Ngũ Phần Luật – 33. Phần V – Chương 2 – Pháp Ngọa Cụ

CHƯƠNG II : PHÁP NGỌA CỤ

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

1. Tỳ-kheo Át-tỳ
Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ Tỳ-kheo Át-tỳ[6] hầu Phật, sau đó đắp y bưng bát vào thành khất thực, oai nghi rõ nét, ngó xuống đất mà đi. Có một trưởng giả[7] thấy, khởi ý nghĩ: “Ta chưa từng thấy một người nào như thế này”, bèn đến hỏi: “Thầy là ai? Thầy đệ tử ai? Xuất gia với ai? Phụng hành đạo pháp của vị nào?” Khi ấy, đức Phật mới thành đạo, người đời đều gọi Ngài là Đại Sa-môn.
Vị Tỳ-kheo trả lời: “Tôi tên là Át-tỳ,* Đại Sa-môn là thầy của tôi, tôi xuất gia với Ngài, phụng hành đạo pháp của Ngài.” Trưởng giả nghe rồi, khen: “Chưa từng có người nào như vầy, tự có oai nghi như vầy, mà theo Đại Sa-môn xuất gia, phụng hành đạo pháp của Người.” Trưởng giả lại hỏi: “Hiện nay thầy ở đâu?” Tỳ-kheo đáp: “Tôi ở nơi A-lan-nhã, dưới bóng cây Sơn Nham, chỗ đất trống gò mả là chỗ ở của tôi.”
Trưởng giả nghe lại càng thêm hoan hỷ, khen: “Oai nghi rõ nét trang nhã, vị thầy chắc là hơn, mà lại ở chỗ vắng vẻ như vậy!” Trưởng giả lại hỏi: “Lấy thứ gì trải ngồi?” “Tôi dùng cỏ Thi, cỏ Câu-thi,4 cỏ Bà-bà, cỏ Văn-nhu,5 cho đến lá cây… kể cả cát đất, tôi đều có thể trải ngồi.” Trưởng giả nghe lại thêm vui mừng cung kính, khen: “Lại có thể sống với nếp sống thiểu dục như vậy!”
Trưởng giả lại hỏi: “Nếu tôi vì Đại đức làm phòng xá thì có thể dùng hay không?” (Vị Tỳ-kheo)* trả lời: “Đức Thế Tôn chưa cho phép chúng tôi thọ dụng phòng xá.” Ông trưởng giả thưa: “Đại đức có thể đem vấn đề này bạch Phật, tôi cũng đích thân đến thưa.” Át-tỳ* im lặng nhận lời đề nghị.
Sau khi thọ trai xong, trở lại chỗ Phật, đầu mặt kính lễ sát chân, rồi đem vấn đề bạch Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, khen người thiểu dục tri túc, khen giới, khen người trì giới, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Từ nay cho các Tỳ-kheo nhận các phòng xá6 của người cúng.”
Trưởng giả kia, sau đó đến chỗ đức Phật, từ xa thấy nhan dung của đức Thế Tôn thù thắng đặc biệt, giống như núi vàng, trong lòng đầy ắp sự vui mừng cung kính, đến trước đức Phật kính lễ sát chân rồi ngồi lui qua một bên. [166c01] Đức Phật vì ông nói các pháp mầu… cho đến khổ, tập, tận, đạo; ngay chỗ ngồi ông được mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả, thọ Tam quy và Ngũ giới, rồi bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn, con muốn cất phòng xá cúng dường cho các Tỳ-kheo, xin Ngài chấp nhận.” Đức Phật hứa khả bằng sự im lặng.
Trưởng giả biết đức Phật chấp thuận rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước kính lễ sát chân Phật, đi quanh bên hữu ba vòng rồi cáo lui. Liền trong ngày ấy ông cho xây cất sáu mươi phòng xá,7 lại cúng dường ẩm thực cho Phật và Tăng. Toàn gia quyến của ông cùng nhau lo liệu cúng dường những mỹ vị quý giá nhất trong đời, không thiếu một thứ gì. Người bửa củi, người lấy nước, người làm thức ăn, người quét dọn, người rưới nước hoa trên đất, kẻ trải chỗ ngồi, người rải hoa, kẻ trải tòa cao.
2. Tu-đạt-đa
Bấy giờ trong thành Xá-vệ có trưởng giả tên là Tu-đạt-đa,8 xuất ba mươi vạn kim tiền cho người trong thành Vương Xá vay,9 hằng năm đến thu về. Trưởng giả thành Vương Xá10 thường ra một do-tuần nghinh đón, đãi đại tiệc. Đến lần này lại không có trưởng giả ra tiếp, Tu-đạt-đa lại có suy nghĩ: “Chắc ông ta, hoặc bị nạn của nhà vua hay nạn nước, lửa, giặc cướp, nhơn, phi nhơn nên không ra nghinh đón?”
Khi đến nơi, Tu-đạt-đa tới nhà ông trưởng giả trước, thấy thiết bày trân trọng các thức ăn mỹ vị, hỏi: “Ông làm đám cưới, mở hội hay rước nhà vua?” Ông trưởng giả trả lời: “Chẳng phải làm đám cưới, mở hội,11 cũng chẳng phải rước nhà vua.” Lại hỏi: “Nếu không phải, vậy tại sao sửa soạn thức ăn uống mỹ diệu thế này?” Trưởng giả nói: “Đức Phật ra đời có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng đều như vậy. Nay tôi thỉnh quý Ngài để cúng dường, cho nên không ra để nghinh đón ông được.” Tu-đạt-đa nói: “Tôi cũng nghe có Phật ra đời, hiệu là Như lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn. Người mà nay ông thỉnh là Phật sao? Hay không phải là Phật?” Trưởng giả đáp: “Chính là Phật!”
