hết Tỳ-kheo của ta đi!” Vì quá giận dữ và sợ sệt nên máu nóng từ lỗ mũi trào ra, ngay nơi thân còn sống mà đọa vào địa ngục.
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên về đến chỗ đức Phật rồi, đầu mặt đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên. Mục-kiền-liên bạch Phật: “Con muốn năm trăm Tỳ-kheo này thọ lại giới Cụ túc.” Đức Phật dạy: “Khỏi phải thọ lại. Tại sao vậy? Năm răm Tỳ-kheo này ngu si nên dùng pháp tưởng rút thăm, nay chỉ cho phép Tăng khiến họ tác pháp hối quá Thâu-lan-giá.”
Tôn giả Mục-kiền-liên bạch Phật: “Kỳ lạ thay, bạch đức Thế Tôn! Điều-đạt bắt chước Phật, đọa vào khổ xứ như thế.” Đức Phật dạy: “Không phải chỉ bây giờ Điều-đạt bắt chước Ta mà đọa vào địa ngục, xưa kia cũng đã từng bắt chước Ta, phải đọa vào khổ xứ.” Mục-kiền-liên lại thưa hỏi Phật: “Thưa Thế Tôn, chuyện ấy như thế nào?” Đức Phật dạy: “Thuở đời quá khứ, nơi chỗ không nhàn7 có một ao nước, một con voi lớn vào trong ao lấy cái ngó sen rửa sạch rồi ăn, sức khỏe được dồi dào. Lại có một con voi cũng bắt chước vào ao lấy cái ngó sen, không rửa mà ăn, đưa đến trọng bệnh rồi chết.” Nhân việc này đức Phật liền nói bài kệ:
“Đừng bắt chước đại long
Bắt chước không thể được
Do bắt chước đại long
Nên ăn bùn rồi chết.”8
[165a01] Đức Phật bảo Mục-kiền-liên: “Con voi lớn chính là thân Ta, còn con voi kia là Điều-đạt. Xưa bắt chước Ta nên phải bỏ mạng, nay bắt chước Ta nên phải nhận lấy cái khổ như vậy.”
Tôn giả Mục-kiền-liên bạch Phật: “Kỳ lạ thay, bạch đức Thế Tôn, Điều-đạt theo Phật nghe pháp, tụng 84.000 pháp tạng, đặng năm thần thông tại sao lại phản, kiêu mạn đối với đức Thế Tôn?”
Đức Phật dạy: “Không những đời này mà xưa kia Điều-đạt cũng từng theo Ta nghe pháp mà khinh mạn đối với Ta.”
Mục-kiền-liên bạch Phật: “Chuyện ấy như thế nào?” Đức Phật thuật lại:
“Thuở đời quá khứ có một Tượng sư (người nài dạy voi) rất cao tay nghề điều phục voi, được nhà vua đối xử rất trọng hậu. Khi ấy, có một người đến chỗ vị Tượng sư, thưa: ‘Dạy cho con nghề điều phục voi, con xin làm đệ tử.’ Tượng sư liền dạy, không giấu một nghệ thuật nào. Người kia biết được rồi, bèn sanh tâm đố kỵ, đến chỗ nhà vua tâu: ‘Sự hiểu biết của người kia đâu hơn gì tôi, tại sao cung cấp như thế mà không nghĩ gì đến tôi?’ Nhà vua kêu vị Tượng sư hỏi: ‘Ông cùng đệ tử ông, ai hơn ai?’ Tượng sư đáp: ‘Xin nhà vua cho phép lui về, sau 7 ngày sẽ thực hiện pháp điều tượng.’ Nhà vua chấp thuận. Tượng sư trong 7 ngày lại điều phục các con voi: Bảo tới thì đi thụt lùi lại, bảo lùi thì đi tới, bảo ngồi thì bắt nó lại đứng, bảo đứng thì bắt nó lại ngồi, điều phục con voi với những động tác ngược lại như vậy. Đúng 7 ngày, ở trước nhà vua, Tượng sư cùng đệ tử biểu diễn các nghệ thuật điều phục voi. Ban đầu cả hai chưa ai có cái gì khác lạ, nhà vua hỏi người đệ tử: ‘Nhà ngươi có nghệ thuật nào khác lạ hay không?’ Người đệ tử đáp: ‘Tâu bệ hạ, không.’ Nhà vua lại hỏi người thầy của ông ta: ‘Ngươi có phương pháp nào khác lạ nữa không?’ Tượng sư đáp: ‘Tâu bệ hạ, có.’ Nhà vua bảo biểu diễn. Tượng sư điều voi làm ngược lại những điều sai bảo, voi răm rắp làm theo. Khi ấy, nhà vua mới biết rằng người đệ tử của Tượng sư trước đây đã nói hư dối. Nhà vua nổi giận, nói: ‘Tại sao ngươi dám khi dối đối với ta?’ Vị điều Tượng sư kia tâu với vua: ‘Người này là học trò của tôi, trước đây tôi dạy cho nó hết lòng, nó chưa biết hết, thoáng chốc đã khinh dối, nay xin được nói ví dụ, nguyện nhà vua cho phép dẫn chuyện: ‘Xưa kia có một người, tháng cuối mùa Xuân mang đôi giày một lớp, đất nóng nên giày bị teo lại, giày siết chặt nên chân bị thương… Bổn ý là muốn bảo hộ đôi chân thì phản lại làm cho đôi chân bị tổn thương.’ Tôi cũng như vậy, trước kia dạy đệ tử, hy vọng là có ích, nhưng lại bị hại.” Bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ:
“Như người mang giày da
Dụng ý bảo vệ chân
Khi nắng nóng bất ngờ
Giày rút, chân bị thương
Thế gian kẻ ngu ác
Không nghĩ mình mang ơn
Ơn thầy dạy thành thuật
Lại phản, vu khống thầy.”