Lại hỏi: “Hiện nay Ngài ở đâu?” Ông trưởng giả kia liền để trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, tay bên hữu chỉ về phía chỗ đức Phật ở, nói: “Phật ở nơi đó.”12 Tu-đạt-đa nghe vui mừng phấn khởi, để trống vai bên hữu, vọng hướng về chỗ đức Phật ở kính lễ ba lần. Đêm đến, ông ta niệm danh hiệu: “Nammô Phật”. Dù nhọc mệt ông vẫn ngủ được.
Người Thiện tri thức đời trước của ông ta làm vị thần ủng hộ.13 Vị thần nghĩ: “Ta sẽ giúp ông trưởng giả này không phải đợi qua một đêm, mới được thấy đức Phật.” Vị thần liền khiến trong đêm sáng rực lên, Tu-đạt-đa tưởng là trời đã sáng, liền thức dậy đến cửa thành,14 cửa thành tự mở, ra khỏi cửa tự đóng, bỗng nhiên trời tối lại. Tu-đạt-đa hoảng sợ, nghĩ và nói: “Vừa rồi ta đâu phải là cuồng!” Vị thần biết ý niệm đó liền nói kệ:
[167a01] “Nay là lúc đến Phật
Mỗi một bước chân đi
Lại hơn thí ngàn vàng
Voi ngựa không sánh kịp.”
Vị thần lại nói: “Đừng hoảng hốt, đừng sợ hãi, cứ tiến bước, tiến bước trong giây lát sẽ thấy Phật.” Tu-đạt-đa nghe, sự sợ hãi biến mất, hăng hái bước tới. Từ xa thấy đức Thế Tôn dung nghi thù đặc, giống như núi vàng. Đức Thế Tôn thấy ông trưởng giả, khen: “Lành thay! Đến đây Tu-đạt-đa!” Tu-đạt-đa nghe, vui mừng nghĩ: “Đức Phật lại biết luôn cả cái tên do cha mẹ ta đặt!” Tu-đạt-đa đầu mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì trưởng giả nói các diệu pháp…cho đến khổ, tập, tận, đạo, nơi chỗ ngồi đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả rồi, Tu-đạt-đa liền thọ Tam quy, Ngũ giới và bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, nguyện Phật và Tăng nhận lời mời của con, an cư mùa Hạ nơi thành Xá-vệ.” Thỉnh ba lần như vậy, đức Phật đều im lặng, đến lần thứ tư Ngài mới bảo rằng: “Nếu chỗ nào không có sự ồn ào, yên tịnh, không có tiếng động, chư Phật mới an cư nơi đó.”15 Ông trưởng giả bạch Phật: “Con đã hiểu lời dạy của Thế Tôn, xin Ngài sai một Tỳ-kheo, người có kinh nghiệm cho việc thiết lập này.” Đức Phật hỏi: “Nay ngươi muốn vị nào?” “Bạch Thế Tôn, con muốn nhờ tôn giả Xá-lợi-phất.” Đức Phật liền nói với tôn giả: “Thầy có thế đến đó làm người quản lí.” Tôn giả vâng lời ra đi.
3. Tinh xá
Bấy giờ, vị trưởng giả thành Vương Xá, vào một buổi sáng đích thân đến bạch Phật: “Thức ăn đã sửa soạn xong, xin Thánh tri thời.” Đức Phật cùng Tỳ-kheo Tăng mặc y bưng bát, kẻ trước người sau vây quanh, đến nơi nhà thọ trai, an tọa nơi tòa theo thứ tự. Ông trưởng giả tự tay sớt thức ăn, ăn xong, lấy nước rửa rồi bạch Phật: “Kính bạch Thế Tôn, con xin dâng cúng ngôi vườn và phòng xá này cho Tứ phương Tăng.”16 Đức Phật nhận lời bằng sự im lặng. Biết đức Phật nhận lời rồi, trưởng giả lấy chiếc ghế nhỏ ngồi phía trước, đức Phật vì ông tùy hỷ nói bài kệ chú nguyện:
“Vì ngăn gió lạnh nóng
Và ngăn các ác thú
Che mưa sương và bụi
Cùng trừ nạn muỗi mòng.
Cúng dường người trì giới
Tọa thiền, thuyết, tụng pháp
Ai nghe hiểu nghĩa này
Trừ hết các gốc khổ.”
Đức Phật nói kệ rồi, lại nói các pháp mầu, chỉ dạy điều lợi ích để được hoan hỷ, ông trưởng giả trở về trú xứ.
Sau đó, trưởng giả Tu-đạt đưa Xá-lợi-phất về thành Xá-vệ. Qua các xóm làng, nơi nào trưởng giả cũng rao truyền:
“Đức Phật ra đời, có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng như vậy, [167b01] tôi đã thỉnh Ngài An cư nơi thành Xá-vệ. Mọi người nên sửa soạn nhà cửa, tu bổ đường sá và các cầu đò, chuẩn bị mọi thứ để đón đức Thế Tôn.” Người dân các xóm làng nghe rao truyền như vậy, biết đức Phật Thế Tôn sẽ kinh qua nơi mình ở nên rất vui mừng ghi nhận, làm theo lời rao kia một cách cung kính.
Trưởng giả Tu-đạt, khi đến Xá-vệ nghĩ rằng: “Chỗ nào tốt nhất để cất tịnh xá? Chỗ duy nhất nơi thành này là vườn của đồng tử Kỳ-đà,17 nơi có vườn cây ăn trái quý giá, cảnh sắc tốt tươi, nước trong thanh khiết, suối róc rách, ao tắm, hoa thơm thật hoàn hảo, ta nên mua nơi đó để xây cất.” Nghĩ rồi liền đến chỗ người chủ ngôi vườn, ngỏ lời: “Tôi muốn mua sở vườn, ông có thể cho tôi biết ý kiến được chứ?” Người chủ vườn nói: “Ông có thể dùng tiền vàng trải khắp hết mặt đất, không bỏ trống một chỗ nào, được như vậy tôi sẽ cùng ông trao đổi.”
Tu-đạt liền dùng tiền vàng trải khắp mặt đất. Đồng tử Kỳ-đà bảo: “Thử như thế thôi, chứ tôi không muốn trao đổi.”
Tu-đạt nói lại: “Điều kiện này là từ lời của ông, nó trở thành một trị giá, đâu được hối tiếc để làm khác đi!”18
Hai bên giằng co tranh cãi nên phải đưa đến cửa quan. Cửa quan y theo pháp luật xử, Tu-đạt thắng cuộc. Đồng tử Kỳ-đà hỏi Tu-đạt: “Vì lý do gì mà ông không tiếc vàng bạc để mua khu vườn này với giá như vậy?”
Tu-đạt trả lời: “Đức Phật ra đời, có đại oai đức, các đệ tử của Ngài cũng như vậy.” Tôi đã mời Ngài an cư nơi đây. Do đó, tôi trút hết gia tài cũng không hề tiếc nuối. Đồng tử Kỳ-đà lại nói: “Nếu để tôi được đặt tên vườn này là tinh xá Kỳ Viên,19 thì tôi sẽ để cho.” Tu-đạt nói: “Tốt!” Tu-đạt liền ra lệnh đem tiền vàng trải nơi mặt đất, tính luôn cả những gốc cây cũng đều trải cho đầy đủ. Sau đó tôn giả Xá-lợi-phất lấy dây đo đạc, tính toán làm chỗ đi kinh hành, giảng đường, ôn thất, nhà ăn, nhà tắm và các phòng xá. Tất cả đều đầy đủ tiện nghi.
4. Tạp sự
Khi ấy các phòng xá dùng bùn trét không được kín, gió bụi, rắn, chuột vào phá ngọa cụ của Tăng, gây não cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đem vấn đề này bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép dùng bùn trét bên trong, bên ngoài và các ngưỡng cửa. Tăng nên sắm búa, rìu, dao, cưa,… ghế thang, các dụng cụ để làm nhà. Cũng cho phép những chỗ bị nước tạt làm cửa sổ có vòng móc phên che, làm khóa cửa. Không cho phép làm như cái cán dao đeo nơi lưng, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo chấp tác bị đất bũn làm nhớp thân cần phải tắm, Phật cho phép tắm. Chỗ tắm có bùn… Phật dạy: “Cho phép dùng gạch đá hay tấm ván để trên mặt đất.”
Có các Tỳ-kheo ở nơi gò mả lượm được phu cụ, giường dây không dám lấy, Phật dạy: “Cho phép lấy, nếu lớn nên cắt ra.”
Bấy giờ, giữa hai thành Vương Xá và Xá-vệ có một trú xứ, các cư sĩ đem cúng cho các Tỳ-kheo mà không có ai ở, Phật dạy: “Cho phép các bạch y mời Ma-ma-đế20 ở và cung cấp cho họ mọi thứ cần dùng.”
Khi ấy các trú xứ không có hàng rào, bò ngựa [167c01] vào ra làm hư hoại chỗ kinh hành, đức Phật dạy: “Cho phép đào hào và rào xung quanh.” Bò ngựa vẫn tìm cách vào được, Phật dạy: “Cho phép dùng các loại cây gai kéo xung quanh.” Bò ngựa vẫn xông phá vào được, Phật dạy: “Cho phép đắp đất làm tường hoặc xây tường gạch, bên trên có mái che, cho phép làm nhà canh giữ. Hư cũng cho phép làm lại, cho phép làm hai phên cửa.”
Có các Tỳ-kheo nhăm nhành dương, rửa tay, rửa mặt, rửa chân trong phòng, làm cho đất bị ẩm thấp, hư ngọa cụ của Tăng, Phật dạy: “Không nên làm như vậy.”
Có các Tỳ-kheo già bệnh khi trời lạnh không thể ra ngoài rửa được, Phật dạy: “Cho phép dùng cái chậu đựng nước rửa và viên gạch kê cái chậu.” Có phòng xá bị đất bũn nổi lên, Phật dạy: “Nên dùng đất bùn để trét và dùng một trong mười loại y trải lên trên.”
Có các Tỳ-kheo Hạ tọa rửa chân trước, sau đó Thượng tọa đến rửa chân, vị Hạ tọa rửa chưa xong, bị đuổi đi, Phật dạy: “Nếu Hạ tọa rửa trước nên cho phép rửa cho xong.”
Có các Tỳ-kheo kinh hành nơi đất trống, khi trời mưa y bị ướt, cho nên phế bỏ việc kinh hành, Phật dạy: “Cho phép làm cái hành lang.”
Có các Tỳ-kheo đi trong sân, khi trời mưa đất nhão nhớp chân, Phật dạy: “Cho phép dùng đá gạch lót làm đường đi.”
Có các Tỳ-kheo ở chỗ không có nước, Phật dạy: “Cho phép đào giếng, hoặc nước ao tác tịnh.”