[165b01] Đức Phật dạy: “Tượng sư chính là tiền thân của Ta, người đệ tử là Điều-đạt, đời nào cũng theo Ta thọ học mà trở lại khinh mạn đối với Ta.”
Tôn giả Mục-kiền-liên bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, thật hy hữu! Tôn giả Xá-lợi-phất một lần thuyết pháp mà phá cả chúng của Điều-đạt.” Đức Phật dạy: “Không những đời này mà xưa kia Xá-lợi-phất cũng đã từng nói pháp để phá chúng của Điều-đạt.” Mục-kiền-liên thưa hỏi: “Chuyện ấy như thế nào?”
Đức Phật nói: “Thuở đời quá khứ có một vị thầy bắn cung tên là Câu-hòa-ly. Có người9 theo học pháp bắn, sáu năm dạy nên cầm cây cung như thế này, vót cái tên như thế này, mà chưa dạy cách bắn. Sau đó người đệ tử nghĩ: ‘Trong sáu năm10 ta học cầm cây cung, vót cái tên mà chưa bắn lần nào, nay ta thử bắn xem sao.
Người đệ tử nhắm bắn vào một cây đại thọ, tên xuyên thủng qua khỏi cây rồi rơi vào lòng đất. Người thầy nghe được hỏi: ‘Ông đã bắn một mũi tên phải không?’ Đệ tử đáp: ‘Dạ, con đã bắn.’ Người thầy lại hỏi: ‘Ông bắn vào chỗ nào?’ Người học trò chỉ vào cây đại thọ mà mình đã bắn. Người thầy nói:
‘Ông đã thành xạ thủ, tôi là hạng nhất, ông là hạng hai.’
Người thầy lại nói: ‘Nơi địa điểm đó có năm trăm tên giặc cướp chận đường, tất cả không ai dám đi qua nơi này. Ông có thể đến nơi trục lộ đó tảo thanh (quét sạch) bọn cướp, ông sẽ có công rất lớn.’
Ông thầy liền giao cho một chiếc xe ngựa, một người mỹ nữ, cùng với cái bát bằng vàng và năm trăm mũi tên. Bấy giờ người đệ tử cưỡi xe, chở người nữ, cầm cung như ý, mang năm trăm mũi tên, vâng lệnh ra đi.
Chính lúc ấy, bọn giặc đường cùng phân chia các vật, sai người canh phòng nơi yếu đạo. Người canh phòng từ xa thấy, vội vã chạy đến tâu với tướng soái của giặc. Tướng soái của giặc nói với đồng bọn: ‘Chúng ta làm giặc, chưa từng thấy có một người, một mình dẫn một người đàn bà đi trên trục lộ này. Người này chắc là kẻ anh dũng không sợ bất cứ ai, nên để họ đi qua, đừng nên gây phiền toái.’
Xạ thủ kia bèn dừng chân một nơi, khiến người đàn bà bưng bát bằng vàng đến chỗ bọn giặc, xưng tên mình để khất thực. Người đàn bà ấy làm cho bọn giặc rất cảm thích, chúng lại ham cái bát bằng vàng, liền cùng nhau nghị bàn: “Nữ sắc như thế đó, bát bằng vàng như thế đó, làm sao chúng ta lại cho phép họ đi.”