Các Tỳ-kheo muốn làm nệm trải trên giường, Phật dạy: “Cho phép dùng một trong mười thứ y21 rồi độn lông dê, lông lạc đà, hoa Kiếp-bối22… cho đến loại cỏ mềm vào bên trong để làm nệm.” Các Tỳ-kheo làm nệm quá dày, Phật dạy: “Dày nhất là tám ngón tay, cho phép Tăng làm một loại dành cho Tứ phương Tăng và làm một loại riêng.” Phu cụ của Tăng hư hoại, không biết làm thế nào, Phật dạy: “Nên nhờ người giặt và tu bổ lại.”
5. Phân phối ngọa cụ
Bấy giờ, các Tỳ-kheo phân ngọa cụ cho Tăng hằng ngày, Phật dạy:
“Không nên làm như vậy, cho phép ngày cuối mùa Xuân, ngày đầu mùa Hạ, khi kết giới an cư, phân ngọa cụ.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo chọn lựa phòng tốt, ngọa cụ tốt để lấy phần. Phật dạy:
“Không nên làm như vậy, nên Bạch nhị yết-ma sai một Tỳ-kheo làm người phân ngọa cụ.”23
Tỳ-kheo được sai nên ghi rõ để biết ngọa cụ nào thuộc phòng nào, tùy theo thứ cấp Thượng tọa mà chia; nếu có dư mà còn tốt, Thượng tọa cần thì nên đưa, nếu Thượng tọa không cần thì tiếp theo, tùy theo Hạ tọa, theo chỗ ngồi mà trao phân. Nếu có Tỳ-kheo đến sau, tùy theo lớn nhỏ, theo thứ tự phân bố, từ phòng kế lần lượt cho tới phòng chót, nếu Hạ tọa không có phòng thì thôi.
Các Tỳ-kheo muốn làm giường dây, giường cây mới, Phật dạy: “Cho phép làm. Nếu không có thợ khéo thì Tỳ-kheo có thể tự làm cũng được. Cho phép dùng mười loại tơ sợi, loại nào làm giường dây cũng được.”
Có các Tỳ-kheo muốn độn nệm trong giường dây, Phật cho phép độn. [168a01] Có các Tỳ-kheo đi đứng trên giường dây, dây bị đứt, Phật dạy: “Không nên đi đứng trên giường dây.”
Có các Tỳ-kheo nhỏ người thấp, muốn móc cái y hay lấy cái y trên giá, vói không tới, Phật dạy: “Cho phép hệ niệm tại tiền, quỳ gối trên giường dây để lấy.”
Có các Tỳ-kheo-ni ngồi trên giường dây có độn, nguyệt thủy nhớp, bất tịnh, hư hoại, Phật dạy: “Tỳ-kheo-ni không nên ngồi trên giường dây có độn.”
Có các Sa-di nhỏ nằm trên giường dây có độn, đái dầm, bất tịnh, hư mục, Phật dạy: “Sa-di nhỏ cũng không được nằm trên giường dây có độn.”
Có các Tỳ-kheo ở trên giường cao mà nghe kinh hỏi nghĩa, Phật dạy: “Nghe kinh hỏi nghĩa đều nên ngồi nơi chỗ thấp.”
Trong sân trú xứ của các Tỳ-kheo, cỏ mọc, Phật cho phép khiến tịnh nhân “biết”. Trong phòng bị bụi bặm làm nhớp giường, ngọa cụ, Phật cho phép tùy ý lau quét.
Khi đại hội, các Tỳ-kheo đến đông, phòng xá lớn mà thiếu chỗ ở, Phật dạy: “Trong phòng theo thứ tự trải ngọa cụ vừa đủ mà nằm, nếu muốn dùng y ngăn phía trước thì cho phép, vị nào cũng được ngăn. Nếu đủ thì tốt, bằng không đủ thì bên ngoài có chỗ đất trống nào cho phép làm am thất, cựu trú Tỳ-kheo nên đứng ra làm.” Cất am thất, đại hội xong, không giở bỏ, bị lửa cháy, cháy luôn cả trú xứ, đức Phật dạy: “Đại hội xong, phải giở rồi mới đi.” Nếu cựu Tỳ-kheo tiếc không cho giở, khách Tỳ-kheo phải dặn dò Tỳ-kheo cựu trú rồi mới đi.
Khi trời mưa lớn, các Tỳ-kheo không có chỗ tụ hội, Phật dạy: “Cho phép làm đại đường.” Mùa lạnh, các Tỳ-kheo tụ tập bị rét, đức Phật dạy: “Cho phép làm nhà sưởi ấm.”
Bấy giờ, do Tỳ-xá-khư Mẫu muốn kinh doanh nên tôn giả Xá-lợi-phất cho xây cất đại đường mới, bà đem lúa gạo đến cúng cho Tứ phương Tăng, các Tỳ-kheo không dám thọ, Phật dạy:
“Nếu vì bốn phương Tăng, khi làm cho phép tùy ý thọ thực.”
Có các Tỳ-kheo khất thực, trở lại cúng cho bốn phương Tăng, không biết ai nên thọ, Phật dạy: “Vì bốn phương Tăng mà làm thì được thọ thực.” Có phòng xá bị hư hoại, các Tỳ-kheo không sửa chữa, Phật dạy:
“Nên khuyến hóa, Bạch nhị yết-ma giao cho kẻ đạo tục muốn sửa chữa, cho họ sửa chữa. Một Tỳ-kheo nên đọc tuyên ngôn:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Cái phòng24… hư hoại không có người sửa chữa, kẻ đạo tục… muốn sửa chữa, nay Tăng giao cho người ấy sửa chữa. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Cái phòng… hư hoại… cho đến câu: Nay Tăng giao cho người ấy sửa chữa.25 Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý giao cho… sửa chữa cái phòng cũ, số… rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
[168b01] Nếu muốn ghi tên người Đàn-việt đã sửa chữa vào cái phòng ấy thì cho phép ghi. Ngọa cụ cũng như vậy.
Có một trú xứ nước lớn bị ngập, các Tỳ-kheo ai nấy lo dọn dẹp ngọa cụ phòng của mình, phòng không có Tỳ-kheo ở, không ai thu dọn, bị nước trôi và hư mục, sau đó những người Đàn-việt của những phòng ấy thấy vậy, nổi sân, chê trách các Tỳ-kheo: “Tại sao chỉ có ngọa cụ phòng của tôi bị ướt, hư hoại mà thôi!” Đức Phật dạy: “Nếu khi bị thủy hỏa nên kêu la lớn, đánh kiền chùy khiến cho tất cả Tăng đều cùng nhau hỗ trợ dọn dẹp. Nếu vị nào không hỗ trợ dọn dẹp thì phạm Đột-kiết-la.”
6. Thọ nhận phi pháp
Bấy giờ, La-hầu-la đến tụ lạc Na-la,26 một người Ưu-bà-tắc thân tín vì La-hầu-la cất một cái phòng; khi cất xong, La-hầu-la có một duyên sự nhỏ du hành trong nhân gian.
Bấy giờ có tôn giả A-nan đến nơi tụ lạc kia, vị Ưu-bà-tắc đó lại đem cái phòng cúng cho tôn giả A-nan.27 Khi La-hầu-la trở về bảo A-nan đi chỗ khác. A-nan nói: “Trước kia tuy người ta cúng cho thầy, nhưng thầy đi, sau đó người ta cúng cho tôi thì cái phòng này là của tôi.” Thế là cả hai vị đều đến người Ưu-bà-tắc, hỏi để họ quyết định là phòng của ai. Người Ưu-bà-tắc trả lời: “Tuy trước kia tôi cúng cho La-hầu-la, nhưng La-hầu-la bỏ đi, sau đó tôi mới cúng cho A-nan, như vậy là phòng của A-nan.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Ưu-bà-tắc này không những đời này mà xưa kia cũng đã từng làm như vậy.” Các Tỳ-kheo thưa hỏi: “Chuyện ấy xảy ra như thế nào?” Đức Phật dạy: “Thuở đời quá khứ có nhà vua tên là Bà-lâu, trong cương giới nước của vua có hai vị Tiên, một tên là La-hầu-la ưa tọa thiền, một tên là A-nan đa văn vô úy. Nhà vua kia, trước thấy La-hầu-la, rất kính trọng nên cất một cái phòng để cúng. Phòng làm xong thì La-hầu-la xuất hành trong nhân gian.
Sau đó, A-nan lại đến, nhà vua cũng kính trọng nên đem cái phòng đó cúng cho A-nan. Khi La-hầu-la trở về, bảo A-nan đi và nói: ‘Phòng này của tôi.’ A-nan cũng nói phòng này của mình. Cả hai đều đến nhà vua hỏi, để quyết định là phòng của ai. Nhà vua nói: ‘Tuy trước đây tôi cúng cho La-hầu-la, nhưng La-hầu-la bỏ đi, sau đó tôi mới cúng cho A-nan, vậy nay là phòng của A-nan.’
Lúc bấy giờ các vị trời, rồng, quỷ, thần đều nói: ‘Nhà vua này làm phi pháp, tại sao trước đã cúng cho La-hầu-la, sau lại tự ý cúng cho A-nan, chúng ta sẽ phá hoại quyến thuộc của nhà vua.’ Họ liền cùng nhau đến cung vua, dùng đá ném, đánh, giết hại quyến thuộc của nhà vua.” Nhân việc này đức Phật nói kệ:
[168c01] “Vua cúng không trước sau
Tiên nhơn cùng tranh cãi
Làm cho quỉ thần giận
Chuốc hại quyến thuộc mình.
Nếu hành xử tùy ái
Không được người trí khen
Do vậy nên xả ái
Hoan hỷ nói đúng nghĩa.”
Đức Phật dạy: “Tiên nhơn tên La-hầu-la trước kia, nay là La-hầu-la; Tiên nhơn tên A-nan trước kia, nay là A-nan; quốc vương trước kia, nay là Ưu-bà-tắc.” Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép nhận phòng mà trước đó thí chủ đã cúng cho người khác, vị nào phạm, phạm Đột-kiết-la.”
7. Tứ phương Tăng vật
Bấy giờ, đức Phật cùng đại Tỳ-kheo 1250 vị đầy đủ, ở nước Câu-tát-la du hành trong nhân gian hướng đến ấp Ngật-la-ngật-liệt.28 Tại đó có năm Tỳ-kheo cựu trú,29 nghe Phật cùng đại chúng sẽ đến, cùng nhau nghị bàn:
“Trong chúng của Phật có Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, chắc chắn sẽ gây não chúng ta. Chúng ta nên phân chia phòng xá, ngọa cụ, vườn cây trái trong trú xứ này làm năm phần thuộc tư hữu30 của mỗi người.” Bàn bạc xong liền phân chia. Đức Phật và chúng Tăng đến nơi, các Tỳ-kheo bảo: “Các thầy mở phòng trải ngọa cụ, chúng tôi cần có chỗ ở.” Năm Tỳ-kheo nói: “Đức Phật là vị Pháp chủ, sẽ mở cửa phòng hạng nhất mời Ngài ở, ngoài ra chúng tôi đã phân chia hết, là tư vật không phải thuộc của Tăng, quí vị có thể vào trong xóm làng, tùy theo sự quen biết mà tìm chỗ ở.”