Tướng soái của giặc lại nói: “Người kia chắc tự lượng sức của mình không sợ nên mới dám làm việc như vậy. Cần phải nhẫn nại, chận lại nóng giận, đừng nên chiêu lấy tai họa.” Đồng bọn nghe rồi bèn cho đầy bát với thức ăn ngon. Người đàn bà mang thức ăn trở lại, xạ thủ kia lại bảo đến nói: “Các ông chia vật, cho tôi một phần với.” Bọn giặc cả giận: ‘Con mẹ này là người gì lại dựa vào người chồng kia mà dám khinh cả bọn mình. Chúng ta phải giết ngay, đừng nên ôm lấy cái nhục này.’
Tướng soái của bọn giặc vẫn nói như trước. Bọn giặc chia cho một phần, bà ta nhận được một phần quay trở lại. Xạ thủ kia lại bảo đến nói với bọn giặc: ‘Có thể cùng tôi chiến đấu chứ không thể để yên như thế này được.’ Bọn giặc lại nói: ‘Người này thừa thắng xông lên, khinh miệt ta quá đáng, không thể nhận chịu được.’ [165c01] Tướng soái của bọn giặc khuyên dụ mà không được. Cơn giận của bọn giặc nổi lên, quên lường được sự nguy hại, cùng nhau dùng sức tiến đánh hai con người kia. Người xạ thủ liền bắn một phát, giết ngay một người, bốn trăm chín mươi chín phát, giết chết bốn trăm chín mươi chín người, còn một phát để hầu tên tướng soái, song tên giặc lẫn tránh theo người phụ nữ nên không bắn được. Tay xạ thủ bèn khiến người đàn bà lõa hình đứng trước tên giặc, tên tướng soái loạn tâm, nhân đó, bị một phát, chết luôn. Khi ấy, người đàn bà kia liền nói bài kệ:
‘Tuy có cung tên bén
Chưa từng lạc một phát
Tử thương đã nhẫy đầy
Tại sao không hối hận?’
Người xạ thủ cũng dùng bài kệ trả lời:
‘Ta có cung kỹ diệu
Tâm hợp nên tay cung
Giết một sanh vui liền
Tại sao phải ăn năn
Ta vốn đi đường này
Vì người trừ oán hại
Không hề tiếc thân mạng
Để thành người dũng kiện’.”
Đức Phật dạy: “Người thợ bắn kia là tiền thân của Ta, đệ tử người thợ bắn là Xá-lợi-phất, năm trăm tên giặc là năm trăm Tỳ-kheo hiện nay, tướng soái của giặc chính là Điều-đạt. Xưa kia Xá-lợi-phất dùng những mũi tên phá bọn giặc, nay một thời thuyết pháp phá chúng của Điều-đạt.”
Mục-kiền-liên lại bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, lạ lùng thay! Điều-đạt mắng rằng: ‘Ác dục Tỳ-kheo’, liền khi ấy thân còn sống mà đọa vào địa ngục.” Đức Phật dạy: “Không những bây giờ mà xưa kia Điều-đạt cũng đã từng dùng ác khẩu, hiện còn sống mà thọ đại khổ.”
Mục-kiền-liên lại hỏi: “Chuyện như thế nào?” Đức Phật dạy: “Thuở đời quá khứ, bên bờ ao nơi A-lan-nhã, có hai con nhạn, cùng một con rùa kết làm bạn thân, sau một thời gian, nước trong ao bị khô cạn, hai con nhạn bàn bạc với nhau: ‘Nay ao nước này bị khô cạn, bạn thân của ta chắc bị đại khổ.’ Nghĩ rồi nói với rùa: ‘Nước trong ao bị cạn, bạn không có cách nào sống được, bạn có thể ngậm giữa cái cây, chúng tôi mỗi đứa ngậm một đầu, đem bạn đến chỗ nhiều nước, nhưng với điều là khi ngậm cái cây, bạn thận trọng đừng nên nói.’
Nhất trí, chúng liền thực hiện, nhưng khi bay ngang qua một xóm nọ, bọn trẻ nít thấy vậy đều la ầm lên: ‘Nhạn ngậm rùa bay đi! Nhạn ngậm rùa bay đi!’ Con rùa liền nổi giận buông miệng nói: ‘Việc này dính dự gì đến bọn bay?!’ Miệng rùa tuột ra khỏi cây, rùa rớt xuống đất chết ngay.
Bấy giờ nhân việc này đức Thế Tôn nói kệ:
“Đời sống kẻ sĩ
Búa ở trong miệng
Sở dĩ chém mình
[166a01] Do bởi lời ác.