Khi ấy, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên không có chỗ ở, đêm ấy phải ngủ nhờ nơi hiên phòng đức Phật. Sáng ngày, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Có năm thứ thuộc Tứ phương Tăng không được thủ hộ, không được bán, không được chia. Năm thứ ấy là gì? 1. Đất của trú xứ, 2. Phòng xá, 3. Vật cần dùng, 4. Cây ăn trái, 5. Hoa quả.31 Tất cả Tỳ-kheo Sa-môn Thích tử đều có phần trong đó, ai thủ hộ, bán hay phân chia đều phạm tội Thâu-lan-giá.”
Chỗ mà năm Tỳ-kheo kia phân chia, sau đó Tứ phương Tăng đến tập hợp lại cùng nhau phân chia, tiếp đến có Tỳ-kheo khách đến, nói: “Mở phòng để tôi vào ở.” Các Tỳ-kheo đến trước nói: “Chúng tôi là bốn phương Tăng đến thì đây là phần của chúng tôi; đã cùng nhau chia rồi, không thuộc về của thầy, thầy có thể đến trong xóm làng tìm nơi để ở.” Tỳ-kheo đến sau, bèn đến trong xóm làng tìm chỗ để ở. Các bạch y nói: “Thưa Đại đức! Ở nơi đó có Tăng phòng tại sao không ở mà lại đến đây?”
Các Tỳ-kheo trở lại chỗ Tăng phòng, lúc ấy trời đã tối nên trên đường đi bị cọp hại. Các Tỳ-kheo bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng bảo các Tỳ-kheo: [169a01] “Trước đây không nghe T nói, Tứ phương Tăng có năm thứ không được thủ hộ (chiếm đoạt), không được bán, không được chia hay sao? Tại sao người bảo vệ trú xứ của Tăng lại không cho Tỳ-kheo đến sau ở, để đến nỗi bị cọp làm hại?!” Bằng mọi cách quở trách rồi; đức Phật lại nói: “Vị nào chiếm đoạt, bán hay chia của Tứ phương Tăng đều phạm tội Thâu-lan-giá.”
Có các Tỳ-kheo ở bên bờ biển, cây gỗ khó có được, không thể cất thất để ở. Nơi đó lại có nhiều loại xương của loài cá lớn, muốn dùng để cất, bạch Phật, Phật dạy: “Được phép sử dụng.” Các Tỳ-kheo sợ mùi hôi xương cá, Phật dạy: “Cho phép dùng bùn có mùi thơm để trát.”
8. Tỳ-kheo tri sự
Có các Tỳ-kheo kinh doanh32 làm trú xứ cho Tăng, làm rồi, khách Tỳ-kheo đến là bậc Thượng tọa, đuổi người ở trong phòng ra. Vị kia giận dữ nói: “Tôi kinh doanh khổ cực mà không được ở yên,” bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép người chủ kinh doanh tùy ý ở phòng nào mình thích.” Các Tỳ-kheo lại ở với thời gian dài, bạch Phật, Phật dạy: “Nên tính theo công phu của người kia nhiều hay ít, nhiều nhất là cho phép ở 12 năm.33 Nên Bạch nhị yết-ma trao cho. Một Tỳ-kheo xướng lên:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo này tên là… làm chủ kinh doanh, nay Tăng cho tùy ý ở cái phòng theo sở thích, thời gian là… (bao nhiêu) năm. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… làm chủ kinh doanh, nay Tăng cho tùy ý ở cái phòng theo sở thích, thời gian là… (bao nhiêu) năm. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý cho Tỳ-kheo tên là… tùy ý ở cái phòng theo sở thích rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Có các Tỳ-kheo làm giường cây, giường dây để trong phòng, hoặc trét đất, hay khi tu bổ nho nhỏ, bèn xin chỗ tùy ý ở, Phật dạy:
“Không nên xin. Nếu tu bổ phòng công phu ít nhất là một phần ba thì cho phép đến xin Tăng chỗ ở tùy ý.”34
[1] Hán: Phá tăng pháp 破僧法, Pāli: Saṃghabhedakkhandhaka. Cf. Tứ phần 46, tr. 909b07: Phá Tăng kiền-độ. Thập tụng 36, (tr. 257a): “Tạp tụng, Điều-đạt sự”; Căn bản phá tăng sự, 20 quyển, (T24n1450, tr. 99). Pāli, Cūḷavagga 7 Saṅghabhedakakkhandhaṃ. Vin. ii. 179.
[2] Hán: Điều-đạt 調達; Pāli: Devadatta. Xem Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 10.
[3] Tứ phần 05, tr. 594a03: Đồng bọn của Đề-bà-đạt-đa: Tam-văn-đạt-đa 三聞達多, Khiên-trà-đạt-bà 騫荼達婆, Câu-bà-ly 拘婆離, Ca-lưu-la-đề-xá 迦留羅提舍. Vin. ii. 196:Kokālika, Kaṭamoraka-tissa, Khaṇḍadeviyā-putta, Samuddadatta.
[4] Xem thêm cht. 119, Phần I, Ch. ii.
5 Tứ phần: “Năm trăm vị Tỳ-kheo tân học vô trí”. Vin. ii. 199: 500 Tỳ-kheo Bạt-kì Tử (Vajjiputta).
6 Tứ phần: “Bấy giờ có sáu mươi Trưởng lão Tỳ-kheo xả Uất-đa-la-tăng, khoác qua một bên.”
7 Hán: Không nhàn xứ 空閑處. Rừng hay A-lan-nhã.
8 Cf. Tạp A-hàm 38 (tr. 276c12). Pāli, S. 17. 35-36 (R. ii. 241): phalaṃ ve kadaliṃ hanti, phalaṃ veḷuṃ phalaṃ naḷaṃ, sakkāro kāpurisaṃ hanti, gabbo assatariṃ yathā’ti. “Chuối sinh quả liền chết; lau, tre cũng như vậy; la mang thai thì chết; người ác tham mà chết.”
9 Tứ phần: Tán-nhã 散若. Xem Kinh luật dị tướng 41, T53n2121, tr. 216c12 tt.
10 Tứ phần: Qua bảy năm học bắn.
11 A-phù: là địa ngục A-phù 阿浮地獄, địa ngục rên rỉ.
12 Ni-la 尼羅, Skt: Nirarbuda, tên một địa ngục.
13 Cf. Vin. ii. 202: “Upāli hỏi, cho đến mức nào thì Tăng nứt mà không vỡ? Cho đến mức nào thì Tăng nứt và vỡ?” (kittāvatā… saṅgharāji hoti, no ceva saṅghabhedo? Kittāvatā ca pana saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo ca?).
14 Nói năm pháp: Vô tín, vô tàm, vô quý, biếng nhác, đa vọng.
[5] Ngọa cụ pháp臥具法; Pāli: Senāsanakkhandhaka, Chương nói về ngọa cụ.
[6] Để bản: Át-bễ 頞髀 (Skt: Aśvajit, Pāli: Assaji) là một trong năm Tỳ-kheo đầu tiên của đức Thế Tôn sau khi thành đạo. Tứ phần: 50, tr. 936c24: Các Tỳ-kheo từ núi Kỳ-xà-quật vào thành Vương Xá. Cf. Pāli, Vin. ii. 145, như Tứ phần.
[7] Thập tụng 34, tr. 243a26: Bạt-đề cư sĩ 跋提居士.
4 Câu-thi thảo 拘尸草: Phiên Phạn ngữ 10, T54n2130, tr. 1049a11, dịch là cỏ tranh dài (trường mao 長茅).
5 Cỏ Văn-nhu: Xem cht. 25, Phần III, Ch. vi trước.
6 Pāli, Cūḷavagga vi. Senāsanakkhandhakaṃ, Vin. ii. 146: Thế tôn cho phép năm loại phòng xá (pañca leṇānī): vihāraṃ: tinh xá, aḍḍhayogaṃ: nhà mái bằng, pāsādaṃ: nhà lầu,hammiyaṃ: tầng gác, guhaṃ: hang cốc.
7 Tứ phần: Sáu mươi biệt phòng 別房. Pāli (Vin. ii. 148): vihāra, tinh xá.
8 Tu-đạt-đa 須達多, còn gọi là Tu-đạt 須達. Thập tụng 34, tr. 243c: Cấp Cô Đôc Thị 給孤獨氏. Skt=Pāli: Sudatta, là một gia chủ giàu có tại thành Xá-vệ nước Kiều-tát-la, ông thường hay giúp đỡ những người nghèo khổ, cung cấp vật thực cho những người cô độc cho nên thường gọi là A-na-tha-thấn-trà-đà 阿那他擯茶陀, Skt: Anāthapiṇḍada, Pāli:Anāthapiṇḍida, dịch là Cấp Cô Độc. Truyện kể, Vin. ii. 154.
9 Tứ phần 50, tr. 938b23: “Năm nào ông cũng từ nước Xá-vệ đến thành Vương xá để trông coi điền nghiệp.” Thập tụng 34, tr. 243c20: “Có một ít nhân duyên đến thành Vương Xá”.
10 Thập tụng 34, tr. 243c20: “Một cư sĩ.” Pāli, nt., Cấp Cô Độc là em rể của ông trưởng giả thành Xá-vệ.
11 Tứ phần 50, tr. 938c01: “Đại tự 大祠; một đại lễ tôn giáo quan trọng của Bà-la-môn.” xem Trường A-hàm 15, kinh số 23 “Cứu-la-đàn-đầu”. Pāli, mahāyañña, cf. D. 5. Kūṭadanta-sutta.
12 Thập tụng 34, tr. 344a05: “Tại Hàn lâm.”
13 Cf. truyện Thập tụng 34, tr. 344a06: Thần cửa Đại Thế (thần giữ cửa ra vào thành Vương Xá).
14 Tứ phần: Thi-ha thành môn 尸呵城門. Vin. ii. Sīvakadvāra.
15 Tứ phần 50, tr. 939a24: “Nếu có trú xứ thanh tịnh như vậy, là nơi không có ồn ào, không có ác thú, nơi rừng vắng người, có thể tọa thiền, thì Như Lai sẽ an trụ nơi như vậy.”Pāli, Vin. ii. 158: suññāgāre kho, gahapati, tathāgatā abhiramanti, “Gia chủ, các Như Lai hoan hỷ trong các nhà trống (không thất).”
16 Nên hiểu, cúng dường Tăng bốn phương mà đứng đầu là Phật; xem Trường A-hàm 2, bản Hán, T1, tr. 14b16; Pāli, định thức, D.ii.96: imāhaṃ bhante ārāmaṃ budhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dammī’ti.
17 Để bản: Đồng tử Kỳ Lâm童子祇林; Tứ phần 50, tr. 939b25: Kỳ-đà vương tử hữu viên祇陀王子有園. Thập tụng 34, tr. 344c12: Kỳ-đà vương tử sở 祇陀王子所. Pāli: Jetavana-kumāra, rừng của đồng tử Kỳ-đà.