Nên chê lại khen
Nên khen lại chê
Tự nhận lấy họa
Bị khổ dài dài.
Nếu giành nhau tài lợi
Ác ấy chưa phải lớn
Ác tâm hướng về Phật
Ác đây mới là to.
A-phù11 có trăm ngàn
Ni-la,12 ba mươi sáu
Ác ý với người hiền
Phải đọa địa ngục ngay.”
Đức Phật dạy: “Con rùa kia chính là Điều-đạt, xưa kia do lời nói giận mà phải chết đau khổ, nay lại giận mắng, đọa vào đại địa ngục.”
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Nếu Ta thấy nơi Điều-đạt có một pháp thiện bằng sợi lông thì hoàn toàn không ghi nhận sự đọa đại địa ngục, thọ một kiếp khổ của Điều-đạt. Ví như một người bị chìm dưới hầm phân, nếu có người muốn cứu họ, mà không thấy nơi thân họ có một chỗ nào sạch, bằng một sợi lông để có thể cầm được. Ta quán sát nơi Điều-đạt cũng lại như vậy.”
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo: “Ta không thấy pháp nào phá hoại lòng vô thượng đạo của con người bằng tiếng đồn và lợi dưỡng. Điều-đạt sở dĩ phá Tăng là do lợi dưỡng. Điều-đạt thành tựu tám phi pháp cho nên phá Tăng: lợi không lợi, khen không khen, kính không kính, ưa ác và nhận thức làm theo điều ác.”
2. Ưu-ba-ly thưa hỏi
Ưu-ba-ly thưa hỏi Phật: “Thế nào gọi là phá Tăng?”13 Đức Phật dạy: “Có 4 việc gọi là phá Tăng: nói năm pháp,14 tự hành trù, rút thăm, trong nội giới làm Tăng sự riêng. Ưu-ba-ly lại hỏi: “Thế nào gọi là Tăng không hòa hợp mà chẳng phải phá?”
Phật dạy: “Nếu vua trợ lực phá Tăng, khiến cho Tăng không hòa hợp, thì chẳng phải phá. Nếu đại thần, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, một Tỳ-kheo cho đến bảy Tỳ-kheo trợ lực phá Tăng cũng như vậy.”
Nếu không hỏi Thượng tọa mà hành Tăng sự, tức là không hòa hợp mà cũng chẳng phải phá Tăng, nếu không cùng đồng thọ thực, trong khi ăn, khác chỗ ngồi, đấu tranh mạ lỵ cũng như vậy. Chủ yếu phải là ở trong nội giới, tám Tỳ-kheo, chia làm hai bộ, làm Tăng sự riêng mới gọi là Tăng bị phá.”
Ưu-ba-ly lại hỏi: “Trong số đó, ai là người phá Tăng?” Đức Phật dạy: “Người nào chủ động.” Ưu-ba-ly lại hỏi: “Ai là người phải đọa vào đại địa ngục một kiếp mà không thể cứu?” Đức Phật dạy: “Người nào đóng vai chủ động.”
Ưu-ba-ly lại hỏi: “Hễ người nào phá Tăng đều phải đọa vào đại địa ngục thọ khổ một kiếp phải không?” Đức Phật dạy: “Không nhất thiết phải đọa vào đại địa ngục một kiếp để thọ khổ. Có tám người phá Tăng thọ một kiếp khổ nơi đại địa ngục: Hoặc pháp, tưởng pháp mà nói là phi pháp; hoặc phi pháp, tưởng phi pháp mà nói là pháp; hoặc pháp, tưởng phi pháp mà nói là pháp; hoặc phi pháp, tưởng pháp mà nói là phi pháp; hoặc pháp, phi pháp [166b01], tưởng pháp mà nói là phi pháp; hoặc pháp, phi pháp, tưởng phi pháp mà nói là pháp; hoặc pháp, nghi phi pháp mà nói là pháp; hoặc pháp, nghi phi pháp mà nói là phi pháp.
Có sáu người phá Tăng không đọa vào đại địa ngục một kiếp để thọ khổ: Hoặc pháp, tưởng pháp mà nói là pháp; hoặc phi pháp, tưởng phi pháp mà nói là phi pháp; hoặc pháp, tưởng phi pháp mà nói là phi pháp; hoặc phi pháp, tưởng pháp mà nói là pháp; hoặc pháp, phi pháp, tưởng phi pháp mà nói là phi pháp; hoặc pháp, phi pháp, tưởng pháp mà nói là pháp.”



  • Leave a Comment