18 Tứ phần 50, tr. 939c06: “Vừa rồi ngài nói, nếu đem tiền vàng trải khắp mặt đất, không có khoảng trống, há không phải là quyết giá? Xin vương tử xem lại cựu chế của vua.” Vin. ii. 159: Cấp Cô Độc nhờ pháp quan phân xử. Pháp quan phán: Khu vườn như vậy đã được ngã giá.
19 Hán: Kỳ viên tinh xá 祇園精舍 (Jetavanānāthapiṇḍikārāma); Thập tụng 34, tr. 244c: “Chỗ đó tôi sẽ khởi công xây cửa thất để cúng cho Phật và Tăng.”
20 Ma-ma-đế: Xem cht. 32, Phần IV, Ch. ii trước. Tham chiếu Pāli, Vin. ii. 159: một người thợ may nghèo, muốn dựng chùa cho Tăng. Nhưng không tự làm nổi. Ông than: “Mình nghèo, nên không Tỳ-kheo nào ngó ngàng đến.” Phật khiến Tăng cử Tỳ-kheo doanh sự (navakamma) để giúp cư sĩ dựng chùa.
21 Hán: Thập chủng y 十種衣, là theo chất liệu mà phân ra có 10 loại: Câu-xá y (Skt: kauśa), kiếp-bối y (Skt: karpāsa), khâm-bà-la y (Skt: kambara), bí-ma y (Skt: kṣauma), xoa-ma y (Skt: kṣama), xà-na y (śāna), ma y (?), Xí-di-la y (cīra), cưu-na-la điểu (kuṇāla), sấn-la-bát-ni y (śarapaṃī). Thập tụng 56, tr. 41406, có 10 loại: Bạch ma y, xích ma y, bí ma y, kiều thí da y, dực di la y, khâm-bạc-la y, kiếp bối y, bát-đâu-lộ y, đầu-đầu-la y, câu-giá-la y. Tăng-kỳ 23, tr. 414c19: Có bảy loại: khâm-bà-la, điệp, sô-ma, câu-xá-da, xá-na, ma, khâu-mâu-đề. Tỳ-nại-da 18, có bảy loại: mao, sô-ma-ca, xà-nhược-ca, yết-thẩm-tử-ca, độc-cô-lạc-ca, cao-cổ-bạc-ca, a-ban-xà-đắc-ca. Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa 14, có sáu loại: Khu-ma, cổ bối, cú dư, khâm-bà-la, bà-na, bà-dư-già.
22 Hoa Kiếp-bối: Xem cht. 42, Phần I, Ch. i.
23 Cf. Thập tụng 34, tr. 245b22: “Tỳ-kheo được sai phải thành tựu năm pháp mới cử làm người phân phối ngọa cụ: ‘Không vì ái, không vì sân, không vì sợ, không phân biệt được hay không được vì si mê.’”
24 Pāli: vihāra, tinh xá. Trong bản Hán, phòng và tinh xá được hiểu lẫn lộn, đều dịch từ vihāra, cũng gọi là chùa.
25 Pāli: bhikkhuno navakammaṃ, giao cho Tỳ-kheo làm doanh sự.
26 Tụ lạc Na-la 那羅. Phiên Phạn ngữ 8, T54n2130, tr. 1039c24, Na-la dịch là cỏ lau; Pāli: nālā. Tứ phần 50, tr. 943a18: La-hầu-la ở trong rừng Na-lê那梨.
27 Tứ phần 50: Lại đem phòng đó cúng cho chúng Tăng.
28 Hán: Ngật-la-ngật-liệt ấp 訖羅訖列邑. Pāli: Kiṭāgiri, một ngôi làng của người Kāsis, nằm trên đường từ Kāsi đến Sāvatthi.
29 Tứ phần 50, tr. 943b27: “Bấy giờ tại nước Ki-liên có bốn cựu Tỳ-kheo A-thấp-tì阿濕鞞, Bất-na-bà-sa不那婆娑, Ban-đà般陀, Lâu-hê-na樓醯那.” Thập tụng 34, tr. 247a06: “Đa chư Tỳ-kheo 多諸比丘.” Vin. ii. 171, nhóm Tỳ-kheo Assaji-Punabbasu ở Kiṭāgiri.
30 Tứ phần 50, tr. 943c02: “Chia làm bốn phần tư hữu.”
31 Cf. Vin. ii. 170: Năm thứ là tứ phương Tăng vật không được chia cho cá nhân: 1. ārāmo ārāmavatthu (Tăng-già-lam, và vật thuộc Tăng-già-lam: đất vườn chùa và cây trái các thứ trong vườn), 2. vihāro vihāravatthu (tinh xá và vật dụng thuộc tinh xá: chùa và phòng ốc các thứ của chùa), 3. mañco pīṭhaṃ bhisi bibbohanaṃ (giường, ghế, đệm, gối các thứ), 4. lohakumbhī… (ghè, lu, nồi,… các thứ), 5. valli, veḷu, muñjaṃ, (dây leo, tre, cỏ muñja,…).
32 Hán: Tỳ-kheo kinh doanh 比丘經營, tức doanh sự Tỳ-kheo, hay tri sự Tăng. Pāli: navakammika.
33 Tứ phần 51, tr. 944a16: “Không nên như vậy. Nếu làm cái nhà lầu tốt nhất, lâu lắm cũng trong vòng mười hai năm mà thôi.”
34 Bản Hán, hết quyển 25.



  • Leave a Comment